Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Giải pháp của các trung gian tài chính trên TTCK hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Giải pháp thúc đẩy sự tham gia của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
I. Định hướng phát triển của trung gian tài chính trên Thị trường chứng khoán Việt Nam
1. Định hướng phát triển thị trường tài chính Việt Nam đến năm 2030
Mục tiêu của việc phát triển thị trường tài chính trong những năm trước mắt là xây dựng và hoàn thiện thị trường tài chính đồng bộ, vận hành theo các nguyên tắc của cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà Nước, đảm bảo sự phát triển lành mạnh, ổn định và bình đẳng giữa các chủ thể tham gia thị trường. Trên cơ sở đó, nâng cao tỷ lệ huy động vốn trong nền kinh tế, góp phần đẩy nhanh tốc độ và hiệu quả luân chuyển vốn, đáp ứng nhu cầu về vốn đầu tư cho sự nghiệp Công nghiệp hóa, Hiện đại hoá đất nước.
Đối với thị trường vốn, cần thúc đẩy và tăng hiệu quả của thị trường chứng khoán để tăng cường thu hút vốn trong nền kinh tế. Cần tăng số lượng và chất lượng hàng hoá của thị trường bằng việc đẩy mạnh phát hành Trái phiếu Chính Phủ, trái phiếu của các DNNN, trái phiếu đầu tư, trái phiếu của các quỹ hỗ trợ phát triển và trái phiếu của chính quyền địa phương cũng như đẩy mạnh chương trình cổ phần hoá DNNN, khuyến khích hình thành công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp, khuyến khích các doanh nghiệp phát hành chứng khoán để huy động vốn trên thị trường.
Khuyến khích các loại hàng hoá mới như chứng chỉ quỹ đầu tư, các chứng khoán phái sinh. Khuyến khích các công ty niêm yết trên thị trường tập trung và tăng cường phát hành chứng khoán ra công chúng, đồng thời xây dựng và phát triển thị trường OTC, đảm bảo cho thị trường chứng khoán vận hành có hiệu quả, an toàn và lành mạnh.
Mặt khác, cần phát triển và tăng hiệu quả hoạt động cho vay trung và dài hạn của các NHTM, tăng hiệu quả đầu tư của Ngân Sách Nhà Nước và thông qua các quỹ hỗ trợ phát triển và quỹ phát triển địa phương. Đồng thời tăng cường hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, tăng cường khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn nước ngoài cho phát triển kinh tế.
Đối với thị trường tiền tệ, cần tiếp tục phát triển thị trường nội tệ liên ngân hàng, thị trường ngoại hối và thị trường các giấy tờ có giá ngắn hạn, thực hiện cải cách chính sách điều hành lãi suất, tỷ giá theo hướng tự do hoá. Mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của các NHTM, tăng cường tích tụ tập trung vốn, mở rộng các dịch vụ ngân hàng như dịch vụ thanh toán, tư vấn, bảo quản tài sản. Khóa luận: Giải pháp của các trung gian tài chính trên TTCK.
Mở rộng thị trường bảo hiểm, đa dạng hoá loại hình doanh nghiệp bảo hiểm và các loại sản phẩm dịch vụ bảo hiểm, khuyến khích các doanh nghiệp bảo hiểm thành lập các công ty đầu tư hoặc các quỹ đầu tư, tham gia hoạt động trên cả thị trường nội địa và quốc tế.
Từng bước áp dụng các tiêu chuẩn và điều kiện phù hợp với thông lệ quốc tế để chuẩn bị cho quá trình mở cửa và hội nhập khu vực và quốc tế của các thị trường vốn, thị trường tiền tệ và thị trường bảo hiểm. Để thực hiện lộ trình mở cửa theo các cam kết của Việt Nam với các nước ASEAN, các cam kết trong Hiệp định thương mại Việt – Mỹ, các điều kiện chuẩn bị gia nhập WTO, cần hướng dẫn các tổ chức tài chính trong nước chuẩn bị các điều kiện để tham gia đầu tư và thu hút vốn từ thị trường khu vực và quốc tế, phấn đấu nâng tỷ lệ huy động vốn trung và dài hạn đầu tư gián tiếp qua thị trường chứng khoán, hạn chế và kiểm soát các luồng vốn vay ngắn hạn.
Mặt khác, cần mở rộng hoạt động của các tổ chức tài chính nước ngoài tại Việt Nam trên nguyên tắc Nhà Nước quản lý thống nhất, đảm bảo an ninh tài chính và thúc đẩy trung gian tài chính trong nước phát triển, tiến tới đảm bảo bình đẳng trong cạnh tranh giữa các tổ chức tài chính trong và ngoài nước.
Để đạt được điều đó, trước hết cần lành mạnh hoá, phát triển và nâng cao năng lực hoạt động của các tổ chức tài chính. Xây dựng các chính sách và công cụ tài chính tiền tệ phù hợp để điều hành chính sách tài chính tiền tệ linh hoạt, tăng tính tự chủ cũng như năng lực điều hành của các tổ chức tài chính, tăng cường hệ thống thanh tra, giám sát, kiểm soát nội bộ để lành mạnh hoá các tổ chức tài chính.
Mặt khác, cần có quy hoạch phát triển các tổ chức tài chính trung gian bao gồm quy hoạch phát triển về các loại hình trung gian tài chính, về quy mô, về mạng lưới chi nhánh, về hình thức sở hữu theo hướng đa dạng hoá về hoạt động và về sở hữu. Trước mắt, cần thực hiện tốt cải cách hệ thống NHTM Nhà Nước và NHTM cổ phần, phát triển các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm cũng như các trung gian tài chính khác.
2. Định hướng phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam đến năm 2030 Khóa luận: Giải pháp của các trung gian tài chính trên TTCK.
Mục tiêu của chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam trước hết là, xây dựng và hoàn thiện thị trường chứng khoán đồng bộ, bao gồm thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp, thị trường tập trung và thị trường giao dịch qua quầy, thị trường giao ngay và thị trường kỳ hạn. Thị trường này được vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà Nước trên nguyên tắc đảm bảo sự phát triển lành mạnh, ổn định và bình đẳng giữa các chủ thể tham gia thị trường.
Thị trường chứng khoán phải là một kênh dẫn vốn trung hạn và dài hạn quan trọng của nền kinh tế, tổng giá trị chứng khoán lưu chuyển qua thị trường chiếm tỷ trọng từ 20% – 30% so với GDP. Mặt khác, thị trường chứng khoán phải là công cụ đắc lực để kinh tế Việt Nam từng bước hội nhập khu vực và quốc tế, khai thác tối đa các tác động tích cực trong việc huy động vốn trong và ngoài nước, là cầu nối để các nhà đầu tư Việt Nam tham gia đầu tư trên thị trường tài chính quốc tế, hạn chế những tác động tiêu cực của quá trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, góp phần đảm bảo an ninh về tài chính trong quá trình phát triển.
