Chia sẻ chuyên mục Đề tài Chuyên đề: Giải pháp Marketing thẻ của ngân hàng ngoài quốc hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm Chuyên đề tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Chuyên đề tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Chuyên đề: Giải pháp nâng cao hoạt động Marketing thẻ của ngân hàng ngoài quốc doanh Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
I: XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG THẺ VIỆT NAM
Việc hình thành liên minh thẻ giữa các ngân hàng : Đây là xu hướng tất yếu cho sự phát triển của thị trường thẻ Việt Nam. Viêc liên kết giữa các ngân hàng không chỉ giới hạn trong liên minh thẻ mà mở rộng ra ngoài liên minh. Việc liên kết này là hoàn toàn có lơị cho các ngân hàng quy mô nhỏ. Thông qua việc liên kết, các ngân hàng có thể hỗ trợ lẫn nhau về mặt công nghệ và cơ sở hạ tầng phục vụ cho hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng. Đồng thời sự liên kết này cũng tạo thuận lợi cho khách hàng khi tham gia giao dịch với ngân hàng.
Ngoài ra các ngân hàng còn thực hiện việc liên minh thương hiệu trong lĩnh vực thẻ như hiện nay đã có liên minh thương hiệu ACB-Vera. Đông A-Mai Linh, hay Amex Bông sen vàng giữa Vietcombank và Việt Nam Airline [21]
Nâng cao tiện ích và độ an toàn cho thẻ : Các ngân hàng sẽ tiến tới sử dụng thẻ Chip điện tử thay thế thẻ từ để giảm thiểu đến mức thấp nhất các hành vi gian lận về thẻ cũng như hạn chế tối đa hiện tượng làm thẻ giả. Hiện nay, một số các ngân hàng Việt Nam đang gấp rút xây dựng và thực hiện đề án chuyển đổi trên. Ngoài ra, vì phần lớn các sản phẩm thẻ trên thị trường hiện nay chỉ đáp ứng được những tiện ích cơ bản như rút tiền, chuyển khoản…vì vậy trong tương lai, các tiện ích khác sẽ được bổ sung nhằm phục vụ nhu cầu ngày càng gia tăng của khách hàng như thanh toán hoá đơn, các tiện ích mua thẻ trả trước hay các dịch vụ cộng thêm. Khóa luận: Giải pháp Marketing thẻ của ngân hàng ngoài quốc.
Nghiên cứu ứng dụng công nghệ hiện đại trong dịch vụ thẻ : Các ngân hàng sẽ tiến tới lắp đặt và ứng dụng các công nghệ thẻ hiện đại của thế giới để phục vụ cho hoạt động kinh doanh thẻ của mình đặc biệt đối với việc quản lý rủi ro thẻ trong bối cảnh hội nhập quốc tế mở rộng. tội phạm thẻ ngày càng gia tăng.[12]
Các ngân hàng cũng sẽ không ngừng đưa ra các chiêu tiếp thị mới để thu hút khách hàng như miễn phí phát hành thẻ, mở thẻ ATM tặng thẻ Internet, mở thẻ ATM tăng tài khoản trong thẻ….Bên cạnh đó việc đăng kí sử dụng thẻ của khách hàng cũng trở nên dễ dàng hơn. Ngoài việc đến mở tài khoản trực tiếp ở ngân hàng, khách hàng có thể đăng kí sử dụng thẻ ngân hàng thông qua Internet, các bưu cục, triển lãm hội chợ hoặc các siêu thị lớn.
Đầu tư nhiều hơn nữa để mở rộng các điểm chấp nhận thanh toán thẻ và mở rộng mạng lưới ATM : Việc đầu tư cho mở rộng mạng lưới chấp nhận thanh toán thẻ và mạng lưới ATM là điều kiện tiên quyết để phát triển số lượng thẻ phát hành và theo đó là nghiệp vụ ngân hàng bán lẻ. Hiện nay số lượng điểm chập nhận thanh toán thẻ vẫn còn ít và chưa tương xứng với qui mô thị trường, và số lượng máy ATM còn quá ít cản trở sự phát triển của dịch vụ thẻ ngân hàng.
Mặt khác trong tương lai gần, máy ATM có thể đổi nhiều ngoại tệ khác nhau sẽ được ứng dụng, nhờ đó khách hàng có thể tiết kiệm được thời gian và những phiền toái khi phải tới giao dịch với ngân hàng như hiện nay.
II: NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG MARKETING THẺ CỦA NGÂN HÀNG NGOÀI QUỐC DOANH VIỆT NAM
Qua việc tìm hiểu hoạt động Marketing thẻ của Ngân hàng Quốc Tế Việt Nam, cũng như dựa trên những phân tích đánh giá về khó khăn, thuận lơi đối với các ngân hàng ngoài quốc doanh trong việc phát triển dịch vụ thẻ đổng thời qua việc khái quát xu hướng phát triển của thị trường thẻ Việt Nam, để ứng dụng và đẩy mạnh hoạt động Marketing thẻ các ngân hàng cần phải có những giải pháp sau :
1. Giải pháp trong nội bộ ngân hàng Khóa luận: Giải pháp Marketing thẻ của ngân hàng ngoài quốc.
Nghiên cứu thị trường sâu sắc và toàn diện hơn
- Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh
Ngân hàng cần tập trung phân tích những ưu thế của các ngân hàng đang tham gia phát hành và thanh toán thẻ trên thị trường đồng thời quan tâm đến xu hướng hình thành những đối thủ cạnh tranh mới đó là các NHTM trong nước, nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam, đặc biệt là các ngân hàng có kinh nghiệm trong kinh doanh dịch vụ thẻ như ANZ, UOB. Bên cạnh đó cũng nên nghiên cứu phương thức hoạt động của đối thủ cạnh tranh, tranh thủ xem xét, tìm tòi, sáng tạo cho phù hợp với hướng đi của mình.
Vậy vấn đề ở đây là cạnh tranh để nâng cao sự tồn tại và phát triển. Bởi giữa các ngân hàng ngoài sự cạnh tranh còn cần phải biết liên kết hợp lý trong môi trường cạnh tranh lành mạnh thì nghiệp vụ thẻ sẽ ổn định hơn, hiệu quả công tác cao hơn và việc xã hội hoá việc sử dụng thẻ sẽ nhanh trở thành hiện thực hơn. Bằng cách: học hỏi lẫn nhau, hợp tác trong nghiệp vụ. thông tin cho nhau những biến đổi, những rủi ro nhằm nâng cao hoạt động kinh doanh thẻ.
