Khóa luận: Pháp luật nhà nước về việc phòng chống tham nhũng

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Pháp luật nhà nước về việc phòng chống tham nhũng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước trong việc phòng chống tham nhũng ở Viêt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

2.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước 

2.1.1 Tổng quan

Trong điều kiện Đảng cầm quyền, Nhà nước là công cụ, phương tiện thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, đưa đường lối, chính sách của Đảng vào cuộc sống, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng đối với xã hội. Trong quá trình lãnh đạo Nhà nước và xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chăm lo lãnh đạo xây dựng bộ máy nhà nước, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước, cùng với đó kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham ô, tham nhũng và đạt kết quả quan trọng, được nhân dân đồng tình, ủng hộ.

Từ trước đến nay, Đảng ta đã ban hành rất nhiều chỉ thị, nghị quyết để lãnh đạo cuộc đấu tranh chống tham nhũng. Nghị quyết số 14/NQ/TW ngày 15-5-1996 về quan điểm chỉ đạo và một số giải pháp để đấu tranh chống tham nhũng của Bộ Chính trị khóa VII đã chỉ rõ: Đấu tranh chống tham nhũng là một bộ phận cấu thành quan trọng trong toàn bộ sự nghiệp đấu tranh cách mạng của Đảng và nhân dân ta hiện nay. Nó góp phần nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước, xây dựng Đảng và kiện toàn bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền dân chủ của nhân dân… Đấu tranh chống tham nhũng phải gắn liền và phục vụ cho đổi mới kinh tế – xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Chống tham nhũng là cuộc đấu tranh hết sức phức tạp, đòi hỏi có sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của Đảng, quan điểm, nguyên tắc xây dựng Luật phòng, chống tham nhũng chủ yếu dựa trên các quan điểm lớn đã được chỉ ra tại Nghị quyết số 14-NQ/TW ngày 15-5-1996 và trong một số văn kiện khác của Đảng như sau:

  • Đấu tranh chống tham nhũng phải gắn chặt với đổi mới kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường đại đoàn kết toàn dân;
  • Đấu tranh chống tham nhũng phải gắn liền và phục vụ cho đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng Đảng và kiện toàn, tăng cường đoàn kết nội bộ; Khóa luận: Pháp luật nhà nước về việc phòng chống tham nhũng.
  • Chống tham nhũng phải gắn liền với chống quan liêu, lãng phí;
  • Đấu tranh chống tham nhũng phải kết hợp giữa xây, phòng và chống. Vừa tích cực phòng ngừa, vừa xử lý nghiêm mọi hành vi tham nhũng;
  • Đẩy mạnh phòng và chống tham nhũng một cách chủ động, huy động và phối hợp chặt chẽ mọi lực lượng đấu tranh chống tham nhũng, thực hiện chống tham nhũng ở mọi cấp, mọi ngành;
  • Đấu tranh chống tham nhũng là nhiệm vụ lâu dài, phải tiến hành kiên quyết, kiên trì và thận trọng, không nóng vội, không chủ quan; phải có kế hoạch cụ thể, có bước đi vững chắc; sử dụng nhiều biện pháp, trong đó lấy giáo dục làm cơ sở, lấy pháp chế làm đảm bảo.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Nhận Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

2.1.2 Thực tiễn

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn nhận tệ nạn tham nhũng là loại kẻ thù cực nguy hiểm, kẻ thù ở bên trong  “nội xâm” , “kín đáo”. Chúng là kẻ thù của nhân dân, làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào tổ chức Đảng. Chính vì vậy ngay thừ khi thành lập Đảng, Chủ tịch luôn đề cao tư cách và đạo đức, “phải cần, kiệm, nói thì phải làm, phải biết hy sinh, ít lòng tham muốn về vật chất”. Bất cứ hành vi lấy “của công” làm “của tư” nào cũng đều bị Chủ tịch Hồ Chí Minh coi là hành vi tham ô, cần phải nghiêm trị; ngày 173-1952, Người viết bài về chống quan liêu, tham ô, lãng phí: “Quan liêu, tham ô, lãng phí là tội ác. Phải tẩy sạch nó để thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, để đẩy mạnh thi đua sản xuất và tiết kiệm, để đưa kháng chiến đến thắng lợi, kiến quốc đến thành công, để xây dựng thuần phong mỹ tục trong toàn dân, toàn quốc”; Chúng ta từng biết, năm 1950 khi Trần Dụ Châu, nguyên Giám đốc Nha Quân nhu can tội ăn cắp công quỹ và làm nhiều điều bỉ ổi bị tuyên phạt với mức án cao nhất – tử hình, thì Hồ Chủ tịch sau khi cân nhắc kỹ đã quyết định bác đơn xin giảm tội của Trần Dụ Châu.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng “Tham ô, lãng phí, quan liêu là một thứ giặc ở trong lòng”. Tác hại do tham nhũng gây ra cực kỳ to lớn về mọi mặt. Nó không những làm thiệt hại về kinh tế mà còn làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, với chế độ; làm rối loạn kỷ cương phép nước, làm hư hỏng cán bộ… Người nhắc nhở, chống loại kẻ địch này (tức nạn tham nhũng) khó khăn, phức tạp hơn so với đánh giặc ngoại xâm. Nhân kỷ niệm 39 năm Ngày thành lập Đảng (03-02-1930 – 03-02-1969), Bác viết bài báo “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, nêu: “Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao, tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. “Chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù nguy hiểm mà mỗi người chúng ta phải luôn luôn tỉnh táo đề phòng và kiên quyết tiêu diệt”. Trước lúc đi vào cõi vĩnh hằng, trong Di chúc, Người căn dặn: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư…”. Khóa luận: Pháp luật nhà nước về việc phòng chống tham nhũng.

Sau sự chuyển đổi mô hình Nhà nước quan liêu bao cấp, sang thể chế chính trị theo mô hình nhà nước “pháp quyền”, bên cạnh thành tự to lớn chúng ta cũng phải đối mặt với nhiều thách thức thậm chí mắc phải một số yếu kém, khuyết điểm, trong đó, nạn tham nhũng có chiều hướng càng phức tạp, nặng nề. Để khắc phục Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, văn bản quy phạm pháp luật để phát huy vai trò xã hội trong công tác đấu tranh và phòng chống tham nhũng như:

Nghị quyết chuyên đề số 14-NQ/TW ngày 15/5/1996 được coi là biện pháp quan trọng; Trong đó Bộ Chính Trị có nêu tuyên bố về lãnh đạo cuộc đấu tranh Phòng, chống tham nhũng: “Đấu tranh chống tham nhũng là bộ phận cấu thành quan trọng của toàn bộ sự nghiệp đấu tranh cách mạng của Đảng và nhân dân ta hiện nay, nó góp phần nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước, xây dựng Đảng và kiện toàn bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân”; Đồng thời nghị quyết đã chỉ ra rõ vai trò của các tổ chức chính trị xã hội, quần chúng nhân dân và báo chí trong đấu tranh Phòng, chống tham nhũng: “Huy động và phối hợp chặt chẽ mọi lực lượng đấu tranh chống tham nhũng. Xác định rõ trách nhiệm của tổ chức đảng và thủ trưởng chính quyền, xây dựng, kiện toàn các cơ quan bảo vệ pháp luật làm nòng cốt; nêu cao trách nhiệm của tổ chức chính trị – xã hội, động viên tích cực của nhân dân, phát huy vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng phải có kế hoạch giáo dục, động viên và tổ chức cho nhân dân tham gia tích cực đấu tranh chống tham nhũng”.

Nghị quyết TW 6 ( lần 2 ) khoá VIII tiếp tục khẳng định vai trò của nhân dân, của báo chí trong Phòng, chống tham nhũng: “Sử dụng đồng bộ hệ thống giám sát cán bộ, đảng viên, nhất là sự giám sát của tổ chức đảng, trước hết là từ chi bộ, sự giám sát của nhân dân, sự giám sát của công luận… Chỉ đạo các cơ quan thông tin đại chúng nêu gương “người tốt, việc tốt” giới thiệu kinh nghiệm của các điển hình tiên tiến; lên án cái xấu, cái ác, tích cực đấu tranh chống tham nhũng lãng phí…”.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành TW khoá IX chỉ rõ “xây dựng cơ chế để phát huy quyền làm chủ, quyền giám sát của nhân dân đối với tổ chức đảng, đảng viên”; “thực hiện khẩn trương cải cách hành chính, đẩy lùi quan liêu, tham nhũng, lãng phí, nhũng nhiễu nhân dân. Quan tâm đặc biệt đến đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa,…”.

Tại Đại hội X của Đảng đã đặt ra nhiệm vụ đấu tranh Phòng, chống tham nhũng là một nhiệm vụ trọng tâm của các hệ thống chính trị, trong đó đặc biệt nêu cao vai trò của các tổ chức đoàn thể, của quần chúng nhân dân, các tổ chức mặt trận, các hiệp hội ngành nghề và báo chí, truyền thông. Qua đó khẳng định Phòng, chống tham nhũng không phải là nhiệm vụ riêng của các cơ quan thanh tra, kiểm sát, điều tra, kiểm toán…mà là nhiệm vụ chung của toàn xã hội.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành TW đảng khoá X về “tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác Phòng, chống tham nhũng, lãng phí” đã đề ra 5 quan điểm chỉ đạo đối với công tác Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, trong đó, vai trò của xã hội được coi là định hướng quan trọng: “PCTN, lãng phí đạt được mục tiêu đề ra cần phải có sự tham gia của cả hệ thống chính trị và của toàn dân. Được sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, với sự tham gia tích cực của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam  và các tổ chức thành viên và của các tầng lớp nhân dân, công tác Phòng, chống tham nhũng được triển khai từ TW đến cơ sở, từ trong Đảng, trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị cho đến toàn xã hội”.

Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành TW Đảng khoá X đã kiểm điểm, đánh giá hai năm thực hiện Nghị quyết TW 3, khoá X. Nghị quyết Hội nghị này đã đưa ra phương hướng, nhiệm vụ công tác Phòng, chống tham nhũng trong thời gian tới là: “Các cấp uỷ cần xác định công tác Phòng, chống tham nhũng, lãng phí là một trong những trọng tâm công tác lớn, thường xuyên để tập trung chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc và đánh giá việc thực hiện; tang cường trách nhiệm của người đứng đầu; phát huy vai trò, trách nhiệm các cơ quan giám sát của Đảng, Nhà nước, Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên”. Khóa luận: Pháp luật nhà nước về việc phòng chống tham nhũng.

Nghị quyết Đại hội XI của Đảng tiếp tục khẳng định lại quan điểm “Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và các cơ quan thông tin đại chúng trong việc phát hiện, đấu tranh, phòng, chông tham nhũng”.

Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị về việc ban hành “Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội” đã nêu rõ mục đích của giám sát là nhằm, “Góp phần xây dựng và thực hiện đúng các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, các chương trình kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại; kịp thời phát hiện những sai sót, khuyết điểm, yếu kém và kiến nghị sửa đổi, bổ sung các chính sách cho phù hợp; phát hiện, phổ biến những nhân tố mới, những mặt tích cực; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh”. Quy chế xác định chủ thể giám sát là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội từ TW đến cơ sở, bao gồm Công đoàn Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam và Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; đối tượng giám sát là các cơ quan, tổ chức từ Trung ương đến cơ sở; cán bộ, đảng viên, đại biểu dân cử, công chức, viên chức nhà nước.

Như vậy có thể thấy:

Theo chiều dài lịch sử, với các văn kiện và Nghị quyết nêu trên, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định nhất quán vai trò quan trọng của phía xã hội trong Phòng, chống tham nhũng, coi phát huy vai trò của xã hội là giải pháp quan trọng hàng đầu trong Phòng, chống tham nhũng.

Phát huy vai trò của phía xã hội trong Phòng, chống tham nhũng là quan điểm tích cực của Đảng Cộng sản Việt Nam, kế thừa và vận dụng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trong thực tiễn Phòng, chống tham nhũng.

Tuy nhiên, đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam chưa ban hành Nghị quyết chuyên đề về phát huy vai trò của xã hội trong Phòng, chống tham nhũng; các văn kiện và Nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam đều chưa đề cập đến vai trò của xã hội dân sự trong Phòng, chống tham nhũng.

2.2 Khung pháp luật cơ bản Khóa luận: Pháp luật nhà nước về việc phòng chống tham nhũng.

2.2.1 Tổng quan

Tinh thần thượng tôn pháp luật là nển tảng vững chắc xây dựng Nhà nước pháp quyền do dân và vì dân; Hợp tác quốc tế và thực thi trách nhiệm quốc tế trong Phòng, chống tham nhũng được thể hiện năm 2009 Việt Nam phê chuẩn chính thức Công ước Liên hợp quốc về phòng chống tham nhũng (UNCAC); Từ đó cụ thể hoá cao trong hệ thống văn bản pháp luật về Phòng, chống tham nhũng, công tác xây dựng đã gắn với nhưng vấn đề thực tiễn của thế giới cũng như của Việt Nam song hành quyền lợi ích hợp pháp của cá nhân và tập thể. Vai trò xã hội trong PCTN đã thể hiện rõ nét trong các văn bản pháp luật, quy định pháp luật ngày càng được minh bạch, công khai, sát thực tiễn đối với yêu cầu xã hội, ý thức trách nhiệm công vụ được nâng lên.

Trong những năm gần đây không thể không nhắc tới sự vào cuộc của cả Hệ thống chính trị với “Không có vùng cấm, không có ngoại lệ” và  “Chiến lược Quốc gia về Phòng, chống tham nhũng” được ban hành theo Nghị quyết số 21/NQ-CP  ngày 12/5/2009 của Chính phủ. Với một quan điểm và tinh thần nhất quán: “PTCN là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy sức mạnh tổng hợp của các ngành, các cấp, nhấn mạnh trách nhiệm người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị, đề cao vai trò xã hội, các tổ chức đoàn thể và quần chúng nhân dân”. Cụ thể hoá đi vào nề nấp với nhiều văn bản pháp luật được Quốc hội thông qua, với nội dung và hình thức đã đề cập tương đối toàn diện những vấn đề liên quan vai trò của xã hội trong Phòng, chống tham nhũng, mang lại niềm tin cho nhân dân và cử tri trên cả nước. Vấn đề Phòng, chống tham nhũng được chuyên môn cao thông qua Luật Phòng, chống tham nhũng 2005, sửa đổi các năm 2007 và 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng. Sắp tới tháng 7/2019 Luật Phòng, chống tham nhũng 2018 có hiệu lực với nhiều điểm mới quan trọng như: Tăng lên 10 chương, trong đó mở rộng đối tượng kê khai tài sản, thu nhập, thêm một số tài sản, thu nhập cần phải kê khai và nêu cao hơn nữa tinh thần dân chủ xã hội. Vai trò Phòng, chống tham nhũng của xã hội được nêu cao trong Luật Mặt trận tổ quốc Việt Nam năm 1999 và năm 2015, khẳng định Mặt trận Tổ quốc là cơ quan tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trưởng của Đảng, Nhà nước; thực hiện giám sát và phản biện xã hội; Mặt trận Tổ quốc đã và đang là cơ quan đại diện cho nhiều tổ chức xã hội, các tầng lớp xã hội thúc đẩy phong trào phòng, chống tham nhũng trong xã hội. Bằng nhiều cách thể hiện, Phòng, chống tham nhũng còn được thể hiện trực tiếp qua Luật thanh tra năm 2004, 2010, Luật tiếp công dân năm 2013, Luật khiếu nại năm 2011, Luật tố cáo năm 2018 và nhiều nghị định cụ thể hướng dẫn thi hành luật; thể hiện chuyên môn hoá đa dạng trong từng vấn đề, vụ việc Phòng, chống tham nhũng hiện nay nắm bắt được nhu cầu và chiều hướng thay đổi của các ngành nghê và xã hội. Phòng, chống tham nhũng thể hiện gián tiếp qua nhiều văn bản quy pháp luật như: Luật Công đoàn năm 2013, Luật An ninh mạng, Luật Báo chí năm 2016, Luật tiếp cận thông tin năm 2016 và nhiều nghị định hướng dẫn thi hành luật… Việc lồng ghép thể hiện tính cập nhật và vô cùng cấp bách trong nhiều lĩnh vực đời sống, xã hội đã thúc đẩy mạnh mẽ, tăng cường vai trò xã hội, hệ thống chính trị trong công cuộc đẩy lùi suy thoái tham nhũng.

Kết quả thi hành pháp luật đã có nhiều vụ việc suy thoái được xử lý nghiêm minh với hình sự hoá các tội danh được quy định Bộ luật hình sự 2015 ( sửa đổi, bổ sung năm 2017), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự 2015 ( Luật số 12/2017/QH14), Bộ luật đã có thay đổi cập nhật tạo thành sợi dây kết nối với các Luật khác để kịp thời xử lý tội phạm về tham nhũng. Qua đó phát huy được vai trò xã hội trong Phòng, chống tham nhũng rất phong phú, đa dạng, với nhiều hình thức pháp lý và hiệu lực khác nhau, tạo nên sự nghiêm minh và thượng tôn pháp luật !

2.2.2 Cơ sở pháp lý Khóa luận: Pháp luật nhà nước về việc phòng chống tham nhũng.

Thuận lợi của khung pháp luật Phòng, chống tham nhũng của Việt Nam:

Trong những năm vừa qua Việt Nam đã xây dựng được số lượng văn bản pháp lớn và đồng thời không ngừng hoàn thiện các văn bản, các quy định liên quan đến phát huy vai trò xã hội trong Phòng, chống tham nhũng. Điều này được thể hiện sâu, rộng và sự tích cực hưởng hứng của toàn thể nhân dân trong xã hội.

Về nội dung, các văn bản pháp luật đã đề cập tương đối toàn diện những vấn đề liên quan đến phát huy vai trò của xã hội trong Phòng, chống tham nhũng; Trong đó, có những quy định mới như: công khai minh bạch, trách nhiệm giải trình của công chức và cơ quan nhà nước, quyền của người tố cáo, tố giác (bảo vệ người tố cáo, tố giác tham nhũng) và hành vi vi phạm pháp luật, khen thưởng người tố cáo tham nhũng, tiếp công dân…

Trong các Luật có liên quan Phòng, chống tham nhũng đa số cách thể hiện câu từ và nội dung đã khoa học, dễ hiểu; Các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành luật đã cập nhật nhanh chóng giúp cho việc áp dụng luật được thuận lợi hơn, tốt hơn.

Các Bộ, ban ngành, cơ quan, hệ thống thông tin truyền thông đã tuyền tải tốt về chính sách pháp luật, vận dụng có hiệu quả và đưa vào thực công việc nhanh chóng, giúp các cá nhân và tổ chức hiểu rõ quyền và trách nhiệm của mình với các luật mới ban hành.

Hạn chế, bất cập của khung khổ pháp luật Phòng, chống tham nhũng của Viêt Nam:

Hình thức văn bản: Việt Nam chưa có văn bản chính trị hoặc pháp lý chuyên biệt, tập trung về phát huy vai trò của xã hội trong Phòng, chống tham nhũng; Các quy định về vấn đề này hiện tồn tại tản mát, khu biệt trong nhiều Nghị quyết của Đảng và văn bản quy phạm pháp luật

  • Về nội dung văn bản:

Các quy định về công khai, minh bạch còn chưa mang tính bao quát và chưa thực chất, đặc biệt là chưa làm rõ về nguyên tắc, hình thức, nội dung, thời gian thực hiện công khai, minh bạch trên cơ sở trả lời các câu hỏi: Ai công khai, minh bạch với ai? Công khai, minh bạch cái gì? Công khai, minh bạch như thế nào? Khi nào công khai, minh bạch? Xử lý vi phạm quy định về công khai, minh bạch như thế nào? Khóa luận: Pháp luật nhà nước về việc phòng chống tham nhũng.

Việc phát huy vai trò xã hội trong Phòng, chống tham nhũng còn mang tính nguyên tắc, thiếu nhiều liên kết và mới chỉ ghi nhận ở quan điểm chính trị, các văn bản pháp luật còn chưa nhiều quyết tâm cao trong việc khẳng định vai trò thứ yếu của xã hội trong Phòng, chống tham nhũng; cũng như còn khoảng cách xã hội thứ bậc quan hệ nhà nước với công dân.

Xử lý trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức đơn vị mình còn thiếu rõ ràng, chưa thực chất và không khuyến khích được tính chủ động của người đứng đầu trong phòng ngừa, phát hiện hành vi tham nhũng. Các quy định hiện hành còn thụ động và bỏ ngỏ trong việc trao quyền cho tổ chức xã hội trong cuộc chiến chống tham nhũng.

Luật Phòng, chống tham nhũng các tiến bộ mới chỉ nhất định dừng lại ở việc dành một chương riêng để quy định vai trò xã hội trong Phòng, chống tham nhũng; Còn cụ thể hơn các quy định ở chương đó còn rất khái quát. Các chủ thể xã hội tham gia phòng chống tham nhũng đã mở rộng tuy nhiên vẫn còn thiếu chủ thể tổ chức phi chính phủ, tổ chức quốc tế; Nhiều lần sửa đổi, bổ sung Luật Phòng, chống tham nhũng vẫn chưa được hoàn thiện dù đã được quốc tế và nhiều tổ chức khuyến nghị bổ sung.

Các biện pháp bảo vệ người trong tố cáo tham nhũng, còn thiếu linh hoạt và chủ động. Chưa thể hiện được biện pháp bảo vệ hiệu quả, chưa đề cao được sự đãi ngộ và tri ân tốt đối với người đã tình nguyện hy sinh để bảo vệ công lý. Pháp luật Phòng, chống tham nhũng còn thiếu nhiều công cụ bảo vệ hữu hiệu cho người tố cáo, khen thưởng còn chưa kịp thời.

Việc quy định hành vi tham nhũng trong Luật Phòng, chống tham nhũng và tội phạm về tham nhũng trong Bộ luật hình sự chưa hợp lý cũng dẫn đến hiệu quả xử lý hành vi tham nhũng và thu hồi tài sản tham nhũng còn thấp; Các quy định về minh bạch tài sản, thu nhập chưa giúp kiểm soát biến động về thu nhập, còn phức tạp về trình tự, thủ tục công khai bản kê khai, giải trình, xác minh tài sản, thu nhập khi có yêu cầu; thiếu quy định về việc xử lý các tài sản, thu nhập không được giải trình một cách hợp lý và thời hạn người kê khai tài sản, thu nhập có nghĩa vụ giải trình về tài sản, thu nhập.

  • Về kỹ thuật xây dựng văn bản:  Khóa luận: Pháp luật nhà nước về việc phòng chống tham nhũng.

Việc thiếu một khái niệm tổng thể làm cho các quy định cụ thể thiếu tính hệ thống, dễ bị sót. Hơn thế, quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng và trong các văn bản pháp luật chưa có đồng bộ, thiếu cụ thể, thiếu biện pháp đảm bảo để thực thi có hiệu quả. Trên thực tế và theo kinh nghiệm của nhiều quốc gia trên thế giới, kiểm soát xung đột lợi ích không chỉ liên quan đến mỗi cá nhân cán bộ, công chức mà cần phải đặt họ trong các mối quan hệ khác nhau, đặc biệt là trong quan hệ công vụ, quan hệ gia đình, quan hệ thân thích và các quan hệ xã hội nói chung. Lợi ích cá nhân mà cán bộ, công chức hướng tới có thể là hữu hình (tài sản và các lợi ích vật chất khác) hoặc vô hình (giá trị tinh thần hoặc các lợi ích phi vật chất khác); lợi ích cá nhân đó có thể trực tiếp mang lại cho cán bộ, công chức, vợ/ chồng, con, gia đình của cán bộ, công chức hoặc những người thân khác; lợi ích cá nhân có thể xuất hiện trước, trong hoặc sau khi có quyết định hoặc hành vi quản lý.

Luật Phòng, chống tham nhũng và các văn bản pháp luật hiện hành chưa đưa ra một khái niệm chính thức về xung đột lợi ích, kiểm soát xung đột lợi ích mà bước đầu chỉ ghi nhận và đưa ra các biện pháp giải quyết các tình huống xung đột lợi ích cụ thể, liên quan đến việc tặng quà và nhận quà tặng (lợi ích vật chất); có hành vi hoặc ra quyết định (hoặc gây ảnh hưởng) có lợi cho cá nhân hoặc người thân của người thực hiện hành vi, ra quyết định; đầu tư và chia sẻ lợi ích với doanh nghiệp và sử dụng lợi thế thông tin có được từ vị trí công tác. Việc thiếu một khái niệm tổng thể làm cho các quy định cụ thể thiếu tính hệ thống, dễ bị sót. Hơn thế, quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng và trong các văn bản pháp luật chưa có đồng bộ, thiếu cụ thể, thiếu biện pháp đảm bảo để thực thi có hiệu quả. Trên thực tế và theo kinh nghiệm của nhiều quốc gia trên thế giới, kiểm soát xung đột lợi ích không chỉ liên quan đến mỗi cá nhân cán bộ, công chức mà cần phải đặt họ trong các mối quan hệ khác nhau, đặc biệt là trong quan hệ công vụ, quan hệ gia đình, quan hệ thân thích và các quan hệ xã hội nói chung. Lợi ích cá nhân mà cán bộ, công chức hướng tới có thể là hữu hình (tài sản và các lợi ích vật chất khác) hoặc vô hình (giá trị tinh thần hoặc các lợi ích phi vật chất khác); lợi ích cá nhân đó có thể trực tiếp mang lại cho cán bộ, công chức, vợ/ chồng, con, gia đình của cán bộ, công chức hoặc những người thân khác; lợi ích cá nhân có thể xuất hiện trước, trong hoặc sau khi có quyết định hoặc hành vi quản lý.

Còn nhiều quy định về trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, giải quyết tố cáo nhằm nâng cao hiệu quả phát hiện tham nhũng chưa có sự phân định rõ ràng nhằm tăng cường tính chủ động và điều phối trong hoạt động phối hợp giữa các cơ quan. Cụ thể Thanh tra nhân dân thực chất không phải là hoạt động thanh tra Nhà nước mà chỉ là phương thức giám sát dân cử của nhân dân đối với hoạt động của cơ quan; Tuy nhiên Ban thanh tra nhân dân vẫn được chế định trong Luật Thanh tra năm 2004, năm 2010 chưa quy định rõ giữa hoạt động thanh tra của Nhà nước và hoạt động giám sát của nhân dân gây nhiều hiểu lầm giữa hai hoạt động này. Khóa luận: Pháp luật nhà nước về việc phòng chống tham nhũng.

Quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng còn những “khoảng trống”/ sự “ngắt quãng” quá trình phát hiện, xử lý hành vi tham nhũng bởi các cơ quan có thẩm quyền. Qua đánh giá về cơ chế phối hợp trong phát hiện, xử lý tham nhũng thì việc tồn tại các “khoảng trống”, thiếu tính kế thừa giữa các cơ quan có thẩm quyền chính là nguyên nhân dẫn đến hiệu quả phối hợp còn nhiều hạn chế.

Tiểu kết chương 2

Tiếp nối chương 1, tại chương 2 đã đi sâu tới “Đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước trong việc phòng chống tham nhũng ở Việt Nam”. Đề cập tới tổng quan lịch sử song song với thực tiễn hiện tại, để thấy được sự nhất quán của Đảng đối với Phòng, chống tham nhũng. Nêu rõ khung chính sách pháp luật của Nhà nước trong việc Phòng, chống tham nhũng, từ đó đưa ra được thuận lợi và hạn chế bất cập của khung pháp Luật Phòng, chống tham nhũng Việt Nam. Khóa luận: Pháp luật nhà nước về việc phòng chống tham nhũng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Thực tiễn công tác phòng chống tham nhũng ở VN

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x