Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Lý luận về Văn bản quy phạm pháp luật hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Luận văn thì với đề tài Luận văn: Văn bản quy phạm pháp luật – Những vấn đề lý luận và thực tiễn dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Nhà nước của dân, do dân và vì dân là một nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn hiện nay của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Để đạt được mục đính này, một trong những nhiệm vụ cấp thiết là chúng ta phải sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng đồng bộ, thống nhất, hiệu lực và hiệu quả. Ngày 24/05/2005 Bộ chính trị đã ban hành Nghị quyết số 48-NQ/TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 trong đó đề ra mục tiêu:Luận văn: Lý luận về Văn bản quy phạm pháp luật
Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi công khai, minh bạch, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; đổi mới căn bản cơ chế xây dựng và thực hiện pháp luật; phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật để góp phần quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế… [5].
Lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ ra rằng, quản lý xã hội bằng pháp luật là tốt nhất, có hiệu quả nhất. Ở nước ta, quan điểm trên được thể hiện tại Khoản 1 Điều 8 Hiến pháp 2013: “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ” [61]. Như vậy có thể thấy vai trò của pháp luật là hết sức quan trọng, chất lượng của văn bản quy phạm pháp luật là một trong những vấn đề đáng bàn. Hiện nay hệ thống văn bản quy phạm pháp luật còn rất nhiều hạn chế, bất cập cần phải khắc phục như hệ thống văn bản quy phạm pháp luật cồng kềnh, mâu thuẫn. Chất lượng văn bản quy phạm pháp luật còn hạn chế. Hiệu lực, hiệu quả còn thấp. Kỹ thuật lập pháp còn yếu. Điều này đòi hỏi phải có sự nhận thức thống nhất về lý luận của văn bản quy phạm pháp luật như khái niêm, vai trò, quy trình xây dưng, tiêu chí bảo đảm chất lượng… và thực trạng của văn bản quy phạm pháp luật, cũng như hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Từ đó, đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật và hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.Luận văn: Lý luận về Văn bản quy phạm pháp luật
Trước những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, là học viên cao học, chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật, khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Văn bản quy phạm pháp luật – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” làm đề tài luận văn cho mình. Với mong muốn sử dụng các kiến thức đã học và tìm hiểu của bản thân để góp phần nghiên cứu một cách toàn diện, thấu đáo, có hệ thống cả về góc độ lý luận cũng như thực tiễn của văn bản quy phạm pháp luật. Mong rằng luận văn sẽ đóng góp một phần nhỏ bé vào kho tàng nghiên cứu về văn bản quy phạm pháp luật hiện nay, được coi như là một tài liệu tham khảo giúp cho những nhà hoạch định chính sách, nhà làm luật cải thiện chất lượng văn bản quy phạm pháp luật trong thời gian tới.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Đã có nhiều đề tài, công trình khoa học nghiên cứu xung quanh vấn đề liên quan đến văn bản quy phạm pháp luật như:
“Kiểm tra xử lý văn bản quy phạm pháp luật hiện nay”. Luận án tiến sỹ Đoàn Thị Tố Uyên – Đại học Luật Hà Nội
Hội thảo khoa học (Đại học Luật Hà Nội) chuyên đề: Hoàn thiện quy định pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
“Vai trò của Chính phủ trong quy trình lập pháp ở Việt Nam – Lý luận và thực tiễn”. Luận án tiến sỹ Trần Quốc Bình – Đại học Quốc Gia Hà Nội.
“Quy trình xây dựng văn bản luật ở Việt Nam hiện nay”. Luận văn thạc sỹ của Hoàng Kim Liên – Đại học Quốc Gia Hà Nội.
“Quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật – qua thực tiễn địa bàn tỉnh Thanh Hóa”. Luật án thạc sỹ Lê Thị Huyền – Đại học Quốc Gia Hà Nội.
“Thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân”. Luận văn thạc sỹ Vũ Thị Thanh Tú – Đại học luật Hà Nội.
“Tìm hiểu mô hình giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật ở một số nước trên thế giới”. Luận án thạc sỹ Tào Thị Quyên – Đại học luật Hà Nội.Luận văn: Lý luận về Văn bản quy phạm pháp luật
“Văn bản quy phạm pháp luật và hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cấp chính quyền tại thành phố Hải Phòng”. Luật văn thạc sỹ Trần Mạnh Tuệ – Đại học luật Hà Nội.
Nhìn chung các đề tài, ấn phẩm do đáp ứng những mục đích, yêu cầu nghiên cứu khác nhau nên chỉ xem xét và giới hạn ở những khía cạnh nhất định. Vẫn chưa có một nghiên cứu nào nghiên cứu một cách hệ thống, tập trung, toàn diện về văn bản quy phạm pháp luật. Do đó, việc nghiên cứu đề tài này là rất cần thiết qua đó giúp hoàn thiện và nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật trong giai đoạn hiện nay nhất là khi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật đang trong quá trình sửa đổi.
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích:
Trên cơ sở phân tích thực trạng các văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta hiện nay, từ đó mục đích mà đề tài muốn hướng tới là tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật vì chất lượng, hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật là một vấn đề có ý nghĩa chiến lược trong giai đoạn hiện nay của Đảng, Nhà nước ta.
Nhiệm vụ:
- Hệ thống hóa một số khía cạnh lý luận cơ bản về văn bản quy phạm pháp luật và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
- Đánh giá thực trạng văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta nói chung thông qua các báo cáo tổng kết, thống kê của các cơ quan Nhà nước về việc xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật; nguyên nhân của thực trạng đó; đánh giá hiệu quả điều chỉnh thực tiễn của văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta hiện nay.
- Đưa ra những đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài Luận văn: Lý luận về Văn bản quy phạm pháp luật
Đối tượng nghiên cứu
Luận văn đi vào tập trung nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về văn bản quy phạm pháp luật của nước ta trong giai đoạn hiện nay, từ đó đề ra phương hướng giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật và công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay
Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung:
- Thực trạng văn bản quy phạm pháp luật
- Thực trạng ban hành văn bản quy phạm pháp luật và một số vấn đề nổi cộm trong quy trình xây dựng ban hành văn bản quy phạm pháp luật như hoạt động phân tích chính sách, đánh giá tác động; hoạt động thẩm định, thẩm tra; hoạt động lấy ý kiến đóng góp vào dự thảo
Về thời gian: giai đoạn từ năm 2008 đến nay
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Duy vật biện chứng và chủ nghĩa Duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về văn bản quy phạm pháp luật.
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp phân tích, quy nạp, diễn dịch, lịch sử, so sánh, tổng hợp, phương pháp kết hợp lý luận và thực tiễn, thống kê… để tiếp cận vấn đề.
6. Ý nghĩa của đề tài Luận văn: Lý luận về Văn bản quy phạm pháp luật
Đề tài có thể là tài liệu tham khảo, cho những người học tập nghiên cứu về văn bản quy phạm pháp luật, có thể cung cấp một vài thông tin giúp những nhà hoạch định chính sách, các nhà lập pháp, các cán bộ trực tiếp kiểm tra, giám sát và xử lý các văn bản quy phạm pháp luật làm tốt hơn công tác của mình. Qua đó đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, nâng cao chất lượng các văn bản quy phạm pháp luật nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế thị trường, gia nhập WTO, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay.
7. Kết cấu của đề tài
Với những yêu cầu trên, ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành ba chương. Cụ thể:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về văn bản quy phạm pháp luật
- Chương 2: Thực trạng văn bản quy phạm pháp luật và ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở Việt nam hiện nay.
- Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật và công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT Luận văn: Lý luận về Văn bản quy phạm pháp luật
1.1. Văn bản quy phạm pháp luật và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
1.1.1. Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật
Văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là hình thức pháp luật tiến bộ nhất, được hầu hết các quốc gia trên thế giới sử dụng. Ở Việt Nam đây là hình thức pháp luật được sử dụng chủ yếu. Theo PGS.TS Nguyễn Cửu Việt: “Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật chính là “cỗ máy cái” trong cơ chế xây dựng pháp luật” [79]. Còn khái niệm VBQPPL là hạt nhân trong “cỗ máy cái” ấy. Việc đưa ra khái niệm VBQPPL có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong hoạt động lập pháp, nó là cơ sở pháp lý để xác định ai là người ban hành ra pháp luật? Văn bản nào được coi là VBQPPL? Tiêu chí nào để phân định VBQPPL?
Theo từ điển Tiếng Việt “văn bản” là bản viết hay in mang những gì cần ghi lại để làm bằng. Nghĩa thứ hai là chuỗi ký hiệu ngôn ngữ làm thành một chỉnh thể mang một nội dung ý nghĩa trọn vẹn. Còn “quy phạm” là điều quy định làm khuôn thước để theo. Ví dụ, quy phạm đạo đức, quy phạm xã hội [81]. Khi dịch sang tiếng Anh VBQPPL có nghĩa là “legal normative document” thuật ngữ này thường gắn liền với Việt Nam. Còn ở Anh, Canada, và Úc người ta dùng thuật ngữ “legislation” để chỉ “văn bản quy phạm pháp luật”, trong đó “legislation” được coi là có 2 loại: các đạo luật do Quốc hội ban hành (statutes) và các văn bản pháp quy (subordinate legislation hoặc statutory instruments hoặc legislative instruments) (dưới nhiều tên gọi khác nhau như: “Lệnh”, “Bộ quy tắc”, “Quy chế”…) được ban hành (bởi Nội các, các Bộ trưởng, chính quyền địa phương…) theo cơ chế lập pháp ủy quyền [38].Luận văn: Lý luận về Văn bản quy phạm pháp luật
Theo giáo trình của trường đại học Luật Hà Nội định nghĩa:
Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục trình tự luật định, trong đó có quy tắc xử sự chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa và được áp dụng nhiều lần trong thực tế đời sống [68, tr. 355].
Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật do PGS.TS. Nguyễn Minh Đoan soạn thảo có đề cập: một văn bản được coi là VBQPPL khi có 4 tiêu chí: (1) do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành; (2) theo trình tự, thủ tục, hình thức, tên gọi được luật định; (3) chứa đựng quy tắc xử sự chung; và (4) được áp dụng nhiều lần trong đời sống khi xảy ra tình huống mà pháp luật đã dự liệu [43].
Theo các văn bản pháp quy chính thống do nhà nước ban hành quy định về vấn đề này thì khái niệm VBQPPL được đề cập lần đầu tiên trong Luật ban hành VBQPPL năm 1996 được định nghĩa như sau:
Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có các quy tắc xử sự chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa [56].Luận văn: Lý luận về Văn bản quy phạm pháp luật
- khái niệm này VBQPPL được nêu khá chung chung. Để hiểu rõ hơn thì tại Nghị định số 101/NĐ-CP ngày 23/8/1997 của chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật ban hành VBQPPL trong đó có hướng dẫn xác định VBQPPL là văn bản có đầy đủ các yếu tố sau đây:
- Văn bản do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành với hình thức được quy định tại Điều 1 của Chương I và Chương II của luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật;
- Văn bản được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cơ Trung ương ban hành theo đúng thủ tục, trình tự được quy định tại các chương III, IV,V,VI và VII của luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các quy định tại Nghị định này;
- Văn bản có chứa đựng các quy tắc xử sự chung, được áp dụng nhiều lần, đối với mọi đối tượng hoặc nhóm đối tượng, có hiệu lực trong phạm vi toàn quốc hoặc từng địa phương [30].
Qua quá trình thực hiện Luật ban hành VBQPPL năm 1996, có nhiều vấn đề phát sinh trong thực tiễn soạn thảo đòi hỏi phải giải quyết bằng việc sửa đổi, bổ sung. Ngày 16/12/2002 Quốc hội khóa XI biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành VBQPPL thay thế cho Luật ban hành VBQPPL 1996 có thay đổi nhiều nội dung nhưng về cơ bản khái niệm VBQPPL không thay đổi. Tuy nhiên, với việc chỉ xác định VBQPPL của cơ quan Nhà nước ở trung ương đồng nghĩa với việc không xác định đâu là VBQPPL của cơ quan Nhà nước ở địa phương ban hành điều này đã gây không ít khó khăn lúng túng cho các cán bộ làm công tác soạn thảo và áp dụng pháp luật ở các địa phương. Đứng trước yêu cầu đó ngày 03/12/2004 Quốc hội thông qua Luật ban hành VBQPPL của HĐND, UBND trong đó xác định:
Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân là văn bản do hội đồng nhân nhân, Ủy ban nhân dân ban hành theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục do luật này quy định, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực trong phạm vi địa phương, được Nhà nước đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội ơ địa phương theo định hướng xã hội chủ nghĩa [59, Điều 1].Luận văn: Lý luận về Văn bản quy phạm pháp luật
Sự ra đời của Luật ban hành VBQPPL của HĐND, UBND dẫn đến khái niệm VBQPPL có sự thay đổi.Trong văn bản mới nhất và đang có giá trị hiệu lực thì VBQPPL được hiểu:
…là văn bản do cơ quan Nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong luật này hoặc trong luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, trong đó có quy tắc xử sự chung có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội [60, Điều 1].
Như vậy, có thể hiểu VBQPPL là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong luật này hoặc trong luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, trong đó có quy tắc xử sự chung có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Từ khái niệm trên có thể thấy VBQPPL là một loại văn bản pháp lý đặc biệt, khác với những văn bản khác, VBQPPL do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành, chứa đựng những quy tắc chung thống nhất, được ban hành thông qua các trình tự, thủ tục luật định. Để phân biệt rõ hơn giữa VBQPPL với các loại văn bản hành chính khác thì có thể xem xét thông qua các đặc trưng sau:
1.1.2. Đặc điểm của văn bản quy phạm pháp luật Luận văn: Lý luận về Văn bản quy phạm pháp luật
1.1.2.1. Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc phối hợp ban hành
Một văn bản để được coi là VBQPPL thì trước hết văn bản đó phải do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành. Bởi vì, nhà nước, trong quá trình thực hiện các chức năng của mình phải đề ra các quy định, mệnh lệnh để điều chỉnh hành vi của xã hội theo hướng phù hợp. Các quy định và mệnh lệnh này thường được thể hiện dưới dạng VBQPPL. Chính vì vậy, một văn bản để được coi là VBQPPL thì trước hết văn bản đó phải là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc phối hợp ban hành. Tại Điều 2 Luật ban hành VBQPPL quy định những chủ thể có thẩm quyền ban hành VBQPPL bao gồm: Quốc Hội, UBTVQH, Chủ tịch nước, Chính phủ, Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng nhân dân các cấp, Ủy ban nhân dân các cấp, Tổng kiểm toán nhà nước; có sự phối hợp giữa UBTVQH hoặc giữa Chính phủ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị xã hội để ban hành VBQPPL liên tịch. Bên cạnh đó một số cá nhân cũng có thẩm quyền ban hành VBQPPL là Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát tòa án nhân dân tối cao.
Như vậy không phải mọi chủ thể đều có thẩm quyền ban hành VBQPPL mà chỉ những chủ thể do pháp luật quy đinh mới có thẩm quyền. Vì vậy, những văn bản được ban hành bởi những chủ thể không có thẩm quyền thì đương nhiên không được coi là VBQPPL.
1.1.2.2. Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành theo trình tự, thủ tục, hình thức do pháp luật quy định Luận văn: Lý luận về Văn bản quy phạm pháp luật
VBQPPL là một loại văn bản pháp lý đặc biệt, được ban hành nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước và được nhà nước sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động quản lý Nhà nước nên việc bảo đảm sự chặt chẽ thống nhất trong hoạt động xây dựng pháp luật là rất cần thiết. Luật ban hành VBQPPL 2008 và Luật ban hành VBQPPL của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 2004 đã quy định rất cụ thể, chặt chẽ trình tự, thủ tục ban hành VBQPPL. Theo đó, VBQPPL do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành đều phải thực hiện các bước sau: Lập chương trình, soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, lấy ý kiến đóng góp dự thảo, tiếp thu chỉnh lý,thông qua, ký, công bố. Đây là quy trình chuẩn để ban hành VBQPPL theo quy định của pháp luật hiện hành. Tuy nhiên, trường hợp khẩn cấp hoặc cần bổ sung ngay cho phù hợp với VBQPPL mới được ban hành thì việc ban hành VBQPPL có thể được thực hiện theo thủ tục rút gọn nhưng vẫn phải tuân thủ tuyệt đối theo quy định của pháp luật. Như vậy, có thể thấy VBQPPL được ban hành bởi chủ thể có thẩm quyền, nội dung hợp pháp nhưng trong quá trình ban hành không tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục, hình thức thì văn bản đó cũng không được coi là VBQPPL không có giá trị pháp lý sẽ bị hủy bỏ hoặc bãi bỏ. Việc quy định trình tự thủ tục chặt chẽ như vậy là vì VBQPPL là văn bản có giá trị pháp lý cao, được áp dụng nhiều lẫn trong thực tiễn, phạm vi áp dụng rộng (nhóm đối tượng cụ thể). Đồng thời xuất phát từ tính chất đặc biệt của pháp luật trong nhà nước pháp quyền dân chủ đó là đề cao vai trò của pháp luật-pháp luật là tối thượng thì việc bảo đảm sự nghiêm túc, chặt chẽ trong quá trình ban hành luật là hết sức cần thiết. Mặt khác, việc tuân thủ theo đúng quy trình cũng nhằm đảm bảo tính hợp pháp, hợp lý cũng như tính khả thi của VBQPPL, tạo điều kiện cho công tác xây dựng và ban hành văn bản được thuận lợi và dễ dàng, việc ban hành văn bản được thống nhất hơn, tránh tình trạng văn bản này mẫu thuẫn, chồng chéo văn bản khác. Hơn nữa, việc tuân thủ quy trình chặt chẽ sẽ là một điều kiện tất yếu bảo đảm tính khoa học, khách quan, toàn diện, tính hợp pháp và hợp lý của VBQPPL. Nhằm làm cho VBQPPL thực sự là công cụ hữu hiệu trong quản lý nhà nước.Luận văn: Lý luận về Văn bản quy phạm pháp luật
1.1.2.3. Văn bản quy phạm pháp luật chứa các quy phạm pháp luật mang tính bắt buộc chung, được áp dụng nhiều lần, với nhiều đối tượng, có hiệu lực trong phạm vi toàn quốc hoặc từng địa phương
Quy phạm pháp luật (QPPL) là quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, nhằm tác động điều chỉnh các mối quan hệ xã hội. Như vậy, pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, còn các quy tắc xử sự chính là khuôn mẫu chuẩn mực mà cơ quan, tổ chức, cá nhân phải tuân theo khi tham gia quan hệ xã hội được các quy tắc đó điều chỉnh. Trong quan hệ đó các QPPL là nội dung và VBQPPL là hình thức. Từ đó, có thể khẳng định VBQPPL luôn chứa đựng QPPL, đây là một đặc điểm quan trọng.
