Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng tại VietinBank hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – chi nhánh Hoàng Mai Hà Nội dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Khi nền kinh tế phát triển, đặc biệt là khi Việt Nam gia nhập WTO đã gây áp lực không hề nhỏ đối với các ngân hàng trong nước về khả năng tồn tại và cạnh tranh. Để có thể đứng vững, các ngân hàng thương mại (NHTM) trong nước đã không ngừng cải tiến, nâng cao chất lượng dịch vụ. Bên cạnh việc huy động vốn, cho vay là hoạt động cơ bản không thể thiếu của các Ngân hàng thương mại. Tuy vậy, từ xưa tới nay các ngân hàng hầu hết chỉ quan tâm đến cho vay các doanh nghiệp lớn nhằm phục vụ sản xuất kinh doanh hàng hóa mà chưa thực sự chú ý rằng nhu cầu vay tiêu dùng của người dân đang ngày một tăng cao.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, đối với những hộ dân có mức sống trung bình khá, nhu cầu của họ là một căn nhà khang trang, phương tiện đi lại hay những đồ dùng phục vụ cho nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống như: Tivi, tủ lạnh, điều hòa, máy giặt…Hay đối với những hộ dân có mức sống cao hơn, họ lại mong muốn có một căn hộ đẹp, đầy đủ tiện nghi, nội thất sang trọng, trang thiết bị hiện đại, bắt mắt…Tuy nhiên, khi nền kinh tế đang trong thời gian khủng hoảng cùng với mức thu nhập hiện nay, phần lớn người tiêu dùng không thể chi trả cho tất cả các nhu cầu mua sắm cùng lúc. Nắm bắt thực tế, các ngân hàng đã thực hiện cung cấp các dịch vụ cho vay tiêu dùng (CVTD) dưới nhiều hình thức khác nhau nhằm tạo điều kiện cho khách hàng có thể thỏa mãn nhu cầu của mình trước khi có khả năng thanh toán. Và chỉ trong một thời gian ngắn khi các sản phẩm này ra đời, số lượng khách hàng tìm tới ngân hàng đã không ngừng tăng lên, tạo ra nguồn thu nhập không nhỏ cho hệ thống ngân hàng.
Năm 2025, các Ngân hàng thương mại có xu hướng chuyển từ cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế lớn sang các dịch vụ ngân hàng bán lẻ với mục tiêu của mỗi ngân hàng là trở thành ngân hàng bán lẻ hàng đầu Việt Nam. Trong các dịch vụ đó, quan trọng nhất là Cho vay tiêu dùng cùng với các dịch vụ tiện ích: Internet Banking, Mobile Banking, SMS Banking, Autobank,…Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – chi nhánh Hoàng Mai Hà Nội (NHTMCP CT VN – CN HMHN) nói riêng và Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam nói chung là những đơn vị tiên phong trong hoạt động Cho vay tiêu dùng tại Việt Nam và qua đó đã đạt được những thành công nhất định. Tuy vậy, với số lượng dày đặc các ngân hàng cạnh tranh như hiện nay đã khiến hoạt động Cho vay tiêu dùng gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, ngân hàng cần phải có những giải pháp đẩy mạnh hơn nữa hiệu quả hoạt động Cho vay tiêu dùng, nỗ lực hơn để trở thành kênh kết nối hiệu quả giữa nguồn vốn huy động được với nhu cầu bị giới hạn bởi khả năng thanh toán, từ đó tạo ra lợi nhuận cho chính ngân hàng, đồng thời cũng giúp cho sự phát triển chung của toàn xã hội.
Sau một thời gian thực tập tại Ngân hàng thương mại CP CT VN – CN HMHN, tìm hiểu về thực trạng hoạt động Cho vay tiêu dùng của chi nhánh, em đã chọn: “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – chi nhánh Hoàng Mai Hà Nội” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu đề tài Khóa luận: Hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng tại VietinBank.
Sưu tầm, tổng hợp, làm rõ thêm những vấn đề cơ bản về hoạt động Cho vay tiêu dùng và hiệu quả hoạt động Cho vay tiêu dùng đối với khách hàng cá nhân và hộ gia đình của ngân hàng cho việc phân tích, đánh giá tình hình hoạt động Cho vay tiêu dùng hiện nay.
Đánh giá thực trạng hoạt động Cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại CP CT VN – CN HMHN, tìm ra các nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong Cho vay tiêu dùng của ngân hàng này, đưa ra các giải pháp để góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động Cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại CP CT VN – CN HMHN.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động Cho vay tiêu dùng đối với khách hàng cá nhân và hộ gia đình tại Ngân hàng thương mạiCP CT VN – CN HMHN.
- Phạm vi nghiên cứu: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động Cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại CP CT VN – CN HMHN.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu của đề tài, khóa luận sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, kết hợp giữa lý luận và tư duy logic để phân tích chứng minh và đề ra các giải pháp.
5. Kết cấu của khóa luận
Khóa luận gồm có 3 phần chính với nội dụng như sau:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về hoạt động cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại
- Chương 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – chi nhánh Hoàng Mai Hà Nội
- Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – chi nhánh Hoàng Mai Hà Nội
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái quát về hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm cho vay tiêu dùng
1.1.1.1 Khái niệm
Theo Luật các tổ chức tín dụng 2023, hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ như: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Trong đó: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”.
Theo điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2023: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào các mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Khóa luận: Hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng tại VietinBank.
Như vậy, Cho vay tiêu dùng là quan hệ kinh tế giữa một bên là ngân hàng và một bên là các cá nhân, người tiêu dùng. Trong đó, ngân hàng chuyển giao tiền cho khách hàng với nguyên tắc khách hàng sẽ hoàn trả cả gốc và lãi tại một thời điểm xác định trong tương lai. Bên cạnh đó, Cho vay tiêu dùng cũng là hình thức cấp tín dụng rất hữu ích nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu, mua sắm, sửa chữa nhà cửa… của các cá nhân, hộ gia đình. Các khoản vay này giúp người tiêu dùng có thể sử dụng hàng hóa, dịch vụ trước khi họ có khả năng chi trả, tạo cho họ có cuộc sống với chất lượng cao hơn như mua xe hơi, mua nhà, du lịch…
1.1.1.2 Đặc điểm
- Quy mô của từng các khoản vay nhỏ nhưng số lượng các khoản vay lớn
Đặc điểm này xuất phát từ đối tượng của Cho vay tiêu dùng là các cá nhân và hộ gia đình. Họ tìm đến ngân hàng với mục đích vay tiêu dùng có nhu cầu vốn không lớn, thường vay để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, mua sắm khi đã có một khoản tích lũy từ trước (ngân hàng không cho vay 100% nhu cầu vốn). Vì vậy, các khoản Cho vay tiêu dùng thường có quy mô nhỏ so với tài sản của ngân hàng, nhưng số lượng khoản vay rất lớn do nhu cầu chi tiêu của các cá nhân và hộ gia đình là không giới hạn.
- Các khoản cho vay tiêu dùng có lãi suất thường cao và “cứng nhắc”
Lãi suất của các khoản Cho vay tiêu dùng hầu hết đều cao hơn so với những khoản vay khác trong ngân hàng. Nguyên nhân do quy mô của các khoản vay thường nhỏ dẫn đến chi phí cho vay cao (tốn nhiều thời gian, nhân lực thẩm định, chi phí quản lý các khoản vay và theo dõi tình hình sử dụng vốn vay của khách hàng). Đồng thời Cho vay tiêu dùng tiềm ẩn nhiều rủi ro và rất khó kiểm soát vì vậy khách hàng muốn vay theo hình thức Cho vay tiêu dùng phải chịu mức lãi suất khá cao. Mức lãi suất cao giúp cho ngân hàng hạn chế được rủi ro và ổn định thu nhập trong những trường hợp xảy ra sự cố ngoài ý muốn. Bên cạnh mức lãi suất cao, Cho vay tiêu dùng còn có lãi suất cố định, đặc biệt là các khoản vay tiêu dùng trả góp, không giống như các khoản vay kinh doanh hiện nay có lãi suất thay đổi theo điều kiện thị trường.
- Các khoản vay tiêu dùng thường có độ rủi ro cao Khóa luận: Hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng tại VietinBank.
Vì đối tượng của các hoạt động Cho vay tiêu dùng là các cá nhân, hộ gia đình nên bên cạnh các yếu tố khách quan từ bên ngoài như: thiên tai, mất mùa, thất nghiệp, tình trạng sức khỏe, chu kì kinh tế…, còn có các yếu tố chủ quan từ chính người tiêu dùng như: tâm lý tiêu dùng (người tiêu dùng muốn vay tiêu dùng nhưng không muốn trả). Trong những trường hợp như vậy, dù có nắm giữ tài sản đảm bảo ngân hàng vẫn phải đối mặt với rủi ro giảm thu nhập. Mặt khác do các khoản vay tiêu dùng thường có lãi suất cứng nhắc nên khi lãi suất huy động tăng lên, ngân hàng đối mặt với rủi ro lãi suất.
- Cho vay tiêu dùng có tính nhạy cảm theo chu kỳ của nền kinh tế
CVTD lấy thu nhập của khách hàng làm cơ sở để quyết định mức tín dụng, thời hạn cho vay, phương thức trả gốc và lãi… Trong khi đó, thu nhập của khách hàng lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: nghề nghiệp, công việc, thâm niên làm việc của khách hàng,… và đặc biệt là chu kì của nền kinh tế. Khi nền kinh tế phát triển, mọi người kì vọng trong tương lại, thu nhập của mình sẽ tăng cao và họ có xu hướng chi tiêu nhiều hơn. Đồng thời, các nhà sản xuất được khuyến khích sản xuất ra nhiều mặt hàng đa dạng về mẫu mã, chủng loại cũng như nâng cao được chất lượng sản phẩm, từ đó khuyến khích được nhu cầu tiêu dùng của dân cư. Nếu thu nhập của người dân không đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng, họ sẽ phát sinh nhu cầu xin vay của các ngân hàng vì tin tưởng vào dấu hiệu lạc quan của nền kinh tế, chắc chắn sẽ hoàn trả được khoản vay trong tương lai. Các ngân hàng cũng sẽ mở rộng quy mô cho vay nên Cho vay tiêu dùng sẽ phát triển khi nền kinh tế tăng trưởng.
- Nhu cầu đối với các khoản vay tiêu dùng của khách hàng ít co giãn với lãi suất
Khách hàng vay tiêu dùng thường quan tâm đến những tiện ích và giá trị mà vay tiêu dùng đem lại nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng hơn là chi phí phải trả để có khoản vay đó. Mặc khác, số lượng khoản vay nhỏ, số tiền gốc và lãi khách hàng thanh toán theo định kỳ, vì vậy số tiền trả định kì không quá lớn, không gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến thu nhập của khách hàng.
1.1.1.3 Đối tượng cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại
- Phân theo thu nhập
Nhóm người thu nhập thấp: Nhu cầu tín dụng của nhóm người này thường hạn chế do nguồn thu nhập không đủ để thỏa mãn nhu cầu đa dạng của họ. Tuy nhiên, họ cũng có nhu cầu chi tiêu không khác mấy so với nhóm có thu nhập cao hơn. Do đó nếu có phương pháp phù hợp thì cũng có thể hình thành các khoản vay hợp lý tới nhóm đối tượng này.
Nhóm người có thu nhập trung bình: Nhu cầu tín dụng của nhóm người này có xu hướng tăng trưởng ngày càng mạnh bởi khoản tích lũy của nhóm này tuy ít song thu nhập trong tương lai của họ ổn định và có thể chi trả cho những nhu cầu hiện tại.
Nhóm người có thu nhập cao: Nhóm người này thường cần tới những khoản vay với tư cách là các khoản phụ trợ linh hoạt, trợ giúp thêm các khoản thanh toán đặc biệt khi tiền của họ đã đầu tư vào các khoản đầu tư dài hạn. Mặc dù việc vay mượn nhằm mục đích tiêu dùng của họ chỉ thể hiện một tỷ trọng nhỏ nhưng lại là một món tiền lớn so với các nhóm khách hàng khác nên các ngân hàng rất quan tâm tới nhóm khách hàng này. Khóa luận: Hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng tại VietinBank.
- Phân theo tình trạng công tác hay lao động
Nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân còn phụ thuộc rất nhiều như: tính chất công việc, nghề nghiệp, thâm niên làm việc…. Xét theo khía cạnh này chúng ta có những nhóm khách hàng:
- Cán bộ công nhân viên chức
- Những người làm công việc kinh doanh riêng
- Những người hành nghề chuyên nghiệp (Bác sĩ, ca sĩ, tư vấn,…), Những người lao động tự do.
Trên thực tế, những khách hàng thuộc ba nhóm khách hàng đầu tiên có thu nhập cao và ổn định hơn so với nhóm khách hàng cuối nên nhu cầu vay tiêu dùng cũng chủ yêu phát sinh từ 3 nhóm trên.
1.1.2. Vai trò cho vay tiêu dùng
- Đối với Ngân hàng thương mại
Xu hướng hoạt động của các Ngân hàng thương mại ngày nay là đa dạng hóa các hoạt động nghiệp vụ, đưa ra thị trường các sản phẩm tín dụng mới để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Cho vay tiêu dùng đáp ứng đủ các yêu cầu phát triển đó của ngân hàng và cũng làm tăng sức cạnh tranh với các đối thủ tiềm năng khác.
Các ngân hàng hiện nay còn tăng lượng khách hàng vay tiêu dùng của mình thông quá các cửa hàng bán lẻ. Khách hàng có thể nhận được sự hỗ trợ tiêu dùng của ngân hàng thông qua một số đại lý bán lẻ như: mua trả góp với lãi suất hấp dẫn, mua ưu đãi… Hình thức này vừa kích thích nhu cầu mua sắm, vừa giúp ngân hàng mở rộng khách hàng của mình. Việc này có ý nghĩa rất lớn trong việc chia sẻ rủi ro cho ngân hàng và ngay cả bản thân người bán lẻ.
CVTD vừa giúp chia sẻ rủi ro, đa dạng hóa hoạt động ngân hàng, vừa thiết lập được mối quan hệ mật thiết giữa ngân hàng với khách hàng, làm cho khả năng thích ứng của ngân hàng với thị trường ngày càng cao. Điều này được thể hiện rõ trong nền kinh tế phát triển hiện nay với vô vàn đối thủ cạnh tranh, các Ngân hàng thương mại luôn phát triển và ngày càng phát triển.
Bên cạnh những vai trò nêu trên, ngoài hai nhược điểm là rủi ro và chi phí, Cho vay tiêu dùng còn có lợi ích như: giúp cho ngân hàng mở rộng mối quan hệ với khách hàng, từ đó tăng khả năng huy động các loại tiền gửi cho ngân hàng hay tạo điều kiện cho ngân hàng đa dạng hóa hoạt động kinh doanh nhờ vậy nâng cao thu nhập và phân tán rủi ro cho ngân hàng.
Như vậy, vai trò của Cho vay tiêu dùng đối với các Ngân hàng thương mại là không thể phủ nhận, ngày càng phát huy được vai trò trung gian tài chính trong nền kinh tế của ngân hàng mà còn mang lại cho người tiêu dùng cách tiếp cận với cuộc sống mới đầy tiện nghi hơn. Khóa luận: Hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng tại VietinBank.
- Đối với bản thân người tiêu dùng
Người tiêu dùng có thể hưởng lợi ích trực tiếp của dịch vụ ngân hàng, được hưởng các tiện ích trước khi tích lũy đủ tiền và đặc biệt quan trọng hơn là điều đó rất cần thiết cho những trường hợp chi tiêu bức thiết (thường là y tế và giáo dục). Hiện nay, Cho vay tiêu dùng không chỉ đáp ứng nhu cầu bức thiết mà nó còn là một cách thức hỗ trợ để người tiêu dùng có thể nâng cao mức sống. Đối với thế hệ trẻ và người thu nhập thấp, Cho vay tiêu dùng giúp họ có được cuộc sống ổn định ngay từ khi còn trẻ, giúp họ có thể mua một căn nhà khang trang, phương tiện đi lại, những đồ dùng phục vụ cho nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống như: Tivi, tủ lạnh, điều hòa, máy giặt…, tạo cho họ động lực để làm việc, tiết kiệm, nuôi dưỡng con cái. Hay đối với những hộ dân có mức sống cao hơn, Cho vay tiêu dùng giúp họ có một căn hộ đẹp, đầy đủ tiện nghi, nội thất sang trọng, trang thiết bị hiện đại, bắt mắt…Tuy nhiên, nếu lạm dụng Cho vay tiêu dùng rất tai hại vì có thể làm cho người đi vay chi tiêu vượt quá mức cho phép, làm giảm khả năng tiết kiệm hoặc khó khăn chi tiêu trong tương lai.
- Đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
Một trong những khó khăn cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh là người tiêu dùng muốn sử dụng hàng hóa nhưng họ chưa đủ khả năng thanh toán. Để giúp khách hàng có thể đáp ứng nhu cầu, doanh nghiệp bán được hàng, rất cần đến hình thức hỗ trợ mua sắm từ ngân hàng – Cho vay tiêu dùng. Từ đó, doanh nghiệp có thể thu được tiền ngay để quay vòng vốn, không phải bán chịu và ngày càng có nhiều khách hàng tiêu dùng sản phẩm dịch vụ. Nhiệm vụ của doanh nghiệp là ngày càng đổi mới sản phẩm, mẫu mã sao cho phù hợp với nhu cầu của khách hàng mà không cần phải lo lắng đến đầu ra cho sản phẩm như trước kia.
- Đối với nền kinh tế
Đối với nền kinh tế, Cho vay tiêu dùng giúp kích thích người dân mua sắm hàng hóa, dịch vụ, kích thích sản xuất phát triển. Nhất là khi nền kinh tế cần có sự kích cầu, tăng tiêu dùng, bình ổn giá cả, ổn định kinh tế xã hội. Sự tăng trưởng của dịch vụ Cho vay tiêu dùng đồng nghĩa với tăng trưởng sức mua sắm của người dân, tăng trưởng của khu vực sản xuất, nền kinh tế quốc gia được cải thiện rõ rệt, tạo điều kiện thu hút đầu tư nước ngoài vào khu vực sản xuất hàng tiêu dùng, thu ngoại tệ về. Cũng qua đó mà nhà nước đạt được mục tiêu ổn định xã hội, giảm thất nghiệp, cải thiện đời sống cho người dân, giảm tệ nạn xã hội…
1.1.3. Phân loại cho vay tiêu dùng Khóa luận: Hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng tại VietinBank.
Thông qua cách phân loại này, chúng ta có thể có được cái nhìn khá toàn diện về hoạt động Cho vay tiêu dùng từ nhiều khía cạnh khác nhau:
1.1.3.1 Căn cứ vào mục đích vay
- Cho vay tiêu dùng cư trú (Residential Mortage Loan)
Cho vay tiêu dùng cư trú là các khoản vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm, xây dựng hoặc cải tạo nhà cho khách hàng là các cá nhân, hộ gia đình. Các khoản vay này thường sau khi khách hàng đã vay tiền để mua hoặc sửa chữa nhà cửa sẽ làm tăng nhu cầu vay vốn dài hạn, thông thường trên dưới 15 năm. Do vậy tài sản thế chấp chính là bất động sản đó. Hầu như các khoản vay tiêu dùng đều áp dụng lãi suất được điều chỉnh định kỳ theo một lãi suất cơ sở.
- Cho vay tiêu dùng phi cư trú (Nonresidial Mortage Loan)
Cho vay tiêu dùng phi cư trú là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho việc trang trải các chi phí mua sắm xe cộ, đồ dùng gia đình, chi phí cho học hành, giải trí, du lịch…Trong đó, bao gồm:
Cho vay mua ô tô: Những khoản cho vay mua ô tô đơn giản là những khoản vay mà người tiêu dùng dùng để mua phương tiện phục vụ cho sinh hoạt hằng ngày hay do những hãng kinh doanh ô tô thực hiện. Thông thường, các Ngân hàng thương mại cố gắng hỗ trợ những hãng kinh doanh ô tô trong việc vay tiền hơn so với việc vay tiền của cá nhân để mua xe vì mục đích sử dụng. Tình trạng sai phạm và tổn thất đối với khoản vay do hãng kinh doanh vay sẽ cao hơn gấp hai lần so với khoản vay của cá nhân. Việc duy trì mối quan hệ giữa ngân hàng và các hãng kinh doanh ô tô thì các Ngân hàng thương mại thường áp dụng hình thức hỗ trợ giá sàn cho nhà kinh doanh với lãi suất ưu đãi hơn. Ngoài ra còn có thể hỗ trợ về mặt tài chính cho những chương trình bán hàng trả góp của nhà kinh doanh đó. Khóa luận: Hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng tại VietinBank.
Cho vay đi du học và đi học: Học sinh, sinh viên là đối tượng của dịch vụ Cho vay tiêu dùng này nhằm mục đích đi học trong nước hoặc nước ngoài. Những khoản vay này ngân hàng thường cho vay với mức nhất định, không quá lớn với lãi suất ưu đãi. Ở các nước phát triển, những khoản vay đi du học hoặc đi học được học sinh, sinh viên thực hiện rất nhiều và các ngân hàng cũng tạo điều kiện tối đa cho những đối tượng khách hàng này.
Cho vay tiêu dùng khác: Ngoài những khoản cho vay nói trên thì các Ngân hàng thương mại còn Cho vay tiêu dùng với các mục đích khác nhau như: cho vay để mua các trang thiết bị, nội thất, đồ gia dụng, cho vay theo thẻ tín dụng,…
1.1.3.2 Dựa vào cách thức hoàn trả
- Cho vay tiêu dùng trả góp (Installment Consumer Loan)
Đây là hình thức Cho vay tiêu dùng trong đó người đi vay trả nợ (bao gồm cả số tiền gốc và lãi) cho ngân hàng nhiều lần, theo những kỳ hạn nhất định trong thời hạn cho vay. Phương thức này thường được áp dụng cho các khoản vay có giá trị lớn hoặc thu nhập hàng kỳ của người đi vay không đủ khả năng thanh toán hết một lần số nợ vay. Thông thường ngân hàng sẽ cho vay một khoản nhất định (giả sử 60 – 70%) giá trị tài sản mà khách hàng cần mua sắm và người vay phải có trách nhiệm một phần trong số tài sản đó. Điều đó sẽ làm tăng ý thức trả nợ của người vay. Đối với loại hình này, có một số điểm cần chú ý như sau:
Loại tài sản được tài trợ: Ngân hàng thường tài trợ cho những tài sản có giá trị lớn, thời hạn sử dụng lâu bền vì đối với những loại tài sản như vậy người tiêu dùng sẽ được hưởng những tiện ích từ chúng trong một thời gian dài và thiện chí trả nợ của khách hàng sẽ tốt hơn.
Số tiền phải trả trước: Thông thường, ngân hàng yêu cầu khách hàng phải thanh toán trước một phần giá trị tài sản cần mua sắm, ngân hàng sẽ cho vay phần tiền còn lại. Số tiền trả trước cần phải đủ lớn để một mặt làm cho người đi vay nghĩ rằng họ chính là chủ sở hữu của tài sản, có trách nhiệm hơn trong việc trả nợ, mặt khác có tác dụng hạn chế rủi ro cho ngân hàng. Số tiền trả trước nhiều hay ít phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau: loại tài sản, môi trường kinh tế, năng lực tài chính của khách hàng hoặc chính sách cho vay của từng Ngân hàng thương mại.
Chi phí tài trợ: Là khoản chi phí mà người đi vay phải trả cho ngân hàng bao gồm lãi vay và các chi phí khác có liên quan. Chi phí tài trợ phải trang trải được cho chi phí vốn tài trợ, chi phí hoạt động, rủi ro, đồng thời mang lại một phần lợi nhuận thỏa đáng cho ngân hàng. Khóa luận: Hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng tại VietinBank.
Điều khoản thanh toán: Khi xác định các điều khoản liên quan đến việc thanh toán nợ của khách hàng, ngân hàng thường chú ý tới: số tiền thanh toán mỗi kì phải phù hợp với khả năng về thu nhập, giá trị của tài sản tài trợ không được thấp hơn số tiền tài trợ chưa thu hồi, kì hạn trả nợ phải thuận lợi cho việc trả nợ của khách hàng (thường theo tháng), thời gian tài trợ không nên quá dài.
Số tiền khách hàng phải thanh toán cho ngân hàng theo định kì: có thể tính bằng một số các phương pháp như phương pháp gộp (Add – on Method), phương pháp lãi đơn, phương pháp hiện giá.
Cho vay tiêu dùng phi trả góp (Non – installment Consumer Loan): Theo phương thức này, tiền vay được khách hàng thanh toán cho ngân hàng chỉ một lần khi đến hạn. Thường các khoản Cho vay tiêu dùng phi trả góp chỉ được cấp cho các khoản vay có giá trị nhỏ với thời hạn vay không dài, hoặc cho vay cầm cố các giấy tờ có giá để sử dụng cho mục đích tiêu dùng.
Cho vay tiêu dùng tuần hoàn (Revolving Consumer Credit): Là các khoản Cho vay tiêu dùng trong đó ngân hàng cho phép khách hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc ngân hàng phát hành séc được phép thấu chi dựa trên tài khoản vãng lai. Theo phương thức này, trong thời hạn tín dụng được thỏa thuận trước, căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập của khách hàng có được từng kì, khách hàng được ngân hàng cho phép thực hiện vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo một hạn mức tín dụng. Các khoản vay này chiếm tỷ lệ lớn nhất trong sự tăng trưởng của hoạt động Cho vay tiêu dùng.
Lãi khách hàng phải trả mỗi kì có thể tính bằng một trong ba cách: Lãi được tính dựa trên số dư nợ đã được điều chỉnh; Lãi được tính dựa trên số dư nợ trước khi được điều chỉnh; Lãi được tính dựa trên cơ sở dư nợ bình quân.
Cho vay theo thẻ tín dụng: Là phương thức ngân hàng cung cấp thẻ tín dụng cho khách hàng, khách hàng được vay tiền qua việc mua hàng bằng thẻ tín dụng với hạn mức tối đa được ngân hàng cho phép. Số tiền này sẽ được trả một lần hoặc trả dần với mức lãi suất tương đối cao.
- Dựa vào phương thức cho vay
Cho vay tiêu dùng gián tiếp (Indirect Consumer Loan): Là hình thức cho vay trong đó ngân hàng mua các khoản nợ phát sinh do những công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng. Các hình thức mua nợ áp dụng trong trường hợp này có thể truy đòi toàn bộ, truy đòi hạn chế, tài trợ miễn truy đòi hoặc có thể là tài trợ mua lại.
Sơ đồ 1.1. Quy trình cho vay tiêu dùng gián tiếp
- Ngân hàng và các công ty bán lẻ ký hợp đồng mua bán nợ. Trong hợp đồng, ngân hàng thường đưa ra các điều kiện về đối tượng khách hàng được bán chịu, số tiền bán chịu tối đa và loại tài sản bán chịu,…
- Công ty bán lẻ và người tiêu dùng ký kết hợp đồng bán chịu hàng hóa. Thông thường, người tiêu dùng phải trả trước một phần giá trị tài sản. Khóa luận: Hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng tại VietinBank.
- Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng.
- Công ty bán lẻ bán bộ chứng từ bán chịu hàng hóa cho ngân hàng.
- Ngân hàng thanh toán tiền cho công ty bán lẻ.
- Người tiêu dùng thanh toán tiền trả góp cho ngân hàng.
Cho vay tiêu dùng gián tiếp có một số ưu điểm sau:
- Cho phép ngân hàng dễ dàng tăng doanh số Cho vay tiêu dùng, Cho phép ngân hàng tiết kiệm được chi phí trong cho vay,
- Mở ra khả năng quan hệ rộng với khách hàng để phát triển các hoạt động khác của ngân hàng,
- Trong trường hợp có quan hệ với những công ty bán lẻ tốt, Cho vay tiêu dùng gián tiếp an toàn hơn Cho vay tiêu dùng trực tiếp.
Bên cạnh một số ưu điểm nêu trên, Cho vay tiêu dùng gián tiếp còn có một số nhược điểm như:
- Ngân hàng không trực tiếp tiếp xúc với người tiêu dùng đã được bán chịu mà phải thông qua các công ty bán lẻ nên không hiểu rõ hết được về khách hàng cũng như khó kiểm soát được họ,
- Các công ty bán lẻ không giống cán bộ tín dụng nên không hiểu biết sâu về chuyên môn thẩm định. Vì vậy, độ rủi ro ở đây rất lớn,
- Kỹ thuật nghiệp vụ Cho vay tiêu dùng gián tiếp có tính phức tạp cao,
- Do những nhược điểm trên nên thực tế nhiều ngân hàng không “mặn mà” với Cho vay tiêu dùng gián tiếp. Những ngân hàng tham gia vào hoạt động này đều có các cơ chế kiểm soát tín dụng chặt chẽ.
Cho vay tiêu dùng gián tiếp thường được thực hiện thông qua các phương thức:
Tài trợ truy đòi toàn bộ: Theo phương thức này, khi bán cho ngân hàng các khoản nợ của người tiêu dùng, công ty bán lẻ cam kết sẽ thanh toán cho ngân hàng toàn bộ các khoản nợ nếu khi đến hạn người tiêu dùng không thanh toán được.
Tài trợ truy đòi hạn chế: Theo phương thức này, trách nhiệm của công ty bán lẻ đối với các khoản nợ mà người tiêu dùng mua chịu không thanh toán chỉ giới hạn trong một chừng mực nhất định, phụ thuộc vào các điều khoản đã được thỏa thuận giữa ngân hàng với công ty bán lẻ. Khóa luận: Hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng tại VietinBank.
Tài trợ miễn truy đòi: Theo phương thức này, sau khi bán các khoản nợ cho ngân hàng, công ty bán lẻ không còn chịu trách nhiệm cho việc khách hàng có hoàn trả nợ cho ngân hàng hay không. Phương thức này chứa đựng rủi ro cao cho ngân hàng nên chi phí tài trợ thường được ngân hàng tính cao hơn nhiều so với các phương thức khác và các khoản nợ được mua cũng được ngân hàng cân nhắc kĩ càng. Ngoài ra, chỉ có những công ty bán lẻ rất được ngân hàng tin cậy mới được áp dụng phương thức này.
Tài trợ có mua lại: Khi thực hiện Cho vay tiêu dùng gián tiếp theo phương thức miễn truy đòi hoặc truy đòi một phần, nếu rủi ro xảy ra, người tiêu dùng không trả nợ thì ngân hàng thường thanh lý tài sản để thu hồi nợ. Trong trường hợp này, nếu có thỏa thuận trước thì ngân hàng có thể bán trả lại nợ cho công ty bán lẻ phần nợ mà ngân hàng chưa được thanh toán, kèm theo tài sản đã được thụ đắc trong một thời gian nhất định.
Cho vay tiêu dùng trực tiếp (Direct Consumer Loan): Cho vay tiêu dùng trực tiếp là các khoản Cho vay tiêu dùng trong đó ngân hàng trực tiếp tiếp xúc và cho khách hàng vay cũng như trực tiếp thu nợ từ khách hàng.
Sơ đồ 1.2. Quy trình cho vay tiêu dùng trực tiếp
Quy trình cho vay tiêu dùng trực tiếp
- Ngân hàng và người tiêu dùng kí kết hợp đồng.
- Người tiêu dùng trả trước một phần số tiền mua tài sản cho công ty bán lẻ.
- Ngân hàng thanh toán số tiền mua tài sản còn thiếu cho công ty bán lẻ.
- Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng.
- Người tiêu dùng thanh toán tiền vay cho ngân hàng.
Cho vay tiêu dùng trực tiếp có một số những ưu điểm sau:
- Linh hoạt hơn Cho vay tiêu dùng gián tiếp, tiết kiệm được thời gian cho khách hàng,
- Dễ dàng điều chỉnh các điều khoản sao cho phù hợp với khách hàng và ngân hàng,
- Giúp người tiêu dùng tiếp cận được các dịch vụ của ngân hàng nhanh chóng,
- Ngân hàng được tiếp xúc trực tiếp với khách hàng, tận dụng được sở trường của nhân viên tín dụng nên các khoản cho vay thường có chất lượng cao hơn, giảm thiểu rủi ro hơn cho ngân hàng.
Tuy nhiên, cho vay tiêu dùng trực tiếp cũng có mặt hạn chế đó là món vay thường nhỏ lẻ nên làm tăng chi phí và ngân hàng cũng khó khăn hơn trong việc quản lý các món vay và mở rộng quan hệ tín dụng với khách hàng.
- Dựa vào thời hạn cho vay
Cho vay tiêu dùng ngắn hạn: là những khoản vay tiêu dùng có thời hạn không quá 12 tháng, phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt cá nhân.
Cho vay tiêu dùng trung hạn: là những khoản vay tiêu dùng có thời hạn từ 12 tháng đến 60 tháng (từ 1 năm đến 5 năm), phục vụ cho nhu cầu mua sắm vật dụng gia đình, sửa chữa nhà, y tế,…
Cho vay tiêu dùng dài hạn: là những khoản vay tiêu dùng có thời hạn trên 60 tháng (trên 5 năm), phục vụ cho nhu cầu mua sắm, xây dựng nhà, chi tiêu giáo dục,…
1.2. Hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại Khóa luận: Hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng tại VietinBank.
1.2.1. Khái niệm hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng
Hiệu quả của một khoản vay có thể được hiểu là hiệu quả kinh tế mà khoản vốn vay đó mang lại cho cả người đi vay và người cho vay. Một khoản vay được coi là có chất lượng tốt nếu nó mang lại hiệu quả kinh tế cao cho cả ngân hàng và khách hàng, tức là vốn vay được người vay đưa vào quá trình đầu tư tạo ra một số tiền lớn hơn vừa để hoàn trả nợ gốc và lãi vay, vừa trang trải các chi phí khác mà vẫn bảo đảm có lợi nhuận, qua đó đóng góp vào sự tăng trưởng chung của nền kinh tế. Xét một cách tổng thể khoản vay đó vừa tạo ra hiệu quả kinh tế, vừa tạo ra hiệu quả xã hội. Để hiểu rõ hơn hiệu quả Cho vay tiêu dùng ta xem xét sự thể hiện dựa trên các khía cạnh sau:
Đối với ngân hàng: hiệu quả Cho vay tiêu dùng thể hiện ở phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với thực lực của bản thân ngân hàng, việc thu nợ đúng hạn, giảm thiểu tối đa rủi ro tín dụng.
Đối với khách hàng: thể hiện ở khoản tín dụng mà ngân hàng cấp cho khách hàng phải có mức lãi suất và kỳ hạn hợp lý, thủ tục đơn giản, thuận tiện, nhanh chóng, an toàn, thu hút được nhiều khách hàng mới, làm tăng thêm khả năng mở rộng hoạt động tín dụng nhưng vẫn đảm bảo các điều kiện cho vay, sử dụng vốn vay đúng mục đích.
Đối với xã hội: hoạt động cho vay gắn liến với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội.
1.2.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng Khóa luận: Hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng tại VietinBank.
- Đối với ngân hàng thương mại
Nâng cao hiệu quả Cho vay tiêu dùng giúp ngân hàng khảo sát được rủi ro từ việc phân tích các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay. Qua đó đánh giá được mức độ rủi ro và khả năng sinh lời của các khoản Cho vay tiêu dùng. Đồng thời rút ra được các vấn đề cần tập trung giải quyết giúp các Ngân hàng thương mại tránh được những rủi ro do hoạt động Cho vay tiêu dùng đem lại.
Nâng cao hiệu quả Cho vay tiêu dùng làm tăng doanh thu và lợi nhuận cho ngân hàng đồng thời giúp các Ngân hàng thương mại thu thập được nhiều thông tin về khách hàng, đánh giá, phân loại được từng đối tượng khách hàng để có các chính sách khác nhau cho từng loại khách hàng, giúp ngân hàng hạn chế được rủi ro và chính điều đó cũng làm tăng lợi nhuận cho ngân hàng.
- Đối với khách hàng
Nâng cao hiệu quả Cho vay tiêu dùng giúp thủ tục đi vay trở nên đơn giản, thuận tiện, nhanh chóng, an toàn hơn, giúp khách hàng tiết kiệm thời gian hơn. Không những vậy, nâng cao hiệu quả Cho vay tiêu dùng giúp các ngân hàng hạn chế được rủi ro, từ đó nguồn vốn của ngân hàng được đảm bảo, giúp cho khách hàng gặp ít khó khăn hơn trong việc đi vay.
- Đối với nền kinh tế
Nâng cao hiệu quả hoạt động Cho vay tiêu dùng tạo điều kiện giúp các cá nhân, hộ gia đình đáp ứng kịp thời những nhu cầu cần thiết, đồng thời giúp cho hoạt động cho vay của các Ngân hàng thương mại hiệu quả hơn, đem lại lợi nhuận cao với mức độ rủi ro thấp. Từ đó thúc đẩy được nền kinh tế phát triển. Mặt khác việc nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay buộc ngân hàng phải có một cơ cấu vốn, một chính sách tín dụng hợp lý từ đó giải quyết được mối quan hệ cung cầu về vốn trong nền kinh tế. Đồng thời cũng tạo điều kiện để mở rộng các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt, giảm thiểu được lượng tiền mặt lưu thông, tiết kiệm chi phí lưu thông cho xã hội.
Nâng cao hiệu quả Cho vay tiêu dùng tạo đà thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng uy tín cho ngân hàng đồng thời góp phần kiềm chế và đẩy lùi lạm phát, thực hiện ổn định tiền tệ.
Như vậy có thể nói việc nâng cao hiệu quả hoạt động Cho vay tiêu dùng của các Ngân hàng thương mại có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại cũng như việc đáp ứng nhu cầu cấp thiết của các cá nhân và hộ gia đình. Nâng cao hiệu quả cho vay giúp ngân hàng tránh được những rủi ro, nâng cao mức thu nhập đồng thời đáp ứng nhanh chóng được những nhu cầu trong cuộc sống của các cá nhân và hộ gia đình, giúp các doanh nghiệp kinh doanh phát triển, từ đó thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế và cả xã hội.
1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay tiêu dùng Khóa luận: Hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng tại VietinBank.
Đánh giá hoạt động Cho vay tiêu dùng là xem xét phẩm chất, giá trị của việc Cho vay tiêu dùng mang lại, là khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi khi đáo hạn, số lãi thu về đảm bảo cho chi phí vốn mà ngân hàng phải trả. Ngân hàng muốn hoàn thiện hoạt động Cho vay tiêu dùng cũng như nâng cao hiệu quả CVVTD thì cần phải đánh giá hoạt động Cho vay tiêu dùng của mình, qua đó nhìn nhận những kết quả và hạn chế, tìm ra nguyên nhân để khắc phục.
Một số chỉ tiêu để đánh giá hoạt động Cho vay tiêu dùng như sau:
- Chỉ tiêu định tính
Để xem xét hoạt động Cho vay tiêu dùng của một ngân hàng, ta có thể căn cứ vào một số chỉ tiêu định tính như sau:
Thủ tục tuân theo đúng quy định, quy chế Cho vay tiêu dùng của ngân hàng được cán bộ tín dụng làm nhanh chóng chính xác, an toàn; cơ chế chính sách thông thoáng và đảm bảo cũng góp phần làm tăng chất lượng hoạt động Cho vay tiêu dùng của ngân hàng.
Công tác quảng cáo, tiếp thị của ngân hàng và thái độ phục vụ của nhân viên ngân hàng cũng có ảnh hưởng khá lớn đến việc thu hút khách hàng đến với ngân hàng.
Uy tín của ngân hàng là một chỉ tiêu quan trọng, nó ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và hoạt động Cho vay tiêu dùng nói riêng.
Tình hình kinh tế – xã hội ở địa phương tác động trực tiếp đến nhu cầu, quan niệm và thói quen sử dụng vốn vay ngân hàng của người dân để đầu tư và tiêu dùng. Khóa luận: Hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng tại VietinBank.
- Chỉ tiêu định lượng
Dưới đây là một hệ thống các tiêu chí định lượng có thể đánh giá được một cách cụ thể và khách quan hoạt động Cho vay tiêu dùng:
- Chỉ tiêu 1: Số lượng khách hàng vay tiêu dùng
Số lượng khách hàng vay tiêu dùng phản ánh mức độ mở rộng và phát triển Cho vay tiêu dùng của ngân hàng. Số lượng khách hàng càng tăng, ngân hàng càng mở rộng được thị phần và hoạt động cho vay tiêu dùng ngày càng phát triển.
- Chỉ tiêu 2: Doanh số cho vay tiêu dùng
Doanh số cho vay là chỉ tiêu phản ánh tất cả các khoản cho vay mà ngân hàng đã giải ngân trong một khoảng thời gian nào đó, không kể món vay đó đã thu hồi hay chưa thu hồi. Doanh số cho vay thường được xác định theo tháng, quý, năm; phản ánh quy mô của hoạt động cho vay.
Tốc độ tăng doanh số cho vay là phần trăm doanh số cho vay kỳ này tăng/ giảm so với kỳ trước, phản ánh khả năng mở rộng cho vay của Ngân hàng thương mại. Công thức tính tốc độ tăng doanh số cho vay là:
Tốc độ tăng doanh số Cho vay tiêu dùng càng lớn chứng tỏ kỳ này khách hàng (cá nhân, hộ gia đình) đã được ngân hàng cho vay nhiều hơn, cho thấy ngân hàng thực sự quan tâm tới việc Cho vay tiêu dùng.
- Chỉ tiêu 3: Dư nợ cho vay tiêu dùng Khóa luận: Hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng tại VietinBank.
Dư nợ Cho vay tiêu dùng là chỉ tiêu phản ánh khối lượng tiền mà ngân hàng cấp cho nền kinh tế tại một thời điểm nhất định.
Công thức tính tốc độ tăng dư nợ Cho vay tiêu dùng cũng tương tự công thức tính tốc độ tăng doanh số cho vay ở trên:
- Chỉ tiêu 4: Hệ số thu nợ cho vay tiêu dùng
Doanh số thu nợ là tổng số tiền mà ngân hàng đã thu về từ các khoản cho vay của mình kể cả của kỳ hiện tại và kỳ trước đó.
Chỉ tiêu này cho thấy khả năng thu nợ của ngân hàng trong kỳ đối với các khoản nợ phát sinh kỳ này cũng như các khoản nợ từ kỳ trước. Từ đó, cũng có thể cho thấy khả năng thu nợ của ngân hàng trong các kỳ tiếp theo.
- Chỉ tiêu 5: Nợ cho vay tiêu dùng quá hạn
Theo quyết định 493/2018/QĐ – Ngân hàng Nhà nước ngày 22/04/2018 và thông tư 18/2020/TT – Ngân hàng Nhà nước ngày 25/04/2020 của thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng. Nợ của các ngân hàng thương mại được chia thành 5 nhóm sau:
- Nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn (nợ thông thường), bao gồm: Các khoản nợ trong hạn mà tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn.
- Nhóm 2: Nợ cần chú ý, bao gồm: Các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày và các khoản nợ cơ cấu lại nợ lần đầu.
- Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn, bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày và các khoản nợ cơ cấu lại nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại.
- Nhóm 4: Nợ nghi ngờ, bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày và các khoản nợ cơ cấu lại nợ lần thứ hai.
- Nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn, bao gồm: Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày, các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý và các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần một quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn đã được cơ cấu lại.
Trong đó, nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5 là nợ quá hạn, nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5 là nợ xấu.
Chỉ tiêu nợ quá hạn Cho vay tiêu dùng được thể hiện qua tỷ lệ nợ quá hạn Cho vay tiêu dùng như sau:
Tỷ lệ nợ quá hạn phản ánh số dư nợ gốc và lãi đã quá hạn mà chưa thu hồi được. Tỷ lệ này cho biết tại thời điểm xác định cứ 100 đồng dư nợ hiện hành thì có bao nhiêu đồng đã quá hạn. Đây là một chỉ tiêu cơ bản cho biết chất lượng hoạt động cho vay của ngân hàng. Tỷ lệ nợ quá hạn cao chứng tỏ chất lượng cho vay thấp, ngược lại tỷ lệ nợ quá hạn thấp chứng tỏ chất lượng cho vay cao. Khóa luận: Hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng tại VietinBank.
Vì tỷ lệ nợ quá hạn ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng hoạt động cho vay của ngân hàng nên các ngân hàng thường rất chú ý tới chỉ tiêu này và duy trì nó ở mức thấp nhất có thể. Theo quyết định số 493/2018/QĐ- Ngân hàng Nhà nước, ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn trên 7% bị coi là yếu kém, tỷ lệ quá hạn dưới 5% thì ngân hàng được đánh giá là ngân hàng có nghiệp vụ tín dụng tốt, chất lượng cho vay được đảm bảo.
Chỉ tiêu 6: Nợ xấu trong cho vay tiêu dùng
Quyết định số 493/2018/QĐ- Ngân hàng Nhà nước cũng quy định nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5 là nợ xấu. Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ ở vào khoảng từ 2% đến 5% là một tỷ lệ chấp nhận được. Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày gọi là “nợ có vấn đề”. Nợ quá hạn trên 360 ngày được gọi là “nợ khó đòi”.
Chỉ tiêu 7: Vòng quay vốn tín dụng cho vay tiêu dùng
Đây là chỉ tiêu phản ánh tần suất sử dụng vốn, đánh giá khả năng quản lý vốn tín dụng và chất lượng tín dụng trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Qua chỉ tiêu này ta có thể thấy được một đồng vốn của ngân hàng trong một năm được sử dụng cho bao nhiêu lần cho vay. Do vậy, vòng quay vốn tín dụng của ngân hàng càng cao chứng tỏ nguồn vốn của ngân hàng có tốc độ luân chuyển nhanh, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất và lưu thông hàng hóa. Qua đó, ta thấy được khả năng quản lý vốn tín dụng của ngân hàng. Từ đó, ta đánh giá được hiệu quả cũng như chất lượng của hoạt động Cho vay tiêu dùng. Tuy nhiên, cần xem xét đến một yếu tố quan trọng là dư nợ bình quân, khi dư nợ bình quân thấp sẽ làm cho vòng quay lớn nhưng lại không phản ánh chất lượng tín dụng cao mà thể hiện khả năng cho vay kém của ngân hàng.
Chỉ tiêu 8: Thu nhập từ hoạt động cho vay tiêu dùng
Đây là chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời của hoạt động Cho vay tiêu dùng. Điều này cũng đánh giá được mức hấp dẫn của Cho vay tiêu dùng so với các loại cho vay khác. Ngoài ra, tỷ lệ này còn giúp cho ngân hàng xây dựng định hướng phát triển hoạt động Cho vay tiêu dùng tại ngân hàng.
1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả cho vay tiêu dùng Khóa luận: Hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng tại VietinBank.
- Các nhân tố vi mô
Những nhân tố vi mô ảnh hưởng đến hoạt động Cho vay tiêu dùng nằm trong phạm vi ngân hàng bao gồm: các nhân tố khách quan từ phía khách hàng và nhân tố chủ quan từ bản thân ngân hàng.
- Những nhân tố khách quan từ phía khách hàng:
Đạo đức của khách hàng: Đạo đức của khách hàng được đánh giá dựa trên năng lực pháp lý và độ tín nhiệm vì giả sử khách hàng có thu nhập cao, ổn định để trả nợ, thậm chí đưa ra được điều kiện đảm bảo tốt thì chưa chắc họ đã có thiện trí khi trả nợ. Khi đi vay, có thể người vay vẫn có ý định trả nợ đầy đủ, nhưng trong khi sử dụng tiền vay nảy sinh lòng tham hoặc muốn làm giàu nhanh chóng nên đã sử dụng vốn vay sai mục đích. Vì vậy, trước khi cho vay, các cán bộ tín dụng cần phải thẩm định hồ sơ một cách kĩ lưỡng.
Năng lực pháp lý: Là những quy định cụ thể về mặt pháp lý mà người vay cần phải có, đây là cơ sở hình thành nghiệp vụ trả nợ của khách hàng trong quan hệ tín dụng, thông qua thẩm định về năng lực pháp lý. Qua đó, ngân hàng cũng có thể biết được hiện tại khách hàng có liên quan đến vụ án nào hay không, tài sản đảm bảo (TSĐB) có liên quan đến các vụ kiện hoặc tranh chấp, hay có quan hệ với các tổ chức tín dụng khác không.
Khả năng tài chính: Khả năng tài chính của khách hàng cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của ngân hàng, nếu khách hàng có thu nhập cao và ổn định thì việc trả nợ ngân hàng thường ít ảnh hưởng đến các chi tiêu khác trong gia đình, đặc biệt là các nhu cầu thiết yếu và họ sẵn sàng thanh toán tiền cho ngân hàng để tránh những rắc rối về mặt pháp lý có thể gây ảnh hưởng đến nghề nghiệp công việc của họ. Ngược lại, với những cá nhân hoặc hộ gia đình có thu nhập không ổn định hoặc thu nhập ở mức trung bình thì việc thu hồi nợ của ngân hàng sẽ gặp rất nhiều khó khăn do họ không biết trước thời điểm sẽ nhận được thu nhập là khi nào và bao giờ mới tích lũy đủ để trả nợ ngân hàng. Ngày nay, phần lớn các món vay tiêu dùng quy định nguồn trả là thu nhập thường xuyên của khách hàng trong tương lai, ngoại trừ các khoản cho vay ngắn hạn. Khóa luận: Hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng tại VietinBank.
Tài sản đảm bảo: Là cơ sở pháp lý có thêm nguồn thu nợ thứ hai cho ngân hàng ngoài nguồn thu nợ thứ nhất, mang tính dự phòng rủi ro. Mặc dù nắm giữ Tài sản đảm bảo song nếu khách hàng không trả nợ thì ngân hàng phải đối mặt với rủi ro thu nhập vì muốn phát mại tài sản có thời gian và phải mất chi phí khác liên quan, đó là chưa kể đến có thể tại thời điểm đó giá trị tài sản trên thị trường không được duy trì như khi định giá để cho vay. Vì vậy, Tài sản đảm bảo không giữ vai trò quyết định trong việc khách hàng vay hay không mà nó chỉ là một tiêu chuẩn để xét duyệt khi cho vay.
Đối thủ cạnh tranh của ngân hàng: Do cạnh tranh trong lĩnh vực Cho vay tiêu dùng của các ngân hàng thương mại trong nước và nước ngoài là rất lớn nên trong thời gian gần đây cùng với việc nới lỏng các cơ chế tín dụng, các Ngân hàng thương mại trong nước đã bắt đầu tiến hành mở rộng hoạt động Cho vay tiêu dùng. Việc mở rộng Cho vay tiêu dùng là một điều tất yếu giúp cho các ngân hàng đa dạng hóa sản phẩm để đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng về số lượng và chất lượng trong một môi trường đầy biến động và cạnh tranh. Ngoài ra tìm hiểu thêm về đối thủ cạnh tranh để có các chiến lược kinh doanh hợp lý cũng là việc ngân hàng phải làm để có thể đứng vững và phát triển.
- Những nhân tố chủ quan từ phía ngân hàng:
Lãi suất cho vay: Đây là yếu tố làm thu hút khách hàng, làm tăng doanh số cho vay, làm cho ngân hàng có vốn luân chuyển thường xuyên, có vốn để kinh doanh. Vì nếu lãi suất của ngân hàng nào cao thì khả năng thu hút khách hàng đến vay vốn sẽ thấp hơn những ngân hàng có mức lãi suất thấp. Lãi suất cũng thay đổi so với mức rủi ro tín dụng trên hàng loạt các yêu tố như: số tiền cho vay, thời hạn, chi phí giám sát thực hiện, chi phí giám sát khoản vay và số dư tiền gửi của người vay. Vì vậy, lãi suất là yếu tố tác động rất lớn đối với mỗi khoản vay nói chung và Cho vay tiêu dùng nói riêng. Nếu ngân hàng áp dụng mức lãi suất quá cáo thì sẽ làm cho nhu cầu vay của cá nhân hoặc hộ gia đình giảm đi, họ sẽ không dám vay một khoản tiền quá lớn cũng như kéo dài thời gian vay quá lâu và nếu không thực sự cần thiết thì họ sẽ không vay. Vậy nên việc ngân hàng tăng hoặc giảm lãi suất cho vay sẽ tác động không nhỏ đến nhu cầu vay vốn của khách hàng.
Chính sách tín dụng: Mỗi ngân hàng đều có chính sách cho vay riêng, phù hợp với cơ chế của ngân hàng dựa trên những chính sách tín dụng do ngân hàng nhà nước ban hành. Đây là văn bản thể hiện đường lối, chiến lược cụ thể của mỗi ngân hàng trong việc tiến hành các giao dịch và chiến lược cho vay ở từng thời kỳ. Nếu ngân hàng có chính sách tín dụng mở rộng, các hoạt động của ngân hàng nên tập trung vào việc tăng trưởng dư nợ cho vay. Tuy nhiên, cũng cần phải chú ý đến chất lượng của hoạt động tín dụng. Nếu ngân hàng có chính sách tín dụng trọng tâm, trọng điểm, các ngân hàng sẽ tập trung vào các đối tượng khách hàng mà mình đã lựa chọn. Khóa luận: Hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng tại VietinBank.
Nhân sự: Những cán bộ thực hiện việc thẩm định, đánh giá hồ sơ vay phải được đào tạo chuyên môn và có kinh nghiệm để có thể đưa ra quyết định chính xác về việc cho vay, hạn chế rủi ro cho ngân hàng. Sự thành công hay thất bại của một tổ chức kinh doanh ngoài yếu tố vật chất, yếu tố vốn thì nhân tố con người đóng vai trò rất quan trọng. Để đẩy mạnh hoạt động của mình, các ngân hàng cần có một chiến lược đào tạo con người lâu dài, có chế độ đãi ngộ phù hợp để giữ chân cũng như thu hút những người tài giỏi. Đây chính là nền tảng vững chắc cho sự phát triển.
Công tác thẩm định: Quá trình thẩm định đối với khách hàng vay tiêu dùng gặp nhiều khó khăn do các thông tin về khách hàng có thể không đầy đủ thậm chí không chính xác, không rõ ràng, bên cạnh đó nguồn tài trợ trả nợ chủ yếu của người đi vay là thu nhập có thể biến động lớn do nguyên nhân chủ quan (ốm, đau, bệnh tật, chết,…) lúc đó việc trả nợ phụ thuộc hoàn toàn vào thiện chí của khách hàng. Vì những khó khăn trên mà thời gian thẩm định thường kéo dài khiến khách hàng không mặn mà lắm với Cho vay tiêu dùng. Ngân hàng nên thực hiện khâu này một cách nhanh chóng nhưng vẫn đảm bảo chính xác, không gây phiền hà cho khách hàng sẽ tạo được ấn tượng tốt và dễ dàng lôi kéo được khách hàng tiềm năng.
Nguồn vốn kinh doanh: Nguồn vốn kinh doanh bao giờ cũng đóng vai trò quan trọng trong chiến lược kinh doanh của ngân hàng, nó bao gồm: vốn tự có và vốn huy động. Yếu tố vốn giữ vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng nói chung và hoạt động cho vay tín dụng nói riêng. Cũng như các doanh nghiệp kinh doanh khác, muốn tiến hành kinh doanh ngân hàng phải có vốn. Vốn tự có của ngân hàng càng lớn thì ngân hàng càng có khả năng mở rộng phạm vi cho vay và tăng cường cung cấp các sản phẩm dịch vụ…Mọi cơ hội kinh doanh của ngân hàng được quyết định phần lớn phụ thuộc vào nguồn vốn huy động. Mặt khác, khi có vốn lớn, các ngân hàng cũng có điều kiện đầu tư vào các cơ sở hạ tầng, máy móc công nghệ, nâng cao khả năng cạnh tranh và uy tín của ngân hàng, đồng thời đảm bảo được an toàn, hạn chế được rủi ro trong hoạt động.
Công nghệ ngân hàng: Ngày nay, công nghệ đang thể hiện được mình và chứng tỏ được sự cần thiết, hữu ích của mình trong tất cả các lĩnh vực xã hội. Trước đây, khi công nghệ chưa phát triển, số lượng nhân viên trong các Ngân hàng thương mại rất nhiều. Những nhân viên đó phải quản lý khối lượng sản phẩm lớn cùng lượng giấy tờ quan trọng của khách hàng, nhưng tất cả các nghiệp vụ ngân hàng phải được ghi trên giấy tờ, sổ sách vì vậy thời gian thực hiện khá lâu, phức tạp. Hệ thống công nghệ tin học ra đời đã hỗ trợ cho ngành ngân hàng rất nhiều trong việc quản lý các khoản vay nói chung, cũng như Cho vay tiêu dùng nói riêng. Ngoài ra, công nghệ đã làm thay đổi bộ máy hoạt động của ngân hàng khá nhiều, các nghiệp vụ của ngân hàng giờ đây đã dễ dàng hơn, nhanh chóng hơn và chính xác hơn. Các hình thức chuyển tiền trong nước và nước ngoài đã thuận lợi hơn rất nhiều so với trước đây. Khóa luận: Hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng tại VietinBank.
Nhìn chung, công nghệ tin học đã giúp cho hoạt động của các Ngân hàng thương mại nói chung và Cho vay tiêu dùng nói riêng. Người dân không cảm thấy e ngại mỗi lần đến ngân hàng, không phải suy nghĩ nhiều về thời gian chờ đợi. Chính vì có công nghệ, các Ngân hàng thương mại dễ dàng quản lý và theo dõi món vay của cá nhân hoặc hộ gia đình hơn. Ngược lại, khách hàng cũng sẽ thuận lợi hơn mỗi khi đến ngân hàng vay vốn.
- Các nhân tố vĩ mô
Giống như các thể chế kinh tế khác, các Ngân hàng thương mại cũng hoạt động và chịu ảnh hưởng của môi trường xung quanh như môi trường kinh tế xã hội, môi trường quản lý, các môi trường về văn hóa, các chính sách kinh tế của nhà nước:
Môi trường kinh tế xã hội: Hoạt động của Ngân hàng thương mại được coi là “mạch máu”, chịu sự biến động mạnh mẽ từ những biến động của nền kinh tế. Trong đó, hoạt động tín dụng cũng là một hoạt động chịu sự ảnh hưởng của nền kinh tế. Chẳng hạn: nếu nền kinh tế trong giai đoạn phát triển, tăng trưởng tốt, đất nước ổn định, không có chiến tranh hoặc khủng bố thì nhu cầu về vốn vay tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình sẽ tăng lên. Người tiêu dùng sẽ yên tâm về mức thu nhập của họ và như vậy khả năng người tiêu dùng phát sinh nhu cầu tiêu dùng lớn hơn, hoạt động Cho vay tiêu dùng cũng có cơ hội phát triển hơn. Ngược lại, nếu nền kinh tế đang suy thoái, lạm phát, tình hình chính trị bất ổn sẽ làm cho nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình chỉ dừng lại ở mức vừa đủ và sẽ làm cho hoạt động Cho vay tiêu dùng của các Ngân hàng thương mại kém phát triển. Chính vì thế, điều mà các Ngân hàng thương mại phải quan tâm và chú ý tới là những dự báo kinh tế trong các năm trước khi đưa ra chính sách tín dụng nói chung và chính sách Cho vay tiêu dùng nói riêng.
Môi trường văn hóa – xã hội: Những yếu tố thuộc về văn hóa xã hội như: thói quen sử dụng các sản phẩm ngân hàng, tỷ lệ tiết kiệm, trình độ dân trí, thị hiếu,…ảnh hưởng rất lớn đến việc đưa ra quyết định lựa chọn hình thức Cho vay tiêu dùng. Các quan niệm về ngân hàng quen thuộc hay xa lạ, an toàn hay không an toàn, thói quen thanh toán tiền mặt trong dân cư cũng là những yếu tố có tác động đến các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp, trong đó có hoạt động Cho vay tiêu dùng.
Môi trường pháp lý: Các hoạt động trong xã hội đều bị chi phối bởi pháp luật Nhà nước đã đề ra. Hoạt động cho vay của các Ngân hàng thương mại cũng không ngoại lệ. Cả ngân hàng và khách hàng đều phải tuân thủ đúng quy định của Ngân hàng Nhà nước. Pháp luật tạo ra một môi trường lành mạnh, tạo một sân chơi bình đẳng giữa các Ngân hàng thương mại với nhau. Bên cạnh đó, những chính sách của Nhà nước, đặc biệt là các chính sách về kinh tế cũng tác động đến Cho vay tiêu dùng của các Ngân hàng thương mại. Chính vì thế, các ngân hàng cũng như các cán bộ tín dụng phải thường xuyên cập nhật những thông tin pháp luật mới để đưa ra những phương hướng hoạt động phù hợp. Khóa luận: Hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng tại VietinBank.
Môi trường chính trị: Một môi trường chính trị ổn định là yếu tố cơ sở để hoạt động tín dụng tiêu dùng phát triển. Vì nếu xã hội bất ổn sẽ ảnh hưởng không tốt đến người tiêu dùng, nhất là khi họ đang vay vốn của ngân hàng thì việc thu hồi nợ sẽ gặp khó khăn. Điều này làm ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng tiêu dùng. Bên cạnh đó, còn có một số các yếu tố khác ảnh hưởng đến tín dụng tiêu dùng như: thiên tai, dịch bệnh, tai nạn,…Những yếu tố này con người không thể chủ động phòng tránh được.
Chính sách của Nhà nước: Hiện nay, Nhà nước khuyến khích đầu tư trong nước và thu hút đầu tư nước ngoài như hạ trần lãi suất. Một mặt chính sách sẽ kích thích đầu tư phát triển kinh tế, mặt khác giảm được thất nghiệp, tăng thu nhập của người lao động, từ đó tăng mức sống của người dân. Ngoài ra, các chính sách ưu đãi cho hộ nghèo vay vốn, cho vay tín chấp đối với nông dân…là những chính sách rất tích cực, làm cho khoảng cách giàu nghèo giảm đi, cải thiện mức sống, bắt kịp cuộc sống thời đại. Đó đều là cơ sở thuận lợi để phát triển hoạt động Cho vay tiêu dùng của các Ngân hàng thương mại.
Tuy nhiên, muốn thực hiện tốt tất cả những chủ trương chính sách và những chương trình hành động trên cần có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các cấp, các ngành, các cơ quan, doanh nghiệp với nhau và giữa các tổ chức đố với các Ngân hàng thương mại.
- KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương 1, khóa luận trình bày những nội dung cơ bản về hoạt động Cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại, đề cập đến những vấn đề như: khái niệm, đặc điểm, vai trò, phân loại, sự cần thiết nâng cao hiệu quả, các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động Cho vay tiêu dùng… Ngoài ra, khóa luận còn đưa ra hệ thống các chỉ tiêu định tính và định lượng để đánh giá chất lượng của hoạt động Cho vay tiêu dùng. Khóa luận: Hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng tại VietinBank.
Những lý luận nêu trên làm cơ sở cho việc thực hiện mục tiêu nghiên cứu của đề tài ở những chương tiếp theo.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Thực trạng hiệu quả cho vay tiêu dùng tại VietinBank