Để thực hiện được các mục tiêu đó, trước mắt, cần hoàn chỉnh việc vận hành có hiệu quả hai Trung tâm GDCK Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh, đồng thời xây dựng và hoàn thiện các thể chế của thị trường như Trung tâm lưu ký và thanh toán chứng khoán, Trung tâm máy tính, các tổ chức định mức tín nhiệm, Trung tâm thông tin chứng khoán.
Các thể chế này là điều kiện để trung tâm GDCK vận hành có hiệu quả. Trên cơ sở hoạt động của hai trung tâm GDCK, từng bước chuẩn bị và đưa vào vận hành Sở Giao dịch chứng khoán Việt Nam. Sở GDCK phải đáp ứng các yêu cầu hiện đại và hiệu quả, đồng thời, ngay từ trong quá trình xây dựng, cần lưu ý vấn đề hội nhập của Sở GDCK với Sở giao dịch các nước trong khu vực và quốc tế. Đây là tiền đề, là cơ sở cho hoạt động huy động vốn trên thị trường quốc tế.
Chiến lược tạo hàng hoá cho thị trường cần đảm bảo cả yếu tố lượng và chất của hàng hoá, cần đa dạng hoá các loại hàng hóa, tạo cơ sở lựa chọn cho các nhà đầu tư, đồng thời phát triển các công cụ phòng vệ-các chứng khoán phái sinh, trợ giúp cho việc ngăn ngừa rủi ro đối với các nhà đầu tư và hạn chế việc lợi dụng các công cụ này trong hoạt động đầu cơ.
Cần sớm nghiên cứu xây dựng quy chế hoạt động và các yếu tố cho thị trường giao dịch qua quầy vận hành có hiệu quả, thay thế cho thị trường tự do hiện nay. Đây là vấn đề bức xúc để tạo thị trường cho các chứng khoán chưa niêm yết, trên cơ sở đó, hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ huy động vốn trên thị trường.
Cần hoàn thiện các điều kiện pháp lý cho phát triển thị trường. Mặt khác, cần sớm hình thành các tổ chức tự chế định như Hiệp hội môi giới chứng khoán, Hiệp hội kinh doanh chứng khoán để tạo điều kiện phát triển nghề nghiệp cũng như duy trì các tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp đối với một lĩnh vực kinh doanh mới này.
II. Giải pháp thúc đẩy sự tham gia của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam Khóa luận: Giải pháp của các trung gian tài chính trên TTCK.
1. Các giải pháp vĩ mô
1.1. Phát triển thị trường chứng khoán
Như đã phân tích ở phần trước, một trong những nguyên nhân cản trở sự tham gia của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán là do sự chậm phát triển của thị trường. Điều này bắt nguồn từ việc Việt Nam chưa xác định được chiến lược phát triển của thị trường, do đó, cơ cấu của thị trường chưa hoàn thiện, chưa có thị trường giao dịch qua quầy cho những chứng khoán không niêm yết, đồng thời, lượng hàng hoá cho thị trường còn ít và thiếu chất lượng. Việc quản lý, điều hành thị trường còn nhiều bất cập. Vì vậy cần cải tiến những vấn đề sau:
- a) Phát triển thị trường OTC
Với hơn một ngàn loại chứng khoán lưu hành trên thị trường tự do đã cho thấy một tiềm năng và một yêu cầu cấp thiết trong việc phát triển thị trường giao dịch qua quầy (OTC) ở Việt Nam hiện nay. Khó khăn cơ bản cho việc thiết lập thị trường OTC là, ở Việt Nam chưa có hiệp hội môi giới và kinh doanh chứng khoán; các chứng khoán phần lớn dưới dạng vật chất và chưa được lưu ký ở các tổ chức lưu ký; việc mua bán chủ yếu được thực hiện thanh toán trực tiếp mà không thực hiện thanh toán qua hệ thống ngân hàng; trình độ, ý thức của các nhà đầu tư chưa cao; hệ thống luật pháp chưa đồng bộ và thiếu hoàn thiện.
Để vận hành thị trường OTC có hiệu quả, sự can thiệp của Nhà Nước là cần thiết và vai trò của các trung gian tài chính đối với thị trường này là rất lớn. Trước mắt, cần thực hiện các giải pháp sau:
Thứ nhất, phát triển thị trường giao dịch qua quầy đối với chứng khoán Chính Phủ. Như đã trình bày trong các phần trước, tín phiếu, Trái phiếu Chính Phủ có độ rủi ro thấp, tính thanh khoản cao hơn trái phiếu doanh nghiệp và cổ phiếu. Những chứng khoán này thường được các trung gian tài chính nắm giữ với khối lượng lớn. Có thể nói, chứng khoán Chính Phủ có tỷ trọng lớn nhất trong số các loại chứng khoán ở Việt Nam hiện nay. Khóa luận: Giải pháp của các trung gian tài chính trên TTCK.
Phần lớn Tín phiếu Kho Bạc, Trái phiếu Chính Phủ ở Việt Nam đều do các trung gian tài chính nắm giữ. Đối với các trung gian tài chính Việt Nam, các trung gian tài chính Nhà Nước có quy mô lớn và chiếm thị phần áp đảo so với các trung gian tài chính khác.
Việt Nam đã có tổ chức Hiệp hội ngân hàng hoạt động tương đối có hiệu quả. Trong việc thực thi chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam đã xây dựng và thực thi công cụ nghiệp vụ thị trường mở và đã có kinh nghiệm trong bước đầu hoạt động. Vì những lý do trên, Việt Nam có thể thành lập và đưa vào vận hành sớm thị trường giao dịch qua quầy đối với chứng khoán Chính Phủ.
Ở thị trường này, các NHTM Nhà Nước và Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam sẽ là thành viên bắt buộc và đảm nhận vai trò tạo thị trường cho các chứng khoán. Các tổ chức tài chính khác có thể tham gia nếu có nhu cầu. Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam, Uỷ ban chứng khoán, Bộ Tài chính, Hiệp hội ngân hàng có thể phối hợp nghiên cứu, soạn thảo quy chế giao dịch cho thị trường.
Thứ hai, phát triển thị trường giao dịch qua quầy đối với trái phiếu doanh nghiệp và cổ phiếu chưa niêm yết. Đặc thù của loại chứng khoán này ở Việt Nam hiện nay là chất lượng chưa cao và số lượng không lớn, do đó, để đảm bảo tính sôi động và hiệu quả của thị trường, trước mắt, cần lựa chọn một số loại có đủ khả năng để đưa vào thị trường. Theo tôi, cần ưu tiên đối với các chứng khoán do các trung gian tài chính phát hành bởi đây là các chứng khoán khá được ưa chuộng ở thời điểm hiện nay.
Theo Luật chứng khoán Thái Lan, 15 công ty chứng khoán trở lên có thể cùng gửi đơn lên Uỷ ban chứng khoán để thành lập trung tâm OTC với mục đích giao dịch các chứng khoán không niêm yết. Với đặc thù của Việt Nam hiện nay, đối với thị trường Trái phiếu Chính Phủ, Uỷ ban chứng khoán, Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam có thể uỷ quyền cho Hiệp hội ngân hàng đứng ra thành lập trung tâm OTC đối với trái phiếu của Chính Phủ với các thành viên là các tổ chức tín dụng Nhà Nước.
