Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động Marketing cho Ngân hàng

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động Marketing cho Ngân hàng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện hoạt động Marketing cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam tại phòng giao dịch Lạch Tray dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm vừa qua, hoạt động ngân hàng nước ta đã có những chuyển biến sâu sắc. Quy mô kinh doanh ngày càng mở rộng cả về số lượng và phạm vi, các loại hình kinh doanh đa dạng và phong phú hơn. Từ đó, việc tiếp thị các sản phẩm dịch vụ ngân hàng là rất cần thiết. Nếu không có Marketing thì ngân hàng sẽ bị trì trệ rất nhiều và dần dần mất đi tính cạnh tranh trên thị trường. Đối với các quốc gia đang phát triển, marketing dịch vụ ngân hàng không phải là một lĩnh vực mới, tuy nhiên, với Việt Nam, một nước đang phát triển, marketing dịch vụ ngân hàng còn là một lĩnh vực mới cả về lý luận và thực tiễn triển khai. marketing dịch vụ ngân hàng được coi là một hướng đi chuyên sâu của hoạt động marketing khi ứng dụng các nguyên tắc, quy luật của marketing công nghiệp vào hoạt động của một lĩnh vực đặc thù thiên về các sản phẩm về tài chính, hướng đến việc tìm hiểu, khảo sát, phân tích nhu cầu của khách hàng; thói quen/ nhu cầu sử dụng các sản phẩm tài chính do ngân hàng cung cấp. Nghiên cứu hoạt động Marketing cho ngân hàng là một trong những vấn đề quan trọng góp phần mang lại hiệu quả cho các ngân hàng. Hiện nay, cạnh tranh giữa các ngân hàng không chỉ còn ở lãi suất, chất lượng dịch vụ mà thương hiệu ngân hàng cũng là một yếu tố sống còn không kém phần quan trọng. Vì thế, việc thúc đẩy hoạt động Marketing ngân hàng được các nhà ngân hàng quan tâm chú trọng. Không nằm ngoài quy luật chung, Ngân hàng TMCP đang phải đối mặt với những thách thức cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng. Với mong muốn tìm hiểu những chuyển biến, đổi thay cùng những khó khăn nội tại trong quá trình hoạt động của Ngân hàng , bản thân em đã thực tập ở Ngân Hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam tại  phòng giao dịch Lạch Tray. Sau thời gian thực tập, với kiến thức được trang bị trên giảng đường cùng tính cấp thiết của thực tế hoạt động ngân hàng, em đã chọn cho mình đề tài “Giải Pháp Hoàn Thiện Hoạt Động Marketing Cho Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Quốc Tế Việt Nam tại phòng giao dịch Lạch Tray” để làm đề tài khoá luận tốt nghiệp.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Marketing

2. Mục đích nghiên cứu

Mục tiêu của khoá luận là nghiên cứu hoạt động marketing của ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam tại phòng giao dịch Lạch Tray, từ đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện và đẩy mạnh hoạt động marketing cho ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam tại phòng giao dịch Lạch Tray. Căn cứ vào mục tiêu đã xác định trên, nhiệm vụ nghiên cứu của khoá luận bao gồm những nội dung chính sau đây: Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động Marketing cho Ngân hàng.

  • Hệ thống những vấn đề lý luận về hoạt động marketing của ngân hàng ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam tại phòng giao dịch Lạch Tray
  • Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động marketing của ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam tại phòng giao dịch Lạch Tray
  • Xác định các ưu điểm và hạn chế của hoạt động marketing để từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện và đẩy mạnh hoạt động marketing cho ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam tại phòng giao dịch Lạch Tray

3. Câu hỏi nghiên cứu

  • Marketing ảnh hưởng thế nào đối với ngành Ngân Hàng ?
  • Các giải pháp hoàn thiện hoạt động Marketing được đưa ra với mục đích gì ?
  • Các hoạt động Marketing của ngân hàng TMCP hiện nay đã phù hợp nhất hay chưa ?

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động marketing của Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam tại phòng giao dịch Lạch Tray

Phạm vi nghiên cứu:

Về không gian: Khoá luận nghiên cứu trong phạm vi ngành ngân hàng, các số liệu phân tích chủ yếu của Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam tại phòng giao dịch Lạch Tray trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam và một số ngân hàng TMCP lớn cùng ngành.

Về thời gian: Khoá luận đánh giá thực trạng hoạt động marketing của Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam tại phòng giao dịch Lạch Tray trong giai đoạn 2020-2022 và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện và đẩy mạnh hoạt động marketing của Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam tại phòng giao dịch Lạch Tray trong tương lai.

5. Phương pháp nghiên cứu Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động Marketing cho Ngân hàng.

Phương pháp luận: Khoá luận sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu chú trọng phương pháp hệ thống hoá, phân tích, tổng hợp, so sánh để đánh giá điểm mạnh điểm hạn chế trong hoạt động marketing tại Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam tại phòng giao dịch Lạch Tray. Khoá luận kế thừa những nhân tố hợp lý của các công trình khoa học đã được nghiên cứu, tiến hành phân tích và lựa chọn tri thức để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khoá luận

Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu: Số liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo thường niên, các báo cáo kiểm toán, báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh, hoạt động marketing của Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam tại phòng giao dịch Lạch Tray giai đoạn 2020-2022. Tổng hợp các thông tin và số liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu từ các sách tham khảo, tạp chí, công trình khoa học, báo điện tử các quy định liên quan đến hoạt động marketing, truyền thông của Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam tại phòng giao dịch Lạch Tray

Phân tích thông tin các thông tin liên quan tới nội dung đề tài nghiên cứu sẽ được sử dụng Phương pháp phân tích, so sánh; Phương pháp tổng hợp, đánh giá để đưa ra kết luận, đề xuất để đạt được mục đích nghiên cứu hoạt động marketing của Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam tại phòng giao dịch Lạch Tray.

Những thông tin sơ cấp thu thập từ thực tế em còn nghiên cứu dựa trên dữ liệu có sẵn từ các báo cáo nội bộ của Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam tại phòng giao dịch Lạch Tray và những nguồn dữ liệu thứ cấp đáng tin cậy khác. Hệ thống hóa và phân tích những vấn đề cơ bản về hoạt động và quản trị hệ thống marketing trong Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam tại phòng giao dịch Lạch Tray.

6. Nội dung của khoá luận Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động Marketing cho Ngân hàng.

Đề tài nghiên cứu được trình bày thành 3 phần chính

Ở chương đầu tiên, khoá luận giới thiệu tổng quan về marketing dịch vụ ngân hàng, vai trò và sự cần thiết của marketing dịch vụ ngân hàng. Bên cạnh đó, ở chương này khoá luận cũng khái quát các lý thuyết về các hoạt động marketing cơ bản tại ngân hàng. Những vấn đề được nêu ra ở chương này sẽ là cơ sở lý luận để phân tích thực trạng hoạt động marketing của ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam (Phòng giao dịch Lạch Tray) ở chương tiếp theo.