- Nghiên cứu đơn vị chấp nhận thẻ
Để nghiên cứu ĐVCNT, NHTM cần nghiên cứu từ góc độ kinh doanh, góc độ tâm lý và từ các yếu tố khác có ảnh hưởng tới các quyết định ký hợp đồng của các đơn vị này. Dưới góc độ kinh doanh, cần phải tạo điều kiện thuận lợi cho họ trong việc thu phí cho phù hợp, để từ đó họ thấy được lợi nhuận và kinh doanh tốt. Dưới góc độ tâm lý, phải nhấn mạnh vị thế và sự đầu tư trong công tác phát hành và thanh toán thẻ để tạo sự tin tưởng, yên tâm cho các ĐVCNT.
- Nghiên cứu xu hướng phát triển thẻ tại thị trường Việt Nam
Theo dự báo của tổ chức thẻ quốc tế VisaCard và MASTERCARD, những năm tới doanh số phát hành và thanh toán thẻ sẽ đạt ở mức cao, chủng loại thẻ được phát hành và thanh toán sẽ còn mở rộng hơn nhiều tại Việt Nam. Đến khi đó chủ thẻ có thể mang bất kì một loại thẻ nào được chấp nhận trên thế giới vào Việt Nam thì đều có thể sử dụng được.
Với những xu hướng phát triển hiện nay, trong tương lai không phải chỉ có số ít ngân hàng tham gia vào lĩnh vực thẻ như hiện nay mà trong những năm tới tại Việt Nam sẽ có sự cạnh tranh hết sức gay gắt trên thị trường thẻ giữa các ngân hàng, đặc biệt là với một số lượng khá lớn các ngân hàng nước ngoài. Lúc đó họ sẽ chính thức tham gia vào thị trường thẻ chứ không còn ở mức độ thăm dò như hiện nay. Khóa luận: Giải pháp Marketing thẻ của ngân hàng ngoài quốc.
Rõ ràng rằng, thị trường thẻ ngân hàng ngày càng được mở rộng không ngừng tại Việt Nam. Trong điều kiện đó ngân hàng phải có chiến lược riêng để lôi kéo khách hàng nhằm kích thích phát triển thị trường thẻ tại Việt Nam.
- Ngân hàng cần nâng cao chất lượng phục vụ, đa dạng hoá sản phẩm
Nâng cao chất lượng phục vụ: gồm có nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng như hướng dẫn chu đáo và tin cậy, xây dựng các chính sách ưu đãi, các chương trình khuyến mại đối với các khách hàng sử dụng thẻ của ngân hàng.
- Ngân hàng cũng cần phải quan tâm đến chất lượng dịch vụ thẻ:
Nâng cao giá trị thẩm mỹ của thẻ : đây là một vấn đề khá quan trọng trong việc thu hút khách hàng sử dụng thẻ và việc nâng cao mẫu mã hình thức của thẻ cũng góp phần tao thiện cảm của khách hàng với sản phẩm của ngân hàng. Đồng thời ngân hàng cũng phải hiểu rằng thẻ chính là một phương tiện để quảng bá hình ảnh và thương hiệu của ngân hàng.
Hoàn thiện quy trình nghiệp vụ thanh toán và phát hành thẻ: điều này ảnh hưởng trực tiếp đến nghiệp vụ kinh doanh thẻ của ngân hàng. Các quy trình nghiệp vụ thanh toán và phát hành thẻ nên tuân thủ theo đúng qui trình của các tổ chức thẻ quốc tế để tạo thuận lợi cho quá trình sử dụng thẻ của chủ thẻ trong nước và quốc tế đồng thời giúp ngân hàng tiếp cận tốt hơn các quy trình theo chuẩn mực quốc tế.
Các dịch vụ kèm theo thẻ: với một số lượng lớn các dịch vụ kèm theo, việc sử dụng thẻ để thanh toán sẽ có tác dụng thúc đẩy việc phát hành thẻ được nhiều lên vì khách hàng có tâm lý lựa chọn các sản phẩm thẻ có nhiều dịch vụ hơn. Quan trọng là đối với từng nhóm đối tượng dùng thẻ mà có những dịch vụ kèm theo phù hợp.
Đối với nhóm khách hàng là những người đi làm nên chú trọng vào các dịch vụ hỗ trợ, dịch vụ chăm sóc khách hàng và dịch vụ thông tin khách hàng miễn phí (gửi thư thông báo các chương trình khuyến mãi, thông tin tỷ giá, lãi suất ngân hàng khi có thay đổi), và cũng nên có những chính sách đặc biệt dành cho những người giới thiệu được những khách hàng mới, được ưu tiên khi mua vé máy bay, được bảo hiểm tai nạn khi đi du lịch, thanh toán nợ nần khi bị ốm đau, mất việc làm và dịch vụ pháp lý.
Đối với những khách hàng là sinh viên: ngân hàng cần nhấn mạnh dịch vụ gia tăng của thẻ như số dư trong tài khoản được hưởng lãi suất bậc thang, cơ cấu tiền trên ATM cần phải có thêm các loại tiền có mệnh giá nhở như 000 VNĐ, 20.000 VNĐ.
- Phát triển nhiều sản phẩm mới Khóa luận: Giải pháp Marketing thẻ của ngân hàng ngoài quốc.
Phát triển thẻ ghi nợ Visa Electron và MasterCard Electronic. Đây là hai loại thẻ mới xuất hiện trên thị trường thẻ quốc tế do hai tổ chức Visa và MasterCard phát hành nhưng rất được khách hàng ưa chuộng trên thế giới. Đặc điểm nổi bật của hai loại thẻ này là sử dụng công nghệ băng từ tương tự như các sản phẩm thẻ tín dụng thông thường hiện nay. Tuy nhiên các ngân hàng có thể phát hành thẻ ghi nợ mang thương hiệu Visa Electron và MasterCard Electronic thay vì phải phát hành thẻ ghi nợ bằng công nghệ Chíp trước đây. Việc phát hành thẻ ghi nợ theo công nghệ băng từ cho phép người sử dụng thẻ ghi nợ không chỉ thực hiện giao dịch thẻ tại những địa điểm có trang bị thiết bị đọc thẻ ghi nợ như trước đây mà còn có thể sử dụng thẻ tại các đại điểm thanh toán lắp đặt thẻ tín dụng đang có mặt trên thị trường hiện nay [16]
Phát hành thẻ liên kết với các tổ chức, công ty: xu hướng mới trên thế giới hiện nay là các ngân hàng và các tổ chức công ty cùng tham gia phát hành thẻ tín dụng và ở Việt Nam cũng có một số ngân hàng đã thực hiện liên kết. Điều này dẫn đến một thực tế là các nhà phát hành thẻ tín dụng không chỉ là một nguồn thu nhập mà còn là một công cụ hữu hiệu để duy trì và phát triển mối quan hệ với các khách hàng
Phát triển thanh toán bằng thẻ trên mạng: Số lượng người dân sử dụng Internet ngày càng gia tăng. Khi đó nhu cầu sử dụng Internet thực hiện các giao dịch mua bán giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, doanh nghiệp với cá nhân và cá nhân với cá nhân trên mạng sẽ càng trở nên phổ biến hơn bao giờ hết. Để đáp ứng nhu cầu của người dân, VIB Bank cần nhanh chóng phát triển các dịch vụ thanh toán bằng thẻ trên mạng Internet, theo đó chủ thẻ khi có nhu cầu mua hàng hoá dịch vụ nào đó sẽ truy cập vào mạng để tìm kiếm nơi bán hàng hóa và sẽ thanh toán ngay cho nơi bán hàng bằng cách cung cấp các thông tin liên quan đến thẻ tín dụng của mình
Vì vậy trong thời gian tới, VIBank cũng cần phải nhanh chóng triển khai các hoạt động trên một cách nhanh chóng để dịch vụ thẻ có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong tương lai.
