Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Giá trị kiến trúc nhà ở từ truyền thống đến hiện đại hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Giá trị kiến trúc nhà ở từ truyền thống đến hiện đại tại một số làng vùng đồng bằng Bắc Bộ dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
Giới thuyết về nhà cổ
Qua các kết quả khai quật của ngành khảo cổ học ở các di chỉ Bình Gia (Lạng Sơn) và núi Đọ (Thanh Hóa) cho thấy con người nguyên thủy Việt Nam chủ yếu sống trong các hang động và dùng tre, nứa khai thác dễ dàng trong rừng núi bạt ngàn thời bấy giờ, đan dựng nên những tấm phên che mưa, gió để sinh sống trong thời kỳ manh nha tổ chức xã hội này. Như vậy, thời kỳ này những ngôi nhà vẫn chưa xuất hiện.
Đến khi vua Hùng dựng nước Văn Lang, các tụ điểm dân cư người Việt mới xuất hiện với những tập hợp theo quan hệ gia đình ruột thịt, hàng xóm láng giềng thì kiến trúc ngôi nhà dân tộc đầu tiên đã được dựng nên khi mọi người đã biết phá rừng lập ấp, gác gỗ dựng nhà sàn và nghề mộc thời đó đã dựng được những ngôi nhà sàn mái cong như hình đuôi én. Hình kiểu kiến trúc thời kỳ này chủ yếu là những ngôi nhà sàn, với vật liệu xây dựng từ thiên nhiên: tranh, tre, gỗ, nứa, lá… sẵn có trong rừng.
Nhà ở của người Việt trải qua chiều dài lịch sử có sự biến đổi trong chất liệu làm nhà. Sản phẩm chính của quá trình tạo dựng môi trường sống đó chính là những ngôi nhà sàn hoặc nhà đất. Những ngôi nhà nền đất xuất hiện từ thời tổ tiên ta dựng nước Văn Lang, qua các di chỉ khảo cổ ở Gò Mun (Phú Thọ), Thiệu Dương (Thanh Hóa) với các viết tích như nền nhà, hố bếp… Từ các loại cây rừng thân gỗ cho tới các loại tre nứa, người Việt đều có cách riêng để tạo nên ngôi nhà đủ sức chống chọi với thiên nhiên, tạo nơi ăn ở mát mẻ vào mùa hè và ấm áp về mùa đông. Những ngôi nhà đó dù được làm bằng gỗ hay tre nứa đều được tạo dựng từ bộ khung nhà với nhiều gian. Khóa luận: Giá trị kiến trúc nhà ở từ truyền thống đến hiện đại.
Trong lịch sử kiến trúc Việt Nam nói chung và trong kiến trúc nhà ở nói riêng, chưa có cuốn sách, tạp chí nào đưa ra định nghĩa hay các quy ước về nhà cổ. Trong cuốn Kiến trúc cổ Việt Nam của Vũ Tam Lang (Nxb. Xây dựng, Hà Nội, 1998) có nói tới nhà ở dân gian và nói: “Nhà ở là phương tiện cư trú và là tổ hợp không gian sinh hoạt văn hóa của con người. Nhà ở được phát triển cùng với tiến trình của lịch sử xã hội, mức độ kinh tế và văn hóa cùng sự biến đổi về hoàn cảnh địa lý, môi trường sinh sống của loài người nói chung và của dân tộc Việt Nam nói riêng”. Như vậy, tác giả chỉ đề cập tới nhà ở và chưa nói tới nhà cổ là gì. Trong Wikipedia, viết về Kiến trúc cổ Việt Nam đề cập đến nhà ở dân gian: “Nhà ở dân gian đã trải qua một quá trình chuyển biến từ nhà sàn đến nhà nền đất. Nhà nền đất vùng xuôi có kết cấu khung tre hay gỗ, thường làm vách và lợp bằng tranh, rạ hay lá dừa; nếu kết cấu khung gỗ loại tốt lại thường được lợp bằng ngói, tường bao quanh bằng gạch với vì kèo gỗ. Khuôn viên nhà bao gồm: nhà chính, nhà phụ (nhà ngang và nhà bếp) và chuồng gia súc cùng sân, vườn, ao, giếng hoặc bể nước và hàng rào, tường vây quanh, cổng ngõ”.
Các kiến trúc sư chuyên nghiên cứu về kiến trúc nhà ở cổ truyền như Ngô Huy Quỳnh, Nguyễn Khắc Tụng cũng chưa đưa ra một tiêu chí hay một ý nào nói thế nào là nhà cổ. Có lẽ nhà cổ là từ thông dụng và từ gọi quen thuộc của mọi người khi nói về một cái gì đó có lịch sử lâu đời.
Hiện nay, việc nghiên cứu về nhà cổ thu hút được sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu như: các kiến trúc sư, các nhà khảo cổ, các nhà sử học… Tuy nhiên vẫn chưa giới nào đưa ra một quan niệm cụ thể về nhà cổ. Thông thường các sách nói về nhà cổ, chủ yếu nói về các thức kiến trúc và niên đại của ngôi nhà vẫn chưa chú ý tới việc đưa ra một khái niệm, một quy ước cụ thể về nhà cổ.
Khi được hỏi về quan niệm nhà cổ, KTS Nguyễn Giang cho rằng “Nhà cổ là ngôi nhà có thời gian lâu năm (ít nhất là 50 năm trở lên) và trong các ngôi nhà đó đều mang một dấu ấn văn hóa của dân tộc”.
Qua những ý trên và căn cứ vào tình hình hiện tại chưa có tài liệu nào đưa ra quan niệm về nhà cổ do vậy, trong phạm vi khóa luận của mình, tôi đưa ra quan niệm về nhà cổ như sau: “Nhà cổ là một ngôi nhà được xây dựng từ ngày xưa và tồn tại trong một thời gian dài(ít nhất từ 100 năm trở lên) tới ngày nay, đó là những ngôi nhà được xây dựng và mang một dấu ấn đặc trưng của thời kỳ và có giá trị trong nền văn hóa của dân tộc”
Qua quan niệm này, tôi thấy nhà cổ là những ngôi nhà được xây dựng từ xa xưa, trải qua thời gian khắc nghiệt của thiên nhiên, của các nhân tố bên ngoài tác động vào, nhưng vượt qua tất cả những thử thách ngôi nhà đó vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Ngôi nhà cổ này có ý nghĩa quan trọng đối với các thế hệ trong gia đình đó, mang dấu ấn văn hóa vật chất và tinh thần của một làng quê đồng thời có ý nghĩa trong nền văn hóa, trong quá trình hình thành của đất nước ta.
Theo tôi, một ngôi nhà gọi là nhà cổ khi ngôi nhà đó tồn tại được ít nhất là 100 năm trở lên. Sở dĩ tôi chọn quy ước đó vì những ngôi nhà phải trải qua được thời gian dài để khẳng định sự vững chắc của ngôi nhà, khẳng định độ bền của vật liệu xây dựng và tài năng về kiến trúc của người Việt xưa. Bên cạnh đó, những ngôi nhà qua thời gian dài sẽ biến động cùng những thăng trầm của lịch sử, mang trong đó những chứng tích của lịch sử. Thông thường những ngôi nhà thời gian càng lâu thì giá trị của nó sẽ càng lớn. Và cách quy ước đó được tôi sử dụng để xác định cụ thể phạm vi đối tượng nghiên cứu trong khoá luận.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Bảng Giá Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Du Lịch
2.1. Làng Mái Khóa luận: Giá trị kiến trúc nhà ở từ truyền thống đến hiện đại.
2.1.1. Giới thiệu về làng
Làng Mái là làng Đông Hồ – quê hương của dòng tranh Đông Hồ nổi tiếng, nằm bên bờ nam sông Đuống thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Cũng không biết có biết bao nhiêu khách xa gần về với Đông Hồ, về với dòng tranh nổi tiếng theo tiếng gọi của nghệ thuật:
“ Hỡi cô thắt lưng bao xanh Có về làng Mái với anh thì về Làng Mái có lịch có lề
Có ao tắm mát có nghề làm tranh”
Vì được khai sinh từ một mảnh đất có nền tảng văn hóa và truyền thống thủ công nên Đông Hồ đã sớm nổi lên như một điểm sáng văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần đáng tự hào của miền Kinh Bắc.
Xưa kia Đông Hồ chỉ là cái ấp, cách đây hơn 50 năm, làng Mái chỉ có 60 hộ với gần 500 khẩu, cả làng không có lấy một ngôi nhà ngói, nhà cửa vườn tược không được thông thoáng như bây giờ, không cổng không tường, đường thôn ngõ xóm lầy lội, người ở vùng này có câu “ trăm cái tội không bằng cái lội Đông Hồ”. Làng Hồ xưa vốn nằm trong bãi ven mép nước sông, hằng năm đều bị nạn lở đất đe dọa, thế nên mới vượt đê di cư đến địa điểm ngày nay. Làng tuy nhỏ nhưng có tới 17 dòng họ có gốc từ Thanh Hóa và Hải Dương. Hiện nay làng có hơn 240 hộ dân, bình yên như bao làng quê Việt khác.
2.1.2. Ngôi nhà truyền thống của người dân làng Mái
2.1.2.1. Hiện trạng nhà cổ
Ngôi nhà gỗ cổ truyền, nơi lưu giữ những dấu ấn văn hóa của dân tộc của làng xã. Làng Mái là làng nghề làm tranh nổi tiếng nhưng hiện nay nghề làm tranh bị mai một mà thay vào đó là làm hàng mã. Là một ngôi làng cổ nhưng hiện nay những ngôi nhà này đang bị mai một trước sự công phá của thời gian cũng như tác động của cơ chế thị trường. Qua quá trình đi điền dã khảo sát về những ngôi nhà cổ làng và thống kế được số lượng nhà cổ ở làng chỉ còn lại có 3 ngôi nhà có niên đại trên 100 năm. Khi tiếp xúc với người dân ở đây thì hiện nay do dân số phát triển cùng với nhu cầu cần có mặt bằng để phục vụ sản xuất cùng với đời sống kinh tế phát triển thì nhà cổ ở làng bị tàn phá đi và còn rất ít.
Những ngôi nhà cổ còn sót lại này vẫn giữ được nguyên cấu trúc cổ truyền cùa người Việt với những hàng cột gỗ lim ngay từ khi mới xây dựng. Tất cả những cột gỗ đó từ khi xây dựng tới nay, trải qua thời gian hàng trăm năm nhưng chưa có sự thay thế bởi các cột gỗ khác. Tuy nhiên trong những ngôi nhà này tình trạng ẩm thấp không tránh khỏi bởi cách xây dựng từ ngày xưa thường làm nhà có mái hiên thấp, cùng với các tấm bức bàn che kín gần hết cửa của ngôi nhà khiến nhà bị tối. Nên khi hỏi họ có thích sống trong những ngôi nhà đó không thì họ trả lời là không muốn sống trong đó bởi không gian không thoáng, ngôi nhà lúc nào cũng tối cho dù đó là ban ngày và tình trạng xuống cấp của các ngôi nhà khiến tâm lí họ không thoải mái. Hơn nữa hiện nay do nhu cầu về sản xuát nhiều hộ gia đình đã sử dụng nhà cổ để chứa hàng hóa còn mọi sinh hoạt trong gia đình chuyển sang nhà mới. Khóa luận: Giá trị kiến trúc nhà ở từ truyền thống đến hiện đại.
Việc các thế hệ trong gia đình tăng dần số lượng theo thời gian mới thấy sự cần thiết phải có chốn ở hợp lí. Giữ lại ngôi nhà là giữ lại phần hồn của chính họ và gia đình cũng như cho làng xã, cho văn hóa của dân tộc.
2.1.2.2. Đặc điểm kiến trúc của ngôi nhà truyền thống của người dân làng Mái a. Bố cục không gian:
Với vị trí “Nhất cận thị, nhị cận giang” và làng nằm cạnh sông Đuống, có kết cấu hình xương cá, một đặc điểm dễ nhận thấy trong việc làm nhà ở làng Mái đó là nền nhà khá cao. Để có đất đắp nền, người dân làng đã đào đất ở những thửa ruộng nằm sát cạnh làng, vì vậy phần cuối ngõ là hệ thống ao.
Ngôi nhà được sắp xếp theo quan niệm xưa, vị trí khuôn viên mỗi nhà phải được lập trên miếng đất thuận tiện cho việc làm ăn phát triển kinh tế và tạo môi trường cho văn hoá làng được phát triển phong phú đó phải là miếng đất bồi có các đầu mối giao thông như gần chợ, gần sông, gần đường cái và đồng ruộng.
Phía bên trong khuôn viên mỗi ngôi nhà thường được xây dựng trên cơ sở tôn trọng tập tục và theo thuyết phong thuỷ của Trung Quốc. Tức là người ta thường xây nhà sao cho tránh được “góc ao, đao đình” hay tránh cho nhà chính nhìn vào đầu hồi nhà khác, hoặc bị đường cái đâm thẳng vào nhà. Chẳng thế mà đường làng được định hình khá đa dạng, có lúc theo lối, có lúc lại ngoằn ngèo uốn lượn.
Không phải ngẫu nhiên nhà ở dân gian đều chọn hướng Nam, với cách chọn hướng nhà như vậy chủ nhân không bao giờ lo ánh sáng chiếu trực tiếp vào nhà, đồng thời tránh được gió mùa đông rét buốt. Nhưng cho dù là nhà hướng Nam, cổng nằm lệch hay bất kỳ một quy tắc nào cũng phải đảm bảo sự thống nhất với cấu trúc làng, ở đây sự ảnh hưởng của cấu trúc làng đối với kiến rúc nhà ở dân gian còn xuất phát từ đặc thù về lao động sản xuất và sinh hoạt.
b. Vật liệu xây dựng Khóa luận: Giá trị kiến trúc nhà ở từ truyền thống đến hiện đại.
Bộ khung chịu lực cũng như các vật liệu xây dựng, nhìn chung các ngôi nhà làng Mái cũng có nhiều nét tương đồng với các ngôi nhà gỗ khác ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Vật liệu chủ yếu là làm bằng gỗ lim. Nền nhà lát gạch vuông to hoặc là gạch Bát Tràng. Vật liệu lợp mái ngói bằng đất nung, ngói móc, mái ngói thường lợp hai lớp. Cửa được làm bằng gỗ với kết cấu ván bưng cửa bức bàn còn tường được xây bằng gạch nung.
- Kết cấu của ngôi nhà
Ngôi nhà dựng trên cơ sở các vì kèo 6 cột. Hai vì kèo gian giữa làm theo kiểu kẻ chuyền – giá chiêng – tiền kẻ hậu bầy, hai vì kèo bức thuận làm theo kiểu chồng rường – giá chiêng. Đó là những kiểu vì kèo phổ biến của những ngôi nhà gỗ lớn ở đồng bằng Bắc Bộ. Đầu kèo hiên còn được nối thêm ra phần kèo vượt làm cho hiên nhà rộng hơn lên, do đó tăng cường khoảng đệm không khí để ngăn bớt cái nắng nóng ngoài sân và giữ mát cho trong nhà vào mùa hè. Ba bộ cửa bức bàn bằng gỗ vàng tâm vừa nhẹ vừa bền; khi khép và chốt phía trong thì trong nhà kín bưng, an toàn; khi có công việc lớn như giỗ chạp, cưới hỏi, mừng thọ… có thể tháo cánh cửa ra cho lòng nhà rộng và giữa trong nhà với ngoài hiên được thông thoáng.
d. Trang trí mĩ thuật trong và ngoài nhà.
Việc chạm khắc hết sức công phu và tương đối tập trung vào các mảng hoa văn phía bên trên 3 ô cửa chính, phía trên xà dọc cũng như ở các đầu kèo, đầu xà, bức vách ngăn và đặc biệt ở hai bức thuận trong nhà. Những người thợ mộc dân gian đã khéo léo thể hiện trên gỗ những hình hoa lá để trang trí ngôi nhà. Hầu như mảng chạm khắc nào cũng có hình lá cúc, dây cúc, hoa cúc, có cả dây cúc cách điệu – rồng chầu mặt nguyệt… Bên cạnh mô – típ hoa và lá cúc là chủ đạo, một số bức còn chạm hoa và lá sen, cành mai, cành tre… Theo quan niệm dân gian Việt, những cỏ cây hoa lá đó cũng là biểu tượng của tứ quý – bốn mùa. Một chạm khắc trang trí nữa cũng phổ biến ở ngôi nhà là các mảng con tiện vừa đẹp vừa thông thoáng cho ngôi nhà, kể cả khi đã đóng kín cửa cài then. Một số chỗ còn xuất hiện cả hình rồng chầu mặt nguyệt, rồng bay, phượng múa…
Là làng nghề làm tranh nên trong nhà thường trang trí thêm các bức tranh nhất là trong những ngày Tết. Dù là nhà tre hay nhà gỗ, trong cảnh nhộn nhịp đón xuân, người ta quét vôi lại tường, sửa lại những chỗ sứt lở và sau đó là dán thẳng lên vách là những tờ tranh tết tươi rói, rực rỡ với đủ các đề tài phần nhiều mang ý nghĩa chúc tụng, khi thì trực tiếp khi thì gián tiếp, hình nào cũng xôn xao và hòa ngay vào sự sống động của người chơi tranh. Những tờ tranh ấy với sắc màu đằm thắm đã làm sáng rạng và ấm cúng những căn nhà trong tiết xuân se lạnh và thiếu sáng, hình cô đọng và chặt chẽ luôn chứa đựng một cuộc sống sâu lắng, tất cả làm cho căn nhà vui hẳn lên.
2.1.2.3. Sinh hoạt truyền thống trong ngôi nhà Khóa luận: Giá trị kiến trúc nhà ở từ truyền thống đến hiện đại.
Với không gian được phân theo hàng cột, nhà chính có ba gian trung tâm được phân chia theo mục đích cụ thể nhưng thực chất chúng lại hoàn toàn thông nhau, không gian được xem là vị trí trung tâm của nhà chính thường được chọn làm nơi thờ cúng ông bà, tổ tiên. Đây là không gian quan trọng của ngôi nhà bởi vậy bao giờ cũng được chủ nhân chọn là nơi để đặt bàn thờ. Kế bên gian chính giữa là phần không gian để tiếp đón khách, ngoài ra chủ nhà còn sử dụng gian này làm gian sinh hoạt, giáo dục con cái. Ngoài ra nơi đây còn là nơi truyền dậy kĩ thuật làm tranh cho con cháu.
Hai gian bên có hẹp hơn dành chỗ ngủ cho con trai lớn và khách. Hai bên là một gian buồng kín, được gọi là “phòng the” đặt sát phòng lớn trang trọng trên, là thế giới riêng của phụ nữ trong gia đình và cũng là chỗ cất giấu lương thực đồ đạc và là nơi sinh hoạt kín đáo của gia chủ.
2.1.3. Ngôi nhà hiện đại của người dân làng Mái
2.1.3.1. Tình hình xây dựng mới ở làng Mái
Ven con đường làng nhỏ bé được xây dựng những dãy nhà ở giống hệt như nhà ống trên phố, cái nhô lên cái thụt xuống, cái ra cái vào…. Do dân cư của làng
ngày càng tăng nên nhu cầu về nhà ở ngày càng cao, việc mở rộng xây dựng các khu dãn dân là tất yếu. Vì vậy hình thái khuôn viên truyền thống đã bị thay đổi nhiều do người dân chia nhỏ khu đất ra làm nhiều nhà ống, mỗi lô đất chia đều cho các con cái làm nhà ở riêng, thói quen sống nhiều thế hệ trong ngôi nhà ở truyền thống không còn nữa. Với hình thái khuôn viên 100 – 120 m2 cho một lô đất hình chữ nhật, chiều rộng các lô đất khoảng 5 m, chiều dài bình quân 20 m, sự phân chia này đã làm mất đi hoàn toàn ý nghĩa của nhà ở nông thôn mà trở thành bản sao mẫu nhà chia lô của các đô thị vào những năm 90 của thế kỷ trước với các kiểu nhà ống, nhà nhiều tầng, dạng biệt thự… Những ngôi nhà thường làm từ 1 đến 3 tầng, trong đó 2 tầng là phổ biến.
2.1.3.2. Đặc điểm của ngôi nhà hiện đại
- Bố cục không gian:
Những ngôi nhà hiện đại được xây dựng ở làng đã không còn giữ được bố cục không gian thoáng đãng phù hợp với cảnh quan ở làng nữa mà thay vào đó là những ngôi nhà ống kiên cố kín cổng cao tường, không còn tường rào hay dậu mồng tơi nữa. Tuy nhiên cũng còn có một số ngôi nhà khi xây dựng lại với kiểu kiến trúc sân vườn bao gồm sân vườn, phòng khách, phòng sinh hoạt chung, phòng ngủ, phòng học, phòng bếp, phòng ăn, phòng vệ sinh, phòng kho, phòng để xe, cầu thang, sân thượng, sân phơi… Ngoài ra còn có một số nhà xây theo kiểu nhà ống 2 – 3 tầng nên thấy được những tồn tại trong ngôi nhà như nơi tiếp khách quá sâu trong căn hộ, phải đi qua khu vực giao thông hộ; căn hộ không thông thoáng thiếu diện tích “bán lộ thiên” như logia, sân cảnh Khóa luận: Giá trị kiến trúc nhà ở từ truyền thống đến hiện đại.
- Vật liệu xây dựng
Thay vì sử dụng các vật liệu cũ truyền thống tranh tre nứa lá và gỗ, những ngôi nhà hiện đại sử dụng loại vật liệu mới với bê tông cốt thép, xi măng gạch đá. Nhà mái bằng làm bằng bê tông và sắt thép hoặc lợp ngói firoximăng, lợp tôn. Tường xây bằng gạch kiên cố, quét vôi ve, một số tường còn được ốp gạch men phần chân tường. Tuy cửa cũng bằng gỗ nhưng không còn sử dụng kiểu cửa bức bàn nữa. Nền nhà chủ yếu được lát gạch đá hoa cho mát vào mùa hè c. Kết cấu của ngôi nhà.
Thay cho kết cấu vì kèo cột bằng gỗ, người dân làng Mái xây dựng ngôi nhà của mình theo đủ kiểu tây âu, đông âu, á âu sử dụng tường gạch chịu lực, sàn mái bê tông hoặc nhà khung cột bê tông cốt thép. Các phòng được phân chia bằng tường gạch trát vữa xi măng, quét vôi ve hoặc sơn đủ màu sắc tạo nên không gian kín đáo riêng tư mà không còn chia theo gian buồng như ngày xưa. Nhà 2 – 3 tầng thì có cầu thang đi lên và phân chia phòng theo tầng. Ngôi nhà xây bằng gạch, mọi lực đều dồn lên bức tường chịu lực có cột bê tông mà không dồn lên bộ khung cột gỗ như ngôi nhà truyền thống nữa.
- Trang trí trong và ngoài nhà
Một số gia đình vẫn sử dụng tranh để trang trí cho nội thất bên trong ngôi nhà, ngoài ra còn có một số các vật liệu khác như đồng hồ, ti vi, tủ lạnh, tủ tường… Trần nhà đắp hoa văn hoặc hình học. Bên ngoài sân thì có hòn non bộ, nuôi sinh vật cảnh phối trí cùng với một ít vật dụng trang trí cổ truyền như bình phong, đôn, chậu cảnh…
2.1.3.3. Sinh hoạt trong ngôi nhà hiện đại
Ngôi nhà được chia thành nhiều phòng khác nhau, và được chia theo tầng. Phòng bố mẹ được bố trí ở tầng dưới cùng với phòng khách, phòng ăn, phòng bếp. Phòng của các con được bố trí trên tầng 2 và tầng 3, và vẫn phân chia phòng cho con trai, con gái.
Trong ngôi nhà hiện đại của người dân làng Mái không gian tâm linh thường đặt để linh hoạt hơn, có thể trong thư phòng, trong gian sinh hoạt hay trên lầu. Vấn đề sắp đặt gian thờ tùy thuộc vào đời sống tâm linh của gia chủ. Gian thờ thường có xu hướng được đặt tại những nơi cao khuất nhất. Gia chủ cho rằng thờ tự tại những nơi cao khuất là để tỏ lòng cung kính đối với tổ tiên, ông bà và thể hiện sự trang nghiêm nơi thờ cúng.
Một số gia đình sử dụng tầng 1 làm nơi dạy kĩ thuật làm tranh, truyền nghề cho con cháu còn số khác lại sử dụng để làm nơi bán hàng, trưng bày sản phẩm tranh của nhà mình.
2.2. Làng Lim Khóa luận: Giá trị kiến trúc nhà ở từ truyền thống đến hiện đại.
2.2.1. Giới thiệu về làng
Làng lim là tên gọi chung của hai làng Lũng Giang và Lũng Sơn, ( bản khóa luận này xin chủ yếu đề cập đến làng Lũng Giang và gọi Lũng Giang là làng Lim như nhân dân vùng này vẫn quen gọi). Làng Lim trước năm 1945 thuộc tổng Nội Duệ là một trong tám tổng giầu có của huyện Tiên Du, một vùng đất cổ của xứ Bắc, nay thuộc thị trấn Lim – huyện Tiên Du – tỉnh Bắc Ninh. Nằm giữa đồng bằng phì nhiêu, các làng xã trong tổng Nội Duệ nằm bên bờ sông Tiêu Tương có phong cảnh hữu tình. Sông Tiêu Tương là con sông có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế của người Nội Duệ – Cầu Lim xưa kia. Đây là một vùng quê có truyền thống khoa bảng, quê hương của nhiều lễ hội tín ngưỡng dân gian và nhiều truyền thuyết li kì, huyền ảo gắn với các tôn giáo, tín ngưỡng tiêu biểu cho vùng văn hóa tâm linh xứ Bắc. Đó là câu chuyện Phù Đổng Thiên Vương một truyền thuyết về truyền thống anh dũng chống giặc ngoại xâm của dân tộc, chuyện Vương Chất gặp tiên trên núi Lạn Kha, kể về chàng trai tên là Vương Chất, lên núi đốn củi gặp Tiên đánh cờ, mê mải xem lúc quay lại thì cán rìu đã mục nát từ bao giờ mà ván cờ Tiên vẫn chưa kết thúc.
Chính vì thế người dân nơi đây gọi là núi Lạn Kha (núi rìu nát), phía bắc núi có chùa Kim Ngưu, dân gian giải thích là chỗ Cao Bền thấy con trâu vàng trong núi chạy ra. Rồi câu chuyện tình thơ mộng của chàng “ Từ Thức cởi áo chuộc tội cho nàng tiên Giáng Hương”, sau đó theo nàng đến tận chốn bồng lai tiên cảnh.
Huyện Tiên Du có từ thời Trần (1225 – 1413), thời Minh xâm lược Tiên Du nằm trong châu Vũ Ninh ( gồm 4 huyện Vũ Ninh, Đụng Ngàn, Từ Sơn, Yên Phong). Từ năm Minh Mạng thứ 13 (1832) trở về trước, huyện lị của Tiên Du đóng tại xã Đông Sơn, năm Minh Mạng thứ 14 (1833) huyện lị chuyển về xã Hoài Bão ( xã Liên Bão), sua đó chuyển về vị trí hiện nay cạnh núi Lim ( núi Hồng Vân) tức thị trấn Lim. Theo “bản đồ Hồng Đức” và sách “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi thế kỉ XV, huyện Tiên Du thời đó có 52 xã, số xã này ổn định đến năm 1788. Đầu thế kỉ XIX có sự thay đổi ít nhiều, cho đến đời vua Đồng Khánh (1886 – 1888) cả huyện có 9 tổng với 56 xã thôn”. Tên huyện Tiên Du được dân gian giải thích gắn liền với câu chuyện Vương Chất và Từ Thức gặp Tiên giáng trần… Khóa luận: Giá trị kiến trúc nhà ở từ truyền thống đến hiện đại.
Làng Lim cách thành phố Bắc Ninh ngày nay 6 km về phía Tây Nam, là một xã lớn của tổng Nội Duệ, phía Đông giáp Bịu, Lũng Sơn; phía tây giáp Tam Đảo; phía Bắc giáp Xuân Ổ, Đụng Đạo; phía Nam giáp Duệ Bao ( cũng gọi là Lộ Bao). Làng Lim trước kia chia làm ba xóm, vì có nghề tơ lụa và buôn bán phát triển từ sớm nên gọi là ba phường gồm phường Cả, phường Chinh, phường Chựng. Phường Cả là phường lớn nhất, lại chia ra làm ba xóm Trung, Đông Tây. Phường Cả và phường Chựng ở phía tay phải quốc lộ 1A, phường Chinh ở phía tay trái ( theo hướng Bắc Ninh – Hà Nội). Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, trên 50 % số hộ có nhà ngói.
Làng Lim có những mặt hoạt động kinh tế, văn hóa khá năng động. Xưa kia làng Lim nằm sát cạnh con đường Thiên Lí, là đường đi sứ của các sứ thần nước ta và Trung Quốc. Ngày nay con đường ấy là ranh giới giữa 2 làng Lũng Giang và Tam Đảo, nhân dân ở đây vẫn gọi là “ đường Cái Sứ”. Làng Lim hiện nay không còn ở vị trí cũ mà nằm giữa quốc lộ 1A và đường xe lửa Hà Nội – Đồng Đăng( Lạng Sơn). Có thể trước đây núi Lim có vị trí gần như trung tâm của tỉnh Bắc Ninh, vì có hệ thống giao thông khá thuận tiện, trở thành giao điểm của hai trục Bắc Nam và Đông Tây, hội tụ được các ngả từ Thuận Thành, Gia Bình, Lương Tài, Yên Phong sang; Hà Nội, Gia Lâm, Từ Sơn lên; Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Ninh xuống. Dù vậy những giá trị văn hóa từ nhiều đời nay vẫn được dân làng Lim lưu giữ không phai nhạt.
2.2.2. Ngôi nhà truyền thống của người dân làng Lim
2.2.2.1. Hiện trạng nhà cổ
Là một ngôi làng cổ nhưng hiện nay cũng như các làng quê khác ở đồng bằng Bắc Bộ nói chung và Bắc Ninh nói riêng những ngôi nhà này đang bị mai một trước sự công phá của thời gian cũng như tác động của cơ chế thị trường. Qua quá trình đi điền dã khảo sát về những ngôi nhà cổ ở làng và thống kế được số lượng nhà cổ ở làng chỉ còn 4 ngôi nhà. Khi tiếp xúc với người dân ở đây thì hiện nay do ngôi làng nằm trên vùng đất có điều kiện thuận lợi về giao thông nên kinh tế phát triển, đời sống của người dân được cải thiện, kinh tế khá giả và do dân số phát triển cùng với nhu cầu cần có mặt bằng để phục vụ sản xuất thì nhà cổ ở làng bị tàn phá đi và còn rất ít. Khóa luận: Giá trị kiến trúc nhà ở từ truyền thống đến hiện đại.
Những ngôi nhà cổ ở làng phần lớn vẫn giữ được nguyên cấu trúc cổ truyền cùa người Việt với những hàng cột gỗ lim ngay từ khi mới xây dựng. Tất cả những cột gỗ đó từ khi xây dựng tới nay, trải qua thời gian hàng trăm năm nhưng chưa có sự thay thế bởi các cột gỗ khác. Những ngôi nhà cổ ở làng hiện nay đang bị xuống cấp nhiều, người dân sống trong những ngôi nhà này cũng không được an tâm.
Hơn nữa trong các ngôi nhà cổ thường có nhiều thế hệ sinh sống, không gian của ngôi nhà cổ không đủ để cho một gia đình có nhiều thế hệ chung sống nhất là gia đình có nhiều nhân khẩu. Do đó trong ngôi nhà thường có sự chắp vá, hoặc là xây ngôi nhà hiện đại ngay bên cạnh ngôi nhà cổ phá vỡ không gian hài hòa của ngôi nhà. Có một số gia đình chia đôi ngôi nhà cổ ra làm hai cho các con sinh sống khiến ngôi nhà mất đi cảnh quan và vẻ đẹp trọn vẹn của một ngôi nhà tồn tại hàng thế kỷ.
2.2.2.2. Đặc điểm kiến trúc của ngôi nhà truyền thống của người dân làng Lim
- a. Bố cục không gian
Nhà cửa của người dân làng Lim cùng với đình chùa làng đều không chỉ có vẻ đẹp từ tự thân công trình kiến trúc, mà trước hết bao trùm lên tất cả, là sự cân đối giữa kiến trúc với khung cảnh và môi trường xung quanh. Đầu tiên, để vào được nhà của người dân làng Lim, bạn không được đi thẳng mà sẽ phải đi qua cái cổng nằm lệch về một phía với hướng nhà chính, để cho nhà chính không nhìn trực diện ra đường làng và tránh những điều không may mắn đến với chủ nhà.
Mỗi ngôi nhà ở làng phần không gian phía trước nhà thường rất rộng đó là sân, với người nông dân sân là phần không thể thiếu trong những ngày mùa vụ.
Trong các ngôi nhà dân gian sân còn được dùng để phơi phóng và là nơi sinh hoạt của gia đình trong những ngày hiếu hỉ. Bên cạnh đó sân còn có vai trò nhấn mạnh thêm mặt đứng của nhà chính trong tổng thể không gian. Ngoài ra còn có vườn cây quanh năm tốt tươi, “mùa nào thức ấy”, những vạt rau vài cây cảnh … ngoài giá trị kinh tế, còn có giá trị thẩm mỹ trang trí trong ngôi nhà, làm cho chính ngôi nhà trở thành bộ phận của thiên nhiên, tất cả gắn bó với nhau. Những ngôi nhà luôn tìm cách náu mình dưới những tán cây râm mát vào mùa hè nắng gắt. Trong khuôn viên ngôi nhà ở làng Lim còn có cả giếng nước phục vụ cho sinh hoạt của gia đình, một đặc trưng của làng Lim
- b, Vật liệu xây dựng
Cũng như bao làng quê Việt khác, những ngôi nhà ở làng Lim cũng sử dụng vật liệu thường có tại địa phương, dễ kiếm, dễ tìm, bộ khung chịu lực được làm bằng gỗ lim hoặc gỗ. Nền nhà lát gạch vuông to hoặc là gạch Bát Tràng. Nhà xây tường gạch lợp mái ngói âm dương kết hợp với hệ thống cửa bức bàn.
- c. Kết cấu của ngôi nhà. Khóa luận: Giá trị kiến trúc nhà ở từ truyền thống đến hiện đại.
Kết cấu bộ khung ngôi nhà có nguồn gốc từ kiến trúc nhà sàn thời văn hoá Đông Sơn, cột nhà với hình dáng kiểu “đầu cán cân, chân quân cờ”là bộ phận chịu lực khá quan trọng của bộ khung. Nó được làm từ gỗ lim hoặc xoan là loại gỗ mà mối mọt không ưa và có thể chống được ẩm. Các cột quân cách cột cái một gian cả về bốn phía, khu vực trung tâm nhà thường có bốn cột cái tạo thành không gian hình vuông mỗi chiều một gian làm thành bộ phận chính của ngôi nhà. Chi tiết hoa văn được trạm trổ công phu không đơn giản chỉ để trang trí cho bộ khung nhà, nó là hình thức kết cấu vỉ nóc mái liên kết giữa cột cái, cột quân và cột nghiêng trong một bộ vỉ kèo. Với không gian được phân theo hàng cột, nhà chính có ba gian trung tâm được phân chia theo mục đích cụ thể nhưng thực chất chúng lại hoàn toàn thông nhau, không gian được xem là vị trí trung tâm của nhà chính thường được chọn làm nơi thờ cúng ông bà, tổ tiên. Đây là không gian quan trọng của ngôi nhà bởi vậy bao giờ cũng được chủ nhân chọn là nơi để đặt bàn thờ. Kế bên gian chính giữa là phần không gian để tiếp đón khách, ngoài ra chủ nhà còn sử dụng gian này làm gian sinh hoạt, giáo dục con cái. Kề bên gian nhà chính bao giờ cũng có những gian nhà phụ vị trí của gian này tuỳ thuộc vào bố cục của từng nhà. Phần chi tiết phía ngoài nhà thường hỗ trợ đắc lực cho bộ khung để tạo nên tổng thể kiến trúc ngôi nhà, chẳng hạn cửa thường được dựng với các bậc cửa khá cao, tác dụng của bậc cửa một phần là để chắn bụi, hoặc là có ngụ ý mỗi khi khách vào nhà phải cúi nhìn bước qua nhà giống như cúi chào chủ nhà. Phần không gian nối giữa không gian trong và không gian ngoài chính là hiên nhà, hiên vừa là nơi hóng mát của gia đình vào những ngày hè oi bức, hiên vừa giúp những lúc mưa bão nước mưa không hắt vào nhà. Mái nhà dân gian thường có độ dốc 30 độ, độ dốc này giúp cho nước mưa dễ chảy xuống, nếu không dùng cỏ tranh hay rơm rạ thì người dân nơi đây thường dùng ngói vẩy cá hoặc ngói âm dương vừa có tác dụng chống nóng, vừa có tác dụng trang trí.Trụ tường bề ngoài cũng vừa để trang trí vừa tạo thế vững trãi cho ngôi nhà, còn đầu hồi nóc mái dùng để cản gió tránh xô lệch mái.
Ở hai đầu hồi mái nhà dân gian bao giờ cũng có hai cửa thông gió hình tam giác để tạo sự thông thoáng cho không gian của mái.
- Trang trí mĩ thuật trong và ngoài nhà
Ngôi nhà được làm bằng gỗ nên chủ nhà tranh thủ những diện hở ra của gỗ để khoác cho nó “bộ cánh” tươm tất, phối hợp với bào trơn, đóng bén là những đường soi gờ chạy chỉ, những vách gỗ đổ lụa và đặc biệt là những hình chạm nổi ở vì nóc, ở cốn, ở kẻ, ở ván gió… mà để cho hình nổi rõ còn phối hợp với tô mực đen một số chi tiết. Chi tiết trang trí được sử dụng là hình hoa, lá, cây quả và uốn thế hoa lá cây thành hình trong “tứ linh” Khóa luận: Giá trị kiến trúc nhà ở từ truyền thống đến hiện đại.
2.2.2.3. Sinh hoạt truyền thống trong ngôi nhà
Cũng như những làng quê khác của người Việt, không gian sinh hoạt của người dân làng Lim cũng thật đơn sơ nhưng ấm cúng. Đó là gian giữa của ngôi nhà bố trí bàn thờ tổ tiên và bàn ghế tiếp khách, hai gian bên đặt giường ngủ cho chủ nhà và con trai lớn; hai phòng phụ còn lại, một phòng để đồ đạc quý hoặc lúa thóc, phòng kia là phòng ngủ của phụ nữ và con gái, sau này khi con trai lớn xây dựng gia đình thì phòng ngủ này sẽ dành riêng cho gia đình mới. Cùng với những nét sinh hoạt chung như các làng quê Việt khác, làng Lim có một nét sinh hoạt văn hóa truyền thống rất riêng đó là Hát quan họ tại gia đình. Ca hát quan họ tại gia đình là các canh hát được tổ chức tại nhà riêng của một liền anh, liền chị quan họ nào đó. Xưa kia hát canh thường tổ chức tại “nhà chứa”(nhà của một người mà bọn quan họ thường lui tới để học hát). “Hát canh” thường được tổ chức nhân dịp làng mở lễ hội hoặc vào những ngày mừng nhà mới, mừng đầy tháng con, hoặc khao vọng…
Nhân dịp làng mình mở hội, quan họ làng Lim thường ngày vẫn giao lưu với liền anh(liền chị) làng nào thì ngày hội mời liền chị, liền anh đó về làng mình chơi hội rồi tổ chức canh hát tại một nhà một anh hai Quan họ nào đó, cho vui cửa vui nhà vui hội.
Ngoài ra, đây còn là nơi truyền dạy quan họ của người dân làng Lim cho con cháu mình.
2.2.3. Ngôi nhà hiện đại của người dân làng Lim
2.2.3.1. Tình hình xây dựng mới ở làng Lim
Người dân làng Lim bây giờ có đời sống khá giả hơn, số khẩu trong mỗi gia đình cũng tăng lên, trong những ngõ nhỏ những ngôi nhà mới khang trang hơn với 2 tầng được dựng ngay trên nền đất cũ của gia đình. Một số gia đình khác nằm trên trục đường chính thì xây theo kiểu biệt thự hoặc nhà ống 2 tầng như kiểu thành phố làm nơi buôn bán.
2.2.3.2. Đặc điểm của ngôi nhà hiện đại
- Bố cục không gian
Trên nền đất cũ của gia đình, do diện tích nhỏ nên khi xây mới ngôi nhà đã mất đi không gian vườn cây ao cá. Tuy nhiên ngôi nhà vẫn được xây dựng theo kiểu nhà gian truyền thống, vẫn có ngôi nhà phụ kết hợp theo kiểu hình chữ L, cái cổng vẫn nằm lệch về một phía với hướng nhà chính, để cho nhà chính không nhìn trực diện ra đường làng và tránh những điều không may mắn đến với chủ nhà.
- Vật liệu xây dựng Khóa luận: Giá trị kiến trúc nhà ở từ truyền thống đến hiện đại.
Cũng như những ngôi làng Việt khác, hiện nay vật liệu được sử dụng trong xây nhà hiện nay là cát gạch xi măng , bê tông cốt thép. Mái lợp ngói, lợp tôn hoặc đổ mái bằng. Cửa vẫn là cửa gỗ nhưng không còn cửa bức bàn như trước đây.
- Kết cấu của ngôi nhà
Kết cấu của ngôi nhà sử dụng tường gạch chịu lực, sàn mái bê tông cốt thép hoặc nhà khung cột bê tông cốt thép. Nhà lợp ngói sử dụng xà gồ cầu phong lito, hoặc mái đổ bê tông cốt thép dán ngói. Ngôi nhà chính được phân chia thành các gian, gian chính giữa vẫn được dùng làm nơi thờ tự và nơi tiếp khách, các gian bên cạnh dành cho chỗ ngủ cho con cái. Ngôi nhà phụ được chia thành gian bếp và gian công trình phụ.
- Trang trí trong và ngoài nhà
Trong nhà, tường trát phẳng sơn treo tranh. Bàn ghế giường tủ gỗ được sử dụng để trang trí trong nhà. Sân bên ngoài vẫn được sử dụng làm sân phơi.
2.2.3.3. Sinh hoạt văn hóa hiện đại
Đối với người dân làng Lim, những nét văn hóa truyền thống luôn được giữ gìn, trong ngôi nhà của họ vẫn đặt bàn thờ tổ tiên ngay chính giữa nhà, là trung tâm của ngôi nhà đồng thời cũng có là nơi dành để tiếp khách. Các gian bên cạnh dành cho bố mẹ và gian chứa đồ đạc, còn các con được bố trí ở trên tầng hai.
Hiện nay mỗi dịp hội Lim, người dân làng Lim vẫn tổ chức các canh hát Quan họ tại một số nhà liền anh liền chị để phục vụ du khách thập phương. Ngoài ra, ngôi nhà còn là nơi dạy hát quan họ cho con cháu và những người có mong muốn được học hát quan họ.
2.3. Làng Diềm Khóa luận: Giá trị kiến trúc nhà ở từ truyền thống đến hiện đại.
2.3.1. Giới thiệu về làng
Làng Viêm Xá (có tên nôm là Diềm) là một vùng đất cổ nằm ven hữu ngạn sông Cầu thuộc xã Hòa Long, huyện Tiên Phong tỉnh Bắc Ninh. Xưa kia, làng Diềm thuộc tỉnh Châm Khê, huyện Yên Phong, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, đó là một vùng quê thanh bình, dân cư đông đúc và có phong hóa đẹp. Từ thủ đô Hà Nội, theo quốc lộ 1A ta về thành phố Bắc Ninh qua đường Vệ An rồi theo đường cái quan về làng Diềm chỉ khoảng 4 km. Vừa đặt chân lên địa đầu xã Hòa Long đã thấy cảnh sắc quyến rũ, sông Cầu trong xanh lượn vòng như dải lụa, núi Quả Cảm đột khởi nghĩa giữa cánh đồng xanh mướt đứng soi mình xuống dòng sông như một viên ngọc quý.
Xưa kia, vùng đất này hoang vắng, âm u, cây cối rậm rạp bao phủ, nhưng vị trí, địa hình thuận lợi, cảnh quan quyến rũ, đất đai màu mỡ, lại có đất cao nơi sườn đồi, soi bãi dễ lập làng xóm, vì thế con người đến sinh sống ở làng Diềm rất sớm. Truyền thuyết kể rằng: Khi Đức Vua Bà bị cơn phong vũ cuốn lên trời rồi giáng xuống làng Diềm cùng với 20 người điền phu. Bà đã ở lại nơi núi gọi là Kim Sơn để giúp đỡ mọi người khai khẩn ruộng bãi trống cấy, lập gia đình, làng xóm, xây dựng thuần phong mỹ tục, đó là làng Diềm thủa ban đầu. Để mọi người an cư và có nghề sống lâu dài, Đức Vua Bà đã dạy dân cấy lúa trồng màu nơi bờ bãi, trồng mía để kéo mật, trồng dâu nuôi tằm để dệt vải. Chính vì thế mà mật làng Diềm ngon nổi tiếng và nghề trồng dâu nuôi tằm, kéo kén, ươm tơ là nghề cổ truyền của dân làng vẫn tồn tại và phát triển đến tận ngày nay:
- Dù ai buôn bán trăm nghề
- Không bằng Viêm Xá có nghề tằm tang
- Dù ai buôn đâu, bán đâu
- Cũng không quên được gốc sâu làng Diềm
Làng Diềm còn có huyền thoại về Nhữ Nương, thủy tổ của làn điệu dân ca quan họ đặc sắc của xứ Kinh Bắc. Truyện kể rằng: Ngày xưa thời vua Lê – chúa Trịnh ở làng Diềm có một người con gái xinh đẹp, hàng ngày phải đi cắt cỏ. Tuy là con nhà nghèo khó lam lũ nhưng nàng có trí thông minh khác người và đặc biệt có giọng hát mượt mà, sâu lắng. Mỗi khi nàng cất tiếng hát thì cảnh vật im phăng phắc, chim cũng ngẩn ngơ, cá cũng lờ đờ lắng nghe. Một hôm chúa Trịnh đi dọc sông Nguyệt Đức (sông Cầu), đang say đắm với cảnh nương dâu xanh mướt bên bờ, chợt nghe thấy tiếng hát mượt mà từ cánh đồng vọng đến:
- Tay cầm bán nguyệt xênh xang
- Bao nhiêu cây cỏ lai hàng tay ta Khóa luận: Giá trị kiến trúc nhà ở từ truyền thống đến hiện đại.
Nhìn ra mới biết là một cô gái có nhan sắc nghiêng nước nghiêng thành đang cầm liềm cắt cỏ, chúa Trịnh ngạc nhiên lắm, bởi cái liềm mà ví như nửa mặt trăng thì thật là tài tình, lý thú, lại để ý thấy cô gái đi đến đâu có mây vàng che chở đến đây. Chúa mang lòng yêu mến, mới cho vời cô về kinh lấy làm vợ. Ở kinh đô chẳng bao lâu, chán cảnh đô thị phù phiếm, chạnh lòng nhớ tới làng nhỏ nơi thôn dã nên bà xin được vế sống ở làng Diềm. Tại đây, bà đã tụ tập bọn trai thanh, gái lịch để dạy họ hát. Những bài hát do bà nghĩ ra thật là khó, lại thêm lối hát đôi, hát đối nên phải tụ tập từng “bọn” để dạy hát. Sau khi bà mất, dân làng lập đền thờ làm thủy tổ làn điệu dân ca quan họ nổi tiếng xứ Kinh Bắc:
- Thủy tổ quan họ làng ta
- Những lời ca xướng vua bà sinh ra
- Xưa nay nam nữ trẻ già
- Ai mà ca được ắt là hiển vinh
2.3.2. Ngôi nhà truyền thống của người dân làng Diềm
2.3.2.1. Hiện trạng nhà cổ
Theo thời gian và cơ chế thị trường, số lượng nhà cổ ở làng không còn được nhiều, chỉ có khoảng 4 – 5 ngôi nhà gỗ có niên đại lâu đời. Do nhu cầu về nhà ở, nhiều ngôi nhà xuống cấp đã bị phá hủy để thay thế vào đó là những ngôi nhà có diện tích sử dụng lớn hơn, thuận lợi cho sản xuất. Khóa luận: Giá trị kiến trúc nhà ở từ truyền thống đến hiện đại.
Những ngôi nhà cổ này phần lớn giữ nguyên cấu trúc cổ truyền của người Việt với những hàng cột gỗ lim từ khi mới xây dựng. Tất cả những cột gỗ đó từ khi xây dựng tới nay trải qua thời gian hàng trăm năm nhưng vẫn chưa có sự thay thế bởi các cột gỗ khác tuy nhiên với niên đại hàng trăm năm những hàng cột đó cũng không tránh khỏi sự tàn phá của thời gian.
Những ngôi nhà cổ ở làng có kiến trúc khá đẹp và hoa văn tinh xảo với những bức chạm rồng, hoa lá… Tuy nhiên, các đồ dùng, vật dụng trong ngôi nhà sắp xếp khá “luộm thuộm”, quần áo của chủ nhà thường treo móc ở bất kì nơi nào trong những ngôi nhà khiến ngôi nhà cổ trở nên “nhếch nhác”, giảm giá trị thẩm mỹ của không gian kiến trúc. Hai gian buồng thường rất tối và ẩm thấp, đồ đạc lộn xộn, có nhiều gia đình gian buồng bỏ trống… Vì vậy, cần phải có sự xắp xếp lại không gian ngôi nhà một cách hợp lý và khoa học.
Trong các ngôi nhà cổ thường có nhiều thế hệ sinh sống, không gian của ngôi nhà cổ không đủ để cho một gia đình có nhiều thế hệ chung sống nhất là gia đình có nhiều nhân khẩu. Do đó trong ngôi nhà thường có sự chắp vá, hoặc là xây ngôi nhà hiện đại ngay bên cạnh ngôi nhà cổ phá vỡ không gian hài hòa của ngôi nhà. Có một số gia đình chia đôi ngôi nhà cổ ra làm hai cho các con sinh sống khiến ngôi nhà mất đi cảnh quan và vẻ đẹp trọn vẹn của một ngôi nhà tồn tại hàng thế kỷ.
2.3.2.2. Đặc điểm kiến trúc ngôi nhà truyền thống của người dân làng Diềm
- Bố cục không gian
Nhà ở của người giàu thường nằm trong khuôn viên được bao bọc bởi tường gạch hoặc rào dâm bụt cắt tỉa, cổng ra vào có mái che lợp ngói, cánh bằng gỗ; khu đất có diện tích rộng từ 3 – 5 sào (1.000 – 3.000 m2) bên trong gồm có nhà chính, các nhà phụ, sân gạch, ao cá, vườn cây, các công trình chuồng trại, nhà vệ sinh… Nhà chính, nhà phụ được xây dựng giữa khuôn viên khu đất và quay mặt về hướng Nam hoặc Đông. . Nhà chính quay mặt về hướng Nam nhìn ra sân rộng trước nhà; phía trước sân là ao, vườn cây ăn quả, bể nước mưa, giếng nước khơi… Phía vườn trước trồng cây cau, giàn trầu. Cây cau vừa có giá trị thẩm mỹ về cảnh quan, vừa lấy bóng mát về mùa hè ở, tán cây cau có tác dụng như cái ô che nắng nhưng vẫn cho gió nồm hướng Nam thổi vào trong nhà ở phía phần thân gỗ của cây cau. Phía sau ngôi nhà chính là hướng Bắc, là hướng gió lạnh về mùa đông, nên được trồng cây chuối có lá to bản, cây lại thấp nên có thể che bớt gió lạnh. “Chuối sau, Cau trước” là câu lưu truyền nhắc nhở các thế hệ sau này lưu tâm đến tổ chức cảnh quan ngôi nhà và cách giải quyết vi khí hậu cho ngôi nhà ở. Phía sau của ngôi nhà là các công trình phụ trợ như: chuồng trại chăn nuôi gia súc, nhà để dụng cụ làm nông nghiệp, nhà kho và nhà vệ sinh… Một không gian nữa cũng cần được lưu ý vì nó chiếm diện tích khá lớn trong khuôn viên của ngôi nhà đó là sân phơi, nhà giàu thường có sân phơi rất rộng lát gạch bát, là nơi phới sản phẩm nông nghiệp vào ngày mùa và là không gian tổ chức đám cưới, đám ma của gia chủ. Từ sân lên nhà ở có một không gian đệm gọi là hiên, hiên có chức năng đệm ngăn gió lạnh về mùa đông và bức xạ về mùa hè. Giữa không gian hiên và sân phơi có hàng cột hiên ngăn không gian ước lệ (ranh giới theo phân vị tuyến đứng), cùng với hàng cột hiên, còn có thêm các tấm “chạt che” đan thành phên bằng tre. Tấm chạt che có tác dụng rất cao về giải pháp xử lý vi khí hậu trong nhà, nó có nhiệm vụ nhằm che mưa, chống nắng hắt vào không gian bên trong nhà, đặc biệt là vào mùa đông nó ngăn được gió lạnh tràn vào trong nhà. Đây là những không gian lý tưởng về cảnh quan và điều kiện tiện nghi về khí hậu, rất phù hợp với điều kiện khí hậu nóng ẩm như ở nước ta.
- Vật liệu xây dựng Khóa luận: Giá trị kiến trúc nhà ở từ truyền thống đến hiện đại.
Cũng như hai làng trên và các làng khác ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, ngôi nhà được làm theo kiểu nhà hai mái hoặc hai chái, hai chái lợp ngói mũi, bên dưới có ngói liệt (cách lợp mái 2 lớp theo phương pháp này cho ta hiệu quả thông gió rất tốt về mùa hè). Kết cấu vì kèo của ngôi nhà bằng gỗ, vách tường gỗ hoặc xây bằng gạch đất nung, nền lát gạch Bát Tràng.
- Kết cấu của ngôi nhà
Nhà ở làng Diềm được làm theo kiểu 6 hàng chân. Kết cấu vì nóc gian giữa của ngôi nhà gỗ cổ truyền làm theo kiểu giá chiêng, một số vì nóc gian giữa làm theo kiểu chồng rường.
Vì nách thường có kết cấu kiểu kẻ ngồi. Phần hiên lại được sử dụng kiểu liên kết dùng bẩy thay cho kiểu liên kết kẻ, ở một số ngôi nhà bộ vì hiên được làm với những kiểu thức đa dạng và phong phú. Để giữ các bộ phận của khung nhà người dân đã dùng các cột gỗ xoan hoặc gỗ lim. Các cột này đặt trên chân tảng đá chứ không chon xuống đất. Vì đối với người Việt dù làm theo kiểu nào cũng đều được đặt trên mặt đất. Cách mặt đất 2.5m là một xà ngang hay còn gọi là thanh quá giang được chia làm ba, một xà ngang nhỏ nối hai đầu trên của hai cột giữa (câu đầu). Hai cột dọc nhỏ đặt ở trên con kê, đỡ một xà ngang nhỏ và các thanh kèo. Rui, mè được làm bằng gỗ có bề mạt 10- 15 cm.
Các ngăn giữa được ngăn với hai bên bằng vách gỗ. Mái gồm trước hết có một lớp ngói vuông phẳng, trên lớp ngói đó mới đặt những mảnh ngói dẹt mảnh nọ chồng lên mảnh kia, nó không bị gió thổi thốc đi nhờ trọng lượng; phía dưới diềm mái có một mảnh gỗ có ngoàm giữ cho ngói khỏi tụt. Mặt tiền ngôi nhà toàn bộ làm bằng gỗ; cột nhà, bậc thềm, cánh cửa chiếm cả chiều dài nhà; hàng hiên chạy suốt từ đầu này đến đầu kia
Việc ngăn chia trong ngôi nhà (đối với những ngôi nhà từ 5 gian trở lên) là hệ thống vách gỗ, có tác dụng ngăn các gian với buồng, tạo ra sự kín đáo cần thiết cho ngôi nhà. Các ngôi nhà ở đây thường có hai lớp mái: lớp mái trước và lớp mái sau. Mái nhà lợp bằng ngói lót và ngói di loại nhỏ.
- Trang trí trong và ngoài nhà
Theo phương thẳng đứng, các chi tiết hoa văn trang trí tập trung ở phần vì nóc của ngôi nhà và không hề bị che đậy, trong khi phần cột nhà không có chi tiết hoa văn trang trí. Khóa luận: Giá trị kiến trúc nhà ở từ truyền thống đến hiện đại.
Trang trí ở phần thân nhà tập trung ở không gian thờ cúng tổ tiên, được bố trí trên trục đối xứng của các gian chính. Theo phương dọc nhà, trang trí tập trung các gian giữa, trong khi các gian bên không trang trí. Các gian chính luôn ngăn nắp và sạch sẽ hơn nhiều so với các gian phụ (thường khá luộm thuộm).
Các ngôi nhà gỗ cổ truyền có số lượng lớn những trang trí trên cấu kiện kiến trúc khá nhiều, đề tài trang trí khá phong phú và đa dạng nhưng chủ yếu là các hình rồng, lá lật, vân xoắn và tứ quý. Các đề tài hoa dây, vân xoắn, lá lật được chạm nhiều dưới dạ câu đầu, trên thân kẻ. Các hình rồng được chạm khắc với nhiều kiểu dáng khác nhau: hồi long, độc long, trúc hóa rồng…
2.3.2.3. Sinh hoạt văn truyền thống trong ngôi nhà
Tương tự như những ngôi làng Việt ở đồng bằng Bắc Bộ khác sinh hoạt văn hóa truyền thống trong ngôi nhà của người dân làng Diềm là gian giữa của ngôi nhà bố trí bàn thờ tổ tiên và bàn ghế tiếp khách, hai gian bên đặt giường ngủ cho chủ nhà và con trai lớn; hai phòng phụ còn lại, một phòng để đồ đạc quý hoặc lúa thóc, phòng kia là phòng ngủ của phụ nữ và con gái, sau này khi con trai lớn xây dựng gia đình thì phòng ngủ này sẽ dành riêng cho gia đình mới.
Ngoài ra làng Diềm là một trong 49 làng Quan họ gốc, nhiều ngôi nhà trở thành nơi truyền dạy quan họ cho con cháu và cho nhiều đối tượng khác nhau từ trẻ nhỏ trong thôn đến người địa phương khác đam mê quan họ. Cũng như làng Lim, quan họ làng Diềm cũng có tổ chức Ca hát quan họ tại gia đình là các canh hát được tổ chức tại nhà riêng của một liền anh, liền chị quan họ nào đó. Xưa kia hát canh thường tổ chức tại “nhà chứa”(nhà của một người mà bọn quan họ thường lui tới để học hát). “Hát canh” thường được tổ chức nhân dịp làng mở lễ hội hoặc vào những ngày mừng nhà mới, mừng đầy tháng con, hoặc khao vọng… Nhân dịp làng mình mở hội, quan họ làng Diềm thường ngày vẫn giao lưu với liền anh(liền chị) làng nào thì ngày hội mời liền chị, liền anh đó về làng mình chơi hội rồi tổ chức canh hát tại một nhà một anh hai Quan họ nào đó, cho vui cửa vui nhà vui hội. Canh hát thường được diễn ra tại gian chính giữa của ngôi nhà, nơi thờ cúng tổ tiên và cũng là gian tiếp khách của gia đình.
2.3.3. Ngôi nhà hiện đại của người dân làng Diềm
2.3.3.1. Tình hình xây dựng mới ở làng Diềm Khóa luận: Giá trị kiến trúc nhà ở từ truyền thống đến hiện đại.
Với tốc độ đô thị hóa, mỗi làng quê Việt đều có sự thay đổi, trong đó có làng Diềm. Người dân ở làng hầu hết xây nhà hiện đại với các kiểu nhà, các chi tiết kiến trúc đông tây, trung cận đông kết hợp. Đời sống người dân khấm khá, cùng với sự gia tăng dân số, những ngôi nhà cổ ở làng không còn nhiều nữa mà thay vào đó là những ngôi nhà ống, biệt thự 2 – 3 tầng.
2.3.3.2. Đặc điểm của ngôi nhà hiện đại
- Bố cục không gian
Với kiểu nhà ống nhà biệt thự nằm trên trục đường chính của làng thì không còn không gian sân vườn, ao cá nữa. Một số gia đình xây nhà mới trên nền đất cũ thì cũng hiếm thấy có nhà nào giữ được sân vườn.
- Vật liệu xây dựng
Vật liệu được sử dụng là gạch cát xi măng, mái lợp tôn hoặc đổ mái bằng, bê tông cốt thép. Một số gia đình làm cửa gỗ, bên ngoài có sử dụng cửa xếp bằng sắt có sơn chống rỉ. Nền nhà được lát gạch men hoặc nền lát đá hoa.
- Kết cấu của ngôi nhà
Thay cho kết cấu vì kèo cột bằng gỗ, người dân làng Diềm xây dựng ngôi nhà của mình theo đủ kiểu tây âu, đông âu, á âu sử dụng tường gạch chịu lực, sàn mái bê tông hoặc nhà khung cột bê tông cốt thép. Các phòng được phân chia bằng tường gạch trát vữa xi măng, quét vôi ve hoặc sơn đủ màu sắc tạo nên không gian kín đáo riêng tư mà không còn chia theo gian buồng như ngày xưa. Nhà 2 – 3 tầng thì có cầu thang đi lên và phân chia phòng theo tầng. Ngôi nhà xây bằng gạch, mọi lực đều dồn lên bức tường chịu lực có cột bê tông mà không dồn lên bộ khung cột gỗ như ngôi nhà truyền thống nữa.
- Trang trí trong và ngoài nhà
Ngôi nhà hầu như không được trang trí gì nhiều, chủ yếu vẫn là tường trát xi măng sơn đủ màu, trên trần nhà có đắp hoa văn và hình khối. Một số nhà có phần mái hiên đua ra. Phần sân có diện tích rất nhỏ, có nhà không có 2.3.3.3. Sinh hoạt văn hóa hiện đại.
Ngôi nhà làm theo kiểu nhà tầng nên các phòng được chia theo tầng. Tầng 1 được bố trí phòng bố mẹ cùng với phòng khách, phòng ăn, phòng bếp. Tầng 2 và tầng 3 thì bố trí các phòng cho con cái, và vẫn phân chia phòng cho con trai, con gái.
Trong ngôi nhà hiện đại của người dân làng Diềm không gian tâm linh cũng đặt để linh hoạt hơn, có thể trong thư phòng, trong gian sinh hoạt hay trên lầu. Vấn đề sắp đặt gian thờ tùy thuộc vào đời sống tâm linh của gia chủ. Gian thờ thường có xu hướng được đặt tại những nơi cao khuất nhất. Gia chủ cho rằng thờ tự tại những nơi cao khuất là để tỏ lòng cung kính đối với tổ tiên, ông bà và thể hiện sự trang nghiêm nơi thờ cúng. Tuy nhiên vẫn có một số gia đình đặt bàn thờ ngay giữa nhà gần nơi tiếp khách.
Là một trong những làng quan họ gốc nên mỗi dịp lễ hội, người dân làng Diềm vẫn tổ chức canh hát Quan họ tại nhà phục vụ du khách thập phương. Nhiều gia đình còn tổ chức các lớp dạy hát quan họ cho con cháu và những người có nhu cầu học hát quan họ.
Tiểu kết chương 2
Kiến trúc nhà ở truyền thống của ngưởi Việt ở đồng bằng Bắc Bộ rất phong phú và đa dạng, mỗi làng quê Việt đều có sự khác nhau, qua chương 2 người viết xin được giới thiệu về kiến trúc nhà ở truyền thống của 3 làng Mái, làng Lim và làng Diềm. Mỗi làng đều có những nét đặc trưng riêng. Bên cạnh đó cùng với tốc độ của đô thị hóa, ngôi nhà mang kiến trúc truyền thống ở mỗi làng quê Việt nói chung và ở mỗi làng Mái, làng Lim, làng Diềm nói chung không còn nhiều mà thay vào đó là những ngôi nhà ống, biệt thự bằng bê tông cốt thép, làm phá vỡ đi cảnh quan thiên nhiên của làng vốn dĩ nền nã, nhuần nhị. Khóa luận: Giá trị kiến trúc nhà ở từ truyền thống đến hiện đại.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Định hướng khai thác kiến trúc nhà ở của người Việt
