Khóa luận: Thực trạng của các trung gian tài chính trên TTCK

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng của các trung gian tài chính trên TTCK hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

I. Sự hình thành và phát triển của Thị trường Chứng khoán Việt Nam

1. Bối cảnh kinh tế – xã hội Việt Nam

1.1. Bối cảnh kinh tế

Sau gần hai mươi năm thực hiện chính sách đổi mới, Việt Nam đã dần xoá bỏ cơ chế kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp, chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà Nước theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa. Việt Nam đang bước sang một thời kì mới, thời kỳ Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa. Trong những năm đầu của thế kỷ 21, kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng với tốc độ khá nhanh và vững chắc. Lạm phát cơ bản đã được kìm chế đã cho thấy khả năng bước đầu trong kiểm soát lạm phát của Việt Nam. Bội chi Ngân Sách Nhà Nước duy trì ở mức 5%; Việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài có nhiều khả quan; Tỷ giá hối đoái tương đối ổn định; Dự trữ ngoại tệ tăng trưởng tốt. Năm 2025, dự trữ ngoại tệ đạt 6,4 tỷ Đô la Mỹ, mức cao nhất trong nhiều năm trở lại đây. Cán cân thương mại phát triển theo hướng tích cực, tỷ lệ nhập siêu có xu hướng giảm dần qua các năm.Trong thời gian qua, Việt Nam đã tích cực cải cách doanh nghiệp và cải cách khu vực tài chính. Chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần đã tạo điều kiện cho sự ra đời của nhiều doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, trong đó có nhiều ngân hàng cổ phần, ngân hàng liên doanh, các công ty tài chính. Thực hiện đổi mới cơ chế, chính sách kinh tế, Việt Nam đã huy động được nhiều nguồn vốn khác nhau cho việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, phát triển kinh tế xã hội.

Nguồn vốn huy động đã được đa dạng hoá, nguồn vốn huy động qua hệ thống ngân hàng chiếm khoảng 30% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.

Hệ thống các tổ chức tín dụng đang được cải cách một cách thận trọng, đặc biệt là các ngân hàng thương mại Nhà Nước và ngân hàng thương mại cổ phần. Có thể nói, vào năm đầu tiên của thế kỷ XXI, Việt Nam đã khắc phục được hai yếu điểm quan trọng của hệ thống tài chính là dễ bị tổn thương do các cú sốc trong và ngoài nước và năng lực yếu kém trong việc tích tụ, tập trung phân phối vốn trong nền kinh tế.

Ngày 14/9/2021, Chính Phủ đã ban hành Nghị định 63/2021/NĐ-CP về việc chuyển đổi DNNN, doanh nghiệp của các Tổ chức chính trị – xã hội thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.

Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, có khoảng 2500 DNNN hoạt động kinh doanh và khoảng 269 doanh nghiệp thuộc các Tổ chức chính trị – xã hội sẽ thuộc diện chuyển đổi này. Việc cho phép các DNNN phát hành trái phiếu và cổ phần hoá DNNN đã tạo ra lượng hàng hoá quan trọng cho thị trường chứng khoán, lành mạnh hoá DNNN và tạo điều kiện phát triển các trung gian tài chính.

Chủ trương xã hội hoá đầu tư và cải cách DNNN đã tạo nên hàng nghìn công ty cổ phần, việc Chính Phủ tăng cường phát hành trái phiếu và theo chủ trương của Chính Phủ, các DNNN, các ngân hàng thương mại được phép phát hành trái phiếu. Song các hàng hoá này đòi hỏi phải có thị trường riêng cho nó. Hình thành và phát triển Thị trường chứng khoán chính là giải pháp quan trọng để khắc phục những yếu kém đó.

1.2. Bối cảnh xã hội Khóa luận: Thực trạng của các trung gian tài chính trên TTCK.

Trong công cuộc đổi mới đất nước, Việt Nam vẫn giữ vững được sự ổn định về chính trị và xã hội. Nhà Nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa được tiếp tục xây dựng và hoàn thiện, vai trò lãnh đạo của Đảng ngày càng được củng cố, tạo lòng tin cho nhân dân và tạo đà cho phát triển kinh tế. Việt Nam tiếp tục duy trì và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân, tích cực tham gia và tạo dựng các mối quan hệ quốc tế.

Hiệp định thương mại Việt – Mỹ, Việc tham gia ASIAN, AFTA và việc chuẩn bị gia nhập WTO, cải thiện quan hệ Việt – Trung đã tạo cơ hội và thách thức mới cho các doanh nghiệp Việt Nam. Các mối quan hệ quốc tế được mở rộng cũng tạo điều kiện phát triển về văn hoá, khoa học kỹ thuật và công nghệ.

Nhờ kinh tế phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện cả về vật chất và tinh thần. Một bộ phận đông đảo trong xã hội đã thoát khỏi tình trạng lo ăn, lo mặc và đã có của cải để dành. Sự nghiệp giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng có nhiều tiến bộ, trình độ dân trí được cải thiện rõ rệt.

Thực hiện đường lối phát triển kinh tế đa thành phần, nhiều cá nhân và hộ gia đình đã tham gia đầu tư phát triển kinh tế. Cùng với quá trình cổ phần hoá DNNN, số lượng các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã tăng lên đáng kể, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế. Ở nông thôn, mô hình kinh tế trang trại đã được xác lập và hoạt động tương đối hiệu quả. Tư chất cần kiệm của người Việt đã được phát huy tác dụng, giúp họ làm giàu cho bản thân và cho xã hội.

Tuy nhiên, do thị trường tài chính chưa phát triển, các nhà đầu tư còn thiếu công cụ đầu tư phù hợp và các doanh nghiệp ngoài quốc doanh khó tìm kiếm cơ hội để huy động vốn. Một bộ phận không nhỏ tiết kiệm chưa được sử dụng có hiệu quả, các doanh nghiệp đói vốn, quy mô sản xuất manh mún, công nghệ lạc hậu. Yêu cầu hoàn thiện và phát triển thị trường tài chính là cấp thiết để giải quyết vấn đề đó.

1.3. Môi trường pháp lý

Cùng với quá trình phát triển kinh tế, hệ thống luật pháp của Việt Nam cũng đang được đổi mới nhanh chóng. Tính từ cuối năm 2018 đến nay, đã có hơn 100 bộ Luật, Luật, Pháp lệnh và hàng trăm Nghị định được ban hành nhằm điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế –xã hội. Điều này thể hiện sự nỗ lực của các cơ quan lập pháp và hành pháp Việt Nam trong xây dựng Nhà Nước pháp quyền.

Sự hoàn thiện khung pháp lý đã tạo điều kiện cho phát triển kinh tế và tạo lòng tin cho các nhà doanh nghiệp và các nhà đầu tư. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã có bước tăng trưởng mới và đóng góp một phần quan trọng cho sự nghiệp phát triển kinh tế.

Tuy nhiên, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật vẫn chưa theo kịp tốc độ phát triển kinh tế và các văn bản pháp luật còn thiếu đồng bộ, mới chỉ dừng lại ở tính nguyên tắc. Các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật còn chậm, thiếu tính cụ thể và đôi khi còn giải thích sai Luật. Điều này đã gây khó khăn cho các doanh nghiệp và các nhà đầu tư. Việc hoàn thiện môi trường pháp lý là một yêu cầu cấp thiết để đảm bảo cho thị trường tài chính vận hành có hiệu quả.

Những phân tích về bối cảnh kinh tế, xã hội, luật pháp đã cho thấy, hình thành và phát triển thị trường chứng khoán là một yêu cầu cấp thiết để hoàn thiện thị trường tài chính nhằm phục vụ có hiệu quả cho công cuộc Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá đất nước.

2. Sự hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam Khóa luận: Thực trạng của các trung gian tài chính trên TTCK.

Ngày 28 tháng 11 năm 2016, Chính Phủ đã ban hành Nghị định số 75/2016/NĐ-CP về việc thành lập Uỷ ban Chứng khoán Nhà Nước, cơ quan quản lý Nhà Nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán. Trong một thời gian không dài, Uỷ ban Chứng khoán Nhà Nước đã hoàn thành một khối lượng công việc quan trọng nhằm chuẩn bị cho sự ra đời của thị trường chứng khoán. Nhờ quá trình chuẩn bị tích cực đó, ngày 11 tháng 7 năm 2018, Chính Phủ đã ban hành Nghị định số 48/2018/NĐ-CP về Chứng khoán và thị trường chứng khoán, Thủ tướng Chính Phủ đã ký quyết định số 127/2018/QĐ-TTg ngày 11/7/2018 về việc thành lập Trung tâm giao dịch chứng khoán tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 20 tháng 7 năm 2020 đánh dấu một bước quan trọng đối với thị trường chứng khoán Việt Nam, Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh khai trương và chính thức hoạt động.

Từ thời điểm tháng 7 năm 2020 đến 3/2025, các chứng khoán ở Việt Nam được giao dịch trên hai thị trường, thị trường chính thức tại Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh đối với các chứng khoán niêm yết và “thị trường tự do” đối với các chứng khoán còn lại. Đến tận ngày 8.03.2025 TTGDCK Hà Nội chính thức khai trương hoạt động.

2.1. Trung tâm giao dịch chứng khoán Tp. Hồ Chí Minh

Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (TTGDCK TP.HCM) được thành lập theo Quyết định số 127/2018/QĐ-TTg ngày 11/07/2018 và chính thức đi vào hoạt động thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/7/2020. Sự ra đời của TTGDCK TP.HCM có ý nghĩa rất lớn trong việc tạo ra một kênh huy động và luân chuyển vốn mới phục vụ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, là sản phẩm của nền chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng và nhà nước ta. Là đơn vị sự nghiệp có thu, có tư cách pháp nhân, có trụ sở, con dấu và tài khoản riêng, kinh phí hoạt động do ngân sách nhà nước cấp, Trung tâm được chính phủ giao một số chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn quản lý điều hành hệ thống giao dịch chứng khoán tập trung tại Việt Nam. Đó là: tổ chức, quản lý, điều hành việc mua bán chứng khoán; quản lý điều hành hệ thống giao dịch; thực hiện hoạt động quản lý niêm yết, công bố thông tin, giám sát giao dịch, hoạt động đăng ký, lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán và một số hoạt động khác.

2.2. Hoạt động giao dịch tại trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội Sự ra đời của TTGDCK Hà Nội:

Ngày 11 tháng 07 năm 2018, Chính phủ ra Quyết định số 127/2018/QH-TTg thành lập hai Trung tâm giao dịch chứng khoán trực thuộc Uỷ ban chứng khoán Nhà nước. Theo đó, Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội, là đơn vị sự nghiệp có thu, có tư cách pháp nhân, có trụ sở, con dấu và tài khoản riêng, kinh phí hoạt động do ngân sách Nhà nước cấp. Biên chế của Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội thuộc biên chế của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước.

  • Quá trình xây dựng mô hình hoạt động của TTGDCK Hà Nội:

Ngày 05/8/2023 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam đến 2030. Theo đó, xây dựng thị trường giao dịch cổ phiếu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Hà Nội, chuẩn bị điều kiện để sau 2030 chuyển thành Thị trường giao dịch chứng khoán phi tập trung (OTC). Khóa luận: Thực trạng của các trung gian tài chính trên TTCK.

Tháng 6/2024, Bộ tài chính ra Thông báo số 136/TB/BTC nêu kết luận của Lãnh đạo Bộ về mô hình tổ chức và xây dựng thị trường giao dịch chứng khoán Việt Nam. Trong đó, định hướng xây dựng Trung tâm GDCK Hà Nội thành một thị trường giao dịch phi tập trung (OTC) đơn giản, gọn nhẹ, theo đó, Trung tâm GDCK Hà Nội sẽ phát triển theo hai giai đoạn:

Giai đoạn đầu, từ 2025 đến 2027 – thực hiện đấu giá cổ phiếu doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá và đấu thầu trái phiếu chính phủ đồng thời tổ chức giao dịch chứng khoán chưa niêm yết theo cơ chế đăng ký giao dịch.

Giai đoạn sau 2027 – Phát triển TTGDCKHN thành thị trường phi tập trung phù hợp với quy mô phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam.

Mô hình hoạt động của TTGDCK Hà Nội đã từng bước được cụ thể hoá. Gần đây, Bộ Tài chính đã ra Quyết định số 244/2024/QH-BTC ban hành Quy chế tạm thời tổ chức giao dịch chứng khoán tại TTGDCK Hà Nội. Như vậy, có thể nói cơ sở pháp lý ban đầu cho hoạt động của TTGDCK Hà Nội đã được thiết lập.

Theo đó, có thể khái quát các nội dung hoạt động chính trong giai đoạn đầu của TTGDCK Hà Nội như sau:

  • Tổ chức đấu giá cổ phần cho các doanh nghiệp
  • Tổ chức đấu thầu trái phiếu : TTGDCKHN tổ chức đấu thầu trái phiếu, bao gồm các loại trái phiếu chính phủ, trái phiếu được chính phủ bảo lãnh, trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu công trình …
  • Tổ chức giao dịch chứng khoán theo cơ chế đăng ký giao dịch:
  • Phương thức giao dịch thoả thuận.
  • Phương thức giao dịch báo giá trung tâm.

Ngày 8.3.2025 TTGDCK Hà Nội chính thức khai trương hoạt động, đánh dấu một bước phát triển mới của thị trường chứng khoán Việt Nam.

Ngay sau thời điểm khai trương, TTGDCK Hà Nội triển khai hoạt động đấu giá cổ phần cho các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá. Ngày 14.7.2025 TTGDCK Hà Nội khai trương Sàn Giao dịch chứng khoán thứ cấp.

2.3. Thị trường tự do Khóa luận: Thực trạng của các trung gian tài chính trên TTCK.

Thị trường tập trung của Việt Nam mới chính thức hoạt động từ 20/7/2020. Song các loại chứng khoán đã xuất hiện từ trước đó, đặc biệt là trong những năm cuối của thập kỷ 90, với việc ra đời của hàng loạt các văn bản pháp luật về phát hành trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc, về cổ phần hoá DNNN. Sự ra đời của Luật công ty (sau đó được thay thế bởi Luật Doanh nghiệp) và Luật Các tổ chức tín dụng đã tạo điều kiện cho sự xuất hiện của hàng loạt doanh nghiệp cổ phần. Đây là nguồn tạo hàng hoá quan trọng cho thị trường.

Theo Uỷ ban chứng khoán Nhà Nước, tính tới 30/06/2026 thì hiện có khoảng 3365 doanh nghiệp được cổ phần hoá, trong số đó rất ít đáp ứng nhu cầu về vốn và có đủ điều kiện niêm yết trên thị trường chính thức. Số còn lại, theo Luật Doanh nghiệp, cổ phiếu được tự do chuyển nhượng, song chưa có một thị trường chính thức cho nó. Đối với các chứng khoán niêm yết, do điều kiện giao dịch là chưa tốt cộng với ý thức chưa cao của các nhà đầu tư nên đã xuất hiện hiện tượng giao dịch chứng khoán ngoài trung tâm.

Thị trường cho các loại giao dịch này được gọi là thị trường tự do. Hiện nay người ta biết đến nhiều thị trường dưới tên gọi “Cà phê chứng khoán”, “Index house” hoặc những giao dịch qua mạng Internet. Các công ty chứng khoán cũng tích cực tham gia thị trường trong nghiệp vụ tự doanh.

Tuy nhiên, thị trường tự do hoạt động không có sự kiểm soát nên khó đảm bảo cho các giao dịch là trung thực để bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư. Hiện tượng chứng khoán giả; các vấn đề an toàn trong thanh toán và chuyển giao chứng khoán; hiện tượng đầu cơ, ép giá, thao túng thị trường là điều khó tránh khỏi trên thị trường tự do.

Như vậy, mặc dù mới chính thức hoạt động trong một thời gian chưa phải là dài so với thị trường chứng khoán của các nước, song thị trường chứng khoán Việt Nam đã phần nào khẳng định được vai trò tích cực đối với nền kinh tế. Thành công bước đầu đó là tổng hợp những nỗ lực của các chủ thể tham gia thị trường, trong đó, các trung gian tài chính là chủ thể quan trọng.

II. Các trung gian tài chính Việt Nam Khóa luận: Thực trạng của các trung gian tài chính trên TTCK.

1. Sơ lược về hệ thống tài chính Việt Nam

Trong giai đoạn những năm gần đây(2020-2026), Việt Nam đã tiến hành cải cách mạnh mẽ hệ thống tài chính. Một cải cách quan trọng hàng đầu là chuyển hoạt động của hệ thống ngân hàng theo mô hình hệ thống ngân hàng hai cấp. Việc tăng cường và hoàn thiện chức năng của Ngân hàng Trung ương đã góp phần quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu duy trì hệ thống tài chính vững mạnh và đáng tin cậy.

Việc hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ, góp phần quan trọng trong việc kiềm chế lạm phát và tạo đà cho tăng trưởng kinh tế. Các tổ chức tín dụng, đặc biệt là các ngân hàng thương mại đã thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ bước đầu có hiệu quả.

Việc điều hành Ngân sách nhà nước cũng đạt những thành tựu đáng khả quan với việc giảm bao cấp từ Ngân sách, chấm dứt việc phát hành tiền để bù đắp thiếu hụt Ngân sách. Thay vào đó, chính phủ phát hành các công cụ nợ để bù đắp thâm hụt Ngân sách và tài trợ cho đầu tư.

Hệ thống doanh nghiệp cũng được cải cách mạnh mẽ, tạo điều kiện mở rộng hoạt động của các trung gian tài chính. Các trung gian tài chính phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng.

2. Các ngân hàng thương mại

Các ngân hàng thương mại (NHTM) thực sự phát triển từ khi hai Pháp lệnh Ngân hàng Nhà Nước và Pháp lệnh Ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng, Công ty tài chính được ban hành năm 2010. Hệ thống ngân hàng Việt Nam chuyển sang thực hiện mô hình hai cấp và các NHTM thực sự trở thành tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ và tín dụng. Để tiếp tục cải cách hệ thống NHTM, Quốc hội đã thông qua Luật Các tổ chức tín dụng ngày 12/12/2017. Luật này bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/10/2018 đã tạo điều kiện cải cách mạnh mẽ hệ thống ngân hàng Việt Nam.

Mục tiêu đặt ra cho việc cải cách hệ thống NHTM là xây dựng một hệ thống ngân hàng vững mạnh làm cầu nối vững chắc cho sự phát triển kinh tế. Cải cách này hướng vào việc tăng cường công tác huy động vốn và cho vay nền kinh tế, thực hiện cơ chế an toàn trong hoạt động, tăng cường công tác kiểm soát, giám sát từ xa đối với hoạt động ngân hàng, cải tiến quản trị ngân hàng theo hướng gọn nhẹ, tăng cường khả năng cạnh tranh của các NHTM, phát triển các loại hình dịch vụ theo hướng ngân hàng đa năng. Khóa luận: Thực trạng của các trung gian tài chính trên TTCK.

Việc triển khai thực hiện Luật Các tổ chức tín dụng và cải cách các NHTM theo hướng phát triển ngân hàng đa năng đã tạo điều kiện nâng cao năng lực hoạt động của các tổ chức tín dụng nói chung và các NHTM nói riêng. thị trường chứng khoán xuất hiện tạo sức ép cạnh tranh mới, song cũng mở ra cơ hội mới đối với các tổ chức tín dụng. Việc thu hút sự tham gia của các NHTM trên thị trường chứng khoán sẽ là điều kiện để tăng tính hiệu quả của thị trường tài chính Việt Nam nói chung và chính hiệu quả hoạt động của các tổ chức tín dụng nói riêng.

Tuy nhiên, hệ thống NHTM Việt Nam vẫn còn chưa hoàn thiện, thể hiện trên các mặt sau:

  • Về thể chế

Điểm yếu rõ nhất về thể chế của ngành ngân hàng Việt Nam là thiếu một hệ thống pháp lý có thể bảo vệ các lợi ích của ngân hàng với tư cách là bên cho vay trong trường hợp khách hàng phá sản. Quyết định của tòa án cho phép bán các tài sản cầm cố nếu không trả được nợ vay lại không tính đến lợi ích của ngân hàng và quyền lợi của bên cho vay. Điều này làm cản trở hiệu quả trung gian tài chính, tăng chi phí cho vay vì các ngân hàng phải tăng dự phòng rủi ro để trang trải cho những khoản thất thoát vốn do cho vay không được hoàn trả.

  • Về cơ cấu

Phần lớn các vấn đề về cơ cấu của ngành ngân hàng Việt Nam được nhìn nhận ở nhóm NHTMQD và mối quan hệ của nhóm này với Chính phủ. Cụ thể là các NHTMQD vẫn được đối xử khác so với các nhóm ngân hàng khác và cũng chịu một cơ chế quản lý khác. NHTMQD phải giải trình với Chính phủ, và đổi lại các ngân hàng này được hưởng những lợi ích nhất định mà các doanh nghiệp ngoài quốc doanh không có được.

  • Về tài chính

Các kết quả kiểm toán độc lập chỉ ra rằng các ngân hàng Việt Nam đặc biệt là các NHTMQD không có tài chính lành mạnh, khả năng sinh lời kém và các chỉ tiêu chi phí cao hơn mức trung bình của khu vực. Với năng lực tài chính có hạn và nhu cầu rất lớn về vốn cho nền kinh tế, các ngân hàng chỉ có thể đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn mà chưa đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn. Trong khi đó, thị trường chứng khoán chưa phát triển đầy đủ, các doanh nghiệp chưa đủ minh bạch tài chính để huy động vốn theo kênh này, do vậy ngân hàng vẫn là lựa chọn duy nhất để tìm kiếm các khoản vốn trung và dài hạn. Hơn 80% nguồn vốn của doanh nghiệp là vay ngân hàng và hiện tại có khoảng 25% vốn ngắn hạn của ngân hàng được dành để cho vay dài hạn. Do đó, thị trường vốn cần phải được phát triển hơn nữa để cung cấp tài chính trung và dài hạn, còn các ngân hàng chỉ cung cấp vốn ngắn hạn, ví dụ như tín dụng thương mại.

  • Về kỹ thuật Khóa luận: Thực trạng của các trung gian tài chính trên TTCK.

Những điểm yếu kỹ thuật được thể hiện ở kỹ năng quản lý kém, phân tích tín dụng, quản trị rủi ro, công nghệ lạc hậu, thiếu việc chuẩn hóa chất lượng dịch vụ trong toàn mạng lưới và thiếu cơ cấu quản trị hiện đại ở các ngân hàng của Việt Nam. Do năng lực tài chính hạn chế, các ngân hàng chủ yếu cung cấp và hưởng lãi từ các dịch vụ tín dụng cơ bản và truyền thống tính đến năm 2023. So với các ngân hàng ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, lĩnh vực ngân hàng thương mại ở Việt Nam vẫn còn rất non trẻ, và bây giờ mới bắt đầu cung cấp các dịch vụ mà ngân hàng các nước phát triển đã cung cấp từ mấy thập kỷ nay (ví dụ cho vay cầm cố bằng hàng tồn kho)

Mặc dù với những yếu kém kể trên, song các NHTM vẫn là những trung gian tài chính lớn trên thị trường tài chính Việt Nam, vì thế tiềm năng về sự tham gia của các NHTM trên thị trường chứng khoán là rất lớn và cần được khai thác.

3. Các tổ chức bảo hiểm

Trước năm 1975, trên thị trường miền Nam Việt Nam đã có một số công ty bảo hiểm. Tại miền Bắc, ngày 15/01/1965 Công ty Bảo hiểm Việt Nam (gọi tắt là Bảo Việt) được thành lập và từng bước hoạt động ở trên toàn quốc. Cho đến nay, đây là công ty bảo hiểm lớn nhất Việt Nam và thống lĩnh toàn bộ thị trường bảo hiểm Việt Nam.

Cho đến tháng 12 năm 2013, với sự ra đời của Nghị định 100/CP ngày 18 tháng 12 năm 2013 quy định về hoạt động kinh doanh bảo hiểm, thị trường bảo hiểm Việt Nam đã có một bước chuyển biến lớn. Có thể nói đây là cột mốc quan trọng đánh dấu sự phát triển mới của ngành bảo hiểm Việt Nam. Đặc biệt, năm 2019 được coi là năm phát triển nhất của thị trường bảo hiểm với sự thành lập của 5 công ty bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài. Từ năm 2023 đến nay, thị trường bảo hiểm Việt Nam liên tục có những biến động lớn với sự sắp xếp và chuyển đổi của các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước:

  • Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) được tổ chức lại theo mô hình tập đoàn kinh doanh với các đơn vị thành viên hạch toán độc lập: Bảo hiểm Việt Nam chuyên kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ và Bảo hiểm Nhân thọ Việt Nam chuyên kinh doanh bảo hiểm nhân thọ.
  • Một số doanh nghiệp bảo hiểm và tái bảo hiểm nhà nước được chuyển đổi thành công ty cổ phần.
  • Một số các công ty cổ phần bảo hiểm và môi giới bảo hiểm được thành lập.

Đến đầu năm 2026, thị trường bảo hiểm Việt Nam đã sôi động hơn với sự tham gia của 31 doanh nghiệp đa dạng về loại hình và quy mô, hoạt động trong các lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm phi nhân thọ, tái bảo hiểm và môi giới bảo hiểm. Ngoài ra, còn có sự góp mặt của hơn 30 văn phòng đại diện của các tổ chức bảo hiểm nước ngoài.

  • Kết cấu thị trường bảo hiểm 2013-2025 Khóa luận: Thực trạng của các trung gian tài chính trên TTCK.

Thị trường bảo hiểm đang phát triển mạnh ở Việt Nam trong những năm gần đây. Thị trường này đã thu hút sự quan tâm của các công ty bảo hiểm trong nước và các công ty bảo hiểm nước ngoài, đặc biệt là đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ. Tuy nhiên, Việt Nam chưa có một chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm và chưa có sự phát triển cân đối giữa các công ty bảo hiểm trong nước với các công ty bảo hiểm nước ngoài. Trước xu thế hội nhập, việc tăng cường khả năng cạnh tranh của các công ty bảo hiểm Việt Nam là một yêu cầu cấp thiết.

Để điều tiết hoạt động kinh doanh bảo hiểm, Quốc Hội đã thông qua Luật Kinh doanh bảo hiểm ngày 9/12/2020. Luật này có hiệu lực từ ngày 1/4/2021.Chính Phủ cũng đã triển khai việc soạn thảo và đưa vào thực thi các văn bản hướng dẫn thi hành luật bao gồm Nghị định chi tiết thi hành một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm và Nghị định quy định chế độ tài chính đối với doanh nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.

Việc thu hút các tổ chức bảo hiểm tham gia thị trường chứng khoán có một ý nghĩa quan trọng cho việc phát triển thị trường. Với tính chất là tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng, các tổ chức bảo hiểm có thể lượng hoá được nhu cầu thanh toán chi trả các hợp đồng bảo hiểm nên phần vốn đầu tư của họ có thể được sử dụng để mua các chứng khoán như trái phiếu doanh nghiệp, cổ phiếu.

4. Các công ty chứng khoán

Các công ty chứng khoán là thành viên quan trọng của thị trường chứng khoán. Theo quy định được nêu trong Nghị định 144, điều 65, chương 8 về công ty chứng khoán thì các công ty chứng khoán phải là công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn đáp ứng các yêu cầu về phương án hoạt động kinh doanh phù hợp, về cơ sở vật chất, nhân sự, vốn pháp định. Các công ty chứng khoán có thể thực hiện các nghiệp vụ môi giới, tự doanh, quản lý danh mục đầu tư, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư chứng khoán nếu đáp ứng các yêu cầu về vốn pháp định và các yêu cầu khác cho từng loại hình kinh doanh.

Hiện đã có 18 công ty chứng khoán được thành lập và đang hoạt động trên thị trường chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và 15 công ty hoạt động trên thị trường chứng khoán Hà Nội.

Tuy nhiên, số lượng các công ty chứng khoán còn ít và lượng vốn chưa nhiều. Các công ty về cơ bản đã thực hiện khá đầy đủ các nghiệp vụ được cấp phép, song với quy mô thị trường còn quá nhỏ bé thì hiệu quả của các công ty này là thấp, mặc dù đã được hưởng các ưu đãi như thuế, phí thành viên, phí sử dụng các cơ sở vật chất kỹ thuật của Trung tâm v.v… Phần lớn các công ty chứng khoán được tổ chức theo mô hình công ty TNHH, do đó, không được phép phát hành cổ phiếu để huy động vốn. Việc tiếp tục phát triển về số lượng và hoạt động của các công ty chứng khoán là vấn đề cần quan tâm trong thời gian trước mắt.

5. Các quỹ đầu tư

Theo thống kê, tính đến ngày 21.9.2026 đã có hơn 20 quỹ đầu tư nước ngoài với tổng số vốn khoảng 2 tỷ USD đang hoạt động tại Việt Nam. Nổi bật trong số các các quỹ đầu tư nước ngoài công khai ý định đổ tiền vào thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian gần đây là các quỹ đầu tư của Hàn Quốc. Trong nước, điển hình có VF1.

Các quỹ đầu tư được chia thành hai loại, với quỹ đóng như VF1, VOF người bán và mua chứng chỉ tự tìm đến nhau không liên quan đến công ty quản lý quỹ, còn với quỹ mở thì công ty quản lý quỹ có trách nhiệm bán hoặc mua lại chứng chỉ cho nhà đầu tư khi họ có nhu cầu.

Nguyên nhân khiến thị trường bùng nổ là hoạt động kinh doanh của các quỹ đã khởi sắc trong 2 năm trở lại đây. Đơn cử như quỹ Veil do Dragon Capital có mặt tại VN đã 10 năm, nhưng 3 năm đầu tiền chủ yếu gửi ngân hàng, 3 năm sau thì bị mất vốn do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á (tiền VN bị mất giá so với USD), nhờ 2 năm gần đây đầu tư được quỹ đã hồi phục và có tỷ suất lợi nhuận trung bình 9%/năm.

Tuy nhiên, việc chuyển đổi mô hình hoạt động của quỹ theo hướng đa dạng hoá các loại hình hoạt động, kể cả các hoạt động trên thị trường chứng khoán là cần thiết.

6. Các công ty tài chính Khóa luận: Thực trạng của các trung gian tài chính trên TTCK.

Cùng với quá trình cải cách DNNN, một loại hình tổ chức tài chính mới đã xuất hiện trên thị trường tài chính Việt Nam. Đó là công ty tài chính – công ty thành viên trong các tổng công ty 91. Các công ty này có chức năng huy động và điều hòa vốn giữa các đơn vị thành viên và cán bộ công nhân viên trong tổng công ty và các đơn vị cùng ngành kinh tế kỹ thuật có quan hệ kinh doanh đối với tổng công ty, góp phần hỗ trợ đầu tư các dự án đổi mới kỹ thuật, công nghệ, tạo lập thị trường và tăng sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường nội địa và nước ngoài.

Hiện có 6 công ty tài chính đang hoạt động trên thị trường tài chính Việt Nam. Theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, công ty tài chính được xem là tổ chức tín dụng phi ngân hàng, là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một số hoạt động ngân hàng như là nội dung kinh doanh thường xuyên, nhưng không được nhận tiền gửi không kỳ hạn, không làm dịch vụ thanh toán. Đây chính là cơ hội phát triển cho các công ty tài chính Việt Nam. Việc hình thành và phát triển thị trường chứng khoán đã ra một lĩnh vực kinh doanh mới cho các trung gian tài chính, trong đó có các công ty tài chính.

Các phân tích trên cho thấy, các trung gian tài chính là đối tác quan trọng trên thị trường chứng khoán. Song, các trung gian tài chính Việt Nam thiếu về số lượng, loại hình và kém về chất lượng. Mặc dù chủ trương của Chính Phủ là phát triển các loại trung gian tài chính đa năng, nhưng tính đa năng của các trung gian tài chính chưa được thể hiện rõ nét. Loại hình trung gian phát triển nhất hiện nay là các NHTM. Song các NHTM lại chủ yếu độc canh trên lĩnh vực tín dụng, chất lượng tín dụng chưa cao đang là vấn đề cần giải quyết ngay. Các trung gian tài chính Việt Nam có quy mô nhỏ, cơ cấu tổ chức, điều hành kém và chất lượng đội ngũ cán bộ chưa cao.

III. Hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán Khóa luận: Thực trạng của các trung gian tài chính trên TTCK.

1. Cơ sở pháp lý về hoạt động của các trung gian tài chính

1.1. Nghị định 144/2023/NĐ-CP

Nghị định 144/2023/NĐ-CP là văn bản pháp lý cao nhất hiện tại về chứng khoán và thị trường chứng khoán (kể từ 1/1/2027 sẽ được thay thế bởi Luật Chứng khoán 2026). Trừ việc phát hành Trái phiếu Chính Phủ, việc phát hành chứng khoán ra công chúng để niêm yết trên thị trường chứng khoán tập trung phải được Uỷ ban Chứng khoán Nhà Nước cấp giấy phép. Tổ chức phát hành, tổ chức đại lý và tổ chức bảo lãnh phát hành không được tiến hành phân phối chứng khoán khi chưa thực hiện công bố việc phát hành và cung cấp Bản cáo bạch.

Như vậy, các trung gian tài chính, tuỳ theo tính chất của từng loại tổ chức, có thể thực hiện việc phát hành chứng khoán cho mình, đại lý, bảo lãnh phát hành, phân phối chứng khoán cho khách hàng, hoặc thực hiện vai trò ngân hàng tín thác, đại diện cho người sở hữu trái phiếu.

Tuy nhiên, trong hoạt động bảo lãnh, có ba hình thức bảo lãnh cơ bản là bảo lãnh cam kết chắc chắn, bảo lãnh cam kết tối đa và bảo lãnh cam kết tất cả hoặc không. Tuy nhiên hình thức bảo lãnh được nêu trong Nghị định được hiểu là, việc tổ chức bảo lãnh giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, nhận mua tất cả hoặc một phần chứng khoán của tổ chức phát hành để bán lại, hoặc mua số chứng khoán còn lại chưa phân phối hết. Thực chất của hình thức bảo lãnh này chính là hình thức bảo lãnh cam kết chắc chắn. Việc quy định hình thức bảo lãnh như vậy làm hạn chế khả năng chọn lựa của tổ chức phát hành cũng như hạn chế loại hình dịch vụ bảo lãnh của trung gian tài chính.

Nghị định cũng cần có quy định về trách nhiệm thông báo của các nhà đầu tư đối với Uỷ ban Chứng khoán, Trung tâm giao dịch và tổ chức phát hành khi số chứng khoán mà họ nắm giữ vượt quá một giới hạn cho trước.

Trong nghị định, các tổ chức tín dụng, công ty bảo hiểm muốn tham gia kinh doanh chứng khoán phải thành lập công ty chứng khoán độc lập và công ty này phải được Uỷ ban Chứng khoán cấp phép. Việc thực hiện mô hình tổ chức tín dụng đa năng một phần làm cho các tổ chức này không tận dụng triệt để lợi thế về cơ sở vật chất, trang bị, hệ thống chi nhánh, đội ngũ cán bộ cũng như gây trùng chéo về tổ chức và hoạt động. Khóa luận: Thực trạng của các trung gian tài chính trên TTCK.

Hiện nay, trong xu thế hội nhập quốc tế, sự phát triển các tổ chức tài chính theo hướng đa năng, khuyến khích cạnh tranh, chống độc quyền và phân biệt đối xử là một xu hướng có tính tất yếu. Việt Nam đang thực hiện các cam kết quốc tế và chuẩn bị gia nhập WTO, việc phát triển các tổ chức tài chính theo hướng đa năng là hết sức cần thiết.

Có thể nói, Nghị định 144 là cơ sở để vận hành thị trường tập trung. Tuy nhiên, Nghị định được soạn thảo và ban hành trong điều kiện thị trường chứng khoán Việt Nam mới hoạt động trong hai năm, nên còn có nhiếu sai sót. Vì thế, việc xây dựng và hoàn thiện văn bản cao hơn về chứng khoán là hết sức cần thiết. Đó cũng chính là lí do ra đời Luật Chứng khoán 2026, Luật này sẽ có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2027.

1.2. Luật Các tổ chức tín dụng

Luật Các tổ chức tín dụng đã được Quốc hội thông qua ngày 12/12/2017 và có hiệu lực từ ngày 1/10/2018. Luật đã thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà Nước trong việc phát triển các loại hình tổ chức tín dụng(nguon) là: Thứ nhất, thống nhất quản lý mọi hoạt động ngân hàng, xây dựng hệ thống các tổ chức tín dụng hiện đại, đủ sức đáp ứng nhu cầu vốn và dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế và dân cư, góp phần thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng, bảo vệ lợi ích hợp pháp của người gửi tiền.

Thứ hai, đầu tư vốn và các nguồn lực khác để phát triển các tổ chức tín dụng Nhà Nước, tạo điều kiện cho các tổ chức này giữ vai trò chủ đạo và chủ lực trên thị trường tiền tệ. Thứ ba, phát triển các ngân hàng chính sách hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, phục vụ người nghèo và các đối tượng chính sách khác, nhằm thực hiện các chính sách kinh tế – xã hội của Nhà Nước.

Thứ tư, bảo hộ quyền sở hữu, quyền và lợi ích hợp pháp khác trong hoạt động của các tổ chức tín dụng hợp tác nhằm tạo điều kiện cho người lao động tương trợ nhau trong sản xuất và đời sống. Thứ năm, xây dựng các ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân với các chính sách ưu đãi về vốn, lãi suất và các điều kiện vay vốn. Các quan điểm này là cơ sở quan trọng cho việc lành mạnh hoá và phát triển các tổ chức tín dụng.

Theo Luật Các tổ chức tín dụng, nếu được ngân hàng Nhà Nước cho phép, các tổ chức tín dụng có thể tham gia tất cả các hoạt động của thị trường chứng khoán, từ việc phát hành, kinh doanh, tư vấn, môi giới, quản lý danh mục đầu tư và quản lý quỹ đầu tư. Tuy nhiên, Luật mới chỉ là những quy định cơ bản, còn cần có các văn bản hướng dẫn chi tiết của Ngân hàng Nhà Nước, các Bộ, các Ngành liên quan.

1.3. Luật kinh doanh bảo hiểm

Luật Kinh doanh bảo hiểm được Quốc hội thông qua ngày 9/12/2020 và bắt đầu có hiệu lực từ 1/4/2021. Phạm vi điều chỉnh của luật này là các tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm, xác định quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm. Luật này không áp dụng đối với bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tiền gửi và các loại bảo hiểm khác do Nhà Nước thực hiện không mang tính kinh doanh. Khóa luận: Thực trạng của các trung gian tài chính trên TTCK.

Theo quy định của pháp luật, doanh nghiệp bảo hiểm là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm và tái bảo hiểm. Các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm, doanh nghiệp bảo hiểm Nhà Nước, công ty cổ phần bảo hiểm, tổ chức bảo hiểm tương hỗ, doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh và doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài.

Trong các nội dung hoạt động được đề cập trong Luật, doanh nghiệp bảo hiểm được thực hiện nghiệp vụ quản lý quỹ và đầu tư vốn. Việc đầu tư vốn của doanh nghiệp bảo hiểm được nhấn mạnh tính an toàn, hiệu quả và đáp ứng được yêu cầu chi trả thường xuyên cho các cam kết theo hợp đồng bảo hiểm.

Các tổ chức này chỉ được sử dụng vốn nhàn rỗi của mình để đầu tư ở Việt Nam trong các lĩnh vực: Mua trái phiếu của Chính Phủ, mua cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp, kinh doanh bất động sản, góp vốn vào doanh nghiệp khác, cho vay theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và gửi tiền tại tổ chức tín dụng.

Với mục đích duy trì khả năng thanh toán, Chính Phủ quy định cụ thể danh mục đầu tư và tỷ lệ đầu tư đối với doanh nghiệp bảo hiểm. Về nghiệp vụ phát hành chứng khoán, các doanh nghiệp cổ phần bảo hiểm chịu sự điều tiết của Luật Doanh nghiệp nên có thể phát hành cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp. Các doanh nghiệp bảo hiểm Nhà Nước có thể phát hành cổ phiếu, trái phiếu theo Luật DNNN.

Tóm lại, các tổ chức bảo hiểm là các trung gian tài chính có khả năng lớn trong việc tham gia các hoạt động đầu tư trên thị trường chứng khoán. Đây là các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng nên có thể dễ dàng lượng hoá các hoạt động chi trả và có thể đầu tư vào các chứng khoán có độ thanh khoản thấp như trái phiếu doanh nghiệp, cổ phiếu. Các tổ chức này cũng dễ tiếp cận khách hàng và phát triển các nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư, quản lý quỹ đầu tư hoặc các nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán.

1.4. Luật Doanh nghiệp

Luật Doanh nghiệp được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2025 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/7/2026 thay thế cho Luật doanh nghiệp 2019. Luật này quy định về việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân thuộc mọi thành phần kinh tế (sau đây gọi chung là doanh nghiệp); quy định về nhóm công ty.

Luật Doanh nghiệp điều tiết hoạt động phát hành và kinh doanh chứng khoán của các công ty cổ phần và theo tinh thần của Luật, các trung gian tài chính có thể tham gia góp vốn, chuyển nhượng cổ phần, đại lý, bảo lãnh phát hành. Các hoạt động này của các trung gian tài chính nếu có sự khác nhau trong quy định giữa Luật Doanh nghiệp và Luật chuyên ngành sẽ được điều tiết theo Luật chuyên ngành.

Tuy nhiên, việc phát hành chứng khoán, Điều 88 của Luật quy định, công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán và điều lệ công ty. Song Luật chưa quy định cụ thể cách thức phát hành chứng khoán riêng lẻ nên chưa tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp phát hành cũng như việc thực hiện các nghiệp vụ đại lý, bảo lãnh của các trung gian tài chính. Khóa luận: Thực trạng của các trung gian tài chính trên TTCK.

Tóm lại, trong thời gian qua, Việt Nam đã có nhiều cố gắng trong việc soạn thảo, phê chuẩn và ban hành các văn bản pháp luật để điều chỉnh các hoạt động theo kịp với sự thay đổi của môi trường kinh tế. Điều này đã tạo điều kiện tốt cho sự phát triển của thị trường tài chính nói chung và các trung gian tài chính nói riêng.

Các quy định về chứng khoán và phát hành chứng khoán, các quy định về giao dịch và kinh doanh chứng khoán, các quy định về quản lý, giám sát và thanh tra chứng khoán được đề cập tới trong cả Nghị định về chứng khoán và thị trường chứng khoán, Luật Doanh nghiệp, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Kinh doanh bảo hiểm, quy định về phát hành Trái phiếu Chính Phủ cũng như trong các Nghị định, Thông tư, Quyết định, hướng dẫn của các cơ quan quản lý Nhà Nước. Tuy nhiên, các quy định pháp luật liên quan còn tồn tại một số vấn đề cần nghiên cứu giải quyết.

Với các văn bản quy phạm pháp luật nói trên, Việt Nam đã bước đầu thiết lập được cơ sở pháp lý cho các hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán.

2. Hoạt động phát hành chứng khoán

Như đã phân tích ở phần trước, điểm yếu kém nhất của các trung gian tài chính Việt Nam là quy mô vốn quá nhỏ bé. thị trường chứng khoán chính là nơi cung cấp vốn quan trọng cho các doanh nghiệp, trong đó có các trung gian tài chính. Trong một thời gian không dài, các trung gian tài chính đã huy động được hàng trăm ngàn tỷ đồng qua thị trường chứng khoán, trong đó chủ yếu dưới hình thức phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Điều này cho thấy tiềm năng huy động vốn rất lớn của các trung gian tài chính trên thị trường. Việc huy động vốn trên thị trường chứng khoán là yếu tố quan trọng để tăng vốn chủ sở hữu của các trung gian tài chính.

Loại trung gian tài chính cổ phần đông đảo nhất là các NHTM cổ phần. Vốn góp của các ngân hàng này chủ yếu là hùn vốn của các NHTM Nhà Nước, của các tổng công ty Nhà Nước và một số cổ đông lớn. Phần lớn các trung gian tài chính cổ phần có lượng vốn nhỏ, tính thanh khoản của các cổ phiếu thấp.

Chính Phủ Việt Nam đã và đang thực hiện cải cách hệ thống các ngân hàng cổ phần và một nội dung quan trọng của cải cách chính là tăng vốn chủ sở hữu của các ngân hàng này. Song do sợ chia sẻ hoặc bị quyền kiểm soát, các ngân hàng này không muốn phát hành cổ phiếu ra công chúng để huy động vốn.

Theo luật định, các trung gian tài chính Nhà Nước và trung gian tài chính cổ phần có thể phát hành trái phiếu để huy động vốn. Trong thời gian qua, một số trung gian tài chính đã phát hành trái phiếu khá thành công, tiêu biểu là Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Các trái phiếu có thời hạn chủ yếu từ 2 đến 7 năm, huy động tiền đồng Việt Nam hoặc Đô la Mỹ, có lãi suất cố định hoặc lãi suất thả nổi, với các hình thức trái phiếu ghi danh, trái phiếu vô danh và trái phiếu ghi sổ. Khóa luận: Thực trạng của các trung gian tài chính trên TTCK.

Ngày 14 và 15/12/2025: Vietcombank phát hành thành công 1.365 tỷ trái phiếu tăng vốn, nâng tổng số vốn tự có của Vietcombank cuối năm 2025 lên mức 9.000 tỷ đồng

Có thể nói, nhu cầu vốn trung hạn và dài hạn là rất lớn và để thúc đẩy hoạt động cho vay trung và dài hạn của các NHTM, Ngân hàng Nhà Nước đã cho phép các ngân hàng được sử dụng một phần vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn. Việc phát hành trái phiếu sẽ làm tăng nguồn vốn dài hạn của các NHTM.

Đối với trái phiếu, lãi suất là yếu tố hấp dẫn chủ yếu đối với công chúng đầu tư. Các trái phiếu trung và dài hạn có độ rủi ro lãi suất lớn trong khi lãi suất trên thị trường không ổn định. Hơn nữa, Việt Nam chưa triệt để thực hiện tự do hoá lãi suất, lãi suất chưa phản ánh đúng lãi suất trên thị trường. Tỷ giá biến động theo hướng Việt Nam đồng bị mất giá cũng là nhân tố gây sự không an tâm đối với các nhà đầu tư.

Thị trường tài chính chưa phát triển làm cho các tổ chức phát hành không xác định được chính xác yếu tố chi phí vốn và khả năng phát hành thành công sẽ không cao. Các nhân tố này ảnh hưởng không nhỏ, hạn chế khả năng phát hành trái phiếu của các trung gian tài chính.

Các trung gian tài chính đã huy động được hàng trăm ngàn tỷ đồng qua phát hành trái phiếu là một thành công đáng kể trong việc tăng cường huy động vốn trung hạn.

Việc thúc đẩy các trung gian tài chính huy động vốn trên thị trường chứng khoán là giải pháp quan trọng để tăng vốn chủ sở hữu, tăng vốn hoạt động của các tổ chức này, đồng thời, qua việc phát hành chứng khoán của các trung gian tài chính sẽ cung cấp các hàng hoá có chất lượng cho thị trường chứng khoán Việt Nam.

3. Hoạt động kinh doanh chứng khoán Khóa luận: Thực trạng của các trung gian tài chính trên TTCK.

Hoạt động kinh doanh chứng khoán có thể do các ngân hàng thương mại, các quỹ đầu tư, các công ty chứng khoán thực hiện. Tuy nhiên, ở đây trong phạm vi của khóa luận cho phép, tôi chỉ đề cập đến hoạt động kinh doanh của các công ty chứng khoán.

Hiện nay tất cả 18 công ty chứng khoán được cấp giấy phép thực hiện nghiệp vụ tự doanh. Các công ty chứng khoán này mua chứng khoán niêm yết và cả chứng khoán không niêm yết lô lẻ trên cơ sở thoả thuận về giá cả, sau đó tập hợp lại thành lô chẵn để bán trên thị trường chính thức.

Theo Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội, trong tháng 8 hoạt động tự doanh của các công ty chứng khoán tăng mạnh. Tổng giá trị kinh doanh chứng khoán của các thành viên tại sàn Hà Nội tăng 90% so với tháng 7.

Ví dụ công ty chứng khoán Bảo Việt (BVSC), trước những diễn biến thuân lợi của thị trường cùng với chiến lược tự doanh linh hoạt, hoạt động tự doanh của BVSC trong năm 2025 đã gặt hái được những kết quả to lớn. Đặc biệt, sự phát triển sôi động của thị trường OTC là cơ hội tốt để BVSC nâng cao hiệu quả của hoạt động tự doanh lên một bước phát triển hơn hẳn so với năm 2024. Lãi vốn từ hoạt động tự doanh cổ phiếu đạt trên 1,3 tỷ đồng, bằng 111% so với năm 2024. Với mảng kinh doanh trái phiếu, BVSC đã thực hiện phân tích biến động thị trường lãi suất và áp dụng chiến lược mua bán hợp lý, tạo được lãi vốn hoạt động tự doanh trái phiếu trên 400 triệu đồng. Tổng lãi thu được từ hoạt động tự doanh trong năm 2025 (bao gồm cả lãi cổ tức, trái tức) của BVSC đạt xấp xỉ 5 tỷ đồng tỷ đồng, đạt 137% kế hoạch năm và bằng 115% so với năm 2024.

Tóm lại, hoạt động kinh doanh chứng khoán là một tiềm năng lớn của các trung gian tài chính Việt Nam. Các trung gian tài chính đã đầu tư hàng ngàn tỷ đồng trên thị trường chứng khoán và các tổ chức này đều có danh mục đầu tư chứng khoán khá quy mô. Danh mục đầu tư của các tổ chức này cũng khá đa dạng.

Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh chứng khoán của các trung gian tài chính còn hạn chế là do thị trường chứng khoán chưa phát triển, thiếu các công cụ đầu tư có chất lượng để đáp ứng nhu cầu đầu tư của các trung gian tài chính. Hơn nữa, thị trường chứng khoán là một lĩnh vực đầu tư tương đối mới đối với các trung gian tài chính Việt Nam. Trình độ của cán bộ chưa cao, tâm lý ngại mạo hiểm và thiếu năng động trong việc tìm kiếm các hoạt động đầu tư mới, sự hạn chế của các cơ quan quản lý Nhà Nước là những nhân tố cản trở đối với hoạt động kinh doanh chứng khoán của các tổ chức này.

4. Hoạt động đại lý, bảo lãnh phát hành chứng khoán

Đại lý, bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc các trung gian tài chính hỗ trợ cho các tổ chức phát hành trong việc thực hiện các thủ tục và thực hiện phân phối chứng khoán tới công chúng đầu tư. Nghiệp vụ này mang lại thu nhập quan trọng cho các trung gian tài chính dưới dạng hoa hồng và có thể cả chênh lệch giá chứng khoán khi trung gian thực hiện bảo lãnh cam kết chắc chắn và bao tiêu chứng khoán. Việc mở rộng hoạt động này phụ thuộc rất nhiều vào nhu cầu phát hành chứng khoán của các tổ chức phát hành.

Có thể nói, nhu cầu vốn của các doanh nghiệp Việt Nam là rất lớn, và như đã phân tích ở trên, các công ty cổ phần có thể phát hành cả cổ phiếu lẫn trái phiếu, các DNNN, các quỹ đầu tư phát triển có thể phát hành trái phiếu. Chẳng hạn đối với việc phát hành trái phiếu của DNNN, thời gian qua đã có một số doanh nghiệp thử nghiệm phát hành trái phiếu, như việc Ngân hàng Ngoại thương phát hành trái phiếu ngân hàng kèm theo điều kiện sau một thời gian có thể chuyển đổi thành cổ phần của Ngân hàng đã thu hút được khá nhiều người dân tham gia. Khóa luận: Thực trạng của các trung gian tài chính trên TTCK.

Tuy nhiên, trên thực tế, do khả năng huy động trên thị trường chưa cao nên các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chủ yếu tìm kiếm nguồn vốn bằng cách vay các NHTM hoặc các quỹ đầu tư phát triển. Mặt khác, các NHTM vẫn tập trung độc canh trên lĩnh vực tín dụng nên chưa có sự nỗ lực hỗ trợ cho các doanh nghiệp huy động vốn qua hình thức này.

Hiện nay, theo chủ trương cải cách hệ thống các NHTM của chính phủ, để tăng nguồn vốn của mình, các NHTM sẽ phát hành cổ phiếu để nâng vốn chủ sở hữu, đồng thời các ngân hàng sẽ tăng cường phát hành trái phiếu để huy động vốn trung và dài hạn. Các tổng công ty cũng đang trong quá trình cải cách và phát hành trái phiếu là một hình thức huy động vốn cần quan tâm. Đây là cơ hội để các trung gian tài chính phát triển nghiệp vụ đại lý, bảo lãnh phát hành chứng khoán.

5. Hoạt động tư vấn, môi giới chứng khoán

Hoạt động tư vấn đã bắt đầu được sự quan tâm phát triển tại các trung gian tài chính. Tuy nhiên các hoạt động này còn đơn điệu, chưa có chiến lược phát triển rõ ràng. Hình thức tư vấn còn đơn giản, thông tin còn nghèo nàn và chất lượng chưa cao, chủ yếu qua các tạp chí, chuyên san hoặc qua các Web Site. Một số các trung gian tài chính đã thực hiện tư vấn cổ phần hoá, tư vấn tài chính doanh nghiệp.

Hoạt động môi giới chứng khoán là một đặc quyền của các công ty chứng khoán. Cả 18 công ty chứng khoán đều có giấy phép thực hiện nghiệp vụ tư vấn và môi giới, song nghiệp vụ môi giới, tư vấn của các trung gian tài chính mới đang ở giai đoạn triển khai, còn đơn giản, tính chủ động chưa cao.

Tuy nhiên, với đội ngũ môi giới còn mỏng, chất lượng môi giới chưa cao, việc phát triển hoạt động môi giới trong thời gian qua là một thành công đáng kể của các công ty chứng khoán. Doanh thu từ hoạt động môi giới của các công ty chứng khoán có sự tăng trưởng đáng kể. Trong năm qua, hoạt động môi giới của BVSC gặt hái được nhiều thành công và duy trỡ vị trí là một công ty chứng khoán có thị phần thuộc top đầu. Số lượng tài khoản khách hàng mở tại BVSC đó đạt mức trên 7.000 tài khoản, tăng hơn 50% so với năm 2024. Tuy nhiên, vị trí hàng đầu thuộc về SSI với thị phần 22% tại TTGDCK TPHCM, 52,74% tại sàn Hà Nội. Merrill Lynch đang làm thủ tục đăng ký giao dịch tại sàn TPHCM đó chọn SSI làm nơi mở tài khoản. Một số lớn các nhà đầu tư Nhật từ nước họ, đặt lệnh mua bán chứng khoán Việt Nam thông qua fax, điện thoại, e-mail với sự môi giới của nhân viên SSI.

Trong thời gian tới, Việt Nam nên thành lập Hiệp hội môi giới và kinh doanh chứng khoán vì điều này ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động môi giới.

6. Hoạt động quản lý danh mục đầu tư và quản lý quỹ đầu tư chứng khoán

Hoạt động quản lý danh mục đầu tư chứng khoán còn chưa phát triển ở Việt Nam. Hiện có tổng cộng 6 công ty quản lí quỹ đầu tư được cấp phép hoạt động.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, mô hình quỹ đầu tư tại Việt Nam là mô hình tín thác. Vì thế, mô hình này chỉ có thể thực hiện được khi công chúng tin tưởng cao vào các trung gian tài chính. thị trường chứng khoán phải phát triển, tạo sự sẵn có của các chứng khoán chất lượng cao và có khả năng chuyển đổi tốt. Mặt khác, hệ thống pháp luật phải hoàn thiện, hệ thống công bố thông tin, hệ thống giám sát thị trường phải phát triển và hoàn thiện để bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư.

IV. Đánh giá hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam Khóa luận: Thực trạng của các trung gian tài chính trên TTCK.

1. Kết quả hoạt động

Các phân tích trên đây về các loại hình trung gian tài chính và các hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán cho thấy, tiềm năng về sự tham gia của các trung gian tài chính trên thị trường là rất lớn, thể hiện cụ thể trên các mặt sau:

Thứ nhất, sự đa dạng các loại hình trung gian tài chính. Thời gian qua, đổi mới kinh tế thành công đã tạo điều kiện phát triển về cả số lượng và loại hình các trung gian tài chính. Chủ trương của Chính Phủ trong việc phát triển các trung gian tài chính theo hướng đa dạng hoá các loại hình, đa năng hoá hoạt động và tăng cường xã hội hoá hoạt động tài chính đã được thể hiện trong chính sách phát triển, trong các cơ chế và hệ thống luật pháp.

Chủ trương này đã tạo điều kiện cho việc hình thành và phát triển đa dạng các loại hình sở hữu trung gian tài chính như: các trung gian tài chính Nhà Nước; trung gian tài chính cổ phần; trung gian tài chính trách nhiệm hữu hạn; trung gian tài chính liên doanh; trung gian tài chính nước ngoài. Nhiều loại hình trung gian tài chính mới cũng được thành lập như: các công ty tài chính; các công ty thuê mua; các công ty chứng khoán. Số lượng các trung gian tài chính ngày càng tăng.

Thứ hai, chất lượng hoạt động của các trung gian tài chính phần nào được đảm bảo. Sự gia tăng số lượng và các loại hình trung gian tài chính đã làm tăng tính cạnh tranh trên thị trường tài chính. Các trung gian tài chính tài chính đã tiếp cận và chuyển các hoạt động theo cơ chế thị trường, năng động hơn trong việc phát triển các nghiệp vụ mới và thay đổi phương thức phục vụ.

Thứ ba, tiềm lực của các trung gian tài chính khá vững mạnh. Các trung gian tài chính có quy mô vốn ngày càng tăng, có cơ sở vật chất kỹ thuật tốt, có đội ngũ cán bộ có chất lượng khá, có mạng lưới chi nhánh rộng khắp và có quan hệ truyền thống với các doanh nghiệp và khu vực dân cư. Tình hình tài chính của các trung gian tài chính đang được lành mạnh hóa. Thành công của đổi mới kinh tế, của cải cách Ngân sách Nhà Nước, của cải cách doanh nghiệp, sự tăng lên trong mức sống dân cư tạo những điều kiện phát triển mới cho các trung gian tài chính. Khóa luận: Thực trạng của các trung gian tài chính trên TTCK.

TTCK được thành lập đã tạo lĩnh vực kinh doanh mới đối với các trung gian tài chính Việt Nam. Ngay từ khi thị trường mới được thành lập, các trung gian tài chính đã tham gia thị trường chứng khoán bằng các hoạt động vốn có của các trung gian tài chính như: các hoạt động huy động vốn; hoạt động ngân quỹ và đầu tư chứng khoán; hoạt động đại lý và bảo lãnh phát hành chứng khoán; hoạt động tư vấn và môi giới chứng khoán; hoạt động thanh toán, lưu ký và cho vay.

Có thể nói, các trung gian tài chính đã tham gia gần như đầy đủ các loại hình hoạt động của thị trường. Các hướng phát triển các nghiệp vụ mới của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán đã được xác lập và nghiên cứu thử nghiệm. Các hoạt động này đã đóng góp quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam. Có thể tóm lược kết quả các hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán như sau:

Thứ nhất, hoạt động phát hành chứng khoán đã bước đầu tạo lập được lượng hàng hoá quan trọng cho thị trường chứng khoán. Các trung gian tài chính đã huy động được hàng trăm ngàn tỷ đồng thông qua phát hành cổ phiếu và trái phiếu. Các chứng khoán này là lượng hàng hoá có chất lượng khá và được ưa chuộng trên thị trường chứng khoán. Cổ phiếu do các NHTM cổ phần phát hành đã thu hút sự tham gia của nhiều tổ chức kinh tế và cá nhân cũng như các nhà đầu tư nước ngoài.

Thứ hai, hoạt động kinh doanh chứng khoán đã được triển khai khá tốt, góp phần tạo hiệu quả cho thị trường và thực hiện đa dạng hoá hoạt động của các trung gian tài chính. Các trung gian tài chính thực hiện hoạt động kinh doanh chứng khoán trong cả hai loại hoạt động: Hoạt động ngân quỹ và hoạt động đầu tư chứng khoán. Danh mục đầu tư của các trung gian tài chính chủ yếu là tín phiếu và trái phiếu Chính Phủ. Ngoài ra, các trung gian tài chính còn đầu tư cổ phiếu của các NHTM cổ phần theo hình thức đầu tư góp vốn hoặc đầu tư mua lại. Đây chính là những thử nghiệm quan trọng cho việc phát triển nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán cuả các trung gian tài chính sau này.

Thứ ba, hoạt động đại lý, bảo lãnh phát hành chứng khoán được triển khai khá tốt, tạo cơ sở tăng hàng hoá cho thị trường và hỗ trợ nhà phát hành huy động vốn. Các trung gian tài chính đã tích cực hỗ trợ Chính Phủ huy động hàng trăm ngàn tỷ đồng trái phiếu, tín phiếu Kho Bạc. Phương thức đại lý phát hành trái phiếu doanh nghiệp đã bước đầu được triển khai có hiệu quả.

Thứ tư, hoạt động tư vấn, môi giới chứng khoán phát triển khá mạnh. Doanh thu của các công ty chứng khoán từ hoạt động môi giới có xu hướng tăng trưởng tốt, chất lượng hoạt động môi giới được phần nào cải thiện. Các trung gian tài chính đều quan tâm tới phát triển hoạt động tư vấn, đặc biệt là hình thức tư vấn gián tiếp thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua các chuyên san hoặc qua Website. Hoạt động này đã đóng góp quan trọng cho việc nâng cao kiến thức và cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư và các tổ chức phát hành.

Thứ năm, các hoạt động khác được triển khai khá tốt. Một số trung gian tài chính tài chính đã thực hiện cho vay cầm cố chứng khoán và cho vay ứng trước cho khác hàng bán chứng khoán. Các hoạt động này làm tăng uy tín của trung gian tài chính, tạo điều kiện tốt hơn cho các giao dịch của khách hàng.

Có thể thấy, hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán đã góp phần quan trọng trong việc vận hành bước đầu của thị trường cũng như làm tăng thu nhập đáng kể đối với các trung gian tài chính.

2. Hạn chế và nguyên nhân Khóa luận: Thực trạng của các trung gian tài chính trên TTCK.

2.1. Hạn chế

Bên cạnh những thành tựu trên, sự tham gia của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán còn hạn hẹp. Cụ thể:

Thứ nhất, phạm vi hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán còn đơn điệu, thể hiện ở hầu hết các hoạt động như phát hành chứng khoán, kinh doanh chứng khoán, tư vấn, đại lý, bảo lãnh phát hành chứng khoán. Nhiều hoạt động còn chưa được các trung gian tài chính triển khai như bảo lãnh phát hành ra công chúng, quản lý danh mục đầu tư và quản lý quỹ đầu tư chứng khoán.

Thứ hai, quy mô của các hoạt động còn nhỏ, là chưa tương xứng với tiềm năng.

Thứ ba, chất lượng các hoạt động còn chưa cao. Các nghiệp vụ của các trung gian tài chính còn đơn giản, thiếu tính chuyên nghiệp. Nhiều trung gian tài chính chưa có bộ phận chuyên trách trong kinh doanh chứng khoán.

Những hạn chế trên là một trong những nguyên nhân làm giảm tính sôi động và hiệu quả của thị trường. Theo đánh giá của Tiến sỹ Vũ Bằng(nguon), thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn còn thiếu vắng sự tham gia của các tổ chức chuyên nghiệp như các quỹ đầu tư, các ngân hàng bảo lãnh phát hành..-mà hệ quả trực tiếp là tính chuyên nghiệp của thị trường chứng khoán chưa cao.

2.2. Nguyên nhân

Nguyên nhân cơ bản cản trở sự tham gia của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán bao gồm các nguyên nhân trực tiếp từ phía các trung gian tài chính và các nguyên nhân khác từ bên ngoài.

  • a) Các nguyên nhân trực tiếp từ phía các trung gian tài chính

Hoạt động hạn chế của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán trước hết là do các nguyên nhân trực tiếp từ phía các trung gian tài chính.

Thứ nhất, tiềm lực tài chính thấp. Quy mô vốn chủ sở hữu của các trung gian tài chính còn quá nhỏ bé. Các NHTM nhà nước có quy mô vốn chủ sở hữu lớn nhất, song lại phân tán ở hệ thống các chi nhánh trải khắp các địa phương. Mặt khác, do yếu kém trong quản trị điều hành, lượng vốn khả dụng cho đầu tư chứng khoán thấp. Tình trạng nợ xấu, nợ tồn đọng cũng là nguyên nhân làm giảm tiềm lực tài chính của các trung gian tài chính.

Thứ hai, sự chậm đổi mới tư duy kinh tế. Do ảnh hưởng nặng nề của cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp, các trung gian tài chính Việt Nam chủ yếu tập trung hoạt động trên thị trường truyền thống và rủi ro trong hoạt động là rất cao. Tính chủ động trong việc tìm kiếm và triển khai các hoạt động mới yếu, hoạt động thiếu năng động, trông chờ vào sự chỉ đạo, định hướng của cấp trên. Hệ thống quản lý của các trung gian tài chính còn yếu kém, trình độ, năng lực cán bộ còn nhiều hạn chế, quy chế chỉ đạo giám sát và kiểm soát hoạt động còn chồng chéo, nặng về hành chính gây ảnh hưởng lớn đến tính tự chủ của các chi nhánh.

Thứ ba, năng lực cạnh tranh thấp. Các trung gian tài chính Việt Nam có năng lực cạnh tranh thấp, chưa xây dựng được nét đẹp văn hoá trong kinh doanh. Phong cách phục vụ kém, chất lượng cán bộ chưa cao, tổ chức và điều hành chưa hoàn thiện, công nghệ thấp là các nguyên nhân làm giảm năng lực cạnh tranh của các trung gian tài chính Việt Nam.

Các trung gian tài chính nước ngoài ở Việt Nam chưa phát triển vì thị trường Việt Nam mới được mở cửa và chưa hẳn là hấp dẫn đối với trung gian tài chính nước ngoài. Hơn nữa, các hạn chế do Chính Phủ đặt ra, tính phức tạp trong các thủ tục hành chính cũng ngăn cản việc thành lập các trung gian tài chính nước ngoài và hoạt động của các tổ chức này tại Việt Nam.

  • b) Các nguyên nhân khác từ bên ngoài Khóa luận: Thực trạng của các trung gian tài chính trên TTCK.

Ngoài các nguyên nhân trực tiếp từ phía các trung gian tài chính, hoạt động hạn chế của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán còn do các nguyên nhân từ phía bên ngoài như: sự phát triển thiếu vững chắc của nền kinh tế; sự kém phát triển của thị trường chứng khoán; khung pháp lý thiếu hoàn thiện; sự phối kết hợp của các cơ quan quản lý Nhà Nước thiếu chặt chẽ; kiến thức hạn chế của các nhà đầu tư.

Thứ nhất, sự kém phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam. thị trường chứng khoán Việt Nam mới được hình thành, thị trường chính thức mới đang ở giai đoạn thử nghiệm, các doanh nghiệp và nhà đầu tư đang làm quen với một phương thức đầu tư mới.

Nhiều doanh nghiệp chưa thực hiện huy động vốn trên thị trường, do đó, lượng hàng hoá của thị trường còn ít, chất lượng của hàng hoá không cao. Điều này gây khó khăn cho việc sàng lọc, lựa chọn và thay đổi kết cấu các danh mục đầu tư của các trung gian tài chính cũng như tạo được ít cơ hội để các trung gian tài chính thực hiện các nghiệp vụ đại lý, bảo lãnh phát hành, quản lý danh mục đầu tư và quản lý quỹ đầu tư.

Do số lượng các nhà đầu tư không nhiều, các trung gian cũng chưa có cơ hội phát triển các hoạt động môi giới, tư vấn, cho vay và cho vay chứng khoán, thanh toán. Đồng thời, với quan điểm thận trọng trong việc phát triển thị trường, cơ quan quản lý thị trường cũng dè dặt trong việc cho phép các trung gian tài chính tham gia vào thị trường chứng khoán.

Thiếu vắng các trung gian tài chính đảm nhiệm vai trò tạo thị trường là nguyên nhân dẫn tới giá chứng khoán không ổn định và tách rời giá trị thực của nó như trong thời gian qua. Hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường với vai trò là các nhà tạo thị trường là hết sức cần thiết.

  • Thứ hai, khung pháp lý chưa được đầy đủ, thiếu tính đồng bộ và còn quá phức tạp.

Thứ ba, sự phối kết hợp của các cơ quan quản lý Nhà Nước thiếu chặt chẽ. Các trung gian tài chính chịu sự quản lý của nhiều cơ quan quản lý Nhà Nước như Ngân hàng nhà nước, Bộ Tài chính, Uỷ ban chứng khoán Nhà Nước, Bộ Kế hoạch Đầu tư, các bộ chủ quản. Trong thời gian qua, sự phối kết hợp này là thiếu chặt chẽ và thống nhất, cản trở không ít sự tham gia của các trung gian tài chính trên thị trường. Khóa luận: Thực trạng của các trung gian tài chính trên TTCK.

Vai trò của Chính Phủ trong giai đoạn đầu phát triển của thị trường là rất lớn và cần thiết. Các chế độ ưu đãi về thuế, về thủ tục hành chính là cần thiết, song chưa đủ. Chính Phủ cần có những “cú hích” để tạo đà phát triển của thị trường và cần có sức ép để các trung gian tài chính tham gia thị trường đối với một số hoạt động.

Hoạt động quản lý, điều hành của cơ quan quản lý thị trường như Uỷ ban Chứng khoán Nhà Nước, Trung tâm giao dịch chứng khoán thiếu đồng bộ, còn bị động, đôi khi nặng tính hành chính và quan liêu và chưa quan tâm thu hút các trung gian tài chính tham gia thị trường. Việt Nam hiện nay chưa có một chiến lược dài hạn trong việc phát triển thị trường chứng khoán và đây chính là nguyên nhân làm cho hoạt động quản lý, điều hành của Uỷ ban và Trung tâm kém hiệu quả.

Thứ tư, kiến thức hạn chế của các nhà đầu tư, sự thiếu thông tin, thiếu lòng tin đã cản trở họ trong việc sử dụng các dịch vụ của các trung gian tài chính. Mặc dù trong thời gian qua, dân trí đã được cải thiện một cách đáng kể, song các nhà đầu tư chưa được đào tạo những kiến thức cơ bản về lĩnh vực đầu tư chứng khoán. Một bộ phận các nhà đầu tư còn có ảo tưởng về một cơ hội làm giàu một cách nhanh chóng nhờ đầu tư trên thị trường chứng khoán, coi thị trường như một “sòng bạc” hoặc tham gia đầu tư như một thú chơi thời thượng và tổn thất đối với họ là điều khó tránh khỏi.

Trong khi đó, hoạt động quảng cáo, tuyên truyền giới thiệu, tư vấn của các trung gian tài chính cũng như từ phía Uỷ ban chứng khoán và Trung tâm chậm triển khai và thiếu hiệu quả. Cần giúp cho các nhà đầu tư hiểu rõ lợi ích của tính chuyên nghiệp trong hoạt động đầu tư, hướng cho họ quan tâm tới đầu tư dài hạn hơn là ngắn hạn, đồng thời giới thiệu cho họ về các dịch vụ tài chính cần thiết cho hoạt động đầu tư. Khóa luận: Thực trạng của các trung gian tài chính trên TTCK.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Giải pháp của các trung gian tài chính trên TTCK

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x