Tính bắt buộc chung của VBQPPL thể hiện ở chỗ bất cứ ai thuộc đối tượng chịu sự tác động của VBQPPL thì đều phải tuân theo các quy định của pháp luật không phân biệt giới tính, tôn giáo, già, trẻ, giàu nghèo…
Chức năng của VBQPPL là công cụ để quản lý xã hội. Chính vì vậy, VBQPPL phải có tính ổn định nhất định (có thể áp dụng được nhiều lần) và có phạm vi tác động rộng.
1.1.2.4. Văn bản quy phạm pháp luật được bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế của nhà nước Luận văn: Lý luận về Văn bản quy phạm pháp luật
Pháp luật là sản phẩm của Nhà nước. Thông qua pháp luật, giai cấp thống trị thể hiện ý chí của giai cấp mình. Giai cấp thống trị sử dụng công cụ là pháp luật để thực hiện quyền chuyên chính và hướng sự phát triển của xã hội theo ý chí của giai cấp mình. Vì mang bản chất giai cấp sâu sắc như vậy nên không phải lúc nào ý chí của giai cấp thống trị cũng với phù hợp ý chí của tất cả các giai cấp khác trong xã hội. Do đó, Nhà nước cần phải sử dụng các biện pháp cưỡng chế nhất định để bảo đảm cho các quy định của pháp luật được thực hiện. Trong xã hội có nhiều loại quy phạm khác nhau tác động lên hành vi của con người nhưng chỉ có QPPL và VBQPPL (hình thức chứa đựng QPPL) mới có tính bắt buộc chung, tính bắt buộc chung thể hiện ở chỗ bất cứ chủ thể nào thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật mà không thực hiện đúng quy định của pháp luật thì sẽ phải gánh chịu hậu quả pháp lý tương ứng. Việc áp dụng hậu quả này đối với chủ thể vi phạm được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước thông qua các chủ thể được nhà nước trao quyền như tòa án, viện kiểm sát, công an, quân đội… Như vậy, pháp luật luôn được Nhà nước bảo đảm thực hiện, cho nên đối với các hành vi vi phạm pháp luật, tùy theo mức độ vi phạm khác nhau nhà nước sẽ áp dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết để bảo đảm cho pháp luật được thực hiện nghiêm minh.
Trong nhà nước xã hội chủ nghĩa pháp luật thể hiện ý chí và nguyện vọng chung của đông đảo nhân dân lao động, cho nên dễ được mọi người tôn trọng và thực hiện. Do đó, ngoài các biện pháp cưỡng chế thường được áp dụng còn kết hợp và dựa trên cơ sở các biện pháp giáo dục thuyết phục người dân tự giác tuân thủ các quy định của pháp luật.
1.1.2.5. Phân biệt văn bản quy phạm pháp luật với các loại văn bản khác
Trong thực tiễn áp dụng rất nhiều chủ thể nhầm lẫn giữa VBQPPL với các loại văn bản khác, điều này gây không ít khó khăn rắc rối trong quá trình quản lý nhà nước và nhất là đối với việc ban hành VBQPPL.
Việc phân loại văn bản giúp các cơ quan xây dựng, sử dụng, ban hành văn bản đúng hình thức, mục đích, đối tượng, đúng thẩm quyền và đúng thể thức, qua đó, bảo đảm tính pháp lý của văn bản. Ngoài ra, phân loại chính xác văn bản có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động quản lý, điều hành nhằm giải quyết từng vấn đề cụ thể. Văn bản quản lý nhà nước là phương tiện để xác định và vận dụng các chuẩn mực pháp lý vào quá trình quản lý nhà nước. Việc phân loại đúng đắn các văn bản quản lý nhà nước sẽ phản ánh đúng đặc điểm của quá trình quản lý nhà nước và tạo ra các mối quan hệ pháp lý hài hoà trong hoạt động của các cơ quan, đồng thời bảo đảm tính thống nhất trong hoạt động quản lý cũng như tính hợp pháp của các quyết định.
Để phân biệt VBQPPL với các loại văn bản khác phải dựa vào các đặc trưng như: nội dung, thẩm quyền ban hành, trình tự thủ tục, đối tượng điều chỉnh, tên gọi, thể thức trình bầy, hiệu lực thi hành.Luận văn: Lý luận về Văn bản quy phạm pháp luật
Về nội dung, VBQPPL đưa ra các quy tắc xử sự chung. Các loại văn bản khác đưa ra các quy tắc xử sự riêng. Quy tắc xử sự chung là những quy tắc xử sự tồn tại trong VBQPPL tác động vào đối tượng quản lý thông qua các hoạt động tuyên truyền giáo dục pháp luật được thể hiện qua hành vi của con người, có tác dụng phòng ngừa; có đối tượng điều chỉnh rộng, là cộng đồng người giai tầng trong xã hội. Quy tắc xử sự chung có thể là cơ sở pháp sinh quy tắc xử sự riêng. Quy tắc xử sự riêng có phạm vi điều chỉnh hạn hẹp chỉ đối với một cá nhân hoặc một nhóm cá nhân nhất định.Quy tắc xử sự riêng có tính đơn phương bắt buộc thi hành ngay thường là sự thể hiện thái độ của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với đối tượng quản lý.
Về thẩm quyền, theo quy định chỉ một số cơ quan nhà nước mới có thẩm quyền ban hành VBQPPL. Đối với các văn bản khác thì về nguyên tắc, tất cả mọi cơ quan đều có thể ban hành văn bản cá biệt để điều chỉnh nội dung thuộc thẩm quyền.
Về trình tự, VBQPPL được ban hành theo trình tự thủ tục do luật định.
Các loại văn bản khác không nhất thiết phải theo trình tự luật định.
Về đối tượng điều chỉnh, VBQPPL có tác dụng điều chỉnh đối với một cộng đồng, một giai tầng hoặc một nhóm đối tượng không xác định trong xã hội. Các loại văn bản khác chỉ có hiệu lực đối với một hoặc một số cá nhân, tổ chức xác định.
Về tên gọi, VBQPPL thường có các tên gọi sau: Luật, Pháp lệnh, Lệnh, Nghị quyết, Nghị định, Quyết định, Chỉ thị, Thông tư. Các văn bản khác thường có tên gọi như: Lệnh, Nghị quyết, Nghị định, Quyết định, Chỉ thị, Công văn…
Về thể thức trình bầy,VBQPPL:Có năm ban hành ở số và ký hiệu, các văn bản khác thì không ghi năm ban hành ở số và ký hiệu.
Về hiệu lực thi hành, VBQPPL được áp dụng nhiều lần.Các loại văn bản khác chỉ có hiệu lực đối với những trường hợp cụ thể, đối tượng cụ thể và chỉ được áp dụng một lần, hay trong phạm vi nội bộ một cơ quan, tổ chức.
1.1.3. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Luận văn: Lý luận về Văn bản quy phạm pháp luật
VBQPPL là yếu tố cấu thành của hệ thống VBQPPL. Về lý thuyết, theo quan điểm pháp luật truyền thống thì hệ thống pháp luật là Tổng thể các quy phạm pháp luật có mối liên hệ nội tại thống nhất với nhau, được phân định thành các chế định pháp luật, các ngành luật và được thể hiện trong các văn bản do Nhà nước ban hành theo những trình tự, thủ tục và hình thức nhất định [68, tr. 401].
Theo định nghĩa này, hệ thống pháp luật là một khái niệm chung bao gồm hai mặt trong một chỉnh thể thống nhất là hệ thống cấu trúc (bên trong) của pháp luật và hệ thống VBQPPL (hệ thống nguồn của pháp luật).
1.1.3.1. Hệ thống cấu trúc
Hệ thống cấu trúc của pháp luật là tổng thể các QPPL có mối liên hệ nội tại thống nhất với nhau, được phân định thành các chế định pháp luật và các ngành luật.
Hệ thống cấu trúc có ba thành tố cơ bản ở ba cấp độ khác nhau là QPPL, chế định pháp luật và ngành luật
- Quy phạm pháp luật: Quy phạm pháp luật là thành tố nhỏ nhất (tế bào) trong hệ thống cấu trúc của pháp luật, nó vừa có tính khái quát vừa có tính cụ thể.Luận văn: Lý luận về Văn bản quy phạm pháp luật
- Chế định pháp luật: Chế định pháp luật bao gồm một số quy phạm có những đặc điểm chung giống nhau nhằm để điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội tương ứng. Việc xác định đúng tính chất chung của mỗi nhóm quan hệ xã hội, từ đó đề ra những QPPL tương ứng là vấn đề có ý nghĩa quan trọng.
- Ngành luật: Ngành luật bao gồm hệ thống QPPL có đặc tính chung để điều chỉnh các quan hệ cùng loại trong một lĩnh vực nhất định của đời sống xã hội. Hiện nay hệ thống VBQPPL được chia thành nhiều ngành luật, có thể kể đến một số ngành luật cơ bản sau:
- Luật (Hiến Pháp)
- Luật hành chính
- Luật hình sự
- Luật dân sự
- Luật kinh tế v.v…
Căn cứ vào trình tự ban hành và giá trị pháp lý, các VBQPPL được chia thành hai loại: văn bản luật và văn bản dưới luật (có giá trị pháp lý thấp hơn văn bản luật).
1.1.3.2. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.
