Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp tại BIDV hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
LỜI MỞ ĐẦU
Nghị định số 90/NĐ-CP ngày 23-11-2002 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ đã nêu :” Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ là một nhiệm vụ quan trọng trong Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát huy tính chủ động sáng tạo, nâng cao năng lực quản lý, phát triển khoa học-công nghệ và nguồn lực…”. Nhận thức được điều này, trong thời gian qua các ngân hàng thương mại đã chú trọng quan tâm đến các doanh nghiệp này. Nhất là khi môi trường kinh doanh giữa các ngân hàng này càng trở nên khốc liệt thì việc hướng tới các doanh nghiệp vừa và nhỏ như là một đối tượng khách hàng đầy tiềm năng là chiến lược phát triển tất yếu của các ngân hàng thương mại.
Cùng với quá trình hội nhập kinh tế thế giới, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam ngày càng phát triển. Là một trong những nghiệp vụ quan trọng nhất của ngân hàng, không thể phủ nhận vai trò to lớn của hoạt động tín dụng trong việc phục hồi và thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói chung và của doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng. Hoạt động tín dụng có mang lại hiệu quả hay không không chỉ có ý nghĩa với Ngân hàng mà còn là vấn đề quan tâm của cả nền kinh tế. Hiệu quả hay nói cách khác là chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố trong đó có yếu tố thuộc về chính bản thân ngân hàng. Qua thời gian thực tập tại PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh em nhận thấy ngân hàng đã đẩy mạnh hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ và có những biện pháp nhất định trong việc nâng cao chất lượng tín dụng đối với loại hình doanh nghiệp này. Bên cạnh những kết quả đáng khích lệ thu được vẫn còn bộc lộ nhiều khó khăn, hạn chế đòi hỏi ngân hàng phải nỗ lực tìm cách giải quyết để có thể phát triển hơn nữa và tăng tính cạnh tranh trên thị trường. Vì vậy sau một thời gian tìm hiểu tại ngân hàng, em đã chọn đề tài :” Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh ” cho chuyên đề tốt nghiệp.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của đề tài gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại
- Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại phòng giao dịch Cẩm Phả – chi nhánh BIDV Quảng Ninh Khóa luận: Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp tại BIDV.
- Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cô Hoàng Thị Hồng Lan – Thạc sĩ khoa Quản trị kinh doanh – ĐHDL Hải Phòng cùng Ban giám đốc và toàn thể cán bộ PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành đề tài này. Do còn hạn chế về kiến thức cũng như kinh nghiệm nên bài viết không tránh khỏi thiếu sót, em kính mong nhận được sự góp ý của cô giáo và các cô chú, anh chị tại PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh để em có thể hoàn thành đề tài đạt kết quả tốt.
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1 Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.1 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ
Hiện nay trên thế giới, do đặc điểm kinh tế – xã hội của mỗi nước khác nhau, vì vậy mà không có một khái niệm thống nhất về Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN). Tuỳ theo thực trạng của các doanh nghiệp(DN), trình độ phát triển của mỗi nền kinh tế mà các nước có tiêu chí xác định cho riêng mình.Có rất nhiều tiêu chí phân loại nhưng chủ yếu dựa vào quy mô vốn và số lượng lao động.
| Nước | Tiêu thức áp dụng | |
| Số lao động | Tổng vốn hoặc giá trị tài sản | |
| Inđônêxia | <100 | <0.6 tỷ Rupi |
| Xingapo | <100 | <499 triệu USD |
| Thái Lan | <100 | <200 Bath |
| Hàn Quốc | <300 trong CN& XD
<200 trong TM& DV |
<0.6 triệu USD
<0.25 triệu USD |
| Nhật Bản | <100 trong bán buôn
<50 trong bán lẻ |
<100 triệu yên
<10 triệu yên |
| EU | <250 | <27 triệu EURO |
| Mỹ | <500 | <20 triệu USD |
| Mêhyco | <250 | <7 triệu USD |
(Nguồn: Giải pháp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam – NXB CTQG, tr2).
Tại Việt Nam, sau một thời gian nghiên cứu, học hỏi các quốc gia trên thế giới và theo sát thực tế thì ngày 23/11/2001 Chính Phủ đã ban hành Nghị định 90/2001/NĐ – CP trong đó có điều 3 viết về khái niệm DNVVN như sau: “DNVVN là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người”. Theo khái niệm này thì ở Việt Nam có khoảng 93% trong tổng số DN hiện có là DNVVN, cụ thể 80% DNNN thuộc nhóm DNVVN. Khái niệm này chỉ mang tính chất tương đối, bởi nó còn tùy thuộc vào lĩnh vực mà DN đang hoạt động. Mặc dù vậy, đây cũng là khái niệm mới nhất đang được áp dụng về DNVVN ở Việt Nam. Điều đó được coi là cần thiết và phù hợp với tình hình kinh tế – xã hội của nước ta trong giai đoạn hiện nay nhằm đưa ra nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của DNVVN trong nền kinh tế. Cùng với sự phát triển không ngừng của kinh tế Việt Nam cũng như xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, khái niệm về DNVVN sẽ có thể tiếp tục được sửa đổi.
1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ Khóa luận: Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp tại BIDV.
Tuy mỗi quốc gia có một khái niệm về DNVVN khác nhau nhưng hầu hết các DNVVN đều mang những đặc điểm chung .Theo Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương Việt Nam thì:
1.2.1. DNVVN có quy mô nhỏ về vốn đầu tư và số lượng lao động
Đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, số vốn đăng kí là dưới 10 tỷ đồng và số lượng lao động trung bình không quá 300 người. Do đó, có thể nói quy mô hoạt động của những doanh nghiệp này là không lớn khi so sánh trong tương quan nền kinh tế. Quy mô vốn nhỏ bé, nên hầu hết các doanh nghiệp này đều gặp khó khăn về vốn. Việc tiếp cận với các nguồn tài chính khác với những doanh nghiệp này cũng là một vấn đề nan giải. Nguồn vốn tự có thấp, khả năng tiếp cận với các nguồn vốn từ những tổ chức tín dụng thấp đã khiến cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp hàng loạt các khó khăn khác trong quá trình sản xuất kinh doanh.
1.2.2. Mô hình tổ chức của các DNVVN đơn giản, chi phí quản lý, đào tạo thấp.
Việc tổ chức sản xuất cũng như quản lý các DNVVN tương đối đơn giản, gọn nhẹ. Chủ DN dễ dàng hơn trong việc nắm bắt thông tin, điều hành, có sự gần gũi thường xuyên với nhân viên. Vì vậy rất ít hoặc không có xảy ra mâu thuẫn giữa lao động và chủ DN. Các quyết định, các chỉ tiêu đưa ra tới với người lao động một cách nhanh chóng, hạn chế các khâu trung gian, tiết kiệm chi phí.
1.2.3. DNVVN có khả năng cạnh tranh thấp
DNVVN thường gặp khó khăn trong việc khẳng định chỗ đứng trên thị trường. Do đặc điểm lượng vốn hoạt động nhỏ, khả năng tiếp cận các nguồn tài chính khác thấp nên các DNVVN thường gặp khó khăn trong việc mở rộng quy mô, triển khai dự án lớn và đầu tư mới. Không đủ vốn để nâng cấp, đổi mới các máy móc thiết bị, nghiên cứu khoa học kĩ thuật, các DN này thường sử dụng công nghệ lỗi thời. Vì thế sản phẩm sản xuất ra thường có chất lượng không cao. Bên cạnh đó, DNVVN có nhiều hạn chế trong công tác marketing, khuếch trương, quảng bá do đó làm giảm khả năng chiếm lĩnh thị trường và phát triển của DN.
1.2.4. DNVVN chịu nhiều ảnh hưởng từ môi trường bên ngoài
Số lượng các DNVVN chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số DN, tuy nhiên lượng vốn của các DN này lại không chiếm phần lớn lượng vốn của nền kinh tế. Trong nền kinh tế, DN lớn là trụ cột và DNVVN thường là vệ tinh quanh DN lớn, hoặc nếu là đối thủ thì cũng luôn tránh phải đối đầu trực tiếp vì khả năng cạnh tranh thấp. DNVVN hoạt động không chỉ tuân theo xu thế vận động của nền kinh tế mà còn chịu nhiều ảnh hưởng từ DN lớn. Khóa luận: Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp tại BIDV.
1.2.5. DNVVN rất linh hoạt, nhạy cảm và dễ thích ứng với sự thay đổi của thị trường
Các DNVVN thường có mối liên hệ trực tiếp với thị trường và người tiêu dùng, luôn cập nhật thông tin về DN lớn và đối thủ nên phản ứng nhanh nhạy, kịp thời với biến động của thị trường, đáp ứng được xu thế tiêu dùng. Do chỉ cần một lượng vốn bổ sung không nhiều, các doanh nghiệp này có thể dễ dàng đổi mới thiết bị và công nghệ hơn so với các doanh nghiệp lớn. Đồng thời DNVVN có thể kết hợp được cả công nghệ truyền thống và hiện đại ,ứng dụng được các kĩ thuật tiên tiến kết hợp tự động hoá, cơ khí hoá với lao động thủ công, trên cơ sở đó từng bước đổi mới công nghệ.