Chương thứ hai ngoài việc giới thiệu chung về Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam tại Phòng giao dịch Lạch Tray, khoá luận có đề cập đến kết quả hoạt động kinh doanh của Phòng giao dịch Lạch Tray trong giai đoạn 2020-2022

Ở chương này, khoá luận đi sâu và tập trung phân tích thực trạng hoạt động marketing tại Phòng giao dịch Lạch Tray thông qua các số liệu thứ cấp và sơ cấp do em thu thập và tổng hay được từ các nguồn và tài liệu nội bộ của ngân hàng. Từ những phân tích này  rút ra được những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức và là cơ sở quan trọng để xây dựng các giải pháp cụ thể tại chương ba

Chương cuối cùng, ở chương này em đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao và hoàn thiện tốt hơn hoạt động marketing của Phòng giao dịch Lạch Tray hiện nay, bao gồm toàn bộ các giải pháp cho mô hình marketing. Những giải pháp này tập trung giải quyết những hạn chế và những vấn đề còn tồn đọng trong hoạt động marketing của Phòng giao dịch Lạch Tray nhằm hướng tới mục tiêu là nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MARKETING TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Tổng quan về hoạt động marketing ngân hàng

1.1.1. Khái niệm marketing ngân hàng Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động Marketing cho Ngân hàng.

Hiện nay có khá nhiều quan niệm về marketing ngân hàng xét dưới các góc nhìn khác nhau về hiệu quả mà marketing mang lại cho ngân hàng. Để làm rõ khái niệm chung nhất về marketing ngân hàng, xem xét các quan điểm về marketing và hoạt động kinh doanh ngân hàng sẽ làm rõ bản chất của hoạt động này. Căn cứ vào một số quan điểm về marketing đã phát triển trong các doanh nghiệp sản xuất và bán hàng, marketing là việc xác định được các nhu cầu có khả năng thanh toán, các thị trường tiềm năng để lập ra các mục tiêu kinh doanh, các chương trình hành động nhằm thỏa mãn các nhu cầu một cách có hiệu quả hơn so với đối thủ cạnh tranh đồng thời vẫn thích ứng với thị trường”.

Định nghĩa của Hiệp hội Marketing Mỹ (1985) : “Marketing là quá trình lên kế hoạch, triển khai việc thực hiện kế hoạch, xác định sản phẩm, giá cả, yểm trợ, truyền bá ý tưởng, phân phối hàng hóa, cung cấp dịch vụ nhằm thỏa mãn mục tiêu của các cá nhân và các tổ chức”. Theo khái niệm này marketing bao trùm toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp: sản xuất hàng hóa, xác định giá, phân phối, xúc tiến.

Theo Philip Kotler (1997): “Marketing là một hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn thông qua trao đổi”. Trong khái niệm của Philip Kotler, marketing không có giới hạn lĩnh vực áp dụng, trong thời gian áp dụng nhấn mạnh việc nghiên cứu nhu cầu của khách hàng trước khi sản xuất.

Ngân hàng là các tổ chức tín dụng được thành lập với nghiệp vụ chính là nhận tiền gửi, sau đó sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan đến tài chính nhằm mục đích lợi nhuận. Khi marketing áp dụng vào ngân hàng là tổ chức kinh doanh dịch vụ tài chính đã có rất nhiều các quan điểm khác nhau.

Marketing ngân hàng là toàn bộ quá trình tổ chức và quản lý của một ngân hàng, từ việc phát hiện ra nhu cầu của nhóm khách hàng đã chọn và thỏa mãn nhu cầu của họ bằng hệ thống các chính sách biện pháp nhằm đạt mục tiêu lợi nhuận như dự kiến; Marketing ngân hàng là toàn bộ các nỗ lực của ngân hàng nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và thực hiện mục tiêu lợi nhuận; Marketing ngân hàng là một chức năng của của hoạt động quản trị nhằm đúng hướng các sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng phục vụ những nhóm khách hàng đã chọn của ngân hàng.

Như vậy, căn cứ trên quan điểm marketing ứng dụng trong doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ, căn cứ trên quan điểm khái quát về hoạt động ngân hàng, có thể rút ra những đặc điểm cơ bản chung như sau: Marketing ngân hàng có xu hướng ứng dụng các quan điểm, nguyên tắc, nội dung, phương pháp của marketing ứng dụng trong hoạt động dịch vụ. Marketing ngân hàng luôn đặt cao việc tổ chức dịch vụ thích ứng nhanh hơn với sự biến đổi của thị trưởng, thể hiện sự thống nhất cao độ giữa nhận thức và hành động phản ứng của ngân hàng với thị trường nhằm xác định được nhu cầu, mong muốn của khách hàng và cách thức đáp ứng nó một cách hiệu quả hơn đối thủ Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động Marketing cho Ngân hàng.

Lợi nhuận là mục tiêu duy nhất cần đạt cuối cùng của marketing ngân hàng. Để đạt được mục tiêu đó thì mục tiêu ban đầu đó là cần nâng cao năng lực phục vụ nhằm đáp ứng tốt nhất với sự hài lòng của khách hàng. Đây sẽ là thước đo trình độ phục vụ và hiệu quả hoạt động marketing của mỗi ngân hàng.

Tóm lại, dựa trên thực tiễn triển khai marketing ngân hàng và quan điểm rút ra từ những vấn đề thống nhất như trên, ta có thể đưa ra một khái niệm tương đối căn bản, rõ ràng và đầy đủ hơn: “Marketing ngân hàng là việc tổ chức phối hợp các bộ phận ngân hàng để xác định và đáp ứng các mong muốn về dịch vụ tài chính của khách hàng nhanh chóng và hiệu quả nhất dựa trên mục tiêu sự hài lòng của khách hàng”.

1.1.2. Đặc điểm của marketing ngân hàng

Các ngành dịch vụ ứng dụng marketing hiện nay rất phong phú và đa dạng. Đặc điểm của marketing ngân hàng được hình thành trên cơ sở vận dụng nội dung của marketing dịch vụ vào hoạt động ngân hàng. Tuy nhiên marketing ngân hàng cũng có các đặc điểm riêng biệt như sau:

Thứ nhất, marketing ngân hàng là loại hình marketing dịch vụ tài chính

Ngân hàng chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi yếu tố sự hài lòng của khách hàng do các dịch vụ nhận tiền gửi tiết kiệm, cho vay, thanh toán quốc tế,… là hoàn toàn trực tiếp đến khách hàng cuối cùng. Các dịch vụ tài chính hoạt động theo nhu cầu khách hàng và sản phẩm dịch vụ ngân hàng có những đặc điểm chung của kinh doanh dịch vụ là tính vô hình, chính vì vậy khi muốn kích thích nhu cầu tiêu dung dịch vụ cân phải mở rộng truyền thông quảng bá nhằm tăng sức hấp dẫn thông qua việc nâng cao mức độ nhận biết dịch vụ. Có thể nói, theo Ngô Thanh Tùy (2015), cảm nhận đối với khách hàng mua dịch vụ tài chính chỉ là thông tin về ngân hàng, lợi ích dịch vụ tải chính đang mua, cảm quan chung về hình ảnh điểm giao dịch, mức độ trang bị công nghệ và thái độ phục vụ của nhân viên giao dịch.