Các văn bản luật:
Văn bản luật là những VBQPPL do Quốc hội, cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước ban hành. Trình tự, thủ tục và hình thức của văn bản luật được quy định tại các điều 70, 85, và 120 của Hiến pháp năm 2013 [61]. Các văn bản này có giá trị pháp lý cao nhất. Mọi văn bản khác (dưới luật) khi ban hành đều phải dựa trên cơ sở của văn bản luật và không được trái với quy định trong các văn bản đó. Văn bản luật có các hình thức sau:Luận văn: Lý luận về Văn bản quy phạm pháp luật
- Hiến pháp là luật cơ bản của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất.Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp [61, Điều 119, Khoản 1]. Hiến pháp là sự thể chế hóa đường lối chính sách của Đảng trong mỗi giai đoạn lịch sử. Hiến pháp là cơ sở để hình thành một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, mọi văn bản luật đều phải phù hợp với quy định của Hiến pháp. Hiến pháp được dùng để ban hành các quy định cơ bản về chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh quốc phòng, về tổ chức bộ máy nhà nước, về quyền và nghĩa vụ công dân, về một số vấn đề quan trọng khác như quốc kỳ, quốc ca… Sở dĩ Hiến pháp và luật có giá trị pháp lý cao và phạm vi tác động rộng như vậy là vì chúng do cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất ban hành. Hiến pháp được coi là văn bản gốc, mọi chính sách, pháp luật của Nhà nước đều phải dựa trên quy định của Hiến pháp.
- Luật (bộ luật): Luật được dùng để cụ thể hóa Hiến pháp, đặt ra các quy định điều chỉnh những quan hệ xã hội quan trọng và ổn định phát sinh trong quản lý nhà nước. Trong thực tế, khi đối tượng điều chỉnh của một luật rất rộng, bao gồm toàn bộ các quan hệ xã hội thuộc một ngành luật hoặc một số lĩnh vực lớn tương đối độc lập trong một ngành luật thì văn bản có tên gọi là bộ luật.
- Nghị quyết của Quốc hội: Những Nghị quyết của Quốc hội chứa đựng những quy tắc xử sự chung và có giá trị tương đương với luật.
Nghị quyết của Quốc hội được ban hành để quyết định nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội; dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương; điều chỉnh ngân sách nhà nước; phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước; quy định chế độ làm việc của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, phê chuẩn điều ước quốc tế và quyết định các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội.
Các văn bản dưới luật:
Văn bản dưới luật là những VBQPPL do các cơ quan Nhà nước ban hành theo những trình tự, thủ tục và hình thức được pháp luật quy định. Những văn này có giá trị pháp lý thấp hơn các văn bản luật, vì vậy khi ban hành phải chú ý sao cho những quy định của chúng phải phù hợp với những quy định của Hiến pháp và luật. Giá trị pháp lý của từng loại văn bản dưới luật cũng khác nhau, tùy thuộc vào thẩm quyền của cơ quan ban hành chúng.Luận văn: Lý luận về Văn bản quy phạm pháp luật
- Văn bản dưới luật ở nước ta hiện nay:
- Pháp lệnh: Trong hệ thống văn bản dưới luật Pháp lệnh có giá trị pháp lý cao nhất, vì vậy các văn bản dưới luật khác khi ban hành phải phù hợp với các quy định của Pháp lệnh.
Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định những vấn đề được Quốc hội giao, sau một thời gian thực hiện trình Quốc hội xem xét, quyết định ban hành luật
Lệnh, Quyết định của Chủ tịch nước
Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước được ban hành để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước do Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định.
Nghị định của Chính phủ
Quy định chi tiết thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước;
Quy định các biện pháp cụ thể để thực hiện chính sách kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, tài chính, tiền tệ, ngân sách, thuế, dân tộc, tôn giáo, văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, đối ngoại, chế độ công vụ, cán bộ, công chức, quyền, nghĩa vụ của công dân và các vấn đề khác thuộc thẩm quyền quản lý, điều hành của Chính phủ;
Quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác thuộc thẩm quyền của Chính phủ;Luận văn: Lý luận về Văn bản quy phạm pháp luật
Quy định những vấn đề cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Việc ban hành nghị định này phải được sự đồng ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ
Biện pháp lãnh đạo, điều hành hoạt động của Chính phủ và hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở, chế độ làm việc với các thành viên Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ.
Biện pháp chỉ đạo, phối hợp hoạt động của các thành viên Chính phủ; kiểm tra hoạt động của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp trong việc thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao được ban hành để hướng dẫn các Tòa án áp dụng thống nhất pháp luật.
Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao được ban hành để thực hiện việc quản lý các Tòa án nhân dân địa phương và Tòa án quân sự về tổ chức quy định những vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao được ban hành để quy định các biện pháp bảo đảm việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân địa phương, Viện kiểm sát quân sự, quy định những vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.Luận văn: Lý luận về Văn bản quy phạm pháp luật
Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ
Quy định chi tiết thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ;
Quy định về quy trình, quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế – kỹ thuật của ngành, lĩnh vực do mình phụ trách;
Quy định biện pháp để thực hiện chức năng quản lý ngành, lĩnh vực do mình phụ trách và những vấn đề khác do Chính phủ giao
Quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nước 19
Quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nước được ban hành để quy định, hướng dẫn các chuẩn mực kiểm toán nhà nước, quy định cụ thể quy trình kiểm toán, hồ sơ kiểm toán.
Nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với cơ quan Trung ương của tổ chức chính trị – xã hội.
Nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị – xã hội được ban hành để hướng dẫn thi hành những vấn đề khi pháp luật quy định về việc tổ chức chính trị – xã hội đó tham gia quản lý nhà nước.
Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ.Luận văn: Lý luận về Văn bản quy phạm pháp luật
Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao được ban hành để hướng dẫn việc áp dụng thống nhất pháp luật trong hoạt động tố tụng và những vấn đề khác liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan đó.
Thông tư liên tịch giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ được ban hành để hướng dẫn thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của bộ, cơ quan ngang bộ đó.
VBQPPL của HĐND, UBND
Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân được ban hành theo nội dung, thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân.
- Nội dung của các văn bản dưới luật nhằm các mục đích cụ thể sau:
- Pháp lệnh được ban hành để cụ thể hóa hiến pháp hoặc luật, điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong quản lý nhà nước. Nếu được ban hành nhằm cụ thể hóa Hiến pháp thì pháp lệnh có vai trò như luật nhưng sau một thời gian thực hiện cần hoàn thiện để nâng lên thành luật. Nếu được ban hành nhằm cụ thể hóa luật thì pháp lệnh có vai trò như Nghị định của chính phủ, Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao và những văn bản khác có chức năng cụ thể hóa luật nên cần có nội dung chi tiết như những văn bản này để có thể triển khai thực hiện luật trên thực tế.
- Nghị quyết được dùng để đặt ra các quy định về đường lối chính sách pháp luật, các biện pháp quản lý trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, các quy định thực hiện trong hoạt động nội bộ cơ quan Nhà nước hoặc để giải thích hướng dẫn thực hiện VBQPPL khác.Luận văn: Lý luận về Văn bản quy phạm pháp luật
- Nghị định được ban hành cụ thể hóa các quy định về quản lý hành chính Nhà nước trong Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hôi, Pháp lệnh, Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Lệnh và Quyết định của Chủ tịch nước; quy định về nhiệm vụ quyền hạn, cơ cấu tổ chức bộ máy của các cơ quan đơn vị trong hệ thống cơ quan hành chính Nhà nước.
- Lệnh được Chủ tịch nước ban hành để tuyên bố tình trạng khẩn cấp, tổng động viên, động viên cục bộ hoặc giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Chủ tịch nước.
- Quyết định được dùng để đặt ra cá quy định về quản lý Nhà nước trong những lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý của chủ thể ban hành, các quy định thực hiện trong nội bộ cơ quan Nhà nước.
- Chỉ thị được sử dụng để đề ra các biện pháp chỉ đạo, điều hành cấp dưới thực hiện chức năng, nhiệm vụ và những văn bản của cấp trên, đề ra các biện pháp quản lý Nhà nước, kiện toàn tổ chức bộ máy, chấn chỉnh hoạt động đối với các cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý của cơ quan ban hành.
- Thông tư được dùng để hướng dẫn thực hiện VBQPPL của Chính phủ, thủ tướng Chính phủ, các quyết định của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao,Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Trên đây là các loại VBQPPL ở nước ta theo Hiến pháp năm 1992 và được cụ thể hóa trong Luật Ban hành VBQPPL năm 2008. Việc quy định rõ thẩm quyền ban hành, nội dung và phạm vi hiệu lực như vậy xuất phát từ nguyên tắc tập trung dân chủ và nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước ta.
1.2. Vai trò của văn bản quy phạm pháp luật Luận văn: Lý luận về Văn bản quy phạm pháp luật
1.2.1. Pháp luật là cơ sở để xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa
Bộ máy nhà nước là một thiết chế phức tạp bao gồm nhiều bộ phận (nhiều loại cơ quan nhà nước) và hoạt động có hiệu quả chỉ khi xác định được đúng chức năng, thẩm quyền, trách nhiệm của từng loại cơ quan đó; xác lập được một cách đúng đắn và hợp lý mối quan hệ giữa chúng; có được những phương pháp và hình thức tổ chức và hoạt động phù hợp để tạo thành một cơ chế đồng bộ trong quá trình thiết lập và thực hiện quyền lực nhà nước. Việc thực hiện những yêu cầu đó phải dựa trên cơ sở vững chắc của những nguyên tắc và quy định cụ thể của pháp luật thông qua hệ thống VBQPPL.