1.3 Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế thị trường
1.3.1. Tạo ra nhiều việc làm với chi phí thấp, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp
Theo số liệu thống kê năm 2024 của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, DNVVN của nước ta chiếm trên 80% tổng số doanh nghiệp, tạo công ăn việc làm cho khoảng 95% lao động xã hội .Các DNVVN được cho là một trong những phương tiện giải quyết thất nghiệp hiệu quả nhất. Do các DNVVN tham gia kinh doanh ở tất cả các ngành nghề, lĩnh vực của nền kinh tế với đa dang các sản phẩm nên có thể đảm bảo cơ hội việc làm cho nhiều đối tượng lao động ở nhiều vùng miền khác nhau. Mặt khác, do đặc điểm sản xuất kinh doanh không yêu cầu trình độ cao nên có thể sử dụng được các lao động ở các vùng sâu, vùng xa, vùng chưa phát triển kinh tế. Đặc biệt khi nền kinh tế khủng hoảng, trong khi các DN lớn thường phải sa thải nhân công để cắt giảm chi phí thì các DNVVN với tính chất linh hoạt, năng động của mình, có thể thích ứng nhanh với sự biến động của thị trường, có thể đứng vững mà không phải cắt giảm nhân công.
1.3.2 Đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế
Với quy mô vừa và nhỏ, các DNVVN có thể triển khai hoạt động ở mọi nơi, kể cả những nơi cơ sở hạ tầng chưa phát triển nhằm khai thác tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, phát triển kinh tế địa phương. Quy mô hoạt động cũng như trình độ công nghệ của các DN này rất thích hợp với những ngành cần nhiều lao động thủ công như ngành chế biến thuỷ, hải sản, may mặc, da giày, mà đây lại là những ngành đem lại kim ngạch xuất khẩu cao cho cả nước. Bên cạnh đó, do lợi thế của mình các DNVVN rất thích hợp với khu vực kinh doanh thương mại, dịch vụ bán lẻ. Trong khi đó các doanh nghiệp lớn khó có thể tổ chức được một mạng lưới bán lẻ để tiêu thụ hàng hoá của mình mà phải thông qua mạng lưới bán lẻ của DNVVN. Chính vì vậy, DNVVN đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng ở mọi nơi một cách nhanh chóng thuận tiện, từ đó rút ngắn khoảng cách về kinh tế giữa các vùng, góp phần làm cho nền kinh tế phát triển một cách đồng đều trên khắp cả nước. Sự phát triển của các DNVVN đã góp phần đáng kể trong việc giải quyết công ăn việc làm, tăng thu cho ngân sách Nhà nước cũng như tăng trưởng của cả nền kinh tế.
1.3.3. Tạo ra sự linh hoạt cho nền kinh tế Khóa luận: Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp tại BIDV.
Sự phát triển DNVVN đã thu hút được một lượng lớn lao động nông nghiệp ở các vùng nông thôn sang hoạt động ở lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ, góp phần nâng cao đời sống nhân dân, đẩy nhanh quá trình đô thị hoá. Bên cạnh đó còn góp phần chuyến dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Hơn nữa, số DNVVN tăng lên còn tạo ra sự cạnh tranh khốc liệt giữa các DN trong nền kinh tế. Trong đó, sản phẩm đưa ra nếu không muốn bị đào thải thì phải không ngừng nâng cao chất lượng và giảm chi phí. DNVVN đáp ứng được điều đó vì họ nhạy cảm với biến động của thị trường, linh hoạt trong sản xuất, sản phẩm họ đưa ra luôn bám sát yêu cầu của thị trường. Đây là thách thức lớn với những đối thủ cạnh tranh. Đối mặt với những bước biến chuyển khó lường của nền kinh tế như hiện nay thì DNVVN có thể coi là giải pháp an toàn, khi họ có thể nhanh nhạy và linh hoạt hơn các DN lớn. Nền kinh tế có thể giảm nhẹ những cú sốc nếu DNVVN thực sự phát triển ổn định.
1.3.4 Tăng nguồn tiết kiệm, tăng hiệu quả sử dụng vốn từ dân cư
Hầu hết các DNVVN đều tận dụng nguồn lao động của chính địa phương mà DN đang hoạt động. Khi DNVVN sản xuất kinh doanh, người lao động được hưởng lương và chủ DN có lợi nhuận, làm tăng quỹ tiết kiệm của dân cư tại địa phương. Tiềm lực tài chính trong dân rất mạnh, tuy nhiên lại nằm rải rác, không tập trung thành những khoản đủ để đáp ứng nhu cầu vốn lớn. Các DNVVN thành lập với yêu cầu về vốn không nhiều, do đó được hình thành dễ dàng, nằm phân tán tại khắp các địa phương, đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút nguồn vốn từ dân cư. DN tận dụng nguồn vốn nhàn rỗi này, đưa vào quá trình sản xuất kinh doanh, tạo ra giá trị mới, từ đó làm gia tăng hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính.
2 Hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại Khóa luận: Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp tại BIDV.
2.1 Khái niệm và đặc trưng của hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
2.1.1. Khái niệm hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Theo luật ngân hàng và tổ chức tín dụng Việt Nam 2023: Tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, các nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
Hoạt động tín dụng ngân hàng được dựa trên quyết định của thống đốc NH nhà nước số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001 về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với DN. Theo đó quan hệ tín dụng giữa DN và NH có thể hiểu như sau:
- DN phải cam kết hoàn trả vốn gốc và lãi với thời gian xác định.
- DN phải cam kết sử dụng tín dụng theo mục đích được thoả thuận với NH, không trái với quy định của pháp luật và các quy định khác của NH cấp trên.
- NH tài trợ dựa trên phương án có hiệu quả. Phương án hoạt động của DN đảm bảo khả năng thu hồi vốn và lãi của NH. Mặt khác, để đảm bảo đòi được nợ, các NH thường yêu cầu tài sản đảm bảo với mỗi khoản vay.
Tóm lại, tín dụng là một chức năng cơ bản của ngân hàng, và xét theo góc độ chức năng thì có thể đưa ra khái niệm về hoạt động tín dụng đối với DNVVN như sau: Hoạt động tín dụng đối với DNVVN là mối quan hệ về tài sản (tiền hoặc tài sản) giữa bên cho vay (NH) và bên đi vay (DNVVN), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, đồng thời bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Khóa luận: Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp tại BIDV.
2.1.2. Đặc trưng của hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Quy mô và tốc độ tăng trưởng tín dụng ngày càng cao. Các DNVVN ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng. Song vấn đề nổi lên hiện nay đó là giải quyết vấn đề vốn cho DNVVN. Trên thực tế các NHTM đang cạnh tranh mạnh mẽ để mở rộng cho vay đối với loại hình DNVVN, đặc biệt trong nhu cầu vốn tín dụng để mở rộng sản xuất kinh doanh. Báo cáo gần đây của NHNN cho biết hiện nay các NHTM xem DNVVN là đối tượng khách hàng tiềm năng của mình. Doanh số và dư nợ cho vay DNVVN của ngành ngân hàng liên tục tăng qua các năm. Tuy nhiên, cũng còn một vấn đề tồn tại đó là việc tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng của các DN gặp nhiều trở ngại do thiếu tài sản thế chấp, thủ tục phức tạp, lãi suất cao…
Nợ ngắn hạn đối với DNVVN chiếm tỷ trọng lớn. Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng là hoạt động tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. DNVVN vay vốn của ngân hàng thường rủi ro hơn các DN lớn. Tuy nhiên, tính chất của rủi ro đó thường nhỏ và không mang tính hệ thống, chỉ ảnh hưởng đến lợi nhuận chứ khó gây phá sản cho ngân hàng vì các khoản vay của DNVVN thường là khoản vay nhỏ và thường đi kèm với tài sản đảm bảo đề phòng khi gặp rủi ro ngân hàng sẽ phát mại tài sản đảm bảo để thu hồi khoản nợ. Hiện nay, có khoảng 50% DNVVN được vay vốn ngân hàng, nhưng chủ yếu là tín dụng ngắn hạn, không đáp ứng được nhu cầu đầu tư lớn và dài hạn.
Khả năng sinh lời trong tín dụng đối với DNVVN cao.Ngân hàng có thể thu được nguồn lợi lớn từ việc cho vay đối với DNVVN. Lãi suất đối với cho vay DNVVN thường cao hơn so với cho vay DN lớn. Bên cạnh đó, nếu tính trên tổng các khoản vay DNVVN, các ngân hàng còn thu thêm được nhiều khoản khác nhờ cung cấp thêm các dịch vụ như bảo lãnh, thanh toán, chuyển tiền, L/C…
Chi phí thẩm định trong tín dụng đối với DNVVN cao. Chi phí thẩm định của một khoản nợ đối với DNVVN thường được coi là cao vì các khoản nợ có giá trị thấp nhưng vẫn phải tiến hành đầy đủ các bước của quy trình tín dụng. Thời gian để cán bộ tín dụng thẩm định một DNVVN ít hơn DN lớn vì số lượng giao dịch ít, tài liệu ít nên các cán bộ tín dụng khó đưa ra quyết định. Do đó, chi phí thẩm định cao nhưng chưa chắc kết quả thẩm định có chất lượng tốt hơn.
2.1.3 Mục tiêu của hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại Khóa luận: Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp tại BIDV.