Thứ hai, marketing ngân hàng thuộc loại hình marketing hướng nội.

Đặc điểm của marketing hướng nội là việc nâng cao hiệu quả hoạt động của toàn thể nhân viên ngân hàng theo định hướng hài lòng, hiệu quả và nhanh chóng (Müller, 2006), Nhằm đạt được sự hài lòng từ bên ngoài, ngân hàng phải có xu hướng chuẩn hóa kiến thức, đãi ngộ, cũng như xây dựng văn hóa doanh nghiệp để tạo sự chuẩn hóa và hài lòng từ bên trong cho nhân viên của mình.

Thứ ba, marketing ngân hàng mang đặc điểm của marketing dựa trên quan hệ

Quan hệ được nhắc đến đây là mối quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng , đặc biệt là duy trù khách hàng truyền thống hiện tại. Ngân hàng đòi hỏi cần tập trung nhiều hơn vào việc huy động nguồn lực nhằm hoàn thiện mối quan hệ trao đổi. Điểm vượt trội của marketing ngân hàng dựa trên các mối quan hệ đem lại là rút ngắn thời gian thực hiện nghiệp vụ ngân hàng. Từ trạng thái nghiệp vụ thương lượng chuyển nhanh sang giai đoạn thực hiện cam kết giữa các bên (Siddiqi, 2011), 

1.1.3. Chức năng của marketing ngân hàng Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động Marketing cho Ngân hàng.

Chức năng của marketing ngân hàng được định nghĩa là nhiệm vụ, công việc mà bộ phận marketing ngân hàng phải thực hiện. Theo Lenka và cộng sự (2009), Marketing ngân hàng thường tập trung vào các chức năng chủ yếu như sau:

Thứ nhất, marketing thực hiện chức năng định hướng

Định hướng được hiểu là việc làm cho các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng thích ứng với nhu cầu của thị trường. Chức năng này mang ý nghĩa chỉ rõ marketing có chức năng định hướng ngân hàng trong việc tạo ra sản phẩm tài chính gì? cung cấp cho đối tượng nào? và vào lúc nào thì phù hợp nhất?. Điều này thể hiện qua việc tạo ra các sản phẩm dịch vụ tài chính tiện ích, hấp dẫn, đáp ứng với nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng, từ đó nhằm tạo ra lợi thế trong cạnh tranh cho ngân hàng.

Thứ hai, marketing thực hiện chức năng phân phối.

Phân phối việc tổ chức, ngân hàng đưa thông tin và sản phẩm dịch vụ ngân hàng tới các nhóm khách hàng đã chọn. Quá trình này bao gồm: Tìm hiểu và lựa chọn địa điểm triển khai sản phẩm dịch vụ hoặc tập khách hàng tiềm năng phù hợp với sản phẩm với các bộ phận khác nhau của ngân hàng; Thiết kế các tài liệu hướng dẫn tới khách hàng nhằm giúp khách hàng có đầy đủ thông tin, hiểu và lựa chọn sản phẩm dịch vụ ngân hàng; Marketing thu thập thông tin từ phản hồi từ khách hàng đễ diễu chinh, xử lý kịp thời các lỗi có thể xảy ra; Tổ chức các hoạt động hỗ trợ, phục vụ khách hàng tại các điểm giao dịch; Cải tiến hệ thống kênh phân phối sản phẩm hiện đại nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng.

Thứ ba, marketing ngân hàng thực hiện chức năng định hướng các hoạt động tiêu thụ giao dịch trực tiếp

Tiêu thụ sản phẩm dịch vụ ngân hàng phụ thuộc vào một số nhân tố quan trọng là chất lượng sản phẩm dịch vụ và sự hợp lý về giả. Đồng thời chức năng này định hướng một chuỗi các hoạt động cho mọi nhân viên giao dịch phải tuân thủ như: Tìm hiểu khách hàng, chuẩn bị tiếp xúc với khách hàng, tiếp cận khách hàng, giới thiệu sản phẩm dịch vụ và hướng dẫn thủ tục sử dụng, xử lí hợp lí những trục trặc xảy ra và tiếp xúc cuối cùng với khách hàng.

Thứ tư, marketing ngân hàng thực hiện chức năng yểm trợ.

Chức năng yểm trợ là chức năng hỗ trợ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện tốt 3 chức năng trên và giảm thiểu rủi ro cho hoạt động kinh doanh ngân hàng. Một số hoạt động điển hình như: tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm, quảng cáo, xúc tiến bán hàng, quan hệ với công chúng. Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động Marketing cho Ngân hàng.

Thứ năm, marketing ngân hàng thực hiện chức năng điều hoà phối hợp.

Marketing phải thực hiện điều hoà một cách tổng hợp toàn ngân hàng, điều hoả phối hợp các bộ phận, chức năng của công ty. Phối hợp các bộ phận ngân hàng tổ chức vận hành chức năng marketing. Điều hòa kết hợp các hoạt động của marketing chức năng với marketing trong từng nghiệp vụ ngân hàng. Năm chức năng cơ bản này đã cho thấy được vị trí và tầm quan trọng của marketing ngân hàng. Các chức năng trên có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động hỗ trợ lẫn nhau cùng phát triển. Dựa trên các chức năng và đặc điểm cơ bản của marketing ngân hàng, ta có thể thấy rõ marketing hỗn hợp (7P) chính là phương thức áp dụng phù hợp và hiệu quả cho các chiến lược của ngân hàng.

1.2. Nội dung của hoạt động marketing ngân hàng Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động Marketing cho Ngân hàng.

1.2.1 Nghiên cứu thị trường

“Nghiên cứu thị trường (Marketing Research) là việc thu thập, ghi chép, phân tích dữ liệu về các vấn đề liên quan đến việc marketing sản phẩm và dịch vụ”. Do vậy, nghiên cứu thị trường, được hiểu là, bao gồm toàn bộ hoạt động nhận diện, lựa chọn, thu thập, phân tích những thông tin liên quan đến khách hàng đối thủ, thị trường mục tiêu và có thể là toàn bộ về ngành liên quan, nhằm hỗ trợ cho việc ra quyết định liên quan đến quá trình xác định và xử lý các vấn đề trong kinh doanh và nắm bắt cơ hội mới, đặc biệt là giảm thiểu rủi ro.