1.2.2. Văn bản quy phạm pháp luật là công cụ để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội Luận văn: Lý luận về Văn bản quy phạm pháp luật
Trong quá trình quản lý để thực hiện các chức năng của nhà nước, quốc gia nào cũng phải đặt ra các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội. Việc đặt ra mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội trong từng giai đoạn cụ thể làm cho nhà nước có thể chủ động trong công tác quản lý và điều hành đất nước, đồng thời tăng cường hiệu quả quản lý. Để thực hiện các mục tiêu kinh tế-xã hội mà nhà nước đặt ra không có công cụ nào hiệu quả hơn pháp luật. Hay nói cách khác các mục tiêu kinh tế-xã hội được Nhà nước đặt ra không thể thực hiện nếu thiếu pháp luật. Pháp luật thể chế hóa các mục tiêu kinh tế-xã hội của nhà nước đã được nhà nước đề ra trong chính sách thành pháp luật và đưa chúng vào đời sống. Thông qua các văn bản quy phạm pháp luật nhà nước điều chỉnh các quan hệ xã hội phù hợp với mục tiêu, chính sách, phát triển kinh tế-xã hội. Pháp luật tạo ra khung pháp lý cho các hoạt động kinh tế-xã hội của nhà nước, đồng nghĩa với việc các hoạt động này phải được thực hiện trong khuân khổ pháp luật. Pháp luật là cơ sở pháp lý quan trọng cho các chủ thể trong hoạt động kinh tế-xã hội.
1.2.3. Pháp luật bảo đảm thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền lực nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội
VBQPPL là một trong những cơ sở pháp lý vững chắc để xác lập những nguyên tắc và quy định phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển đồng bộ của hệ thống chính trị. Việc củng cố và hoàn thiện hệ thống chính trị là sự thể hiện quan trọng hàng đầu của sự thiếp lập và thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Nhận thức rõ điều đó, trong những năm qua Đảng và Nhà nước đã hết sức quan tâm củng cố hệ thống chính trị, phát huy sức mạnh của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, do chưa có đủ hệ thống quy phạm pháp luật để tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc cho việc tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị, nên việc phát huy sức mạnh của toàn bộ hệ thống đó còn có những hạn chế nhất định.
Dân chủ xã hội chủ nghĩa được biểu hiện trong việc xác lập và điều chỉnh các mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân. Những quyền tự do dân chủ phải được quy định của thể trong pháp luật; Nhà nước phải bảo đảm cho công dân thực hiện các quyền đó trong khuôn khổ luật định. Đồng thời, pháp luật cũng quy định những nghĩa vụ tương ứng mà công dân phải thực hiện để đảm bảo trật tự kỷ cương xã hội.
1.2.4. Văn bản quy phạm pháp luật là phương tiện bảo vệ quyền con người, quyền công dân góp phần thúc đẩy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Luận văn: Lý luận về Văn bản quy phạm pháp luật
Quyền con người là một trong những vấn đề được cả nhân loại quan tâm và nghiên cứu. Ở Việt Nam, sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), công cuộc đổi mới của Đảng cộng sản Việt Nam đã làm thay đổi nhận thức về vấn đề bảo vệ quyền con người. Hiến pháp năm 1992 được ban hành, sửa đổi, bổ sung một số điều đã khẳng định cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo đảm quyền con người trong mọi lĩnh vực với sự giám sát chặt chẽ của lực lượng đông đảo quần chúng nhân dân, điều này đã được kế thừa trong Hiến pháp 2013. Sự nghiệp bảo vệ quyền con người đã trở thành ý chí thống nhất của toàn Đảng, toàn dân. Pháp luật bảo vệ quyền con người quyền công dân thể hiện ở một số khía cạnh sau: Pháp luật là phương tiện chính thức hóa các giá trị xã hội của quyền con người; Pháp luật là công cụ sắc bén của Nhà nước trong việc thực hiện bảo vệ quyền con người; Pháp luật là tiền đề, nền tảng tạo cơ sở pháp lý để công dân đấu tranh bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của họ; Vai trò của pháp luật trong việc thực hiện và bảo vệ quyền con người còn thể hiện trong mối quan hệ giữa pháp luật và các điều kiện bảo đảm khác (chính trị, kinh tế, văn hóa …) các điều kiện trên đều phải thông qua pháp luật, thể hiện dưới hình thức pháp luật mới trở thành giá trị xã hội ổn định, được hiện thực hóa trên quy mô toàn xã hội. Chỉ có như vậy thì các điều kiện đó mới phát huy được vai trò của mình trong việc thực hiện và bảo vệ quyền con người; Pháp luật là phương tiện để thực hiện sự cam kết và hòa nhập giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế, bảo đảm việc bảo vệ quyền con người ở mỗi quốc gia và trên toàn thế giới. Việc bảo đảm quyền con người là tiền đề, cơ sở pháp lý quan trọng thúc đẩy nền dân chủ XHCN. Vì một xã hội được coi là dân chủ chỉ khi quyền con người được bảo đảm. Trong nền dân chủ XHCN quyền con người được phát huy một cách tối đa.
1.2.5. Pháp luật xã hội chủ nghĩa tạo dựng những mối quan hệ mới, môi trường ổn định cho việc thiết lập các mối quan hệ hợp tác và phát triển
Bên cạnh chức năng phản ánh, mô hình hóa các nhu cầu khách quan của xã hội, pháp luật xã hội chủ nghĩa còn có khả năng “đi trước”, định hướng cho sự phát triển của các quan hệ xã hội, vì vậy nó có vai trò rất lớn trong việc tạo dựng ra những quan hệ mới. Đời sống xã hội vốn rất sống động và thực tiễn thường diễn ra những thay đổi thường xuyên. Tuy nhiên về căn bản những thay đổi đó vẫn diễn ra theo những quy luật nhất định mà con người có thể nhận thức được. Dựa trên cơ sở của những kết quả và dự báo khoa học, người ta có thể dự kiến được những biến đổi có thể diễn ra với những tình huống (sự kiện) cụ thể, điển hình cần tới sự điều chỉnh bằng pháp luật, từ đó pháp luật được đặt ra để tạo cơ sở cho việc xác lập những quan hệ mới, đồng thời có thể thiết kế những mô hình tổ chức tương ứng, chủ động và kịp thời tác động thúc đẩy nhanh quá trình phát triển của xã hội.Luận văn: Lý luận về Văn bản quy phạm pháp luật
Tuy nhiên, pháp luật bao giờ cũng có sự ổn định tương đối. Sự hình thành mới hoặc những thay đổi thường chỉ diễn ra với từng bộ phận nhất định của hệ thống pháp luật, ít có những đột biến toàn phần trong một thời gian ngắn. Tính định huống của pháp luật cũng theo quy luật đó. Các quy phạm định hướng chỉ là một bộ phận nhất định trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia.
Sự kết hợp hài hòa giữa tính cụ thể, tính thời sự của pháp luật với tính tiên phong (định hướng) của nó có một ý nghĩa rất quan trọng, vì chính điều đó sẽ tạo ra được sự ổn định và phát triển, kế thừa và đổi mới, làm cho pháp luật luôn năng động, thích ứng tiến bộ.
Sự hợp tác và các mối quan hệ bang giao giữa các quốc gia chỉ có thể phát triển trong môi trường chính trị, kinh tế, xã hội, ổn định và có đủ độ tin cậy lẫn nhau. Pháp luật là phương tiện có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo lập môi trường ổn định đó, bởi vì chính nhờ những đặc điểm đặc thù của mình, pháp luật có khả năng thiết lập một trật tự mà ở đó mọi chủ thể khi tham gia vào các quan hệ phải tôn trọng những cam kết và phải chịu trách nhiệm về những hậu quả có thể xảy ra.
Pháp luật xã hội chủ nghĩa thể hiện quyền lực nhân dân, phản ánh những lợi ích cơ bản, lâu dài của dân tộc, của quốc gia, của tập thể và cá nhân luôn luôn là cơ sở vững chắc cho việc củng cố và mở rộng các mối quan hệ hợp tác và phát triển với các quốc gia và tổ chức quốc tế.
1.2.6. Văn bản quy phạm pháp luật thúc đẩy tiến trình hội nhập quốc tế Luận văn: Lý luận về Văn bản quy phạm pháp luật
Hội nhập quốc tế là một quá trình tất yếu, do bản chất xã hội của lao động và quan hệ giữa con người. Các cá nhân muốn tồn tại và phát triển phải có quan hệ và liên kết với nhau tạo thành cộng đồng. Nhiều cộng đồng liên kết với nhau tạo thành xã hội và các quốc gia – dân tộc. Các quốc gia lại liên kết với nhau tạo thành những thực thể quốc tế lớn hơn và hình thành hệ thống thế giới.
Từ khi tiến hành đổi mới đến nay, trải qua hơn 20 năm, nước ta ngày càng hội nhập sâu rộng vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, chính trị quốc tế. Trong quá trình đó, chúng ta đã kí kết nhiều điều ước quốc tế song phương và đa phương. Đặc biệt, với sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên đầy đủ thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO ngày 11/01/2007, đã có sự gia tăng nhanh chóng về số lượng các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết, gia nhập. Do vậy, trách nhiệm của chúng ta là phải làm sao đảm bảo để các điều ước quốc tế được thực thi một cách tốt nhất. Muốn vậy, trước hết cần phải tạo sự hài hòa giữa nội luật với luật pháp quốc tế, hay nói cách khác các VBQPPL cần điều chỉnh sao cho phù hợp với các điều ước quốc tế.
Hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ và minh bạch, phù hợp với các thông lệ quốc tế sẽ tạo điều kiện thuận lợi và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tạo một “sân chơi” bình đẳng cho các nhà đầu tư cả trong và ngoài nước. Có thể nói, trú trọng vào công tác xây dựng hệ thống VBQPPL sẽ góp phần thúc đẩy tiến trình hội nhập quốc tế sâu và rộng hơn nữa.
1.3. Quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật Luận văn: Lý luận về Văn bản quy phạm pháp luật
Xây dựng pháp luật là một trong những chức năng cơ bản nhất của nhà nước. Việc tạo ra các VBQPPL phản ánh được nhu cầu phát triển khách quan của xã hội là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng và hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước. Xây dựng pháp luật là hoạt động mang tính sáng tạo, là quá trình nhận thức các quy luật xã hội đặc biệt là quy luật lợi ích đòi hỏi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành VBQPPL phải có cái nhìn tổng thể để xây dựng được những VBQPPL phù hợp, hiệu quả.
Trong ban hành VBQPPL với mỗi một chủ thể khác nhau và từng loại văn bản khác nhau thì quy trình xây dựng và ban hành VBQPPL có đôi chút khác biệt nhưng về cơ bản phải thông qua các giai đoạn sau:
1.3.1. Lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
Lập chương trình xây dựng VBQPPL là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền lên kế hoạch đề xuất các sáng kiến pháp luật trên cơ sở kiến nghị của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và xuất phát từ chính hoạt động quản lý, ngành, lĩnh vực của mình và trên cơ sở đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng an ninh và yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý địa phương trong từng thời kỳ, bảo đảm các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Lập dự kiến chương trình VBQPPL là giai đoạn đầu tiên của quy trình xây dựng VBQPPL giai đoạn này nhằm bảo đảm cho các chủ thể có liên quan có kế hoạch, chủ động trong việc xem xét, quyết định chương trình, hạn chế đến mức thấp nhất việc xây dựng ban hành các VBQPPL một cách tùy tiện, ngẫu hứng, duy ý chí, để hướng tới việc bảo đảm cho các dự án luật khi được ban hành phải nằm trong một tầm nhìn chiến lược lâu dài mang tính quy hoạch tổng thể trong định hướng phát triển kinh tế xã hội của đất nước đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền theo định hướng XHCN.Luận văn: Lý luận về Văn bản quy phạm pháp luật
Ngoài ra, việc lập chương trình xây dựng VBQPPL còn nhằm mục đích xác định thứ tự ưu tiên cho một số dự án cần thiết phải được xây dựng và ban hành trước để đáp ứng ngay một số đòi hỏi bức thiết của thực tiễn. Dưới góc độ quản lý ở tầm vĩ mô việc lập chương trình xây dựng VBQPPL còn là công cụ để Quốc hội, UBTVQH, Chính phủ và các Bộ ngành, HĐND, UBND có liên quan chủ động triển khai các công việc cần thiết nhằm hoàn thành đúng tiến độ và đảm bảo chất lượng của các dự án đã được xác định trước.
1.3.2. Soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật
Soạn thảo VBQPPL là quá trình các cơ quan có thẩm quyền cụ thể hóa dự án VBQPPL trên cơ sở đề nghị, kiến nghị các dự án VBQPPL. Giai đoạn soạn thảo có vai trò rất quan trọng quyết định đến tính khả thi và chất lượng của dự thảo VBQPPL. Soạn thảo bao gồm các công đoạn sau:
- Thành lập ban soạn thảo
- Ban soạn thảo tiến hành các công việc cần thiết cho việc soạn thảo
- Cơ quan trình dự án, chỉ đạo ban soạn thảo xem xét việc trình dự án
- Tổ chức lấy ý kiến của Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các thành viên của Mặt trận (đối với dự thảo luật, pháp lệnh)
- Trình dự án ra trước cơ quan có thẩm quyền xem xét thông qua
1.3.3. Thẩm định, thẩm tra lấy ý kiến đóng góp vào dự thảo văn bản quy phạm pháp luật Luận văn: Lý luận về Văn bản quy phạm pháp luật
Thẩm định dự thảo VBQPPL là hoạt động nghiên cứu, xem xét, đánh giá về nội dung và hình thức, kỹ thuật soạn thảo đối với dự thảo VBQPPL theo nội dung, trình tự, thủ tục do luật định nhằm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất và đồng bộ của VBQPPL trong hệ thống pháp luật. Thẩm định dự thảo VBQPPL là khâu bắt buộc trong quy trình soạn thảo, ban hành VBQPPL. Hoạt động này do cơ quan chuyên môn về tư pháp có thẩm quyền tiến hành nhằm đánh giá toàn diện, khách quan và chính xác dự thảo VBQPPL trước khi ban hành, phê duyệt và trình cơ quan có thẩm quyền ban hành, phê chuẩn.
Việc thẩm định được tiến hành như sau: Đối với văn bản do Quốc hội và UBTVQH thì tại Điều 36 – Luật ban hành VBQPPL năm 2008 có quy định, cơ quan có thẩm quyền tiến hành thẩm định là bộ tư pháp. Nội dung thẩm định tập trung vào các vấn đề sau:
- Sự cần thiết ban hành văn bản, đối tượng, phạm vi điều chỉnh của dự thảo văn bản;
- Sự phù hợp của nội dung dự thảo văn bản với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng;
- Tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của dự thảo văn bản với hệ thống pháp luật và tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
- Tính khả thi của dự thảo văn bản, bao gồm sự phù hợp giữa quy định của dự thảo văn bản với yêu cầu thực tế, trình độ phát triển của xã hội và điều kiện bảo đảm để thực hiện;Ngôn ngữ, kỹ thuật soạn thảo văn bản [60].
Đối với các văn bản của HĐND và UBND ban hành thì tại Điều 24 và Điều 28 Luật ban hành VBQPPL của HĐND và UBND năm 2004 quy định, các dự thảo VBQPPL như nghị quyết của HĐND cấp tỉnh, quyết định và chỉ thị của UBND tỉnh phải được Sở tư pháp thẩm định trước khi trình UBDN cấp tỉnh. Chậm nhất là 15 ngày trước ngày UBND họp, cơ quan soạn thảo phải gửi hồ sơ thẩm định. Nội dung thẩm định chủ yếu như sự cần thiết của việc ban hành VBQPPL; tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của nội dung dự thảo VBQPPL; ngôn ngữ kỹ thuật soạn thảo văn bản và trong một số trường hợp có thể đề cập đến tính khả thi của VBQPPL khi được áp dụng và thực hiện.Luận văn: Lý luận về Văn bản quy phạm pháp luật
Thẩm tra là hoạt động nghiên cứu, xem xét đánh giá về sự phù hợp của nội dung dự thảo nghị quyết với đường lối chủ trương, chính sách của Đảng; tình hình điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của địa phương đối với các dự án dự thảo VBQPPL theo nội dung trình tự, thủ tục do luật quy định nhằm đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của VBQPPL trong hệ thống pháp luật và những yêu cầu khác về chất lượng dự án, dự thảo theo quy định của pháp luật.
Như vậy, thẩm định, thẩm tra đều là những hoạt động xem xét, đánh giá góp phần hoàn thiện nội dung, hình thức dự thảo VBQPPL. Tuy nhiên, có một số khác biệt về mặt hình thức và có thế phân biệt thông qua một số đặc trưng như: chủ thể, đối tượng, nội dung, tính chất và vị trí, vai trò của hai hoạt động này trong quá trình xây dựng VBQPPL.
Để hoạt động thẩm định, thẩm tra thực sự có hiệu quả thì kết quả thẩm định, thẩm tra phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét toàn diện và có hiệu lực bắt buộc đối với đối tượng thẩm định, thẩm tra. Điểm chung lớn nhất của thẩm định, thẩm tra là xem xét, đánh giá những quy định mang tính chủ quan do một cơ quan có thẩm quyền ban hành trên cơ sở những yếu tố khách quan như: quy luật của sự vận động xã hội, tính thống nhất của hệ thống pháp luật, cơ chế điều chỉnh pháp luật… Nếu các quy định đó là tiến bộ, phù hợp với yêu cầu thực tiễn sẽ thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Ngược lại, nếu các quy định đó không dựa trên thực tiễn sẽ trở thành lực cản, thậm chí đẩy lùi sự phát triển xã hội và quản lý nhà nước.
1.3.4. Thảo luận thông qua tại cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật Luận văn: Lý luận về Văn bản quy phạm pháp luật
Thảo luận là việc đưa dự án VBQPPL ra trước cơ quan có thẩm quyền để xem xét, góp ý về những vấn đề còn có ý kiến khác nhau của dự án VBQPPL để đi đến thống nhất. Đây là giai đoạn quan trọng có tính quyết định của quá trình xây dựng VBQPPL. Việc xem xét dự án VBQPPL đối với những văn bản do Quốc hội ban hành sẽ diễn ra tại một hoặc nhiều kỳ họp của Quốc hội.
1.3.5. Công bố văn bản quy phạm pháp luật
Quyền công bố Hiến pháp, luật, pháp lệnh được quy định khoản 1 Điều 88 Hiến pháp 2013 thuộc về chủ tịch nước [61]. Chủ tịch nước ban hành lệnh để công bố luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH trong thời hạn chậm nhất là mười lăm ngày, kể từ ngày luật, pháp lệnh, nghị quyết được thông qua.
