Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực tại Công ty Cảng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần Cảng Vật Cách dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
LỜI MỞ ĐẦU
Xu hướng phát triển của nền kinh tế thế giới và khu vực đem đến cho nền kinh tế nước nhà bên cạnh những cơ hội còn tồn tại một số khó khăn, thách thức rất lớn cho các doanh nghiệp. Vì vậy, để có thể tồn tại và phát triển đòi hỏi bản thân mỗi doanh nghiệp không ngừng nỗ lực hoàn thiện bản thân mình về mọi mặt đặc biệt là công tác quản trị.
Trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau của nền kinh tế, thì con người luôn được xem là nguồn lực quý giá, quan trọng nhất và là một trong những vũ khí lợi hại trong chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Chỉ có con người mới có khả năng tạo ra của cải vật chất cho xã hội, chỉ có con người mới có thể tạo ra máy móc, trang thiết bị ngày càng tiên tiến phục vụ cho nhu cầu phát triển của nền kinh tế cả nước nói chung, nền kinh tế Cảng biển nói riêng. Có thể nói, con người là chủ thể trong mọi hoạt động .Vì vậy, để đạt được mục tiêu cao nhất của doanh nghiệp thì yếu tố con người là một trong những vấn đề được các doanh nghiệp rất quan tâm chú trọng. Xuất phát từ tầm quan trọng của con người đối với sự phát triển bền vững của doanh nghiệp mà quản trị nhân sự có vai trò đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực quản trị.
Qua quá trình thực tế tại Công ty Cổ phần Cảng Vật Cách em đã đi sâu tìm hiểu và nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần Cảng Vật Cách”.
Đề tài gồm 3 phần:
- Phần 1: Cơ sở lý luận về nguồn nhân lực và quản trị nguồn nhân lực trong Công ty.
- Phần 2: Thực trạng sử dụng nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần Cảng Vật Cách.
- Phần 3: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần Cảng Vật Cách.
Đề tài này được xây dựng trên cơ sở vận dụng những kiến thức đã tiếp thu được trong suốt quá trình học tập dưới mái trường Đại học Dân lập Hải Phòng cùng với việc nghiên cứu tìm hiểu thực tế tại Công ty Cổ phần Cảng Vật Cách. Dưới sự chỉ bảo của các cô chú trong ban lãnh đạo, các cán bộ công nhân viên trong Công ty cùng sự hướng dẫn nhiệt tình, tận tâm của cô giáo: ThS. Nguyễn Thị Hoàng Đan, đã tạo điều kiện cho em hoàn thành được đề tài này. Tuy nhiên, do những hạn chế về mặt kiến thức và thời gian có hạn nên sẽ không tránh khỏi những sai sót và khiếm khuyết. Vậy em rất mong được sự nhận xét và góp ý của các thầy, cô để đề tài của em hoàn thiện hơn.
PHẦN 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CÔNG TY
1.1. Nguồn nhân lực
1.1.1. Khái niệm nguồn nhân lực Khóa luận: Hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực tại Công ty Cảng.
Để phát triển, mỗi quốc gia đều phải dựa vào các nguồn lực cơ bản như: tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực, tiềm lực về khoa học công nghệ, cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn vốn… trong đó nguồn nhân lực (nguồn lực con người) luôn là nguồn lực cơ bản và chủ yếu nhất quyết định cho sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia. Đứng trên các góc độ khác nhau, khi nghiên cứu về nguồn nhân lực các tác giả đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực để phù hợp với mục tiêu nghiên cứu và điều kiện thực tế của từng quốc gia.
Nhân lực có thể được hiểu là nguồn lực của tất cả các cá nhân tham gia vào bất cứ hoạt động nào của doanh nghiệp, không kể vai trò của họ trong doanh nghiệp đó như thế nào [3].
Nguồn nhân lực hay nguồn lực lao động bao gồm tất cả những người trong độ tuổi lao động theo (quy định của pháp luật) có khả năng lao động (trừ những người tàn tật, mất sức lao động loại nặng) và những người ngoài độ tuổi lao động nhưng thực tế đang làm việc [3].
Nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục đích nhất định [1].
Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác của doanh nghiệp do chính bản chất của con người. Các nguồn lực khác của doanh nghiệp đều được nguồn lực con người điều khiển để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của chính bản thân doanh nghiệp do đó nguồn nhân lực được coi là yếu tố then chốt trong chiến lược phát triển của doanh nghiệp. Mỗi nhân viên có các năng lực, đặc điểm cá nhân khác nhau, có tiềm năng phát triển và có khả năng đoàn kết làm việc theo nhóm, tổ, đội tạo nên hiệu quả cao trong công việc mà họ đảm nhận đồng thời họ liên kết lại để hình thành nên các tổ chức để bảo vệ quyền lợi của bản thân trong quá trình lao động sản xuất kinh doanh.
Hiểu theo góc độ rộng hơn thì nguồn nhân lực chính là nguồn lực của con người bao gồm hai yếu tố chính là thể lực và trí lực [5].
Xét theo phạm vi hẹp hơn trong phạm vi một tổ chức thì nguồn nhân lực thể hiện ở số lượng và chất lượng người lao động đang làm việc trong tổ chức đó bất kể công việc mà họ đảm nhận là gì [5].
Mặc dù, nguồn nhân lực được xét đến với nhiều khái niệm khác nhau nhưng đều thống nhất với nhau đó là nguồn nhân lực thể hiện khả năng lao động của xã hội. Nguồn nhân lực là tài nguyên quan trọng và quý giá nhất để đánh giá tiềm lực phát triển của mỗi quốc gia, mỗi vùng, ngành, địa phương, mỗi doanh nghiệp. Nguồn nhân lực là nguồn lực phong phú nhất và đa dạng nhất so với các loại tài nguyên khác. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực tại Công ty Cảng.
1.1.2. Vai trò của nguồn nhân lực
Quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả và hợp lý các nguồn lực của đất nước góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia. Trong các nguồn lực đó thì nguồn nhân lực là nguồn lực có vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của đất nước. Do đó, việc đào tạo và không ngừng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là vấn đề quan tâm hàng đầu của xã hội.
Không giống như những máy móc, thiết bị sản xuất đồng loạt tạo ra những sản phẩm có giá trị sử dụng như nhau, đem lại hiệu quả ngang nhau thì con người có khả năng phát minh, sáng chế ra các loại tư liệu lao động khác nhau, ngày càng tiến bộ hơn nhằm mục đích đem lại hiệu quả cao trong công việc.
Nguồn lực con người chính là nguồn “nội lực” quý giá nếu biết cách khai thác và phát huy tốt là yếu tố quan trọng để tạo ra các nguồn lực khác.
Để không ngừng thoả mãn những nhu cầu về vật chất, tinh thần ngày càng được nâng cao về số lượng và chất lượng trong điều kiện các nguồn lực khác đều có hạn, con người ngày càng phải phát huy đầy đủ hơn khả năng về mặt thể lực và trí lực cho việc phát triển không ngừng của xã hội. Sự phát triển của nền kinh tế – xã hội không thể thiếu đội ngũ lao động lành nghề, những nhà khoa học kỹ thuật với trình độ cao, những nhà lãnh đạo năng động, tháo vát biết nhìn xa trông rộng.
Công cuộc đổi mới của nước ta trong những năm qua cho thấy Đảng, Nhà nước ta đã có chủ trương, chính sách và các biện pháp thiết thực quan tâm và tạo điều kiện để mỗi cá nhân phát huy tối đa năng lực của bản thân, giải phóng mọi nguồn lực và tiềm năng sáng tạo, đem lại những thành công bước đầu rất quan trọng cả về kinh tế – xã hội đưa đất nước phát triển kịp với các nước khác trong khu vực nói riêng và trên thế giới nói chung. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực tại Công ty Cảng.
Nhận thức được vai trò tất yếu khách quan của nguồn nhân lực đối với sự phát triển kinh tế của đất nước theo hướng công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước. Nghị quyết Đại hội Đảng VIII đã khẳng định “Nâng cao dân trí và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công nghiệp hoá, hiện đại hoá” [3].
Qua thực tế phát triển của các nước đều đã khẳng định vai trò của nguồn nhân lực có tính chất quyết định đối với phát triển kinh tế – xã hội và đặc biệt với quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá.