Mục đích của việc nghiên cứu thị trường và lựa chọn thị trường mục tiêu giúp cho ngân hàng thấu hiểu được nhu cầu của thị trường trong phân khúc/ thị trường mục tiêu để có sự phục vụ tốt nhất cùng những sản phẩm dịch vụ phù hợp nhất

  • Quy mô và xu hướng thị trường

Quy mô thị trường chắc chắn ảnh hưởng rất nhiều đến chiến lược kinh doanh của ngân hàng. Sau khi nghiên cứu về quy mô thị trường ngân hàng có thể lên được chiến lược kinh doanh phù hợp, xác định chiến lược giá cả, chiến lược tiếp cận, hình thức quảng cáo, tiếp thị phù hợp nhất với khách hàng tại thị trường này. Đây là những thông tin cần thiết trước khi ngân hàng chính thức đưa sản phẩm của mình vào một thị trường tiêu thụ

Dựa vào các chức năng và đặc điểm cơ bản của marketing ngân hàng thương mại, ta có thể thấy rõ marketing hỗn hợp (7P) chính là phương pháp áp dụng phù hợp và hiệu quả cho các chiến lược của ngân hàng thương mại.

Ngoài ra, việc phân tích quy mô thị trường đồng nghĩa với việc ngân hàng số xác định được từng bước đi/từng giai đoạn kinh doanh phù hợp có thể giúp hoạt động bán hàng phát triển tốt hơn. Hoặc khi cần thiết, ngân hàng có thể thử nghiệm thay đổi kế hoạch kinh doanh theo hướng khác sau thời gian thử nghiệm ban đầu. Tóm lại quy mô thị trường sẽ là bước đầu giúp tạo ra chiến lược kinh doanh phù hợp và có thể đột phá theo giai đoạn cụ thể

  • Đối thủ cạnh tranh Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động Marketing cho Ngân hàng.

Đối thủ cạnh tranh trong ngân hàng được hiểu là một hoặc tập hợp các chủ thể, tổ chức kinh doanh thực hiện cung cấp sản phẩm dịch vụ thoả mãn nhu cầu của khách hàng trong lĩnh vực tài chính ngân hàng trên cùng thị trường với những tác động tạo nên nguy cơ làm giảm lợi ích của các ngân hàng trong một phạm vi không gian và thời gian nhất định. Các đối thủ cạnh tranh được phân loại dựa trên các tiêu chí được xác định theo: thị trường tham gia khả năng cạnh tranh và tiếp cận thị trường, sản phẩm/ nhóm sản phẩm, loại hình trung gian tài chính.”

Trong những năm gần đây, sự cạnh tranh trong ngành ngân hàng ngày càng gay gắt với nhiều diễn biến phức tạp, quá trình phân tích đối thủ cạnh tranh giúp các ngân hàng có thể hiểu sâu sắc về các đối thủ hoạt động trong ngành và sự vận hành, thay đổi, phát triển của toàn ngành, từ đó sẽ có những thích ứng phù hợp với những đòi hỏi từ thị trường. Đối thủ cạnh tranh của các ngân hàng TMCP thường là các ngân hàng TMCP khác có cùng phân khúc khách hàng, sản phẩm dịch vụ; đối thủ trực tiếp; đối thủ gián tiếp; đối thủ tiềm ẩn; đặc biệt trong sự phát triển không ngừng của công nghệ và sự vận động của nền kinh tế, đối thủ của ngân hàng TMCP còn chính là ngân hàng TMCP đó trong tương lai để có thể giải quyết được bài toán của sự tăng trưởng và phát triển. Đơn cử như đối thủ cạnh tranh trực tiếp của Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam được xác định là Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh vượng (VPBank) trên các phương diện xác định như cùng tập khách hàng tiềm năng và sự tương đồng trong danh sách sản phẩm dịch vụ cung cấp

“Khi ngân hàng tiến hành phân tích đối thủ cạnh tranh, một trong những yếu cầu đầu tiên để xác định được đối thủ cạnh tranh chính là ngân hàng cần xác định được ngân hàng nào đang cung cấp những sản phẩm, dịch vụ ra sao, kênh phân phối của ngân hàng để có thể có những hành động thay đổi và phát triển phù hợp nhất, tạo sự khác biệt và tăng khả năng cạnh tranh của mình.

  • Lựa chọn thị trường và khách hàng mục tiêu

Mục tiêu marketing dịch vụ ngân hàng trong việc lựa chọn thị trường và khách hàng mục tiêu là có được những thị trường tập trung lượng khách hàng có nhu cầu giống nhau, dễ nhận biết, nắm bắt và tập trung nguồn lực để đáp ứng nhu cầu, thị hiếu khách hàng hiệu quả hơn, có khả năng mang lại lợi nhuận mong đợi cho ngân hàng. Để lựa chọn thị trường và khách hàng mục tiêu, ngân hàng cần nghiên cứu khách hàng dựa trên một số tiêu chí về vùng địa lý, độ tuổi, giới tính, trình độ, thu nhập, tình trạng hôn nhân, tôn giáo, tình trạng gia đình, lối sống, tầng lớp xã hội…

  • Các bước của quá trình định vị thị trường và khách hàng mục tiêu gồm:

Xác định những thuộc tính khác biệt tiềm năng: Phân tích những đặc điểm khác biệt về sản phẩm, quy trình dịch vụ, môi trường và phương tiện phục vụ nhân sự, nhận dạng hình ảnh, giá cả… để đưa ra những đặc điểm tối ưu nhất của ngân hàng. Các khách hàng mục tiêu luôn ấn tượng tốt đối với những sản phẩm chất lượng cao, giá cả hợp lý; cách trang trí, cấu trúc trụ sở giao dịch đẹp quy trình phục vụ hiện đại sự giao tiếp nhiệt tình, lịch thiệp, năng lực làm việc của nhân viên tạo được thiện cảm nơi khách hàng. Bên cạnh đó, các hình ảnh, màu sắc, slogan, biểu tuong, bầu không khí giao dịch, các hoạt động bảo trợ cũng để lại dấu ấn sâu đậm nơi khách hàng. Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động Marketing cho Ngân hàng.

Lựa chọn điểm khác biệt: Ngân hàng cần quyết định lựa chọn bao nhiêu điểm khác biệt là tối ưu, và thiết kế các thuộc tính này như thế nào đảm bảo đây là điểm khác biệt mang lại lợi ích, giá trị cao nhất cho khách hàng và bản thân ngân hàng. Các điểm khác biệt này phải đáp ứng đúng kỳ vọng, dễ thâm nhập vào bộ nhớ, phù hợp khả năng chấp nhận chi trả của khách hàng; mang lại bản sắc riêng cho ngân hàng mà các đối thủ khách không dễ dàng sao chép.

Truyền thông sự khác biệt. Sau khi xây dựng hoạt động định vị rõ ràng, ngân hàng cần quảng bá rộng rãi hoạt động định vị này đến khách hàng mục tiêu một cách hiệu quả

Tóm lại, để định vị thị trường mục tiêu việc xác định và lựa chọn lợi thế cạnh tranh là rất quan trọng. Khi một ngân hàng đưa ra được thuộc tính khác biệt mang lại giá trị vượt trội, chiếm được vị trí rõ ràng trong tâm trí khách hàng, ngân hàng đó đã định vị thị trường mục tiêu thành công.

