Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Giải pháp tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Các giải pháp nhằm sử dụng có hiệu quả các công cụ của chính sách tài chính, tiền tệ trong việc thúc đẩy sự phát triển của Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
I. CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI CÁC Doanh nghiệp vừa và nhỏ TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình tất yếu khách quan mà bất kỳ doanh nghiệp nào, dù là doanh nghiệp lớn hay là các Doanh nghiệp vừa và nhỏ đều phải tham gia. Thành công của quá trình này tùy thuộc vào sức cạnh tranh, tính năng động sáng tạo của doanh nghiệp. Do đó, các doanh nghiệp phải thực sự tham gia vào quá trình hội nhập vì sự sống còn của mình và phải đương đầu với những thách thức cũng như tận dụng những thời cơ do quá trình hội nhập kinh tế quốc tế mang lại. Việc nhận thức đầy đủ và sâu sắc những cơ hội và thách thức trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới sẽ giúp các Doanh nghiệp vừa và nhỏ thích ứng và góp phần thành công trong những điều kiện kinh doanh mới.
1. Những cơ hội
Hội nhập kinh tế quốc tế giúp mở rộng thị trường, khai thác thị trường mới cả trong nước cũng như nước ngoài, nhất là thị trường xuất khẩu cho hàng hóa, dịch vụ đầu tư của Việt Nam.
Từ lâu nay, thiệt thòi lớn nhất đối với các DNNVV Việt Nam chính là sự khó khăn trong việc tiếp cận thị trường thế giới. Nguyên nhân lớn nhất là vì Việt Nam chưa phải là thành viên của WTO. Nhưng hiện tại, khi chúng ta đã gia nhập tổ chức này thì sẽ tạo ra cơ hội lớn cho các Doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận với một thị trường toàn cầu thay vì một thị trường 80 triệu dân.
Trên một thị trường mở, nếu như mảng thị trường lớn dễ thuộc về các doanh nghiệp lớn thì cũng luôn tồn tại cùng lúc những đoạn thị trường ngách của những nhóm khách hàng nhỏ hình thành do sự khác biệt về sức mua, thói quen, tập quán và văn hóa tiêu dùng, cũng như một loạt các yếu tố khác gắn với đặc trưng nhu cầu của từng cá nhân khách hàng. Những thị trường ngách này luôn là mục tiêu tìm kiếm và là điểm đến phù hợp với điều kiện của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Khi Việt Nam gia nhập WTO, các Doanh nghiệp vừa và nhỏ có nhiều cơ hội hợp tác kinh doanh, mở rộng quy mô và tăng tính đa dạng hóa cơ cấu thị trường. Điều đó xuất phát từ trình độ phát triển khác nhau của các nền kinh tế, sự đa dạng về văn hóa, chính trị và tôn giáo. Sự đa dạng này sẽ tạo nhiều cơ hội hơn cho các Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc lựa chọn đoạn thị trường nhất định. Cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu sẽ kéo theo những ảnh hưởng tích cực với các ngành kinh tế trong nước, sản xuất sẽ được mở rộng và tạo ra nhiều công ăn việc làm, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Hội nhập kinh tế quốc tế mang lại cơ hội tiếp cận với các nguồn vốn dồi dào từ bên ngoài cho các Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Vay vốn luôn là vấn đề đặt ra đối với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tận dụng được các nguồn vốn vay ưu đãi chính thức, vay thương mại, các nguồn viện trợ của nước ngoài hoặc qua con đường hợp tác liên doanh, liên kết, đầu tư trực tiếp của nước ngoài, các chương trình dự án hỗ trợ phát triển là con đường lựa chọn thích hợp nhằm đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế, tăng cường năng lực sản xuất hàng hóa và tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế một cách thuận lợi hơn. Tuy nhiên, để khai thác được lợi thế từ nguồn vốn nước ngoài không chỉ cần sự cố gắng của bản thân các Doanh nghiệp vừa và nhỏ mà còn cần sự hỗ trợ tích cực từ phía Chính phủ trong việc cải cách thủ tục hành chính, tạo hành lang pháp lý thuận lợi hơn cho đầu tư nước ngoài, tạo sự bình đẳng cho các thành phần kinh tế cùng tham gia vào thị trường.
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sẽ giúp các Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam tận dụng tốt hơn các nguồn vốn quốc tế di chuyển tự do, bù đắp được những hạn chế đang tồn tại để từng bước phát triển. Khóa luận: Giải pháp tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
Hội nhập kinh tế quốc tế giúp Doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận nhanh chóng công nghệ hiện đại và trình độ quản lý tiên tiến
Thông qua con đường chuyển giao công nghệ, rút ngắn những bước đi dò dẫm, giảm chi phí trong công tác nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng, điều này sẽ giúp cho các Doanh nghiệp vừa và nhỏ tận dụng được thế mạnh của các doanh nghiệp lớn, các doanh nghiệp phát triển mạnh mẽ về khoa học, công nghệ trên thế giới tạo bước nhảy lớn, đột phá để phát triển. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cho phép các Doanh nghiệp vừa và nhỏ cơ hội liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp nước ngoài tận dụng thế mạnh về khoa học công nghệ tiên tiến của họ. Trình độ quản lý, khả năng sử dụng các dây chuyền công nghệ hiện đại cũng từ đó được nâng lên. Các Doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể tự mình đầu tư công nghệ mới, tuy nhiên đó sẽ là một con đường khó khăn hơn do các Doanh nghiệp vừa và nhỏ hạn chế về khả năng tài chính.
Mặt khác, hội nhập kinh tế quốc tế cũng sẽ tạo điều kiện cho các Doanh nghiệp vừa và nhỏ cơ hội để tiếp cận với các nguồn tín dụng nước ngoài. Điều đó sẽ giúp cho các Doanh nghiệp vừa và nhỏ có nhiều cơ hội hơn, nhiều cách thức hơn để tiếp cận nhanh chóng khoa học công nghệ tiên tiến áp dụng cho hoạt động kinh doanh, từ đó nâng cao năng suất lao động, cải tiến chất lượng sản phẩm, thành công trong thị trường nội địa và chủ động tham gia từng bước vào thị trường quốc tế.
Gia nhập WTO sẽ đem lại cho các DNNVV Việt Nam tư cách pháp lý đầy đủ và bình đẳng hơn trong thương mại thế giới
Dù quy mô của nền kinh tế Việt Nam so với các nền kinh tế lớn trên thế giới hay quy mô của các DNNVV so với các doanh nghiệp trên thế giới có nhỏ bé đến đâu đi chăng nữa thì các DNNVV Việt Nam cũng sẽ được đối xử bình đẳng trong các tranh chấp thương mại trên thị trường thế giới.
Hiện nay, khi đã là thành viên của WTO, chúng ta sẽ được hưởng quy chế tối huệ quốc và đối xử quốc gia một cách vô điều kiện. Theo MFN – Quy chế tối huệ quốc có nghĩa là tất cả các hàng hoá dịch vụ và công ty của các thành viên WTO đều được hưởng một chính sách chung bình đẳng. Theo NT – Quy chế đối xử quốc gia (đãi ngộ quốc gia) là không có sự phân biệt đối xử giữa hàng hoá dịch vụ và các công ty của mình với hàng hoá dịch vụ và các công ty của nước ngoài trên thị trường nội địa. Như vậy, về mặt pháp lý các DNNVV Việt Nam sẽ được bình đẳng, không bị phân biệt đối xử với doanh nghiệp ở thị trường nước sở tại hoặc doanh nghiệp của một nước thứ ba. Khóa luận: Giải pháp tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
Ngoài ra, các Doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ tránh được tình trạng bị xử ép trong các tranh chấp thương mại quốc tế. WTO là diễn đàn thương mại mà ở đó mọi thành viên đều có quyền bảo vệ mình khi xảy ra tranh chấp. Những luật lệ đã được đưa vào thế giới thương mại, một thế giới mà trước đây những nước yếu không đủ sức kháng cự những nước mạnh. Trở thành thành viên của WTO có nghĩa là các nước còn yếu như Việt Nam có quyền khiếu nại và thương lượng một cách công bằng hơn với các cường quốc dự trên những luật lệ chung đó.
Các Doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng được hưởng ưu đãi, đối xử đặc biệt dành cho các nước đang phát triển. Có nhiều hiệp định của WTO đều dành những khoản ưu đãi riêng cho các nước đang phát triển, kém phát triển, các nước có nền kinh tế chuyển đổi (tất cả chiếm 3/4 số thành viên của WTO), chúng gọi là các đối xử đặc biệt và khác biệt. Những ưu đãi dành riêng cho nhóm các nước này được nêu trong các hiệp định về thương mại hàng hoá (liên quan đến: thuế quan, các biện pháp phi thuế quan như: hạn chế định lượng; trợ cấp và các biện pháp hỗ trợ xuất khẩu của chính phủ trong nông nghiệp, công nghiệp; định giá hải quan; hàng rào kỹ thuật, các biện pháp tự vệ trong thương mại…), các hiệp định về Thương mại dịch vụ, các hiệp định về thương mại liên quan đến đầu tư… Chúng thường mang tính chất giảm nhẹ so với nghĩa vụ và cam kết chung mà WTO đề ra. Ví dụ như: miễn không phải thực hiện một nghĩa vụ nào đó; mức độ cam kết thấp hơn; các doanh nghiệp cũng có thể chỉ phải chịu một mức thuế xuất khẩu thấp vào thị trường các nước phát triển nếu như nước đó cho Việt Nam hưởng ưu đãi phổ cập GSP… Các −ưu đãi này sẽ góp phần tạo ra lợi thế cạnh tranh nhất định cho các DNNVV trước các đối thủ cạnh tranh đến từ các nước phát triển.