Với thị trường cổ phiếu, có thể quy định số lượng các thành viên của một thị trường OTC tối thiểu là 5. Các thành viên của trung tâm là các công ty chứng khoán, ngoài ra có thể mở rộng đối tượng là các tổ chức tín dụng có đủ điều kiện. Các thành viên phải nắm tối thiểu 1% số cổ phiếu đang lưu hành của một tổ chức phát hành mà họ tham gia tạo thị trường và phải cam kết mua hoặc bán tối thiểu một lô chứng khoán theo giá công bố. Khóa luận: Giải pháp của các trung gian tài chính trên TTCK.
Để thị trường hoạt động có hiệu quả, Luật doanh nghiệp cần quy định rõ, các chứng khoán phải được lưu ký tại các tổ chức lưu ký và các tổ chức phát hành muốn được cấp phép, phải đăng ký niêm yết trên thị trường tập trung hoặc trên một thị trường OTC nào đó. Việc hình thành và phát triển thị trường OTC ở Việt Nam có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thiện cấu trúc của thị trường chứng khoán, trên cơ sở đó góp phần phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đây cũng chính là điều kiện quan trọng cho việc thúc đẩy các trung gian tài chính tham gia vào thị trường.
- b) Hoàn thiện và phát triển thị trường tập trung
Trung tâm GDCK Tp. Hồ Chí Minh đã hoạt động được hơn năm năm. Các tồn tại chủ yếu của thị trường tập trung là: số lượng chứng khoán còn quá ít; thị trường có dấu hiệu của các hiện tượng tiêu cực như đầu cơ, thao túng thị trường; mua bán chứng khoán ngoài sàn; thiếu thông tin; hiện tượng mua bán nội gián; kiến thức của các nhà đầu tư thấp; hoạt động quản lý điều hành của Uỷ ban chứng khoán và Trung tâm giao dịch còn nhiều bất cập. V.v… Các giải pháp cơ bản để hoàn thiện và phát triển thị trường tập trung là:
Thứ nhất, mô hình này có ưu điểm là tạo ra hai trung tâm độc lập và cạnh tranh với nhau, từ đó tăng chất lượng hoạt động và giảm chi phí dịch vụ, song cũng tồn tại nhiều điểm bất hợp lý, tạo nên sự trùng chéo về tổ chức và bộ máy, gây lãng phí, đồng thời số lượng chứng khoán đủ điều kiện niêm yết còn hạn chế, do đó pha loãng thị trường.
Trung tâm GDCK Hà Nội thực chất là sàn giao dịch thứ hai của Trung tâm GDCK Tp. Hồ Chí Minh. Trong phương án này sẽ chỉ có một trung tâm được tổ chức đấu giá tại hai sàn giao dịch khác nhau. Tuy nhiên phương án này cũng tỏ ra không phù hợp do chi phí tốn kém và việc này thực sự không cần thiết bởi các nhà đầu tư có thể thực hiện giao dịch ngay tại các phòng giao dịch của các công ty chứng khoán. Với trình độ phát triển của công nghệ thông tin như hiện nay có thể hoàn toàn đáp ứng các yêu cầu của thị trường cũng như yêu cầu của các nhà đầu tư.
Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội được tổ chức cho các chứng khoán có tiêu chuẩn niêm yết thấp hơn so với trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh. Theo tôi, đây là cách thức phù hợp hơn cả vì có thể tạo được thị trường cho các công ty vừa và nhỏ và vẫn tạo được sự độc lập tương đối giữa hai trung tâm.
Tiêu chuẩn niêm yết ở đây có thể là: Các công ty niêm yết phải có vốn điều lệ lớn hơn 5 tỷ đồng; phải có tối thiểu 20% số cổ phiếu được nắm giữ bởi các nhà đầu tư ngoài tổ chức; số lượng nhà đầu tư ngoài tổ chức tối thiểu là 100; phải có ít nhất 1 năm có lãi gần nhất và mức lãi phải lớn hơn mức tối thiểu theo quy định; các thành viên Hội đồng quản trị và Giám đốc có kinh nghiệm trong quản lý; có phương án khả thi trong việc huy động và sử dụng vốn; phải được Đại hội cổ đông đồng ý với việc niêm yết. Khóa luận: Giải pháp của các trung gian tài chính trên TTCK.
Theo cách thức này, Việt Nam sẽ có hai trung tâm độc lập nhau, với các tiêu chuẩn niêm yết khác nhau. Điều này sẽ loại bỏ được nhược điểm của hai mô hình trên và tới giai đoạn phát triển cao hơn, có thể hợp nhất hai trung tâm giao dịch trở thành một sở giao dịch duy nhất hoặc tạo thành hai sở giao dịch chứng khoán sau này.
- Thứ hai, hoàn thiện cơ chế hoạt động và điều hành của trung tâm giao dịch chứng khoán.
Năm giải pháp phục hồi thị trường đã được áp dụng, bao gồm: lập quỹ bình ổn giá chứng khoán; dùng quỹ hỗ trợ thanh toán để mua cổ phiếu; khuyến khích các công ty chứng khoán thực hiện nghiệp vụ tự doanh; hạ biên độ giao động của giá; tăng cường thông tin, kể cả thông tin trực tiếp qua truyền hình. Tuy nhiên, các biện pháp này cũng chỉ mang tính chất tình thế, chưa có tính chất tổng thể, do đó chưa tạo lòng tin của các nhà đầu tư.
Để hoàn thiện vấn đề này, trước hết, Uỷ ban chứng khoán cần hoàn thiện cơ chế hoạt động của Trung tâm giao dịch chứng khoán. Theo Nghị định số 144/2023/NĐ-CP của Chính Phủ, Trung tâm giao dịch chứng khoán là đơn vị sự nghiệp có thu, trực thuộc Uỷ ban Chứng khoán Nhà Nước. Biên chế của trung tâm thuộc biên chế của Uỷ ban Chứng khoán Nhà Nước. Điều này là cần thiết trong giai đoạn đầu phát triển của thị trường. Tuy nhiên, mô hình này đã cho thấy những điểm bất hợp lý.
Uỷ ban chứng khoán là cơ quan quản lý Nhà Nước trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán còn trung tâm giao dịch có chức năng quản lý, điều hành giám sát các hoạt động giao dịch tại trung tâm, đồng thời, trung tâm chịu sự quản lý, giám sát của Uỷ ban chứng khoán. Với mô hình trên, thực chất Uỷ ban chứng khoán và Trung tâm giao dịch chứng khoán là một, do đó, trong cơ chế điều hành, giám sát có tính trùng chéo, giảm tính chủ động của trung tâm trong hoạt động điều hành thị trường.
Trung tâm là đơn vị sự nghiệp có thu, được hưởng bao cấp từ Ngân Sách Nhà Nước, do đó, chưa gắn quyền lợi của trung tâm đối với việc phát trển các dịch vụ, tạo tính ỷ lại của trung tâm đối với Uỷ ban và Nhà Nước. Đồng thời, mô hình tổ chức như vậy chưa thể hiện đầy đủ quyền hạn, nghĩa vụ của các thành viên đối với trung tâm. Từ những bất cập trên, cần thiết phải hoàn thiện mô hình trung tâm giao dịch chứng khoán Việt Nam.
Trên thế giới tồn tại một số mô hình đối với sở giao dịch chứng khoán. Đó là mô hình công ty cổ phần, mô hình công ty cổ phần có sự tham gia của Nhà Nước và mô hình công ty của Nhà Nước. Mô hình thích hợp với Việt Nam hiện nay là mô hình công ty cổ phần có sự tham gia của Nhà Nước. Cổ đông của trung tâm giao dịch chứng khoán gồm Nhà Nước với số cổ phần chi phối, các thành viên góp vốn là các công ty chứng khoán, các NHTM, các công ty bảo hiểm và các trung gian tài chính khác.
Chủ tịch hội đồng quản trị, giám đốc trung tâm do Nhà Nước bổ nhiệm. Các thành viên khác được bầu từ các thành viên do Đại hội cổ đông quyết định. Để đảm bảo quyền lợi của các công ty niêm yết, ít nhất trong hội đồng quản trị phải có hai thành viên là đại diện của các công ty niêm yết, do các công ty niêm yết bầu và được sự chuẩn y của Chủ tịch Uỷ ban chứng khoán.
Việc chuyển mô hình trung tâm giao dịch từ đơn vị sự nghiệp có thu sang mô hình công ty cổ phần có sự tham gia của Nhà Nước sẽ thay đổi cơ chế tổ chức và hoạt động của trung tâm theo hướng chủ động, gắn với quyền lợi của các thành viên và các nhà đầu tư. Đây cũng là bước chuẩn bị cho việc hình thành sở giao dịch chứng khoán sau này.
- Thứ ba, thành lập Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam. Khóa luận: Giải pháp của các trung gian tài chính trên TTCK.
Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế, việc hoàn thiện và phát triển thị trường tập trung theo hướng hiện đại có một ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển thị trường chứng khoán nói riêng và tạo đà phát triển kinh tế nói chung. Để chuẩn bị cho việc hình thành Sở giao dịch chứng khoán, trước mắt cần xây dựng và phát triển các cơ sở hạ tầng kỹ thuật như hệ thống giao dịch, hệ thống công bố thông tin, hệ thống đăng ký, lưu ký và thanh toán chứng khoán, hệ thống giám sát.
Cần sớm có chiến lược đồng bộ trong việc phát triển thị trường chứng khoán. Trong chiến lược phát triển, cần xác định rõ vị trí, vai trò, sự tham gia và mức độ tham gia của các trung gian tài chính trong từng giai đoạn phát triển của thị trường.
Về mô hình hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán, việc lựa chọn mô hình ngân hàng đa năng một phần trong giai đoạn hoạt động thử nghiệm của thị trường là cần thiết. Kết quả hơn năm năm hoạt động của thị trường chứng khoán cho thấy, mô hình này hạn chế hoạt động của các trung gian tài chính và trong giai đoạn phát triển tiếp theo, cần chuyển dần sang áp dụng mô hình ngân hàng đa năng toàn phần. Điều này sẽ thúc đẩy hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán, phù hợp với xu hướng phát triển của thị trường trong xu thế hội nhập quốc tế.
Trước mắt, cần có chính sách vận động các trung gian tham gia thị trường như niêm yết cổ phiếu của các ngân hàng cổ phần trên thị trường chứng khoán, phát hành cổ phiếu, trái phiếu ngân hàng và các tổ chức tài chính ra công chúng. Khuyến khích hoạt động đại lý, bảo lãnh phát hành chứng khoán, hoạt động tư vấn, quản lý danh mục đầu tư và quỹ đầu tư, các hoạt động thanh toán và lưu ký chứng khoán cũng như hoạt động tự doanh của các trung gian tài chính.
Đặc biệt, đối với hoạt động đại lý phát hành chứng khoán, các tổ chức tín dụng có thế mạnh do năng lực chuyên môn, hệ thống cơ sở vật chất khá hoàn thiện, có quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp và các nhà đầu tư, có kinh nghiệm trong các hoạt động tài chính, tín dụng, có khả năng trong quan hệ tài chính quốc tế. Tăng cường hoạt động đại lý, bảo lãnh phát hành của các tổ chức tín dụng sẽ làm tăng khả năng phát hành chứng khoán của Chính Phủ và các doanh nghiệp.
- Thứ tư, tăng số lượng và chất lượng hàng hoá
Tăng số lượng và chất lượng chứng khoán có ý nghĩa quan trọng đối với việc phát triển thị trường chứng khoán nói chung và thúc đẩy sự tham gia thị trường của các trung gian tài chính nói riêng. Việc tăng số lượng và chất lượng hàng hoá sẽ được thực hiện qua các giải pháp tạo đà cho phát triển kinh tế, giải pháp cải cách các trung gian tài chính được đề cập trong các phần khác của luận án. Khóa luận: Giải pháp của các trung gian tài chính trên TTCK.
1.2. Hoàn thiện môi trường pháp lý
Hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán hiện đang bị chi phối bởi nhiều văn bản pháp lý khác nhau. Các phân tích ở các phần trên cho thấy, môi trường pháp lý cho hoạt động của các trung gian tài chính nói chung và hoạt động trên thị trường chứng khoán nói riêng còn chưa được đầy đủ, thiếu tình đồng bộ và còn phức tạp.
Các trung gian tài chính vừa hoạt động trên thị trường với tư cách trực tiếp khi cung cấp hàng hoá hoặc trong vai trò là người kinh doanh chứng khoán, vừa tham gia gián tiếp cung cấp các dịch vụ tài chính cho khách hàng và cho thị trường.
Để phát triển các trung gian tài chính theo hướng đa ngành, cần thiết ban hành Luật các tổ chức tài chính thay thế các Luật chuyên ngành như Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Kinh doanh bảo hiểm. Luật này sẽ chế định đầy đủ, chi phối rộng rãi và đồng bộ các mặt hoạt động của các loại hình doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tài chính.
Hoạt động của thị trường chứng khoán rất đa dạng và phức tạp. Nghị định 144/2023/NĐ-CP đã bộc lộ nhiều bất cập về phạm vi điều chỉnh, phát hành chứng khoán, giao dịch chứng khoán, mô hình sở giao dịch chứng khoán… Do lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán cũng chịu sự điều chỉnh của nhiều văn bản pháp luật khác nhau, vị thế pháp lý của nghị định 144/2023/NĐ-CP thấp hơn các luật liên quan và môi trường pháp lý hiện hành cũng chưa đầy đủ nên những vấn đề bất cập, xung đột giữa các văn bản pháp luật liên quan đến thị trường chứng khoán là điều khó tránh khỏi. Để nâng cao được hiệu lực pháp lý của các văn bản pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán, giảm thiểu các mâu thuẫn, xung đột giữa các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan trong lĩnh vực này, thì việc ban hành Luật Chứng khoán trong giai đoạn này là thực sự cần thiết. Các văn bản pháp luật này cũng cần lưu ý việc chế định các tổ chức tài chính nước ngoài theo hướng Việt Nam chuẩn bị tham gia tổ chức thương mại thế giới (WTO) và chuẩn bị cho việc các tổ chức tài chính Việt Nam hội nhập vào hệ thống tài chính khu vực và toàn cầu. Khóa luận: Giải pháp của các trung gian tài chính trên TTCK.
Cơ chế thanh tra, giám sát các tổ chức tài chính Việt Nam cần được hoàn thiện, đồng thời, cần thiết lập và hoàn thiện cơ chế phòng chống sự sụp đổ của hệ thống tài chính như vấn đề trích lập quỹ dự phòng rủi ro, bảo hiểm. Việc sớm hoàn thiện các điều kiện pháp lý là điều kiện quan trọng trong việc thúc đẩy các trung gian tài chính tham gia vào thị trường.
1.3. Hoàn thiện chức năng và tăng cường phối kết hợp giữa các cơ quan quản lý Nhà Nước
Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong cải cách hành chính, song hiệu quả trong hoạt động của các cơ quan quản lý Nhà Nước Việt Nam đang là vấn đề cần quan tâm, đặc biệt là sự phối kết hợp giữa các cơ quan quản lý Nhà Nước. Hoạt động của các trung gian tài chính nói chung và hoạt động trên thị trường chứng khoán nói riêng chịu sự quản lý của nhiều cơ quan quản lý Nhà Nước khác nhau, như Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam, Uỷ ban Chứng khoán Nhà Nước, Bộ Tài chính.
Chính sự trì trệ và yếu kém trong phối kết hợp giữa các cơ quan quản lý Nhà Nước đã làm cho các trung gian tài chính bị động và lúng túng trong việc triển khai các hoạt động. Việc cải cách hoạt động của các cơ quan quản lý Nhà Nước trong lĩnh vực tài chính phải nhằm mục đích tăng tính tự chủ của các tổ chức tài chính, để các tổ chức này thực sự là các tổ chức kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng trên thị trường. Cần loại bỏ cách thức điều hành theo kiểu mệnh lệnh hành chính và chuyển sang điều hành thông qua sử dụng các công cụ điều tiết linh hoạt, phù hợp với cơ chế thị trường.
Như đã đề cập trước đây, hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán rất đa dạng và phức tạp, song có một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển và hiệu quả của thị trường. Với tính chất non trẻ của thị trường chứng khoán Việt Nam, các cơ quan quản lý Nhà Nước cũng như chính bản thân các trung gian tài chính chưa hiểu đầy đủ về hoạt động của các tổ chức này trên thị trường. Mặt khác, các trung gian tài chính lại chịu sự chỉ đạo của các cơ quan quản lý Nhà Nước khác nhau.
Việc thống nhất quan điểm chỉ đạo, phối hợp điều hành hoạt động của các trung gian tài chính của các cơ quan quản lý Nhà Nước là rất cần thiết và việc này chỉ có thể được thực hiện bởi Chính Phủ. Để tư vấn cho hoạt động điều hành của Chính Phủ và các cơ quan quản lý Nhà Nước, cần thành lập Ban nghiên cứu hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán, làm cơ sở cho hoạt động chỉ đạo, quản lý của các cơ quan quản lý Nhà Nước trong lĩnh vực tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng. Khóa luận: Giải pháp của các trung gian tài chính trên TTCK.
Ban này do Chính Phủ thành lập với các thành viên là đại diện Ngân hàng Nhà Nước, Uỷ ban Chứng khoán Nhà Nước, Bộ Tài chính, Các NHTM Nhà Nước, các nhà khoa học. Hoạt động của Ban Nghiên cứu sẽ góp phần tăng cường sự phối kết hợp giữa các cơ quan quản lý Nhà Nước trong lĩnh vực tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng.
Bộ Tài chính cần nghiên cứu chính sách nhằm phát triển thị trường trái phiếu, tín phiếu Chính Phủ, đặc biệt là thị trường trái phiếu, đồng thời có chính sách khuyến khích các địa phương, quỹ hỗ trợ phát triển, các quỹ hỗ trợ địa phương và các doanh nghiệp phát hành chứng khoán để tăng cường huy động vốn.
Mặt khác, cần nghiên cứu hoàn thiện chính sách cổ phần hoá và cải cách DNNN gắn liền với việc phát triển thị trường chứng khoán. Cần nghiên cứu các cơ chế khuyến khích phát triển thị trường phù hợp như cơ chế khuyến khích qua chính sách thuế và các loại phí. Các cơ chế này sẽ tác động như là đòn bẩy kính thích các doanh nghiệp và các nhà đầu tư tham gia trên thị trường chứng khoán.
Ngân hàng Nhà Nước cần nghiên cứu và ban hành quy chế cho phép các ngân hàng thương mại cổ phần được niêm yết trên thị trường chứng khoán cũng như tăng cường phát hành trái phiếu, cổ phiếu của các tổ chức tín dụng. Đồng thời, cần có các chính sách thúc đẩy, tăng cường hoạt động của các tổ chức tín dụng trên thị trường chứng khoán như các hoạt động quản lý danh mục đầu tư, hoạt động tư vấn, lưu ký chứng khoán, hoạt động đại lý, bảo lãnh phát hành chứng khoán và các hoạt động khác.
Uỷ ban Chứng khoán Nhà Nước, Trung tâm giao dịch chứng khoán, Trung tâm nghiên cứu khoa học và bồi dưỡng nghiệp vụ chứng khoán, Hiệp hội ngân hàng, Hiệp hội kinh doanh chứng khoán cần phối hợp với các cơ sở đào tạo, phát triển chương trình đào tạo để nâng cao kiến thức của công chúng đầu tư. Cần xây dựng chương trình phát triển thông tin nhằm cung cấp rộng rãi cho các doanh nghiệp và nhà đầu tư.
2. Các giải pháp vi mô Khóa luận: Giải pháp của các trung gian tài chính trên TTCK.
Các giải pháp vi mô hướng vào việc tăng năng lực hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường tài chính nói chung và trên thị trường chứng khoán nói riêng. Để có thể tăng năng lực hoạt động của các trung gian tài chính, cần thực hiện các giải pháp sau:
2.1. Tăng cường tiềm lực tài chính của các trung gian tài chính
Một trong những tồn tại cơ bản của các trung gian tài chính Việt Nam là quy mô vốn chủ sở hữu quá thấp. Đặc biệt là đối với các ngân hàng thương mại thì vốn còn bị phân tán ở các chi nhánh trải khắp các tỉnh, huyện và liên xã.
Việc điều hoà vốn giữa các chi nhánh không phải lúc nào cũng thông suốt, dẫn tới tình trạng ứ đọng vốn bất hợp lý, hiệu quả sử dụng vốn không cao. Thậm chí, một số trung gian tài chính có vốn chủ sở hữu quá thấp, chỉ có vài tỷ đồng. Điều này hạn chế rất nhiều các trung gian tài chính tham gia các hoạt động đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Vấn đề cấp bách hiện nay là phải tăng vốn chủ sở hữu cho các trung gian tài chính Việt Nam. Để thực hiện điều đó, cần thực hiện các giải pháp sau:
Đối với các NHTM Nhà Nước, Chính Phủ cần kiên quyết thực hiện chủ trương tăng vốn chủ sở hữu của các NHTM Nhà Nước thông qua nguồn tái cấp vốn, đảm bảo tỷ lệ vốn chủ sở hữu trong các ngân hàng này khoảng 8%, tương đương các NHTM trong khu vực.