1.2.2. Phát triển sản phẩm (Product)

Ngân hàng cần xác định danh mục sản phẩm và đặc tính của từng sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng sẽ cung ứng ra thị trường. Đây chính là các danh mục phân biệt dịch vụ thỏa mãn các nhu cầu về vốn, nhu cầu tiết kiệm hay nhu cầu về thanh toán cho hoạt động xuất nhập khẩu. Ví dụ một danh mục nhóm các sản phẩm dịch vụ ngân hàng có thể như bảng sau:

Bảng 1.1. Danh mục sản phẩm dịch vụ ngân hàng

Nhóm sản phẩm dịch vụ

Chuyển tiền Cho vay cầm cố Cho vay cá nhân Bảo hiểm Tiết kiệm Ngoại tệ Đầu tư
Tài khoản vãng lai Lãi suất cố định Thấu chi Bảo hiểm tiền gửi Tài khoản tiết kiệm Hoán đổi tỷ giá Dịch vụ đầu tư
Tài khoản hướng dẫn Lãi suất biến đổi Vay mua ô tô, mua nhà, du học Bảo hiểm nhà Tài khoản lãi cao, tài khoản tích luỹ Mua bán ngoại tệ Giao dịch chứng khoán

Nội dung cơ bản của chiến lược sản phẩm là phải phát triển và quản lý có hiệu quả danh mục sản phẩm dịch vụ của ngân hàng. Danh mục sản phẩm dịch vụ liên quan đến việc lựa chọn các sản phẩm dịch vụ và quyết định sẽ cung cấp ra thị trường những sản phẩm dịch vụ gi, cho đối tượng khách hàng nào. Những sản phẩm dịch vụ được giữ lại sẽ là sản phẩm dịch vụ phù hợp với nhu cầu của khách hàng, có khả năng phát triển và đem lại lợi nhuận cho ngân hàng.

Sau khi có danh mục sản phẩm, ngân hàng cần xác định thuộc tính sản phẩm bao gồm các yếu tố như tính tiện ích, tên, nhãn hiệu biểu tượng, chu trình triển khai thanh toán trong hệ thống, sau đó ngân hàng hoàn thiện sản phẩm. Khi các sản phẩm, dịch vụ được hình thành và đưa vào triển khai thực tế trong hệ thống, sản phẩm cần phải thường xuyên được kiểm định lại sự phù hợp và bổ sung các tiện ích thuộc tính mới hoặc bỏ bớt các thuộc tính lỗi.Phát triển sản phẩm mới là nội dung quan trọng nhất trong chiến lược sản phẩm của ngân hàng. Quy trình cơ bản của phát triển sản phẩm mới của ngân hàng được tiến hành qua các bước sau: Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động Marketing cho Ngân hàng.

Hình thành ý tưởng: Đây là công việc của bộ phận phát triển sản phẩm, ý tưởng sản phẩm mới có thể đến từ các chuyên viên nghiệp vụ rút ra kinh nghiệm từ quá trình giao dịch thường xuyên với các nhu cầu biến đổi của khách hàng hoặc có thể xây dựng từ các nguồn điều tra thị trường, học tập kinh nghiệm từ ngân hàng bạn trong và ngoài nước.

Lựa chọn ý tưởng: Trên cơ sở xem xét đánh giá các ý tưởng dựa trên sự phù hợp với công nghệ và hệ thống ngân hàng, khả năng cạnh tranh và quản lý dịch vụ, ngân hàng lựa chọn ý tưởng mang tính khả thi và hiệu quả nhất.

Triển khai và kiểm định: Một số ý tưởng khi đưa vào triển khai toàn hệ thống cần phải được kiểm định để điều chỉnh, do đó ngân hàng thường lựa chọn một khu vực hoặc một tập khách hàng nhất định triển khai thí điểm dịch vụ, thu thập các phản hồi để điều chính trước khi tung ra sản phẩm trên toàn hệ thống.

Ra mắt sản phẩm dịch vụ mới trên toàn hệ thống: Đây là công việc tổ chức toàn bộ hệ thống để chuẩn bị tốt cho thời điểm ra mắt. Quy trình cuối này thường được đi kèm với chiến dịch quảng cáo, họp báo, khuyến mãi trên toàn hệ thống ngân hàng.

1.2.3. Định giá (Price) Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động Marketing cho Ngân hàng.

Trong chiến lược marketing của các ngành công nghiệp và thương mại, chính sách giá được xác định trong từng thời kỳ kinh doanh và luôn giữ vai trò quan trọng. Giá cả của các tổ chức tài chính ngân hàng ngày nay mới trở thành vấn đề được quan tâm nhất là từ năm 1980 trở lại đây. Bởi sự cạnh tranh trong lĩnh vực tài chính ngân hàng ngày càng gia tăng và giá cả không chỉ là yếu tố cạnh tranh giữa các ngân hàng mà còn có tác động mạnh mẽ đến quyết định lựa chọn sản phẩm dịch vụ và ngân hàng của khách hàng.

Trong quan hệ kinh tế, giá cả của một sản phẩm được hiểu là số tiền mà người mua phải trả cho người bán để nhận được quyền sử dụng, sở hữu hàng hóa. Ngân hàng là doanh nghiệp kinh doanh quyền sử dụng hàng hóa tiền tệ nên hoạt động kinh doanh cơ bản của ngân hàng là “mua” và “bán” quyền sử dụng hàng hóa tiền tệ. Khi mua vốn ngân hàng phải trả cho khách hàng một số tiền lãi để được sử dụng khoản vốn đó trong một thời gian nhất định. Khi ngân hàng bán quyền sử dụng vốn cho khách hàng, khách hàng cũng phải trả cho ngân hàng một khoản tiền lãi vay trên cơ sở thỏa thuận giữa khách hàng với ngân hàng. Ngoài ra ngân hàng còn cung cấp cho khách hàng các dịch vụ phục vụ cho việc sử dụng tiền như thanh toán, tư vấn, cho thuê két sắt và khách hàng cũng phải trả cho ngân hàng một khoản tiền phí theo quy định của ngân hàng.

Giá của sản phẩm dịch vụ ngân hàng là số tiền mà khách hàng hay ngân hàng phải trả để được quyền sử dụng một khoản tiền trong thời gian nhất định hoặc sử dụng các sản phẩm dịch vụ do ngân hàng cung cấp. Định giá là công việc quan trọng trong việc xây dựng chiến lược marketing của ngân hàng. Nó không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động marketing mà còn ảnh hưởng đến hoạt động và thu nhập của ngân hàng. Tuy nhiên, việc định giá sản phẩm dịch vụ ngân hàng hết sức phức tạp vì nó bị chi phối bởi nhiều nhân tố. Nếu đặt ra mức giá quá thấp thì ngân hàng không thu được lợi nhuận, còn đặt giá quá cao trong khi chất lượng sản phẩm dịch vụ không có gì vượt trội, sức hấp dẫn của sản phẩm dịch vụ lại thấp thì chắc chắn sẽ có nhiều khách hàng chuyển sang sử dụng sản phẩm dịch vụ của các ngân hàng khác có giá kích thích hơn. Vì vậy các quyết định về giá phải hết sức linh hoạt, ngân hàng cần phải thường xuyên điều chỉnh mức giá cho phù hợp với từng điều kiện cụ thể.