Môi trường kinh doanh được cải thiện theo hướng tự do, minh bạch, bình đẳng hơn, tạo thuận lợi cho các DNNVV đầu tư mở rộng sản xuất Khóa luận: Giải pháp tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
Bên cạnh những lợi ích kể trên, việc tăng cường hội nhập và gia nhập WTO cũng sẽ tạo điều kiện và tạo áp lực để Việt Nam cải cách chính sách, thể chế luật pháp với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, hoàn thiện cơ chế chính sách… Điều này không chỉ mang lại hiệu quả trong hiện tại mà còn là tiền đề thúc đẩy tăng năng suất và hiệu quả của cả nền kinh tế trong trung hạn và dμi hạn. Tác động của việc lành mạnh hoá môi trường kinh doanh mang lại có thể khó lượng hoá được nhưng có thể nói nó mang lại những lợi ích vô cùng to lớn cho các doanh nghiệp. Đứng trước yêu cầu và sức ép của phát triển kinh tế, toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế và gia nhập WTO thì cùng với hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách hiện tại của Việt Nam, nền hành chính quốc gia buộc phải được cải cách và đổi mới theo hướng tương thích và phù hợp với các quá trình này. Điển hình gần đây nhất là sự ra đời của Luật Đầu tư chung, Luật Doanh nghiệp thống nhất, Luật Hải quan, các luật thuế sửa đổi và các cải cách hành chính, cơ chế chính sách. Các doanh nghiệp được mở rộng, tự do, tự chủ kinh doanh và cạnh tranh một cách bình đẳng hơn trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm. Như nhiều chuyên gia nhận định, đây thực sự là việc “cởi trói” cho các doanh nghiệp.
2. Những thách thức Khóa luận: Giải pháp tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
- Năng lực hội nhập của nhiều DNNVV còn yếu
Năng lực hội nhập của một doanh nghiệp thể hiện qua các yếu tố quan trọng sau: Năng lực về vốn, năng lực công nghệ, năng lực nguồn nhân lực/con người, năng lực tiếp cận thị trường và tạo thương hiệu… Năng lực hội nhập của mọi quốc gia đều xuất phát từ năng lực hội nhập của doanh nghiệp. Một nền kinh tế có khả năng cạnh tranh cao phải có nhiều doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh tốt và một nền kinh tế muốn hội nhập thành công phải có nhiều doanh nghiệp có khả năng hội nhập.
Các Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam có quy mô vốn nhỏ bé, tiềm lực về vốn, công nghệ và trình độ quản lý yếu kém. Hiện nay có tới hơn 87% các doanh nghiệp có số vốn dưới 10 tỷ đồng, một quy mô quá nhỏ bé so với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thế giới. Do đó các Doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Bên cạnh đó, trình độ công nghệ của Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam rất lạc hậu và sức cạnh tranh còn quá thấp. So với các quốc gia trong khu vực, Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam hiện đang phải đối mặt với tình trạng máy móc thiết bị cũ nát, lạc hậu (tình trạng công nghệ của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam so với Thái Lan tụt hậu khoảng 25 – 30 năm) dẫn tới kết quả là năng suất lao động thấp, chất lượng sản phăm chưa cao, giá cao, tính cạnh tranh thấp. Hơn nữa, tiềm lực mỏng, nguồn nhân lực có trình độ hạn chế đã gây khó khăn cho quá trình tiếp thu và chuyển giao công nghệ.
Điều kiện hạ tầng cơ sở cho sản xuất kinh doanh của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ còn nhiều bất cập, chi phí đầu vào cao. Theo điều tra của VCCI, các doanh nghiệp phải sử dụng trên 40% nguyên phụ liệu đầu vào nhập khẩu, thậm chí trong một số ngành tỷ lệ này là 70 – 80%, điều đó làm cho nguồn cung ứng bị phụ thuộc vào thị trường thế giới và hàm lượng giá trị gia tăng trong hàng xuất khẩu bị hạn chế. Ngoài các chi phí trung gian khác như giá cước vận chuyển, phí hải quan, chi phí điện nước cao, và thậm chí cả các khoản chi phí ngầm đáng kể khác đã làm tăng đáng kể chi phí đầu vào của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Lợi thế so sánh của Việt Nam chủ yếu là tài nguyên và lao động, những vấn đề khác như công nghệ, vốn, hàm lượng trí tuệ trong sản phẩm rất thấp cũng tác động rất lớn đến việc tham gia vào thị trường quốc tế của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Điều này một mặt đòi hỏi nhà nước tạo dựng một môi trường thể chế thông thoáng, bình đẳng cho các loại hình doanh nghiệp hoạt động, và cũng cần có những chính sách hỗ trợ khắc phục những điểm yếu của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Mặt khác, các Doanh nghiệp vừa và nhỏ cần phải nỗ lực nhiều hơn để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Khóa luận: Giải pháp tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
- Các DNNVV chưa nắm được thông tin, kiến thức đầy đủ về WTO
Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của WTO, tham gia vào một sân chơi tầm cỡ toàn cầu nhưng điều đáng lo ngại là các DNNVV (chiếm trên 90% tổng số các doanh nghiệp được thành lập) chưa ý thức được những nguy cơ mà sân chơi đó mang lại, chưa trang bị cho mình một hành trang cần thiết, thậm chí coi công việc hội nhập là công việc của Nhà nước, của các doanh nghiệp lớn. Thậm chí không ít doanh nghiệp còn giữ cách nghĩ việc thành công trong kinh doanh là do một số mối quan hệ nào đó mang lại. Với một nền kinh tế hội nhập, đó là một nhầm lẫn lớn. Đến thời điểm này lẽ ra đã phải tính toán cho những kế hoạch, chiến ược hậu WTO, tuy nhiên, vừa qua tại buổi toạ đàm doanh nhân Việt Nam và những vấn đề mới khi gia nhập WTO do Trung tâm xúc tiến thương mại TP HCM tổ chức, nhiều chuyên gia đã khẳng định, hiện nay đa số các doanh nghiệp chưa có sự hiểu biết sâu sắc về WTO, đồng thời cũng đồng nhất ý kiến cần phải tăng cường hơn nữa cho các DNNVV hiểu biết về tổ chức thương mại lớn này.
- Các DNNVV sẽ phải đối mặt với áp lực cạnh tranh gay gắt
Thách thức lớn nhất của Việt Nam sẽ vẫn là ở khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Khi Việt Nam gia nhập WTO chắc chắn sức ép cạnh tranh lên toàn bộ nền kinh tế nói chung và các DNNVV nói riêng sẽ tăng lên gấp bội. Trên thị trường thế giới với nhiều rào cản hữu hình và vô hình vẫn còn tồn tại, có hàng ngàn đối thủ với đủ loại phương thức và thủ đoạn cạnh tranh. Vì vậy việc xâm nhập và chiếm lĩnh thị trường trên thế giới là điều không hề dễ dàng. Nó có thể tạo cơ hội để các DNNVV giải bμi toán về thị trường thông qua đẩy mạnh xuất khẩu từ đó mở rộng đầu tư sản xuất kinh doanh nhưng thị trường thế giới cũng đầy rẫy những cạm bẫy và hiểm nguy có thể nhấn chìm bất cứ một doanh nghiệp nào. Vấn đề đặt ra là các doanh nghiệp cần phải nhìn nhận, phân tích thấu đáo những thuận lợi và bất lợi khi Việt Nam gia nhập WTO. Theo đó, chuẩn bị cho mình những bước đi hợp lý. Vào WTO, Việt Nam sẽ phải thực hiện mở cửa, tự do hoá thương mại, có nghĩa là phải giảm thuế, bỏ hàng rào phi thuế, rồi thực hiện đối xử theo quy chế tối huệ quốc… Khi tất cả các “hàng rào” dựng lên để bảo hộ doanh nghiệp trong nước không còn, thì việc cạnh tranh với các đối thủ “nặng ký” không phải là điều dễ chịu chút nào. Trước sự thay đổi này, nếu các doanh nghiệp chuẩn bị cho mình trước thì sự thành công trong kinh doanh sẽ rõ rệt hơn. Nhưng nếu doanh nghiệp không có sự chuẩn bị trước, cứ giữ cung cách quản lý như cũ – chờ bao cấp, chờ bảo hộ thì sẽ phải nhiều thua thiệt, thậm chí không thể trụ lại được.
- Các DNNVV phải đối mặt với nguy cơ bị thôn tính từ các công ty lớn Khóa luận: Giải pháp tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
Bước vào sân chơi WTO, các DNNVV Việt Nam sẽ phải chịu áp lực thôn tính không chỉ từ các doanh nghiệp trong nước mà còn từ các doanh nghiệp nước ngoài, khi mà những cam kết mở cửa theo qui định của WTO (hiệp định TRIMS) buộc Việt Nam phải dỡ bỏ sự khống chế về tỷ lệ tham gia của nhà đầu tư nước ngoài từ 49% lên 100%. Thực sự là tầm vóc của các doanh nghiệp Việt Nam quá nhỏ bé so với tiềm lực (tài chính, khoa học kỹ thuật…) quá mạnh của các tập đoàn nước ngoài. Một số vụ thôn tính chỉ nhằm mục đích tạo lợi nhuận tài chính nhanh chóng cho những doanh nghiệp đi thôn tính, nhưng phần lớn các vụ thôn tính công khai được thực hiện cho những mục tiêu chiến lược nhằm chiếm lĩnh thị trường trong nước. Chắc chắn việc thôn tính, sáp nhập, mua lại là một hiện tượng mà chúng ta sẽ được chứng kiến thường xuyên khi Việt Nam gia nhập WTO.