Cần nghiên cứu giải pháp cổ phần hoá một bộ phận NHTM Nhà Nước, hoặc hình thành các công ty cổ phần thuộc các ngân hàng để huy động vốn và nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức này. Để hướng vào việc nâng cao năng lực hoạt động trong xu thế hội nhập, các NHTM Nhà Nước cần thu hút các tổ chức tài chính quốc tế, các NHTM nước ngoài tham gia liên doanh để tăng vốn hoạt động và thực hiện chuyển giao công nghệ.
Đối với các NHTM cổ phần, tiếp tục thực hiện chủ trương chấn chỉnh các ngân hàng cổ phần, thực hiện quy định của Ngân hàng Nhà Nước về vốn pháp định đối với ngân hàng cổ phần đô thị và nông thôn. Đối với các ngân hàng hoạt động không có hiệu quả, hoặc không có kế hoạch khả thi trong việc nâng vốn điều lệ, cần kiên quyết cho giải thể, phá sản hoặc bán lại cho các ngân hàng khác.
Có chính sách yêu cầu các NHTM cổ phần phát hành cổ phiếu ra công chúng để tăng cường huy động vốn. Thực hiện sáp nhập các NHTM cổ phần để có thể giảm về số lượng các ngân hàng và tăng trưởng về quy mô, khuyến khích các NHTM Nhà Nước, các tổng công ty Nhà Nước tham gia góp vốn vào các ngân hàng cổ phần.
- Đối với các công ty bảo hiểm Nhà Nước, do bảo hiểm là một lĩnh vực kinh doanh hấp dẫn và đang được công chúng đầu tư quan tâm, cần nghiên cứu cổ phần hoá các công ty bảo hiểm Nhà Nước để huy động vốn rộng rãi trong công chúng.
- Đối với các quỹ hỗ trợ phát triển, Bộ Tài chính cần nhanh chóng nghiên cứu cho phép các quỹ hỗ trợ phát triển phát hành trái phiếu ra công chúng để tăng cường huy động vốn. Khóa luận: Giải pháp của các trung gian tài chính trên TTCK.
Tỷ trọng vốn chủ sở hữu so với tổng tài sản của các trung gian tài chính thường không lớn, song lại có một vị trí đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo mức độ an toàn, khẳng định mức độ tin cậy của các tổ chức này đối với công chúng đầu tư. Có thể nói, vốn chủ sở hữu quyết định tiềm lực tài chính của các trung gian tài chính.
Đối với các trung gian tài chính Việt Nam, một mặt cần quan tâm tăng cường thu hút vốn để tăng vốn chủ sở hữu, mặt khác, cần quan tâm tới vấn đề quản trị điều hành để tăng hiệu quả sử dụng vốn nói chung và tăng vốn khả dụng để đầu tư nói riêng. Cần có biện pháp xử lý dứt điểm nợ tồn đọng, nợ xấu của các NHTM, thành lập công ty mua bán nợ và chứng khoán hoá các khoản nợ của hệ thống ngân hàng. Trong hoạt động tăng vốn chủ sở hữu, cần triệt để xoá bỏ tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào Nhà Nước mà phải đặc biệt lưu tâm đến việc huy động vốn qua thị trường chứng khoán.
Để xử lý tình trạng nợ xấu, nợ quá hạn của các ngân hàng thương mại, cần phân loại nợ xấu, nợ quá hạn, từ đó có các biện pháp xử lý thích hợp đối với từng loại. Thực hiện xóa nợ, dãn nợ, khoanh nợ, cơ cấu lại nợ hoặc thay đổi hợp đồng tín dụng đối với các khoản nợ quá hạn do các nguyên nhân khách quan ngoài khả năng kiểm soát. Cần có giải pháp đẩy nhanh việc phát mại tài sản cầm cố, thế chấp để thu hồi nợ cho ngân hàng.
2.2. Phát triển các nghiệp vụ mới trên thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán hình thành và phát triển tạo một lĩnh vực kinh doanh mới cho các trung gian tài chính. Đây là cơ hội để các trung gian cung cấp các dịch vụ mới, đáp ứng ngày càng tốt hơn cho các nhu cầu của khách hàng. Một trong những nguyên tắc cơ bản trong việc phát triển các dịch vụ mới là, những nhu cầu của khách hàng phát sinh mà pháp luật không cấm, tổ chức trung gian có thể thực hiện được thì phải thực hiện ngay cho khách hàng của mình.
Các trung gian tài chính Việt Nam cần năng động hơn trong việc nghiên cứu và triển khai thực hiện các nghiệp vụ mới. Trong thời gian trước mắt, các trung gian tài chính cần triển khai và phát triển các nghiệp vụ đại lý, bảo lãnh phát hành chứng khoán, kinh doanh chứng khoán, cho vay chứng khoán, cho vay để mua chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư, quản lý danh mục đầu tư, bảo quản chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán.
Đặc biệt với các ngân hàng thương mại, cần phát triển các hoạt động vốn là thế mạnh của các ngân hàng như thanh toán và lưu ký chứng khoán, hoạt động của ngân hàng giám sát, của người đại diện người sở hữu trái phiếu, cho vay, bảo quản chứng khoán tư vấn và quản lý danh mục đầu tư.
Các ngân hàng thương mại cần nghiên cứu việc niêm yết và phát hành chứng khoán ra công chúng để huy động vốn, đồng thời nghiên cứu phát triển hoạt động đại lý, bảo lãnh phát hành chứng khoán. Mặt khác, với các ngân hàng thương mại đã thành lập công ty chứng khoán, cần nghiên cứu hoàn thiện cơ cấu tổ chức, từ đó phát triển hoạt động tư vấn, môi giới chứng khoán cho các khách hàng thông qua toàn hệ thống. Khóa luận: Giải pháp của các trung gian tài chính trên TTCK.
2.3. Nâng cao năng lực cạnh tranh, năng lực hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán
Việt Nam đang trong qua trình hội nhập kinh tế quốc tế, việc nâng cao năng lực cạnh tranh, năng lực hoạt động của các trung gian tài chính có một ý nghĩa quan trọng. Để có thể thực hiện được điều này, các trung gian tài chính Việt Nam cần thực hiện một số biện pháp sau:
Thứ nhất, cần thay đổi phong cách phục vụ của các trung gian tài chính. Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, chi phí của việc thay đổi phong cách phục vụ thường không cao, song thường phải rất kiên trì và tốn khá nhiều thời gian.
Đặc biệt là đối với hệ thống tài chính Việt Nam, do ảnh hưởng nặng nề của thói quen trong cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp nên việc thay đổi phong cách phục vụ càng không dễ. Điều này trước hết phải xuất phát từ nhận thức chưa đúng của các nhà quản lý về vai trò, mục đích của việc thay đổi phong cách phục vụ, từ đó chưa có các chính sách và biện pháp thích hợp trong hành động.
Cần phải có những thay đổi về tác phong giao tiếp, tác phong làm việc của từng cán bộ, nhân viên, bố trí chỗ làm việc khoa học, từ đó tạo niềm tin từ phía khách hàng. Sự tận tâm, chu đáo của các cán bộ, nhân viên chỉ có được khi các trung gian tài chính có chính sách đào tạo và đào tạo lại cán bộ phù hợp từ đó nâng cao chất lượng cán bộ, mặt khác, có chính sách sử dụng lao động hợp lý cùng với các cơ chế khuyến khích thoả đáng.
Thứ hai, những cải cách về tổ chức sẽ góp phần nâng cao năng lực hoạt động của các trung gian tài chính. Hiện nay, ở nhiều tổ chức trung gian tài chính chưa có bộ phận chuyên về hoạt động đầu tư (các NHTM, công ty bảo hiểm). Hoạt động này thường được giao cho phòng nguồn vốn phụ trách. Điều này là không hợp lý, từ đó dẫn đến danh mục đầu tư của các trung gian tài chính thường được lựa chọn tuỳ tiện, thiếu khoa học, rủi ro lớn. Tương tự như vậy, nhiệm vụ tư vấn đầu tư, quản lý chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán v.v… chưa xác định rõ trách nhiệm quản lý thuộc về phòng ban nào, do đó thiếu một sự đầu tư phát triển có hệ thống các hoạt động này.
Các trung gian tài chính cần nhanh chóng thành lập phòng kinh doanh chứng khoán với chức năng nghiên cứu, đề xuất và thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán. Điều này sẽ làm tăng tính chuyên nghiệp của các hoạt động kinh doanh chứng khoán tại các trung gian tài chính.
Thứ ba, cần nâng cao năng lực quản lý điều hành của các trung gian tài chính. Hệ thống quản lý điều hành phải đảm bảo tăng tính chủ động, sáng tạo của mỗi cán bộ, nhân viên, mỗi bộ phận chức năng, mặt khác, cần tạo cơ chế giám sát chặt chẽ cũng như cơ chế phối kết hợp giữa các đơn vị chức năng của các trung gian tài chính, từ đó nâng cao hiệu quả của các hoạt động.
Thứ tư, hiện đại hoá và quốc tế hoá công nghệ của các trung gian tài chính như công nghệ thanh toán, công nghệ thông tin và xử lý thông tin. Khóa luận: Giải pháp của các trung gian tài chính trên TTCK.
Thứ năm, cần tạo điều kiện để các trung gian tài chính thực sự là các đơn vị tự chủ trong kinh doanh.
2.4. Đa dạng hoá các tổ chức tài chính nhằm tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường tài chính quốc gia
Mục tiêu của giải pháp là phát triển hệ thống các NHTM theo hướng các ngân hàng đa năng đồng thời phát triển đa dạng các loại hình trung gian tài chính như: các Công ty tài chính đa ngành và chuyên ngành; Công ty thuê mua chuyên ngành và đa ngành; quỹ đầu tư; công ty quản lý quỹ; Công ty Bảo hiểm chuyên ngành và đa ngành; Công ty chứng khoán; v.v…
Để thực hiện giải pháp này, Chính Phủ cần nghiên cứu, thiết lập các dự án đầu tư thành lập các doanh nghiệp trung gian tài chính, thiết kế và triển khai chương trình tiếp thị đầu tư, từ đó có chính sách vận động các doanh nghiệp và công chúng đầu tư tham gia góp vốn dưới hình thức cổ phần.
Cần nghiên cứu cổ phần hoá các trung gian tài chính Nhà Nước để thu hút các thành viên trong xã hội góp vốn cùng với Nhà Nước để phát triển loại hình doanh nghiệp này. Cần đặc biệt quan tâm phát triển loại hình công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm, ngân hàng phát triển, các quỹ đầu tư bởi đây là loại hình trung gian đầu tư chủ yếu trên thị trường chứng khoán.
Quỹ đầu tư chứng khoán là một trung gian đầu tư mà nguồn vốn được tập trung từ nhiều tổ chức và các nhân các nhà đầu tư, đuợc quản lý chuyên nghiệp và vốn được sử dụng đầu tư vào một tập hợp các chứng khoán của các công ty và tổ chức vì mục đích sinh lời. Với lợi thế nhờ chuyên môn hoá trong hoạt động đầu tư chứng khoán, lợi thế tiết kiệm nhờ quy mô, lợi thế về đa dạng hoá đầu tư, quỹ đầu tư chứng khoán là hình thức đầu tư phổ biến trong nền kinh tế thị trường. Về giải pháp phát triển quỹ đầu tư chứng khoán, cần thực hiện các giải pháp sau:
- a) Chuyển mô hình hoạt động của quỹ hỗ trợ phát triển sang hoạt động theo mô hình quỹ đầu tư mạo hiểm Nhà Nước.
Việc chuyển mô hình hoạt động của các quỹ này dựa trên những cơ sở sau:
Thứ nhất, với tính chất đầu tư của quỹ hỗ trợ phát triển đề cập trên đây gần giống với tính chất của quỹ đầu tư mạo hiểm, đều nhằm phát triển các lĩnh vực kinh tế có triển vọng tăng trưởng cao. Song quỹ đầu tư mạo hiểm có phương thức đầu tư rộng hơn, bao gồm cả cho vay, đầu tư góp vốn cổ phần, mua trái phiếu.
Quỹ đầu tư mạo hiểm có thể huy động vốn từ phía các nhà đầu tư có tổ chức và phát hành trái phiếu để huy động vốn nên có khả năng huy động vốn cao hơn. Quỹ đầu tư mạo hiểm hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận nên không thể có hiện tượng bao cấp về vốn, hiệu quả hoạt động cao hơn. Khóa luận: Giải pháp của các trung gian tài chính trên TTCK.
Việt Nam đang thực hiện hội nhập kinh tế, để thực hiện các cam kết quốc tế và tăng hiệu quả của các doanh nghiệp Việt Nam, cần kiên quyết xoá bỏ các ưu đãi về tài chính, đặc biệt là hiện tượng bao cấp về vốn đối với các doanh nghiệp.
Thứ hai, quỹ đầu tư mạo hiểm đầu tư vào các doanh nghiệp mới nên thuận lợi hơn các quỹ đầu tư chứng khoán, do thị trường chứng khoán Việt Nam còn chưa phát triển, lượng hàng hoá còn chưa nhiều. Trên cơ sở đầu tư vào các doanh nghiệp mới và thu hồi vốn khi các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường tập trung sẽ góp phần làm tăng lượng hàng hoá cho thị trường.
Thứ ba, Quỹ đầu tư mạo hiểm Nhà Nước là một tổ chức tài chính do Chính Phủ thành lập, nguồn vốn từ ngân sách Nhà Nước và huy động vốn từ các trung gian tài chính thông qua phát hành cổ phiếu, phát hành trái phiếu ra công chúng. Quỹ có mục đích đầu tư vào các doanh nghiệp Việt Nam thuộc các lĩnh vực cần ưu tiên phát triển, quỹ có thể tham gia quản lý các doanh nghiệp tham gia góp vốn, qua đó có thể làm tăng cường sự giám sát và tăng hiệu quả của các doanh nghiệp này.
Việc chuyển quỹ đầu tư phát triển thành quỹ đầu tư mạo hiểm Nhà Nước có huy động sự tham gia của các nhà đầu tư có tổ chức sẽ làm tăng hiệu quả hoạt động của quỹ. Toàn bộ lợi nhuận từ nguồn vốn Ngân Sách sẽ được giữ lại tái đầu tư, tăng vốn điều lệ của quỹ. Việc chuyển đổi mô hình này cũng có thể áp dụng đối với các quỹ hỗ trợ phát triển địa phương.
Hiện nay, các quỹ đầu tư nước ngoài hoạt động có hiệu quả cho thấy một dấu hiệu, nếu Việt Nam không phát triển mô hình quỹ đầu tư này thì trong tương lai không xa, các ngành công nghệ cao, các khu vực tăng trưởng cao sẽ nằm trong tay của các tổ chức và cá nhân nước ngoài.
- b) Hình thành và phát triển các quỹ đầu tư chứng khoán
Việc hình thành và phát triển quỹ đầu tư chứng khoán là một nhu cầu bức xúc đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, để phát triển mô hình này, cần hội đủ các điều kiện: Sự phát triển của thị trường chứng khoán; hệ thống pháp luật đồng bộ; hệ thống thông tin hoàn hảo; hệ thống giám sát chặt chẽ; đặc biệt, là sự phát triển cao của các trung gian tài chính và lòng tin vững chắc của công chúng đối với các tổ chức này. Tất cả các điều kiện này đều chưa hội đủ ở thị trường chứng khoán Việt Nam.
- Theo tôi, ở Việt Nam, cần phát triển cả mô hình quỹ đầu có quản lý với các lý do sau:
Thứ nhất, Quỹ đầu tư có quản lý được hình thành và quản lý như một công ty cổ phần, do đó, các nhà đầu tư nắm giữ cổ phiếu của quỹ có đầy đủ các quyền và lợi ích như các cổ đông trong các công ty cổ phần. Với kiến thức còn thấp của các nhà đầu tư Việt Nam, lòng tin đối với các trung gian tài chính chưa cao thì mô hình công ty sẽ có lợi thế cao hơn so với mô hình tín thác, do các nhà đầu tư được hưởng những quyền can thiệp nhất định vào hoạt động của quỹ.
Thứ hai, hiện nay đã có một số “quỹ đầu tư tư nhân” được thành lập bởi một nhóm các nhà đầu tư và được giao cho một số cá nhân phụ trách. Hoạt động này có tính chất tự phát nên chất lượng đầu tư không cao và tạo nên những rủi ro cho các nhà đầu tư. Quy mô của các “quỹ đầu tư tư nhân” không lớn, cộng với lượng hàng hoá trên thị trường chính thức còn thấp nên khả năng đa dạng hoá đầu tư không cao. Các quỹ này chủ yếu đầu tư vào các cổ phiếu của các công ty niêm yết và các công ty có tin đồn chuẩn bị niêm yết. Khóa luận: Giải pháp của các trung gian tài chính trên TTCK.
Đây chính là dấu hiệu cho thấy, công chúng đầu tư Việt Nam có ý thức đầu tư cao và đã biết chung sức để hoạt động đầu tư có hiệu quả hơn. Các nhà quản lý thị trường cần biết khai thác yếu tố này để phát triển thị trường.
- c) Chứng khoán hoá cổ phiếu của Chính Phủ
Một giải pháp khác để phát triển quỹ đầu tư chứng khoán là thành lập quỹ đầu tư thông qua chứng khoán hoá cổ phiếu của Chính Phủ. Hiện nay Chính Phủ đang sở hữu một số lượng không nhỏ các cổ phiếu của các doanh nghiệp cổ phần hoá. Để tăng hàng hoá cho thị trường, đồng thời tránh hiện tượng “Nhà Nước hoá các công ty cổ phần”, cần thiết phải bán số chứng khoán này cho công chúng.
Để thực hiện công việc này, có thể tập trung số chứng khoán này thành một số danh mục đầu tư và giao cho các trung gian tài chính Nhà Nước quản lý. Sau đó chứng khoán hoá bằng cách phát hành chứng chỉ quỹ cho công chúng đầu tư. Đây là giải pháp được xem là „cú hích‟ đối với thị trường và đã được nhiều nước áp dụng thành công. Đối với Việt Nam, phương thức này dễ thành công hơn bởi người Việt Nam có thể „mục sở thị‟ danh mục đầu tư trước khi mua chứng chỉ quỹ, đặc biệt, nếu chứng chỉ quỹ được bán thấp hơn giá thị trường.
- d) Phát triển các công ty quản lý quỹ
Một vấn đề quan trọng, quyết định trong việc phát triển quỹ đầu tư là phát triển công ty quản lý quỹ. Việt Nam hiện nay mới có rất ít các công ty quản lý quỹ và thiếu đội ngũ chuyên gia trong lĩnh vực quản lý quỹ đầu tư. Để nhanh chóng phát triển loại hình quỹ đầu tư, tận dụng lợi thế hiện có của các trung gian tài chính, theo tôi, cần khuyến khích các trung gian tài chính phát triển hoạt động quản lý quỹ đầu tư. Trước hết, có thể cho phép các trung gian tài chính Nhà Nước tham gia hoạt động quản lý quỹ đầu tư với các Quỹ đầu tư mạo hiểm Nhà Nước và Quỹ đầu tư hình thành từ chứng khoán hoá cổ phiếu của Chính Phủ.
KẾT LUẬN Khóa luận: Giải pháp của các trung gian tài chính trên TTCK.
Việt Nam đang từng bước thực hiện cải cách hệ thống tài chính. Nội dung của cải cách là xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán nhằm hoàn thiện cấu trúc của thị trường tài chính, đồng thời, thực hiện cải cách về tổ chức và hoạt động của các trung gian tài chính. Thúc đẩy sự tham gia của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán là một xu thế khách quan và là nhu cầu cấp thiết. Khóa luận đã tập trung giải quyết những vấn đề sau đây:
Thứ nhất, hệ thống hoá các vấn đề lý luận về thị trường chứng khoán và hoạt động của các trung gian tài chính trong tiến trình xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán.
Thứ hai, phân tích thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam và hoạt động của các trung gian tài chính trong tiến trình xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam, từ đó, đánh giá các điều kiện, các nhân tố hạn chế sự tham gia của các tổ chức này trên thị trường.
Thứ ba, đề xuất hệ thống các giải pháp để thúc đẩy sự tham gia của các trung gian tài chính trong tiến trình xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam. Khóa luận: Giải pháp của các trung gian tài chính trên TTCK.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Thúc đẩy tham gia của trung gian tài chính trên TTCK
