Khóa luận: Thực trạng dịch vụ logistics của công ty Vietfracht

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng dịch vụ logistics của công ty Vietfracht hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Tình hình kinh doanh dịch vụ logistics của công ty Vietfracht dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

I. Tổng quan về thị trường dịch vụ logistics Việt Nam

1. Cầu dịch vụ logistics trên thị trường Việt Nam

Hoạt động logistics có ý nghĩa rất quan trọng với sự phát triển của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất vật chất. Do nhờ ứng dụng logistics mà doanh nghiệp sản xuất sẽ tìm được nguồn nguyên liệu chất lượng tốt nhất, chi phí thu mua nguyên vật liệu cũng giảm nhờ sự phối hợp nhịp nhàng và hiệu quả trong khâu vận chuyển nguyên liệu về nhà máy sản xuất cũng như có kế hoạch cho việc lưu kho và giảm tối đa lượng hàng tồn kho. Điều này có nghĩa là quá trình tái sản xuất trong doanh nghiệp sản xuất vật chất sẽ ngắn đi nhờ có ứng dụng logistics hay nói cách khác doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn.

Mặc dù có ý nghĩa vai trò quan trọng như vậy nhưng nhu cầu sử dụng dịch vụ logistics của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam thời gian qua còn rất thấp. Qua nghiên cứu và khảo sát thực tế cho thấy, các doanh nghiệp sản xuất và xuất nhập khẩu của Việt Nam hầu như chưa nhận thức được tầm quan trọng và tác dụng của logistics. Rất ít doanh nghiệp hiểu được một cách đầy đủ về logistics chứ chưa nói tới việc ứng dụng triển khai. Hơn nữa sự yếu kém về cơ sở hạ tầng logistics cũng như bất cập trong chính ngành sản xuất vật chất cũng là nguyên nhân dẫn đến việc sử dụng dịch vụ logistics thực tế ở Việt Nam chưa nhiều, nhất là trong khu vực doanh nghiệp nhà nước và tư nhân. Tại Việt Nam, các chủ hàng xuất nhập khẩu đều tự mình đóng gói hàng hoá, kẻ ký mã hiệu, làm thủ tục hải quan,… rồi mới thuê dịch vụ vận tải giao nhận, mục đích là sử dụng dịch vụ của chính mình để tiết kiệm chi phí. Việc làm này làm cho chuỗi logistics bị gián đoạn và khó khăn trong việc cung cấp dịch vụ logistics.

Hiện này, nhu cầu cho hoạt động logistics tại Việt Nam chủ yếu là từ các công ty đa quốc gia, các doanh nghiệp sản xuất liên doanh nước ngoài. Họ có xu hướng giao trọn gói cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics thiết kế và cung cấp dây chuyền cung ứng nguyên liệu và phân phối hàng hoá cho công ty họ. Các công ty này thường đầu tư nhiều tiền cho khâu vận tải để đảm bảo họ được cung cấp dịch vụ chất lượng tốt. Nếu quan sát, phần lớn các tập đoàn lớn trên thế giới đều đã outsource các hoạt động logistics hoặc chuỗi cung ứng ra bên ngoài cho một nhà cung cấp dịch vụ thứ ba hoặc thứ tư. Chính xu hướng này đã giúp thị trường logistics thế giới tăng trưởng ở mức hai con số. Và khi các công ty, tập đoàn lớn như Dell, Nike,… có mặt tại Việt Nam, họ cũng sử dụng các nhà cung cấp dịch vụ logistics thứ ba. Nike sử dụng APL Logistics và Maersk Logistics, Adidas sử dụng Maersk Logistics, Kmart sử dụng APL Logistics,…

Qua nghiên cứu, khoảng 90% hàng hoá xuất nhập khẩu trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đều vận chuyển bằng đường biển. Năm 2024, hàng hoá được vận chuyển qua hệ thống cảng biển Việt Nam đạt 154.4 triệu tấn và hàng container đạt gần 3.5 triệu TEU, tăng gần 20% so với năm 2023. Tốc độ tăng trưởng hàng container bình quân trong thời gian 2013 – 2023 là 19.4%, một tốc độ tăng trưởng cao. Xu hướng này sẽ tăng mạnh trong những năm tới vì hiện nay Việt Nam đã gia nhập tổ chức WTO, hàng hoá qua cảng biển Việt Nam càng nhiều hơn. Vận tải biển và vận tải nói chung chiếm vị trí quan trọng trong chuỗi dịch vụ logistics, chiếm từ 40 – 60% chi phí dịch vụ logistics. Như vậy, chỉ riêng vận tải biển là một thị trường dịch vụ khổng lồ.

Như vậy, ta thấy Cầu dịch vụ logistics Việt Nam hiện nay chưa nhiều, tuy nhiên xu hướng nhu cầu dịch vụ logistics ở Việt Nam sẽ tăng mạnh trong các năm tới.

2. Cung dịch vụ logistics trên thị trường Việt Nam Khóa luận: Thực trạng dịch vụ logistics của công ty Vietfracht.

Dịch vụ logistics hiện nay trên thế giới rất đa dạng và phát triển mạnh mẽ, nhưng ở Việt Nam, lĩnh vực này vẫn là một lĩnh vực khá mới mẻ. Cho đến năm 2011 thị trường dịch vụ logistics ở Việt Nam vẫn tiếp tục bỏ ngỏ cho các nhà kinh doanh vận tải nước ngoài. Tháng 9 năm 2012, Công ty Logitem chuyên kinh doanh dịch vụ logistics được thành lập (Liên doanh giữa Đoàn xe 14 của Việt Nam và Công ty Logitem International của Nhật). Tiếp theo đó là sự ra đời của Công ty Liên doanh phát triển tiếp vận số 1 – The First Logistics Development Corporation (Liên doanh giữa Watco, Vietfracht – Việt Nam và Mitorient – Singapore, Pan Viet – Đài Loan). Công ty Dragon Logistics là Công ty liên doanh giữa các tập đoàn Suzuo, Mitsubishi của Nhật và Công ty Vinafco, Hanel. Các Công ty này triển khai hoạt động như: cung cấp dịch vụ cảng container, vận tải đường thuỷ và vận chuyển thông thường không bằng tàu, các dịch vụ giao nhận, dịch vụ liên quan đến phân phối v.v… Chỉ trong vòng hai năm trở lại đây, số lượng công ty tham gia vào thị trường cung dịch vụ logistics ngày càng tăng.

Sau gần mười lăm năm phát triển, về mặt số lượng, theo hiệp hội giao nhận kho vận Việt Nam (VIFFAS) cho đến nay ở Việt Nam có khoảng 800 – 900 doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đang kinh doanh những dịch vụ trong ngành logistics, trong đó khoảng 18% là doanh nghiệp nhà nước với một số doanh nghiệp đang chuyển sang mô hình công ty cổ phần, 80% là các công ty trách nhiệm hữu hạn và doanh nghiệp tư nhân, 2% là các công ty do các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vốn. Các doanh nghiệp trong nước phần lớn là các công ty nhỏ, vốn đăng ký chỉ vài trăm triệu đồng, hoạt động tản mạn và manh mún. Thời gian hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics cho đến năm 2025 bình quân là 5 năm, với vốn đăng kí bình quân 1.5 tỉ đồng.

Các doanh nghiệp Việt Nam theo đánh giá của nhiều chuyên gia, trên danh nghĩa là nhà cung ứng dịch vụ logistics, nhưng thực tế hiện nay chỉ tập trung vào khai thác một số công đoạn trong toàn bộ chuỗi cung ứng, trong đó phổ biến là giao nhận vận tải bằng đường biển. Các công ty chưa cung cấp được dịch vụ logistics của riêng mình, mà chỉ tham gia cung cấp dịch vụ logistics với tư cách là đại lý của các công ty vận tải và logistics nước ngoài. Chủ yếu các hợp đồng là do nước ngoài khai thác và ký kết. Các chủ hàng đảm nhận việc chuyên chở hàng hoá đến Việt Nam và sau đó các công ty Việt Nam với tư cách là đại lý của họ sẽ thực hiện các thủ tục như: thủ tục hải quan, vận chuyển hàng hoá, lưu kho lưu bãi, phân phối hàng hoá đến kho của chủ hàng,…

Các nhà cung ứng dịch vụ logistics ở Việt Nam mới chỉ tập trung vào các dịch vụ có chi phí thấp, lợi nhuận cao, và dựa trên những quan hệ ngắn hạn như giao nhận, môi giới, cho thuê kho bãi,… hơn là tập trung vào toàn bộ chuỗi cung ứng.

Theo nghiên cứu của Viện Nomura (Nhật Bản), các doanh nghiệp logistics Việt Nam chỉ mới đáp ứng được 25% nhu cầu thị trường logistics. Giá cả dịch vụ logistics tại Việt Nam tương đối rẻ nhưng chất lượng dịch vụ không cao. Theo đánh giá của VIFFAS, trình độ công nghệ ở các công ty kinh doanh dịch vụ logistics so với thế giới còn nhiều yếu kém. Trong quá trình cung cấp dịch vụ logistics, các nhà cung ứng dịch vụ logistics vẫn chưa thể kết hợp một cách hiệu quả hoạt động dịch vụ vận tải qua các đường sông, biển, hàng không,… và chưa tổ chức tốt các điểm chuyển tải. Trình độ cơ giới hoá trong bốc dỡ hàng hoá vẫn còn yếu kém. Công tác lưu kho còn lạc hậu so với thế giới, chưa áp dụng tin học trong quản trị kho như mã vạch, chương trình quản trị kho,… Khóa luận: Thực trạng dịch vụ logistics của công ty Vietfracht.

Trong lĩnh vực logistics, cùng với các doanh nghiệp Việt Nam, đã có nhiều doanh nghiệp nước ngoài đăng ký và hoạt động dưới các hình thức khác nhau. Theo các số liệu không chính thức, hiện nay, ở thị trường Việt Nam danh sách những công ty dẫn đầu trong hoạt động logistics như: Mitsui OSK Lines, NYK, K-Line, CGM, Hanjin, Maersk Lines, APL Logistics. Đối với hàng nhập khẩu vào Việt Nam, các Công ty này cung cấp dịch vụ logistics cho 90% khối lượng hàng hoá (trừ hàng rời như phân bón, xi măng, sắt thép, xăng dầu, quặng, than đá v.v…); và 100% khối lượng hàng công trình (Project Cargo). Các Công ty này cũng cung cấp dịch vụ logistics cho gần như toàn bộ các loại hàng gia công xuất khẩu chỉ trừ than đá, dầu thô và gạo và một số khoáng sản khác. Các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics nước ngoài hiện đang cạnh tranh với các doanh nghiệp trong nước trên lĩnh vực cung cấp dịch vụ logistics – một lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuận cao, khoảng từ 20 – 30% mà không cần bỏ nhiều vốn, chỉ cần khoảng 100,000 USD. Theo tính toán của Cục Hàng hải Việt Nam, lĩnh vực quan trọng nhất trong logistics là vận tải biển, thì các doanh nghiệp trong nước mới chỉ đáp ứng chuyên chở được 18% tổng lượng hàng hoá xuất nhập khẩu, phần còn lại thuộc về các doanh nghiệp nước ngoài. Với tốc độ tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ liên tục trong nhiều năm và mức độ Việt Nam ngày càng hội nhập rộng hơn và sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới, ngày càng có nhiều công ty logistics quốc tế thâm nhập vào thị trường Việt Nam. Cho đến nay, số lượng các doanh nghiệp nước ngoài ở Việt Nam đã vượt con số hàng chục và chắc chắn còn tăng nữa.

Như vậy, các doanh nghiệp nước ngoài vẫn đang và sẽ chiếm một thị phần khá lớn trong việc cung cấp dịch vụ logistics tại thị trường Việt Nam nếu như các doanh nghiệp Việt Nam không có những chiến lược phát triển kinh doanh dịch vụ logistics đúng đắn và bài bản trong thời gian tới.

II. Giới thiệu về công ty CP vận tải và thuê tàu Vietfracht Khóa luận: Thực trạng dịch vụ logistics của công ty Vietfracht.

1. Tổng quan chung về Vietfracht

  • Quá trình hình thành và phát triển

Công ty cổ phần Vận tải và thuê tàu (tên viết tắt là “Vietfracht”) được thành lập ngày 18 tháng 2 năm 1963 theo Quyết định số 103/BNGT/TCCB của Bộ Ngoại thương (nay là Bộ Công Thương), với tên là “Tổng công ty Vận tải ngoại thương”, 100% vốn sở hữu của nhà nước.

  • Ngày 9/11/1984: Công ty được đổi tên thành “Tổng công ty Thuê tàu và Môi giới hàng hải” trực thuộc Bộ Giao thông vận tải theo Quyết định 334/CT ngày 1/10/1984 của Chủ tịch Hội đồng Bộ Trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ).
  • Ngày 11/10/1991: Công ty được đổi tên thành “Tổng công ty Vận tải và Thuê tàu” (Vietfracht).
  • Ngày 1/6/2011: Công ty được thành lập lại và đổi tên thành “Công ty Vận tải và Thuê tàu”.
  • Ngày 9/10/2021: Công ty được thí điểm chuyển sang tổ chức và hoạt động theo mô hình Cty mẹ – Cty con với Công ty Mẹ là “Công ty Vận tải và Thuê tàu” thuộc Bộ Giao thông vận tải.
  • Ngày 24/02/2023, căn cứ tình hình thực tế của đơn vị, nhằm đảm bảo sự phát triển ổn định vững chắc và hiệu quả trong tình hình mới, Ban lãnh đạo Công ty nhất trí kiến nghị và đã được bộ Giao thông vận tải cho phép tiến hành cổ phần hoá toàn Công ty, hoàn thành việc chuyển sang tổ chức và hoạt động theo mô hình Công ty mẹ – Công ty con trong đó Công ty mẹ là công ty Nhà nước giữ cổ phần chi phối.
  • Ngày 2/10/2024, Công ty Vận tải và Thuê tàu (Vietfracht) hoàn thành việc Cổ phần hoá và chính thức đổi tên thành “Công ty Cổ phần Vận tải và Thuê tàu” hoạt động theo Luật doanh nghiệp.
  • Ngày 28/12/2024, chưa đầy 3 tháng sau khi hoàn thành việc Cổ phần hoá, Vietfracht đã đăng ký niêm yết và được chấp nhận giao dịch tại Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà nội với nội dung như sau:
  • Ngày 14/9/2025, Công ty ra nghị quyết tham gia góp vốn thành lập Cty TNHH Heung-A Shippping Việt Nam và Cty CP Unithai Logistics Việt
  • Ngày 16/11/2025, Công ty đã thông qua Nghị quyết để tham gia góp vốn tại Công ty CP Tân Cảng – Cái Mép, Cty CP ICD Tân Cảng – Long Bình. Khóa luận: Thực trạng dịch vụ logistics của công ty Vietfracht.

Với 45 năm tồn tại và phát triển, Vietfracht được biết đến là một trong những công ty hàng hải hàng đầu của Việt Nam hoạt động trên nhiều lĩnh vực toàn cầu. Công ty luôn cho rằng cần phải cải tiến chất lượng dịch vụ để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của khách hàng. Kết quả là, Công ty đã đạt được nhiều phần thưởng và danh hiệu cao quí của Nhà nước và Chính phủ như: Huân chương Lao động hạng Nhất, Huân chương Độc lập hạng Ba, Đơn vị anh hùng thời kỳ đổi mới.

Hiện nay, Vietfracht là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế như: Hội đồng hàng hải vùng Baltic và quốc tế (BIMCO), Liên đoàn quốc tế những Hiệp hội giao nhận (FIATA), Liên đoàn những Hiệp hội quốc gia về đại lý và môi giới hàng hải (FONASBA), Hiệp hội Chủ tàu các nước thuộc Hội các nước Đông Nam Á (FASA), Diễn đàn Chủ tàu Châu Á (ASF), và là một trong những thành viên sáng lập của nhiều tổ chức quốc gia như: Hiệp hội Chủ tàu Việt Nam (VSA), Hiệp hội Đại lý và môi giới hàng hải Việt Nam (VISABA), Hiệp hội Giao nhận kho vận Việt Nam (VIFFAS) và Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI).

Vietfracht luôn mong muốn không ngừng tăng cường và tích cực hợp tác, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh với tất cả bạn hàng trên toàn thế giới.

2. Cơ cấu tổ chức của Vietfracht

Công ty cổ phần Vận tải và Thuê tàu – Vietfracht được thành lập từ chuyển đổi (cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước) theo Quyết định số 963/QĐ-BGTVT ngày 27/04/2024 và số 1944/QĐ-BGTVT ngày 22/09/2024 của Bộ Giao thông vận tải, từ ngày 02/10/2024 theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Công ty Cổ phần số: 0103013932 của Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà nội cấp.

Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Công ty tại thời điểm 31/12/2025 như sau:

  • Sơ đồ 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức công ty Vietfracht

Hiện nay Công ty đang sử dụng thương hiệu VIETFRACHT, kế thừa thương hiệu VIETFRACHT do “Công ty Vận tải và Thuê tàu” đăng ký quyền sở hữu nhãn hiệu hàng hoá số 41090 do Cục sở hữu công nghiệp cấp ngày 10/5/2020.

  • Tên tiếng Việt: Công ty Cổ phần Vận tải và Thuê tàu.
  • Tên tiếng Anh: Transport and Chartering Corporation.
  • Tên viết tắt: VIETFRACHT.

Trụ sở chính:

  • Địa chỉ: 74 Nguyễn Du, Hà Nội

3. Đặc điểm sản xuất kinh doanh của Vietfracht Khóa luận: Thực trạng dịch vụ logistics của công ty Vietfracht.

3.1 Các lĩnh vực hoạt động kinh doanh chính

  • Vận tải đường biển

Vietfracht có bề dày hoạt động trong ngành vận tải đường biển tại Việt nam hơn 40 năm qua. Với đội ngũ thủy thủ có trình độ, Vietfracht hiện đang quản lý một đội tàu với tổng năng lực chuyên chở hơn 16,000 DWT. Trong tương lai, Vietfracht sẽ tiếp tục đầu tư vào đội tàu vận tải biển nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cũng như chất lượng phục vụ khách hàng.

  • Đại lý hàng hải

Đại lý vận tải container: Vietfracht hiện là tổng đại lý cho nhiều hãng vận chuyển container trên thế giới với các dịch vụ như bốc xếp hàng, làm thủ tục hải quan xuất nhập cảng, cung cấp thủy thủ, đóng gói và thu gom hàng.

Đại lý tàu biển: Vietfracht đang là tổng đại lý cho nhiều hãng tàu trên thế giới (tàu chuyên tuyến và tàu chuyến) với các chủng loại tàu: tàu chở container, tàu chở hàng khô, hàng rời, hàng đông lạnh, dầu sản phẩm, dầu thô, tàu rô-rô, tàu chở khách. Công ty cung cấp mọi dịch vụ đại lý cho tàu ghé vào các cảng Việt Nam bao gồm: làm thủ tục cho tàu ra, vào cảng, thu xếp việc bốc dỡ hàng, sửa chữa tàu, cung cấp thông tin, tìm hàng cho tàu, đại lý bảo vệ quyền lợi của chủ tàu, thay đổi thuyền viên, cung ứng tàu biển,…

  • Môi giới thuê tàu

Môi giới thuê tàu là ngành nghề kinh doanh truyền thống của Vietfracht. Với kinh nghiệm lâu năm và mối quan hệ rộng rãi với chủ tàu, người vận chuyển và người thuê vận chuyển, Vietfracht đã môi giới thành công nhiều chuyến tàu và nhiều lô hàng (hàng khô, hàng đông lạnh, hàng lỏng), môi giới thuê tàu định hạn ở trong và ngoài nước. Vietfracht thu xếp giúp nhà xuất khẩu và nhập khẩu tìm được loại tàu họ cần với giá thuê hợp lý nhất và có thể giới thiệu nhà cung cấp hàng cũng như người mua hàng cuối cùng.

  • Vận tải đường bộ và cho thuê kho bãi

Vietfracht hiện đang thuê đất của Nhà nước xây dựng hệ thống kho bãi container chất lượng cao tại Hải Phòng, tại một số cảng biển, khu công nghiệp lớn trong cả nước như Thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Hưng Yên. Bên cạnh đó, công ty sở hữu một đội xe vận tải chất lượng cao, với năng lực chuyên chở lớn, luôn sẵn sàng cung cấp các dịch vụ tốt nhất cho khách hàng.

  • Dịch vụ logistics Khóa luận: Thực trạng dịch vụ logistics của công ty Vietfracht.

Vietfracht cung cấp các dịch vụ logistics cả nội địa và quốc tế với các dịch vụ cụ thể:

Dịch vụ giao nhận hàng hoá đường biển và đường hàng không

  • Tư vấn về chứng từ xuất nhập khẩu.
  • Thu xếp kho bãi (ngắn hạn và dài hạn).
  • Thu tiền khi giao hàng (COD).
  • Thu xếp công nhân bốc dỡ hàng, kho hàng, kiểm đếm.
  • Kiểm tra hàng đông lạnh đóng trong container trước khi tàu khởi hành.
  • Giao nhận hàng mọi ngày trong tuần.
  • Đóng gói, đóng kiện, ghi ký mã hiệu hàng hoá.
  • Xử lý hàng đặc biệt: hàng siêu trường, siêu trọng, hàng dễ hư hỏng và hàng có giá trị cao.
  • Chuyển phát nhanh (chứng từ, hàng hoá).
  • Làm thủ tục hải quan, làm trọn bộ chứng từ, mua bảo hiểm, thực hiên vận tải đa phương thức
  • Nhận hàng, giao hàng tận nơi theo yêu cầu của khách hàng (door-to-door); trong nước và quốc tế (kể cả hàng lẻ).

Gom hàng và phân phối hàng

  • Gom và vận chuyển hàng lẻ đến tất cả những địa điểm trong và ngoài nước.
  • Phân chia hàng lẻ và hàng công trình.
  • Xác báo đã giao hàng cho khách hàng (hàng nhập) – O.D.

Thu xếp hàng quá cảnh đi Lào, Campuchia và Trung Quốc

Các lĩnh vực kinh doanh khác:

  • Dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế (bao gồm các dịch vụ vận chuyển nhanh hàng nặng và hàng trên 31.5kg, tài liệu khoa học kỹ thuật, chứng từ thương mại, vật phẩm, hàng mẫu, hàng hoá).
  • Kinh doanh bất động sản. Cho thuê văn phòng làm việc và nhà ở.
  • Bốc xúc, vận chuyển, san lấp mặt bằng phục vụ khai thác khoáng sản và phục vụ xây dựng.
  • Xuất khẩu lao động, làm các thủ tục xuất nhập cảnh thuyền viên nước ngoài. Đào tạo hướng nghiệp phục vụ xuất khẩu lao động. Khóa luận: Thực trạng dịch vụ logistics của công ty Vietfracht.
  • Kinh doanh nhà hàng, khách sạn. Kinh doanh lữ hành nội địa và quốc tế.
  • Kinh doanh chứng khoán.

Tình hình kinh doanh của Công ty:

Trong suốt 45 năm qua, Công ty luôn bảo toàn, phát triển nguồn vốn và làm ăn có lãi. Tốc độ tăng trưởng về doanh thu, lợi nhuận của công ty trong 10 năm (2015- 2025) được thể hiện trong biểu đồ sau:

  • Bảng 2.2: Doanh thu và lợi nhuận giai đoạn 2015 – 2025

Qua biểu đồ doanh thu và lợi nhuận của công ty trong 10 năm 2015 – 2025, chúng ta thấy được doanh thu và lợi nhuận Vietfracht đạt được gần như năm sau cao hơn năm trước, tốc độ tăng trưởng giai đoạn này đều vượt mức 10% – một con số tăng trưởng khá cao. Giai đoan 2015 – 2021, thì doanh thu đạt được từ 77.52 tỉ đồng năm 2015 đến 165.5 tỉ đồng năm 2021, tăng hơn gấp đôi so với năm 2015. Tuy nhiên trong giai đoạn này cũng phải khẳng định rằng doanh thu đạt được của Công ty ở mức khá cao, nhưng lợi nhuận thu được nhìn chung chưa cao, vì Công ty vẫn phải bỏ ra một khoản chi phí khá lớn để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh.

Năm 2022, hai Công ty CP Giao nhận kho vận Vietfracht và Công ty Vận tải và thuê tàu Đà Nẵng đã chính thức hoạt động theo hình thức cổ phần từ đầu năm 2022, nên các chỉ tiêu tài chính của công ty Vietfracht từ năm 2022 không còn tính hai đơn vị này nữa, do vậy đã tạo nên doanh thu năm 2022 thấp hơn mức thực hiện năm 2021, từ 166.5 tỉ đồng năm 2021 xuống 137 tỉ đồng năm 2022, giảm 17%. Giai đoạn 2022 – 2025, doanh thu của Công ty vẫn có mức tăng trưởng dương hàng năm mặc dù có nhiều yếu tố tác động tiêu cực đến doanh thu.

Tuy nhiên, về mặt lợi nhuận, Công ty vẫn giữ được mức lợi nhuận xấp xỉ 20 tỉ đồng, và có sự tăng đều về lợi nhuận trong từng năm giai đoạn 2022 – 2024, năm 2022 là 18.8 tỉ đồng, năm 2023 là 20 tỉ đồng, năm 2024 là 21.8 tỉ đồng. Mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức nhưng Công ty đã chủ động đưa ra các biện pháp thích hợp để giữ chân khách hàng, phát triển lâu dài và bền vững các đối tác, bạn hàng truyển thống để góp phần thực hiện mục tiêu ổn định tổ chức, tiếp tục phát triển sản xuất kinh doanh, duy trì tốc độ tăng trưởng, giành thắng lợi và vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra cả về doanh thu và lợi nhuận.

Trong năm 2024 Công ty thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước để chuyển thành công ty cổ phần, điều này cũng tạo ra một sự thay đổi đáng kể cho Vietfracht trong năm 2025. Từ khi cổ phần hoá doanh thu, lợi nhuận và nộp ngân sách luôn ở mức cao. Khóa luận: Thực trạng dịch vụ logistics của công ty Vietfracht.

  • Bảng 2.3: Kết quả thực hiện kế hoạch kinh doanh năm 2025

Trong năm 2025, tổng doanh thu của Công ty đạt 170,542 triệu đồng, bằng 108.78% so với với năm 2024 và đạt 102.29% so với kế hoạch. Lợi nhuận trước thuế của Công ty đạt 36,210 triệu đồng, bằng 168.94% so với năm 2024, lợi nhuận sau thuế đạt 28,310 triệu đồng, tăng 133.66% so với kế hoạch.

Về bố trí cơ cấu tài sản, tỷ lệ tài sản dài hạn trên tổng tài sản đạt 47.46%, tài sản ngắn hạn trên tổng tài sản đạt 52.54%. Về cơ cấu nguồn vốn, tỷ lệ nợ phải trả của Công ty trên tổng nguồn vốn là 43.66%, nguồn vốn chủ sở hữu trên tổng nguồn vốn là 56.34%. Khả năng thanh toán hiện hành của Công ty là 268.45%, khả năng thanh toán nợ ngắn hạn là 141.04%, khả năng thanh toán nhanh là 106.19%. Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên doanh thu đạt 23.75%, tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên tổng tài sản đạt 2.68%, tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu đạt 19.07%.

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và trên tổng tài sản đều tăng so với năm 2024. Điều này chứng tỏ Vietfracht đã tiết kiệm được chi phí sản xuất kinh doanh, giảm giá thành sản phẩm. Một điều nữa cần phải nhấn mạnh là Vietfracht đã và đang sử dụng ngày càng hiệu quả nguồn vốn đầu tư của cổ đông. Điều này thể hiện ở tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu của công ty khá cao.

  • Bảng 2.4: Kết quả hoạt động kinh doanh Quý I/2026

Trong bốn tháng đầu năm 2026, doanh thu hoạt động của toàn Công ty đạt 48,534 triệu, đạt 23.66%, chi phí đạt 21.82%, và lợi nhuận sau thuế đạt 38.72% so với kế hoạch của cả năm 2026.

Trong kế hoạch hoạt động năm 2026, Công ty sẽ góp vốn vào một số công ty liên doanh như Tân Cảng – Cái Mép, Cảng ICD Long Bình, Công ty liên doanh Hankyu vào đầu năm 2026, do vậy đòi hỏi một nguồn vốn khá lớn. Điều này đòi hỏi Công ty phải nghĩ đến việc tăng vốn điều lệ để đảm bảo an toàn và mở rộng, phát triển kinh doanh. Và vào tháng 4/2026, Công ty đã đưa ra phương án tăng vốn điều lệ trong năm 2026. Cụ thể vốn điều lệ hiện tại của Công ty là 150 tỉ đồng, vốn điều lệ tăng thêm trong năm 2026 là 30 tỉ đồng.

Với các cổ đông của Vietfracht, có thể nói rằng họ không chỉ sở hữu những cổ phiếu mang mã VFR mà còn đang sở hữu thương hiệu Vietfracht – một thương hiệu mạnh với bề dày 45 năm hoạt động trong lĩnh vực vận tải biển. Đây là một tài sản vô hình quý báu và là một lợi thế kinh doanh mà bất kỳ một doanh nghiệp vận tải nào cũng mong muốn có được.

III. Tình hình kinh doanh dịch vụ logistics của Vietfracht trong thời gian qua Khóa luận: Thực trạng dịch vụ logistics của công ty Vietfracht.

1. Kế hoạch kinh doanh dịch vụ logistics của Vietfracht thời gian qua

Lãnh đạo Công ty đã xác định phương hướng phát triển chiến lược của Công ty hiện tại cũng như tương lai: “Lấy phát triển đội tàu, dịch vụ logistics, đầu tư phát triển và kinh doanh kho bãi là chính”.

Về công tác tổ chức và quản lý nhân sự:

  • Ổn định về mặt tổ chức, chỉnh đốn, bố trí nhân sự phù hợp với khả năng cá nhân để đáp ứng yêu cầu công việc.
  • Tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng, kiến thức, văn hoá ứng xử và đạo đức nghề nghiệp cho nguồn nhân lực hiện có, đồng thời xây dựng và thực thi các chính sách thu hút nguồn nhân lực có chất lượng cao nhằm sẵn sàng đáp ứng các nhu cầu cao của khách hàng.
  • Cung cấp đầy đủ điều kiện, môi trường làm việc an toàn và chăm lo đời sống cho người lao động. Đẩy mạnh công tác quản trị và phong trào văn thể mỹ, trong toàn Công ty nhằm củng cố tình đoàn kết, phấn đấu vì mục tiêu chung, xây dựng môi trường văn hoá doanh nghiệp trong sạch và lành mạnh.
  • Đào tạo, củng cố đội ngũ thuyền viên, đặc biệt số sỹ quan chủ chốt có tâm huyết với Công ty và sẵn sàng tuân thủ sự điều động phục vụ tốt cho kế hoạch khai thác của đội tàu. Sở hữu đội tàu và đội ngũ thuyền viên chuyên nghiệp là một thế mạnh của Công ty. Tuy nhiên để nâng cao hiệu suất khai khác tàu biển, và nâng cao chất lượng dịch vụ logistics hàng hoá đường biển thì việc đào tạo, củng cố đội ngũ thuyền viên đặc biệt quan trọng.
  • Tăng cường hợp tác và mở rộng quan hệ giữa các đơn vị (phòng, chi nhánh…) và toàn thể cán bộ công nhân viên trong Công ty, phát huy tinh thần làm chủ tập thể, nâng cao ý thức trách nhiệm và phát huy tính năng động, sáng tạo nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ được giao với hiệu quả cao nhất, tăng cường đoàn kết, thực sự tương trợ và giúp đỡ nhau, chống mọi biểu hiện cục bộ địa phương và thành tích chủ nghĩa để xây dựng đơn vị phát triển vững mạnh toàn diện và lâu dài.
  • Xây dựng chiến lược thu hút nguồn nhân lực trẻ, có kế hoạch đào tạo phù hợp , đáp ứng được yêu cầu phát triển dài hạn của Công ty.

Về sản phẩm và thị trường:

  • Cung cấp sản phẩm vận tải và dịch vụ vận tải đa phương thức, dịch vụ kho bãi với chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của khách hàng.
  • Tiếp cận và nắm bắt thị trường, tăng cường công tác marketing để không ngừng tăng thị phần trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ logistics của Công ty. Khóa luận: Thực trạng dịch vụ logistics của công ty Vietfracht.
  • Không ngừng hoàn thiện các dịch vụ theo hướng chuyên môn hoá cao, chú trọng hiệu quả công việc, bảo đảm chất lượng dịch vụ nhằm đáp ứng mọi yêu cầu thoả đáng của khách hàng một cách nhanh chóng, tạo lòng tin lâu dài cho khách hàng và tương lai vững chắc cho sự phát triển của dịch vụ
  • Mở rộng dịch vụ logistics, tạo thành chuỗi dịch vụ cung ứng.

Về công tác đầu tư:

  • Đội tàu: tiếp tục đầu tư theo chiều sâu, rà soát thị trường, lên kế hoạch tiếp tục tìm tàu mới phù hợp với yêu cầu của thị trường và khách hàng, đồng thời tranh thủ sự ưu đãi về tài chính của Chính phủ trong việc đóng mới tàu biển trong nước.
  • Đầu tư kho bãi: căn cứ vào nhu cầu thị trường, nghiên cứu và tính toán hiệu quả vốn đầu tư, tìm kiếm vị trí phù hợp, khu vực lân cận Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và các khu công nghiệp lớn để triển khai xây dựng kho bãi, để thành lập các kho bãi trung chuyển, phân phối hàng hoá. Tiếp tục đầu tư và phát triển dịch vụ kho bãi coi đó là nền tảng cho việc phát triển dịch vụ logistics hiện tại cũng như trong tương lai.
  • Đầu tư phát triển đội xe, trang thiết bị bốc xếp tại kho: cùng với hệ thống kho bãi của Vietfracht tạo thành một chuỗi liên hoàn của hoạt động
  • Góp vốn thành lập các công ty liên doanh, công ty cổ phần trong các lĩnh vực then chốt như: hàng không, xây dựng cảng biển, du lịch biển để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics đường biển và đường không.
  • Đầu tư nâng cấp và ứng dụng công nghệ thông tin vào thực tiễn công tác quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics nhằm xây dựng một hệ thống quản lý đồng bộ.

Về công tác đối ngoại và quan hệ khách hàng:

  • Củng cố, duy trì mối quan hệ tốt với các đối tác liên doanh hiện có và phối hợp, đưa ra phương hướng để các liên doanh hoạt động có hiệu quả.
  • Tăng cường công tác đối ngoại, mở rộng quan hệ hợp tác với tất cả các đối tác trong và ngoài nước nhằm tạo uy tín, mang hình ảnh Vietfracht với độ tin cậy cao tới khách hàng.
  • Thường xuyên rà soát lại các khách hàng, phân loại khách hàng, đại lý và tăng cường khâu marketing để có những chính sách phù hợp nhằm giữ khách hàng, đại lý và tăng lượng hàng, tăng doanh thu và lợi nhuận.

2. Tình hình kinh doanh dịch vụ logistics của Vietfracht những năm gần đây Khóa luận: Thực trạng dịch vụ logistics của công ty Vietfracht.

Thành lập từ năm 1963, Vietfracht có một bề dầy lịch sử lâu dài, có uy tín lớn trong lĩnh vực dịch vụ hàng hải trong nước và quốc tế với nhiều khách hàng truyền thống. Hơn nữa việc là một đơn vị anh hùng thời kì đổi mới đã và đang tiếp tục là niềm phấn khởi, động viên toàn thể cán bộ công nhân viên trong công ty đoàn kết nỗ lực thi đua hoàn thành vượt mức toàn diện kế hoạch đặt ra đối với nghiệp vụ kinh doanh nói chung của công ty và dịch vụ logistics nói riêng. Dịch vụ logistics là một trong những hoạt động chủ yếu của Vietfracht. Mặc dù dây là một lĩnh vực khá mới mẻ ở Việt Nam cùng với việc cạnh tranh với nhiều công ty khác nhưng với kinh nghiệm nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực giao nhận và bây giờ là dịch vụ logistics nên trong những năm qua Công ty luôn khẳng định được uy tín và vị trí của mình trên thị trường và cũng được coi là một nhà cung cấp dịch vụ lớn trên cả nước trong ngành kinh doanh dịch vụ logistics ở Việt Nam.

Vietfracht cung cấp các dịch vụ logistics cả nội địa và quốc tế: đường không, đường bộ và đường biển, dịch vụ thông quan, vận chuyển đa phương thức và các dịch vụ phân phối, thu gom hàng hoá. Vietfracht có mạng lưới các đơn vị trực thuộc tại các cảng biển và thành phố lớn của Việt Nam như ở Hải Phòng, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh…, do vậy Công ty có thể tận dụng được ưu thế về vị trí địa lý để phát triển và mở rộng thị trường.

Khách hàng của Vietfracht là các công ty xuất nhập khẩu, các công ty đa quốc gia,… Các khách hàng của Công ty không chỉ có khách hàng trong nước mà còn có nhiều đối tác là các khách hàng nước ngoài, trong số đó có nhiều đối tác là những công ty lớn trên thị trường quốc tế. Các khách hàng lớn và trung thành của Vietfracht là Công ty TNHH Honda Việt Nam; Công ty Yazaki Nhật Bản; Công ty Nissin Nhật Bản; Công ty Hankyu Nhật Bản; Công ty Panasonic; Công ty Canon;… Các khách hàng hiện tại rất hài lòng với dịch vụ mà Vietfracht cung cấp. Tuy nhiên, họ cũng góp ý với Vietfracht là Công ty nên cung cấp thêm một số dịch vụ gia tăng nữa, như thế đảm bảo cho chuỗi dịch vụ được liên hoàn. Tiếp thu các đóng góp của khách hàng, Vietfracht đang có những chính sách mở rộng hệ thống chuỗi dịch vụ logistics của mình.

Các mặt hàng chuyên chở chính của Vietfracht: các mặt hàng xuất khẩu như dầu thô, thuỷ sản, dệt may, giày dép, thủ công mỹ nghệ,.. và các mặt hàng nhập khẩu như phân bón, xăng dầu, sắt thép, nguyên liệu gia công, thiết bị máy móc, linh kiện điện tử,… Hoà chung vào xu hướng tăng trưởng của toàn Công ty, tình hình kinh doanh dịch vụ logistics của Công ty cũng đạt được kết quả rất khả quan. Doanh thu từ dịch vụ logistics giai đoạn 2022 – 2025 ước chừng khoảng 20 – 22 tỉ, lợi nhuận đạt được khoảng 5 – 7 tỉ hàng năm. Con số về doanh thu và lợi nhuận thu được từ dịch vụ logistics như trên được đánh giá ở mức khá. Đây là một thành công của Vietfracht, không phải doanh nghiệp nào cũng có thể đạt được điều này. Hiện tại, chi phí đầu tư vào hoạt động logistics là rất lớn. Vì hoạt động logistics hiện nay còn rất mới, nên cơ sở hạ tầng phục vụ cho dịch vụ logistics do Công ty cung cấp còn nhiều nhiều mặt hạn chế. Khi quyết định đầu tư nâng cao chất lượng dịch vụ logistics Công ty cung cấp, để có thể cạnh tranh với các công ty trong nước và các công ty nước ngoài đang cung cấp dịch vụ logistics thì Công ty buộc phải bỏ ra một khoản chi phí lớn cho cơ sở hạ tầng cùng các yếu tố khác. Hơn nữa việc đầu tư cho cơ sở hạ tầng và các yếu tố cần thiết cho dịch vụ logistics không phải một sớm một chiều có kết quả ngay mà đòi hỏi có yếu tố thời gian. Do đó, các yếu tố được Công ty đầu tư để phục vụ cho hoạt động logistics như kho bãi, nguồn nhân lực,… chưa thể khai thác ngay trong giai đoạn này, nên vẫn chưa thể nâng cao doanh số cũng như lợi nhuận cho dịch vụ logistics. Nhưng trong tương lai gần, doanh số và lợi nhuận từ dịch vụ logistics sẽ tăng cao. Khóa luận: Thực trạng dịch vụ logistics của công ty Vietfracht.

Xét trong tình hình chung của Công ty, thì doanh thu từ dịch vụ logistics của Vietfracht chiếm khoảng 15 – 16% trên tổng doanh thu, lợi nhuận thu được từ dịch vụ logistics chiếm trên khoảng 23% – 25% trong tổng lợi nhuận của toàn Công ty. Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng đóng góp của dịch vụ logistics vào kết quả kinh doanh chung của cả Công ty là cũng tương đối, do đó dịch vụ logistics thực sự là một thế mạnh của Vietfracht, có tiềm năng là một trong những ngành mũi nhọn của Vietfracht. Khẳng định được điều này sẽ giúp cho Vietfracht có được hướng đi đúng cho sự phát triển của dịch vụ logistics.

Bên cạnh đó, hiện nay công tác kinh doanh dịch vụ logistics ngày càng phải cạnh tranh khốc liệt hơn, phải gom từ những lô hàng nhỏ lẻ và phải không ngừng tăng chất lượng dịch vụ, nhất là phải đáp ứng được thời gian của khách hàng. Giai đoạn 2022 – 2026, tình hình kinh doanh dịch vụ logistics của Công ty nói chung bước đầu đạt được các chỉ tiêu kế hoạch đưa ra. Kết quả thực hiện kinh doanh dịch vụ logistics đạt ở mức khá. Có được điều này, một phần rất lớn là nhờ các kế hoạch đề ra của Công ty trong giai đoạn này rất đúng đắn, phù hợp. Cũng phải thừa nhận một điều, giai đoạn 2022 – nay, có nhiều yếu tố bất lợi ảnh hưởng đến tình hình kinh doanh dịch vụ logistics của Công ty, do đó đòi hỏi các kế hoạch Công ty đặt ra phải linh hoạt, phù hợp với xu hướng biến động của các yếu tố khách quan và chủ quan có liên quan. Nhận thức được điều này, Công ty đã theo dõi sát sao tình hình biến động của các yếu tố tác động, từ đó đưa ra các kế hoạch kinh doanh trên cơ sở phân tích, nghiên cứu sâu, cùng đánh giá thực tế các điều kiện nội tại của Công ty cũng như các yếu tố khách quan bên ngoài về thị trường, về đối thủ cạnh tranh, về khả năng đáp ứng của Vietfracht,…

Công ty đã áp dụng công nghệ thông tin vào việc xử lý đơn hàng trên hệ thống phần mềm quản lý như Business Planning and Control System – BPCS và Web Map Service – WMS. Phần mềm BPCS – phần mềm hệ thống điều khiển và lập kế hoạch kinh doanh, là một hệ thống được sử dụng rộng rãi hiện nay tại các doanh nghiệp. Phần mềm này được ứng dụng trong việc quản lý chuỗi cung cấp, ứng dụng trong việc lên kế hoạch cụ thể về hoạt động cũng như tài chính doanh nghiệp, bên cạnh đó còn hỗ trợ việc xác định và phân tích tài chính doanh nghiệp. Phần mềm WMS là công cụ quản lý kho bãi. Phần mềm này hỗ trợ khả năng tích hợp với hệ thống mã vạch, cho phép quản lý các chu trình hoạt động của doanh nghiệp như các quy trình liên quan đến mua bán, giao nhận hàng hoá,… Trong quá trình thao tác, một số đơn hàng sẽ được xếp thứ tự ưu tiên. Vì thế khi giao hàng, các hạng mục ưu tiên sẽ được xuất trước các hạng mục còn lại, việc này giúp nhà quản lý có thể biết đơn hàng nào đang chờ xuất hàng, có hạng mục nào ưu tiên hay không, những thông tin này sẽ được nhân viên phục vụ trong kho nắm bắt. Công ty tính toán được tỉ lệ dự trữ, tối đa hoá được công cụ quản lý kho thông qua hệ thống báo cáo được cập nhật thường xuyên và đầy đủ. Từ đó nhà quản lý kho có thể lập các báo cáo về hàng hoá theo yêu cầu quản lý của khách hàng khi khách hàng cần biết các thông tin liên quan đến hoạt động của hàng hoá. Khóa luận: Thực trạng dịch vụ logistics của công ty Vietfracht.

Hiện nay, Công ty đã thực sự trở thành nhà cung cấp dịch vụ logistics bên thứ ba với chất lượng luôn được Công ty đặt lên hàng đầu, và phục vụ mọi nhu cầu của khách hàng, coi sự hài lòng của khách hàng là điểm đích cuối cùng của dịch vụ logistics mà Công ty cung cấp. Mô hình dịch vụ logistics trọn gói được Công ty thực hiện theo quy trình sau:

  • Bước 1: Tiếp nhận yêu cầu khách hàng qua hệ thống điện thoại/ Email/ Fax,..
  • Bước 2: Sau khi tiếp nhận các đơn hàng của khách hàng yêu cầu (sales order), nhân viên bộ phận khách hàng tiến hành xử lý đơn hàng trên hệ thống phần mềm quản lý chuyên nghiệp.
  • Bước 3: Chuyển đơn gom hàng cho bộ phận phụ trách kho và vận tải. Bộ phận kho nhận lệnh gom hàng sẽ tiến hành gom hàng và xác nhận tình trạng thực tế chắc chắn của đơn hàng có thể được giao hay không, báo cáo lại cho bộ phận nhân viên để tiến hành in hoá đơn. Bộ phận vận tải nhận lệnh gom hàng và tiến hành các loại hoạt động điều phối vận tải/sắp xếp phương tiện cho việc vận chuyển hàng hoá.
  • Bước 4: Sau khi nhận được xác nhận từ kho, bộ phận dịch vụ khách hàng sẽ in hoá đơn và chuyển xuống kho làm thủ tục xuất hàng ra khỏi
  • Bước 5: Tuỳ theo yêu cầu của khách hàng mà chọn các phương thức giao hàng:
  • Khách hàng tự đến lấy hàng.
  • Giao hàng ra các bến xe trung chuyển.
  • Giao hàng đến các đại lý hoặc trực tiếp tới người tiêu dùng.

Một số nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh dịch vụ logistics trong giai đoạn này của công ty:

Chủ trương mua tàu mới của Công ty chưa thực hiện được trong năm 2022. Tháng 1/2022, Công ty thực hiện chủ trương đổi mới và phát triển đội tàu biển nên đã bán bớt tàu “Kim Liên” đã 27 tuổi để mua tàu mới hoặc đóng mới. Nhưng do năm 2022, giá tàu lên cao, nên việc vay vốn từ quỹ hỗ trợ đầu tư bị hạn chế nên Công ty chưa mua được tàu mới như dự định, việc này đã làm giảm khả năng chuyên chở hàng hoá bằng đường biển của Công ty trong giai đoạn 2022 – 2025. Một lượng hàng hoá đã phải thuê các hãng tàu khác chuyên chở đường biển, từ đó làm gia tăng chi phí trong hoạt động logistics, giảm doanh thu và lợi nhuận của Công ty. Khóa luận: Thực trạng dịch vụ logistics của công ty Vietfracht.

Giá nhiên liệu tăng cao. Với các doanh nghiệp hoạt động trong ngành dịch vụ logistics, nhiên liệu đầu vào chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng chi phí. Từ năm 2022 đến nay, giá cả nhiên liệu đầu vào tăng lên rất cao (> 200%). Năm 2022, giá dầu chỉ ở mức 36$/thùng, đến năm 2023, giá dầu đã tăng lên trung bình trên 50$/thùng, năm 2024, giá dầu trung bình tăng lên trên 60$/thùng. Từ năm 2025, giá dầu bắt đầu có chiều hướng tịnh tiến tăng lên từ 60$/thùng. Hiện nay, vào tháng 5/2026, giá dầu đang dao động ở mức trên 110$/thùng. Trong thời gian tới giá cả nhiên liệu đầu vào tiếp tục diễn biến phức tạp tạo ra rủi ro về chi phí đầu vào cho doanh nghiệp, ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh dịch vụ logistics nói riêng và hoạt động kinh doanh của Vietfracht nói Giá dầu diễn biến phức tạp với chiều hướng gia tăng sẽ là một áp lực lớn từ góc độ chi phí đầu vào đối với Vietfracht hay bất cứ công ty nào trong ngành. Dưới đây là một lát cắt của tình hình biến động của giá dầu trong một năm từ tháng 3/2025 đến tháng 3/2026:

  • Hình 2.5: Diễn biến giá dầu thô từ tháng 3/2025 đến tháng 3/2026

Bên cạnh đó là một số nguyên nhân khác như: sự cạnh tranh trên thị trường trong nước trở nên gay gắt do nhiều doanh nghiệp được thành lập theo Luật Doanh nghiệp cùng hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ logistics; lộ trình mở cửa hội nhập AFTA, và lộ trình mở cửa thị trường vận tải khi Việt Nam cam kết gia nhập WTO có nhiều tác động bất lợi đến quan hệ giữa Vietfracht và các đối tác nước ngoài, tạo điều kiện cho một số lượng không nhỏ các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào lĩnh vực kinh doanh dịch vụ logistics tại thị trường Việt Nam, nên Vietfracht phải chia sẻ bớt thị phần cho các công ty này.

Nhìn chung, tình hình kinh doanh dịch vụ logistics của Công ty tuy có gặp một số khó khăn, đó cũng là một số khó khăn chung mà nhiều doanh nghiệp trong ngành cũng phải đối mặt, nhưng Vietfracht vẫn giữ vững được doanh số và lợi nhuận cùng với các chỉ tiêu kế hoạch đặt ra, điều này không phải doanh nghiệp nào cũng làm được như Vietfracht.

3. Đánh giá kinh doanh dịch vụ logistics của Vietfracht trong thời gian qua Khóa luận: Thực trạng dịch vụ logistics của công ty Vietfracht.

Hàng năm, Công ty luôn đưa ra kế hoạch kinh doanh cụ thể để duy trì và đẩy mạnh vai trò của mình trong việc cung cấp dịch vụ logistics trên thị trường. Dựa vào tình hình kinh doanh, kết quả kinh doanh dịch vụ logistics, chúng ta có thể đưa ra các đánh giá một cách khách quan và chính xác nhất về những nội dung nào Công ty đã thực hiện được và chưa thực hiện được đối với dịch vụ logistics như chỉ tiêu, kế hoạch ban đầu đặt ra. Trong thời gian qua, nhờ các chính sách, kế hoạch đúng đắn và cụ thể, chất lượng dịch vụ logistics mà Công ty cung cấp đã được nâng cao nhiều, tuy vậy vẫn phải thừa nhận rằng vẫn còn nhiều điểm hạn chế mà Công ty cần có các giải pháp để khắc phục, để có thể cạnh tranh với các nhà cung cấp dịch vụ logistics khác nhất là trong quá trình hội nhập.

Những ưu điểm của dịch vụ logistics của Vietfracht

  • Chất lượng dịch vụ logistics tương đối tốt

Công ty đã từng bước cải thiện được về mặt cơ sở hạ tầng phục vụ cho dịch vụ logistics mà mình cung cấp. Trước hết về mặt kho bãi, hiện nay, Công ty đang sở hữu hệ thống kho bãi container chất lượng cao với tổng diện tích mặt bằng hơn 50,000 m2 tại Hải Phòng (hơn 20,000 m2 kho, và hơn 30,000 m2 bãi container), bên cạnh đó Công ty đã thuê lại được khoảng gần 50,000 m2 tại thành phố Hồ Chí Minh với hợp đồng lâu dài và giá cả phải chăng, và đang triển khai dự án xây dựng hơn 30,000 m2 kho bãi tại Hưng Yên, hệ thống kho bãi này đều có vị trí thuận lợi cho việc lưu giữ hàng hoá và phân phối hàng hoá trên cả nước. Hệ thống kho này đang là kho trung chuyển trong các kênh phân phối của nhiều hãng sản xuất lớn trong nước và trên thế giới với các mặt hàng như sữa, thiết bị viễn thông, xe máy,..

Bên cạnh đó, Công ty cũng đã đầu tư nâng cấp thêm hệ thống cần trục, cầu trục, xe nâng, cầu nâng hàng, hệ thống đèn chiếu sáng đạt tiêu chuẩn,… trong hệ thống kho bãi, nâng cao chất lượng dịch vụ logistics, đáp ứng được yêu cầu của khách hàng.

Công nghệ thông tin đã được áp dụng trong việc xử lý đơn hàng trên hệ thống phần mềm quản lý tiên tiến như Business Planning and Control System

  • BPCS và Web Map Service –

Năng lực vận chuyển của Công ty cũng được nâng lên rất nhiều bằng việc đầu tư vào đội xe chuyên chở. Hiện Công ty có hàng trăm xe tải có trọng tải từ 0.5 tấn đến 5 tấn cùng với các xe đầu kéo và moóc 40 feet sử dụng cho container. Hệ thống này đang được khai thác hết công suất. Khóa luận: Thực trạng dịch vụ logistics của công ty Vietfracht.

Ngoài ra, cơ sở vật chất đường biển đã được Công ty đầu tư thêm bằng việc mua thêm tàu VF Glory, trọng tải 8456 DWT vào tháng 1/2026. Điều này giúp nâng cao năng lực chuyên chở đường biển của Công ty, tăng doanh thu và lợi nhuận cho Công ty, và cái lợi lớn nhất là thực hiện được mục tiêu giảm chi phí cho dịch vụ logistics khi bản thân Công ty có thể đáp ứng được các dịch vụ nội tại.

  • Thương hiệu VIETFRACHT ngày càng được khẳng định

Thương hiệu VIETFRACHT ngày càng được khẳng định trên thị trường Việt Nam bởi công ty luôn luôn đặt chữ “TÍN” lên hàng đầu – đó là phương châm hoạt động của Công ty trong tất cả các nghiệp vụ kinh doanh nói chung và đặc biệt là dịch vụ logistics. Công ty đã hoạt động lâu năm trên thị trường, nên việc giữ chữ tín với khách hàng càng giúp Công ty củng cố vị trí và giữ vững thương hiệu mạnh trên thị trường Việt Nam và từ đó vươn ra thị trường quốc tế.

  • Hệ thống khách hàng lớn và trung thành được mở rộng

Đúng như phương châm của Công ty: “Luôn làm hài lòng khách hàng với chất lượng dịch vụ tốt nhất”. Chính điều này là yếu tố khiến các khách hàng đã từng sử dụng dịch vụ của Vietftach thì luôn muốn sử dụng lần sau, từ đó tạo thành hệ thống khách hàng trung thành của Công ty. Hệ thống khách hàng trung thành và khách hàng lớn được mở rộng cũng đặt ra cho Vietfracht các thách thức, đó là luôn luôn làm hài lòng các khách hàng trung thành và các khách hàng mới với các dịch vụ tốt nhất của Vietfracht. Một số đối tác lớn và cũng là khách hàng trung thành của Vietftacht: Công ty TNHH Honda Việt Nam, Công ty Yazaki Nhật Bản, Công ty Nissin NHật Bản, Công ty Hankyu Nhật Bản, Công ty Panasonic, Công ty Canon,…

  • Đội ngũ nhân viên trở nên chuyên nghiệp hơn

Các lớp đào tạo Công ty mở đã được tập thể nhân viên ủng hộ, tích cực tham gia để bồi bổ kiến thức và nâng cao tay nghề. Công ty đã liên kết mở một số lớp đào tạo về nghiệp vụ logistics, vận tải biển, vận tải đường không, nghiệp vụ quản lý, nghiệp vụ kinh doanh,… Bên cạnh đó, công việc đào tạo thuyền viên phục vụ cho khai thác đội tàu biển đã và đang được tiến hành, tạo nên đội ngũ thuyền viên trung thành với Công ty, hoạt động vì lợi ích của Công ty.

  • Thực hiện công tác liên doanh, mở rộng và hợp tác với bên ngoài hiệu quả

Đúng như kế hoạch Công ty đã đề ra, công tác liên doanh, liên kết đã được công ty đẩy mạnh cùng việc chủ động thực hiện hội nhập sâu vào thị trường logistics, giao nhận vận chuyển của thế giới sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Một số liên doanh đã được thành lập trong thời gian qua như: Công ty CP Unithai Logistics Việt Nam, Công ty TNHH Việt Nam, Cty TNHH Heung-A Shipping Việt Nam, Công ty CP Tân Cảng – Cái mép,… Điều này cũng làm cho Công ty tiết kiệm được phần nào chi phí đầu vào khi sử dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị, dịch vụ của các đối tác liên doanh, liên kết, hạn chế được việc đi thuê ngoài. Hiện nay Công ty đã thiết lập được hệ thống mạng lưới đại lý vận tải giao nhận tại nhiều nước trên thế giới. Việc thiết lập hệ thống đại lý rộng và phân bổ tại một số khu vực trên thế giới đã mang lại sự chủ động và khả năng đáp ứng yêu cầu đa dạng về vận tải forwader đối với các đối tượng khách hàng trong và ngoài nước. Khóa luận: Thực trạng dịch vụ logistics của công ty Vietfracht.

Những nhược điểm của dịch vụ logistics của Vietfracht

  • Đội ngũ nhân viên được đào tạo chưa thực sự bài bản

Trên thực tế số lượng nhân viên được Công ty đào tạo theo các lớp đào tạo dài hạn còn ở con số ít, chỉ dừng lại ở cấp quản lý như trưởng phòng, phó phòng và một số đối tượng khác theo yêu cầu của công việc. Còn đa phần các nhân viên khác, chủ yếu làm việc dựa trên những kiến thức được đào tạo từ trước, hoặc trên kinh nghiệm thực tế thu nhận được trong quá trình làm việc. Mà một thực trạng chung hiện nay chưa có trường đại học nào đào tạo chuyên sâu và đầy đủ về dịch vụ logistics, hơn nữa tại một số trường lớp đào tạo vẫn còn nhầm lẫn giữa dịch vụ logistics và dịch vụ giao nhận cho nên kiến thức được cung cấp tại các trường đại học còn rất mơ hồ, chưa sát với thực tế, điều này sẽ gây khó khăn cho các nhân viên khi phát sinh các tình huống mới, từ đó gây cản trở cho việc giao hàng đúng thời gian, đúng địa điểm, ảnh hưởng đến chữ “TÍN” của Vietfracht. Hơn nữa, Công ty vẫn chưa thay đổi chính sách lương thưởng cùng các chế độ ưu đãi đối với nhân viên. Đây cũng là một yếu tố hạn chế người tài gia nhập Công ty. Từ khi chuyển đổi thành Công ty cổ phần, số lượng nhân viên trực tiếp phục vụ cho dịch vụ logistics của Công ty có tăng lên, tuy nhiên mới dừng lại ở con số trên 100 người, trong đó tình độ trên đại học và đại học chiếm 68.74%, trong đó có khoảng 42.58% nhân viên tốt nghiệp Đại học Ngoại Thương và Đại học Hàng hải. Dựa vào tình hình trên, thì đội ngũ nhân viên chuyên môn để cung cấp dịch vụ logistics còn ít, chưa đáp ứng đủ yêu cầu công việc, còn tình trạng thiếu người, khiến cho một người phải phụ trách nhiều mảng, nhiều phân đoạn, chưa đạt được sự chuyên môn hoá cao trong khi yêu cầu về trình độ và chuyên môn của những con người trong lĩnh vực này ngày càng tăng.

Số cán bộ công nhân viên nhiều tuổi hiện còn chiếm tỷ trọng lớn. Thiếu cán bộ lãnh đạo có năng lực, trình độ để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường trong khi đó công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và nhân viên nghiệp vụ kế cận chưa được thực hiện đúng mức. Vì vậy, đội ngũ lao động trong dịch vụ logistics của Vietfracht cần được trẻ hoá và là nền tảng phát triển của dịch vụ logistics sau này.

  • Dịch vụ logistics vẫn còn tập trung vào các hoạt động giao nhận truyền thống

Dịch vụ logistics vẫn còn tập trung vào các hoạt động giao nhận truyền thống – một tồn tại của Công ty nói riêng và của các công ty cung cấp dịch vụ logistics ở Việt Nam nói chung. Hiện nay, Công ty vẫn chưa đạt được mức độ hoàn thiện mà chỉ cung cấp một số công đoạn của quy trình logistics. Mảng hoạt động logistics gồm những hoạt động chủ yếu sau:

  • Dịch vụ vận chuyển hàng hoá: Vận tải đa phương thức, vận tải hàng hoá bằng đường biển, đường không, đường bộ và đường sắt trong và ngoài nước, vận tải quá cảnh sang Trung Quốc, Lào, Campuchia.
  • Dịch vụ kho bãi: Kinh doanh cảng cạn (ICD), kho, bãi container, kho ngoại quan, kho trung chuyển, phân phối, thu gom hàng xuất nhập khẩu và hàng nội địa. Bốc xếp, bảo quản và vận tải các loại hàng hoá và một số dịch vụ kho bãi gia tăng.
  • Dịch vụ giao nhận: Dịch vụ làm thủ tục hải quan cho các chủ hàng; đại lý mua bán, ký gửi hàng hoá, nhận uỷ thác xuất khẩu,… Khóa luận: Thực trạng dịch vụ logistics của công ty Vietfracht.

Trong vấn đề vận tải, chưa thực sự kết hợp một cách hiệu quả các hình thức tổ chức vận tải, các điểm chuyển tải, vẫn tạo ra thời gian chết đối với hàng hoá. Phương tiện vận tải tuy đã được Công ty đầu tư, tuy nhiên số lượng phương tiện đầu tư mới vẫn còn hạn chế chưa đáp ứng đủ nhu cầu nên vẫn phải tiếp tục sử dụng các phương tiện cũ, lạc hậu, điều này đã phần nào làm giảm năng suất.

  • Bên cạnh đó, trang thiết bị dùng cho kho bãi chưa được hiện đại, thiếu tính đồng bộ, mới chỉ có xe nâng, cần trục,…

Dịch vụ logistics Vietfracht cung cấp chưa được đa dạng và tích hợp thêm nhiều dịch vụ giá trị gia tăng giống một số nhà cung cấp dịch vụ logistics lớn trên thị trường như Maersk Logistics, APL Logistics,… Vietfracht mới chỉ cung cấp dịch vụ kho bãi, bốc xếp bảo quản và vận tải các loại hàng hoá, cùng một số dịch vụ gia tăng như dán nhãn, bao gói hàng,… tuỳ theo yêu cầu của khách hàng. Các dịch vụ gia tăng mà Vietfracht cung cấp chỉ là các dịch vụ gia tăng cơ bản tại kho bãi khi có yêu cầu của khách hàng. Trong khi đó, Maersk Logistics và APL Logistics hiện đã làm thêm các dịch vụ gia tăng một cách bài bản, có hệ thống và áp dụng công nghệ thông tin như scan hàng hoá, in và kiểm tra mã vạch, đóng pallet, phân loại hàng, phát hành chứng từ cho hàng hoá, làm thủ tục hải quan, truyền số liệu hàng hoá qua hệ thống điện tử. Bên cạnh đó, Vietfracht vẫn còn thiếu dịch vụ quản trị chuỗi cung ứng. Dịch vụ này sẽ giúp cho việc thực hiện kế hoạch kinh doanh của khách hàng diễn ra đúng tiến độ, ăn khớp với kế hoạch chuyên chở được đề ra, tránh được việc chờ đợi, lãng phí thời gian trong quá trình chuyên chở.

  • Chi phí phục vụ cho hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics còn cao

Một trong những nhân tố ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics là chi phí. So với các đối thủ khác, nhất là các đối thủ tư nhân, chi phí của VIETFRACHT còn ở mức cao. Trong kết cấu chi phí của dịch vụ logistics, chi phí thuê phương tiện thường chiếm một tỷ trọng lớn mà chi phí này của VIETFRACHT thường ngang bằng hoặc cao hơn các đối thủ khác. Bên cạnh đó, chi phí quản lý và giao nhận hiện nay cũng khá cao. Ngoài ra, trong nhiều trường hợp, các chủ phương tiện nhận thực hiện dịch vụ vận tải đa phương thức chỉ cần thu được lợi nhuận từ hoạt động của việc cho thuê phương tiện mà không tính đến lợi nhuận của toàn bộ chuỗi dịch vụ. Do đó, khả năng cạnh tranh về giá thành của Công ty không cao trong các tuyến vận chuyển trừ một số tuyến qua Hải phòng – Vietfracht có ưu thế tuyệt đối do hệ thống kho tại cảng đã được thuê dài hạn. Hiện nay, Công ty đã huy động, liên kết được với một số đội phương tiện phục vụ dài hạn cho Công ty và có chất lượng dịch vụ khá, nhưng số phương tiện đó cũng chưa đáp ứng được toàn bộ yêu cầu cho các khách hàng của Công ty.

  • Hoạt động của Vietfracht còn mang tính độc lập, thiếu tính liên kết và mạng lưới đại lý và chi nhánh trên thế giới còn bó hẹp Khóa luận: Thực trạng dịch vụ logistics của công ty Vietfracht.

Hoạt động logistics của Công ty còn thiếu sự kết hợp giữa các bộ phận logistics và bộ phận khác liên quan. Do vậy, việc chuyên chở, lưu kho cũng như các hoạt động tại cảng biển không phải lúc nào cũng thông suốt, vẫn còn tình trạng chậm trễ trong giao hàng cho khách hàng.

Tại Vietftacht, xu hướng outsourcing các nguồn lực bên ngoài chưa nhiều. Mà xu hướng hiện nay, các doanh nghiệp chỉ cần tập trung vào các thế mạnh của mình và sẽ đi thuê bên ngoài các dịch vụ không phải là thế mạnh của mình.

Mạng lưới đại lý và chi nhánh trên thế giới vẫn chưa được Công ty tập trung mở rộng, điều này cũng làm hạn chế khả năng phát triển hoạt động logistics của Công ty. Đại lý và chi nhánh là yếu tố tất yếu để hoạt động logistics toàn cầu.

Hoạt động logistics của Vietfracht mới chỉ bó hẹp trong nước cùng một số quốc gia lân cận như Lào, Trung Quốc và một số thị trường chính như Nhật, Mỹ, chưa vươn rộng ra tầm quốc tế. Việc ứng dụng logistics trong các lĩnh vực đời sống kinh tế – sản xuất của nước ta là chậm so với các nước trong khu vực và trên thế giới nhiều năm, hơn nữa xuất phát điểm cho phát triển hoạt động logistics của nước ta còn thấp. Đó cũng là một nguyên nhân làm cho quy mô hoạt động logistics của Vietfracht còn nhỏ, chưa vươn rộng ra tầm thế giới. Khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa và thị trường quốc tế còn kém.

  • Hạn chế áp dụng công nghệ thông tin trong dịch vụ logistics

Có thể nói hệ thống thông tin là trái tim của hoạt động logistics, quản lý chuỗi logistics là quản lý cả dòng vật chất lẫn dòng thông tin. Nếu thiếu một trong hai thì hoạt động đó chưa thực sự là hoạt động logistics. Công ty hiện nay vẫn chỉ sử dụng hệ thống thông tin truyền thống như điện thoại, fax, email để trao đổi thông tin, gửi và nhận chứng từ với khách hàng, hải quan. Trong khi một số nhà cung cấp dịch vụ logistics ở một số nước như Singapore, Thái Lan, Malaysia, … đã áp dụng hệ thống trao đổi thông tin điện tử cho phép các bên liên lạc với nhau bằng các kỹ thuật mạng tin học tiên tiến, thông quan bằng các thiết bị điện tử. Như vậy, Vietfracht chưa có phần mềm hay hệ thống thông tin kết nối với các đối tác của riêng mình.

Mức độ ứng dụng công nghệ thông tin và thương mại điện tử chưa cao. Công ty hiện mới chỉ xây dựng website mang tính chất giới thiệu đơn thuần về doanh nghiệp, về dịch vụ của doanh nghiệp. Tuy nhiên, các thông tin trên website vẫn còn rất sơ sài, không được cập nhật thường xuyên, và chưa nêu bật được ưu điểm của các dịch vụ mà Công ty cung cấp, sự khác biệt nổi trội so với các đối thủ. Như thế, website của Công ty đưa ra vẫn còn thiếu các tiện ích mà khách hàng cần như công cụ theo dõi đơn hàng, lịch tàu, đăng kí điện tử, theo dõi chứng từ.

Hiện Vietfracht mới chỉ xử lý đơn hàng trên hai phần mềm BPCS và WMS. Trong khi đó, nhiều nhà cung cấp dịch vụ logistics khác đã áp dụng công nghệ thông tin rất nhiều trong việc cung cấp dịch vụ logistics. Như hệ thống thông tin của Maersk Logistics gồm có: Hệ thống trao đổi thông tin giữa các văn phòng của Maersk Logistics trên khắp thế giới – Maersk Communication System (MCS), hệ thống quản lý đơn hàng – Operation & Documentation Excution System (ODES), hệ thống gửi yêu cầu qua mạng – Online Booking & Documentation System for Shipper, hệ thống quản lý mã hàng – E-label System. Nếu Vietfracht áp dụng được hệ thống công nghệ như trên vào hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics thì chất lượng dịch vụ logistics cũng như hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics sẽ tăng lên rất nhiều. Nhưng việc áp dụng những công nghệ trên không phải là một điều dễ dàng vì nó đòi hỏi Công ty có một khoản đầu tư khá lớn cùng với việc xây dựng một đội ngũ nhân viên tiếp quản và triển khai ứng dụng. Khóa luận: Thực trạng dịch vụ logistics của công ty Vietfracht.

  • Hoạt động marketing cũng như chiến lược dịch vụ khách hàng còn yếu

Công ty hiện chưa có các hoạt động marketing và chiến lược dịch vụ khách hàng cho mảng hoạt động logistics của mình một cách bài bản. Việc marketing hiện nay của Vietfracht vẫn chủ yếu dựa vào hệ thống khách hàng thân quen và trung thành. Công ty tin rằng bằng việc thực hiện tốt dịch vụ logistics cho các khách hàng này, uy tín của Vietfracht sẽ được nâng cao, từ đó sẽ mở rộng được hệ thống khách hàng. Phương pháp marketing này chủ yếu dựa trên tiêu chí cung cấp dịch vụ logistics chất lượng tốt cũng sẽ giúp Vietfracht mở rộng được hệ thống khách hàng của mình nhưng không nhiều. Vì thực sự tại thời điểm hiện tại, dịch vụ logistics mà Vietfracht cung cấp vẫn còn nhiều điều tồn tại, cần khắc phục và vẫn chưa có khả năng cạnh tranh với các đối thủ lớn như APL Logistics, Maersk Logistics,…

Ngoài ra việc đa dạng hoá dịch vụ cung cấp cũng là một trong những nội dung của hoạt động marketing cần tiến hành. Nhưng hiện tại Vietfracht vẫn chưa làm được điều này.

Bên cạnh đó, hoạt động xúc tiến bán hàng và chăm sóc khách hàng của Công ty vẫn chưa được đẩy mạnh, vẫn còn mang tính lẻ tẻ, chưa chuyên nghiệp. Công ty vẫn chưa có sự đầu tư đầy đủ vào hoạt động marketing.

Bảng 2.6 : Ưu và nhược điểm của dịch vụ logistics tại Vietfracht

  • Nhận xét:

Xét về tổng thể, tình hình kinh doanh dịch vụ logistics của Vietfracht hiện nay là rất khả quan. Có được những thay đổi, thành công vượt bậc trong việc kinh doanh dịch vụ logistics thời gian qua như trên là nhờ Vietfracht có sự định hướng đúng đắn, cùng với kế hoạch kinh doanh từng năm cụ thể và việc thực thi kế hoạch đề ra một cách có hiệu quả của Tổng giám đốc, Ban giám đốc cùng toàn thể các cán bộ công nhân viên công ty Vietfracht. Tuy nhiên, bên cạnh đó, chúng ta cũng phải thừa nhận một điều rằng, dịch vụ logistics của Vietfracht hiện tại vẫn còn những mặt hạn chế, cần khắc phục.

Qua quá trình nghiên cứu, em thấy được hiện tại Vietfracht mới chỉ dừng lại ở việc đặt ra kế hoạch cụ thể hàng năm, chưa có một chiến lược kinh doanh dài hạn cụ thể cho dịch vụ logistics. Do đó, để đủ sức cạnh tranh với các nhà cung cấp dịch vụ logistics khác, Vietfracht cần tích cực phấn đấu phát huy những điểm mạnh, khắc phục những điểm yếu để nắm bắt được cơ hội, vượt qua được những thách thức và hoàn thiện dịch vụ. Cùng với đó là Vietfracht cũng cần chú trọng và phát huy các nội lực của chính mình để phát triển, bởi đầu tư vào nội lực để phát triển là một điều cần thiết đối với các doanh nghiệp nói chung và Vietfracht nói riêng trong thời kì hội nhập. Nhận thức được điều này rất quan trọng với Vietfracht tại thời điểm hiện tại, nhất là trong giai đoạn Việt Nam đang hội nhập sâu rộng vào thị trường thế giới, em thấy cần thiết phải đưa ra một chiến lược kinh doanh dịch vụ logistics cho Vietfracht để có thể nâng tầm dịch vụ logistics của Vietfracht, vươn rộng ra thị trường logistics toàn cầu và có thể cạnh tranh với các nhà cung cấp dịch vụ logistics nước ngoài. Khóa luận: Thực trạng dịch vụ logistics của công ty Vietfracht.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Chiến lược kinh doanh dịch vụ logistics của Cty vận tải

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x