Khi đưa ra các quyết định về giá cho sản phẩm dịch vụ của mình, ngân hàng cần xem xét các yếu tố có ảnh hưởng đến giá. Đó là các nhân tố bên trong ngân hàng như các mục tiêu marketing của ngân hàng, các biến số khác trong chiến lược marketing mix,chi phí cho sản phẩm…cũng như các nhân tố bên ngoài như nhu cầu của khách hàng với sản phẩm dịch vụ, giá của đối thủ cạnh tranh, chính sách của ngân hàng Nhà nước hay sức khỏe của nền kinh tế.

Nhìn chung, ngân hàng sẽ linh hoạt hơn trong việc định giá khi sản phẩm hay dịch vụ của họ mới lạ và độc đáo. Đối với những sản phẩm thông dụng hay phổ biến, sự linh hoạt sẽ kém hơn vì khách hàng đã có nhiều sự lựa chọn và so sánh.

Nếu ngân hàng định giá cao hơn thị trường chung, việc bán hàng trở nên khó khăn, còn nếu họ định giá quả thấp thì số lượng hàng bán tạm thời tăng lên, nhưng sẽ chững lại khi các đối thủ cạnh tranh hạ giá. Một số ngân hàng đã thành công trong việc duy trì giá thành cao bằng cách bổ sung các sản phẩm rất bình thường của họ những ưu điểm về sự độc đáo, chất lượng hay sự mới lạ. Ngân hàng cũng có thể tăng các giá trị cho khách hàng như tư vấn cho khách hàng sử dụng các dịch vụ tốt nhất của ngân hàng, cũng như các nghiệp vụ đầu tư an toàn và sinh lời cao nhất, cung cấp cho khách hàng các thông tin tài chính có lợi. Dù ngân hàng định giá sản phẩm hay dịch vụ ở mức nào thì yếu tố giá cả cũng thực sự quan trọng trong marketing hỗn hợp và có tác động đến kết quả kinh doanh. Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động Marketing cho Ngân hàng.

Bên cạnh đó, trong ngành ngân hàng yếu tố giá cả chính là mức lãi suất mà ngân hàng đưa ra cho khách hàng, đồng thời cũng là chi phí cho các sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng sử dụng. Ngoài ra, giá cả của sản phẩm dịch vụ còn chịu sự quản lý và chi phối của Ngân hàng Nhà nước luôn có sự điều chỉnh và so sánh giữa các ngân hàng. Yếu tố giá cả không phải là yếu tố tác động lên lòng trung thành của khách hàng mà tác động trực tiếp đến hành vi tiêu dùng của khách hàng. Do vậy, ngân hàng cần đưa ra được các chính sách giá hợp lý và cạnh tranh để thu hút khách hàng trong từng thời kỳ, từng điều kiện cụ thể để đạt được mục tiêu của ngân hàng.

1.2.4. Phân phối (Place)

Xây dựng chiến lược sản phẩm dịch vụ tốt, chiến lược giá hợp lí vẫn chưa đủ đảm bảo cho sự thành công trong kinh doanh ngân hàng, mà đòi hỏi các nhà quản trị Marketing phải hoạch định được chiến lược phân phối phù hợp để đưa sản phẩm dịch vụ của ngân hàng đến với khách hàng một cách tốt nhất. Đây là điều kiện quan trọng để phát huy hiệu quả cao nhất của hai chiến lược trên.

Kênh phân phối là công cụ trực tiếp đưa sản phẩm dịch vụ của ngân hàng đến khách hàng nhanh chóng, thuận tiện. Kênh phân phối đóng vai trò tích cực trong việc nắm bắt nhu cầu của khách hàng để ngân hàng chủ động cải tiến, hoàn thiện sản phẩm dịch vụ, tạo điều kiện thuận lợi trong việc cung cấp sản phẩm dịch vụ của ngân hàng cho khách hàng. Đồng thời, kênh phân phối hiện đại đang trở thành công cụ không chỉ tạo được sự khác biệt mà còn khuếch trương hình ảnh của ngân hàng trên thị trường. Phân phối trong ngân hàng có hai kênh chính như gồm: Kênh phân phổi truyền thống và kênh phân phối hiện đại.

Hệ thống kênh phân phối luôn là một vấn đề được quan tâm trong chiến lược marketing của ngành ngân hàng. Tác động của công nghệ điện tử và việc xóa bỏ những rào cản gia nhập ngành đã tăng tính cạnh tranh trên thị trường ngân hàng. Điều đó thực sự có ảnh hưởng đáng kể tới việc phân phối các sản phẩm và dịch vụ tài chính. Các mạng lưới chi nhánh đã có sự thay đổi lớn về số lượng, cơ cấu và chức năng nhưng nó vẫn giữ vai trò là một kênh phân phối truyền thống trên thị trường ngân hàng. Bên cạnh đó, hệ thống kênh phân phối hiện đại tiếp tục gia tăng để bổ sung cho hệ thống phân phối sản phẩm dịch vụ truyền thống của ngân hàng. Điều này đã làm cho hoạt động ngân hàng có hiệu quả và tính cạnh tranh được nâng cao hơn. Ngân hàng cần lựa chọn cho mình một hệ thống phân phối cung ứng dịch vụ thích hợp, phối hợp giữa hai hệ thống phân phối truyền thống và hiện đại để có thể đạt được hiệu quả cao trong kinh doanh và đạt được tính cạnh tranh cao nhất.

1.2.5. Hoạt động quảng bá và xúc tiến (Promotion) Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động Marketing cho Ngân hàng.

Để các chiến lược trên phát huy tính hiệu quả và được thông tin đầy đủ tới khách hàng, ngân hàng cần một chiến lược yểm trợ thực sự cần thiết. Đó chính là chiến lược quảng bá xúc tiến hỗn hợp.

Hoạt động xúc tiến hỗn hợp của ngân hàng bao gồm các hoạt động trao đổi thông tin về sản phẩm của ngân hàng tới khách hàng. Các công cụ và hình thức quảng bá xúc tiến hỗn hợp áp dụng cho ngân hàng hiện nay khá đa dạng và phong phủ, bao gồm có thể kể đến một số như PENCILS: Public Realtion (quan hệ công chúng), Events (Sự kiện), News (tin tức), Community involvement (hoạt động cộng đồng), Identity tools (công cụ nhận dạng), Lobbying (vận động hành lang) và Social investments (đầu tư xã hội). Mỗi hoạt động trên đều bao hàm và chịu ảnh hưởng hỗn hợp các hoạt động xúc tiến còn lại.