Cùng với quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì một loạt các thị trường mới được hình thành trong đó thị trường sức lao động xuất hiện là một xu hướng tất yếu ngày càng phát triển và hoàn thiện hơn. Sự phát triển của thị trường sức lao động, quan hệ lao động bị chi phối bởi quy luật cung cầu và các quy luật khác của thị trường hàng hoá. Cũng chính từ sự chi phối này thì quan hệ lao động và cơ cấu lao động cũng thay đổi nhanh chóng cho phù hợp với xu thế phát triển. Thị trường lao động sẽ làm cho cả người lao động và người sử dụng lao động thuộc các thành phần kinh tế khác nhau chủ động, sáng tạo, khai thác và sử dụng có hiệu quả hơn nguồn nhân lực.
1.2. Quản trị nhân lực Khóa luận: Hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực tại Công ty Cảng.
1.2.1. Khái niệm về quản trị nhân lực
Quản trị là những tác động có mục đích, có tổ chức của chủ thể quản lý đối với các khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu cao nhất của tổ chức.
- Từ định nghĩa trên ta có các định nghĩa khác nhau về quản trị nhân lực:
Quản trị nhân lực (quản trị tài nguyên nhân sự) là sự phối hợp một cách tổng thể các hoạt động hoạch định, tuyển mộ, tuyển chọn, duy trì, phát triển, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tài nguyên nhân sự thông qua tổ chức, nhằm đạt được những mục tiêu chiến lược và định hướng viễn cảnh của tổ chức [2].
Quản trị nguồn nhân lực là tất cả các hoạt động của tổ chức để xây dựng, phát triển, sử dụng, đánh giá, bảo toàn và giữ gìn lực lượng lao động phù hợp với yêu cầu công việc của tổ chức cả về mặt số lượng và chất lượng.
Tuy nhiên, khái niệm và thực tiễn áp dụng quản trị nguồn nhân lực không giống nhau ở các quốc gia khác nhau. Trong một nền kinh tế chuyển đổi như ở Việt Nam thì khái niệm quản trị nguồn nhân lực được hiểu là: “Quản trị nguồn nhân lực là hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo, phát triển và duy trì con người của một tổ chức nhằm đạt được kết quả tối ưu cho cả tổ chức lẫn nhân viên” [1].
1.2.2. Mục tiêu của quản trị nguồn nhân lực
Quản trị nguồn nhân lực nghiên cứu các vấn đề về quản trị con người trong các tổ chức ở tầm vi mô có hai mục tiêu cơ bản:
Sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực nhằm tăng năng suất lao động và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức.
Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân viên, tạo điều kiện cho nhân viên được phát huy tối đa các năng lực cá nhân, được kích thích, động viên nhiều nhất tại nơi làm việc và trung thành, tận tâm với doanh nghiệp.
1.2.3. Vai trò của quản trị nguồn nhân lực
- Về mặt kinh tế: Khóa luận: Hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực tại Công ty Cảng.
Quản trị nguồn nhân lực giúp cho doanh nghiệp khai thác các khả năng tiềm tàng nâng cao năng suất lao động và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp về nguồn nhân lực.
- Về mặt xã hội:
Quản trị nguồn nhân lực thể hiện quan điểm rất nhân bản về quyền lợi của người lao động, đề cao vị thế và giá trị của người lao động, chú trọng giải quyết hài hoà mối quan hệ lợi ích giữa tổ chức, doanh nghiệp và người lao động, góp phần làm giảm bớt mâu thuẫn giữa người lao động và doanh nghiệp.
1.2.4. Ảnh hưởng của môi trường đối với quản lý nguồn nhân lực
Làm việc trong một môi trường thuận lợi là một trong những yếu tố quan trọng giúp cho mỗi nhân viên có thể cống hiến hết mọi năng lực của bản thân. Vì vậy, khi hoạch định nguồn nhân lực các nhà quản trị phải tính đến các yếu tố môi trường ảnh hưởng đối với quản lý nguồn nhân lực. Môi trường ở đây được đề cập thành 2 loại: Môi trường bên trong và môi trường bên ngoài.
- Môi trường bên trong [4]:
Môi trường bên trong (hoàn cảnh nội bộ) bao gồm tất cả các yếu tố nội tại trong doanh nghiệp như: bầu không khí không khí văn hoá, nguồn nhân lực, yếu tố tài chính, marketing, trình độ công nghệ kỹ thuật, khả năng nghiên cứu và phát triển. Phân tích kỹ môi trường bên trong giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp thấy được những ưu điểm cũng như nhược điểm của mình. Qua đó, tìm ra các biện pháp để phát huy được các điểm mạnh và khắc phục, hạn chế những điểm yếu của bản thân doanh nghiệp.
- Môi trường bên ngoài [4]:
Môi trường bên ngoài bao gồm môi trường vĩ mô và môi trường tác nghiệp. Môi trường bên ngoài nằm ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệp.
- Môi trường vĩ mô: Khóa luận: Hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực tại Công ty Cảng.
Phân tích môi trường vĩ mô của doanh nghiệp là chủ yếu nghiên cứu, xem xét những thuận lợi và khó khăn do môi trường bên ngoài tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đối với hoạt động của doanh nghiệp. Các tác động đến môi trường vĩ mô như các yếu tố về kinh tế, pháp luật của Nhà nước, yếu tố văn hoá – xã hội, tự nhiên, môi trường công nghệ.
- Yếu tố kinh tế:
Ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế đến môi trường vĩ mô bao gồm: chu kỳ kinh tế chung, nguồn cung cấp tiền, GDP, tỷ lệ lạm phát, lãi suất ngân hàng, tỷ lệ thất nghiệp, chính sách tài chính, tiền tệ, cán cân thanh toán.
- Môi trường công nghệ:
Công nghệ là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến quá trình tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Yếu tố công nghệ là các chi phí, đầu tư cho công nghệ nghiên cứu và phát triển khoa học cho nền kinh tế, cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp ngày càng chú trọng tới yếu tố này hơn để giảm bớt chi phí về quản lý, nguyên liệu, nhiên liệu, nâng cao năng suất, giảm giá thành tăng doanh thu nhằm đạt được mục tiêu cao nhất của tổ chức đó là tối đa hoá lợi nhuận.
- Môi trường văn hoá – xã hội:
Bao gồm các quan điểm sống, mức sống, phong cách sống, phong tục tập quán ở mỗi nơi, trình độ văn hoá, sở thích, độ tuổi lao động… Các yếu tố này ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản trị nguồn nhân lực. Những biến đổi trong các yếu tố xã hội bên cạnh những lợi thế còn tạo ra những thách thức rất lớn cho doanh nghiệp tuy nhiên sự biến động này rất khó kiểm soát.
- Môi trường tự nhiên:
Các yếu tố tự nhiên bao gồm: sự ô nhiễm môi trường, năng lượng, tài nguyên… Các yếu tố này có thể làm đảo lộn quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp do vậy nó có vị trí rất quan trọng trong các quyết sách của các nhà quản trị.
- Các yếu tố về chính trị, pháp luật của Nhà nước: Khóa luận: Hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực tại Công ty Cảng.
Hệ thống pháp luật bao gồm các chính sách, quy chế, luật lệ, chế độ đãi ngộ và các thủ tục khác của Nhà nước. Các doanh nghiệp đều được cạnh tranh công bằng, kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật không cấm, được sự bảo trợ của Nhà nước trong nền kinh tế quốc dân.
- Môi trường quốc tế:
Khu vực hoá, toàn cầu hoá đang là một xu hướng tất yếu mà mọi doanh nghiệp, mọi ngành đều phải hướng tới theo chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế. Phân tích môi trường quốc tế để chỉ ra được các cơ hội và đe doạ ở phương diện quốc tế đối với các doanh nghiệp. Tuy nhiên, môi trường quốc tế sẽ phức tạp hơn, cạnh tranh gay gắt hơn do sự khác biệt về xã hội, văn hoá, chính trị, kinh tế.
- Môi trường tác nghiệp:
Môi trường tác nghiệp là môi trường kinh doanh của một ngành, một lĩnh vực cụ thể nào đó mà ở đó doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh. Các yếu tố thuộc môi trường tác nghiệp bao gồm: đối thủ cạnh tranh, nhà cung cấp, khách hàng, các đổi thủ tiềm ẩn và các sản phẩm thay thế.
PHẦN 2. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CẢNG VẬT CÁCH Khóa luận: Hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực tại Công ty Cảng.
2.1. Khái quát về Công ty Cổ phần Cảng Vật Cách
2.1.1. Giới thiệu về quá trình hình thành và phát triển Công ty
Xí nghiệp xếp dỡ Vật Cách được bắt đầu xây dựng từ những năm 1968 ban đầu trực thuộc Cảng Hải Phòng hoạt động sản xuất kinh doanh với những trang thiết bị thô sơ, lạc hậu cùng với những lao động có tay nghề thấp do đó Công ty chủ yếu làm các mặt hàng chính là các loại hàng rời, than.
Trước sự phát triển ngày càng mạnh của nền kinh tế ngày 03/07/2002 Xí nghiệp xếp dỡ Vật Cách được tách ra khỏi Cảng Hải Phòng và chuyển tên thành “Công ty Cổ phần Cảng Vật Cách” theo quyết định số 2080/2002/QĐBGTVT, tên giao dịch quốc tế là “Vatcach post join stock company”. Kể từ ngày 01/09/2002 Công ty chính thức đi vào hoạt động với tổng diện tích mặt bằng là 210.000 m2 (trong đó hệ thống kho kín có diện tích là 18.000 m2). Trụ sở chính đặt tại km số 9- Quốc lộ 5 – Phường Quán Toan – Quận Hồng Bàng – Thành phố Hải Phòng. Công ty Cổ phần Cảng Vật Cách là một Công ty trực thuộc Tổng Công ty Hàng Hải Việt Nam, có tư cách pháp nhân được tự chủ trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh.
Là doanh nghiệp được thành lập từ việc cổ phần hoá một đơn vị thuộc Cảng Hải Phòng sau 5 năm cổ phần hóa tổng doanh thu và mức sản lượng hàng hoá thông qua Cảng đã tăng hơn trước rất nhiều.
Năm 2003, Công ty Cổ phần Cảng Vật Cách đã thực hiện đổi mới cơ chế quản lý, tác phong làm việc tạo nên một sức sống mới trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Vì vậy, với cơ sở vật chất trang thiết bị tuy còn lạc hậu nhưng khối lượng hàng hoá thông qua Cảng đã tăng gấp 1,5 lần trước khi cổ phần, doanh thu đạt 19 tỷ tăng gấp 2,5 lần, trả cổ tức cho cổ đông 10%/ năm. Để nâng cao năng lực sản xuất đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước, Cảng đã đầu tư mua mới các trang thiết bị, xây dựng cơ sở hạ tầng, cải tạo các hệ thống kho bãi chứa hàng…Đến năm 2004, khối lượng hàng hoá thông qua Cảng gấp đôi so với trước khi cổ phần. Doanh thu đạt 23 tỷ, tăng gấp hơn 3 lần, thu nhập bình quân 1,7 triệu đồng/người/tháng. Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế và quá trình đổi mới trong phương thức hoạt động sản xuất kinh doanh thì năng lực hoạt động của Công ty ngày càng phát triển hơn. Đến năm 2008, bình quân thu nhập đầu người là 4,2 triệu đồng/người/tháng ngoài ra Công ty còn có một số trợ cấp về độc hại, làm ca, hình thành quỹ phúc lợi luôn chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của công nhân. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực tại Công ty Cảng.
2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ (ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh) của Công ty Cổ phần Cảng Vật Cách
2.1.2.1. Các lĩnh vực kinh doanh của Công ty
Bốc xếp hàng hoá (Chuyên làm các loại hàng: hàng bao như xi măng, lân đạm; hàng rời như clinker, than, quặng, muối…; hàng thiết bị; hàng cây như sắt, thép, gỗ và một số loại hàng khác);
- Kinh doanh cho thuê kho, bãi chứa hàng;
- Dịch vụ đại lý vận tải và giao nhận hàng hoá thông qua Cảng;
- Vận tải đa phương thức;
- Kinh doanh vật tư, vật liệu xây dựng, xăng dầu;
- Sửa chữa phương tiện cơ khí, phương tiện cơ giới thuỷ bộ.
Như vậy, kết quả của các quá trình hoạt động sản xuất của Công ty tạo ra sản phẩm không phải là hàng hoá mà chỉ tăng thêm giá trị của hàng hoá, được thực hiện ngay trong quá trình lưu thông, khi kết thúc một quá trình sản xuất cũng là kết thúc một dịch vụ được chuyển giao.
2.1.2.2. Nhiệm vụ của Công ty Cổ phần Cảng Vật Cách
- Thực hiện theo đúng chính sách pháp luật của Nhà nước về các hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực Cảng biển;
- Điều độ các tàu ra vào Cảng, cung cấp nguyên, nhiên liệu cần thiết cho hoạt động của tàu như dầu, than, củi…; chịu trách nhiệm sửa chữa và bảo dưỡng các tàu vào Cảng khi có yêu cầu của chủ tàu;
- Bảo quản, sửa chữa, bảo dưỡng theo định kỳ các thiết bị, công trình thuộc phạm vi quản lý của Cảng như: xây dựng bến, vét lòng lạch, sửa chữa phao đeo đường vận chuyển, thường xuyên tu bổ, sữa chữa các cầu cảng…
Ký kết hợp đồng, chịu trách nhiệm xếp dỡ hàng hoá, lưu kho, bãi, bảo quản hàng hoá theo đúng hợp đồng với chủ tàu hoặc chủ hàng;
Kết toán việc giao nhận hàng hoá, các hoá đơn chứng từ với từng hợp đồng, giải phóng hàng một cách nhanh nhất không gây sách nhiễu với các đối tác.
2.2. Thực trạng sử dụng nguồn nhân lực trong Công ty Cổ phần Cảng Vật Cách Khóa luận: Hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực tại Công ty Cảng.
2.2.1. Mục đích và ý nghĩa của việc tìm hiểu công tác nhân sự trong Công ty
2.2.1.1. Mục đích
- Kiểm tra tình hình thực hiện các chính sách theo pháp luật của Công ty Cổ phần Cảng Vật Cách đối với người lao động.
- Nghiên cứu kết cấu lao động của Công ty thể hiện qua các mặt như cơ cấu lao động, trình độ, lứa tuổi, giới tính…
- Đánh giá tình hình sử dụng lao động, các hình thức tổ chức lao động đã phù hợp với Công ty hay chưa.
- Đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng lao động nhằm đạt được chất lượng tốt, năng suất cao để nâng cao thu nhập cho người lao động.
2.2.1.2. Ý nghĩa
Lao động là nguồn lực quan trọng nhất của bất kỳ một tổ chức doanh nghiệp nào và là cơ sở quyết định sự tồn tại và phát triển của chính doanh nghiệp đó. Do đó, việc nghiên cứu và tìm hiểu về tình hình sử dụng lao động giúp cho doanh nghiệp thấy được những điểm mạnh để phát huy và những điểm yếu cần phải sửa đổi, bổ sung. Từ việc nghiên cứu đó giúp Công ty đưa ra các biện pháp để sử dụng lao động một cách hợp lý đem lại hiệu quả cao trong công việc.
2.2.2. Đặc điểm lao động của Công ty Cổ phần Cảng Vật Cách
2.2.2.1. Đánh giá chung
Ngay từ những ngày đầu mới thành lập, Công ty Cổ phần Cảng Vật Cách tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh với những trang thiết bị rất thô sơ và lạc hậu, lao động thủ công. Hoà bình cùng với công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước, Cảng Vật Cách không ngừng nỗ lực xây dựng và phát triển. Cùng với nhu cầu trao đổi, thông thương trong nước và thế giới ngày càng tăng thì cũng là lúc mà ngành vận tải biển phát huy được những thế mạnh của mình. Hệ thống cảng biển ngày càng phát triển. Theo xu hướng phát triển đó Cảng Vật Cách không ngừng thay đổi, tổ chức lại cơ cấu, đầu tư trang thiết bị ngày càng cao đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Đồng thời Công ty rất chú trọng đến việc phát triển nguồn nhân lực cả về số lượng lẫn chất lượng để bắt nhịp với xu hướng phát triển của nền kinh tế. Tại thời điểm cổ phần hoá vào năm 2002 trong toàn Công ty có tổng số lao động là 441 người trong đó: Khóa luận: Hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực tại Công ty Cảng.
- Cán bộ có trình độ đại học và trên đại học: 48 người.
- Cán bộ có trình độ trung cấp: 64 người.
- Công nhân kỹ thuật: 29 người.
- Công nhân viên: 300 người.
Đến nay, tổng số cán bộ công nhân viên của Công ty đã tăng cả về mặt số lượng và chất lượng. Năm 2008, tổng số lao động trong Công ty là 947 người trong đó số lao động nam là 789 người chiếm 83,32% tổng số lao động, lao động nữ là 158 người chiếm 16,68% tổng số lao động. Hiện nay, Công ty có đội ngũ lao động năng động, sáng tạo, đầy nhiệt huyết đối với công việc có nhiều kinh nghiệm hoạt động trong hệ thống Cảng biển.
2.2.2.2. Cơ cấu lao động của Công ty Cổ phần Cảng Vật Cách
Qua bảng số liệu trên cho thấy số lượng và chất lượng lao động tăng lên so với số lượng lao động tại thời điểm cổ phần hoá vào năm 2002. Phân loại lao động theo trình độ học vấn cho thấy: Năm 2006, lao động có trình độ trung học phổ thông là 495 người (chiếm 59,57% tổng số lao động); trình độ trung cấp có 111 người chiếm 13,36%; trình độ cao đẳng là 90 người; trình độ đại học có 135 người chiếm 16,24%. Năm 2007, lao động với trình độ đại học có 151 người; lao động có trình độ cao đẳng là 96 người; lao động có trình độ trung cấp là 88 người; lao động với trình độ trung học phổ thông có 583 người. Năm 2008, trong toàn Công ty có 592 người có trình độ trung học phổ thông (chiếm 62,5% tổng số lao động); trình độ trung cấp là 90 người; trình độ cao đẳng có 100 người (chiếm 10,56%); trình độ đại học là 165 người (chiếm 17,44% trong tổng số lao động). Năm 2008 so với năm 2007, lao động có trình độ đại học tăng 14 người tương ứng với mức tăng là 9,27%; trình độ cao đẳng với mức tăng 4,17%; trình độ trung cấp tăng 2 người; trình độ trung học phổ thông với mức tăng tương đối là 1,54%, mức tăng tuyệt đối là 9 người.
Qua các số liệu phân tích trên nhận thấy số lượng lao động có trình độ đại học, cao đẳng qua 3 năm tăng lên cho thấy chất lượng lao động là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu và là yếu tố then chốt cho sự phát triển bền vững của Cảng Vật Cách. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thì việc sử dụng lao động có trình độ chuyên môn là một xu thế tất yếu hiện nay.
Phân loại lao động theo giới tính: Năm 2008, số lao động nam có 789 người chiếm 83,32% trong tổng số lao động; lao động nữ chiếm 16,68%. Năm 2007, lao động nữ có 145 người; lao động nam có 773 người. Năm 2006, lao động nam chiếm 83,75% tổng số lao động; lao động nữ chiếm 16,25%. Sở dĩ lao động nam chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số lao động do đặc thù kinh doanh trong lĩnh vực Cảng biển phải sử dụng nhiều công nhân bốc xếp đòi hỏi phải có thể lực tốt. Lao động nữ chủ yếu làm các công việc bên khối hành chính như công tác quản lý, văn thư, kế toán…
Qua bảng số liệu trên ta thấy lao động ở độ tuổi từ 50 trở lên có xu hướng giảm đi, lao động ở độ tuổi từ 18 đến 25 chiếm một tỷ lệ cao trong toàn bộ lao động cho thấy cơ cấu lao động có xu hướng trẻ hoá. Đây là một trong những nhân tố quan trọng giúp cho Công ty thu hút được lực lượng lao động với sức trẻ, lòng nhiệt huyết và cống hiến hết mình cho sự nghiệp phát triển của Công ty. Ở độ tuổi từ 40 trở xuống chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng số lao động và theo dự đoán trong khoảng 5 năm tới cơ cấu tổ chức của Công ty tương đối ổn định. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực tại Công ty Cảng.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Kế toán doanh thu chi phí và XĐKQKD tại Công ty S.I.C