- Tăng cường hoạt động quáng bá Khóa luận: Giải pháp Marketing thẻ của ngân hàng ngoài quốc.
Đây là một biện pháp cực kỳ quan trọng, đặc biệt trong thời điểm thẻ ngân hàng và những tiện ích từ thẻ ngân hàng còn xa lạ với một bộ phận lớn người dân. Giải pháp này được cụ thể hóa như sau:
Đổi mới tư duy về tiếp thị quảng bá hình ảnh thanh toán bằng thẻ tại Việt Nam: ngân hàng phải mạnh dạn quảng cáo sản phẩm dịch vụ thẻ trên các phương tiện thông tin đại chúng để người dân có thể tiếp cận được thông tin tiện ích của việc sử dụng thẻ mang lại. Đối với cán bộ ngân hàng cần phải nhận thức được quảng bá sản phẩm dịch vụ của ngân hàng mình nói chung và sản phẩm dịch vụ thẻ nói riêng là trách nhiệm của bản thân mình, và phải thực hiện mọi nơi , mọi lúc. Ngân hàng phải trang bị kiến thức về thẻ cho tất cả các cán bộ trong ngân hàng.
Hoạt động quảng bá cần phải hoạt động thường xuyên với các hình thức mới lạ hấp dẫn và sáng tạo. Quảng cáo thường xuyên trên diện rộng với quảng cáo theo chiến dịch có chủ đề riêng biệt, gây ấn tượng mạnh cho người dân, trong đó nêu bật được các tiện ích mà phương thức thanh toán thẻ mang lại.
Tham gia một cách thường xuyên và chủ động vào các diễn đàn hội nghị của ngành, hội chợ có liên quan như : hội chợ du lịch, hội chợ du học…là những nơi rất cần thiết cho việc quảng bá sản phẩm, dịch vụ thẻ đến với công chúng có nhu cầu. Ngành ngân hàng nói chung và ngân hàng Quốc Tế Việt Nam nói riêng cũng nên phối hợp với Bộ Giáo Dục và Đào Tạo để tổ chức những buổi nói chuyện về thẻ để cung cấp những kiến thức cơ bản và cần thiết đến sinh viên, học sinh hoạc những vấn đề liên quan đến thẻ vào giảng dạy trong các trường đại học.
- Nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên, đặc biệt là nhân viên phòng thẻ
Chất lượng sản phẩm dịch vụ do chất lượng con người quyết định. Vì vậy muốn phát triển Marketing thẻ cần phải xây dựng chiến lược phát triển con người.
Việc đầu tiên ngân hàng cần phải xây dựng được trung tâm đào tạo cán bộ về cả nghiệp vụ lẫn kỹ thuật để đảm bảo cho việc thanh toán thuận tiện tránh những thiếu sót, ngoài ra cần phải có những nhà hoạch định chính sách chiến lược để tạo những bước tiến đáng kể trong hoạt động thanh toán thẻ. Với việc hoàn thiện đội ngũ cán bộ, phương tiện kỹ thuật, ngân hàng sẽ đủ sức lớn mạnh trong việc hình thành trị trường thanh toán thẻ.
- Tiếp tục duy trì và phát triển cũng như có những đầu tư thích đáng cho trung tâm thẻ
- Phân định rõ chức năng và nhiệm vụ của các cán bộ nghiệp vụ đồng thời rà soát lại việc quản lý, điều chỉnh phối hợp các cán bộ nghiệp vụ Khóa luận: Giải pháp Marketing thẻ của ngân hàng ngoài quốc.
- Có sự đầu tư quan tâm cho tổ chức và nhân sự về thẻ tại một số chi nhánh lớn
- Trang bị kiến thức pháp luật trong nước và quốc tế cho các cán bộ quản lý và cán bộ thực hiện giao dịch thẻ.
- Nên tổ chức thường xuyên các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ thẻ, bổ sung lý luận và kinh nghiệm nghề nghiệp cho nhân viên. Tại trung tâm thẻ cũng như các chi nhánh lớn cần đào tạo cán bộ một cách cơ bản và dài hạn tại các trường MasterCard University và Visa International School.
- Đào tạo kiến thức cơ bản về tin học và công nghệ thông tin cho cán bộ nghiệp vụ, chú trọng bộ phận quản lý rủi ro và bộ phận nghiên cứu phát triển, đồng thời tăng cường kiến thức Marketing cho cán bộ phát triển.
- Phát huy tính năng động, cần cù sang tạo, năng động của nhân viên trong nghiệp vụ, có khả năng giao tiếp tốt, linh hoạt đặc biệt có óc phán đoán tâm lý để chiều long khách hàng.
- Ngoài việc bồi dưỡng và nâng cao nghiệp vụ, việc tu dưỡng đạo đức cho cán bộ nghiệp vụ là cực kì quan trọng.
Giải pháp về công nghệ và thiết bị
Mặc dù thời gian qua, ngân hàng đã tập trung nhiều vào công tác đầu tư, trang thiết bị máy móc hiện đại của thế giới nhưng nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu tự động hoá hoàn toàn.
Trong điều kiện hiện nay, khi nguồn vốn của ngân hàng còn hạn chế, ngân hàng cần xác định rõ những công nghệ thiết bị nào cần đầu tư, những công nghệ thiết bị nào chưa cần đầu tư phát triển để từ đó xác định bước đi thích hợp trong việc cải thiện trình độ công nghệ, thiết bị nhằm tránh việc đầu tư tràn lan không hiệu quả.
Trong quá trình đầu tư phát triển công nghệ mới, để đảm bảo tính hiệu quả của việc đầu tư, ngân hàng cần chú ý một số vấn đề sau:
- Việc chuyển giao công nghệ hiện đại và nhập máy móc thiết bị hiện đại từ nước ngoài để phục vụ cho hoạt động kinh doanh thẻ của ngân hàng đòi hỏi quá trình chuyển giao công nghệ và nhập máy móc thiết bị được tiến hành thận trọng, có chọn lọc.
- Đào tạo nguồn nhân lực của ngân hàng đảm bảo khả năng tiếp nhận và vận hành công nghệ mới.
- Kiến nghị với nhà nước nên có cơ chế chính sách khuyến khích nghiên cứu, ứng dụng công nghệ mới và tiến bộ bao gồm:
- Hỗ trợ kinh phí cho các chương trình, đề tài nghiên cứu, sản xuất máy móc thiết bị trong nước, đặc biệt là đối với các loại máy đọc thẻ điện tử, máy ATM.
- Lập quỹ dự trữ đầu tư và đổi mới công nghệ thẻ
- Giảm hoặc miễn thuế có thời hạn đối với các ngân hàng có đầu tư, đổi mới công nghệ thẻ
- Cho vay với lãi suất thấp để đầu tư và đổi mới công nghệ thẻ và ứng dụng các kỹ thuật mới vào công nghệ thẻ.
Nói chung ngân hàng cần phát triển hệ thống công nghệ thẻ dựa vào tiêu chuẩn kỹ thuật của các tổ chức thẻ quốc tế
- Đẩy mạnh phát triển mạng lưới các địa điểm thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ bằng thẻ
Chi phí mà các ngân hàng phải đầu tư cho máy đọc thẻ điện tử tại các ĐVCNT là từ 300-600 USD tùy theo từng loại máy [16]. Chi phí này là khá lớn đối với các ngân hàng thương mại hiện nay. Vì vậy để mở rộng mạng lưới các ĐVCNT, ngân hàng cần phải: Khóa luận: Giải pháp Marketing thẻ của ngân hàng ngoài quốc.
Quyết tâm và nỗ lực của ngân hàng: Phần lớn các điểm chấp nhận thẻ hiện nay đều chủ yếu được sử dụng bởi chủ thẻ nước ngoài. Ngân hàng cần phải nhận thức rằng đầu tư cho phát triển công nghệ thẻ trong giai đoạn hiện nay chưa thể nào thu được lợi nhuận ngay mà cần phải xem xét đến lợi ích lâu dài, lợi ích của những chủ thẻ nội địa chứ không phải lợi ích từ chủ thẻ nước ngoài.
Nhờ sự hỗ trợ từ NHNN thông qua việc tài trợ vốn hoặc cho vay với lãi suất ưu đãi. Xem xét đến khả năng hợp tác với các ngân hàng khác: Hiện nay sự hợp tác giữa các ngân hàng chưa thật cao và nếu có vẫn chưa phát huy dầy đủ tác dụng. Khi mà quy mô về vốn và trình độ công nghệ còn khiêm tốn như hiện nay, nếu các ngân hàng liên kết với nhau thì sẽ giảm được chi phí và có thể tận dụng được mạng lưới các đơn vị chấp nhận thẻ của nhau. Về phía khách hàng điều này cũng rất có lợi vì địa bàn chấp nhận thẻ được mở rộng và khách hàng có thể đến bất kì địa điểm chấp nhận thẻ nào để thực hiện giao dịch.
Sự kết nối trực tiếp hệ thống thanh toán thẻ của ngân hàng với nhau nhằm có thể khai thác tối đa các địa điểm thanh toán bằng thẻ.
- Ngân hàng cần mạnh dạn đầu tư phát triển hệ thống máy ATM.
Có thể nói phát triển hệ thống máy ATM là một trong những vấn đề mà các ngân hàng hết sức quan tâm trong thời gian qua. Trong thực tế cho thấy, sự phát triển hệ thống máy ATM thì đòi hỏi ngân hàng phải có vốn đầu tư rất lớn vào khoảng 2 đến hơn 10 triệu USD [16]. Với khoản chi phí lớn như vậy, nếu như các ngân hàng không có sự chuẩn bị cẩn thận sẽ gây ra những tổn thất hết sức to lớn. Trong thời gian qua đã cho thấy một vài ngân hàng do chưa có sự chuẩn bị hoặc chưa có kinh nghiệm đối với lĩnh vực công nghệ thẻ nên hệ thống ATM sau khi đưa vào sử dụng đã không đáp ứng được yêu cầu khách hàng, cá biệt có ngân hàng phải làm lại từ đầu, gây lãng phí rất lớn.
Để mạnh dạn đầu tư phát triển hệ thống máy ATM, cũng như để hệ thống máy ATM mang lại hiệu quả cao, ngân hàng cần phải lưu ý hai vấn đề cơ bản sau: Khóa luận: Giải pháp Marketing thẻ của ngân hàng ngoài quốc.
Cần nhận thức được những lợi ích mang lại của việc phát triển hệ thống ATM từ đó mạnh dạn đầu tư phát triển hệ thống ATM.
Đối với người dân: Việc phát triển hệ thống ATM của ngân hàng giúp khách hàng có thể thực hiện giao dịch mọi lúc, mọi nơi mà không phụ thuộc vào giờ giấc làm việc của ngân hàng cũng như không bị hạn chế bởi số chi nhánh và các quầy giao dịch của ngân hàng. Ngoài ra, nó còn đảm bảo độ chính xác và an toàn đối với khách hàng vì công nghệ máy rút tiền tự động là một công nghệ dựa trên kỹ thuật cao và hiện đại. Và, khách hàng cũng không phải mang theo tiền mặt khi đi công tác hoặc du lịch mà chỉ cần một tấm thẻ nhỏ gọn, thông minh.
Đối với ngân hàng: Việc cung cấp dịch vụ ATM cho khách hàng trước hết sẽ góp phần đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng nhằm giúp ngân hàng thu hút và giữ khách hàng
Việc phát triển hệ thống ATM giúp các ngân hàng tự động hoá được các giao dịch và nâng cao chất lượng dịch vụ. Dịch vụ rút tiền mặt từ máy ATM sẽ giúp các ngân hàng tự động hoá các giao dịch tại quầy, chuyển giao các giao dịch đơn giản tại quầy giao dịch ra máy ATM. Mặt khác, việc phát triển này cũng giúp ngân hàng nâng cao hiệu quả hoạt động và giảm chi phí hoạt động, đồng thời giúp ngân hàng mở rộng địa bàn hoạt động, các ngân hàng có thể vươn tới nhiều địa bàn mà không cần phải mở chi nhánh.
Dịch vụ ATM cũng tạo nguồn thu nhập bổ sung cho ngân hàng dưới dạng phí dịch vụ và hoạt động tiền nhàn rỗi trên các tài khoản cá nhân.
Đối với nền kinh tế: Việt Nam vẫn là một xã hội sử dụng tiền mặt trong các giao dịch thanh toán cá nhân. Với dịch vụ rút tiền mặt từ máy ATM do các ngân hàng cung cấp có khả năng đáp ứng các nhu cầu về tiền mặt cho khách hàng mọi lúc, mọi nơi.
Hệ thống máy ATM sẽ khuyến khích khách hàng mở tài khoản tại ngân hàng, gửi tiền mặt vào ngân hàng và sử dụng thẻ ATM để giao dịch.Như vậy sẽ thay đổi được thói quen dùng tiền mặt của người dân và thu hút được người dân gửi tiền nhàn rỗi vào ngân hàng, phát triển việc huy động vốn và sử dụng vốn cho đầu tư và sản xuất.
Sau cùng việc sử dụng thẻ ATM thay cho tiền mặt sẽ góp phần xây dựng xã hội văn minh và hiện đại
Cần xác định những yêu cầu cơ bản đối với việc phát triển hệ thống ATM nhằm tránh việc đầu tư không hiệu quả, lãng phí. Cụ thể là:
Hệ thống máy ATM phải đảm bảo khả năng cung cấp dịch vụ rút tiền mặt nhanh chóng và chính xác thuận tiện, hoạt động ổn định 24h/ngày và 7 ngày/tuần
Vận hành theo tiêu chuẩn quốc tế, đảm bảo hệ thống có thể tương thích và làm viêc tốt với hệ thống của các ngân hàng khác trên thế giới. Khóa luận: Giải pháp Marketing thẻ của ngân hàng ngoài quốc.
Có khả năng cung cấp các loại dịch vụ như: xem số dư tài khoản, rút tiền, đổi số PIN,… và một số các dịch vụ gia tăng như thanh toán tiền hoá đơn điện, nước…
Có khả năng mở rộng, nâng cấp và phát triển ứng dụng dịch vụ mới dễ dàng
Cho phép hỗ trợ khả năng chia sẻ hạ tầng hệ thống máy ATM với các ngân hàng khác trong nước. Đây là yêu cầu hết sức quan trọng đối với các ngân hàng trong quá trình đầu tư vào phát triển hệ thống máy ATM với các ngân hàng khác, theo đó cho phép hệ thống máy ATM có thể thực hiện được các giao dịch rút tiền từ các loại thẻ nội địa của bất kì ngân hàng nào trong nước.
- Cần có những giải pháp hạn chế rủi ro đối với hoạt động kinh doanh thẻ
Để có thể nâng cao được hoạt động Marketing thẻ ngân hàng, VIBank cũng cần nhận thức được tầm quan trọng của việc nắm rõ và xây dựng các giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ nhằm tạo ra sự an tâm của khách hàng đối với chất lượng sản phẩm dịch vụ thẻ do ngân hàng cung cấp:
Trước hết ngân hàng cần nắm rõ các thủ tục về thanh toán bằng thẻ của tổ chức thẻ quốc tế qui định và các qui định về quản lí rủi ro do việc sử dụng thẻ giả và thẻ gian lận gây ra. Và ngân hàng cũng cần hạn chế rủi ro ngay từ ĐVCNT bằng cách thường xuyên hướng dẫn nghiệp vụ, thủ tục chấp nhận thanh toán thẻ cho các ĐVCNT đặc biệt chú trọng việc nhận dạng các trường hợp sử dụng thẻ giả mạo, gian lận để thanh toán.
Ngoài ra, ngân hàng cũng cần nhận biết được các trường hợp rủi ro có thể xảy ra để có biện pháp ngăn chặn. Ngân hàng bằng kinh nghiệm của mình trong quá trình thực hiện kinh doanh dịch vụ thẻ có thể đúc kết những trường hợp rủi ro thường gặp hoặc có thể thông qua trao đổi kinh nghiệm với các ngân hàng khác để nhận biết các rủi ro đó. Từ đó ngân hàng có những biện pháp để ngăn chặn nhằm tạo ra sự yên tâm của khách hàng.
Sử dụng một cách có hiệu quả những công cụ hỗ trợ cho việc quản lý và kiểm soát rủi ro do các Tổ chức thẻ quốc tế cung cấp như Hệ thống báo động ĐVCNT quốc gia ( NMAS) do tổ chức thẻ Visa cấp, Hệ thống nhận dạng rủi ro chủ thẻ ( CRIS) do Visa phát triển, Hệ thống ngăn ngừa giả mạo ( SAFE) của MasterCard và Hệ thống cảnh báo những ĐVCNT có tỷ lệ thanh toán thẻ giả mạo thẻ gian lận cao ( MATCH) do MasterCard.[16]
Ngoài ra, ngân hàng cũng có thẻ có những công cụ riêng của mình như:
- Thiết lập hạn mức sử dụng thẻ trong ngày thích hợp để hạn chế rủi ro
- Xây dựng các chương trình phần mềm quản lý tình hình thanh toán thẻ của các chủ thẻ nhằm kip thời phát hiện các trường hợp sử dụng thẻ bất thường
- Xây dựng hệ thống thông tin khách hàng là các ĐVCNT giúp theo dõi tình hình thanh toán thẻ tại các ĐVCNT nhằm kịp thời phát hiện các trường hợp bất thường tại ĐVCNT.
- Cần có sự phối hợp giữa các ngân hàng trong việc ngăn ngừa rủi ro: trao đổi kinh nghiệm, xây dựng mạng lưới thông tin nối mạng, thông báo với nhau xu hướng rủi ro xảy ra trong tương lai
2. Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước Khóa luận: Giải pháp Marketing thẻ của ngân hàng ngoài quốc.
- NHNN cần phải quan tâm hơn nữa đến hoạt động kinh doanh thẻ
NHNN cần quan tâm đến vấn đề sử dụng thẻ giả mạo, gian lận gây ra từ đó có thể kịp thời ban hành các quy định, các chính sách giảm thiểu rủi ro xảy ra đối với hoạt động kinh doanh thẻ của ngân hàng, góp phần tạo điều kiện để đưa phương thức thanh toán bằng thẻ ngày càng phát triển ở VIệt Nam trong thời gian tới.
Hỗ trợ các ngân hàng trong việc đầu tư vốn xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng đề án phát triển, tính toán hiệu quả kinh tế và số vốn đầu tư trên cơ sở đó tiến hành huy động các nguồn vốn trong và ngoài nước. Hiện nay để xây dung được một hệ thống hoàn thiện về cơ sở hạ tầng phục vụ cho hoạt động kinh doanh thẻ, các ngân hàng sẽ phảI đầu tư một số tiền không nhỏ, trong khi đó qui mô về vốn, nhân lực và trình độ kinh nghiêm của nhiều ngân hàng Việt Nam còn quá khiêm tốn. Vì vậy rất cần sự hỗ trợ của NHNN.
Thường xuyên tổ chức các khoá đào tạo về lĩnh vực thẻ đối vói các NHTM VN: Vì lĩnh vực thẻ là lĩnh vực còn mới mẻ đối với ngành ngân hàng VIệt Nam, từng ngân hàng trong thời gian qua đã có nhiều nỗ lực để tiếp cận lĩnh vực mới này bằng cách cử cán bộ sang tổ chức thẻ quỗc tế để tham dự các khoá học chuyên về lĩnh vực thẻ. Tuy nhiên chi phí để tham dự những khóa học này khá tốn kém và không phải ngân hàng nào cũng có khả năng tham dự.
Để tiết kiệm chi phí về các khoản đào tạo, NHNN cần đứng ra tổ chức những khoá học ngắn hạn, dài hạn, theo đó NHNN có thể mời các chuyên gia nước ngoài đến Việt Nam để hướng dẫn, cung cấp kinh nghiệm về lĩnh vực thẻ
- NHNN bổ sung thêm một số quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh thẻ để tạo hành lang pháp lý cho các ngân hàng an tâm hoạt động. Khóa luận: Giải pháp Marketing thẻ của ngân hàng ngoài quốc.
Cần có những qui định cụ thể đối với qui trình nghiệp vụ thanh toán thẻ, qui trình quản lí rủi ro đối với hoạt động kinh doanh thẻ của các ngân hàng…Đồng thời khi xây dựng các qui trình này cần phảI xem xét đến thông lệ của các tổ chức thẻ quốc tế để có những qui trình phù hợp và dễ dàng cho mọi khách hàng.
Cần có những văn bản pháp lí đối với các trường hợp giao dịch thẻ tại Trung tâm thanh toán thẻ liên ngân hàng (nếu có) trong đó phải qui định cụ thể việc giải quyết tranh chấp giữa các ngân hàng trong nước. Đương nhiên khi đưa ra các văn bản pháp lý này, NHNN cũng cần phải xem xét đến những qui định, thông lệ của tổ chức thẻ quốc tế.
NHNN cần bổ sung thêm các văn bản pháp lí liên quan đến việc cung cấp và sử dụng dịch vụ ATM nhằm tạo ra một hành lang pháp lí chung về xử lí các giao dịch tại máy ATM, quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng trong giao dịch ATM, vấn đề quản lí rủi ro và an toàn của máy ATM, của giao dịch ATM và nhiều vấn đề khác có liên quan.
NHNN cần có những qui định cụ thể, rõ ràng về quản lí ngoại hối đối với trường hợp sử dụng thẻ để thanh toán ở nước ngoài[16]. Trong thời gian qua, Nhà Nước chưa kiểm soát được lượng ngoại tệ của các chủ thẻ khi thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ ở nước ngoài. Theo qui định của NHNN, khi ra khỏi lãnh thổ VIệt Nam, cá nhân chỉ được mang theo 3000 USD tiền mặt mà không cần phảI xin giấy phép của NHNNVN. Tuy nhiên, đối với trường hợp sử dụng thẻ, trong thực tế cho thấy một khách hàng có thể phát hành thẻ tại ba ngân hàng khác nhau, theo đó mỗi ngân hàng cấp cho khách hàng một hạn mức tín dụng thẻ là 3000 USD. Như vậy với ba tấm thẻ này, khách hàng hoàn toàn có thể sử dụng được tổng số tiền là 9000USD ở nước ngoài. Để khắc phục tình trạng này, trước hết Nhà Nước cần quy định rõ trách nhiệm cá nhân của người sử dụng thẻ, theo đó họ phảI y thức được việc sử dụng vượt quá số tiền qui định của Nhà Nước đã quy định là vi pham pháp luật.
Ngoài ra NHNN cũng nên điều chỉnh hạn mức ngoại tệ được phép mang ra nước ngoàI đối với các trường hợp sử dụng thẻ từ mức 3000 USD lên 5000USD để phù hợp với qui định của Tổ chức thẻ quốc tế. Đồng thời nhà nước cũng nên qui định lượng thẻ cần thiết qui định với hải quan để phối hợp kiểm tra hạn mức sử dụng thẻ.
- Xây dựng trung tâm thanh toán thẻ liên ngân hàng
Trung tâm này có nhiệm vụ kiểm soát và thực hiện các lệnh thanh toán thẻ giữa các ngân hàng với nhau đảm bảo cho chủ thẻ khi sử dụng bất kì ngân hàng nào phát hành đều có thể thanh toán tại các ĐVCNT của các ngân hàng khác mà không phải trả khoản phí chênh lệch tỷ giá Khóa luận: Giải pháp Marketing thẻ của ngân hàng ngoài quốc.
Với việc phát triển trung tâm thanh toán thẻ liên ngân hàng, việc thanh toán giữa các ngân hàng trong nước được thực hiện thông qua trung tâm này mà không phải chuyển đến các tổ chức thẻ quốc tế như hiện nay. Khi đó sẽ giúp các chủ thẻ tránh được các khoản phí quy đổi tiền tệ do các tổ chức thẻ quốc tế thực hiện trong quá trình thực hiện thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng
- Để phát triển trung tâm thẻ này cần môt số điều kiện sau:
Vốn đầu tư: Chi phí để xây dựng trung tâm thẻ này mất khoảng 5-10 triệu USD. Đây là một khoản đầu tư quá lớn đối với qui mô của các ngân hàng hiện nay vì vậy chưa khuyến khích các ngân hàng đầu tư. Vì vậy để giải quyết được khó khăn này, có hai giải pháp:
Một là, NHNN đứng ra đầu tư, thu lại các khoản phí dịch vụ đối với các giao dịch thẻ được xử lí tại trung tâm này
Hai là, thuê máy móc thiết bị từ các tổ chức thẻ quốc tế, các tổ chức thẻ này hiện có cung cấp dịch vụ cho thuê hệ thống thanh toán thẻ liên ngân hàng cho các quốc gia , rồi thu lại các khoản chi phí thuê hàng tháng hàng quí hoặc hàng năm tuỳ theo yêu cầu của từng quốc gia
Lựa chọn ngân hàng thanh toán bù trừ: để lựa chọn ngân hàng làm ngân hàng thanh toán bù trừ đòi hỏi ngân hàng này phải là một ngân hàng của Việt Nam có uy tín và phải có những kinh nghiệm nhất định trên thị trương thẻ . Ngoài ra ngân hàng được lựa chọn phải được sự đồng ý của các ngân hàng khác
- Môi trường pháp lý
Tất cả các giao dịch thẻ quốc tế ở Việt Nam hiên nay đều được gửi đến tổ chức thẻ quốc tế để thanh toán . Vì vậy khi xảy ra tranh chấp giữa ngân hàng thanh toán thẻ và ngân hàng phát hành thẻ đòi hỏi phải dựa trên những qui định của tổ chức thẻ này để giải quyết tranh chấp
Trong trường hợp trung tâm thanh toán thẻ liên ngân hàng được hình thành ở Việt Nam tất cả các giao dịch thẻ do ngân hàng trong nước phát hành được thực hiện thanh toán trong lãnh thổ Việt Nam sẽ gửi đến trung tâm thẻ thanh toán liên ngân hàng để thực hiện thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng trong nước mà không cần phải gửi đến các tổ chức thẻ quốc tế như hiện nay
Tuy nhiên, hiện tại ngành Ngân hàng Việt Nam chưa có một văn bản pháp lý nào để qui định việc giải quyết tranh chấp giữa các ngân hàng khi thực hiện thanh toán qua Trung tâm thanh toán thẻ liên ngân hàng.
- Trình độ quản lý Khóa luận: Giải pháp Marketing thẻ của ngân hàng ngoài quốc.
Công nghệ thẻ là một trong những công nghệ hiện đại của thế giới và là công nghệ còn rất mới mẻ đối với ngành ngân hàng Việt Nam. Tại Việt Nam mới chỉ có 3 ngân hàng đã phát triển theo các tiêu chuẩn của công nghệ thẻ thế giới là VCB, ACB và EXIMBANK.
Vì vậy, các ngân hàng cần phải tranh thủ sự hỗ trợ của tổ chức thẻ quốc tế trong việc huấn luyện những khoá hoc liên quan đến việc phát triển trung tâm thẻ liên ngân hàng. Ngoài ra ngành ngân hàng cũng nên tổ chức những chương trình đi khảo sát ở nước ngoài để học hỏi thêm kinh nghiệm.
- Ngành ngân hàng cần nhanh chóng thực hiện sự kết nối các máy ATM của các ngân hàng lại với nhau
Việc kết nối hệ thống ATM của các ngân hàng lại với nhau là nhằm để xử lí tất cả các giao dịch thẻ được thực hiện tại các máy ATM của các ngân hàng, theo đó chủ thẻ có thể thực hiện giao dịch tại bất kì hệ thống máy ATM nào của tất cả các ngân hàng được lắp đặt tại Việt Nam
Việc kết nối này tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng khi sử dụng dịch vụ ATM. Khách hàng không nhất thiết phải đến hệ thống máy ATM của ngân hàng phát hành thẻ mà có thể đến bất kì máy ATM nào mà vẫn thực hiện được giao dịch của mình. Điều này sẽ giúp khách hàng tiết kiệm được thời gian, địa bàn giao dịch được mở rộng và không bị giới hạn.
Tiết kiệm chi phí đầu tư cho mỗi ngân hàng: Thay vì phải đầu tư một hệ thống ATM rộng khắp, nếu hệ thống máy ATM giữa các ngân hàng được kết nối với nhau, các ngân hàng có thể tận dụng được hệ thống máy ATM của các ngân hàng khác mà vẫn thực hiện được lợi ích cho khách hàng. Đồng thời, chi phí lắp đặt cũng sẽ giảm bớt vì không phải đầu tư quá nhiều để mở rộng mạng lưới ATM.
Hình 11: Sơ đồ giao dịch ATM trên thị trường thẻ [16]
Trên đây là sơ đồ giao dịch dự kiến khi hệ thống máy ATM của các ngân hàng được kết nối lại với nhau.
Trong trường hợp các máy ATM của các ngân hàng được kết nối với nhau thì ngành ngân hàng sẽ tận dụng được hết các máy ATM của các ngân hàng , theo đó khách hàng có thể giao dịch tại bất kì máy ATM nào chứ không hạn chế như hiện nay
3. Kiến nghị đối với Nhà Nước Khóa luận: Giải pháp Marketing thẻ của ngân hàng ngoài quốc.
- Nhà nước cần ban hành những chính sách khuyến khích thanh toán không dùng tiền mặt trong dân cư
Nhà nước cần có các chính sách đồng bộ, mang tính pháp lí, vừa khuyến khích, động viên, nhưng vừa có tính “hướng dẫn, bắt buộc” một số cá nhân, đối tượng, một số lĩnh vực có liên quan. Cụ thể là:
Yêu cầu các doanh nghiệp trả lương cho cán bộ công nhân viên qua tài khoản. Đây là một biện pháp cần thiết và rất quan trọng để thúc đẩy quá trình chuyển từ thanh toán bằng tiền mặt sang sử dụng thanh toán không dùng tiền mặt
Xây dựng chiến lược phát triển mạng lưới và cơ sở hạ tầng cho việc phát triển dịch vụ ngân hàng hiện đại theo hướng đem lại lợi ích, tiện lợi tối đa cho người dân.
Nhà nước nên thành lập ban chỉ đạo liên ngành, bao gồm đại diện của chính phủ, NHNN Việt Nam, Bộ Tài Chính, Bộ LĐTB&XH để phối hơp hướng dẫn người dân thực hiện thanh toán qua ngân hàng, quyền lợi và trách nhiệm của chủ tài khoản cá nhân trước pháp luật trong việc sử dụng các phương tiện thanh toán, đặc biệt là công cụ thanh toán không dùng tiền mặt, đảm bảo tính an toàn, thuận lợi và nhanh chóng chu chuyển vốn thanh toán
- Nhà nước cũng cần có các chính sách miễn giảm thuế đối với các hoạt động kinh doanh thẻ của các ngân hàng.
Vì để có thể phát triển được hệ thống công nghệ thẻ đòi hỏi vốn đầu tư rất lớn, trong khi đó thị trường thẻ Việt Nam chưa thật phát triển. Có thể nói, hoạt động kinh doanh thẻ của các ngân hàng trong thời gian qua chủ yếu nhằm đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, hiện đại hoá công nghệ thanh toán của ngân hàng, góp phần hạn chế thanh toán bằng tiền mặt trong dân cư chứ hoàn toàn không vì lợi nhuận. Để hỗ trợ ngân hàng trong việc thực hiện sứ mệnh của nền kinh tế thiết nghĩ nhà nước cần có các chính sách miễn giảm thuế đối với hoạt động kinh doanh thẻ của ngân hàng nhằm giúp các ngân hàng có thêm điều kiện để đầu tư phát triển máy móc, thiết bị phục vụ cho hoạt động kinh doanh thẻ của mình.
Bên cạnh đó, Nhà nước cần có chính sách miễn giảm thuế nhập khẩu đối với các máy móc thiết bị phục vụ cho hoạt động kinh doanh thẻ của các ngân hàng được nhập khẩu từ nước ngoài, góp phần giảm bớt phần nào các khoản chi phí đầu tư ban đầu của ngành ngân hàng nhằm khuyến khích các ngân hàng đẩy mạnh phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật thẻ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thanh toán thẻ của người dân. Khóa luận: Giải pháp Marketing thẻ của ngân hàng ngoài quốc.
Sau cùng nhà nước nên ban hành Nghị Định của Chính Phủ về việc phát hành và sử dụng và thanh toán bằng thẻ nhằm đảm bảo hành lang pháp lí cao hơn. Trong thời gian qua trong quá trình hoạt động kinh doanh thẻ, các ngân hàng chủ yếu dựa vào văn bản Quy chế phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ do Thống đốc NHNN ban hành, theo đó văn bản này chủ yếu qui định đối với các đối tượng là ngân hàng thương mại hoạt động trên thị trường thẻ Việt Nam.
Như vậy, để quy định các chủ thể trực tiếp khác tham gia hoạt động trên thị trường thẻ hoạc các chủ thể có liên quan (như cơ quan thuế) thì việc ban hành các văn bản pháp lý cao hơn so với bản quy chế nêu trên là hết sức cần thiết, nhằm tạo ra một hành lang pháp lý đối với tất cả các đối tượng hoạt động trên thị trường thẻ
- Xây dựng môi trường kinh tế – chính trị – xã hội ổn định
Tình hình chính trị xã hội có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của nền kinh tế nói chung và hoạt động của ngành ngân hàng tài chính nói chung. Sự phát triển của hoạt động kinh doanh thẻ cũng chịu sự tác động trực tiếp của môi trường chính trị, xã hội. Ngành ngân hàng nói chung và hoạt động kinh doanh thẻ nói riêng chỉ có thể được phát triển trong điều kiện chính trị xã hội ổn định nơi mà nhà nước có thể đảm bảo cho mọi người dân được sống và làm việc theo pháp luật và đời sống cũng như dân trí ngày càng nâng cao.
Môi trường kinh tế ổn định với các chính sách phát triển nền kinh tế và chính sách đẩy nhanh hội nhập kinh tế quốc tế cũng là một tiền đề quan trọng cho việc xây dựng, phát triển hoạt động kinh doanh thẻ. Chỉ khi đời sống kinh tế nâng cao, nhu cầu về các dịch vụ ngân hàng nói chung và dịch vụ thẻ nói riêng mới phát triển.
Tóm lại vai trò của Nhà Nước trước tiên và quan trọng đó là việc đảm bảo môi trường chính trị xã hội ổn định và một môi trường kinh tế phát triển lành mạnh, hoà nhập với nền kinh tế thế giới.
KẾT LUẬN Khóa luận: Giải pháp Marketing thẻ của ngân hàng ngoài quốc.
Thẻ ra đời từ năm 1914 của thế kỷ trước và mãi cho đến năm 1990 mới được du nhập vào Việt Nam. Trải qua 17 năm phát triển, dù quãng thời gian phát triển còn quá ngắn nhưng sản phẩm thẻ đã được một bộ phận người Việt Nam biết đến và sử dụng. Đặc biệt trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của nền kinh tế, khi đời sống người dân ngày một nâng cao thì nhu cầu về sử dụng thẻ trong giao dịch thanh toán cũng ngày một gia tăng. Và trong tương lai, với vị thế là một thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO, nền kinh tế Việt Nam sẽ phải hoà nhập sâu rộng hơn nữa vào nền kinh tế thế giới và lĩnh vực ngân hàng nói chung và lĩnh vực thẻ ngân hàng nói riêng cũng phải bắt kịp với xu thế thời đại. Tại các nước phát triển trên thế giới, thẻ đã trở thành một phương tiện thanh toán được sử dụng rộng rãi và phổ biến và chắc chắn trong thời gian không xa thẻ cũng sẽ tạo lập được vai trò của mình với vị thế số một trong phương thức thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam.
Sự hội nhập sâu rộng của nền kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế thế giới không chỉ tạo ra những thời cơ mà còn cả những thách thức lớn cho hệ thống ngân hàng Việt Nam nói chung và ngành dịch vụ thẻ nói riêng. Chúng ta sẽ phải đối mặt với những ngân hàng trên thế giới lớn cả về qui mô vốn, công nghệ và kinh nghiệm hoạt động lâu năm trên thị trường thẻ. Điều quan trọng hiện nay là mỗi ngân hàng Việt Nam cần phải tự trang bị cho mình những cơ sở vững chắc để tồn tại và phát triển trong thị trường cạnh tranh gay gắt diễn ra không chỉ giữa các ngân hàng trong nước mà giữa ngân hàng trong nước với các ngân hàng nước ngoài.
Sự góp mặt của các ngân hàng ngoài quốc doanh trong việc phát triển và mở rộng dịch vụ thẻ ngân hàng trong những năm gần đây đã tạo một luồng sinh khí mới cho ngành ngân hàng Việt Nam nói chung và lĩnh vực kinh doanh dịch vụ thẻ ngân hàng nói riêng. Ưu điểm của các ngân hàng này là sự linh hoạt, nhạy bén trước sự biến động của môi trường kinh doanh nhưng điều khó khăn lớn nhất vẫn là qui mô vốn đầu tư vì vậy rất cần sự hỗ trợ về mọi mặt từ chính sách cho đến sự hỗ trợ về mặt vật chất của Nhà Nước và các cơ quan hữu quan như Ngân hàng Nhà nước.
Đồng thời các ngân hàng cũng cần phải biết cách liên kết để tồn tại và cạnh tranh và phát triển.
Với mong muốn đưa ra những gợi ý nhằm tháo gỡ những vướng mắc trở ngại trong việc mở rộng và phát triển dịch vụ thẻ, sử dụng cũng như đánh giá đúng vai trò của hoạt động Marketing thẻ, em cũng xin đóng góp một phần ý kiến đối với hoạt động Marketing thẻ để góp phần thúc đẩy dịch vụ này mạnh mẽ hơn nữa trong tương lai không xa. Khóa luận: Giải pháp Marketing thẻ của ngân hàng ngoài quốc.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Hoạt động Marketing thẻ của ngân hàng ngoài quốc