Quan hệ công chúng của ngân hàng: Ngân hàng có xu hướng thực hiện đầu tư quản lý các quan hệ giao tiếp với cộng đồng nhiều hơn đầu tư vào quảng cáo. Thông qua quan hệ công chúng, ngân hàng quản lý các mối giao tiếp với cộng đồng nhằm tạo dựng và duy trì một hình ảnh tích cực, nổi bật và rộng khắp về ngân hàng và mong muốn thông qua đó khách hàng sẽ trở nên gần gũi dành nhiều thiện cảm và quan tâm hơn tới các sản phẩm ngân hàng. Công chúng trong các mối liên hệ ảnh hưởng này bao gồm cả bên trong và bên ngoài ngân hàng. Công chúng bên ngoài ngân hàng là các khách hàng hiện tại và tiềm năng, cơ quan truyền thông báo chí (đài truyền hình, đài phát thanh, báo viết, báo internet), cơ quan Chính phủ, dân chúng trong khu vực ngân hàng, các đoàn thể. Công chúng trong ngân hàng là các cổ đông, cán bộ nhân viên, đối tác chiến lược, công ty con trong tập đoàn ngân hàng. Các hoạt động chính của quan hệ công chúng ngân hàng là các hoạt động nhằm tiếp xúc (họp báo, hội nghị khách hàng), lấy ý kiến góp ý của khách hàng nói về sản phẩm dịch vụ, tạo dựng hình ảnh (tài trợ học bổng cho sinh viên, tổ chức cuộc thi cúp truyền hình,…). Mục tiêu của quan hệ công chúng là xây dựng một hình ảnh chung về ngân hàng.

Sự kiện của ngân hàng: Với ngân hàng, sự kiện là các hoạt động cụ thể nhằm quảng bá hình ảnh cho một hoạt động cụ thể của ngân hàng. Mục tiêu cốt lõi của sự kiện là hoạt động khuyến mãi và quảng cáo nhằm tập trung cho một sản phẩm đặc trưng. Một ví dụ có thể kể đến đó là chương trình “Quà tặng gia đình” của ABBank tặng các đồ dùng gia đình khi khách hàng tới gửi tiền trong ba tháng. Ngoài ra, các chương trình khuyến mãi mới theo định kỳ là sự kiện chủ đạo và đặc trưng của hầu hết các ngân hàng Việt Nam hiện nay.

Thông tin ngân hàng: Thông thường, ngân hàng áp dụng hai phương thức thông tin cơ bản là thông tin qua các phương tiện hỗ trợ như thông cáo báo chí, thông cáo trên trang chủ của ngân hàng, thông tin trên truyền hình, tổ chức hội nghị khách hàng giới thiệu sản phẩm và thông tin trực như điện thoại, tư vấn trực tiếp,gửi thư, tờ rơi giới thiệu dịch vụ mới tới khách hàng thông qua các chuyên viên quan hệ khách hàng và giao dịch viên. So với thông tin qua các phương tiện hỗ trợ thì thông tin trực tiếp giúp cho ngân hàng nhanh chóng thu thập thông tin và giải đáp thông tin khách hàng nhanh chóng, đồng thời giúp khách hàng dễ hiểu, nắm bắt các thông tin tài chính phức tạp. Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động Marketing cho Ngân hàng.

Hoạt động cộng đồng của ngân hàng: Đây chính là công tác tuyên truyền hoạt động của ngân hàng trong xã hội. Mục đích của tuyên truyền hoạt động xã hội của ngân hàng áp dụng là nhằm tạo dựng và duy trì sự hiểu biết rộng rãi trong xã hội về ngân hàng. Hoạt động cộng đồng chủ đạo của ngân hàng là tài trợ cho các hoạt động xã hội. Thông qua tài trợ, ngân hàng tham dự vào các hoạt động từ thiện, các chương trình môi trường, các chương trình ủng hộ người nghèo,… Mục tiêu cuối của hoạt động cộng đồng là các ngân hàng dùng ảnh hưởng của mình tăng cường sự hiểu biết của khách hàng về ngân hàng thông qua nhận xét khách quan của bên thứ ba và các đối tác tài trợ. Thông qua hoạt động cộng đồng một cách có mục đích, ngân hàng có thể chủ động thu hút sự quan tâm của tập khách hàng nhất định mà hoạt động cộng đồng đó mang lại.

Công cụ nhận dạng của ngân hàng: Hệ thống nhận diện ngân hàng bao gồm hai hệ thống bên ngoài và bên trong. Bên ngoài ngân hàng là toàn bộ hệ thống biển hiệu, logo và cách bố trí xây dựng thiết kế cổng ra vào trụ sở. Bên trong ngân hàng là hệ thống thiết kế quầy giao dịch, màu sắc và kiểu dáng đồng phục nhân viên, thiết kế chủ đạo của các ấn phẩm giấy tờ có liên quan của ngân hàng. Chiến lược xây dựng hoặc thay đổi nhận dạng ngân hàng là quá trình tốn kém kinh phí và dài lâu nhưng đây là yếu tố yểm trợ marketing quan trọng căn bản nên các ngân hàng không thể bỏ qua được trong chiến lược marketing của mình.

Vận động hành lang của ngân hàng: Khi ngân hàng đóng vai trò là kênh cung ứng nguồn vốn chủ đạo cho nền kinh tế thì có thể tạo ra những biến động kinh tế. Đối với Việt Nam, cơ quan chủ quản của các ngân hàng là ngân hàng nhà nước, đại diện nhóm lợi ích các ngân hàng là hiệp hội ngân hàng Việt Nam. Việc ngân hàng tham gia vào việc đưa ra chính kiến với các chính sách của ngân hàng trung ương và nhà nước sẽ nhằm mục đích tác động điều tiết chính sách đó theo nhu cầu lợi ích của nhóm ngân hàng.

Đầu tư xã hội của ngân hàng: Khác với tài trợ là tặng và hoàn thành nghĩa vụ một lần, đầu tư xã hội của ngân hàng là các cam kết hỗ trợ cộng đồng một cách dài lâu thông qua tài trợ vốn cho các dự án nâng cao chất lượng sống của xã hội. Hoạt động đầu tư xã hội của ngân hàng không chỉ tạo ra hình ảnh mà còn đem lại cơ hội kinh doanh cùng với lợi nhuận. Đó là các cam kết tài trợ vốn cho các chương trình nước sạch, trồng cây xanh, hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ,…Tất cả các hoạt động này đều thu hút các cơ quan truyền thông và đem lại lợi thế nhất định cho ngân hàng trong việc tăng cường hình ảnh của ngân hàng với công chúng.

1.2.6. Quy trình (Process) Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động Marketing cho Ngân hàng.

Quy trình là một tập hợp gồm những quy định, thủ tục, trình tự của quá trình cung ứng một sản phẩm dịch vụ của ngân hàng cho khách hàng. Đối với các ngành dịch vụ, quá trình cung cấp và tiêu thụ dịch vụ xảy ra đồng thời khách hàng tham gia vào quá trình tạo ra dịch vụ. Khách hàng không chỉ quan tâm đến kết quả của dịch vụ mà con quan tâm đến quá trình cung cấp dịch vụ, vì quá trình đã diễn ra trước mắt khách hàng. Quá trình này tác động mạnh tới tâm lý khách hàng. Đồng thời có sự giao thoa giữa quản trị marketing, quản trị tác nghiệp và quản trị nguồn nhân lực.

Do tính đồng thời trong quá trình cung ứng dịch vụ, chất lượng sản phẩm dịch vụ được đảm bảo chủ yếu thông qua một quy trình cung ứng rõ ràng, chuẩn xác. Loại trừ những sai sót từ cả hai phía. Một quy trình hiệu quả cũng hạn chế được đặc điểm không đồng nhất trong quá trình cung ứng dịch vụ. Trong lĩnh vực dịch vụ ngày nay, ngoài yếu tố con người thì quy trinh cũng là một yếu tố không thể thiếu và nó làm nên giá trị của dịch vụ đó. Quy trình hoạt động ngân hàng đóng vai trò, quan trọng trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm.

Sản phẩm mới sẽ được đánh giá cao khi các khâu được chuẩn hóa và thực hiện bài bản, bao quát các vấn đề phát sinh và được giải quyết nhanh chóng hiệu quả. Quy trình thực hiện dịch vụ ngân hàng nhanh gọn cũng làm tăng sự thoải mái, yêu thích và lòng trung thành của khách hàng. Vì vậy ngân hàng cần phải chú trọng đến yếu tố quy trình, xây dựng các quy trình nghiệp vụ chuẩn, kèm theo những bộ tài liệu hướng dẫn chi tiết, cụ thể sao cho bất kì nhân viên nào cũng có thể nắm rõ được quy trình làm việc và cung cấp dịch vụ cho khách hàng một cách hiệu quả nhất.

1.2.7. Nguồn nhân lực (People)

Con người là nhân tố giữ vị trí quan trọng trong marketing dịch vụ và nó là nhân tố chính tạo ra dịch vụ, quyết định chất lượng dịch vụ cung ứng. Nhân viên là người trực tiếp tiếp xúc, hướng dẫn khách hàng, thực hiện quy trình dịch vụ. Họ không chỉ có vai trò quyết định về số lượng và chất lượng sản phẩm dịch vụ cung ứng mà còn tạo nên hình ảnh của ngân hàng trong tâm trí khách hàng. Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động Marketing cho Ngân hàng.

Con người là yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc hoạch định, thực thi và quản lý các chiến lược của ngân hàng hướng đến xây dựng và duy trì mối quan hệ với khách hàng và các bên hữu quan. Nhân viên phải cảm thấy có động lực với những kế hoạch mà họ được giao trọng trách thực hiện. Hành vi, cử chỉ, lời nói, trang phục của họ đều ảnh hưởng lớn đến tâm lý khách hàng. Kiến thức, kỹ năng,thái độ của họ ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ. Ngoài ra, nhân viên còn phải nhìn thấy kết quả của việc thực hiện chiến lược có giá trị và ý nghĩa để họ nỗ lực làm việc tích cực.

Trong một số trường hợp, các yếu tố bên ngoài làm rối loạn lịch trình hoặc làm chệch hướng tập trung của cấp quản lý. Sự trục trặc kỹ thuật cũng ảnh hưởng xấu đến tiến độ. Nhưng vấn đề con người vẫn là nguyên nhân thường gặp nhất như nhân viên phạm sai lầm, nhân viên chính thôi việc hoặc thuyên chuyển công tác, các nhóm làm việc không giao tiếp lẫn nhau, nhân viên thiếu kĩ năng, trình độ chuyên môn, các nhà quản lí xa cách những nhân viên phụ trác các bước hành động quan trọng.

Trong nền kinh tế ngày càng phát triển, dịch vụ tài chính ngân hàng ngày càng phong phú đa dạng, cạnh tranh ngày càng gay gắt, đội ngũ nhân viên trở thành điều quan trọng tạo nên hình ảnh và uy tín của ngân hàng. Các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng được phân phối qua kênh nhân viên tư vẫn ngày càng trở nên phổ biến.

Như vậy, để việc thực hiện chiến lược có hiệu quả cao, ngân hàng cần giám sát, kiểm tra thường xuyên hiệu quả của bộ phận quản lý nguồn nhân lực. Ngân hàng cũng cần thiết phải đề ra những chính sách về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực giúp nâng cao kiến thức, trình độ của nhân viên; xây dựng một hệ thống lương thưởng, đãi ngộ hợp lý để không những có thể khuyến khích nhân viên tích cực làm việc, đưa ra những ý tưởng sáng tạo mới mà còn có thể giữ chân được nhân viên của mình. Nhất là trong điều kiện hiện nay, yếu tố con người cũng là một thế mạnh cạnh tranh của doanh nghiệp.

Ngoài ra, một yếu tố không kém phần quan trọng là sự trao đổi thông tin thường xuyên giữa lãnh đạo với nhân viên. Nhân viên cần biết được những việc họ đang thực hiện đã tốt hay chưa, cần phải phát huy hay cải tiến ở điểm nào. Điều đó đòi hỏi hệ thống phản hồi của ngân hàng phải rõ ràng, cụ thể, kịp thời. Một môi trường làm việc hiệu quả sẽ đem lại sự thỏa mãn cho nhân viên, đó cũng chính là điều kiện tiền đề của dịch vụ khách hàng hoàn hảo.

1.2.8. Cơ sở hạ tầng (Physical evidence) Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động Marketing cho Ngân hàng.

Chiến lược phương tiện hữu hình là tăng tính hữu hình hóa của sản phẩm dịch vụ ngân hàng, phát huy tối đa tác động của các phương tiện hữu hình trong quyết định lựa chọn sản phẩm dịch vụ ngân hàng và duy trì mối quan hệ lâu dài của khách hàng với ngân hàng. Chiến lược phương tiện hữu hình của một sản phẩm dịch vụ là một yếu tố quan trọng đến khách hàng đặt niềm tin vào chất lượng của dịch vụ đó. Bằng chứng vật chất có thể là bao bì, giấy tờ, hóa đơn, tài liệu quảng cáo, đồng phục, văn phòng, cơ sở hạ tầng…Các cách bài trí sáng sủa, đẹp mắt, ấn tượng sẽ làm tăng thêm thiện cảm và tính chuyên nghiệp cho các hoạt động của ngân hàng. Khóa luận: Hoàn thiện hoạt động Marketing cho Ngân hàng.

Ngoài ra, ngân hàng cũng có thể sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng để đưa thông tin về các bằng chứng vật chất như vốn điều lệ, hệ thống chỉ nhánh, phòng giao dịch, các tài sản giá trị khác như những chứng nhận hoặc giải thưởng uy tin mà ngân hàng có được một cách công khai, minh bạch giúp khách hàng có cái nhìn khách quan và tổng quan về ngân hàng. Trong điều kiện hiện nay, các bằng chứng vật chất cần thuyết phục, ổn định và đảm bảo uy tín cho ngân hàng, nó góp phần chứng minh và đảm bảo cho những tài sản mà khách hàng ký gửi tại ngân hàng cũng như tin dùng các dịch vụ do ngân hàng cung cấp.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Thực trạng hoạt động marketing của ngân hàng

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x