- Phải đáp ứng các yêu cầu minh bạch hoá trong kinh doanh
Đây là một thách thức đối với các DNNVV hiện nay, vốn vẫn còn quen với cách làm ăn nhỏ lẻ, ít nhiều còn mang dấu ấn của t− duy và cung cách quản trị lạc hậu. Bản thân chủ các DNNVV và người lao động cũng phải nâng cao trình độ, năng lực, nhất là kiến thức về hội nhập. Khi gia nhập WTO, khái niệm thị trường trong nước và ngoài nước cũng sẽ thay đổi, biên giới hay lãnh thổ quốc gia không thể ngăn cản được dòng chu chuyển giao lưu buôn bán, phạm vi hoạt động của các doanh nghiệp vì thế cũng rộng hơn, sức ép mạnh hơn, yêu cầu cao hơn. Vấn đề đặt ra là nhà quản trị trong các DNNVV phải làm thế nào để đủ tầm bao quát quản lý trong môi trường kinh doanh rộng lớn đó. Muốn trụ vững được không có cách nào khác doanh nghiệp phải nâng cao được năng lực và “sức chiến đấu” của mình.
Khả năng liên kết các Doanh nghiệp vừa và nhỏ thành lập hiệp hội ở Việt Nam còn rất yếu, do đó các Doanh nghiệp vừa và nhỏ không tạo thành một khối thống nhất để cạnh tranh, không tạo ra các nhà xuất khẩu lớn, mà hoạt động xuất khẩu của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam rất manh mún, cạnh tranh lẫn nhau, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nước ngoài ép giá. Đây là một trong những điểm yếu cơ bản của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam, của văn hóa và truyền thống kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Tóm lại, tiềm lực của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam thực sự còn rất hạn chế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và sẽ phải đối mặt với khả năng cạnh tranh gay gắt từ phía các doanh nghiệp quy mô lớn với tiềm lực tài chính mạnh từ nước ngoài. Do đó, có thể dễ dàng thấy rằng được sự cạnh tranh này là không cân sức cân tài vì một bên là các doanh nghiệp nhỏ, trình độ công nghệ lạc hậu, vốn ít, trình độ quản lý, kỹ năng kinh doanh trên thị trường yếu, còn một bên là những doanh nghiệp lớn, có đầy đủ thế mạnh về vốn, công nghệ, trình độ quản lý cũng như kinh nghiệm kinh doanh lâu năm trên thương trường. Vì thế, bên cạnh nỗ lực của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ, sự hỗ trợ của nhà nước nhằm trợ giúp các Doanh nghiệp vừa và nhỏ la điều cần thiết trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
II. QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÁC Doanh nghiệp vừa và nhỏ ĐẾN NĂM 2028 Khóa luận: Giải pháp tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
1. Quan điểm và mục tiêu phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Quan điểm của Chính phủ về phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ nằm trong quan điểm chung về phát triển kinh tế đất nước đó là tiếp tục thực hiện chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần tạo mọi điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp và công dân đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh.
Nhà nước tạo môi trường về pháp luật và các cơ chế, chính sách thuận lợi cho Doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển bình đẳng và cạnh tranh lành mạnh nhằm huy động mọi nguồn lực trong nước kết hợp với nguồn lực từ bên ngoài cho đầu tư phát triển.
Phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ theo phương châm tích cực, vững chắc, nâng cao chất lượng, phát triển về số lượng, đạt hiệu quả kinh tế, góp phần tạo nhiều việc làm, xoá đói, giảm nghèo, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội; phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ gắn với các mục tiêu quốc gia, các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng địa phương, khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn, làng nghề truyền thống; chú trọng phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn; ưu tiên phát triển và hỗ trợ các Doanh nghiệp vừa và nhỏ do đồng bào dân tộc, phụ nữ, người tàn tật… làm chủ doanh nghiệp; ưu tiên phát triển một số lĩnh vực có khả năng cạnh tranh cao.
Chính phủ cần coi phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ là một nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội ở Việt nam. Phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội, tạo việc làm, tăng thu nhập và giải quyết các vấn đề về lao động, phúc lợi xã hội cho nhân dân, góp phần ổn định kinh tế xã hội.
Hoạt động trợ giúp của Nhà nước chuyển dần từ hỗ trợ trực tiếp sang hỗ trợ gián tiếp để nâng cao năng lực cho các Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Khóa luận: Giải pháp tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
Gắn hoạt động kinh doanh với bảo vệ môi trường, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Tăng cường nâng cao nhận thức của các cấp chính quyền về vị trí, vai trò của DNVVN trong phát triển kinh tế – xã hội.
Theo Quyết định số 236/2023/QĐ-TTg ngày 23/10/2023 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt kế hoạch phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ giai đoạn 2023 – 2028 thì mục tiêu của Chính phủ là đến năm 2028, Việt Nam cần phải có 500.000 doanh nghiệp. Và như vậy, với tỷ lệ khoảng 96% Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong tổng số doanh nghiệp thì khi đó Việt Nam sẽ có khoảng 480.000 Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chính phủ khuyến khích đẩy nhanh tốc độ phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, các Doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng góp ngày càng cao vào tăng trưởng cho nền kinh tế.
Mục tiêu cụ thể:
- Số Doanh nghiệp vừa và nhỏ thành lập mới khoảng 000 (hàng năm tăng khoảng 22%);
- Tỷ lệ tăng trưởng Doanh nghiệp vừa và nhỏ thành lập mới tại các tỉnh khó khăn là 15% đến năm 2028;
- Tỷ lệ trực tiếp tham gia xuất khẩu đạt từ 3 – 6% trong tổng số Doanh nghiệp vừa và nhỏ;
- Tạo thêm khoảng 2,7 triệu chỗ làm mới trong giai đoạn 2023 – 2028;
- Có thêm 165.000 lao động được đào tạo kỹ thuật làm việc tại các Doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Để đạt được những mục tiêu này, không những cần sự nỗ lực về phía Chính phủ trong việc tạo lập một môi trường thể chế ngày càng thông thoáng, cởi mở và minh bạch hơn, mà còn đòi hỏi sự nỗ lực tích cực của các hiệp hội, các doanh nghiệp, các phương tiện thông tin đại chúng và của mọi người dân thay đổi quan điểm về doanh nghiệp, về doanh nhân và tích cực tham gia vào thị trường.
2. Phương hướng phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ Khóa luận: Giải pháp tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
- Lựa chọn các ngành Doanh nghiệp vừa và nhỏ có lợi thế để phát triển
Trong điều kiện các nguồn lực đất nước còn hạn chế do đó không thể đầu tư một cách tràn lan. Hơn nữa, mỗi một đất nước có những điểm mạnh trong một số ngành nhất định. Để giúp các DVVNN trở nên năng động, nhanh chóng thích nghi với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Chính phủ cần định hướng cho Doanh nghiệp vừa và nhỏ lựa chọn phát triển một số ngành là thế mạnh của Việt Nam. Nâng cao tính cạnh tranh của các ngành hàng thay vì đặt mục tiêu cho từng sản phẩm riêng lẻ.
Căn cứ vào lợi thế cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam, căn cứ vào trình độ phát triển về công nghệ, khoa học kỹ thuật, thực tế lực lượng lao động cũng như chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam đến năm 2028, các nhóm ngành Doanh nghiệp vừa và nhỏ có lợi thế gồm:
Nhóm ngành thủ công mỹ nghệ truyền thống: ngành này thời gian qua đã có những thay đổi mạnh mẽ, các giá trị công nghiệp và văn hóa đã hình thành. Tuy nhiên do góc độ truyền thống và văn hóa, sự hội nhập của nhóm ngành này còn hạn chế bởi tính chất manh mún, quy mô nhỏ, khác biệt văn hóa nên thị trường xuất khẩu rất khó khăn, đòi hỏi phải tìm được những phân đoạn thị trường ngách.
Nhóm ngành tiêu dùng, gia công, chế biến, lắp ráp: hiện đang có tỷ trọng giá trị lớn của hàng hóa của Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế. Nhóm ngành này mặc dù mang lại ý nghĩa xã hội trong việc tạo ra nhiều việc làm song giá trị thụ hưởng chủ yếu mới chỉ dừng lại ở giá trị gia công (phải mua nhiều yếu tố đầu vào từ bên ngoài). Từ đó, tác động dụng tích lũy, thúc đẩy nền kinh tế còn hạn chế, đặc biệt sẽ chịu nhiều rủi ro của các biến động tiền tệ của khu vực và quốc tế, mà trước hết là các nước xuất khẩu mục tiêu. Khóa luận: Giải pháp tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
Nhóm ngành khai thác và sản xuất sản phẩm dầu thô: như khoáng sản, hải sản và lâm sản. Trong những năm qua, sự hội nhập của nền kinh tế nước ta nói chung, Doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng vẫn dựa rất lớn vào nhóm ngành này – đây là thực trạng cần được đánh giá và điều chỉnh để hình thành chiến lược cơ cấu ngành đảm bảo hiệu quả cao của quá trình hội nhập. Việc tham gia hội nhập bằng tài nguyên khai thác một mặt đạt hiệu quả kinh tế xã hội thấp, mặt khác còn làm suy kiệt những nguồn tài nguyên không tái tạo được, ảnh hưởng nghiêm trọng cân bằng sinh thái.