Hoạt động tín dụng đối với DNVVN tại NHTM hướng tới một số những mục tiêu cơ bản sau đây:
Mục tiêu cơ bản và quan trọng nhất của hoạt động tín dụng đối với DNVVN là mục tiêu sinh lời của NHTM. Với mong muốn mở rộng quy mô tín dụng để tìm kiếm lợi nhuận, trong khi thị trường DN lớn hạn chế về số lượng và chứa nhiều rủi ro, NHTM đã mở rộng thị trường sang phân đoạn mới là DNVVN. Tất nhiên khi cấp tín dụng cho DNVVN, NH mong muốn DN hoạt động hiệu quả, có đủ khả năng trả nợ cho NH, trong đó bao gồm cả lãi từ việc NH cấp tín dụng cho DN. Vì vậy dù triển khai dưới hình thức nào thì tựu chung lại mục tiêu lớn nhất của NH đối với hoạt động tín dụng dành cho DNVVN là vì lợi nhuận. Bên cạnh đó, với đặc điểm của các DNVVN có nhu cầu vốn nhỏ lẻ, nên hoạt động tín đụng đối với DNVVN hướng tới mục tiêu san sẻ rủi ro cho các khoản tín dụng phát sinh từ khách hàng DN lớn, đảm bảo sự an toàn cho hoạt động tín dụng nói chung tại NHTM.
Thứ hai, mục tiêu của hoạt động tín dụng là hỗ trợ sự hình thành và phát triển của các DNVVN. Nhận thức được tầm quan trọng của các DNVVN trong nền kinh tế, cũng như đối với hoạt động của bản thân NHTM, thì mục tiêu tiếp theo của hoạt động tín dụng đối với DNVVN là giúp các DNVVN trong quá trình hình thành và phát triển. Các DNVVN do hạn chế về vốn tự có nên để có thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh cần tới sự hỗ trợ từ tín dụng ngân hàng. Đối với các DNVVN thực tế việc huy động vốn từ thị trường tài chính là rất khó khăn, việc huy động vốn từ các tổ chức tài chính phi NH đòi hỏi chi phí rất cao cho nên nguồn vốn vay NH là sự lựa chọn thích hợp, có thể tối đa hóa lợi nhuận tại mức giá vốn rẻ nhất. Sử dụng nguồn vốn này DNVVN không những tiết kiệm chi phí, không gây ảnh hưởng tới quyền sở hữu của DN mà còn có khoản tiết kiệm thuế. Đồng thời tạo đòn bẩy cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả hơn. Có thể thấy hoạt động tín dụng đã giúp cho DNVVN tiến tới cơ cấu vốn tối ưu hơn. Khóa luận: Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp tại BIDV.
Thứ ba,mục tiêu của hoạt động tín dụng là góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh cho DNVVN. Ngân hàng luôn có những điều kiện nhất định đối với khách hàng vay vốn. Để có thể tiếp cận được với nguồn tín dụng ngân hàng, các DNVVN phải chứng minh được năng lực tài chính cũng như khai thác khả năng trả nợ của mình.Bởi vậy, bản thân DN phải khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn lực, không ngừng cải thiện tình hình tài chính và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh để tạo dựng được niềm tin với ngân hàng. Mặt khác, DN có trách nhiệm phải hoàn trả gốc và lãi vay đầy đủ đúng hạn, áp lực trả nợ này là động lực thúc đẩy các DNVVN làm ăn có hiệu quả hơn. Sau khi giải ngân, với tư cách là trung gian tài chính, có mối quan hệ với tất cả các chủ thể trong nền kinh tế cùng với đội ngũ nhân viên có đầy đủ chuyên môn, ngân hàng có thể nắm bắt thông tin một cách chính xác, nhanh chóng và giúp DN chủ động trước những thời cơ cũng như thách thức, tìm ra nguyên nhân của những khó khăn và cách khắc phục. Nhờ vậy, hoạt động sản xuất kinh doanh của DN được thông suốt và hiệu quả hơn.
Thứ tư,mục tiêu của hoạt động tín dụng là góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của các DNVVN.Với những hạn chế về trình độ tổ chức quản lý và kĩ thuật- công nghệ lạc hậu, các DNVVN khó có thể cạnh tranh được với các DN lớn nếu không có lượng vốn lớn phục vụ cho đầu tư phát triển DN. Trong khi vốn tự có hạn hẹp, mà khả năng tích lũy của DN thấp buộc các DN phải tìm đến vốn tín dụng ngân hàng. Vốn tín dụng ngân hàng tạo điều kiện cho các DN thực hiện được các kế hoạch kinh doanh, phát triển sản phẩm, từ đó tạo dựng uy tín trên thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh cho DN.
2.2 Các hình thức tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại
Có nhiều tiêu thức khác nhau để phân loại hoạt động tín dụng đối với DNVVN tại NHTM, nhưng trong nội dung bài viết phân loại theo hình thức cấp tín dụng. Cụ thể như sau:
2.2.1. Cho vay Khóa luận: Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp tại BIDV.
Thứ nhất, cho vay thấu chi đối với DNVVN. Cho vay thấu chi đối với DNVVN là nghiệp vụ cho vay qua đó NH cho phép DNVVN được chi vượt số dư tiền gửi thanh toán trong tài khoản của mình tới một giới hạn nhất định và trong khoảng thời gian xác định. Giới hạn đó được gọi là hạn mức thấu chi. Để được phép thấu chi, DN cần làm đơn xin NH cấp hạn mức và thời gian thấu chi có kèm theo phí cam kết. Trong quá trình hoạt động, DN có thể ký séc, mua thẻ, lập ủy nhiệm chi… vượt quá số dư tiền gửi nhưng trong hạn mức thấu chi. Khi DN có tiền nhập về tài khoản thì NH sẽ thu nợ gốc và lãi. Các khoản chi quá hạn mức sẽ phải chịu phạt lãi suất và đình chỉ hoạt động. Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản, phần lớn không có đảm bảo, có thể cấp vài ngày trong tháng hoặc vài tháng trong năm. Hình thức này thường chỉ sử dụng cho DNVVN có độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn và kỳ thu nhập ngắn.
Thứ hai, cho vay trực tiếp từng lần đối với DNVVN. Cho vay trực tiếp từng lần đối với DNVVN là hình thức cho vay tương đối phổ biến với các DNVVN không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện để được sử dụng hình thức thấu chi. DN thường sử dụng vốn chủ sở hữu và tín dụng thương mại là chủ yếu, chỉ khi có nhu cầu thời vụ hay mở rộng sản xuất kinh doanh mới vay NH, tức là vốn của NH tham gia vào một số giai đoạn nhất định của chu kỳ sản xuất kinh doanh.Lãi suất cỏ thể là cố định hoặc thả nổi. Nghiệp vụ cho vay từng lần đối với DNVVN tương đối đơn giản. NH có thể kiểm soát từng món vay tách biệt, tiền cho vay dựa trên giá trị của tài sản đảm bảo.
Thứ ba, cho vay theo hạn mức đối với DNVVN. Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó, NH thỏa thuận cấp cho DNVVN hạn mức tín dụng, có thể được tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ. Đó là số dư tối đa tại thời điểm tính. Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vay vốn của DNVVN. Trong kỳ DNVVN có thể vay, trả nhiều lần, song dư nợ không được vượt quá hạn mức tín dụng. Một số trường hợp NH quy định hạn mức tín dụng cuối kỳ thì dư nợ trong kỳ có thể lớn hơn hạn mức. Tuy nhiên tới cuối kỳ, DNVVN phải trả nợ để đảm bảo số dư không vượt quá hạn mức. Đây là hình thức cho vay thuận tiện cho DNVVN có nhu cầu vay thường xuyên, vốn vay tham gia nhiều vào quá trình sản xuất kinh doanh. Đối với hoạt động này NH không ấn định trước ngày trả nợ. Khóa luận: Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp tại BIDV.
Thứ tư, cho vay luân chuyển đối với DNVVN. Đây là nghiệp vụ cho vay dựa trên sự luân chuyển hàng hóa. DNVVN khi mua hàng có thể thiếu vốn và NH có thể cho vay để mua hàng rồi thu nợ khi DN bán hàng. Đầu quý hoặc đầu năm, DNVVN phải làm đơn xin vay luân chuyển. NH và DNVVN sẽ thỏa thuận với nhau về phương thức vay, hạn mức tín dụng, các nguồn cung cấp hàng hóa và khả năng tiêu thụ. Hạn mức tín dụng có thể được thỏa thuận trong một năm hoặc vài năm. Cho vay luân chuyển thường áp dụng cho DNVVN hoạt động trong lĩnh vực thương nghiệp hoặc sản xuất cho chu kỳ tiêu thụ ngắn ngày, có quan hệ vay trả thường xuyên với NH. Hình thức này thuận tiện cho DNVVN bởi thủ tục vay đơn giản, chỉ thực hiện một lần cho nhiều lần vay, DN được đáp ứng vốn kịp thời, vì vậy việc thanh toán cho người bán sẽ nhanh gọn. Nhưng nếu DNVVN gặp khó khăn trong tiêu thụ thì NH cũng sẽ gặp khó khăn trong việc thu hồi vốn do thời hạn khoản vay không được quy định rõ ràng.
Thứ năm, cho vay trả góp đối với DNVVN, là hình thức tín dụng, theo đó NH cho phép DNVVN trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận. cho vay trả góp thường được áo dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản cố định hoặc hàng lâu bền. Số tiền trả mỗi lần được tính toán sao cho phù hợp với khả năng trả nợ. NH thường cho vay trả góp đối với DNVVN thông qua hạn mức nhất định. Cho vay trả góp có rủi ro cao do DN thường thế chấp bằng hàng hóa mua trả góp. Chính vì vậy nên lãi suất cho vay trả góp thường cao nhất trong khung lãi suất cho vay của NH.
Thứ sáu, cho vay gián tiếp đối với DNVVN. Phần lớn hoạt động cho vay đối với DNVVN của NH là cho vay trực tiếp. Bên cạnh đó, NH cũng phát triển các hình thức cho vay gián tiếp. Đây là hình thức cho vay đối với các DNVVN thông qua các tổ chức trung gian như nhóm sản xuất, hội Nông dân, hội Cựu chiến binh, hội Phụ nữ,… Các tổ chức này thường liên kết các thành viên theo một mục đích riêng, song chủ yếu đều tạo nên hỗ trợ lẫn nhau, bảo vệ quyền lợi cho mỗi thành viên.
2.2.2. Chiết khấu thương phiếu
Nghiệp vụ chiết khấu được coi là đơn giản, dựa trên sự tín nhiệm giữa NH và người ký tên trên thương phiếu. Để thuận tiện cho DNVVN, NH thường ký với DN hợp đồng chiết khấu (cấp hạn mức chiết khấu trong kỳ). Khi cần chiết khấu, DN chỉ cần gửi thương phiếu lên ngân hàng xin chiết khấu. NH sẽ kiểm tra chất lượng của thương phiếu và thực hiện chiết khấu. Do tối thiểu có hai người cam kết trả tiền cho NH nên độ an toàn của thương phiếu tương đối cao (trừ trường hợp ngân hàng kí miễn truy đòi đối với khách hàng). Hơn nữa, NHTM có thể tái chiết khấu tại NHNN để đáp ứng nhu cầu thanh khoản với chi phí thấp nên thương phiếu được coi là tài sản dễ chuyển nhượng và có tính thanh khoản cao.
2.2.3. Cho thuê tài chính Khóa luận: Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp tại BIDV.
Phần lớn, các DNVVN vay vốn NH chủ yếu nhằm mục đích đầu tư và mua sắm TSCĐ trong DN. Nhưng có những trường hợp DNVVN không có hoặc chưa đủ điều kiện để vay. Nhằm mở rộng hoạt động tín dụng thì NH sẽ mua tài sản theo yêu cầu của DN sau đó cho DN thuê lại. Do tài sản thuộc sở hữu của NH nên NH có quyền thu hồi, chuyển bán hoặc cho người khác thuê trong trường hợp DNVVN không có khả năng trả nợ. Điều này sẽ góp phần làm giảm thiệt hại xảy ra cho NH.
Hoạt động cho thuê đối với DNVVN bắt nguồn từ các DNVVN sản xuất hoặc cung cấp thiết bị, nhà cửa có giá trị lớn, thời gian sử dụng dài. DN không đủ tiền mua hoặc chỉ muốn sử dụng trong thời gian ngắn hơn thời gian khấu hao của tài sản,… Trong nghiệp vụ cho thuê, NH xuất tiền theo yêu cầu của DNVVN và sau thời gian nhất định phải thu hồi đủ gốc và lãi. Tài sản cho thuê thường là tài sản cố định, vì vậy cho thuê được xếp vào tín dụng trung và dài hạn. DN phải trả gốc và lãi dưới hình thức tiền thuê hàng kỳ.
2.2.4. Bảo lãnh
Bảo lãnh NH đối với DNVVN là việc ngân hàng cam kết về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho DNVVN khi DN không thực hiện đúng nghĩa vụ như cam kết. Bảo lảnh NH được thực hiện dưới hình thức thư bảo lãnh.Trong hoạt động bảo lãnh của NH thì NH là bên bảo lãnh, DNVVN – khách hàng của NH là bên được bảo lãnh và người hưởng bảo lãnh là bên thứ ba.
Bảo lãnh NH đối với DNVVN được phân chia thành nhiều hoạt động khác nhau, trong đó chủ yếu là bảo lãnh bảo đảm tham gia dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước, bảo lãnh vay vốn và bảo lãnh đảm bảo thanh toán. Với hình thức tài trợ bằng uy tín này thì NH chưa cần xuất tiền ngay cho nên bảo lãnh được coi là tài sản ngoại bảng. Tuy nhiên, trong trường hợp DNVVN không có khả năng chi trả thì chính NH là bên thực hiện nghĩa vụ và khoản chi trả đó sẽ được xếp vào tài sản cấu thành nợ quá hạn trong nội bảng. Vì vậy mà hoạt động bảo lãnh chứa đựng rất nhiều rủi ro và đòi hỏi NH phải phân tích DNVVN một cách kỹ lưỡng.
2.2.5. Hình thức khác
Bên cạnh các hình thức cấp tín dụng chủ yếu, NH cũng cung cấp những hình thức tín dụng khác đối với DNVVN thông qua hoạt động tài trợ ngoại thương cho DN. Cụ thể trong hoạt động tài trợ xuất khẩu và nhập khẩu:
Thứ nhất, hình thức tín dụng thông qua hoạt động tài trợ xuất khẩu đối với DNVVN. Trong đó bao gồm nghiệp vụ chiết khấu hối phiếu, tài trợ trong khuôn khổ chứng từ, tạm ứng cho nhà xuất khẩu, bao thanh toán cho nhà xuất khẩu hoặc chiết khấu nợ dài hạn:
Thứ hai là hoạt động tài trợ nhập khẩu đối với DNVVN. Trong đó, NH có các nghiệp vụ cấp tín dụng dành cho DNVVN đặt mua hàng và hiệp định khung tài trợ nhập khẩu, tín dụng cho thuê mua vượt biên giới, cho vay mở L/C, tạm ứng cho nhập khẩu hay tín dụng chấp nhận hối phiếu danh cho nhà nhập khẩu…
2.4 Chỉ tiêu phản ánh kết quả của hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại Khóa luận: Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp tại BIDV.
Sau khi thực hiện hoạt động tín dụng đối với DNVVN, NHTM có thể theo dõi kết quả của hoạt động qua một số chỉ tiêu cụ thể sau đây:
- Chỉ tiêu dư nợ đối với DNVVN
Dư nợ đối với DNVVN có thể hiểu là số tiền DNVVN đang nợ NH tính vào một thời điểm nhất định. Chỉ tiêu dư nợ tín dụng đối với DNVVN có thể được phân loại theo tiêu thức loại tiền, kỳ hạn hay loại khách hàng.
NHTM có thể phân loại dư nợ tín dụng đối với DNVVN theo loại tiền nhằm cho thấy hiện tại NH đang cấp tín dụng cho DNVVN bằng những loại tiền nào và lượng của mỗi loại là bao nhiêu. Thường thì NHTM cấp tín dụng cho DNVVN trong nước bằng Việt Nam đồng, nhưng cũng có những trường hợp cấp tín dụng cho DNVVN xuất, nhập khẩu hoặc DN nước ngoài sẽ là các ngoại tệ hay được sử dụng trong giao dịch thương mại quốc tế như USD, EUR,…Việc phân loại dư nợ tín dụng đối với DNVVN theo loại tiền cũng hỗ trợ NH trong quá trình đánh giá, phân tích và phòng ngừa rủi ro tỷ giá đối với khoản tín dụng được cấp.
Bên cạnh đó, NHTM cũng có thể phân loại dư nợ tín dụng đối với DNVVN theo kỳ hạn cấp tín dụng: ngắn hạn, trung hạn, dài hạn. Việc phân loại theo kỳ hạn giúp NH có thể chủ động có kế hoạch và hoạt động cân đối dư nợ theo kỳ hạn một cách hợp lý. Tùy theo đặc điểm môi trường vĩ mô và chính sách tín dụng đối với DNVVN tại NH từng thời kỳ mà NH điều chỉnh tỷ trọng dư nợ theo các kỳ hạn khác nhau. Hơn nữa, kết quả hoạt động tín dụng đối với DNVVN thể hiện theo dư nợ kỳ hạn cũng giúp NH có cho mình kế hoạch chuyển hoán nguồn vốn linh hoạt tránh được rủi ro thanh khoản.
Cùng với hai tiêu thức trên, NHTM thường phân loại dư nợ tín dụng đối với DNVVN theo ngành nghề khách hàng, bao gồm DNVVN trong lĩnh vực thương mại dịch vụ, DNVVN trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp,… Cách phân loại này có thể cho NHTM cái nhìn tổng thể về những DNVVN là khách hàng của NH, từ đó đưa ra được những chính sách tín dụng ưu đãi phù hợp. Bên cạnh đó, kết hợp với định hướng của chính phủ trong từng giai đoạn để có sự hỗ trợ kịp thời với những DNVVN thuộc ngành nghề đang được khuyến khích, ưu tiên phát triển.
- Chỉ tiêu doanh số cho vay đối với DNVVN Khóa luận: Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp tại BIDV.
Là số vốn NH giải ngân cho khách hàng DNVVN trong một thời kỳ nhất định. Chỉ tiêu này phản ánh quy mô của hoạt động tín dụng đối với DNVVN tại NH, giúp NH theo dễ dàng đánh giá để duy trì hoặc điều chỉnh hoạt động tín dụng đối với DNVVN phù hợp với tình hình thực tế. Trong mỗi giai đoạn khác nhau, chính sách tín dụng đối với DNVVN tại NH có thể là mở rộng hoặc thu hẹp, vì vậy chỉ tiêu này cũng là một trong những chỉ tiêu phản ánh rõ ràng rằng kêt quả của hoạt động tín dụng đối với DNVVN tại NH có phù hợp với chính sách tín dụng đề ra hay không.
- Chỉ tiêu doanh số thu nợ đối với DNVVN
Doanh số thu nợ đối với DNVVN là số tiền mà khách hàng DNVVN đã trả cho NH trong một thời kỳ nhất đinh. Chỉ tiêu này phán ánh khả năng hoàn trả của DNVVN trong quan hệ tín dụng đối với NH. Bởi vậy khi chỉ tiêu này càng cao cho thấy NH có khả năng thu nợ tốt, là dấu hiệu thể hiện hoạt động tín dụng đối với DNVVN có nhiều khởi sắc, chất lượng tín dụng đối với DNVVN được nâng cao. Vì thế, doanh số thu nợ đối với DNVVN là một trong những chỉ tiêu trực tiếp phản ánh kết quả của hoạt động tín dụng đối với DNVVN tại NH.
3 Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại Khóa luận: Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp tại BIDV.
3.1 Khái niệm chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Khi xem xét chất lượng tín dụng của NH nói chung và chất lượng tín dụng đối với DNVVN nói riêng, cần xem xét từ góc độ của NHTM, khách hàng và nền kinh tế.
Tiếp cận dưới góc độ NHTM: Từ hoạt động tín dụng, DNVVN đưa khoản tín dụng được cấp vào sản xuất, kinh doanh với kỳ vọng tạo ra lợi nhuận cao hơn nhằm đảm bảo khả năng chi trả nợ gốc và lãi cho NH đầy đủ, đúng hạn. Song quá trình sản suất kinh doanh hàm chứa nhiều rủi ro khó lường, ảnh hưởng tới khả năng chi trả của DN. Vì vậy mà chỉ tiêu chất lượng tín dụng đối với DNVVN được đưa ra nhằm phản ánh, đo lường mức độ rủi ro trong bảng tín dụng đối với DNVVN của NHTM. Chất lượng tín dụng đối với DNVVN được đánh giá bằng việc phạm vi, quy mô, giới hạn tín dụng đối với DNVVN phù hợp với khả năng của NH theo hướng tích cực, đảm bảo nguyên tắc hoàn trả đúng hạn, có lãi, NH có khả năng cạnh tranh được trên thị trường,. Chất lượng tín dụng đối với DNVVN thể hiện ở chỉ tiêu lợi nhuận từ hoạt động tín dụng đối với DNVVN hợp lý và ngày càng gia tăng, quy mô dư nợ của DNVVN được mở rộng, tỷ lệ nợ quá hạn của DNVVN đúng quy định, đảm bảo cơ cấu nguồn vốn ngắn, trung và dài hạn trong nền kinh tế.
Xét trên góc độ DNVVN: thông qua mối quan hệ với DNVVN, bằng sự am hiểu sẽ giúp cho NH nắm bắt được nhu cầu tín dụng của DN, đảm bảo thỏa mãn một cách hợp lý. Vì vậy, với DNVVN, chất lượng tín dụng là sự đáp ứng nhu cầu tín dụng thể hiện ở quy mô tín dụng, lãi suất hợp lý, thủ tục cấp tín dụng đơn giản, hấp dẫn được DN nhưng vẫn đảm bảo theo đúng nguyên tắc, quy định tín dụng.
Xét từ góc độ nền kinh tế, chất lượng tín dụng đối với DNVVN thể hiện ở khả năng vốn tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh của DN, tạo ra nhiều việc làm, tăng thêm sản phẩm cho xã hội, góp phần khai thác tiềm năng và tăng trưởng nền kinh tế, thu hút tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong, ngoài nước có lợi cho phát triển kinh tế.
Tóm lại, chất lượng tín dụng đối với DNVVN là đặc tính của khoản tín dụng thể hiện khả năng đáp ứng nhu cầu vốn vay của DNVVN về quy mô, kỳ hạn và lãi suất hợp lý với mục tiêu đầu tư cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhằm giảm thiểu tối đa rủi ro tín dụng và đảm bảo lợi nhuận cho NH.
3.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại Khóa luận: Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp tại BIDV.
Để đánh giá chất lượng tín dụng đối với DNVVN tại NHTM thì có nhiều các chỉ tiêu khác nhau, nhưng tựu chung lại có thể chia làm hai nhóm chỉ tiêu rõ ràng, đó là nhóm chỉ tiêu định tính và nhóm chỉ tiêu định lượng. Trong nội dung bài viết, em xin được đi sâu hơn vào các chỉ tiêu định lượng trong việc đánh giá chất lượng tín dụng đối với DNVVN. Cụ thể như sau:
3.2.1 Chỉ tiêu định tính
Chất lượng tín dụng là một khái niệm vừa cụ thể vừa trừu tượng, chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khách quan và chủ quan. Việc quy định tiêu chuẩn cụ thể cho các chỉ tiêu định tính là rất khó khăn, và nó chỉ mang tính tương đối. Căn cứ vào tình hình cụ thể của mỗi ngân hàng trong tương quan của toàn hệ thống ngân hàng của mỗi một nền kinh tế, mỗi ngân hàng sẽ tự xác định tiêu chí cho chỉ tiêu định tính khác nhau.
Các chỉ tiêu định tính có thể được đánh giá trên các khía cạnh sau:
- Việc thực hiện luật, các văn bản, chế độ hiện hành của ngành về hoạt động tín dụng.
- Chính sách quản trị điều hành đúng đắn, chiến lược phát triển phù hợp với yêu cầu cạnh tranh, phát triển kinh doanh của ngân hàng trong từng giai đoạn cụ thể.
- Sự đóng góp của hoạt động tín dụng ngân hàng đến quá trình phát triển kinh tế- xã hội.
- Uy tín của ngân hàng, mức độ thoả mãn của khách hàng đối với các khoản tín dụng.
3.2.2. Chỉ tiêu định lượng
- Chỉ tiêu dư nợ, tốc độ tăng trưởng dư nợ, tỷ trọng dư nợ đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Nói tới dư nợ đối với DNVVN, nếu con số dư nợ đối với DNVVN của NH ở mức cao, tức là NH đang cho vay nhiều, đó là dấu hiệu tốt về quan hệ tín dụng của NH và DN. Ngược lại, khi dư nợ đối với DNVVN của NH rơi vào mức thấp tức là đang tiềm ẩn khả năng hoạt động tín dụng đối với DNVVN của NH gặp khó khăn, trình độ cán bộ tín dụng còn hạn chế, NH chưa thể mở rộng quy mô cấp tín dụng cho DNVVN… Khi đó có thể sẽ ảnh hưởng tới chất lượng của các khoản tín dụng đối với DNVVN. Phân tích sâu hơn, chúng ta xem xét chỉ tiêu tăng trưởng dư nợ đối với DNVVN. Chỉ tiêu này được tính cụ thể như sau:
Dựa vào chỉ tiêu này, có thể đánh giá được tốc độ tăng lên hay giảm xuống của dư nợ tín dụng đối với DNVVN như thế nào. Nếu tốc độ tăng trưởng dư nợ lớn hơn 0% chứng tỏ dư nợ tín dụng đối với DNVVN đang ngày một mở rộng. Bên cạnh đó nếu chỉ tiêu này có xu hướng tăng qua các năm thể hiện rằng dư nợ đối với DNVVN tăng lên với tốc độ ngày càng cao, khả năng chất lượng tín dụng theo đó được cải thiện. Ngược lại, nếu tốc độ tăng trưởng dư nợ nhỏ hơn 0% thì dư nợ tín dụng đối với DNVVN đang giảm xuống và chỉ tiêu này sẽ thể hiện tốc độ giảm sút dư nợ của loại DN này. Điều này cũng phần nào thể hiện chất lượng tín dụng đối với DNVVN còn hạn chế. Khóa luận: Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp tại BIDV.
Bên cạnh chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng dư nợ đối với DNVVN, chúng ta cần phải xét tới tỷ trọng dư nợ của loại khách hàng này trong tổng dư nợ của NH.
- Dư nợ của DNVVN
- Tỷ trọng dư nợ của DNVVN x100% Tổng dư nợ
Chỉ tiêu trên cho biết, hiện nay dư nợ của khách hàng DNVVN chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng dư nợ. Nếu chỉ tiêu này ở mức thấp, tất nhiên sẽ cho thấy hoạt động tín dụng của ngân hàng đối với DNVVN vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề, đi kèm với nó có thể là chất lượng tín dụng đối với loại khách hàng này chưa cao. Song nếu chỉ tiêu này cao, chưa hẳn đã nói lên chất lượng tín dụng tốt, bởi một số lý do khác như số khách hàng DNVVN tăng, kéo theo quy mô tín dụng đối với DNVVN tăng nhưng không có nghĩa là chất lượng tín dụng cũng tăng tương ứng.
- Chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Để thuận tiện trong việc quản lý các khoản nợ của NHTM thì NHNN đã đưa ra quyết định 493/2018/QĐ-NHNN, quy định về việc phân loại và xử lý nợ. Theo đó thì các khoản tín dụng sẽ được chia thành 5 nhóm nợ cụ thể tại điều 6 và các nội dung liên quan của quyết định này.
Trong hoạt động cấp tín dụng cho DNVVN, NH yêu cầu DN hoản trả đầy đủ, đúng hạn theo cam kết. Nếu DN không tuân thủ mà không đưa ra được lý do chính đáng thì DN đã vi phạm nguyên tắc tín dụng quan trọng của NH. Để xử lý ban đầu tình trạng đó, NH sẽ chuyển khoản nợ sang nợ quá hạn. Theo quyết định 493/2018/QĐ-NHNN thì “nợ quá hạn” là một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn, và được xác định bằng tổng dư nợ thuộc nhóm 2,3,4,5. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng nợ quá hạn, trong đó chủ yếu là do NH không xem xét kỹ khoản vay, đánh giá không chính xác thời gian sử dụng vốn cần thiết của DNVVN hoặc DN gặp khó khăn trong việc sản xuất, kinh doanh dẫn tới việc không có khả năng trả nợ. Nợ quá hạn tiềm ẩn rủi ro về thu nợ gốc và lãi, tính an toàn của khoản vay thấp làm ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng đối với DNVVN và hoạt động của NH. Vì vậy mà để đánh giá chất lượng tín dụng đối với DNVVN, người ta đưa ra tỷ lệ nợ quá hạn đối với DNVVN được xác định bởi công thức sau: Khóa luận: Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp tại BIDV.
- Dư nợ quá hạn của DNVVN
- Tỷ lệ nợ quá hạn x100%
- Tổng dư nợ của DNVVN
Tỷ lệ nợ quá hạn đối với DNVVN thường được tính vào một thời điểm nhất định. Từ chỉ tiêu này cho biết trong một đồng dư nợ của DNVVN, có bao nhiêu đồng nợ quá hạn. Nếu chỉ tiêu này đang ở mức cao thì NH lâm vào tình trạng khó khăn, mặc dù chưa phải đối mặt với tình trạng mất vốn song khả năng cung cấp vốn của NH cho khách hàng khác sẽ bị hạn chế. Việc này khiến cho chi phí cơ hội tăng lên, cũng làm ảnh hưởng tới tính thanh khoản và kế hoạch kinh doanh của NH. Tuy nhiên trên thực tế thì rủi ro luôn tồn tại và không thể loại bỏ được nên các NH chấp nhận một tỷ lệ nợ quá hạn nhất định, và coi đó là giới hạn an toàn tín dụng.
Một trong những chỉ tiêu cũng quan trọng không kém đó là tỷ lê nợ xấu đối với DNVVN. Nợ xấu theo quyết định 493/2018/QĐ-NHNN sẽ được xác định bằng tổng các khoản nợ thuộc nhóm 3,4,5. Các khoản nợ thuộc các nhóm này đều là các khoản nợ có khả năng thu hồi vốn kém, tiềm ẩn rủi ro cao. Vì thế mà tỷ lệ nợ xấu đối với DNVVN sẽ được xác định là:
- Tỷ lệ nợ xấu
- Dư nợ xấu của DNVVN của DNVVN x100%
- Tổng dư nợ của DNVVN
Tỷ lệ này cho biết, trong một đồng dư nợ của DNVVN có bao nhiêu đồng là nợ xấu. Nếu NHcó tỷ lệ nợ xấu ở mức cao tức là ngân hàng đang rơi vào tình trạng có nhiều khoản nợ khó thu hồi vốn, việc này gây thiệt hại lớn cho NH. Tỷ lệ nợ xấu là chỉ tiêu thể hiện rõ nét nhất sức khỏe của hoạt động tín dụng đối với DNVVN và là thước đo không thể thiếu khi đánh giá chất lượng tín dụng đối với DNVVN tại NHTM.
Chỉ tiêu cuối cùng trong nhóm chỉ tiêu này là tỷ lệ nợ không có khả năng thu hồi vốn đối với DNVVN, được xác định bởi công thức: Khóa luận: Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp tại BIDV.
- Tỷ lệ nợ không có
- Dư nợ không có khả năng thu hồi vốn của DNVVN x100% khả năng thu hồi vốn
- Tổng dư nợ của DNVVN
Nợ không có khả năng thu hồi vốn đối với DNVVN chính là nợ thuộc nhóm 5 của loại DN này. Khoản nợ thuộc nhóm này là mối đe dọa lớn với NH vì rủi ro đã ở mức cao nhất, NH phải đối mặt với việc sẽ không thu đủ vốn. Vì thế nếu tỷ lệ nợ không có khả năng thu hồi vốn cao cũng đồng nghĩa rằng NH có chất lượng tín dụng đối với DNVVN kém và NH sẽ phải chịu tổn thất lớn.Với tất cả các NHTM, nếu các chỉ tiêu này ổn định ở mức thấp chứng tỏ chất lượng tín dụng đối với DNVVN của NH đang được duy trì khá tốt. Trong mỗi thời kỳ, tùy vào sự biến động của nền kinh tế và chiến lược hoạt động của từng ngân hàng mà mỗi NHTM có cho mình một mức chấp nhận hợp lý đối với các chỉ tiêu này.
- 3. Chỉ tiêu tỷ trọng dư nợ có tài sản đảm bảo đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Tỷ trọng dư nợ có tài sản đảm bảo đối với DNVVN được xác định bởi công thức sau:
- Tỷ trọng dư nợ
- Dư nợ có TSĐB của DNVVN x100% có TSĐB của DNVVN
- Tổng dư nợ của DNVVN
Tỷ trọng dư nợ có tài sản đảm bảo đối với DNVVN cho biết trong một đồng dư nợ của DNVVN có bao nhiêu đồng có tài sản đảm bảo. Tài sản đảm bảo được coi là một trong những căn cứ để NH ra quyết định tín dụng bởi lẽ tài sản đảm bảo là nguồn trả nợ thứ hai của DNVVN đối với NH nếu DN thiếu hoặc mất khả năng trả nợ cho NH. Bởi vậy mà tài sản đảm bảo có vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động tín dụng của NH, giúp ngân hàng giảm “sốc” nếu rủi ro tín dụng xảy ra. Nếu tỷ trọng dư nợ có tài sản đảm bảo đối với DNVVN cao chứng tỏ các khoản tín dụng của NH đối với DNVVN có mức đảm bảo tốt. Điều này tạo tâm lý an toàn cho NH trong quá trình cấp tín dụng, hơn nữa do tỷ trọng cao, bắt buộc các DN vay vốn phải cố gắng làm ăn có hiệu quả, trả được nợ nhằm thu hồi tài sản đảm bảo. Vì vậy tỷ trọng dư nợ có tài sản đảm bảo đối DNVVN cao, có thể nói là dấu hiệu cho thấy chất lượng tín dụng đối với DNVVN tại NH tốt. Nhưng ngược lại, không hẳn tỷ trọng này thấp thì chất lượng tín dụng đối với DNVVN của NH thấp. Bởi lẽ, có những khách hàng DNVVN có mối quan hệ tín dụng tốt với NH, nên khi vay có thể không hoặc ít cần tài sản đảm bảo. Họ vẫn có khả năng hoàn trả nợ tốt, không gây ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng đối với DNVVN của NH. Vì thế bên cạnh chỉ tiêu này cần kết hợp thêm nhiều chỉ tiêu khác để việc đánh giá chất lượng tín dụng đối với DNVVN được chính xác. Hơn nữa cần duy trì tỷ trọng này ở mức phù hợp trong từng thời kỳ, tùy thuộc vào chính sách của NH và diễn biến của nền kinh tế nhằm đảm bảo an toàn cho hoạt động tín dụng đối với DNVVN.
- 4 Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Hiệu suất sử dụng vốn vay đối với DNVVN là chỉ tiêu được xác định bởi tỷ lệ dư nợ tín dụng đối với DNVVN trên nguồn huy động. Khóa luận: Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp tại BIDV.
Chỉ tiêu này cho biết trong một đồng vốn huy động có bao nhiêu là dành cho hoạt động tín dụng đối với DNVVN. Nó phản ánh quy mô cũng như khả năng tận dụng nguồn vốn của NH. Bên cạnh đó tỷ lệ này cũng đánh giá sự phù hợp giữa nguồn vốn huy động và tín dụng đối với DNVVN. Tại các NHTM thì tỷ lệ này luôn nhỏ hơn 1. Nếu tỷ lệ này tiến gần tới 1 thì NH cần đề phòng trường hợp mất khả năng thanh khoản. Song ngược lại nếu tỷ lệ này quá thấp cho thấy nguồn vốn huy động và tín dụng đối với DNVVN không phù hợp, ảnh hưởng tới khả năng sinh lời hoặc gây ra tình trạng ứ đọng vốn và không sinh lời. Điều này có thể bắt nguồn từ việc NH không có chủ trương mở rộng tín dụng hoặc không thu hút được DNVVN để cho vay. Muốn giải quyết vấn đề đó, NH cần phải tăng dư nợ tín dụng đối với DNVVN hoặc giảm nguồn huy động để hạn chế những rủi ro từ nguồn vốn ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng đối với DNVVN.
- 5 Chỉ tiêu lợi nhuận đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Lợi nhuận là yếu tố quan trọng đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Nó phản ánh trực tiếp tình hình hoạt động kinh doanh của chủ thể. Chất lượng tín dụng đối với DNVVN không thể cao nếu lợi nhuận của ngân hàng từ loại khách hàng này ở mức thấp. Từ đó người ta đưa ra chỉ tiêu lợi nhuận đối với DNVVN nhằm phản ánh mức sinh lời của hoạt động tín dụng đối với DNVVN.
- Mức sinh lời từ động tín dụng
- Lợi nhuận từ động tín dụng của DNVVN đối với DNVVN x100%
- Tổng dư nợ đối của DNVVN
Chỉ tiêu này cho biết, nếu trong một đồng dư nợ cấp ra cho DNVVN thì có bao nhiêu đồng lợi nhuận thu về. Vì vậy mà chỉ tiêu này cao cho biết hoạt động tín dụng đối với DNVVN đạt hiệu quả tốt, đi kèm với nó là chất lượng tín dụng đối với DNVVN tốt. Và ngược lại, nếu chỉ tiêu này thấp thì chất lượng tín dụng đối với DNVVN tại NHTM còn tồn tại nhiều hạn chế.
Bên cạnh đó, còn một chỉ tiêu thuộc nhóm chỉ tiêu lợi nhuận đối với DNVVN cũng có khả năng đánh giá chất lượng tín dụng đối với DNVVN, đó là tỷ trọng thu nhập từ hoạt động tín dụng đối với DNVVN.
- Tỷ trọng lợi nhuận
- Lợi nhuận từ động tín dụng của DNVVN từ động tín dụng x100%
- Tổng lợi nhuận
Hoạt động tín dụng là hoạt động mang lại nguồn thu chủ yếu cho NH, vì vậy mà thông qua chỉ tiêu này có thể đánh giá xem trong một đồng lợi nhuận của NH có bao nhiêu là từ hoạt động tín dụng đối với DNVVN mang lại. Nếu chỉ tiêu này cao có nghĩa là hoạt động tín dụng mà cụ thể là chất lượng tín dụng đối với DNVVN đạt kết quả tốt và ngược lại.
4 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại Khóa luận: Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp tại BIDV.
4.1 Nguyên nhân khách quan
4.1.1. Từ phía doanh nghiệp vừa và nhỏ
Khách hàng nói chung, DNVVN nói riêng là một nhân tố đặc biệt quan trọng trong hoạt động tín dụng, vì vậy mà khách hàng có tác động mạnh mẽ tới chất lượng tín dụng. Cụ thể theo nhiều khía cạnh:
Thứ nhất, năng lực quản lý của DNVVN là một trong những nhân tố của doanh nghiệp ảnh hưởng tới chất lượng khoản tín dụng. Sự thành công của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất, kinh doanh chủ yếu phụ thuộc vào khả năng nắm bắt, thích nghi với tình hình kinh tế hiện tại của chính DN. Mà điều đó lại thuộc về năng lực của bộ máy quản lý trong DN. Nếu năng lực tổ chức, quản lý, khả năng ứng biến với các tình huống khác nhau trong môi trường kinh doanh của DN tốt thì dự án mà doanh nghiệp thực hiện sẽ rất khả thi. Dự án đạt hiệu quả sẽ mang lại lợi nhuận cho DN, từ đó nâng cao khả năng trả nợ của DNVVN và đồng thời nâng cao chất lượng tín dụng đối với DNVVN của ngân hàng.
Thứ hai, năng lực tài chính của DNVVN Sau khi thẩm định tín dụng, ngân hàng sẽ chỉ đồng ý cho vay nếu chứng tỏ được năng lực tài chính và khả năng trả nợ của mình với ngân hàng. Năng lực tài chính mạnh có thể thể hiện ở các chỉ tiêu nổi bật như: khả năng thanh toán của DN cao, tỷ trọng vốn tự có lớn vòng quay vốn nhanh và tỷ suất lợi nhuận cao… Khi có tài chính vững mạnh thì doanh nghiệp bước vào sản xuất kinh doanh cũng thuận lợi hơn. DNVVN làm ăn hiệu quả, mang lại khả năng trả nợ cho NH cao hơn. Khi đó NH sẽ yên tâm cho DN vay vốn, kỳ vọng DN sẽ trả nợ đúng hạn, và chất lượng tín dụng sẽ được nâng cao. Bên cạnh đó, NH có thể theo dõi DN thông qua khả năng tài chính hiện tại, nếu khoản tín dụng có bất cứ vấn đề gì, NH sẽ đưa ra quyết định tín dụng kịp thời nhằm hạn chế rủi ro và tổn thất cho mình. Nhưng một khi năng lực tài chính của DNVVN bị hạn chế thì việc xảy ra rủi ro, tổn thất trong kinh doanh là không thể tránh khỏi, vì vậy sẽ ảnh hưởng xấu tới chất lượng khoản tín dụng được cấp. Khóa luận: Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp tại BIDV.
Thứ ba, mục đích sử dụng vốn vay của DNVVN có ảnh hưởng quan trọng tới chất lượng tín dụng. Khi cấp tín dụng, NH buộc DNVVN cam kết sử dụng vốn vay đúng mục đích. Từ đó NH có thể lường trước và kiểm soát những rủi ro có thể xảy ra với khoản tín dụng, nhằm hạn chế tối đa tổn thất cho NH cũng như nâng cao hiệu quả mà khoản tín dụng mang lại. Nhưng nếu DNVVN cố ý không thực hiện đúng cam kết sẽ gây khó khăn cho NH trong việc quản lý, giám sát, doanh nghiệp cũng sẽ mạo hiểm và gặp nhiều rủi ro hơn khi sử dụng vốn vay. Điều này sẽ làm ảnh hưởng tới khả năng trả nợ của DN và có tác động xấu tới chất lượng tín dụng đối với DNVVN của ngân hàng.
Thứ tư là tài sản đảm bảo của DNVVN. Hoạt động sản xuất, kinh doanh của DN luôn đi kèm với rủi ro có thể xảy ra bất cứ lúc nào và DN có thể rơi vào tình trạng mất khả năng trả nợ. Trong trường hợp đó thì tài sản đảm bảo dù là tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của DN, được bảo lãnh từ bên thứ ba hay hình thành từ nguồn tài trợ của ngân hàng cho khách hàng thì nó cũng là nguồn thu nợ thứ hai của NH. Nhưng quan trọng là tài sản đảm bảo có đặc tính chịu sự hao mòn vật lý và giá trị của nó bị chi phối bởi tác động thị trường. Vì vậy để đảm bảo an toàn tín dụng thì NH cần xác định rõ tỷ lệ của tài sản đảm bảo so với khoản tín dụng được cấp. Nếu tài sản đảm bảo không đáp ứng được tỷ lệ trên trong bất cứ thời điểm nào thì đó cũng là mối đe dọa đối với NH về chất lượng tín dụng đối với DNVVN giảm sút.
Thứ năm, đạo đức của DNVVN có tính quyết định trong việc hoàn trả vốn vay và có ảnh hưởng mạnh mẽ tới chất lượng tín dụng. Ngân hàng có thể thu được nợ đầy đủ và đúng hạn hay không phụ thuộc rất lớn vào thiện chí trả nợ, đạo đức kinh doanh của khách hàng. Đạo đức kinh doanh của DNVVN thể hiện ở việc doanh thu trung thực, sử dụng vốn vay đúng mục đích, thực hiện quản lý tốt đảm bảo hoạt động kinh doanh lành mạnh, hiệu quả, đảm bảo trả nợ cho ngân hàng cả gốc và lãi đầy đủ và đúng thời hạn. Nhưng ngược lại, nếu thiếu đạo đức trong quan hệ tín dụng thì DNVVN có thể nảy sinh hành động chiếm dụng vốn của NH hay sử dụng vốn vay sai mục đích cam kết. Việc làm này sẽ gây ảnh hưởng xấu tới khoản tín dụng được cấp và làm giảm chất lượng tín dụng.
4.1.2. Các chính sách của nhà nước Khóa luận: Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp tại BIDV.
Chính sách của nhà nước nói chung và các chính sách liên quan tới lĩnh vực tín dụng NH nói riêng có tác động mạnh mẽ tới hoạt động cũng như chất lượng tín dụng NH. Nếu chính sách của nhà nước có hướng mở rộng, khuyến khích, sẽ đẩy mạnh quá trình sản xuất, kinh doanh của DN, DN có nhu cầu vay vốn nhiều hơn để mở rộng quy mô. Việc sản xuất kinh doanh có hiệu quả sẽ đem lại nguồn lợi nhuận cho DN và đáp ứng yêu cầu trả nợ cho NH, đồng thời gián tiếp nâng cao chất lượng tín dụng và ngược lại. Cụ thể từ trước tới nay, mặc dù cho phép cấp vốn đối với loại hình DNVVN song nhà nước vẫn chưa có nhiều chủ trương ưu đãi cho khối doanh nghiệp này vì vậy mà các DNVVN gặp khó khăn khi tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng. Đặc biệt gần đây, khi điều kiện cấp tín dụng đối với DNVVN ngày càng thắt chặt thì vốn đã khó khăn, các DN không đủ điều kiện nay càng nhiều, cản trở việc vay vốn. Điều đó dẫn tới sự thu hẹp tín dụng đối với DN cả về quy mô và chất lượng, các DNVVN có tiềm năng nhưng vì điều kiện nào đó lại không thể vay vốn, gây ảnh hưởng tới hoạt động tín dụng của NH. Khi sự lựa chọn có giới hạn, NH gặp khó khăn khi cấp tín dụng cho doanh nghiệp, số DNVVN được vay ít đi đồng nghĩa với việc rủi ro tín dụng cao hơn do ít được san sẻ. Tất cả những điều này đều làm giảm sút chất lượng tín dụng đối với DNVVN nói riêng cũng như đối với khách hàng nói chung của NH.
4.1.3. Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sức mạnh tài chính của DNVVN, vì vậy nó gián tiếp tác động tới chất lượng tín dụng đối với DNVVN của NH. Đặc biệt là các nhân tố như: lạm phát, tỷ giá, lãi suất,… có ảnh hưởng lớn tới hoạt động tín dụng đối với DNVVN. Nếu môi trường kinh tế thuận lợi sẽ tạo điều kiện cho DNVVN phát triển, mở rộng sản xuất, kinh doanh. DN có nhu cầu vay vốn sẽ góp phần phát triển hoạt động tín dụng. Khi môi trường kinh tế ổn định, doanh nghiệp làm ăn có lãi sẽ gia tăng khả năng trả nợ cho NH, từ đó mà chất lượng tín dụng được đảm bảo. Song ngược lại, nếu lạm phát trong nền kinh tế tăng cao thì lãi suất thực sẽ giảm, kéo theo sự tăng lên về chi phí và đi xuống về lợi nhuận của ngân hàng. Mặt khác nếu lãi suất biến động thất thường sẽ gây áp lực về chi phí cho doanh nghiệp, doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc hoạch định các chính sách và chiến lược sản xuất, kinh doanh, làm ảnh hưởng tới khả năng trả nợ của DN, có tác động trực tiếp tới chất lượng tín dụng đối với DNVVN tại NH. Khóa luận: Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp tại BIDV.
4.1.4. Môi trường pháp lý
Với bất cứ nền kinh tế nào thì mọi thành phần của nó đều có quyền tự chủ, song chỉ được thỏa mãn nếu nằm trong khuôn khổ pháp luật. Hoạt động tín dụng cũng không ở ngoài quy luật đó, khi nó ngoài việc buộc phải tuân theo pháp luật nói chung thì còn có thêm sự điều chỉnh của luật ngân hàng nhà nước, luật các tổ chức tín dụng… Nếu các quy định trong văn bản luật không rõ ràng sẽ gây ảnh hưởng tới hoạt động tín dụng của ngân hàng và khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp. DNVVN và NH đều đặt trong tình trạng hoạt động không thông suốt sẽ gây ảnh hưởng xấu tới chất lượng tín dụng của ngân hàng. Ngược lại, nếu pháp luật được quy định rõ ràng, đầy đủ và ổn định sẽ tạo nên môi trường pháp lý lành mạnh, vững chắc, làm tiền đề cho NH trong việc hạn chế rủi ro, tổn thất trong hoạt động tín dụng, cũng làm cơ sở để ngân hàng giải quyết xung đột, tranh chấp có thể xảy ra. Từ đó góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng tín dụng đối với DNVVN.
4.1.5. Môi trường chính trị, xã hội
Môi trường chính trị, xã hội có ảnh hưởng tới toàn bộ nền kinh tế, trong đó có hoạt động tín dụng và cụ thể là chất lượng tín dụng đối với DNVVN tại NHTM. Nếu môi trường chính trị, xã hội ổn định đồng nghĩa với đời sống của nhân dân được đảm bảo, các doanh nghiệp yên tâm sản xuất, kinh doanh. Vì thế mà kể cả việc huy động và cấp tín dụng sẽ rất thuận lợi. DNVVN làm ăn hiệu quả là điều kiện để nâng cao khả năng trả nợ, nâng cao chất lượng tín dụng đối với DNVVN tại NH. Nhưng nếu như trong trường hợp không mong muốn, môi trường chính trị, xã hội bất ổn, thường xuyên xảy ra các vụ bạo động, đảo chính hay chiến tranh, hoặc các tệ nạn xã hội tăng cao sẽ làm giảm sút sức khỏe của nền kinh tế. Các thành phần kinh tế bao gồm cả DNVVN không yên tâm tập trung sản xuất kinh doanh vì nó ẩn chứa nhiều rủi ro, làm giảm khả năng mở rộng của hoạt động tín dụng, tất nhiên chất lượng tín dụng đối với DNVVN cũng theo đó mà đi xuống.
4.2 Nguyên nhân chủ quan Khóa luận: Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp tại BIDV.
4.2.1. Chính sách tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng
Hoạt động tín dụng nói chung và hoạt động tín dụng đối với DNVVN nói riêng là hoạt động đem lại nguồn thu chính cho NH vì vậy nó phải được thực hiện theo một chính sách tín dụng rõ ràng, cụ thể và chính sách này cần được hoàn thiện theo thời gian. Tùy theo tình hình cụ thể của từng NH mà chính sách tín dụng đối với DNVVN có thể là mở rộng, thu hẹp hay chú trọng đặc biệt tới khách hàng mục tiêu nào… Nếu chính sách tín dụng đối với DNVVN phù hợp thì tín dụng đạt hiệu quả sẽ tạo ra chất lượng tín dụng đối với DNVVN tốt. Và ngược lại nếu chính sách tín dụng đối với DNVVN không thức thời với tình hình đơn vị trong hiện tại sẽ làm cho ngân hàng bị chênh so với thực tế, dẫn tới việc các khoản tín dụng cấp ra không hợp lý, không trọng tâm, không nhạy cảm với tình hình kinh tế,.. và khả năng đi xuống của chất lượng tín dụng đối với loại khách hàng này. Bên cạnh đó, nếu quá cứng nhắc, NH sẽ gặp khó khăn trong quyết định cấp tín dụng, làm giảm tính cạnh tranh của NH. Vì vậy mà mỗi NH cần xây dựng một chính sách tín dụng đối với DNVVN phù hợp trong từng giai đoạn hoạt động, cần linh hoạt, đúng đắn theo từng bước đi của đơn vị mình.
4.2.2. Quy trình tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Quy trình tín dụng là tổng hợp các nguyên tắc quy định của ngân hàng trong việc cấp tín dụng. Việc xây dựng và thực hiện quy trình tín dụng một cách chặt chẽ, hợp lý sẽ giúp cho ngân hàng giảm bớt rủi ro đạo đức, quản lý khoản nợ một cách chặt chẽ, thu hồi được nợ đúng hạn, hạn chế rủi ro về khả năng mất vốn…Điều đó có nghĩa là chất lượng của khoản vay được cải thiện, và doanh lợi của ngân hàng cũng được nâng cao.Ngược lại, nếu quy trình tín dụng còn nhiều thiếu sót và hạn chế sẽ gây mất thời gian, cơ hội và gây sai lệch cho NH trong quá trính đưa ra quyết định tín dụng. Điều này sẽ làm ảnh hưởng xấu tới chất lượng tín dụng đối với DNVVN tại NHTM. Khóa luận: Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp tại BIDV.
4.2.3. Nguồn thông tin cung cấp cho hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Nguồn thông tin cung cấp cho hoạt động tín dụng đối với DNVVN đóng vai trò đặc biệt quan trọng với công tác thẩm định, phân tích và ra quyết định tín dụng cho DNVVN. Một quyết định tín dụng đúng đắn sẽ mang lại hiệu quả tín dụng cao cho ngân hàng đồng nghĩa với việc nâng cao chất lượng tín dụng đối với DNVVN. Thông tin có thể được cung cấp từ nhiều nguồn khác nhau như: từ hồ sơ xin cấp tín dụng, từ chính DNVVN thông qua phỏng vấn, từ các tổ chức tín dụng khác hay từ việc đối chiếu thực tế của cán bộ tín dụng. Khi thu thập và xử lý thông tin, cán bộ tín dụng ít nhiều gặp khó khăn trong việc tiếp cận với nguồn thông tin đầy đủ, chính xác và hữu dụng. Thông tin bị chi phối bởi nhiều nguồn cũng yêu cầu ngân hàng phải xác thực và tổng hợp lại trong thời gian nhanh nhất có thể. Bởi lẽ đó, nếu việc thu thập thông tin diễn ra nhanh chóng, nội dung thông tin có độ chính xác cao, toàn diện sẽ giúp cho NH giảm thiểu rủi ro khi đưa ra quyết định tín dụng, từ đó chất lượng tín dụng đối với DNVVN được nâng cao. Nhưng ngược lại nếu việc thu thập thông tin gặp khó khăn, nguồn thông tin đưa ra bị nhiễu và không chính xác, gây ảnh hưởng tới các quyết định tín dụng của NH, gây tổn thất cho NH khi cấp tín dụng, sẽ dẫn tới sự đi xuống của chất lượng tín dụng đối với DNVVN tại NH.
4.2.4. Chất lượng cán bộ tín dụng
Con người luôn là một yếu tố quan trọng trong quá trình phát triển của nền kinh tế và hoạt động ngân hàng không phải là ngoại lệ. Đặc biệt trong thời buổi hiện nay, khi hoạt động ngân hàng ngày càng đa dạng, phức tạp, phương tiện máy móc tiết bị ứng dụng trong lĩnh vực ngân hàng ngày càng hiện đại, nó đòi hỏi các cán bộ ngân hàng phải có trình độ chuyên môn giỏi, phải có khả năng ứng dụng khoa học kỹ thuật hiện đại một cách nhanh nhạy, không những thế cán bộ ngân hàng ngoài lĩnh vực ngân hàng còn phải am hiêu những lĩnh vực khác liên quan tới doanh nghiệp cho vay, từ công nghiệp, nông nghiệp tới dịch vụ.
4.2.5. Kiểm tra, kiểm soát nội bộ
Hoạt động tín dụng nói chung và đối với DNVVN nói riêng tuân theo các thể lệ, quy chế và nguyên tắc cho vay chuẩn mực. Nếu cán bộ tín dụng không nắm vững những điều này sẽ gây ảnh hưởng tới chất lượng của hoạt động tín dụng đối với DNVVN. Vì vậy mà việc kiểm tra, kiểm soát trong nội bộ NH là rất cần thiết để có thể giúp hoạt động tín dụng đối với DNVVN đi đúng hướng. Công tác kiểm tra, kiểm soát giúp việc điều hành công việc theo đúng quy chế và pháp luật, tìm ra những sai sót nhằm khắc phục kịp thời, tránh những rủi ro đáng tiếc và hạn chế tổn thất cho NH. Nếu thực hiện tốt thì thông qua kiểm tra, kiểm soát sẽ đảm bảo hoạt động tín dụng được thông suốt, hiệu quả, từ đó góp phần nâng cao chất lượng tín dụng đối với DNVVN. Song ngược lại, nếu công tác này còn hạn chế thì không phát hiện được những thiếu sót, lệch lạc trong hoạt động tín dụng đối với DNVVN, không sửa chữa kịp thời có thể dẫn tới quyết định tín dụng sai lầm, gây ảnh hưởng không nhỏ cho chất lượng tín dụng đối với DNVVN của NH. Khóa luận: Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp tại BIDV.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN tại BIDV