Đối với pháp lệnh, nghị quyết đã được UBTVQH thông qua mà Chủ tịch nước đề nghị UBTVQH xem xét lại theo quy định tại khoản 1 Điều 88 của Hiến pháp 2013 thì UBTVQH xem xét lại những vấn đề mà Chủ tịch nước có ý kiến. Nếu pháp lệnh, nghị quyết đó vẫn được UBTVQH biểu quyết tán thành mà Chủ tịch nước vẫn không nhất trí thì Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất. Trong các trường hợp này thì thời hạn công bố chậm nhất là mười ngày, kể từ ngày UBTVQH thông qua lại hoặc Quốc hội quyết định.Luận văn: Lý luận về Văn bản quy phạm pháp luật
Đối với các VBQPPL do địa phương ban hành việc công bố được quy định như sau: Theo Điều 51 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và UBND năm 2004 thì quyết định, chỉ thị của UBND phải được đăng trên báo cấp tỉnh chậm nhất là năm ngày, kể từ ngày Chủ tịch UBND thay mặt UBND ký ban hành. Văn phòng UBND có trách nhiệm gửi VBQPPL của HĐND, UBND đến cơ quan báo chí để đăng báo trong thời hạn chậm nhất là ba ngày kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành. Cơ quan báo chí có trách nhiệm đăng báo chậm nhất là 2 ngày, kể từ ngày nhận được VBQPPL của UBND [59].
Quyết định, Chỉ thị gửi đăng báo phải là bản chính.
1.4. Các tiêu chí đảm bảo chất lượng của văn bản quy phạm pháp luật
Chất lượng của VBQPPL là một trong những cơ sở để bảo đảm cho việc thực hiện và áp dụng pháp luật đạt được kết quả cao trong thực tiễn, đồng thời cho phép dự báo được khả năng hiện thực hoá các quy định pháp luật trong đời sống xã hội. Nếu chất lượng của pháp luật thấp, tính khả thi kém thì việc thực hiện chúng sẽ gặp rất nhiều khó khăn, thậm chí có những quy định pháp luật nhiều khi không thể thực hiện được trên thực tế.
Để đánh giá chất lượng của VBQPPL Việt Nam, xác định mức độ hoàn thiện của nó cần phải dựa vào những tiêu chí được xác định về mặt lý thuyết, từ đó liên hệ với điều kiện và hoàn cảnh thực tế trong mỗi giai đoạn cụ thể, xem xét một cách khách quan và rút ra những kết luận, làm sáng rõ những ưu điểm và nhược điểm của VBQPPL. Có nhiều tiêu chí để xác định chất lượng của VBQPPL Việt Nam trong đó có các tiêu chí cơ bản là: Tính toàn diện, đồng bộ, tính thống nhất, tính phù hợp, ngôn ngữ, kỹ thuật xây dựng pháp luật và tính khả thi của VBQPPL.
1.4.1. Văn bản quy phạm pháp luật phải toàn diện, đồng bộ Luận văn: Lý luận về Văn bản quy phạm pháp luật
Tính toàn diện, đồng bộ của VBQPPL thể hiện sự thống nhất ở hai cấp độ. Ở cấp độ chung, sự đồng bộ giữa các ngành luật với nhau có 2 vấn đề lớn là: xác định rõ ranh giới giữa các ngành luật và tạo ra được một hệ thống QPPL căn bản (thể hiện trong các văn bản luật) để tạo cơ sở củng cố tính thống nhát của toàn bộ VBQPPL. Ở cấp độ cụ thể đó là thể hiện sự thống nhất, không mâu thuẫn, không trùng lặp, chồng chéo trong mỗi ngành luật, mỗi chế định pháp luật và giữa các QPPL với nhau. xét theo cơ cấu của mỗi VBQPPL với 3 thành tố cơ bản thì ngành luật có tính chất loại, chế định pháp luật có tính chất nhóm, QPPL có tính chất tế bào.để tạo ra tính đồng bộ phải giải quyết triệt để, đúng đắn mối quan hệ loại – nhóm – tế bào.
VBQPPL toàn diện và đồng bộ thể hiện ở cấu trúc hình thức của nó, nghĩa là VBQPPL phải có khả năng đáp ứng được đầy đủ nhu cầu điều chỉnh pháp luật trên các lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội, các quy định pháp luật phải có khả năng bao quát toàn bộ đời sống xã hội, để các quan hệ xã hội quan trọng có tính điển hình, phổ biến cần có sự điều chỉnh của pháp luật thì đều có pháp luật điều chỉnh. Về kết cấu mỗi QPPL phải có cấu trúc logic, chặt chẽ; mỗi chế định pháp luật có đầy đủ các QPPL cần thiết; mỗi ngành luật có đầy đủ các chế định pháp luật theo cơ cấu của ngành luật; còn VBQPPL có đủ các ngành luật đáp ứng được nhu cầu phát triển của các quan hệ xã hội ở mỗi giai đoạn phát triển của đất nước. Điều này đòi hỏi việc ban hành các VBQPPL không chỉ chú trọng tới các luật về tổ chức bộ máy nhà nước, củng cố chính quyền nhân dân mà còn phải chú ý tới các luật điều chỉnh một cách toàn diện các quan hệ xã hội thuộc các lĩnh vực đời sống dân sinh như dân sự, thương mại, đầu tư, môi trường…, không chỉ chú trọng tới luật nội dung mà còn phải chú ý tới luật hình thức về trình tự, thủ tục.
Bất kỳ một quy phạm hay VBQPPL nào cũng được tạo ra và tác động không phải trong sự độc lập, riêng rẽ mà trong một tổng thể những mối liên hệ và những sự ràng buộc nhất định. Do vậy, tính toàn diện và đồng bộ của VBQPPL có ảnh hưởng rất lớn tới tính khả thi và hiệu quả của việc thực hiện pháp luật. Bởi tất cả những mối liên hệ, những sự ràng buộc đó của các quy định, các văn bản pháp luật với những yếu tố và hiện tượng khác nhau trong đời sống xã hội xét đến cùng đều có ảnh hưởng tới sự tác động, điều chỉnh của pháp luật. Việc thực hiện một QPPL hay một chế định luật không tốt có thể sẽ làm việc thực hiện các quy phạm, các chế định pháp luật khác gặp nhiều khó khăn thậm chí là không thể thực hiện được, tuỳ theo vị trí, vai trò và các mối liên hệ của nó với các yếu tố, các bộ phận khác.
Tính toàn diện, đồng bộ của VBQPPL còn thể hiện ở việc ban hành đầy đủ các văn bản quy định chi tiết các văn bản, quy định pháp luật trong những trường hợp cần có sự quy định chi tiết, để khi văn bản pháp luật có hiệu lực thì nó cũng đã có đủ các điều kiện để có thể được tổ chức thực hiện ngay trên thực tế.
1.4.2. Văn bản quy phạm pháp luật phải hợp pháp, thống nhất Luận văn: Lý luận về Văn bản quy phạm pháp luật
Tính hợp pháp là biểu hiện của nguyên tắc pháp chế – một nguyên tắc hiến định. Tính hợp pháp của VBQPPL là sự phù hợp của văn bản đó với thẩm quyền, nội dung, hình thức và phương pháp quản lý của các chủ thể quản lý trong khuôn khổ pháp luật quy định. Nói đến tính hợp pháp của VBQPPL thì cũng cần nói đến tính hợp pháp đối với thủ tục xây dựng ban hành VBQPPL. Tính hợp pháp đối với thủ tục xây dựng và ban hành VBQPPL luật là sự phù hợp của hoạt động xây dựng và ban hành văn bản đó với các yêu cầu về thủ tục do luật định.
Về tính hợp pháp, thuật ngữ thường được sử dụng với thuật ngữ “tính hợp hiến” như vây, có nghĩa VBQPPL không chỉ bảo đảm phù hợp với pháp luật nói chung mà còn phải phù hợp với Hiến pháp. Ở đây, nhằm nhấn mạnh và đề cao vai trò tối thượng của Hiến pháp trong hệ thống pháp luật. Đồng nghĩa với việc khẳng định Hiến pháp là văn bản gốc có giá trị pháp lý cao nhất.
Tính thống nhất của VBQPPL được thể hiện trong cả hệ thống cũng như trong từng bộ phận hợp thành của VBQPPL ở các cấp độ khác nhau, nghĩa là giữa các ngành luật trong VBQPPL; giữa các chế định pháp luật trong cùng một ngành luật; giữa các QPPL trong một chế định pháp luật cũng phải thống nhất. Không có các hiện tượng trùng lặp, chồng chéo, mâu thuẫn lẫn nhau của các QPPL trong mỗi bộ phận và trong các bộ phận khác nhau của VBQPPL. Điều này đòi hỏi các VBQPPL được ban hành không chỉ bảo đảm sự thống nhất, hài hoà về nội dung mà còn phải bảo đảm tính thứ bậc của mỗi văn bản về giá trị pháp lý của chúng.
1.4.3. Văn bản quy phạm pháp luật phải hợp lý, khả thi Luận văn: Lý luận về Văn bản quy phạm pháp luật
Theo từ điển Tiếng việt, “hợp lý” là đúng lẽ phải, đúng với sự cần thiết hoặc với logic của sự vật [81]. Như vật tính hợp lý của VBQPPL thể hiện ở sự phù hợp của văn bản và sự cần thiết của văn bản đối với quá trình quản lý xã hội, tạo điều kiện cho xã hội phát triển.
Sự phù hợp của VBQPPL thể hiện ở nội dung của VBQPPL luôn có sự tương quan với trình độ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Có thể nói pháp luật là những nhu cầu cơ bản, điển hình và có tính phổ biến nhất của đời sống kinh tế – xã hội được khái quát hoá, mô hình hoá dưới hình thức pháp lý cụ thể thông qua hoạt động lý trí và ý chí của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Do vậy, sự phù hợp của các VBQPPL mà đặc biệt là của các văn bản luật với các quy luật khách quan của sự phát triển kinh tế – xã hội là điều kiện vô cùng quan trọng bảo đảm cho tính khả thi và hiệu quả của pháp luật. Phù hợp với các quy luật và điều kiện kinh tế – xã hội sẽ làm cho pháp luật dễ dàng được thực hiện, đồng thời cũng góp phần thúc đẩy, tạo điều kiện cho sự phát triển của kinh tế – xã hội, trường hợp ngược lại, pháp luật khó được thực hiện trên thực tế, thậm chí có thể cản trở hoặc gây ra những thiệt hại nhất định cho sự phát triển đó. Trong giai đoạn hiện nay khi chúng ta xác định xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, xây dựng nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa thì việc VBQPPL phản ánh đúng tính chất, đặc điểm, trình độ phát triển của kinh tế – xã hội, định hướng đúng cho sự phát triển kinh tế là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng.Luận văn: Lý luận về Văn bản quy phạm pháp luật
Sự phù hợp của VBQPPL với điều kiện chính trị của đất nước. Trong xã hội Việt Nam hiện nay tồn tại nhiều giai tầng khác nhau và lợi ích của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, giai tầng cũng có sự khác nhau. Để bảo đảm cho xã hội phát triển ổn định thì đòi hỏi pháp luật phải quy định một cách sự hài hoà về lợi ích cơ bản của tất cả các lực lượng chủ yếu trong xã hội sao cho có thể chấp nhận được. Vì vậy, nội dung của VBQPPL phải quy định sao cho tương quan giữa các loại lợi ích của các tầng lớp xã hội khác nhau có được sự hài hoà và có thể chấp nhận được. Dưới hình thức pháp lý, trong khuôn khổ các văn bản pháp luật nhà làm luật phải làm sao cho lợi ích hợp pháp của tầng lớp xã hội này không xung đột với lợi ích của các tầng lớp khác. Chỉ trong những điều kiện như vậy mới bảo đảm được sự phát triển bình thường của các quan hệ xã hội và việc thực hiện các quyền, tự do, lợi ích của tầng lớp xã hội này sẽ không làm tổn hại đến tự do, lợi ích của các tầng lớp khác trong xã hội. Nếu không quan tâm tới sự thống nhất, hài hoà giữa các loại lợi ích của các lực lượng khác nhau trong quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật có thể dẫn đến nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội, chẳng những không phát huy được vai trò của pháp luật mà còn làm lu mờ bản chất tốt đẹp của pháp luật dưới chế độ xã hội chúng ta.
Trong xã hội ngoài pháp luật còn có những công cụ khác như đạo đức, phong tục tập quán, tín điều tôn giáo…, những công cụ này cùng với pháp luật luôn có tác động rất lớn lên các quan hệ xã hội. Sự tác động của các quy phạm xã hội khác nhau lên các quan hệ xã hội luôn không giản đơn, chúng có liên quan, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Pháp luật chỉ có thể phát huy được vai trò, tác dụng của mình một cách tốt nhất khi có sự tác động cùng chiều, phù hợp với những công cụ điều chỉnh khác. Do vậy, VBQPPL đòi hỏi phải phù hợp với phong tục, tập quán, những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, phù hợp với các giá trị đạo đức, văn hoá cao đẹp của nhân dân các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước. Sự phù hợp của VBQPPL với đạo đức, văn hóa dân tộc, với thuần phong mỹ tục của đất nước, các công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội khác cũng là một trong những yếu tố phản ánh chất lượng của nó, làm cho VBQPPL được tôn trọng và là điều kiện bảo đảm cho việc thực hiện pháp luật nghiêm minh trên cơ sở tự giác của mọi người.Luận văn: Lý luận về Văn bản quy phạm pháp luật
Không chỉ phù hợp với các điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước VBQPPL quốc gia còn phải phù hợp với pháp luật quốc tế. Trong xu hướng hội nhập và hợp tác hiện nay, vấn đề này luôn đòi hỏi phải được chú trọng và trong những giới hạn có thể VBQPPL quốc gia cần phải phù hợp với các công ước, điều ước và thông lệ quốc tế mà quốc gia đã ký kết hoặc tham gia. VBQPPL quốc gia phải được xây dựng phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của các điều ước và thông lệ quốc tế, tiếp thu và sử dụng có hiệu quả lý luận, kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật của các nước khác trên thế giới.
Một VBQPPL có chất lượng thì phải bảo đảm tính khả thi, nghĩa là các quy định pháp luật phải có khả năng thực hiện được trong điều kiện kinh tế, chính trị – xã hội hiện tại. Điều này đòi hỏi các quy định pháp luật phải được ban hành phù hợp với trình độ phát triển của đất nước ở mỗi thời kỳ phát triển nhất định. Nếu các quy định pháp luật được ban hành quá cao hoặc quá thấp so với các điều kiện phát triển của đất nước thì đều có ảnh hưởng đến chất lượng của pháp luật. Trong những trường hợp đó hoặc là pháp luật không có khả năng thực hiện được hoặc là được thực hiện không triệt để, không nghiêm, không phát huy hết vai trò tác dụng của nó trong đời sống xã hội.
Tính khả thi của VBQPPL còn thể hiện ở việc các quy định pháp luật phải được ban hành đúng lúc, kịp thời đáp ứng những nhu cầu mà cuộc sống đang đặt ra, đồng thời phải phù hợp với cơ chế thực hiện và áp dụng pháp luật hiện hành. Khi ban hành pháp luật phải xem xét tới điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước có cho phép thực hiện được quy định hoặc văn bản pháp luật đó hay không, đồng thời phải tính đến các điều kiện khác như tổ chức bộ máy nhà nước, trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức có cho phép thực hiện được không, dư luận xã hội trong việc tiếp nhận quy định hoặc văn bản pháp luật đó (ủng hộ hay không ủng hộ), trình độ văn hoá và kiến thức pháp lý của nhân dân… Pháp luật có chất lượng phải là pháp luật đưa ra được phương án tốt nhất với phương pháp điều chỉnh pháp luật phù hợp nhất để thông qua đó có thể đạt được mục đích mong muốn trong những điều kiện kinh tế – xã hội hiện tại
1.4.4. Văn bản quy phạm pháp luật phải chặt chẽ, rõ ràng, chính xác Luận văn: Lý luận về Văn bản quy phạm pháp luật
Muốn xây dựng được VBQPPL chặt chẽ, rõ ràng, chính xác thì cần phải nâng cao trình độ kỹ thuật pháp lý khi xây dựng các VBQPPL. Đó là tổng thể những phương pháp, phương tiện được sử dụng trong quá trình soạn thảo và hệ thống hoá pháp luật nhằm đảm bảo cho pháp luật có được đầy đủ các khả năng để điều chỉnh có hiệu quả các quan hệ xã hội. Điều này đòi hỏi: Khi xây dựng và hoàn thiện pháp luật phải đưa ra được những nguyên tắc, những trình tự thủ tục tối ưu để tiến hành có hiệu quả quá trình đó nhằm tạo ra được những quy định, những văn bản pháp luật tốt nhất, đồng thời phù hợp với các quy định đã có; xác định chính xác, khoa học cơ cấu của VBQPPL phù hợp với các điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước; ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản phải chính xác, phổ thông, cách diễn đạt phải rõ ràng, dễ hiểu, đảm bảo tính cô đọng, logic và một nghĩa. Đối với những thuật ngữ chuyên môn cần xác định rõ nội dung đều được giải thích trong văn bản.
Quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật phải thường xuyên sử dụng các phương tiện, các cách tiếp cận, các kỹ thuật pháp lý, các quy tắc pháp lý tiên tiến khoa học nhất đã đạt được của nhân loại trong lĩnh vực điều chỉnh pháp luật. Nội dung các QPPL, các VBQPPL được xây dựng với một trình độ kỹ thuật pháp lý cao có kết cấu chặt chẽ, logic, các thuật ngữ pháp lý được sử dụng chính xác, một nghĩa, lời văn trong sáng, ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với khả năng nhận thức của quảng đại quần chúng nhân dân. “Một quy phạm pháp luật sẽ phát huy được hiệu quả cao hơn nếu phù hợp với quan niệm, ý thức hiện có của công dân và ngược lại” [69]. Sự chặt chẽ, rõ ràng, chính xác của các QPPL cũng tránh được những thiếu sót, sơ hở có thể bị lợi dụng trong quá trình thực hiện và áp dụng pháp luật. Để có chất lượng các văn bản pháp luật phải được xây dựng đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục luật định, có tên gọi phù hợp với nội dung thể hiện, hình thức rõ ràng, dễ thực hiện.
Mức độ hệ thống hóa cao và sự tồn tại của nhiều bộ luật cũng được coi là biểu hiện của một VBQPPL hoàn thiện. Tính hệ thống hóa cao là đảm bảo rất quan trọng cho việc thực hiện pháp luật dễ dàng, thuận lợi và chính xác.Luận văn: Lý luận về Văn bản quy phạm pháp luật
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam
