Khóa luận: Thực trạng thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

2.1. Thực trạng xây dựng pháp luật đảm bảo bình đẳng giới

Bình đẳng giới là mục tiêu của mọi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa nói chung. Đó là mục tiêu của cuộc đấu tranh giải phóng phụ nữ của Đảng và nhân ta trong suốt chặng đường cách mạng. Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán quan điểm bình đẳng nam nữ. Quan điểm này được khẳng định khi Việt Nam chính thức phê chuẩn công ước CEDAW của Liên hiệp quốc về: “xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ” vào ngày 27/11/1981. Vấn đề bình đẳng giới cũng được thể hiện qua Nghị quyết 04/ NQ-TW ra ngày 12/07/1993 của Bộ chính trị về “Đổi  mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới”. Nghị quyết thể hiện rõ quan điểm: Mục tiêu giải phóng phụ nữ hiện nay là thiết thực cải thiện đời sống vật chất và tinh thần, nâng cao vị trí xã hội của phụ nữ, thực hiện tốt nam nữ bình đẳng, xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc. Xây dựng người phụ nữ Việt Nam yêu nước, có tri thức, có sức khỏe, năng động, sáng tạo, có lòng nhân hậu, biết quan tâm lợi ích xã hội và cộng đồng.

Những tiền đề trên là cơ sở để xây dựng hệ thống pháp luật bình đẳng giới ở nước ta.

Trước khi Luật Bình đẳng giới được Quốc hội ban hành ngày 29/11/2006, trong việc xây dựng văn bản pháp luật ở nước ta đã có sự quan tâm đến vấn đề bình đẳng giới. Tuy nhiên, thực tế cho thấy các nguyên tắc bình đẳng giới được Hiến pháp quy định nhưng chưa được cụ thể hóa toàn diện, triệt để và đồng bộ trong nhiều văn bản pháp luật hiện hành. Các quy định về biện pháp bảo đảm bình đẳng giới chưa được quy định hoặc quy định chưa đầy đủ trong các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành.

Từ khi Luật Bình đẳng giới được Quốc hội ban hành, những vấn đề bất cập trong xây dựng pháp luật bảo đảm bình đẳng giới đã được cơ bản giải quyết. Luật Bình đẳng giới đã quy định cụ thể các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới, cũng như các nội dung cơ bản về bình đẳng giới. Tuy nhiên, Luật Bình đẳng giới được ban hành trong thời gian gần đây, trong khi đó rất nhiều các văn bản pháp luật điều chỉnh các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội lại được ban hành trước đó: Bộ luật Hình sự 1999, Bộ luật Dân sự 2005, Luật Hôn nhân và Gia đình 2000, Bộ luật Lao động 1994…Chính vì sự thiếu đồng bộ trong quá trình xây dựng nên các quy định về bình đẳng giới của Luật Bình đẳng giới chưa được các văn bản pháp luật trước đó (trong đó có rất nhiều văn bản luật) quy định thống nhất, phù hợp hoặc chưa được cụ thể hóa. Khóa luận: Thực trạng thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam.

Điểm mới của Luật Bình đẳng giới so với hệ thống các văn bản pháp luật trước đó có quy định về bình đẳng giới là đã quy định những hành vi vi phạm về bình đẳng giới trong từng lĩnh vực cụ thể đồng thời đưa ra hình thức xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới (Điều 40, 41, 42). Điều 42 Luật Bình đẳng giới quy định: “Người nào có hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; Cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật”.

Tuy nhiên, quy định về các hình thức xử lý vi phạm về bình đẳng giới còn chung chung, mang tính dẫn chiếu đến các văn bản pháp luật khác (hành chính, dân sự và hình sự) đặc biệt là đối với các hình thức xử lý kỷ luật, xử lý hành chính và bồi thường thiệt hại. Chính vì vậy giữa Luật Bình đẳng giới và các văn bản luật chuyên ngành còn thiếu đồng bộ và thống nhất. Điều này dẫn đến việc hạn chế khả năng thực thi và hiệu áp dụng Luật Bình đẳng giới trong thực tiễn. Có thể thấy rõ vấn đề này qua thực trạng xây dựng pháp luật bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động- việc làm và gia đình.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

2.1.1. Trong lĩnh vực lao động việc làm

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động và việc làm, Việt Nam đã sớm tham gia kí kết Công ước CEDAW năm 1981. Điều 11 phần III của Công ước đã qui định:

“1. Các nước tham gia công ước phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp để xoá bỏ mọi sự mọi sự phân biệt đối xử với phụ nữ trong lĩnh vực việc làm nhằm bảo đảm những quyền như nhau trên cơ sở bình đẳng nam nữ , đặc biệt là:

  1. Quyền được làm việc , một quyền không thể chối bỏ được của mọi con người
  2. Quyền hưởng các cơ hội có việc làm như nhau , kể cả việc áp dụng những tiêu chuẩn khi tuyển dụng lao động.
  3. Quyền tự do lựa chọn ngành nghề và việc làm quyền được thăng chức bảo đảm việc làm,mọi phúc lợi và điều kiện việc làm và quyền được theo học những chương trình đào tạo và bổ túc nghiệp vụ kể cả các lớp dạy nghề, các lớp nghiệp vụ cao cấp và lớp đào tạo định kì.
  4. Quyền được hưởng thù lao như nhau kể cả phúc lợi, và được đối xử như nhau khi làm những việc có giá trị ngang nhau, cũng như được đối xử như nhau trong việc đánh giá chất lượng công việc.
  5. Quyền được hưởng bảo hiểm xã hội, đặc biệt trong các trường hợp về nghỉ hưu, thất nghiệp, ốm đau, tàn tật, tuổi già và các tình trạng mất khả năng lao động khác, cũng như quyền được nghỉ phép có hưởng lương.
  6. Quyền được bảo vệ sức khoẻ và được bảo đảm an toàn lao động, kể cả bảo đảm chức năng tái sản xuất”.

Việc tham gia kí kế công ước là thành công lớn của Đảng và Nhà nước ta, đem lại ánh sáng cho mọi tầng lớp phụ nữ, đặc biệt là những nơi phụ nữ chưa được bình quyền như nam giới. Cùng với hệ thống pháp luật chính sách của Đảng và Nhà nước luôn khẳng định quyền của phụ nữ ngang nam giới và đây chính là cơ sở pháp lý, là nền tảng vững chắc để phụ nữ vươn lên tự khẳng định mình. Khóa luận: Thực trạng thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam.

Tại Điều 63 Hiến pháp 1992 đã khẳng định “Lao động nữ và nam việc làm như nhau thì tiền lương ngang nhau. Lao động nữ có quyền hưởng chế độ thai sản. Phụ nữ là viên chức Nhà nước và người làm công ăn lương có quyền nghỉ trước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng lương, phụ cấp theo quy định của pháp luật…”

Sau Hiến pháp 1992, năm 1994 Bộ luật Lao động được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua và đặc biệt quan tâm đến quyền bình đẳng giới. Bộ luật dành riêng chương X( gồm 10 Điều) qui định đối với lao động nữ, từ Điều 109 đến 118. Chương này tập trung thể hiện chính sách lao động và chính sách xã hội đối với lao động nữ mà trọng tâm là tạo điều kiện để phát huy có hiệu quả năng lực nghề nghiệp, kết hợp hài hòa cuộc sống lao động và cuộc sống gia đình, đồng thời bảo vệ lao động nữ với đặc điểm về cơ thể sinh lý và chức năng làm mẹ, bảo đảm cho người phụ nữ phát huy hết khả năng của mình.

Bên cạnh những văn bản pháp luật trên, bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động và việc làm còn một số văn bản khác:

Nghị định 90/NĐ-CP ngày 15/12/1995 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động 1994 về việc làm và học nghề.

Nghị định 23/CP ngày 18 /4 /1996 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động và những quy định riêng đối với lao động nữ.

Thông tư số 19/LĐTBXH-TT ngày 12/9/1996 của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội hướng dẫn việc dạy nghề, bổ túc, bồi dưỡng và dạy thêm nghề dự phòng cho lao động nữ làm việc trong doanh nghiệp.

Ta thấy, trước khi Quốc hội thông qua Luật Bình đẳng giới (ngày 29 tháng 11 năm 2006) và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/7/2007, hệ thống pháp luật về bình đẳng giới của Việt Nam còn không ít hạn chế, bất cập, như việc quy định còn tản mạn, rải rác trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau (Luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Dân sự, các Nghị định, Thông tư…), chưa được tập hợp, hệ thống hóa trong một văn bản quy phạm pháp luật chuyên về bình đẳng giới; Các quy định còn chưa thống nhất, chưa quán triệt đầy đủ, triệt để nguyên tắc bình đẳng nam nữ, không phân biệt đối xử giữa nam và nữ; Nhiều quy định mang tính “ưu tiên” cho nữ nhưng đồng thời hạn chế không ít quyền bình đẳng với nam giới về được quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng khi nữ cán bộ, công chức, viên chức, công nhân lao động thực hiện thai sản, sinh con, nuôi con nhỏ; Thiếu quy định chế tài xử lý các hành vi vi phạm về bình đẳng giới, một số văn bản tuy có quy định nhưng chưa đủ mạnh để ngăn chặn.

Luật Bình đẳng giới được xây dựng nhằm tiếp tục thể chế hóa quan điểm của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh, khắc phục những bất cập trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, thực thi pháp luật, góp phần nội luật hóa, khẳng định quyết tâm của Việt Nam thực hiện các cam kết với quốc tế về quyền con người, xóa bỏ mọi hình thức phân biệt với phụ nữ.

2.1.2. Trong lĩnh vực gia đình Khóa luận: Thực trạng thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam.

Người ta vẫn thường nói gia đình là tế bào của xã hội, là trường học đầu tiên của mỗi con người. Qua đó có thể thấy được tầm quan trọng của gia đình. Vì vậy bất bình đẳng trong gia đình cũng sẽ là một rào cản lớn cho quá trình phát triển của mỗi quốc gia. Do vậy xây dựng bình đẳng trong gia đình là một hành động cần thiết.

Trong lĩnh vực gia đình Việt Nam đã tham gia phê chuẩn Công ước CEDAW năm 1981. Công ước này đã dành Điều 16 để đề cập đến quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình với mục đích “xoá bỏ mọi sự phân biệt đối xử với phụ nữ”, bảo đảm các quyền về kết hôn, ly hôn, sinh đẻ, quyền đối với con cái, quyền và nghĩa vụ đối với tài sản có trước và sau khi kết hôn…phải được các quốc gia thành viên thực hiện trên cả phương diện lý luận cũng như trên thực tế.

Bình đẳng giới trong lĩnh vực gia đình còn được đề cập trong rất nhiều văn bản pháp luật, từ các bản Hiến pháp qua các thời kì đến các Bộ luật: Bộ luật Dân sự năm 2005, Bộ luật Hình sự năm 1999, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, Luật Bình đẳng giới năm 2006 và đặc biệt là mới đây Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007, chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2008 quy định các hành vi bị coi là bạo lực, các biện pháp phòng chống bạo lực, biện pháp xử lý vi phạm đối với hành vi bạo lực.

Sự ra đời của Luật Bình đẳng giới và Luật Phòng chống bạo lực gia đình đã một lần nữa cụ thể hóa các văn bản pháp luật từ trước đến nay trong lĩnh vực gia đình, đặc biệt là những nội dung liên quan tới vấn đề bình đẳng giới trong lĩnh vực gia đình.

Tóm lại, về phương diện xây dựng pháp luật, Nhà nước đã xây dựng được một hệ thống pháp luật tương đối cụ thể và hoàn chỉnh. Đặc biệt Nhà nước ta đạt được nhiều tiến bộ  ngang bằng với nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên do cơ chế thực hiện pháp luật còn chưa tốt nên những chính sách pháp luật còn chưa đi vào đời sống xã hội. Xét về phương diện áp dụng pháp luật, quyền lợi của người phụ nữ chưa thật sự được đảm bảo trên nhiều lĩnh vực. Trong đó có lĩnh vực lao động- việc làm và gia đình. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của người phụ nữ và nền kinh tế của xã hội.

2.2. Thực trạng áp dụng Luật bình đẳng giới ở Việt Nam trong lĩnh vực lao động và việc làm Khóa luận: Thực trạng thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam.

2.2.1. Đánh giá khái quát bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động việc làm

Đến nay, tỷ lệ lao động nữ trong tổng số lao động mới được giải quyết việc làm đã tăng lên và có khả năng vượt chỉ tiêu kế hoạch. Theo Điều tra lao động – việc làm ngày 1/8/2007 của Tổng cục Thống kê, năm 2005, lao động nữ chiếm khoảng 21,14 triệu người trong tổng số lao động của nền kinh tế quốc dân (48,6% so với 43,45 triệu lao động), đến 8/2007 đã tăng lên khoảng 22,77 triệu người (49,4% so với tổng số trên 46,11 triệu lao động). Chênh lệch lao động sau 2 năm 2006– 2007 tương ứng với số lao động được giải quyết việc làm mới là 2,76 triệu người (trong đó, lao động nam là 1,08 triệu người và lao động nữ là trên 1,67 triệu người), bình quân mỗi năm giải quyết việc làm cho trên 1,33 triệu người, trong đó, lao động nữ là 835 nghìn người. và có khả năng đến cuối năm 2010, lao động nữ sẽ đạt và vượt chỉ tiêu 50% lực lượng lao động của cả nước. Tuy nhiên, vấn đề quan tâm hiện nay là chất lượng công việc của lao động nữ vì chủ yếu lao động nữ vẫn chiếm số đông ở những lĩnh vực không đòi hỏi chuyên môn kỹ thuật cao, có thu nhập thấp và việc làm bấp bênh, độ rủi ro cao. Trong các ngành nghề đã có sự chuyển dịch lớn về cơ cấu lao động, nhưng vẫn thể hiện sự bất bình đẳng về giới, thể hiện qua tỷ lệ lao động nữ trong khu vực nông – lâm – ngư nghiệp dù có chiều hướng giảm nhưng xét về cơ cấu giới thì vẫn còn rất cao. Thu nhập giữa lao động nam và nữ chênh lệch rất lớn. Trong tất cả các ngành nghề và lĩnh vực, thu nhập của nữ chỉ bằng 74,5% so với nam. Trong một số ngành cụ thể, như nhóm nghề có chuyên môn kỹ thuật bậc trung, phụ nữ có thu nhập bằng 81,5% so với nam giới có cùng trình độ, hoặc ngay cả một số nghề, tỷ lệ tham gia của lao động nữ đã tăng (như công nghiệp chế biến), nhưng so về thu nhập vẫn ít hơn lao động nam; ở trong các khu vực kinh tế Nhà nước, tư nhân, kinh doanh cá thể, tập thể, vốn đầu tư nước ngoài thì vấn đề này vẫn là tình trạng chung. Nguyên nhân có thể đề cập trước hết là do sự cách biệt về trình độ chuyên môn kỹ thuật, bậc học càng lớn, cách biệt càng cao, dẫn đến tính cạnh tranh của lao động nữ không cao. Xuất phát từ nhiều góc độ khác nhau nhưng cuối cùng lao động nữ luôn gặp thiệt thòi hơn, họ khó tránh khỏi những rủi ro dễ vấp phải trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.

2.2.2. Những vướng mắc từ thực tiễn áp dụng Luật Bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động- việc làm

2.2.2.1. Trong lĩnh vực đào tạo nghề

Để thực hiện mục tiêu bình đẳng giới trong lĩnh vực đào tạo, Luật Bình đẳng giới quy định Nam nữ được bình đẳng trong việc lựa chọn ngành nghề, trong việc  tiếp cận và hưởng thụ các chính sách về giáo dục đào tạo…” (Điều 14) và “đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho lao động nữ” (điểm b khoản 13 Điều 3). Quy định này đã thể hiện những tư tưởng chủ yếu, có tính khái quát về bình đẳng giới trong giáo dục, đào tạo nói chung. Thực tế, nguyên tắc bình đẳng giới và quyền cơ bản của lao động nữ trong lĩnh vực đào tạo nghề đã được quy định tương đối cụ thể trong luật lao động tại các Điều 5, 109, 110 và 113 trong Bộ luật Lao động. Đặc biệt trong đó, Bộ luật Lao động quy định trách nhiệm của Nhà nước trong việc thực hiện các biện pháp nâng cao trình độ nghề nghiệp, đào tạo nghề dự phòng cho lao động nữ; quyền của lao động nữ được chấm dứt hợp đồng học nghề với doanh nghiệp nếu có thai phải nghỉ việc theo chỉ định của thầy thuốc mà không phải bồi thường chi phí đào tạo…Những quy định này không chỉ khẳng định nguyên tắc bình đẳng giới mà còn có những nội dung riêng phù hợp, ưu tiên  lao động nữ trên cơ sở chức năng giới của họ để đạt được sự bình đẳng trên thực tế. Khóa luận: Thực trạng thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam.

Tuy nhiên vấn đề đào tạo nghề dự phòng cho lao động nữ chưa được hướng dẫn thực hiện hợp lý. Trong Bộ luật Lao động, trách nhiệm đào tạo nghề dự phòng cho lao động nữ thuộc cơ quan Nhà nước (Đ110) nhưng theo Nghị định số 23/1996/NĐ-CP và Nghị định số 02/2001/NĐ-CP thì lại thuộc trách nhiệm của doanh nghiệp sử dụng lao động nữ. Các đơn vị này phải nghiên cứu những nghề mà lao động nữ không thể làm việc được đến tuổi nghỉ hưu để đào tạo nghề dự phòng cho họ và hạch toán chi phí vào giá thành. Như vậy vừa không đúng nguyên tắc hướng dẫn luật, vừa không phù hợp với nguyên tắc của kinh tế thị trường. Nó tạo cho chủ doanh nghiệp tâm lí không muốn sử dụng lao động nữ vì phải tăng chi phí. Điều đó tạo sự phân biệt đối xử phụ nữ khi tuyển dụng. Việc nghiên cứu hệ thống nghề không thể thực hiện ở cấp doanh nghiệp và phụ thuộc vào quan điểm của họ mà phải ở tầm vĩ mô cao hơn, cấp ngành hoặc cấp Nhà nước thì mới hiệu quả.

Ngoài ra, các quy định khác của Luật Bình đẳng giới mới chỉ quan tâm đến bình đẳng trong giáo dục đào tạo nói chung và chủ yếu với đối tượng là cán bộ công chức nữ. Ngoài các nguyên tắc chung thì vấn đề đào tạo nghề đối với lao động nữ làm công hầu như chưa được luật này chú trọng. Ví dụ, đối với các đối tượng lao động giúp việc gia đình vẫn chưa có quy định điều chỉnh.

2.2.2.2. Bất bình đẳng giới trong thu nhập, bảo hiểm xã hội và điều kiện lao động

Luật Bình đẳng giới quy định nguyên tắc chung trong vấn đề thu nhập, bảo hiểm xã hội và điều kiện lao động. Đồng thời các vấn đề này cũng được Bộ luật Lao động điều chỉnh chi tiết và cụ thể:

Về tiền lương và thu nhập

Có thể đánh giá chung là pháp luật hiện hành không có sự phân biệt giới trong trả lương và thu nhập. Điều này thể hiện không chỉ trong nội dung các quy định của pháp luật mà còn được áp dụng trong thực tế. Các nguyên tắc không biệt đối xử với phụ nữ về mức lương và thu nhập đã được xác lập (Điều 111 Bộ luật Lao động). Các nhu cầu giảm thời gian làm việc, giữ nguyên lương vì lý do giới đã được quy định (Điều 115 Bộ luật Lao động). Những quy định trên đã phù hợp với các quy tắc quốc tế về bình đẳng giới trong trả công và thu nhập. Tuy nhiên mức lương thực lĩnh của lao động nữ thường thấp hơn lao động nam. Trong tất cả các ngành nghề và lĩnh vực, thu nhập của nữ chỉ bằng 74,5% so với nam. Trong một số ngành cụ thể, như nhóm nghề có chuyên môn kỹ thuật bậc trung, phụ nữ có thu nhập bằng 81,5% so với nam giới có cùng trình độ, hoặc ngay cả một số nghề, tỷ lệ tham gia của lao động nữ đã tăng (như công nghiệp chế biến), nhưng so về thu nhập vẫn ít hơn lao động nam; ở trong các khu vực kinh tế Nhà nước, tư nhân, kinh doanh cá thể, tập thể, vốn đầu tư nước ngoài thì vấn đề này vẫn là tình trạng chung. Nhưng tình trạng này do những nguyên nhân khác như: trình độ nghề của lao động nữ thấp hơn, mất thời gian cho gia đình nên ít tham gia đào tạo, khó đảm nhiệm những công việc lương cao, do ít có cơ hội thăng tiến, lại có thời gian nghỉ chế độ, nghỉ hưu sớm hơn nên chậm nâng lương so với lao động nam…Điều đó cho thấy để đạt được mục đích bình đẳng về thu nhập thì phải thì phải thực hiện các biện pháp khác như: có chính sách đào tạo nghề phù hợp, không phân biệt trong chính sách cán bộ hưu và hưu trí đối với nữ, tăng cường dịch vụ xã hội cho công việc gia đình để giải phóng phụ nữ…Ta biết rằng bản thân các quy định bình đẳng giới về tiền lương không giải quyết được vấn đề trên thực tế. Tuy nhiên, các chỉ tiêu thi đua đối với người lao động trong cơ quan Nhà nước hiện nay đều có quy định phải làm việc từ 11 tháng trở lên/năm mới được đưa vào bình diện xét. Vì vậy, lao động nữ nghỉ thai sản hầu như không được hưởng các danh hiệu thi đua trong năm, thậm chí trong 2 năm. Đạt danh hiệu thi đua là một trong những căn cứ để thăng tiến, nâng lương…nên quy định đó làm cho lao động nữ chưa được đánh giá một cách bình đẳng, ảnh hưởng đến việc làm, tiền lương của họ. Khóa luận: Thực trạng thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam.

Chính sách phúc lợi xã hội và điều kiện lao động chưa ưu tiên đến lao động nữ

Vấn đề này cũng được thực hiện tương đối đầy đủ, đáp ứng yêu cầu bảo vệ họ ở mức độ cần thiết, phù hợp với các quan điểm quốc tế trong vấn đề này. Thậm chí, một số quy định nhằm bảo vệ cho lao động nữ trong luật lao động còn chặt chẽ đến mức không phù hợp trong điều kiện kinh tế thị trường. Ví dụ: Quy định nơi có sử dụng lao động nữ phải có chỗ thay quần áo, buồng tắm và buồng vệ sinh nữ, nếu sử dụng nhiều lao động nữ có trách nhiệm giúp đỡ tổ chức nhà trẻ, lớp mẫu giáo hoặc hỗ trợ một phần kinh phí cho lao động nữ (Điều 116 Bộ luật Lao động) hoặc quy định doanh nghiệp sử dụng lao động nữ phải phân công người trong bộ máy điều hành làm nhiệm vụ theo dõi vấn đề lao động nữ, phải tham khảo ý kiến của lao động nữ khi quyết định những vấn đề liên quan đến quyền lợi của phụ nữ và trẻ em (Điều 118 Bộ luật Lao động).

Những quy định này không hẳn cần thiết và khó thực hiện trong khu vực doanh nghiệp. Thực tế cũng không cần phải có tới nhiều loại phòng, loại buồng đó ở tất cả các nơi có sử dụng lao động nữ. Nơi cần phải khử độc, khử trùng đã có quy định riêng theo tiêu chuẩn của Bộ y tế. Cách quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với tổ chức nhà trẻ, lớp mẫu giáo hoặc hỗ trợ kinh phí cho lao động nữ có con ở nhà trẻ, mẫu giáo là cách quy định cuả thời kinh tế tập trung, do Nhà nước đảm bảo kinh phí. Việc tham khảo ý kiến đại diện lao động nữ cũng chỉ nên áp dụng đối với các cơ quan xây dựng, ban hành chính sách và pháp luật, không phù hợp với khu vực doanh nghiệp sản xuất, thực hiện chế độ đối với người lao động theo thỏa thuận, theo luật…Việc quy định nhiều nội dung như trên, áp dụng cho mọi loại hình doanh nghiệp như hiện nay sẽ tạo ra nhận thức: Sử dụng lao động nữ có vẻ phiền phức do chi phí và nghĩa vụ tăng lên, bị can thiệp vào quyền quản lý và cũng có thể củng cố tâm lí ngại tuyển lao động nữ của chủ các doanh nghiệp. Đặt trong chế độ ưu đãi doanh nghiệp sử dụng lao động nữ chưa rõ ràng thì quy định như trên là không hợp lí.

Bên cạnh những qui định làm hạn chế trong việc tuyển lao động nữ thì thực tế vấn đề bình đẳng giới đối với lao động nữ về điều kiện lao động, làm việc  trong các doanh nghiệp cho thấy lao động nữ vẫn còn phải chịu nhiều thiệt thòi:

Theo điều tra của Viện Nghiên cứu KHKT- BHLĐ trong 5 năm (2002-2007) tại hơn 1.000 cơ sở sản xuất công nghiệp, trung tâm công nghiệp và làng nghề trên toàn quốc với nhiều ngành sản xuất, nhiều loại hình doanh nghiệp cho thấy. Đa số các doanh nghiệp đều bị ô nhiễm từ mức độ ô nhiễm nhẹ đến ô nhiễm rất nhiều. Ví dụ, ô nhiễm do tiếng ồn, ô nhiễm bụi, ô nhiễm do khí độc. Ta có thể đưa ra số liệu sau:

Bảng 1: Tỷ lệ phân xưởng bị ô nhiễm tiếng ồn, ô nhiễm bụi và ô nhiễm hơi khí độc (tính theo ngành sản xuất).

Từ điều kiện làm việc trong những môi trường lao động như trên thì lao động nữ thường mắc phải những bệnh nghề nghiệp thường gặp như: viêm mũi, viêm xoang, viêm phế quản, viêm phổi (40,26%). Đây là những bệnh có tỉ lệ cao nhất ở lao động nữ. Tiếp đến là các bệnh liên quan đến không chỉ môi trường, mà còn cả với điều kiện làm việc như: Các bệnh về cơ, xương, khớp (chiếm 12,6%). Ngoài ra còn một số bệnh khác như, các bệnh về đường tiêu hóa( 14,35%). Từ số liệu trên đã phản ánh một thực trạng về môi trường làm việc và tình trạng sức khỏe của lao động nữ vẫn còn nhiều bất cập. Môi trường và điều kiện làm việc chưa được quan tâm đúng mức. Chính điều này đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe của các lao động nữ.

2.2.2.3. Bất bình đẳng về bảo hiểm xã hội Khóa luận: Thực trạng thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam.

Luật Bình đẳng giới đã quy định nguyên tắc “nam, nữ được đối xử bình đẳng” (khoản 1 Điều 13) và “bảo vệ, hỗ trợ người mẹ khi mang thai, sinh con nhỏ và nuôi con nhỏ” (khoản 2 Điều 7). Như vậy bình đẳng giới trong Bảo hiểm xã hội  khi có thai, sinh con để hạn chế ảnh hưởng của chức năng giới đến sức khỏe của họ và giúp họ dung hòa đời sống lao động và đời sống gia đình. Bộ luật Lao động và Luật Bảo hiểm xã hội đã quy định các chế độ đối với lao động nữ ở Việt Nam vào loại ưu việt so với tiêu chuẩn của ILO và nhiều nước trên thế giới, thể hiện ở tỉ lệ hưởng khá cao và các loại thời gian hưởng tương đối dài.

Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện để bảo vệ và hỗ trợ lao động nữ một cách hợp lí:

Việc khống chế thời gian nghỉ chăm sóc con ốm chỉ trong 15, 20 ngày (Điều 24 Luật Bảo hiểm xã hội) chỉ phù hợp với các loại bệnh đơn giản. Hiện chưa có quy định nào về chế độ chăm sóc con nhỏ mắc bệnh cần điều trị dài ngày nên lao động nữ rất dễ mất việc do nhu cầu chăm sóc con.

Trường hợp chỉ người bố tham gia Bảo hiểm xã hội, mẹ không tham gia Bảo hiểm xã hội thì hầu như không được hưởng chế độ chăm sóc con ốm, chăm sóc vợ con sơ sinh, trợ cấp sinh con…(chỉ được hưởng khi người mẹ chết) là chưa thực sự bình đẳng. Trường hợp lao động nữ mang thai bệnh lí, phải thực hiện chế độ nằm viện hoặc nghỉ việc dưỡng thai tại nhà theo chỉ định của thầy thuốc hầu như chưa được hưởng chế độ thai sản cũng không quy định rõ có thể áp dụng chế độ ốm đau hay không.

2.2.2.4. Tuổi nghỉ hưu

Theo qui định của Bộ luật Lao động thì tuổi sớm nhất được bắt đầu lao động là 15 (đối với một số ngành nghề thủ công thì cho phép sớm hơn) không phân biệt nam, nữ. Nhưng tuổi kết thúc lao động theo pháp luật hiện hành (tuổi nghỉ hưu) lại quy định rất rõ ràng là nam 60, nữ 55 tuổi. Điều này cho thấy tuổi kết thúc lao động theo pháp luật hiện hành không còn bình đẳng như tuổi bắt đầu lao động. Trên thực tế thì sự chênh lệch như hiện nay là không còn phù hợp khi điều kiện kinh tế- xã hội cũng như những vấn đề cần giải quyết thuộc về bản thân người phụ nữ đã có những thay đổi đáng kể. Nếu tiếp tục duy trì độ tuổi nghỉ hưu cho nam, nữ như hiện tại là hạn chế rất nhiều cơ hội đối với phụ nữ vì tuổi nghỉ hưu còn liên quan chặt chẽ đến tuổi quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và đề bạt (nhất là đối với những phụ nữ làm công tác quản lý, lãnh đạo và những người nghiên cứu khoa học).

2.2.2.5. Bất bình đẳng giới trong lĩnh vực việc làm

Việc làm là vấn đề có ý nghĩa quan trọng với mọi người lao động. Bình đẳng về việc làm cho lao động nữ được Luật Bình đẳng giới quy định bằng các nguyên tắc: nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng, được đối xử bình đẳng tại nơi làm việc về việc làm…(Điều 13). Việc ưu tiên nữ trong trường hợp nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn như nam (điểm e khoản 1 Điều 19) và ưu đãi về thuế và tài chính đối với doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ (điểm a khoản 2 Điều 12) và cũng được quy định như những biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới về việc làm. Luật lao động hiện hành cũng đã thể hiện đầy đủ những nguyên tắc cơ bản đảm bảo sự bình đẳng nam, nữ trong lĩnh vực này (Điều 5, Điều 111 Bộ luật Lao động), có những quy định riêng phù hợp với  điều kiện của lao động nữ (Điều 109, 110, 114, 117 Bộ luật Lao động), thể hiện được những nội dung cơ bản của công ước CEDAW và các công ước  của ILO về vấn đề này. Trong đó, có những quy định tiến bộ như: lao động nữ có thể đi làm sớm hoặc nghỉ thêm khi sinh con (do họ quyết định trên cơ sở các nguyên tắc chung của pháp luật) và đảm bảo chỗ làm việc sau khi nghỉ thai sản, không được chấm dứt hợp đồng vì lí do giới và hoãn việc đơn phương chấm dứt hợp đồng với lao động nữ có thai, nuôi con nhỏ; ưu đãi doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ. Những quy định như vậy là tương đối phù hợp, đáp ứng yêu cầu của lao động nữ và tính linh hoạt của thị trường. Người lao động cũng chấp nhận như một trong những trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Khóa luận: Thực trạng thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam.

Tuy nhiên, quy định lao động nữ có thai phải nghỉ việc theo chỉ định của thầy thuốc được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động (điểm e khoản 1 Điều 37 Bộ luật Lao động) không hợp lý, làm cho lao động nữ mất việc làm, mất thu nhập. Việc quy định người sử dụng lao động phải ưu tiên nhận lao động nữ (khoản 2 Điều 111 Bộ luật Lao động) và điểm e khoản 1 Điều 19 Luật Bình đẳng giới) cũng không khả thi và người sử dụng lao động không chấp nhận, do tính cạnh tranh của nền kinh tế thị trường và do không có chế tài đảm bảo. Quy định này nếu không kết hợp với việc ưu đãi hợp lí cho doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ thì khó có thể thực hiện. Trên thực tế trong tuyển dụng lao động nhiều doanh nghiệp khi tuyển dụng lao động nữ đã đưa ra những yêu cầu mang tính bất bình đẳng giới so với lao động nam. Ví dụ, nhiều doanh nghiệp khi tuyển lao động nữ trong hợp đồng lao động thường kèm theo điều kiện là lao động nữ không được sinh con hoặc không được kết hôn trong 2 năm đầu tiên của hợp đồng. Nếu vi phạm thì người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.

Hiện nay, việc ưu đãi về thuế và tài chính đối với doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ đã được khẳng định trong Luật bình đẳng giới. Nội dung này đã được quy định trong Bộ luật Lao động (khoản 2 Điều 110). Các hình thức ưu đãi đã được hướng dẫn thực hiện, bao gồm: Ưu tiên vốn đầu tư, giảm thuế lợi tức, cho vay vốn ưu đãi…(Điều 6 Nghị định số 23/1996/NĐ-CP). Song, việc hướng dẫn quy định ưu đãi đối với doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ trong luật lao động hiện hành không hợp lý vì chưa cân đối lợi ích kinh tế và nghĩa vụ xã hội của doanh nghiệp. Việc quy định “doanh nghiệp được ưu tiên sử dụng một phần vốn đầu tư hàng năm để chi cho việc cải thiện điều kiện lao động của lao động nữ” (khoản 3 Điều 6 Nghị định 23/1996/NĐ-CP) thì không phải là “ưu tiên”, vì đó là tiền của chính doanh nghiệp. Việc giảm thuế lợi tức cho doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ chưa có quy định mức giảm rõ ràng, chỉ áp dụng được với doanh nghiệp có lợi tức (khoản 2 Điều 6 Nghị định số 23/1996/NĐ-CP), còn những doanh nghiệp khó khăn tới mức không có lợi tức hoặc lợi tức thấp thì không được hưởng khoản ưu đãi này. Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ còn được vay ưu đãi từ quy việc làm quốc gia nhưng mức được vay chưa được quy định cụ thể, phải thực hiện nhiều thủ tục phức tạp, tạo ra cơ chế xin- cho khiến các chủ doanh nghiệp chán nản hoặc bị ức chế tâm lí nếu thực hiện. Vì vậy, hầu như các doanh nghiệp không kê khai để được xét thưởng, chính sách ưu đãi này hầu như chỉ nằm trên giấy, không đủ hấp dẫn để khuyến khích các doanh nghiệp nhận nhiều lao động nữ. Điều kiện xác định “doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ” để hưởng chính sách ưu đãi nói trên được quy định cho những doanh nghiệp có 50% nữ trong tổng số lao động (nếu doanh nghiệp có từ 10 đến 100 lao động) và 30% nữ trong doanh nghiệp có trên 100 lao động. Như vậy cũng không hợp lí vì doanh nghiệp có 5/10 lao động là nữ thì được ưu tiên nhưng doanh nghiệp là nữ thì được ưu tiên nhưng doanh nghiệp có 9/9 lao động là nữ và doanh nghiệp có 299/1000 lao động là nữ thì lại không được ưu tiên. Quy định như trên dẫn đến một thực tế rất ít doanh nghiệp muốn nhận lao động nữ vào làm việc. Do vậy trong tuyển dụng lao động là nam giới vẫn được ưu tiên.

2.3. Thực trạng áp dụng Luật Bình đẳng giới trong lĩnh vực gia đình Khóa luận: Thực trạng thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam.

2.3.1. Đánh giá khái quát bình đẳng giới trong lĩnh vực gia đình

Bình đẳng giới trong lĩnh vực gia đình là một lĩnh vực được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm. Điều này được thể hiện  hiện ở cả phương diện pháp luật và trên thực tiễn. Nhiều chương trình, kế hoạch được đề ra nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc. Đây là chương trình trọng tâm được Đảng và Nhà nước chỉ đạo lồng ghép chặt chẽ trong triển khai thực hiện phong trào “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”, gắn với cuộc vận động “Xây dựng gia đình văn hoá”, Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”. Với phương châm lấy gia đình là trung tâm, là đối tượng để tác động. Các hoạt động tuyên truyền giáo dục phẩm chất đạo đức, nâng cao năng lực và trình độ của phụ nữ; hỗ trợ phụ nữ xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế; tham gia xây dựng và giám sát việc thực hiện luật pháp, chính sách về bình đẳng giới. Đảng và Nhà nước luôn tập trung tạo điều kiện, hỗ trợ phụ nữ có kiến thức, kỹ năng xây dựng gia đình theo các tiêu chí no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc. Chính những chính sách như vậy đã tạo điều kiện để thực hiện có hiệu quả các quyền cơ bản và phát huy vai trò của phụ nữ trong các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lĩnh vực gia đình nói riêng.

Tuy nhiên, trên thực tế tình trạng bất bình đẳng giới trong gia đình còn diễn ra khá phổ biến ở hầu hết các địa phương trong cả nước. Biểu hiện của tình trạng này là nhận thức của người dân về vấn đề bình đẳng giới trong gia đình chưa cao, định kiến giới còn ăn sâu trong tư tưởng mỗi người. Đặc biệt là tình trạng bạo lực gia đình ngày càng diễn ra phổ biến. Đây chính là những rào cản lớn đối với quá trình thực hiện mục tiêu bình đẳng giới ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.

2.3.2. Những bất cập và hạn chế trong thực tiễn áp dụng Luật Bình đẳng giới trong lĩnh vực gia đình Khóa luận: Thực trạng thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam.

2.3.2.1. Người đứng tên chủ hộ

Tỷ lệ phụ nữ đứng tên chủ hộ trong các gia đình chỉ bằng 1/3 so với nam giới (67,9% chủ hộ là nam giới, trong đó phụ nữ giới là 29,1%) [16, 71]. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến việc phụ nữ ít có cơ hội để tham gia các hoạt động cộng đồng, không có điều kiện tiếp xúc, va chạm nhiều với xã hội để tìm hiểu nhiều cái mới, học tập câc các kinh nghiệm thực tế để tiến bộ. Nguyên nhân chủ yếu của thực trạng này là do quan niệm xưa để lại khẳng định người chồng trong gia đình là trụ cột, là quyết định chính mọi công việc trong gia đình và thành thạo mọi công việc xã hội nên họ phải là chủ hộ. Thực tế ta có thể lấy một ví dụ về việc đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo kết quả khảo sát cho thấy ở rất nhiều nơi, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói chung mới chỉ phổ biến ở sổ một tên (chủ yếu là người chồng). Các thông tin về Luật Đất đai và những điều liên quan đến quyền tiếp cận đất của phụ nữ chỉ mới tới được cấp huyện, chưa được phổ biến đến người dân, do vậy tỷ lệ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên cả vợ và chồng tại còn rất thấp như: Hòa Bình và Lai Châu chỉ 1- 5%, các tỉnh như Gia Lai, Ninh Thuận, Trà Vinh, Vĩnh Long là 15%. Như vậy phần lớn đất đai thì chủ hộ là người chồng đứng tên trong sổ đỏ. Điều này đồng nghĩa với việc người chồng được quyền quyết định với tài sản đất đai, khi chồng muốn cho, bán hay chuyển nhượng người vợ không có quyền tham gia hoặc tham gia cũng chỉ lấy lệ, khi muốn vay vốn ngân hàng người vợ cũng không chủ động được. Bên cạnh đó việc chưa áp dụng triệt để giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hai tên đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc cấp tín dụng. Mặc dù luật pháp và chính sách của Nhà nước đều khẳng định phụ nữ và nam giới phải được bình đẳng trong việc tiếp cận tín dụng song vẫn có những chênh lệch đáng kể trong việc áp dụng các điều luật và chính sách trong lĩnh vực này. Thêm vào đó, phần lớn phụ nữ khó đáp ứng được đầy đủ các điều kiện vay vốn tín dụng chính thức vì trong thực tế giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình cũng như sổ địa chính của địa phương chỉ đăng ký tên chủ hộ, mà đa số là nam giới, phụ nữ thường không phải là chủ hộ và không đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình cũng như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Nguyên nhân của thực trạng này là do các cấp chính quyền địa phương chưa nhận thức đầy đủ về sự cần thiết phải tiến hành cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; thủ tục hành chính còn rườm rà, chi phí mà người dân phải trả cho việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn cao; công tác thông tin tuyên truyền về Luật Đất đai chưa được quan tâm đúng mức; bản thân người dân, đặc biệt là phụ nữ cũng chưa hiểu về quy định này và ý nghĩa của nó. Trong một số gia đình, người chồng chưa tạo điều kiện để người vợ được ghi tên vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhiều chủ hộ gia trưởng, chỉ muốn đứng một tên.

Đa số người dân, nhất là ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa chưa biết đến quy định về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang hai tên vợ và chồng, từ đó chưa  nhận thức đầy đủ về lợi ích của quyền tiếp cận và sử dụng đất của người phụ nữ. Vì vậy, mặc dù người phụ nữ tham gia vào hoạt động trồng trọt nhiều không kém đàn ông nhưng đại đa số người đứng tên chủ hộ đa số lại là nam giới. Khóa luận: Thực trạng thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam.

Trong gia đình, việc không thực sự được làm chủ nguồn đất đai, tư liệu, công cụ sản xuất làm cho người phụ nữ luôn ở vào vị thế phụ thuộc, vai trò giới không được phát huy. Vì thế dẫn tới năng suất lao động, thu nhập gia đình kém hiệu ảnh hưởng đến gia đình,ảnh hưởng tới chính những người phụ nữ và con cái của họ.

Ở Việt Nam, tuy luật pháp quy định phụ nữ và nam giới đều có quyền và có khả năng thực hiện, quản lý tài nguyên bền vững nhưng họ nhận thức về sử dụng quyền khác nhau tùy theo điều kiện tiếp cận nguồn đất đai. Thêm vào đó, phong tục, tập quán ở một số nơi đã bỏ qua quyền sở hữu thực tế được pháp luật công nhận. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất một tên đã tạo nên sự bất bình đẳng về quyền tiếp cận đất đai của phụ nữ so với nam giới.

Hệ quả là người phụ nữ dễ mất quyền với đất đai trong mọi trường hợp, nhất là khi vợ chồng ly hôn hoặc góa bụa. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 2 tên sẽ tạo điều kiện bình đẳng cho cả vợ và chồng sở hữu đất, nâng cao nhận thức cho nhân dân, đặc biệt là phụ nữ khi họ không biết đến quyền lợi của chính mình.

Người phụ nữ sẽ cảm thấy phấn khởi vì được làm chủ tài sản gia đình ngang với chồng, từ đó tạo tâm lý thoải mái cho cả gia đình, dẫn tới không khí gia đình đầm ấm, kinh tế gia đình phát triển, con cái được chăm sóc tốt hơn; trong trường hợp ly hôn thì cũng chủ động hơn về việc phân chia tài sản. giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn đảm bảo để người vợ tham gia quản lý, bảo vệ tài sản cho con cái, yên tâm hơn để đóng góp công sức của mình với gia đình, tạo nên sự tự tin của người vợ bên cạnh người chồng.

Điều đặc biệt quan trọng là khi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hai tên, vị thế của người phụ nữ đã được nâng lên trong gia đình cũng như trong xã hội, góp phần thay đổi tính gia trưởng ở một bộ phận nam giới.

2.3.2.2. Bất bình đẳng giới trong phân công lao động gia đình

Phân công lao động trong gia đình được biểu hiện qua việc thực hiện các công việc gia đình thường gặp như: nội trợ, chăm sóc người già, người ốm, chăm sóc con cái, họp cộng đồng, tập huấn, thăm họ hàng, công việc hiếu hỉ. Đây có thể nói là một gánh nặng của gia đình. Bình đẳng chỉ có khi những gánh nặng đó được chia đều cho cả hai giới, để được cả hai giới nhìn nhận và sẻ chia một cách công bằng. Nhưng thực tế lại không như vậy. Qua số liệu khảo sát trên cả nước trong những năm gần đây cho thấy những công việc trên do người phụ nữ thực hiện nhiều hơn. Cụ thể:

Trên là số liệu chung trong cả nước, còn theo một khảo sát được giới hạn ở phạm vi nhỏ hơn trong 11 tỉnh thành trong cả nước gồm: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hưng Yên, Điện Biên, Thái Nguyên, Quảng Bình, Quảng Ngãi, Tiền Giang, Bình Dương, Cà Mau và Đắc Nông thì kết quả cũng không khác nhau là bao nhiêu, cụ thể:

Về công việc nội trợ, chăm sóc, giáo dục con có 65,5% ý kiến khẳng định hoàn toàn do phụ nữ đảm nhiệm. Nam giới có chia sẻ trong các công việc này nhưng rất thấp. Riêng đối với việc giáo dục con thì sự chia sẻ của vợ và chồng khả quan hơn, có 49% ý kiến khẳng định có sự chia sẻ giữa vợ và chồng. Điều này cũng dễ hiểu bởi thực tế nam giới có trình độ cao hơn phụ nữ nên việc tham gia giáo dục con của nam giới là một việc làm cần thiết và quan trọng. Nếu giao toàn bộ công việc giáo dục con cho phụ nữ thì có thể có rủi ro xảy ra vì phụ nữ trình độ hạn chế nên khả năng giáo dục là khó khăn, nhất là việc hướng dẫn con học theo các chương trình phổ thông có nhiều đổi mới như hiện nay.

Ta có thể lấy một ví dụ ở xã Phù Linh huyện Sóc Sơn- Hà Nội để thấy rõ hơn về tình trạng bất bình đẳng giới trong gia đình ở lĩnh vực phân công lao động thông qua số liệu được khảo sát sau đây:

Trên đây là số liệu qua khảo sát tại 11 tỉnh thành trên cả nước và một xã Phù Linh huyện Sóc Sơn- Hà Nội. Qua số liệu trên ta thấy bình đẳng trong lĩnh vực phân công lao động trong gia đình vẫn còn những biểu hiện bất bình đẳng. Tỷ lệ người chồng tham gia vào các công việc trong gia đình (trừ việc dạy học cho con) là không đáng kể. Điều này nói lên khoảng cách về mức độ thực hiện các công việc gia đình giữa vợ và chồng còn khá lớn, tình trạng bất bình đẳng vẫn tồn tại ở mọi nơi trên đất nước Việt Nam. Đặc biệt là ở những vùng nông thôn. Khóa luận: Thực trạng thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam.

Nguyên nhân của tình trạng bất bình đẳng giới trong phân công lao động gia đình, bên cạnh yếu tố cấu trúc gia đình và yếu tố nghề nghiệp của các thành viên trong gia đình (chủ yếu là vợ và chồng) thì yếu tố văn hóa truyền thống cũng ảnh hưởng sâu sắc đến quan niệm của người dân. Phần lớn người dân vẫn quan niệm công việc nội trợ và chăm sóc con cái là trách nhiệm, bổn phận của người phụ nữ- người vợ, người mẹ trong gia đình. Họ không coi đó là bất bình đẳng mà là một lẽ hiển nhiên trong đời sống.

2.3.2.3. Định kiến giới và bạo lực gia đình

Định kiến giới

Định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí vai trò và năng lực của nam hoặc nữ (khoản 4 Điều 5, Luật bình đẳng giới). Hay nói cách khác thì đây là một tập hợp các đặc điểm được số đông gán cho là thuộc về nam hay nữ, các quan niệm này đôi khi sai lầm và hạn chế những điều mà một cá nhân có thể làm. Những định kiến như trên không chỉ tồn tại nhiều từ thời xã hội phong kiến mà ở xã hội ngày nay thì những quan niệm đó vẫn còn hiện hữu. Định kiến giới vừa phản ánh sự bất bình đẳng giới, vừa củng cố duy trì thực trạng bất bình đẳng giới trong xã hội. Thể hiện rõ nhất của định kiến giới phải kể đến tư tưởng “trọng nam khinh nữ” đã ăn sâu bám rễ lâu đời. Mặc dầu, những năm gần đây cái nhìn về “con gái” trong xã hội đã cởi mở hơn. Vai trò và vị trí của phụ nữ được nâng cao và được khẳng định hơn. Nhưng tư tưởng thích con trai hơn nên nhiều phụ nữ sẵn sàng phá thai nếu biết thai nhi là con gái bất chấp điều đó có hại như thế nào đối với sức khỏe. Còn ở các vùng nông thôn không có khả năng tiếp cận dịch vụ chẩn đoán giới tính thai nhi sớm đã xảy ra tình trạng có nhiều gia đình vẫn tiếp tục sinh tiếp con thứ 4, thứ 5 cho đến khi sinh đươc con trai mới thôi.

Chính những tư tưởng này đã dẫn đến tình trạng mất cân bằng giới tính ở Việt Nam. Theo kết quả điều tra mới nhất về các vấn đề nóng của dân số Việt Nam của Quỹ dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) cho thấy, năm 2007 cứ 112 bé trai ra đời mới có 100 bé gái được sinh ra, cao hơn năm 2006 và hơn mức bình thường (tỷ lệ 107/103). Đáng chú ý, năm 2007 có tới 35 tỉnh có tỷ lệ giới tính khi sinh là 110 bé trai/100 bé gái trở lên, trong khi đó năm 2006 có 19 tỉnh.

Trong quan niệm của người Việt Nam, xã hội đặt những chuẩn mực riêng đối với các em gái như chăm làm, duyên dáng, nấu ăn giỏi, biết may vá, thêu thùa… Phụ nữ cũng không được khuyến khích tham gia vào lĩnh vực chính trị hay trở thành lãnh đạo, bởi theo quan niệm của nhiều xã hội, đó vẫn là vai trò của nam giới. Khi phụ nữ tham gia vào những lĩnh vực này, họ sẽ mất đi vẻ “nữ tính”. Những chuẩn mực đó đã khiến các em gái tập trung phát triển các kỹ năng để sau này làm một người nội trợ giỏi hơn là chú ý đến những kỹ năng để sau này kiếm được việc làm tốt hay đóng góp cho sự phát triển của xã hội. Bởi vậy, khi ra trường và tham gia vào thị trường lao động, phụ nữ nói chung sẽ thấp kém hơn nam giới cùng lứa. Khóa luận: Thực trạng thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam.

Khi đã có công việc, xã hội Việt Nam mong đợi phụ nữ có gia đình, và dành thời gian chăm sóc cho gia đình hơn là dành thời gian cho xã hội. Khái niệm “hạnh phúc” cũng gắn liền với quan niệm này. Điều này ảnh hưởng rất nhiều đến việc chọn nghề của người phụ nữ. Ví dụ, nghề giáo viên được coi là thích hợp với nữ giới một phần vì có nhiều thời gian chăm sóc cho gia đình. Ngày nay, phụ nữ tham gia vào việc tạo thu nhập ở nhiều lĩnh vực như nam giới nhưng xã hội vẫn mong đợi họ phải làm tốt cả công việc nội trợ trong gia đình, chăm sóc con cái, chăm lo việc họ hàng, trong khi nam giới chỉ cần đi làm kiếm thu nhập là đủ. Điều này lại không được coi là quá sức đối với phụ nữ hay bất bình đẳng trong khi họ được coi là “phái yếu”. Bởi mong muốn làm tốt cả hai vai trò, trong khi qũy thời gian có hạn, phụ nữ phải gồng mình để học tập, lao động và phấn đấu nếu muốn có vị trí ngang bằng với nam giới; hoặc đây là quyết định của phần đa phụ nữ, hy sinh phát triển nghề nghiệp để có thời gian chăm sóc gia đình. Để phát triển nghề nghiệp được tốt, ai cũng cần phải cập nhật kiến thức, trao dồi kỹ năng thường xuyên. Thời gian nghỉ ngơi, giải trí hàng ngày cũng rất cần thiết để tinh thần và thể chất được hồi phục để có thể tiếp tục làm việc. Đương nhiên khoảng thời gian nghỉ ngơi này phải phù hợp đối với nam giới. Nhưng quan niệm xã hội lại không cho phép phụ nữ được hưởng quyền đó vì mong đợi họ cống hiến tiếp cho các công việc gia đình. Rõ ràng, quan niệm của xã hội về một người phụ nữ tốt và hạnh phúc đã tước đoạt đi quyền phát triển nghề nghiệp, thể chất và trí tuệ của chị em.

Bạo lực gia đình

Bạo lực nói chung, bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em nói riêng là vấn nạn xã hội không chỉ ở nước ta mà còn tồn tại ở nhiều nước trên thế giới, gây nên những hậu quả vô cùng nghiêm trọng cả về mặt kinh tế và xã hội. Đặc biệt nó nói lên tình trạng bất bình đẳng giới đang diễn ra trên khắp đất nước Việt Nam mà nạn nhân chủ yếu của hành vi này chủ yếu là phụ nữ và trẻ em.

Theo Công ước CEDAW của Liên hợp quốc thì bạo lực giới có thể được hiểu là “bất kì hành động nào dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến những tổn hại về thân thể, về tình dục hay tâm lí, hoặc đau khổ cho phụ nữ, bao gồm cả sự đe dọa có những hành vi như vậy, sự cưỡng bức hay tước đoạt một cách tùy tiện sự tự do, dù xẩy ra ở nơi công cộng hay trong đời sống riêng tư”.

Như vậy, có thể phân loại hành vi bạo lực gia đình thành các nhóm chính gồm: bạo lực về thể chất, bạo lực tinh thần, bạo lực kinh tế và bạo lực tình dục. Trong đó, chủ yếu và dễ nhận thấy là bạo lực thể chất. Đây là các hành vi xâm hại trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe phụ nữ và trẻ em như: đánh đập, ngược đãi, hành hạ về thể xác, làm tổn hại đến sức khỏe thậm chí là tước đoạt đến tính mạng của họ. Những hành vi này thường khiến cho nạn nhân đau đớn, gây thương tích ở các mức độ khác nhau, thậm chí dẫn đến tử vong. Khóa luận: Thực trạng thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam.

Theo kết quả khảo sát tại 8 tỉnh ở 8 vùng trên cả nước do Uỷ ban về các  đề xã hội của Quốc hội tiến hành trong 6 tháng đầu năm 2006: có 2,3% gia đình có bạo lực về thể chất. Theo báo cáo của Bộ công an, trên toàn quốc, cứ 2- 3 ngày có một người bị giết liên quan tới bạo lực gia đình. Có những năm ngành Tòa án thống kê lên tới 14% số vụ giết người liên quan tới bạo lực gia đình. Theo thống kê của Viện xã hội học, Viện khoa học xã hội và nhân văn thì ở Việt Nam có đến 66% các vụ ly hôn liên quan đến bạo lực gia đình, 5% phụ nữ được hỏi thừa nhận bị chồng đánh đập thường xuyên. 82% hộ ở nông thôn và 80% hộ ở thành thị có xảy ra bạo lực. Điều đáng nói là những hành vi bạo lực hầu hết người phụ nữ là nạn nhân (76%). Thực trạng trên đã nói lên tình trạng bất bình đẳng giới đang diễn ra phổ biến ở tất cả mọi nơi từ thành thị tới nông thôn. Không chỉ có bạo lực giữa chồng với vợ mà bạo lực với trẻ em cũng ngày càng gia tăng. Mặc dù chưa có thống kê chính thức nhưng ngày càng nhiều vụ việc thương tâm xảy ra với trẻ em như vụ hành  bé Nguyễn Thị Hảo ở Bình Phước, em Nguyễn Thị Bình ở Hà Nội… So với các hình thức bạo lực khác, bạo lực về thể chất rất nguy hiểm, dễ nhận biết và dễ xác định cụ thể hậu quả đối với các nạn nhân.

Vấn đề nổi cộm, gây nhức nhối dư luận thời gian gần đây là tình trạng bạo lực tình dục. Việc thừa nhận đó là hình thức bạo lực độc lập hay không cũng còn nhiều ý kiến khác nhau. Tuy nhiên, do mức độ nghiêm trọng cũng như tính nhân văn, tính đột phá của vấn đề, pháp luật vẫn đề cập tới vấn đề này, coi đó là một dạng của bạo lực. Theo điểm đ Khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình quy định “cưỡng ép quan hệ tình dục” là một trong những hành vi của bạo lực gia đình. Bạo lực tình dục thường thể hiện dưới dạng: cưỡng ép quan hệ tình dục, hiếp dâm, cưỡng dâm, quấy rối tình dục, ép buộc sử dụng văn hóa đồi trụy để thỏa mãn nhu cầu tình dục. Và thực tế cho thấy tình trạng này không còn là quá mới mẻ. Theo tờ trình của Uỷ ban các vấn đề xã hội của Quốc hội về Dự án Luật Phòng, chống bạo lực gia đình thì có tới 30% các cặp vợ chồng có hiện tượng ép buộc quan hệ tình dục.

Bên cạnh hành vi bạo lực về thể chất và bạo lực tình dục thì các hành vi về bạo lực tinh thần (người vợ bị chồng chửi mắng, xỉ vả, cấm tham gia công tác xã hội, cấm quan hệ với mọi người) và bạo lực về kinh tế (chồng kiểm soát vợ về thu nhập, không chịu đóng góp vào kinh tế chung của gia đình).  cũng đang diễn ra ngày càng phổ biến gây ra hậu quả xấu đối với gia đình và toàn xã hội. Khóa luận: Thực trạng thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam.

Ở Mỹ, Nauy để phòng chống bạo lực gia đình thì Chính phủ các nước này đã áp dụng rất nhiều biện pháp, trong đó có biện pháp xây dựng ngôi nhà tạm lánh. Và ngôi nhà tạm lánh đầu tiên được xây dựng vào năm 1974 ở Mỹ và ở Nauy năm 1978 đã dành riêng cho các phụ nữ bị đánh đập, từ đó đến nay các địa phương trên toàn quốc lần lượt xây dựng các công trình tương tự và trung tâm viện trợ, tạo điều kiện giúp đỡ về tình cảm, vật chất, công việc, luật pháp cho những nạn nhân của nạn bạo lực gia đình. Ở Việt Nam mô hình nhà tạm lánh đầu tiên đã xuất hiện cách đây khoảng 6 năm (2003). Nhưng mô hình này chủ yếu xuất hiện ở một số tỉnh, thành phố lớn như: Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng, Hải phòng…chứ chưa phát triển rộng khắp trong cả nước. Thêm vào đó còn nhiều người dân còn chưa hề biết về mô hình và tác dụng của Nhà tạm lánh này. Hiện nay Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2007 tại Điều 26 và Nghị định số 08/2009/NĐ-CP ngày 04/02/2009 quy định chi tiết và hưỡng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình đã có quy định về mô hình này. Nhà tạm lánh có thể nói là một “cơ sở an toàn” cho những đối tượng bị bạo hành gia đình (chủ yếu là phụ nữ). Khi người phụ nữ bị bạo hành hoặc bị tấn công ngoài đường, đều có thể chạy thẳng vào cơ sở Nhà tạm lánh  bất cứ lúc nào. Những nạn nhân vào đây, họ có thể mang theo những đứa con và được tạm lánh trong một khoảng thời gian nhất định. Đến nhà tạm lánh, người phụ nữ vừa được chở che tính mạng vừa được nuôi ăn ở, học tập. Ban quản lý Nhà thực hiện một chương trình bồi dưỡng, tập huấn ngắn để các nữ nạn nhân được hiểu biết kiến thức về luật pháp, xã hội, chăm sóc sức khoẻ, bảo vệ bản thân, kỹ năng sống và đến một lúc nào đó, họ có thể quyết định lấy cách giải quyết cho hoàn cảnh của họ mà Trung tâm không áp đặt. Vì thế, đến Nhà tạm lánh, nạn nhân nữ có cảm giác không bị đơn độc vì họ được chia sẻ đồng cảm và cùng giúp nhau vượt qua những nỗi khổ của mình. Khóa luận: Thực trạng thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Giải pháp pháp luật áp dụng Luật Bình đẳng giới

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x