- Ưu tiên phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở khu vực nông thôn
Đẩy mạnh phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa là một trong những biện pháp quan trọng để công nghiệp hóa nông thôn, giúp khu vực nông thôn tham gia có hiệu quả hơn vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Trong điều kiện hiện nay của nước ta, phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ là một mô hình thích hợp nhất để chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn. Sở dĩ như vậy là vì hiện nay gần 80% dân số Việt Nam sống ở nông thôn. Quá trình phát triển những năm qua đã tạo ra sự chênh lệch nhất định về thu nhập nói riêng và về trình độ phát triển nói chung giữa thành thị và nông thôn. Tuy nhiên, nguồn nhân lực dồi dào ở nông thôn chưa được sử dụng tôt cho phát triển kinh tế và đang dẫn đến sức ép di cư vào các trung tâm công nghiệp và đô thị lớn, dễ gây nên những biến động lớn trong xã hội.
Kinh nghiệm ở nhiều nước châu Á cho thấy đối với các nước đông dân thì chiến lược phát triển đi từ công nghiệp nông thôn là khôn ngoan và có hiệu quả. Tập trung phát triển khu vực nông thôn sẽ làm tăng thu nhập của phần lớn dân cư, giảm thiểu nhu cầu di cư vào các thành phố lớn và trung tâm công nghiệp, tạo sự ổn định xã hội. Thu nhập dân cư ở nông thôn tăng lên sẽ làm tăng sức mua của xã hội. Khóa luận: Giải pháp tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
Đó là yếu tố kích thích sản xuất không chỉ đối với kinh tế nông thôn mà còn đối với cả kinh tế thành thị. Điều đó sẽ làm tăng mối liên kết giữa thành thị và nông thôn, góp phần làm giảm chênh lệch về trình độ phát triển giữa thành thị và nông thôn. Phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực lưu thông hàng hóa ở nông thôn sẽ góp phần thúc đẩy thị trường hàng hóa ở nông thôn phát triển và sử dụng nguồn lao động dồi dào. Hệ thống phân phối rộng rãi sẽ khuyến khích tiêu thụ hàng hóa nội địa qua đó tác động trở lại kích thích sản xuất phát triển.
Ngoài ra còn một số lý do khác như nông thôn có sẵn nguồn nguyên liệu tại chỗ phong phú tạo thuận lợi để phát triển các sản phẩm công nghiệp tiêu dùng, nhất là cho các ngành chế biên lương thực, thực phẩm. Hiện nay, công nghiệp nông thôn Việt Nam có thể phát triển ở một số ngành và một số sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tại chỗ như chế biến lương thực thực phẩm, sản xuất vật liệu xây dựng, các sản phẩm kim loại, cơ khí sửa chữa phục vụ sản xuất và đời sống, may mặc, mây tre đan, thủ công mỹ nghệ, đồ đá…
Phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua phát triển thầu phụ công nghiệp và các ngành công nghiệp phụ trợ
DNVVN và doanh nghiệp lớn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình phát triển kinh tế của một đất nước, hỗ trợ nhau một cách đắc lực trong sản xuất kinh doanh. Vì vậy khi ban hành các chính sách khuyến khích Doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển, chính phủ cần xác định những doanh nghiệp lớn phát triển là “hạt nhân” đứng vị trí trung tâm, các Doanh nghiệp vừa và nhỏ là những “vệ tinh” đứng xung quanh, là những nhà thầu phụ cung cấp một số đầu vào cho các doanh nghiệp lớn. Đó là cơ sở ban đầu để hình thành các tấp đoàn kinh tế lớn, có đủ sức cạnh tranh trên thị trường, có khả năng đáp ứng nhu cầu của vùng về một số loại hàng hóa nhất định.
Việc thúc đẩy phát triển thầu phụ công nghiệp và phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ cũng chính là tạo quan hệ tôt giữa các doanh nghiệp lớn và các Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Cần có các chính sách tạo môi trường cho sự liên kết, hợp tác kinh doanh đó, khuyến khích các doanh nghiệp lớn hình thành hệ thống vệ tinh bao gồm cả những mối liên kết ngang, liên kết dọc trong quá trình sản xuất hay trong bao tiêu sản phẩm, cung ứng vật tư máy móc, thiết bị… Mối liên hệ đó thể hiện sự phân công chuyên môn hóa giữa Doanh nghiệp vừa và nhỏ và doanh nghiệp lớn sao cho hiệu quả đó là:
- Doanh nghiệp vừa và nhỏ vừa tạo đầu vào vừa góp phần tiêu thụ đầu ra của doanh nghiệp lớn
- Doanh nghiệp lớn hỗ trợ Doanh nghiệp vừa và nhỏ để đào tạo tay nghề, trao đổi thông tin, chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quản lý
- Giao thầu lại cho Doanh nghiệp vừa và nhỏ những phần việc mà doanh nghiệp lớn ký kết với nhà nước trong các hợp đồng lớn hoặc trong một số trường hợp cho phép Doanh nghiệp vừa và nhỏ tư nhân cùng hợp tác với doanh nghiệp lớn để đấu thầu các công trình lớn của nhà nước. Khóa luận: Giải pháp tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
III. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỀ VIỆC VẬN DỤNG CÁC CÔNG CỤ CỦA CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH, TIỀN TỆ NHẰM PHÁT TRIỂN Doanh nghiệp vừa và nhỏ
1. Giải pháp về chính sách thuế
So với nhiều năm trước đây, hệ thống thuế của Việt Nam đã được cải thiện nhiều theo hướng đảm bảo sự công bằng cho các thành phần kinh tế. Tuy nhiên, hệ thống thuế hiện nay vẫn còn nhiều bất cập đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ, làm hạn chế sự phát triển của loại hình doanh nghiệp này. Để giải quyết những bất cập đó và hoàn thiện hơn nữa chính sách thuế đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ, cần thực hiện một số giải pháp sau:
- Thứ nhất, về chính sách thuế Thu nhập doanh nghiệp
Thuế Thu nhập doanh nghiệp cần được đơn giản hóa phương pháp và căn cứ tính thuế và trong tương lai nên loại bỏ dần các trường hợp miễn giảm thuế suất đối với các loại hình doanh nghiệp. Kinh nghiệm của các nước đã cho thấy rằng việc thực hiện các ưu đãi về thuế là rất phức tạp và tốn kém đối với cả người chịu thuế và Chính phủ. Chính sách thuế hiện nay còn lồng ghép nhiều chính sách xã hội, với nhiều mức miễn giảm thuế, làm hạn chế tính trung lập, điều này cũng dễ dẫn đến các hiện tượng tiêu cực trong nền kinh tế và tạo ra sự phân biệt đối xử giữa những người phải nộp thuế từ đó tạo cảm giác là thuế không công bằng. Hơn nữa một số nghiên cứu về chính sách công cộng của Ngân hàng Thế giới đã chỉ ra rằng các ưu đãi về thuế đã không có tác dụng như mong muốn mà đôi khi có tác dụng ngược lại, giảm tính cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường. Do đó, xu hướng của thế giới hiện nay là loại bỏ dần các chính sách ưu đãi về thuế cho các hoạt động kinh tế cụ thể và tiến tới sử dụng những thuế suất thấp hơn trên mọi lĩnh vực đối với tất cả các doanh nghiệp. Điều này có tác dụng khuyến khích cả đầu tư trong nước và nước ngoài mà hiện nay Trung Quốc đã làm rất thành công trong một số vùng công nghiệp đem lại sự phát triển thần kỳ cho nền kinh tế Trung Quốc trong thời gian qua. Khóa luận: Giải pháp tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
Ngoài ra, chính phủ nên để doanh nghiệp được tự chủ tự chi trong hoạt động quảng cáo, bởi doanh nghiệp sẽ tự hạch toán được cần chi bao nhiêu cho đủ. Việt Nam là nước duy nhất ở châu Á còn có quy định về khống chế mức chi cho quảng cáo và quảng bá thương hiệu và điều đó không phục vụ cho lợi ích nền kinh tế cũng như quyền lợi người tiêu dùng. Có lẽ nào thuế lại cản trở doanh nghiệp quảng cáo và khuyến mãi? Theo ý kiến của tác giả, khi doanh nghiệp tăng chi phí quảng cáo và khuyến mãi, sẽ tăng tính cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ trên thị trường. Khi đó, chất lượng hàng hóa sẽ tăng và giá cả sẽ giảm xuống. Điều này gián tiếp tác động tích cực đến lạm phát. Ngược lại, khi nhà nước khống chế 10% cổ phần quảng cáo và khuyến mãi chịu thuế/ tổng chi phí hợp lý được khấu trừ, doanh nghiệp sẽ tìm cách đưa khoản vượt ra ngoài giới hạn trên vào giá bán. Lúc đó, giá cả hàng hóa dịch vụ không chi tăng, quyền lợi người tiêu dùng bị ảnh hưởng mà còn gây áp lực gia tăng lạm phát.
- Thứ hai, cần hoàn thiện hơn nữa hệ thống thuế giá trị gia tăng.
Việc cấp bách đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ quan thuế cần đẩy mạnh hơn việc cải cách chính sách và thủ tục hoàn thuế cho doanh nghiệp vì việc hoàn thuế chậm sẽ dẫn đến tình trạng chiếm dụng vốn của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ vốn đã rất nhỏ bé và thiếu thốn gây cản trở công việc kinh doanh của các doanh nghiệp này. Các doanh nghiệp cũng đề nghị cơ quan thuế có thể công khai việc hồ sơ hoàn thuế đã được giải quyết đến đâu trên website của cụ thuế để doanh nghiệp có thể theo dõi.
Tại điểm 2, mục II, phần C, Thông tư số 120/2020/TT-BTC quy định: “Đối với tài sản cố định, vật tư, hàng hóa mua vào sử dụng cho sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế Giá trị gia tăng đã được khấu trừ thuế đầu vào nay chuyển sang cho hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế Giá trị gia tăng hoặc sử dụng mục đích khác… thì cơ sở phải hoàn lại thuế Giá trị gia tăng của tài sản cố định (TSCĐ) đã khấu trừ”. Tuy nhiên với quy định chung chung không cụ thể hóa như trên làm cho cả công chức thuế và các doanh nghiệp đều bị lúng túng trong việc thực hiện bởi lẽ yêu cầu các doanh nghiệp hoàn thuế Giá trị gia tăng nhưng không quy định hồ sơ thủ tục hoàn trả, thẩm quyền ra quyết định số thuế Giá trị gia tăng hoàn trả này.
Chính phủ cần nghiên cứu trong việc triển khai quy định đại bộ phận hàng hóa, dịch vụ mua vào được khấu trừ thuế đầu vào thì phải thanh toán qua ngân hàng, chỉ trừ trường hợp mua bán từng lần với giá trị thấp. Chủ trương này sẽ hạn chế thanh toán bằng tiền mặt, kiểm soát được doanh thu, chi phí, thu nhập kinh doanh, trên cơ sở đó sẽ giúp cơ quan thuế thu đủ và đúng tiền thuế và có thể cưỡng chế các cơ sở kinh doanh nợ đọng tiền thuế. Quy định này có thể ngăn chặn được tình trạng trốn, lậu thuế, mua bán hóa đơn để được hoàn thuế gian lận như đã xảy ra. Tuy nhiên với thực tế mạng lưới ngân hàng còn ít, vấn đề thanh toán qua ngân hàng còn chậm trễ, bản thân hệ thống ngân hàng chậm đổi mới công nghệ thanh toán… thì vẫn đặt ra những quan ngại về tính chính xác, an toàn, thuận tiện, nhanh chóng đối với các hoạt động mua bán, đặc biệt ở các vùng sâu. Từ đó ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Do đó, chính phủ cần xác định lộ trình cụ thể cho việc áp dụng hình thức thanh toán qua ngân hàng đối với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm đảm bảo tính khả thi và thuận lợi đối với các doanh nghiệp. Khóa luận: Giải pháp tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
Các qui định về thuế suất cũng cần được hoàn thiện để đơn giản hơn nữa đối với người nộp thuế và cơ quan thu thuế nhờ đó sẽ giảm khả năng vi phạm của cả người nộp thuế và cán bộ thu thuế. Hiện nay việc áp dụng 3 mức thuế suất Giá trị gia tăng 0%, 5% và 10% vẫn tương đối phù hợp với tình hình và điều kiện kinh tế xã hội của chúng ta trong giai đoạn này, khi mà hiệu quả sản xuất, kinh doanh của các ngành khác nhau còn nhiều chênh lệch. Tuy nhiên, cần tiến tới áp dụng một mức thuế suất Giá trị gia tăng thống nhất đối với mọi loại sản phẩm và dịch vụ, tạo thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp, cho công tác quản lý thuế và tạo sự bình đẳng, sự minh bạch trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế. Lấy ví dụ, có những doanh nghiệp được thuế suất 0% thì đầu vào của họ đã là 10%, vậy thì người ta sẽ khấu trừ vào đâu. Thứ hai, có những mặt hàng đầu ra là 10%, nhưng khi đầu vào là 5% và 0% thì việc tính như thế cũng có lúc doanh nghiệp sẽ bị thiệt và cũng có lúc nhà nước thiệt. Do vậy, để tiến tới một lộ trình công bằng cũng như dễ quản lý trong xã hội, chính phủ nên xem xét trong việc đưa về một mức thuế duy nhất khoảng 8%.
- Thứ ba, nghiên cứu và bổ sung quy định về khấu hao tài sản cố định
Để khuyến khích hơn nữa các doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, tránh sự tụt hậu về công nghệ so với các nước trong khu vực, cần cho phép các doanh nghiệp khấu hao nhanh tài sản cố định. Khấu hao tài sản cố định là vấn đề hết sức quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu mức khấu hao cao sẽ giúp doanh nghiệp thu hồi vốn nhanh và ngược lại, nếu mức khấu hao thấp thì thu hồi vốn chậm và có thể mất vốn do hao mòn vô hình của tài sản cố định gây ra. Mặt khác, mức khấu hao cao hay thấp còn làm thay đổi sổ thuế Thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong năm.
Do đó, cần mở rộng ưu đãi đối với đầu tư mở rộng của Doanh nghiệp vừa và nhỏ bằng cách công nhận quyền khấu hao nhanh của các doanh nghiệp đang đầu tư xây dựng dây chuyền sản xuất mới, mở rộng quy mô, đổi mới công nghê… đối với tài sản cố định đầu tư theo quy định của chính phủ. Ngoài ra các diều khoản ưu đãi này cần phải quy định phương thức trích và giới hạn mức khấu hao nhanh theo mức trích thông thường để tạo cơ sở pháp lý cho các văn bản dưới luật.
Một số giải pháp khác: Khóa luận: Giải pháp tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
- Đơn giản hóa và hoàn thiện hệ thống thuế suất và mã số thuế hàng hóa xuất nhập khẩu.
Hiện nay tổng cục hải quan đã rút ngắn thời gian làm các thủ tục hải quan và áp thuế xuất nhập khẩu. Tuy nhiên sự không nhất quán trong áp mã và tính thuế khiến nhiều doanh nghiệp thiệt hại cả về thời gian, tiền của cũng như ảnh hưởng chung tới hoạt động sản xuất kinh doanh. Do đó, cần xem xét, đẩy nhanh việc sửa đổi, bổ sung nghị định, thông tư hướng dẫn thực hiện Luật Hải quan theo hướng đơn giản hóa thủ tục và quy trình thông quan hàng hóa, công khai danh mục thuế suất, nhập khẩu, tạo điều kiện thuận lợi cho các Doanh nghiệp vừa và nhỏ tự kê khai, áp mã, áp giá.
- Cần mở rộng việc áp dụng mô hình doanh nghiệp tự kê khai thuế
Đẩy mạnh kiểm điểm lại quá trình thí điểm tự kê khai thuế ở thành phố Hồ Chí Minh để nhân rộng ra toàn quốc, cần được kiểm toán hàng năm phù hợp với thông lệ quốc tế, đơn giản hóa yêu cầu về sổ sách kế toán và báo cáo tài chính hàng năm đối với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ phù hợp với thông lệ quốc tế.
Đơn giản hóa chế độ kế toán, chế độ thu thuế phù hợp với trình độ của cán bộ kế toán trong các Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Xóa bỏ mọi đóng góp ngoài thuế của Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong những thời điểm nhất định khi có các thay đổi về thuế cần tổ chức các khóa đào tạo thuế cho các cán bộ kế toán cũng như chủ các Doanh nghiệp vừa và nhỏ để họ nhận thức được bản thân của thuế và tự nguyện nộp thuế. Tránh các hiện tượng cán bộ thuế gây phiền nhiều cho doanh nghiệp.
Xóa bỏ các hình thức thuế khoán hoặc khoán định mức thuế cho các cán bộ thu thuế vì đây là hình thức khiến các cán bộ thuế dễ dàng áp dụng các định mức thuế cho doanh nghiệp và tăng khả năng trốn thuế.
Đối với công tác triển khai thực hiện các chính sách, Chính phủ hay nói cách khác Tổng cục thuế cần chỉ đạo các cơ quan thuế địa phương định kỳ thực hiện việc đối thoại với các doanh nghiệp theo quy chế bộ tài chính đã ban hành để kịp thời phát hiện những vướng mắc trong quá trình thực hiện các luật thuế, trong đó có vấn đề hoàn thuế Giá trị gia tăng để giải quyết kịp thời cho doanh nghiệp. Tổng cục thuế cũng cần sớm ban hành quy định bồi thường thiệt hại (trả lãi) cho doanh nghiệp trong trường hợp đó là lỗi chủ quan của cơ quan thuế trong việc chậm giải quyết. Khóa luận: Giải pháp tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
Cần đẩy mạnh công tác dịch vụ hỗ trợ Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc nộp thuế, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ quản lý thuế, đổi mới tổ chức bộ máy và cán bộ, xây dựng phong cách văn hóa mới cho cán bộ thuế với mục tiêu cơ quan thuế và cán bộ thuế là bạn đồng hành của doanh nghiệp.
Trong bối cảnh số lượng các Doanh nghiệp vừa và nhỏ đang tăng nhanh, qua công tác quản lý thuế cho thấy, so với các doanh nghiệp lớn thì trình độ am hiểu pháp luật của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ còn thấp, tình trạng trốn thuế, lậu thuế còn diễn ra rất nhiều, ảnh hưởng xấu đến môi trường kinh doanh. Do đó, cũng cần chấn chỉnh lại công tác đăng ký thành lập doanh nghiệp và quản lý doanh nghiệp sau thành lập.
Cuối cùng, Chính phủ cần khuyến khích phát triển các dịch vụ tư vấn thuế, kế toán thuế cung cấp dịch vụ về thuế, về hạch kế toán để giúp các Doanh nghiệp vừa và nhỏ hiểu rõ chính sách thuế, làm tốt công tác kế toán. Mở rộng dịch vụ hỗ trợ miễn phí cho đối tượng nộp thuế để hướng dẫn đối tượng nộp thuế thực hiện tốt công tác kế toán, quản lý hóa đơn, chứng từ.
2. Giải pháp nhằm nâng cao tác động của chính sách tín dụng Khóa luận: Giải pháp tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
2.1. Về phía chính phủ
Để nâng cao hiệu quả của chính sách tín dụng cho Doanh nghiệp vừa và nhỏ và thực sự khuyến khích Doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Chính phủ có thể xem xét một số giải pháp sau:
- Thứ nhất, Hoàn thiện môi trường, các định chế tài chính
Ngày nay, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được thể hiện rất rõ qua khả năng huy động, thu hút đồng tiền thông qua các kênh tài chính chính thức vì với vốn lớn các kênh này có thể đáp ứng đủ nhu cầu cho doanh nghiệp với mức chi phí vốn hợp lý, độ rủi ro thấp. Do đó, việc hoàn thiện các thể chế tài chính chính thức của một quốc gia không chỉ là tiêu chí đánh giá trình độ phát triển của nền kinh tế thị trường hiện đại, không chỉ phản ánh năng lực cạnh tranh của quốc gia đó mà còn góp phần quan trọng vào nâng cao năng lực cạnh tranh và doanh nghiệp
Nhà nước cần xây dựng và phát triển những cơ sở pháp lý, tài chính và xã hội cho sự hoạt động của các định chế tài chính, tạo niềm tin cho các hoạt động đầu tư, cho vay và bảo lãnh. Đơn giản hóa hệ thống báo cáo tài chính của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ, giúp hoạt động kế toán của doanh nghiệp dễ dàng hơn, và các yêu cầu về báo cáo tài chính của Ngân hàng từ đó cũng giảm đi sự phức tạp – một trở ngại trong tiếp cận nguồn vốn ngân hàng được giảm thiểu.
Việt Nam cũng nên thúc đẩy môi trường tín dụng xã hội và thành lập hệ thống đánh giá hệ số tín dụng Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Việt Nam hiện nay đang duy trì ở giai đoạn đầu của nền kinh tế thị trường. Thiếu hệ thống tín dụng xã hội và cơ cấu chứng thực xã hội toàn diện. Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế dựa vào tín dụng và tín dụng xã hội là một loại tài sản vô hình mà các doanh nghiệp sử dụng để lấy các khoản vay ngân hàng phục vụ cho sự phát triển bền vững của nó. Do đó, các doanh nghiệp nên nâng cao nhận thức về tín dụng của họ và thành lập mối quan hệ tín dụng tốt với ngân hàng, như là việc thanh toán khoản vay đúng hạn, để tạo ra sự tôn trọng giữa 2 bên. Để đạt được điều đó, chúng ta cần đẩy mạnh việc thành lập hệ thống đánh giá tín dụng thương mại Doanh nghiệp vừa và nhỏ và hệ thống tín dụng tài chính cá nhân. Sự thu thập và chia sẻ thông tin về tín dụng nên được đẩy mạnh để cung cấp sự hỗ trợ tín dụng cho các khoản cho Doanh nghiệp vừa và nhỏ và các dự án mạo hiểm cá nhân. Khóa luận: Giải pháp tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
Nhà nước nên sớm ban hành những quy định về cho phép thành lập Trung tâm thông tin tín dụng tư nhân. Trung tâm thông tin tín dụng tư nhân sẽ cung cấp thông tin của doanh nghiệp xin vay vốn đặc biệt là các Doanh nghiệp vừa và nhỏ cho ngân hàng khi ngân hàng có yêu cầu. Việc cung cấp thông tin của trung tâm thông tin tín dụng sẽ nhanh, hiệu quả hơn và có thể sẽ làm giảm bớt rào cản về thế chấp, cầm cố, vì ngân hàng cho vay có thể theo dõi được lịch sử thanh toán và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đi vay thường xuyên hơn. Như vậy, Trung tâm tín dụng sẽ làm tăng dung lượng cho vay đặc biệt là cho vay tín chấp và gián tiếp giúp bên đi vay (DNVVN) tiếp cận tín dụng dễ dàng hơn.
- Thứ hai, đẩy mạnh việc thành lập, tổ chức hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng
Mô hình của một số nước cho thấy sự hỗ trợ về tài chính là cần thiết đối với DNVVN. Đa phần cách thức của họ là thông qua hoạt động bảo lãnh tín dụng, giúp doanh nghiệp tiếp cận vốn dễ dàng, cho doanh nghiệp vay với lãi suất ưu đãi hoặc lãi suất thông thường. Nhìn chung xu thế hiện nay là các quốc gia hạn chế cấp tín dụng trực tiếp. Thực tế hoμn cảnh và điều kiện của Việt Nam rất thích hợp với việc áp dụng phương thức bảo lãnh tín dụng cho Doanh nghiệp vừa và nhỏ khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO. Phương thức bảo lãnh tín dụng là một xu thế của thời đại hội nhập kinh tế quốc tế, phù hợp với thông lệ của WTO. Mô hình Quỹ bảo lãnh tín dụng đảm bảo cho doanh nghiệp có thể tiếp cận nguồn vốn mà không cần tài sản thế chấp. Đây được coi là cầu nối giữa ngân hàng – người có vốn và doanh nghiệp – người cần vốn. Các ngân hàng là những đơn vị hoạt động vì lợi nhuận, mục tiêu của họ khi cho vay là phải đảm bảo thu hồi được khoản vay cộng thêm khoản lãi phát sinh. Chính vì vậy, các Doanh nghiệp vừa và nhỏ thường gặp khó khăn trong việc vay vốn ngân hàng vì không phải doanh nghiệp nào cũng có thể đảm bảo được khả năng thanh toán. Quỹ bảo lãnh tín dụng ra đời sẽ giúp doanh nghiệp vay vốn dễ dàng hơn đồng thời Quỹ này cũng sẽ đứng ra thanh toán khoản vay ngân hàng của doanh nghiệp khi doanh nghiệp không có khả năng thanh toán.
Quỹ bảo lãnh tín dụng sẽ là phương án hữu hiệu nhất thay thế cho những chương trình tín dụng ưu đãi mà Nhà nước cấp cho đối tượng là Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Những chương trình tín dụng ưu đãi đang tạo ra sự bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong nước và trong cùng ngành nghề. Với lãi suất ưu đãi hơn so với lãi suất thị trường thì tỷ suất lợi nhuận của các doanh nghiệp nhận tín dụng ưu đãi sẽ cao hơn so với doanh nghiệp không nhận ưu đãi. Như vậy đây không phải là kết quả của những nỗ lực cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh mà là do các doanh nghiệp có được lợi thế từ việc được cấp tín dụng ưu đãi. Hơn thế nữa, những doanh nghiệp được nhận tín dụng ưu đãi này sẽ gặp khó khăn trong việc gia nhập thị trường các nước khác khi quy định của WTO là không ưu đãi về tài chính. Khóa luận: Giải pháp tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
Mặc dù đã có quyết định số 115/2021/QĐ-TTg ngày 25/6/2021 về việc sửa đổi, bổ sung quy chế thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho Doanh nghiệp vừa và nhỏ, cho tới nay việc thành lập và triển khai những hoạt động của Quỹ vẫn chưa đạt hiệu quả. Cần phải nhìn nhận những khó khăn từ việc thành lập Quỹ để đưa ra những giải pháp cần thiết nhằm thúc đẩy hơn nữa hiệu quả hoạt động của Quỹ. Trước tiên, khó khăn lớn nhất là nguồn vốn thành lập Quỹ. Vốn hoạt động của Quỹ bảo lãnh được hình thành từ các nguồn vốn cấp của ngân sách tỉnh, thành phố; vốn góp của các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp và các hiệp hội ngành nghề, các tổ chức đại diện và hỗ trợ các Doanh nghiệp vừa và nhỏ; vốn tài trợ hợp pháp của các tổ chức và cá nhân, vốn bổ sung từ kết quả hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng. Trên thực tế vốn từ ngân sách rất hạn chế, nên quy mô vốn của quỹ phải dựa vμo vốn góp của các đối tượng khác. Các đối tượng góp vốn khác lại có tâm lý e ngại khi chưa có quy định về việc rút vốn, chuyển nhượng vốn góp của các tổ chức, cá nhân sau khi tham gia góp vốn vào Quỹ bảo lãnh. Như vậy, Nhà nước cần có những quy định chi tiết, cụ thể hơn để đảm bảo quyền lợi của những cá nhân, tổ chức góp vốn. Việc quy định muốn thành lập quỹ phải có tối thiểu là 30 tỷ đồng đã gây khó khăn cho một số tỉnh tỏng việc thành lập quỹ vì không kiếm đâu ra đủ tiền. Do vậy, Nhà nước nên có những quy định mở hơn tùy thuộc vào điều kiện của từng tỉnh mà có thể cho phép thành lập quỹ với mức vốn thấp hơn 30 tỷ. Về tỷ lệ đóng góp vào quỹ nên bắt buộc các đơn vị phải thực hiện, tổ chức giới thiệu quỹ này cho các doanh nghiệp biết, và đặc biệt là nên thành lập website riêng nêu rõ các chính sách, điều kiện để được bảo lãnh, hỗ trợ và có liên kết đến các tỉnh thành đã thành lập quỹ.
Nên có quy định cho phép Doanh nghiệp vừa và nhỏ đăng ký vay vốn trước đối với quỹ bảo lãnh tín dụng, căn cứ vào đơn xin phép, tình hình hoạt động cũng như tài sản thế chấp, cầm cố để cấp cho doanh nghiệp một hạn mức tín dụng. Khi doanh nghiệp có nhu cầu thì sẽ tiến hành thủ tục cho vay, điều này sẽ làm giảm thời gian xin vay của doanh nghiệp, đáp ứng được nhu cầu vốn nhanh và kịp thời cho doanh nghiệp. Khóa luận: Giải pháp tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
Đồng thời cũng nên quy định chi tiết về việc điều hành, quản lý cũng như vấn đề kiểm tra và giám sát nội dung hoạt động để tăng cường hiệu quả của Quỹ bảo lãnh tín dụng. Chính quyền địa phương cũng phải quan tâm, tiến hành khảo sát thực tế, và đưa ra biện pháp chỉ đạo tích cực hơn để nhiều quỹ đi vào hoạt động trong thời gian tới. Quỹ bảo lãnh tín dụng hoạt động đúng hướng, đúng đối tượng sẽ đạt hiệu quả cao, góp phần giải quyết những khó khăn về vốn cho Doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Thứ ba, tăng cường hợp tác với các tổ chức tài chính nước ngoài
Đây là biện pháp cần thiết và quan trọng trong khi nguồn lực về vốn của Việt Nam hạn chế và nhu cầu về vốn của Doanh nghiệp vừa và nhỏ lại cao, Nhà nước không thể đáp ứng được hết cho đông đảo doanh nghiệp. Hơn thế nữa, đây cũng là xu thế tất yếu trong quá trình hội nhập. Trong quá trình hội nhập nền kinh tế quốc tế, các Doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ tham gia tích cực hơn vào hoạt động xuất nhập khẩu, điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải có đủ tiềm lực tài chính. Chính vì vậy, mở rộng hợp tác với các tổ chức tín dụng nước ngoài là một hướng đi đúng đắn. Có hai hình thức chủ yếu để thu hút nguồn vốn của các tổ chức nước ngoài.
Cách thứ nhất, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng nước ngoài thành lập tại Việt Nam. Các tổ chức này sẽ trực tiếp thực hiện hoạt động bảo lãnh tín dụng cho các Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tuy nhiên cách thức này khá phức tạp vì phải đòi hỏi sự đảm bảo từ chính quyền địa phương. Ngoài ra, còn tồn tại sự khác biệt về cách đánh giá dự án, về thị trường giữa các tổ chức này và doanh nghiệp. Điều này sẽ dẫn đến việc doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn.
Cách thứ hai thông qua sự hợp tác giữa các tổ chức tín dụng nước ngoài với các ngân hàng của Việt Nam. Các tổ chức sẽ là người cấp vốn. Các ngân hàng sẽ đảm nhiệm hoạt động bảo lãnh tín dụng, quản lý quỹ bảo lãnh, trực tiếp thẩm định quyết định cấp bảo lãnh cho khách hàng. Hình thức này sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp để tìm hiểu và tiếp cận nguồn vốn dễ dàng hơn. Khóa luận: Giải pháp tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
- Thứ tư, cần phải đổi mới, nới lỏng điều kiện cho vay
Điều chỉnh chính sách về tài sản thế chấp đối với các khoản vay. Hiện nay phần lớn các DNNVV khó tiếp cận với hệ thống ngân hàng vì không có tài sản thế chấp có giá trị. Hơn nữa yêu cầu về tài sản thế chấp thường quá cao, các ngân hàng cũng thường chấp nhận thế chấp bằng giá trị quyền sử dụng đất. Gần đây các ngân hàng đã áp dụng cho doanh nghiệp dùng các tài sản được hình thành từ các khoản vay để làm tài sản thế chấp hoặc dùng hàng hóa để thế chấp. Tuy nhiên nhiều doanh nghiệp vẫn không thể đáp ứng được các yêu cầu của ngân hàng về tài sản thế chấp. Trong những trường hợp nhất định, ngân hàng có thể đánh giá tiềm năng và giá trị các dự án kinh doanh tốt để cho vay và cùng với doanh nghiệp giám sát việc thực hiện kế hoạch kinh doanh đó nhằm giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh. Lúc đó ngân hàng sẽ coi bản kế hoạch kinh doanh tốt đó như một tài sản thế chấp có giá trị thay thế các tài sản khác.
Đơn giản hóa thủ tục để các Doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặt biệt là các doanh nghiệp siêu nhỏ có thể tiếp cận vốn vay một cách nhanh chóng kịp thời triển khai các phương án hoạt động sản xuất kinh doanh. Cải tiến để đơn giản hơn nữa thủ tục cho vay vốn, với số lượng tiền cho vay và thời hạn cho vay phù hợp với yêu cầu sản xuất kinh doanh của từng ngành nghề. Nhà nước cần phải xây dựng một mẫu hồ sơ chung về thẩm định dự án đầu tư để tạo cơ sở cho ngân hàng đưa ra quyết định cho vay đối với doanh nghiệp được thống nhất và thuận tiện hơn. Theo đó, doanh nghiệp sẽ hiểu và nắm rõ quy trình để được tiếp cận vốn. Mở rộng các hình thức cho vay trung và dài hạn. Mặt khác, cần tăng cường các dịch vụ thanh toán, bảo lãnh, tư vấn cho Doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Chính phủ cần mở rộng đối tượng doanh nghiệp cho vay tín chấp. Việc mở rộng đối tượng cho vay tín chấp sẽ làm tăng lượng khách hàng cho ngân hàng, do đó cũng làm tăng lợi nhuận cho ngân hàng. Chẳng hạn chính phủ có thể quy định một Doanh nghiệp vừa và nhỏ được xét cho vay tín chấp cần phải có các điều kiện sau đây:
- Doanh nghiệp đó phải có thời gian hoạt động ít nhất là 5 năm.
- Phải có lãi trong ít nhất là 3 năm gần nhất và lãi phải tăng dần ít nhất 25% mỗi năm. Ngân hàng căn cứ vào chứng từ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp để xác định lãi hàng năm của doanh nghiệp và có đối chiếu với tình hình tài chính trong doanh nghiệp. Khóa luận: Giải pháp tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
- Qui mô hoạt động của doanh nghiệp ngày càng tăng (số lượng nhân viên, thị phần kinh doanh)
- Thành phần ban lãnh đạo có năng lực quản lý, có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp và đội ngũ nhân viên phải được đào tạo bài bản chuyên nghiệp.
- Tình hình tài chính tốt, hệ thống sổ sách kế toán phải rõ ràng minh bạch, tuân thủ các chuẩn mực kế toán hiện hành.
- Ngành nghề kinh doanh rộng nhưng phải có một ngành chủ lực, ít rủi ro.
- Phải có tài khoản thanh toán tại Ngân hàng xin vay và không có tài khoản thanh toàn nào ở ngân hàng khác.
- Tất cả các hoạt động liên quan đến các dịch vụ Ngân hàng phải thực hiện tại ngân hàng xin vay và việc trả lương nhân viên cũng phải thanh toán qua ngân hàng.
- Phải có dự án sản xuất kinh doanh khả thi và doanh nghiệp xin vay vốn bằng hình thức tín chấp phải đối chấp với ban tín dụng của Ngân hàng trước khi khoản vay được giải ngân. Việc đối chấp này sẽ giúp cho Ngân hàng đánh giá được chính xác hơn về doanh nghiệp xin vay vốn.
Thứ năm đẩy mạnh hình thức tín dụng thuê mua tμi chính
Đây cũng được coi là giải pháp hữu hiệu giúp các Doanh nghiệp vừa và nhỏ khắc phục khó khăn về vốn để đầu tư đổi mới công nghệ mở rộng hoạt động kinh doanh. Mặc dù Nhà nước đã ban hành Thông tư số 07/2023/TTNHNN hướng dẫn về hoạt động mua và cho thuê lại theo hình thức cho thuê tài chính theo quy định tại Nghị định số 16/2018/NĐ-CP ngày 2/5/01 và Nghị định số 65/05/NĐ-CP ngày 19/5/05 của Chính phủ, nhưng hoạt động cho thuê mua tài chính vẫn chưa phổ biến ở Việt Nam trong khi đây là hình thức giúp doanh nghiệp có thể tiếp cận được những dây chuyền sản xuất hiện đại, từ đó nâng cao giá trị sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Trước hết, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền tới khối Doanh nghiệp vừa và nhỏ để họ có thể hiểu và nắm rõ hình thức mới mẻ này. Song song bên cạnh đó, cần hướng dẫn những quy chế, cách thức để doanh nghiệp có thể tiếp cận được. Phân tích những lợi ích mà doanh nghiệp có được từ hoạt động thuê mua tài chính cũng là cách khuyến khích doanh nghiệp lựa chọn hình thức này thay vì vay vốn từ ngân hàng hay các tổ chức tài chính tín dụng trong và ngoài nước với những thủ tục phức tạp để mua sắm trang thiết bị sản xuất. Khóa luận: Giải pháp tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
Hoạt động thuê mua tài chính không phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam một phần cũng xuất phát từ quy mô vốn của các công ty cho thuê tài chính. Vốn góp của các công ty này quá nhỏ hoặc không đủ đảm bảo để hoạt động. Chính vì vây, Nhà nước một lần nữa nên quy định cụ thể và chi tiết về việc đảm bảo lợi ích cho các đối tượng góp vốn vào các công ty tài chính này để quy mô của các công ty này lớn mạnh hơn, nhằm đáp ứng được nhiều hơn nhu cầu của doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Chính phủ cần từng bước sửa đổi, bổ sung các quy định về hoạt động liên quan đến dịch vụ cho thuê tài chính trong Luật các tổ chức tín dụng và các văn bản hướng dẫn thi hành. Chẳng hạn theo quy định tại nghị định số 16/2018/NĐ-CP đối tượng tài sản để cho thuê tài chính chỉ là các động sản, đây là một trong những bất cập cần được sửa đổi.
Miễn thuế nhập khẩu đối với tài sản cho thuê cũng là một biện pháp khuyến khích hoạt động thuê mua tài chính hoạt động có hiệu quả hơn. Công nghệ luôn thay đổi từng ngày từng giờ và không phải bất kỳ một tổ chức cho thuê tài chính nào cũng đủ tiềm lực để nhập khẩu những máy móc thiết bị hiện đại với chi phí cao, từ đó tiến hành cho thuê lại cho các đối tượng là doanh nghiệp. Như vậy, thông qua miễn thuế nhập khẩu, Nhà nước cũng có thể hỗ trợ một phần kinh phí để giúp doanh nghiệp mở rộng hoạt động kinh doanh.
Giá cho thuê tài chính hiện nay còn khá cao, các công ty cho thuê tài chính nên cố gắng giảm các loại chi phi đầu vào nhằm hạ giá thành dịch vụ để thu hút khách hàng. Khóa luận: Giải pháp tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
- Cuối cùng là giải pháp thị trường hóa các khoản nợ
Hiện nay các Doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm dụng vốn lẫn nhau rất nhiều khiến cho nhiều doanh nghiệp rơi vào tình trạng thiếu vốn giả tạo. Nhiều khi ngân hàng thương mại cũng phải đeo đẳng các khoản nợ đã cho vay mà không có cách gì thu hồi trước ngày đáo hạn hoặc đã quá hạn. Vì thế, nhiều nhà kinh tế đã cho rằng trong nền kinh tế Việt Nam, tín dụng danh nghĩa là ngắn hạn nhưng thực tế nợ phát sinh kéo dài gần như dài hạn và trung hạn. Việc thị trường hóa các khoản nợ thực chất sẽ giúp cho các Doanh nghiệp vừa và nhỏ thoát khỏi tình trạng thiếu vốn do bị chiếm dụng. Thương phiếu sẽ được dùng để ghi giá trị các khoản nợ và đã được coi là một công cụ tín dụng thương mại có tác dụng làm lưu động hóa các khoản nợ ở nhiều nước trên thế giới. Hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn xa lạ với thương phiếu và chưa có thói quen sử dụng nó như một công cụ thanh toán và vay nó trong các hoạt động kinh doanh của mình.
Thương phiếu thường bao gồm hối phiếu do chủ nợ ký phát và con nợ ký chấp nhận thanh toán và lệnh phiếu do con nợ ký phát. Thương phiếu có tác dụng như một bằng chứng pháp lý về quan hệ tín dụng giữa các pháp nhân. Bên cạnh đó nó còn được coi như một công cụ thanh toán trong các hoạt động mua bán hàng trả chậm và là công cụ tín dụng thương mại. Với tờ thương phiếu, khi chủ nợ cần thu hồi vốn trước ngày đáo hạn họ có thể bán món nợ này cho ngân hàng thương mại dưới hình thức chiết khấu. Khi ngân hàng thương mại thiếu hụt vốn có thể bán lại món nợ này cho ngân hàng trung ương dưới hình thức tái chiết khấu. Nhờ đó mà thương phiếu sẽ giúp được các doanh nghiệp cũng như ngân hàng thương mại thoát khỏi tình trạng thiếu hụt vốn thường xuyên trong kinh doanh và giúp cho nhiều Doanh nghiệp vừa và nhỏ thoát khỏi tình trạng khó khăn về tài chính. Luật Thương mại Việt Nam đã ban hành chế định về thương phiếu nhưng đến nay vẫn chưa được phát huy hết chức năng của thương phiếu bởi vì vẫn thiếu một thị trường mua bán nợ. Ngày nay thị trường mua bán nợ trên thế giới đã bắt đầu phát triển mạnh mẽ và kể cả các món nợ cũng được đem ra đấu thầu và đấu giá mua bán trên thị trường này. Nhà nước đã ban hành qui định về mua bán nợ của các tổ chức tín dụng nhưng cần sớm phát triển thị trường này bên cạnh thị trường chứng khoán để tăng chất lượng tín dụng trong toàn bộ nền kinh tế.
Bên cạnh thương phiếu thì việc lưu động hóa các khoản nợ còn có thể thực hiện qua công cụ như tín dụng L/C. Hiện nay các ngân hàng thương mại và doanh nghiệp chỉ sử dụng hình thức này khi tiến hành các giao dịch mua bán hàng hóa xuất nhập khẩu. Về mặt tính chất và ưu điểm thì L/C có thể áp dụng cho các giao dịch mua bán hàng hóa trong nước với các thủ tục đơn giản hơn. Vì vậy, Chính phủ và các cơ quan chức năng nên nghiên cứu áp dụng phương thức này cho các hoạt động thương mại trong nước. Khóa luận: Giải pháp tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
2.2. Về phía các Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Để thực hiện được các mục tiêu của các chính sách tài chính, tín dụng của Chính phủ một cách có hiệu quả trong việc khuyến khích và định hướng phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ thì cũng cần có sự hợp tác và cố gắng rất lớn từ phía bản thân các Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Cụ thể, các Doanh nghiệp vừa và nhỏ cần:
- Cần nâng cao uy tín với ngân hàng và các tổ chức tín dụng
Cần lập báo cáo tài chính rõ ràng, đủ độ tin cậy; loại bỏ báo cáo tài chính mang tính chất đối phó với cơ quan thuế, báo cáo chính thức thường thấp hơn tình trạng thực tế, không đảm bảo điều kiện vay vốn ngân hàng. Nâng cao năng lực, trình độ của cán bộ kế toán; loại bỏ các số liệu phản ánh không chính xác tình hình sản xuất kinh doanh và tài chính, đồng thời cố gắng giảm tỷ lệ vay quá hạn.
Hệ thống báo cáo, ghi chép và theo dõi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phải đầy đủ, rõ ràng. Từ đó, ngân hàng có cơ sở đánh giá quyết định cho vay.
- Chủ động tìm kiếm các kênh huy động vốn khác ngoài ngân hàng
Liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp khác. Doanh nghiệp có thể liên doanh, liên kết với doanh nghiệp trong nước hoặc doanh nghiệp nước ngoài. Hình thức này có ưu điểm là các doanh nghiệp tham gia liên doanh, liên kết sẽ cùng nhau chia sẻ rủi ro trong trường hợp công việc kinh doanh không thuận lợi; đồng thời liên kết, liên doanh sẽ tạo được sức mạnh tổng hợp, nâng cao vị thế doanh nghiệp trên thị trường.
Khai thác tín dụng thuê mua. Đây là giải pháp hữu hiệu giúp doanh nghiệp khắc phục khó khăn về vốn để đầu tư đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh. Tín dụng thuê mua là loại tín dụng trung gian dài hạn, người có nhu cầu vay vốn không nhận tiền để mua sắm thiết bị mà nhận trực tiếp tài sản hợp với nhu cầu sử dụng. Người đi thuê sẽ thanh toán bằng tiền thiết bị đó theo phương thức trả dần và sau một thời gian sử dụng nhất định có thể mua lại chính tài sản đó.
Tham gia vào thị trường chứng khoán. Khi tham gia vào thị trường chứng khoán, cơ hội cho các doanh nghiệp tiếp cận các nguồn tài chính là rất lớn. Tuy nhiên, để có thể huy động được vốn từ thị trường chứng khoán, doanh nghiệp phải thực sự hoạt động có hiệu quả và có tiềm năng tăng trưởng mạnh.
KẾT LUẬN Khóa luận: Giải pháp tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
Trong giai đoạn hiện nay, doanh nghiệp vừa và nhỏ được nhìn nhận như là động lực tăng trưởng kinh tế quan trọng của Việt Nam, có ảnh hưởng to lớn đến việc thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội của đất nước. Tuy nhiên, trong quá trình ra đời và phát triển, các doanh nghiệp này phải chịu rất nhiều thiệt thòi như tiềm lực vốn hạn chế, quy mô nhỏ bé, công nghệ lạc hậu, khó tiếp cận với các nguồn tín dụng đặc biệt là trung và dài hạn. Chính vì vậy, việc sử dụng có hiệu quả các công cụ của chính sách tài chính, tiền tệ của Chính phủ mà cụ thể ở đây là chính sách thuế và tín dụng để khuyến khích và định hướng phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ có ý nghĩa rất lớn đối với việc thúc đẩy các doanh nghiệp này phát triển trong quá trình nước ta đang tham gia ngày càng sâu rộng vào quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu.
Trong khuôn khổ của khóa luận, tác giả đã hệ thống hóa, phân tích và đánh giá tình hình phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ và thực trạng sử dụng các công cụ chủ yếu của chính sách tài chính, tiền tệ của Chính phủ trong việc khuyến khích và định hướng phát triển loại hình doanh nghiệp này ở nước ta hiện nay, đồng thời cũng hệ thống hóa kinh nghiệm của các nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam; từ đó tác giả cũng đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao tác động tích cực của các chính sách đó đối với sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta trong giai đoạn sắp tới.
Tuy nhiên, từ lý luận đến thực tiễn là cả một hành trình dài và không dễ dàng, để có một hệ thống cơ chế và chính sách hợp lý cần có sự tác động từ hai phía doanh nghiệp và Chính phủ. Trong đó bản thân doanh nghiệp vừa và nhỏ chính là nhân tố quyết định đến sự phát triển của doanh nghiệp đó. Do đó, các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải thường xuyên trau dồi kiến thức, chủ động trong việc hội nhập và tìm kiếm các cơ hội phát triển, huy động vốn thông qua các con đường khác nhau. Có như vậy các doanh nghiệp vừa và nhỏ mới có thể tăng trưởng bền vững trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, góp phần tích cực và sự phát triển kinh tế đất nước. Khóa luận: Giải pháp tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Chính sách tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN
