Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) tại Hà Nội hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) và giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh tại Hà Nội dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trên tiến trình hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế Thế giới, Việt Nam có nhiều cơ hội để phát triển và cũng phải đối mặt với không ít những khó khăn, thách thức. Càng gần năm 2027, thời điểm cánh cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ mở rộng hoàn toàn, vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia càng trở nên bức thiết. Năng lực cạnh tranh quốc gia bắt nguồn từ năng lực điều hành môi trường kinh doanh của mỗi tỉnh, thành phố, sau đây gọi chung là cấp tỉnh.
Nhiều chuyên gia kinh tế coi Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (Provincial Competitiveness Index – PCI) là chỉ số đánh giá khách quan nhất về khả năng điều hành môi trường kinh doanh của chính quyền địa phương. Tuy nhiên, PCI mới nêu lên những mặt mạnh, yếu của điều hành cấp tỉnh mà chưa chỉ ra nguyên nhân cũng như chưa tìm ra biện pháp khắc phục. Vì vậy, kết quả nghiên cứu mới giúp phân hạng, nhận dạng các tỉnh dựa trên PCI mà chưa nêu được giải pháp giúp các tỉnh cải thiện chỉ số này.
Thành phố Hà Nội vốn được xem là địa bàn kinh doanh có tính nhạy cảm; nếu PCI của Hà Nội cao và ổn định, đồng nghĩa với năng lực điều hành giỏi, môi trường kinh doanh hấp dẫn, thì sẽ tạo được hiệu ứng kinh tế-xã hội mạnh có sức lan tỏa ảnh hưởng lớn tới các tỉnh thành phố khác.
Với kiến thức học tập ở trường, cảm nhận bước đầu qua tiếp cận với thực tiễn môi trường kinh doanh của thành phố Hà Nội và xuất phát từ những suy nghĩ trên đây, em quyết định thực hiện đề tài “ Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) và giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh tại Hà Nội” làm khoá luận tốt nghiệp. Khóa luận có kết cấu gồm ba chương:
- Chương 1: Những vấn đề chung về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh.
- Chương 2: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) và môi trường kinh doanh của Hà Nội.
- Chương 3: Một số giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh tại Hà Nội.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này nhằm củng cố kiến thức đã học, vận dụng phân tích thực tiễn PCI ở một số tỉnh, thành phố. Đề tài khoá luận đi sâu phân tích thực trạng và lý giải sự thay đổi của PCI Hà Nội qua các năm, chỉ ra những tồn tại, nguyên nhân và biện pháp khắc phục; đồng thời đề xuất những giải pháp nhằm cải thiện môi trường kinh doanh tại Hà Nội.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ đặt ra khi tiến hành nghiên cứu đề tài là: tìm hiểu cơ sở lý luận, phương pháp xây dựng PCI; phân tích những chỉ số cấu thành, nguyên nhân làm thay đổi PCI cấp tỉnh, thành phố; cuối cùng là đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện môi trường kinh doanh tại Hà Nội.
4. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là đánh giá chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và vai trò của chỉ số này trong việc đưa ra các giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh tại Hà Nội.
5. Phương pháp nghiên cứu Khóa luận: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) tại Hà Nội.
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng là phương pháp phân tích tổng hợp, mô tả chỉ số, tiếp cận từng phần, khảo sát, so sánh… trên cơ sở sử dụng các nguồn thông tin chính xác, cập nhật, bảng số liệu, đồ thị và kết hợp tham khảo ý kiến các chuyên gia đang nghiên cứu trực tiếp xây dựng nên chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn đến Thạc sĩ Ngô Quý Nhâm, người thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em ngay từ những ngày đầu nghiên cứu đề tài khóa luận. Em cũng cũng xin cảm ơn sự giúp đỡ của chị Lê Thanh Hà và anh Đậu Anh Tuấn trong nhóm nghiên cứu Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam. Em rất mong nhận được những nhận xét, ý kiến đánh giá của thầy cô và các bạn, để những ý tưởng trong đề tài của em sẽ sớm thành hiện thực, với em đó là niềm hạnh phúc lớn nhất. Em xin chân thành cảm ơn.
CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH (PROVINCIAL COMPETITIVENESS INDEX – PCI)
I. KHÁI QUÁT VỀ CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH
1.1. Khái niệm
- a, Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh
Khái niệm cạnh tranh được định nghĩa dưới nhiều cấp độ khác nhau:
- Ở cấp độ quốc gia, cạnh tranh là khả năng của một nước đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt được các tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao được xác định bằng sự thay đổi tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trên đầu người theo thời gian.
- Ở cấp độ ngành, cạnh tranh là duy trì được lợi nhuận và thị phần trên các thị trường trong và ngoài nước.
- Ở cấp độ doanh nghiệp, “Cạnh tranh là sự đối đầu giữa các doanh nghiệp với nhau để giành khách hàng hoặc thị phần.” (P.Samuelson)
Diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã cố gắng định nghĩa khái quát về cạnh tranh có sự kết hợp cả ở 3 cấp độ doanh nghiệp, ngành, và quốc gia: “Cạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và vùng trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế ”.
- Theo đó, khái niệm về năng lực cạnh tranh cũng được chia ra làm 3 cấp độ. Cụ thể như sau:
Năng lực cạnh tranh quốc gia: là năng lực của một nền kinh tế đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, bảo đảm ổn định kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống của người dân. Năng lực cạnh tranh quốc gia được hình thành như một khái niệm phức hợp dựa trên một chùm (cluster) tám yếu tố do Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) đưa ra.
Biểu 1: Tỷ lệ các yếu tố trong năng lực cạnh tranh quốc gia Khóa luận: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) tại Hà Nội.
- Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: được đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, tỷ suất lợi nhuận mà doanh nghiệp có được trên thị trường trong và ngoài nước.
- Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ: được đo bằng thị phần của sản phẩm hay dịch vụ đó trên thị trường.
Trong khuôn khổ của khóa luận này, vấn đề năng lực cạnh tranh được đề cập có giới hạn trong phạm vi vùng – nhỏ hơn phạm vi quốc gia, tức là ở cấp độ chính quyền tỉnh, thành phố, cấp độ điều hành kinh tế tác động trực tiếp đến môi trường kinh doanh tại địa phương.
- b, Chỉ số điều hành kinh tế cấp tỉnh
Cơ sở của nghiên cứu Chỉ số điều hành cấp tỉnh là Dự án nghiên cứu năng lực “Điều hành cấp tỉnh tại Việt Nam” do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cùng Quỹ Châu Á phối hợp thực hiện năm 2023. Qua dự án này, Tiến sĩ Edmud J.Malesky và các cộng sự đã nghiên cứu xây dựng tám chỉ số cấu thành lập nên Chỉ số điều hành kinh tế. (Xem thêm Phụ lục 1)
- Biểu 2: Chỉ số điều hành kinh tế và các chỉ số thành phần
Tám chỉ số thành phần trên được xem xét dưới ba góc độ: thái độ, sự cởi mở và khả năng phối hợp giữa chính quyền địa phương với các doanh nghiệp tư nhân.
Góc độ thứ nhất là thái độ tích cực của chính quyền với doanh nghiệp. Thái độ tích cực thể hiện qua việc chính quyền cấp tỉnh không dựng lên những rào cản gia nhập thị trường để bảo vệ riêng cho các doanh nghiệp nhà nước hoặc những doanh nghiệp đứng đầu được tỉnh ưu ái. Những rào cản thường gặp là thủ tục đăng ký phức tạp hay những cuộc thanh tra, kiểm tra thường xuyên, kéo dài. Những tỉnh giữ thái độ tích cực đối với khu vực kinh tế tư nhân sẽ đơn giản hoá những quy trình, thủ tục đăng ký và áp dụng những chính sách có lợi cho doanh nghiệp. Các tỉnh này thường tìm được những giải pháp phù hợp vì thường xuyên tham dự các diễn đàn doanh nghiệp, nhìn nhận được tốt hơn những khó khăn, trở ngại mà doanh nghiệp đang gặp phải. Thái độ tích cực của tỉnh cũng giúp doanh nghiệp nhanh chóng đưa ra ý kiến, thông tin phản hồi về những quy định, chính sách mới chưa phù hợp.
Ngược lại, ở những tỉnh có thái độ thiếu tích cực đối với sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân thì thường tồn tại những chính sách không hiệu quả, không phù hợp. Các tỉnh quan tâm tới doanh nghiệp tư nhân thường có xu hướng năng động hơn, thông cảm với những vướng mắc mà hệ thống gây ra cho doanh nghiệp. Đôi khi, các tỉnh này chọn giải pháp “vượt rào” qua những quy định của Chính phủ trong một chừng mực nhất định nhằm giúp đỡ doanh nghiệp.
Góc độ thứ hai là sự cởi mở của chính quyền tỉnh đối với doanh nghiệp. Sự cởi mở đóng vai trò quan trọng không chỉ ở khía cạnh làm minh bạch công tác điều hành, mà còn tăng khả năng tiếp cận thông tin của doanh nghiệp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho những quyết định đầu tư. Sự cởi mở còn góp phần tạo ra một sân chơi bình đẳng hơn và ở một khía cạnh khác, giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn những quyết định của tỉnh. Cán bộ địa phương càng cởi mở và trung thực về nguyên nhân thực sự đằng sau mỗi sáng kiến điều hành cụ thể, doanh nghiệp càng dễ dàng điều chỉnh hoạt động của mình theo chính sách mới hoặc chủ động góp ý để cải thiện các chính sách đó. Sự cởi mở cũng làm giảm cơ hội cho nạn tham nhũng. Vì nếu doanh nghiệp hiểu rõ chính sách của tỉnh, họ sẽ ít chịu tác động từ những công chức nhà nước trục lợi. Sự cởi mở của chính quyền cấp tỉnh, thành phố còn quan trọng hơn cả việc thông tin thông suốt. Khi khó khăn của doanh nghiệp không thể giải quyết được trong thời hạn cần thiết hay ngoài phạm vi thẩm quyền của tỉnh, nhiều địa phương thường không chủ động tìm cách tháo gỡ mà để kéo dài thời gian, trì hoãn giải quyết thắc mắc. Tình trạng này khiến doanh nghiệp phải chờ đợi, đôi khi đến vài năm mà không biết khi nào vấn đề của mình được giải quyết. Vì vậy, các doanh nghiệp sẽ đánh giá cao nếu lãnh đạo địa phương trả lời trực tiếp, không lảng tránh. Bản thân doanh nghiệp cũng hiểu rằng không phải mọi khó khăn của họ đều có thể được giải quyết, nhưng họ cần có câu trả lời thẳng thắn và một thái độ cởi mở. Khóa luận: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) tại Hà Nội.
Góc độ thứ ba là khả năng phối hợp giữa các cơ quan trong bộ máy chính quyền, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp. Sự phối hợp làm việc giữa các cơ quan trong bộ máy chính quyền sẽ giúp doanh nghiệp không phải lo chạy từ cơ quan này đến cơ quan khác, thu thập mọi giấy tờ thích hợp, cần thiết cho hoạt động kinh doanh (đăng ký kinh doanh, xin cấp con dấu, mã số thuế, các loại giấy phép…). Doanh nghiệp sẽ yên tâm sản xuất kinh doanh hơn khi các cơ quan quản lý cùng phối hợp tiến hành thanh tra, kiểm tra, doanh nghiệp một hoặc hai lần trong năm thay vì hàng chục lần thanh tra bất chợt của bất kỳ cơ quan nào.
Sự phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước cấp tỉnh đóng vai trò rất quan trọng. Hệ thống cơ quan Nhà nước cấp tỉnh gồm: Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh, và các Sở ban ngành trực thuộc … Thực trạng thiếu nhất quán và ách tắc trong quá trình ra quyết định vấn đề có liên quan đến nhiều cơ quan đã và đang gây ra không ít phiền hà, khó khăn cho doanh nghiệp. Những tỉnh thường xuyên tổ chức các cuộc gặp gỡ, trao đổi giữa cơ quan quản lý địa phương với doanh nghiệp nhằm đạt sự đồng thuận trong quá trình thực thi chính sách sẽ giảm được chi phí giao dịch và những thủ tục hành chính phiền hà cho doanh nghiệp. Nếu không có sự phối hợp này, doanh nghiệp sẽ phải mất nhiều thời gian và công sức để hoàn thành thủ tục cần thiết để khởi sự kinh doanh. Có thể nói sự phối hợp tốt là chìa khoá của mọi sự thành công. Phối hợp tốt làm nâng cao tính minh bạch thông qua việc nguồn thông tin được cung cấp tập trung. Số lượng các cơ quan Nhà nước mà doanh nghiệp phải trực tiếp tiếp xúc giảm xuống, từ đó giảm cơ hội cho nạn hối lộ, chi phí kinh doanh của doanh nghiệp cũng giảm. Cuối cùng, sự phối hợp tốt là động lực thúc đẩy tính năng động, tiên phong của chính quyền địa phương thực hiện tốt những chính sách của Đảng và Nhà nước. (Xem thêm Phụ lục 2)
- c, Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là chỉ số đo mức độ hiệu quả của hoạt động điều hành chính sách kinh tế của chính quyền địa phương. Chỉ số này loại bỏ các yếu tố tự nhiên, xã hội có thể làm cho địa phương này có lợi thế hơn địa phương khác trong phát triển kinh tế. Như vậy, các địa phương đều có cơ hội cạnh tranh ngang nhau trước các chính sách điều hành kinh tế của Nhà nước. Việc địa phương ở vị trí nào trong bảng xếp hạng chính là thước đo năng lực và thể hiện một cách chân thực cách nhìn nhận, tư duy và phương pháp điều hành của bộ máy lãnh đạo của địa phương đó.
Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh về môi trường kinh doanh của Việt Nam (PCI) là kết quả hợp tác nghiên cứu giữa Dự án Nâng cao Năng lực Cạnh tranh Việt Nam (VNCI) và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI). Bằng nhận xét của các doanh nghiệp, PCI đánh giá và xếp hạng các tỉnh dựa trên thái độ và việc thực thi chính sách của chính quyền tỉnh đối với khu vực kinh tế tư nhân. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đề cập đến hai khía cạnh. Khía cạnh đầu tiên là chất lượng điều hành của chính quyền cấp tỉnh. PCI không bao gồm những yếu tố liên quan đến nội bộ doanh nghiệp như chất lượng quản trị, chuỗi giá trị doanh nghiệp … vì điều này hoàn toàn nằm ngoài tầm kiểm soát của chính quyền địa phương. Khía cạnh thứ hai là việc loại trừ ảnh hưởng của điều kiện truyền thống như cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, khoảng cách từ nơi sản xuất tới thị trường tiêu thụ sản phẩm … vì chúng cũng không thuộc tầm kiểm soát của chính quyền địa phương. PCI chỉ tính tới những điều kiện mà chính quyền địa phương có thể khắc phục trong tương lai gần.
Nói cách khác, PCI được xây dựng với tư cách là một chỉ số đo lường năng lực cạnh tranh của các tỉnh độc lập với những điều kiện truyền thống sẵn có của địa phương. Trên thực tế, những tỉnh có cơ sở hạ tầng tốt hơn, lực lượng lao động có trình độ và kỹ thuật cao hơn, vị trí địa lý nằm gần hơn với những thị trường tiêu thụ lớn hơn nên kinh tế phát triển thuận lợi hơn. Hơn nữa, những lợi thế từ điều kiện truyền thống càng được củng cố do tính đặc thù của hệ thống tài chính Việt Nam. Những tỉnh có điều kiện ban đầu thuận lợi, có nguồn thu lớn, được phép trích lại một phần số thu vượt kế hoạch để tiếp tục phát triển. Nếu sử dụng các điều kiện truyền thống làm thước đo sự phát triển kinh tế thì kết quả thu được sẽ không chính xác. Vì chính bản thân các điều kiện truyền thống đã là kết quả của sự phát triển. Những yếu tố truyền thống thường không chịu ảnh hưởng trực tiếp từ những thái độ và thực thi chính sách hiện tại của chính quyền tỉnh trong ngắn hoặc trung hạn.
Sự khác biệt về các điều kiện truyền thống giữa các tỉnh thường được duy trì trong một thời gian dài. Ví dụ: thành phố Hồ Chí Minh luôn có thị trường lớn hơn Hà Tĩnh, Bình Dương luôn có vị trí tốt hơn Cà Mau, cơ sở hạ tầng của Hà Tây luôn tốt hơn Hà Giang, …. Những tỉnh, thành phố phát triển chắc chắn sẽ có thứ hạng cạnh tranh hơn bởi có các điều kiện truyền thống tốt. Như vậy, việc loại trừ các yếu tố truyền thống sẽ tạo cơ sở so sánh bình đẳng giữa các tỉnh, thành phố; đánh giá chuẩn xác hơn những nỗ lực của chính quyền địa phương trong việc cải thiện môi trường kinh doanh. Mục tiêu cuối cùng của chỉ số PCI là nhằm xác định những tỉnh quản lý điều hành tốt khi có những điều kiện ban đầu như nhau.
1.2. Quá trình áp dụng nghiên cứu tại Việt Nam Khóa luận: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) tại Hà Nội.
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) được Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) công bố lần đầu tiên vào tháng 5 năm 2023. Ngay lập tức, nó đã thu hút sự quan tâm của nhiều đối tượng khác nhau như cộng đồng doanh nghiệp, cơ quan Nhà nước cấp tỉnh, cơ quan báo chí hay các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Theo kế hoạch, dự án nghiên cứu chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh ở Việt Nam sẽ được nghiên cứu và đưa ra kết quả định kỳ một năm một lần. Qua các năm, quy mô tiến hành khảo sát càng được mở rộng, tỉ lệ phản hồi càng cao.
- Bảng 1: Quy mô khảo sát Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Năm 2023, Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) lần đầu tiên được xây dựng từ chín chỉ số thành phần. Mỗi chỉ số phản ánh một khía cạnh cụ thể, liên quan đến môi trường kinh doanh nói chung và chính sách phát triển kinh tế tư nhân nói riêng. Đó là các chỉ số:
- Chi phí gia nhập thị trường.
- Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất đai.
- Tính minh bạch và tiếp cận thông
- Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước.
- Chi phí không chính thức.
- Ưu đãi đối với doanh nghiệp nhà nước và môi trường cạnh
- Tính năng động và tiên phong của chính quyền tỉnh.
- Chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân.
- Thực hiện các chính sách của Trung ương.
Năm 2024, PCI bỏ một chỉ số thành phần là chỉ số về thực hiện chính sách của Trung ương và có thêm hai chỉ số thành phần mới. Đó là chỉ số về thiết chế pháp lý: đánh giá mức độ tin tưởng của doanh nghiệp đối với các thiết chế pháp lý tại địa phương; và chỉ số về đào tạo lao động: đánh giá những nỗ lực của chính quyền cấp tỉnh trong việc giải quyết sự thiếu hụt về lao động có tay nghề qua đào tạo tại địa phương. Ngoài ra, PCI 2024 còn cải tiến và hoàn thiện những chỉ số thành phần hiện có. Ví dụ như: chỉ số chi phí gia nhập thị trường được bổ sung thêm các thông tin điều tra về mức độ khó khăn khi thành lập doanh nghiệp. Chỉ số thành phần về đất đai cũng được điều chỉnh để phản ánh được hai khía cạnh quan trọng là khả năng tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất của doanh nghiệp.
Năm 2025, số lượng doanh nghiệp gửi ý kiến phản hồi nhiều hơn do vậy cơ sở dữ liệu thu được tin cậy và thuyết phục hơn. Đặc điểm mới của PCI 2025 là sự điều chỉnh phương pháp luận, theo dõi mức độ cải thiện của việc điều hành kinh tế qua thời gian.
II. PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH Khóa luận: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) tại Hà Nội.
Phương pháp xây dựng PCI được chia làm ba bước:
- Bước 1: Thu thập dữ liệu điều tra và dữ liệu cứng.
- Bước 2: Xây dựng các chỉ số thành phần.
- Bước 3: Tính trọng số của các chỉ số thành phần để tính chỉ số PCI.
2.1. Thu thập dữ liệu
Phương pháp thu thập dữ liệu chủ yếu là tiến hành điều tra, lấy ý kiến của các doanh nghiệp trên diện rộng, đồng thời sử dụng các nguồn số liệu đã được công bố chính thức, phỏng vấn các bên thứ ba như Ngân hàng Nhà nước, các Công ty kinh doanh bất động sản và các Hiệp hội doanh nghiệp. Quá trình phân tích kết hợp cả hai loại số liệu là số liệu khách quan (số liệu “cứng” định lượng) và số liệu chủ quan (số liệu “mềm” thể hiện những cảm nhận, đánh giá).
Công cụ thu thập là phiếu điếu tra với các câu hỏi được xây dựng phù hợp với bối cảnh của Việt Nam. Phương pháp chọn mẫu là phân tầng ngẫu nhiên – phương thức chọn mẫu đang được đánh giá cao trong nghiên cứu điều tra trên thế giới. Nhóm nghiên cứu sử dụng danh sách của cơ quan thuế để tiến hành chọn mẫu tỉ lệ theo tỉnh và phân nhóm các doanh nghiệp theo loại hình. Doanh nghiệp không được ở cùng một khu phố, một ngành nghề mà được chọn ngẫu nhiên từ nhiều phân tầng khác nhau. Do vậy, mẫu được chọn sẽ mang tính đại diện cho tất cả các doanh nghiệp đăng ký trên danh sách thuế. Hay nói cách khác, chỉ 100 doanh nghiệp cũng có thể có đủ các đặc điểm để mô tả cho tổng thể hàng nghìn doanh nghiệp tại một tỉnh.
2.2. Sử dụng các chỉ số thành phần
Để nghiên cứu chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, ta phải sử dụng rất nhiều chỉ tiêu nhỏ, được nhóm lại trong mười chỉ số thành phần sau:
- Chỉ số 1- Chi phí gia nhập thị trường
Chi phí gia nhập thị trường là chi phi được tính toán dựa trên kết quả đo lường thời gian một doanh nghiệp cần để đăng ký kinh doanh, xin cấp đất và nhận được mọi loại giấy phép, thời gian cần thiết để thực hiện tất cả các thủ tục để bắt đầu tiến hành hoạt động kinh doanh, số lượng giấy phép cần hoàn thành và cảm nhận về mức độ khó khăn trong việc xin các giấy phép đó. Để xây dựng chỉ số về chi phí gia nhập thị trường, cần có số liệu về:
- Tỷ lệ % doanh nghiệp mất hơn 1 tháng để khởi sự kinh
- Tỷ lệ % doanh nghiệp mất hơn 3 tháng để khởi sự kinh
- Tỷ lệ % doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc có được toàn bộ các giấy phép cần thiết để kinh doanh.
- Thời gian đăng ký kinh doanh (số ngày).
- Thời gian đăng ký lại (số ngày). Khóa luận: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) tại Hà Nội.
- Số lượng giấy đăng ký, giấy phép kinh doanh và quyết định chấp thuận mà doanh nghiệp hiện có.
- Thời gian chờ đợi thực sự để được cấp đất (căn cứ vào nỗ lực của chính quyền, không phải các điều kiện cung/cầu).
Chỉ số 2 – Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất
Xét đến việc tiếp cận và sử dụng đất đai là xét đến hai khía cạnh. Trước hết là tình trạng doanh nghiệp có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có đủ mặt bằng thực hiện những yêu cầu mở rộng kinh doanh hay doanh nghiệp đang phải thuê lại đất của doanh nghiệp nhà nước. Ngoài ra, ta cũng cần quan tâm đến việc thực hiện chuyển nhượng đất tại địa phương. Tiếp đến là cảm nhận của doanh nghiệp về những rủi ro trong quá trình sử dụng đất.
Để lượng hóa những nội dung định tính liên quan đến tiếp cận đất đai, cần thiết phải xem xét về:
- Tỷ lệ % doanh nghiệp có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Tỷ lệ % doanh nghiệp thuê lại đất từ doanh nghiệp nhà nước.
- Tỷ lệ % doanh nghiệp đánh giá nỗ lực của chính quyền tỉnh trong việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp là tốt hoặc rất tốt.
- Tỷ lệ % tổng diện tích đất trong tỉnh có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Đánh giá của doanh nghiệp về rủi ro thu hồi đất.
- Đánh giá của doanh nghiệp về chính sách bồi thường nếu đất bị thu hồi.
- Rủi ro về thay đổi các điều kiện cho thuê đất.
- Đánh giá về tính công bằng trong cách thức giải quyết tranh chấp về hợp đồng thuê đất.
Chỉ số 3 – Tính minh bạch và tiếp cận thông tin
Tính minh bạch là “Sự gia tăng luồng thông tin kinh tế, xã hội và chính trị một cách kịp thời và tin cậy về các dịch vụ công của chính quyền, về chính sách tiền tệ, … Ngược lại, thiếu minh bạch là tình trạng mà ở đó một cá nhân cố ý giữ riêng thông tin hoặc đưa ra các thông tin sai lệch hoặc không đảm bảo được đã cung cấp thông tin hoàn toàn phù hợp và có chất lượng”.
Chỉ số về tính minh bạch và tiếp cận thông tin đánh giá khả năng doanh nghiệp có thể tiếp cận những kế hoạch của tỉnh cũng như các văn bản pháp lý cần thiết cho hoạt động kinh doanh. Chỉ số này được thể hiện cụ thể qua các khía cạnh sau:
- Tính minh bạch của các tài liệu kế hoạch.
- Tính minh bạch của các văn bản pháp
- Vai trò của các “mối quan hệ” để có được các tài liệu kế hoạch của tỉnh.
- Vai trò của gia đình và bạn bè khi thương lượng với cán bộ Nhà nước.
- Thương lượng với cán bộ thuế là phần thiết yếu trong hoạt động kinh
- Khả năng dự đoán việc triển khai các quy định, chính sách Trung ương tại địa phương.
- Chính quyền tỉnh có tham khảo ý kiến với doanh nghiệp về những thay đổi trong các quy định pháp luật.
- Chất lượng dịch vụ tư vấn do cơ quan của tỉnh cung cấp về các quy định ở cấp Trung ương và cấp địa phương.
- Tính cởi mở: Đánh giá trang web của tỉnh. Khóa luận: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) tại Hà Nội.
Chỉ số 4 – Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước
Chỉ số này đo lường thời gian mà các doanh nghiệp phải tiêu tốn khi chấp hành các thủ tục hành chính, cũng như mức độ thường xuyên và thời gian doanh nghiệp phải tạm dừng kinh doanh để các cơ quan Nhà nước của tỉnh thanh tra, kiểm tra. Đây là chỉ số hoàn toàn mang tính định lượng, tổng hợp từ :
- Tỷ lệ % doanh nghiệp sử dụng hơn 10% quỹ thời gian để làm việc với chính quyền.
- Số ngày làm việc với chính quyền địa phương giảm.
- Số cuộc thanh
- Tỷ lệ giảm số cuộc thanh
- Số giờ thanh tra thuế.
Chỉ số 5 – Chi phí không chính thức
Đây là chỉ số đo lường mức chi phí không chính thức mà doanh nghiệp phải trả và những trở ngại do những chi phí này gây ra đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Chi phí không chính thức vốn rất nhạy cảm và khó nắm bắt. Hiện tại, mới chỉ có năm nhân tố tác động đến chỉ số về chi phí không chính thức, đó là:
- Tỷ lệ % doanh nghiệp cho rằng chi phí không chính thức là cản trở chính đối với hoạt động kinh doanh.
- Tỷ lệ % doanh nghiệp cho rằng các doanh nghiệp cùng ngành phải trả chi phí không chính thức theo yêu cầu của các cơ quan địa phương.
- Tỷ lệ % doanh nghiệp tốn hơn 10% doanh thu cho các loại chi phí không chính thức.
- Thực trạng cán bộ tỉnh sử dụng các quy định riêng nhằm mục đích trục lợi.
- Mức độ công việc được giải quyết sau khi doanh nghiệp đã bỏ chi phí không chính thức.
Chỉ số 6 – Môi trường cạnh tranh
Chỉ số này đánh giá cảm nhận của doanh nghiệp tư nhân về sự ưu đãi của chính quyền đối với các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa. Những ưu đãi này có thể trong ngắn hạn hoặc dài hạn, có thể công khai hoặc không công khai. Cho dù mức độ ưu đãi này là cao hay thấp thì nó cũng chắc chắn làm ảnh hưởng đến môi trường cạnh tranh chung, mà dễ thấy nhất đó là sự cạnh tranh giữa doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhà nước.
Chỉ số được xây dựng xuất phát từ việc đánh giá các nội dung sau:
- Ưu đãi đối với doanh nghiệp nhà nước là cản trở đối với công việc kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân.
- Thái độ của tỉnh đối với doanh nghiệp tư nhân.
- Thái độ đối với doanh nghiệp tư nhân đang được cải thiện.
- Thái độ không phụ thuộc vào mức đóng góp cho ngân sách tỉnh.
- Ưu đãi doanh nghiệp cổ phần hoá là cản trở công việc kinh doanh của doanh nghiệp.
- Đánh giá của doanh nghiệp về nỗ lực thực hiện cổ phần hoá của tỉnh.
- Tỷ lệ % thay đổi số doanh nghiệp nhà nước do địa phương quản lý.
- Tỷ trọng dư nợ cho vay của các ngân hàng cho doanh nghiệp nhà nước.
- Tương quan tỷ lệ giữa tỷ trọng nợ của doanh nghiệp nhà nước/ tổng số nợ của các doanh nghiệp so với tỷ trọng doanh thu của doanh nghiệp nhà nước/ tổng doanh thu của các doanh nghiệp trong năm trước.
Chỉ số 7 – Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh Khóa luận: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) tại Hà Nội.
Chỉ số này đánh giá khả năng linh hoạt của tỉnh trong quá trình thực thi chính sách Trung ương tại địa phương. Những tỉnh thành năng động thường tự mình đưa ra những sáng kiến riêng nhằm phát triển khu vực kinh tế tư nhân. Tính năng động của từng địa phương được thể hiện qua những biểu hiện cụ thể sau:
- Tính sáng tạo và sáng suốt trong việc giải quyết những trở ngại đối với cộng đồng doanh nghiệp.
- Tỉnh triển khai tốt các chính sách, quy định của Trung ương.
- Tỉnh hoàn toàn không có sáng kiến, mọi chính sách đều xuất phát từ Trung ương.
Chỉ số 8 – Chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân
Chỉ số về chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân là một chỉ số rất quan trọng. Nó phản ánh chất lượng và tính hữu ích của các chính sách cấp tỉnh nhằm phát triển khu vực kinh tế tư nhân. Cụ thể như các chính sách liên quan đến xúc tiến thương mại, cung cấp thông tin pháp luật, hỗ trợ tìm kiếm đối tác kinh doanh… Các chính sách này là cơ sở để hỗ trợ khu vực dân doanh trên nhiều mặt:
- Cung cấp thông tin thị trường.
- Cung cấp dịch vụ kết nối kinh
- Xúc tiến xuất khẩu và hội chợ thương mại.
- Xây dựng Khu công nghiệp và cụm công nghiệp.
- Cải tiến công nghệ và các dịch vụ liên quan đến công nghệ.
- Số lượng hội chợ thương mại do tỉnh tổ chức trong năm trước và số đăng ký trong năm hiện tại.
Chỉ số 9 -Đào tạo lao động
Chỉ số về đào tạo lao động cho biết mức độ và chất lượng của hoạt động đào tạo nghề và phát triển kỹ năng do tỉnh triển khai. Mục đích là nhằm hỗ trợ cho các ngành công nghiệp địa phương và tìm kiếm việc làm cho lao động địa phương. Chỉ số này được chi tiết và cụ thể hóa bằng các đánh giá về chất lượng và số lượng, đó là:
- Chất lượng dịch vụ giáo dục do các cơ quan của tỉnh cung cấp.
- Chất lượng dịch vụ đào tạo nghề cho người lao động do các cơ quan của tỉnh cung cấp.
- Chất lượng dịch vụ tuyển dụng và môi giới lao động do các cơ quan của tỉnh thực hiện.
- Số lượng trường dạy nghề trên 000 dân.
- Số lượng trung tâm giới thiệu việc làm trên 10.000 dân.
Chỉ số 10 – Thiết chế pháp lý
Thiết chế pháp lý thường mang tính ổn định, lâu dài và khó thay đổi. Nhưng mức độ ảnh hưởng của các thiết chế pháp lý đối với hoạt động của doanh nghiệp có thể thay đổi hàng năm. Điều này phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Hệ thống pháp lý tạo ra cơ chế để doanh nghiệp có thể khởi kiện hành vi tham nhũng của cán bộ công quyền.
- Lòng tin của doanh nghiệp và thiết chế pháp lý.
- Chủ yếu sử dụng thiết chế pháp lý để giải quyết tranh chấp.
- Số vụ tranh chấp bình quân trên 100 doanh nghiệp đang hoạt động.
- Số vụ tranh chấp của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên tổng số các vụ tranh chấp đưa ra Toà Kinh tế
2.3. Xây dựng chỉ số tổng hợp có trọng số Khóa luận: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) tại Hà Nội.
Sau khi xây dựng, tính toán các chỉ số thành phần, kết hợp với việc tính toán trọng số, kết quả thu được sẽ là chỉ số tổng hợp PCI . Trong mười chỉ số thành phần, có những chỉ số có vai trò quan trọng hơn những chỉ số còn lại khi lý giải sự khác biệt về phát triển kinh tế giữa các tỉnh. Bằng phép hồi quy đa biến, cứ một điểm tăng lên đối với mỗi chỉ số sẽ làm tăng một lượng phần trăm nhất định vốn đầu tư bình quân đầu người ở khu vực tư nhân. Con số phần trăm này chính là trọng số của mỗi chỉ số thành phần.
- Bảng 2: Trọng số của các chỉ số thành phần năm 2025
Mục đích của việc áp dụng trọng số nhằm đảm bảo điểm của các chỉ số thành phần được điều chỉnh hợp lý theo sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân tuỳ vào thời điểm nghiên cứu. Vì vậy, cách tính trọng số cho mỗi chỉ số thành phần qua từng năm đều có sự khác nhau, những chỉ số thành phần có tương quan nhiều nhất tới sự tăng trưởng của khu vực kinh tế tư nhân, đầu tư và lợi nhuận sẽ nằm trong nhóm trọng số cao là 15%; tiếp theo, những chỉ số thành phần có mức độ quan trọng giảm dần được sắp xếp tương ứng với nhóm trọng số trung bình là 10% và thấp nhất là 5%; những chỉ số thành phần có vai trò ít quan trọng hơn sẽ được gán cho trọng số thấp.
Có ba nguyên nhân giải thích vì sao một vài chỉ số thành phần nằm trong nhóm trọng số thấp.
- Một là, các chỉ số thành phần đó không độc lập với nhau. Sự tương tác giữa các chỉ số thành phần có thể gây ảnh hưởng lớn đến kết quả cuối cùng.
- Hai là, một số chỉ số có tính tương đồng cao giữa các tỉnh; nói cách khác, các tỉnh đạt điểm xấp xỉ nhau về chỉ số này nên không giúp lý giải sự khác biệt.
- Ba là, phần lớn khả năng giải thích của chỉ số đó có thể đã được bao hàm trong các chỉ số khác.
III. Ý NGHĨA CỦA CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH Khóa luận: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) tại Hà Nội.
3.1. Các đặc tính của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh có bốn đặc tính nổi bật, đó là tính thực tiễn, tính toàn diện, tính chính xác và tính đại diện.
- Tính thực tiễn: thể hiện qua phương thức khảo sát
Phiếu điều tra được cập nhật qua các năm, bao gồm các thông tin cơ bản về doanh nghiệp và các vấn đề về điều hành kinh tế cấp tỉnh. Có 70 câu hỏi trong 18 trang. Ban đầu phiếu điều tra bằng tiếng Anh được dịch sang tiếng Việt, sau đó dịch ngược lại sang tiếng Anh để đảm bảo nghĩa của các câu hỏi không thay đổi. Phiếu điều tra được trình bày trên giấy in đẹp, phong bì dễ nhận thấy. Sau đó Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam gửi phiếu điều tra vào thời điểm một tuần sau Tết, là thời gian chủ doanh nghiệp thường có mặt tại trụ sở của mình. Nhóm nghiên cứu cũng tiến hành gọi điện thoại đối với một mẫu ngẫu nhiên gồm các doanh nghiệp đã nhận được phiếu điều tra nhưng chưa có câu trả lời. Một đoạn văn được chuẩn bị từ trước để đọc thống nhất trong các cuộc điện thoại nhằm giải thích về tầm quan trọng của cuộc điều tra, động viên các doanh nghiệp hoàn thành phiếu điều tra và gửi lại đến Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam. Doanh nghiệp nào gặp khó khăn khi trả lời một số câu hỏi cụ thể cũng được giải đáp nếu có yêu cầu.
Danh sách các doanh nghiệp ở mỗi tỉnh được lấy từ Tổng cục thuế. Danh sách này đáng tin cậy hơn so với danh sách của Sở Kế hoạch và Đầu tư. Vì trong danh sách của Sở Kế hoạch và Đầu tư có thể có một số doanh nghiệp đã giải thể, một số doanh nghiệp chỉ đăng ký mà không hoạt động thực sự. Số điện thoại và địa chỉ của tất cả các doanh nghiệp đều được Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam kiểm định.
- Tính chính xác: thể hiện ở phương pháp nghiên cứu
Với cách tiếp cận từ góc độ doanh nghiệp, những người trực tiếp chịu tác động của môi trường kinh doanh, kết quả PCI thu được mang tính khách quan và trung thực cao. Khóa luận: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) tại Hà Nội.
Trong phương pháp phân tích hồi quy đa biến, việc chọn mẫu, phân tổ luôn được coi trọng. Trong tiêu thức phân tổ, quy mô của doanh nghiệp không được sử dụng vì nó có mối tương quan cao với loại hình doanh nghiệp. Hơn nữa gần 90 % doanh nghiệp Việt Nam có quy mô vốn nhỏ và vừa, tức là dưới 10 tỷ đồng. (Xem thêm Phụ lục 3)
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh chú trọng nhiều các yếu tố liên quan đến điều hành như thái độ hợp tác của chính quyền, sự bất trắc của môi trường chính sách, sự nhiêu khê của thủ tục hành chính… vốn là các yếu tố rất khó định lượng. Để đảm bảo tính khoa học, việc đưa ra trọng số cho mỗi chỉ số thành phần là một phương pháp hợp lý. Hơn nữa, vì PCI mang tính thời điểm, nên cách tính trọng số qua mỗi năm cũng khác nhau. Việc phân tích không chỉ dựa trên các dữ liệu mềm thu thập định tính mà còn kết hợp với các dữ liệu cứng có sẵn công khai dưới dạng định lượng.
- Mỗi chỉ số thành phần được phân tích trong mối quan hệ tác động đến những biến tăng trưởng kinh tế, cụ thể là:
Tỉ lệ doanh nghiệp tư nhân (Doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần) đang hoạt động so với dân số của địa phương. Số các doanh nghiệp đang hoạt động cho phép nhận định những công ty đã hoàn tất thủ tục đăng ký kinh doanh và vượt qua được giai đoạn đăng ký ban đầu để tiếp tục kinh doanh.
Mức đầu tư tư nhân dài hạn trên đầu người thể hiện tổng quát những rủi ro mà doanh nhân phải chịu. Giả định rằng các doanh nhân Hà Nội thường sẵn sàng đầu tư lớn hơn các tỉnh khác, nhưng thấp hơn mức tiềm năng, vì họ có thể đánh giá chính xác những rủi ro cũng như lợi ích dài hạn. Khi Hà Nội còn tồn tại hoặc phát sinh những cản trở đối với sự thành công của doanh nghiệp, mức đầu tư thường rất nhỏ.
Lợi nhuận trung bình của từng doanh nghiệp thể hiện mức độ thành công của công việc kinh doanh. Đây là cơ sở cho sự phát triển của doanh nghiệp trong tương lai.
- Tính toàn diện: thể hiện ở quy mô tiến hành
Trong khuôn khổ nghiên cứu, ở mỗi tỉnh thành chỉ có khoảng 100 doanh nghiệp gửi phản hồi nhưng 100 doanh nghiệp này mang tính đại diện cho hàng nghìn, hàng vạn doanh nghiệp hiện đang hoạt động tại địa phương.
Khi tiến hành chọn mẫu phân tầng, các doanh nghiệp được nhóm và phân theo tỉ lệ phần trăm tương ứng theo 3 tiêu chí: loại hình, ngành nghề và thời điểm Luật doanh nghiệp ra đời năm 2018.
- Biểu 3: Các tiêu chí phân loại doanh nghiệp
Luật Doanh nghiệp ra đời năm 2018 tạo rất nhiều điều kiện thuận lợi cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển: đơn giản hóa thủ tục thành lập doanh nghiệp, bãi bỏ hàng trăm giấy phép và quy định pháp luật không phù hợp, thiết lập một hệ thống văn bản mới hướng dẫn thi hành… Khóa luận: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) tại Hà Nội.
- Tính đại diện
Nếu xét dưới góc độ từ ngữ: PCI – Provincial Competitiveness Index – Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh có hàm ý rất rộng. Nhưng đó chỉ đơn thuần là cách gọi của nhà tài trợ. Để tránh hiểu nhầm, nhóm nghiên cứu đã đưa thêm một tên phụ là “Đánh giá chất lượng điều hành kinh tế để thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân”. PCI chỉ điều tra các doanh nghiệp dân doanh vừa và nhỏ, không có các tổng công ty, doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và doanh nghiệp nhà nước.
Trên thực tế, các doanh nghiệp FDI chỉ tập trung ở một số tỉnh thành. Nếu nghiên cứu cả các doanh nghiệp FDI sẽ làm cho việc cho đánh giá giữa các tỉnh, thành phố không đồng đều. Mặt khác, cùng với chính sách khuyến khích cổ phần hóa, số lượng doanh nghiệp nhà nước có xu hướng ngày càng giảm. Các doanh nghiệp dân doanh chiếm phần đông là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Chính những doanh nghiệp này phải tiếp xúc nhiều với bộ máy chính quyền các cấp, và không có nhiều thuận lợi như doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nhà nước. Vì vậy, nếu môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp tư nhân phát triển thì đương nhiên cũng thuận lợi cho doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nhà nước phát triển.
3.2. Phân tích thứ hạng Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Hàng năm, thông qua Chỉ số năng lực cạnh tranh được công bố, mỗi tỉnh thành được sắp xếp theo thứ tự từ cao xuống thấp và phân thành nhóm. Năm 2023, có 5 nhóm: Tốt, Khá, Trung bình, Tương đối thấp và thấp. Trong hai năm tiếp theo 2024 và 2025, có bổ sung thêm một nhóm mới gồm các tỉnh vượt trội rõ rệt so với các tỉnh còn lại. Nhóm tỉnh đứng đầu đó gọi là nhóm “Rất tốt”.
Việc phân thành các nhóm có ý nghĩa quan trọng hơn so với xếp hạng riêng biệt từng tỉnh. Khoảng cách giữa các nhóm thứ hạng là từ một phần hai điểm trở lên. Khi thay đổi cách gán trọng số khác nhau thì thành phần của từng nhóm vẫn khá ổn định và không có tình trạng một tỉnh từ nhóm này có thể nhảy sang nhóm khác, vì thế sử dụng nhóm để phân tích kết quả sẽ có ý nghĩa hơn so với việc lệ thuộc vào từng số thập phân của điểm số để phân tích.
- Biểu 4: Nhóm hạng Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh Khóa luận: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) tại Hà Nội.
Qua các năm, những tỉnh được “nâng bậc” và “giữ bậc” trong vị trí xếp thứ hạng cho thấy những biện pháp đã thực thi để cải thiện môi trường kinh doanh của chính quyền địa phương đã phát huy tác dụng tốt hay chưa tốt. Chính quyền của những tỉnh bị “tụt bậc” cần phải đánh giá lại phương thức hoạt động của mình, đồng thời có sự nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm từ những tỉnh bạn. Bởi “Thực chất PCI là chỉ số đánh giá về năng lực điều hành của lãnh đạo cấp tỉnh với kinh tế tư nhân chứ không chỉ bao quát về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh”.
3.3. Tác động của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh tới các địa phương
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh được nghiên cứu và công bố hàng năm có ý nghĩa rất lớn trong quản lý, điều hành kinh tế ở các địa phương. Nó chỉ ra năng lực cạnh tranh của từng tỉnh trong việc thu hút đầu tư và phát triển thành phần kinh tế tư nhân. Đó là sự đánh giá khách quan của những chuyên gia kinh tế thông qua phương pháp nghiên cứu có tính khoa học cao.
Thông qua PCI của mỗi tỉnh, thành, ta có thể thấy được nhiều mối quan hệ đan xen: giữa hoạt động của doanh nghiệp tư nhân với thực tiễn điều hành kinh tế, giữa thực tiễn điều hành kinh tế với hoạt động quản lý của chính quyền địa phương, và quan trọng hơn là mối quan hệ qua lại giữa bộ máy quản lý của địa phương với các thành phần kinh tế tư nhân.
- Biểu 5: Vòng tròn quan hệ
Vòng tròn quan hệ trên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì nó thể hiện rằng những chính sách và thực tiễn điều hành kinh tế tốt không chỉ làm lợi cho các doanh nghiệp mà còn làm lợi cho toàn xã hội. Một khu vực kinh tế tư nhân năng động sẽ là cơ sở để tạo thêm nhiều việc làm, góp phần nâng cao mức sống, trước hết là cho người dân địa phương.
Từ việc xem xét chỉ số năng lực canh tranh nói chung và các chỉ số thành phần nói riêng, các tỉnh thường ưu tiên đưa ra các cải cách đối với những chỉ số dễ cải thiện nhất, có thể tạo ra được những thay đổi thuận lợi cho hoạt động của khu vực kinh tế tư nhân.
Những chỉ số cần cải thiện xếp theo mức độ từ dễ đến khó thường là:
- Tăng tính minh bạch.
- Giảm chi phí giao dịch bằng tiền.
- Giảm số lần, thời gian và quy mô của các cuộc thanh tra, kiểm
- Cải thiện việc lập kế hoạch và chính sách.
- Tăng cường tính năng động.
- Giảm chi phí giao dịch về thời
- Cải cách trong lĩnh vực đất đai.
- Cải cách thủ tục đăng ký kinh
Như vậy, chỉ số nâng lực cạnh tranh cấp tỉnh được sử dụng như là một công cụ chính sách nhằm phục vụ cho công tác rà soát, chuẩn đoán, điều chỉnh hoạt động điều hành kinh tế của cấp tỉnh qua ba bước sau:
- Biểu 6: Ba bước rà soát hoạt động điều hành kinh tế cấp tỉnh
Khi PCI tăng thêm 1 điểm đồng nghĩa với việc tăng thêm:
- 7 doanh nghiệp trên 000 dân.
- 21 triệu VND lợi nhuận trên mỗi doanh nghiệp. Khóa luận: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) tại Hà Nội.
Mặt khác, giữa PCI và GDP của địa phương còn có mối quan hệ tuyến tính. PCI tăng thì GDP cũng tăng. Cải thiện được PCI cũng có nghĩa là mức sống của người dân được tăng lên nói chung và các doanh nghiệp nói riêng kinh doanh có hiệu quả hơn.
- Biểu 7: Mối quan hệ tuyến tính giữa PCI và GDP
Đường đồ thị của các tỉnh PCI cao có độ dốc lớn hơn đường đồ thị của các tỉnh PCI thấp. Khoảng cách giữa hai đường thẳng có thể được coi là “tổn thất” do điều hành kém. Ngoài ra, chỉ số PCI còn được đưa vào nội dung kế hoạch và chương trình của các nhà tài trợ trong lĩnh vực phát triển Kinh tế tư nhân cấp tỉnh, thành phố. Các nhà tài trợ như IFC-MPDF, DANIDA và GTZ dùng chỉ số PCI như một công cụ so sánh, xác định/ nghiên cứu vấn đề cũng như giám sát/ đánh giá các hoạt động hỗ trợ trong những chương trình cấp địa phương.
Tóm lại, Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh được xây dựng dựa trên cơ sở lý luận gồm ba nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất là loại trừ ảnh hưởng của các điều kiện truyền thống ban đầu tới sự tăng trưởng kinh tế. Mặc dù những điều kiện này là các nhân tố căn bản cần thiết cho sự tăng trưởng nhưng rất khó hoặc thậm chí không thể bị tác động trong ngắn hạn. Chính thực tiễn điều hành kinh tế tốt có vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Nó góp phần lý giải sự khác biệt về phát triển kinh tế giữa các tỉnh, giải thích tại sao các tỉnh đạt kết quả phát triển kinh tế tương đồng mặc dù điều kiện truyền thống ban đầu của mỗi tỉnh này rất khác nhau. Tập trung vận dụng các thực tiễn điều hành tốt sẽ góp phần cải thiện sự phát triển kinh tế mà không nhất thiết phải đòi hỏi ngay một sự thay đổi to lớn nào về mặt kết cấu hạ tầng hay con người ở vùng đó.
Thứ hai là chuẩn hóa chỉ số quanh các thực tiễn tốt đã có ở các địa phương. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh hướng chính quyền địa phương vào cải thiện cách điều hành, không nhất thiết phải dựa vào một mô hình chuẩn mực lý tưởng nhất định mà có thể căn cứ ngay vào những thực tiễn tốt, sẵn có ở các tỉnh bạn và ngay trong cùng một hệ thống chính trị. Vì vậy, về lý thuyết, bất cứ tỉnh nào cũng có thể đạt tới điểm tuyệt đối bằng cách áp dụng thực tiễn tốt sẵn có của Việt Nam. Điều đó có nghĩa là tỉnh này không thể biện hộ cho sự điều hành yếu kém của mình trong khi bất kỳ một tỉnh nào khác cũng có thể tự cải thiện để tạo ra môi trường kinh doanh hấp dẫn.
Thứ ba là so sánh thực tiễn điều hành kinh tế với thực tế phát triển kinh tế. PCI cung cấp các đánh giá ban đầu về tầm quan trọng của thực tiễn điều hành đối với sức thu hút đầu tư và tăng trưởng kinh tế. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là một minh chứng cụ thể về mối tương quan giữa thực tiễn điều hành kinh tế tốt với đánh giá của doanh nghiệp, và đặc biệt quan trọng là với sự cải thiện phúc lợi của địa phương. Các chính sách và thực tiễn điều hành kinh tế tốt không chỉ làm lợi cho các doanh nghiệp mà còn làm lợi cho xã hội, khu vực kinh tế tư nhân năng động sẽ tạo thêm việc làm, góp phần nâng cao mức sống cho nhân dân. Khóa luận: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) tại Hà Nội.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) ở Hà Nội
