Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng quản lý cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ phân phối ở Việt Nam và kinh nghiệm của một số nước trên thế giới dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
I: THỰC TRẠNG CẠNH TRANH VÀ QUẢN LÝ CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC DỊCH VỤ PHÂN PHỐI Ở VIỆT NAM
1. Thực trạng cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ phân phối
1.1. Tổng quan về thị trường phân phối ở Việt Nam
Hệ thống phân phối ở Việt Nam về cơ bản có thể chia làm hai loại: hệ thống phân phối truyền thống và hệ thống phân phối hiện đại.
Hệ thống phân phối truyền thống còn được gọi là hệ thống chợ truyền thống, so với trước đây thì hệ thống này ngày càng phát triển, chủ yếu ở khu vực nông thôn, nhiều loại hình chợ mới đã xuất hiện: chợ đầu mối, chợ chuyên doanh, chợ văn hoá du lịch, chợ ẩm thực, v.v. Tính đến năm 2025 Việt Nam có 9.063 chợ, trong đó có khoảng 165 chợ đầu mối cấp vùng, tỉnh, khu vực nông thôn có số chợ là 6.788 chợ, chiếm 74,9% tổng số chợ, khu vực thành thị có 2.275 chiếm 25.1%. Trong đó số chợ hoạt động có hiệu quả chiếm 97,9% [10].
Hệ thống phân phối hiện đại gồm nhiều loại hình như siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi, cửa hàng chuyên doanh bán hàng đang có xu hướng phát triển nhanh ở khu vực thành thị. Hệ thống phân phối này còn được chia làm hai loại hình: phân phối bán buôn và phân phối bán lẻ.
Lĩnh vực dịch vụ phân phối hiện nay đóng góp khoảng 13-14% vào GDP và là ngành kinh tế có đóng góp lớn thứ ba vào GDP sau ngành công nghiệp chế biến và nông nghiệp. Đóng góp của dịch vụ phân phối vào tạo việc làm không ngừng tăng, với tỷ trọng trong tổng lao động đang làm việc liên tục tăng từ 10,4% năm 2019 lên 12,2% năm 2024 và cũng là ngành kinh tế quan trọng thứ ba trong tạo việc làm, sau nông nghiệp và công nghiệp. Lĩnh vực dịch vụ phân phối đóng góp hơn 6% vào vốn đầu tư toàn xã hội, đồng thời lĩnh vực này có tỷ trọng lao động cao gần gấp đôi tỷ trọng vốn, cho nên có thể khai thác lợi thế về lao động của Việt Nam.
Theo số liệu tổng điều tra công nghiệp, số lượng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ phân phối tăng hơn hai lần trong thời kỳ 2019 – 2023, từ gần 14,100 doanh nghiệp lên gần 28,600 doanh nghiệp. Trong đó, số lượng doanh nghiệp hoạt động bán buôn tăng gần 170% và bán lẻ tăng gần 50%. Số lượng doanh nghiệp hoạt động tăng nhanh phản ánh mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt trong lĩnh vực dịch vụ phân phối. Tuy nhiên giữa các nhà phân phối nước ngoài và các nhà phân phối trong nước lại có sự khác biệt trong hệ thống phân phối. Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ của Bộ Công Thương, tham gia hệ thống phân phối hiện đại hiện nay có khoảng 20 đơn vị là các tổng doanh nghiệp, doanh nghiệp tư nhân, liên doanh và cả 100% vốn nước ngoài.
Đến cuối năm 2025, hệ thống phân phối ở Việt Nam có hơn 9000 chợ truyền thống, trên 200 siêu thị, 30 trung tâm thương mại và hàng ngàn cửa hàng tiện ích của các thành phần kinh tế. Hơn 10 năm qua, các mạng lưới bán lẻ, phân phối đã được cải tạo nâng cấp xây mới cho phù hợp với xu thế tiêu dùng ngày càng văn minh hơn. Tuy nhiên, về doanh số mới chỉ có 10% được thực hiện ở các siêu thị và trung tâm thương mại, 40% ở các chợ, 44% ở các cửa hàng bán lẻ truyền thống, còn lại các đơn vị sản xuất trực tiếp phân phối là 6% [52]. Trong đó, có xu hướng là các nhà phân phối có vốn đầu tư nước ngoài nhắm nhiều vào hệ thống hiện đại và các nhà phân phối có vốn đầu tư trong nước lại chọn hệ thống truyền thống. Hệ thống truyền thống được cho là tạo lợi thế cho những nhà phân phối trong nước nhờ sự am hiểu thị trường nội địa. Tuy nhiên, những thương hiệu của doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước áp dụng các phương thức kinh doanh hiện đại như nhượng quyền thương mại, v.v như là Cà phê Trung Nguyên, Phở 24, bánh Kinh Đô… cũng đã xuất hiện và thành công.
Loại hình phân phối, bán lẻ, bán buôn hiện đại có chất lượng và dịch vụ cao như là các siêu thị và trung tâm thương mại chỉ mới xuất hiện ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ, Hải Phòng… và một số thành phố lớn khác, tỷ lệ doanh thu thuộc về các kênh phân phối truyền thống vẫn còn rất lớn. Tuy nhiên các kênh phân phối hiện đại này đang phát triển với tốc độ khá nhanh. Khóa luận: Thực trạng quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối.
Ban đầu các loại hình thuộc hệ thống phân phối hiện đại tập trung chủ yếu ở hai thành phố lớn là Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh. Cùng với quá trình đô thị hóa đang diễn ra một cách nhanh chóng, các hình thức phân phối hiện đại này nay đã lan rộng đến các tỉnh có tiềm năng như Nha Trang (Maximart), Cần Thơ, Quy Nhơn (Co.op Mart vào năm 2022). Tại Tp. Hồ Chí Minh, nhiều trung tâm thương mại lớn như Diamond Plaza, An Đông Plaza, Zen Plaza cũng xâm nhập thành công vào thị trường phân phối. Cuối năm 2014, mới chỉ có 12 siêu thị tại 6 tỉnh và thành phố trên cả nước, năm 2015 trên địa bàn cả nước mới có 1 siêu thị ra đời là CitiMart, đến năm 2024 đã có trên 200 siêu thị, 30 trung tâm thương mại tại hơn 30 tỉnh thành trong cả nước và hàng ngàn cửa hàng tiện lợi, cửa hàng chuyên doanh ở khắp cả nước. Trong đó, đến năm 2024, Tp. Hồ Chí Minh có 81 siêu thị các loại, trong đó 41 siêu thị kinh doanh tổng hợp và 40 siêu thị kinh doanh chuyên ngành [53]. Đầu năm 2025, khi đang còn những dự báo khác nhau về thời điểm Việt Nam chính thức gia nhập WTO thì nhiều nhà phân phối bán lẻ trong nước đã thực sự vào cuộc. Và sau một năm, kết quả bước đầu đã cho thấy một bước tiến khá nhanh và mạnh mẽ của những doanh nghiệp này.
Đến thời điểm này, hầu hết các kênh phân phối lớn trong nước đều đồng loạt nâng các đơn vị thuộc sở hữu từ một lên hai con số, điều mà nhiều kênh phân phối nước ngoài chưa làm được trong thời gian qua. Cụ thể như Liên hiệp Hợp tác xã Thương mại Tp. HCM đã có chuỗi 16 siêu thị và trên 10 cửa hàng tiện lợi mang thương hiệu “Co.op Mart”; Công ty Xuất nhập khẩu Intimex với chuỗi 8 siêu thị Intimex; Công ty TNHH An Phong có 5 siêu thị MaxiMart, Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Đông Hưng thiết lập xong 10 siêu thị và cửa hàng chuyên doanh Citimart, Công ty Cổ phần Nhất Nam với chuỗi 7 siêu thị mang thương hiệu Fivimart… [60].
Nhanh, mạnh hơn và sâu sát hơn cũng là điểm nổi bật của ngành thương mại năm 2025. Sau khi Trung Nguyên cho ra đời chuỗi 1.000 cửa hàng tiện lợi mang thương hiệu G7 Mart, một loạt các doanh nghiệp kinh doanh theo kiểu “tiện lợi” này cũng được ra đời như chuỗi các cửa hàng tiện lợi 24/Seven của Công ty Cổ phần Hoang Corp, chuỗi cửa hàng V-24h của Công ty Cổ phần Phân phối Vina…và hàng trăm siêu thị lớn nhỏ rải đều từ Bắc chí Nam của hai đại gia: Tổng công ty Thương mại Hà Nội (Hapro) với thương hiệu Hapro Mart và Tổng công ty Thương mại Sài Gòn (Satra)…
Thực tế đó đã cho thấy các loại hình dịch vụ phân phối hiện đại tuy mới xuất hiện ở Việt Nam nhưng đang phát triển với tốc độ nhanh chóng. Và trong tương lai, tiềm năng phát triển ấy còn rất mạnh mẽ. Điều này được thể hiện qua tốc độ tăng trưởng kinh tế, kết cấu dân số trẻ và sự thay đổi trong thói quen tiêu dùng xã hội được tạo nên bởi quá trình đô thị hóa đang diễn ra nhanh chóng ở Việt Nam. Khóa luận: Thực trạng quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối.
Với tốc độ phát triển GDP vào khoảng 7 – 7.5% một năm thời kỳ 2020 – 2024 và dự tính là 7.5 – 8% thời kỳ 2025 – 2029, Việt Nam được coi là một trong các nước có tốc độ phát triển kinh tế nhanh hàng đầu thế giới. Hiện nay, với mức dân số Việt Nam đã đạt hơn 80 triệu dân trong đó gần 50% là lực lượng trẻ tuổi đời từ 18-30, có tốc độ tăng dân số bình quân năm thời kỳ 2025 – 2029 là 1.25%.
- Biểu đồ 1: Tổng dân số giai đoạn 2015-2025, dự đoán 2029 và 2040.
Sức mua của xã hội tăng lên không ngừng, bình quân tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ tăng từ 10 – 15%/năm. Hiện nay, phần lớn người tiêu dùng có thói quen mua các mặt hàng thực phẩm (nhất là thực phẩm tươi sống) tại các chợ, các hộ kinh doanh độc lập. Trong những năm tới, cùng với quá trình đô thị hóa (dân số thành thị năm 2024 là khoảng 22.4 triệu dân thì tính đến năm 2029 là 25.8 triệu dân và đến 2040 là 35 triệu dân. Tỷ lệ dân số sống ở đô thị vào năm 2024 là 22.4 triệu, dự báo đến 2029 là 25 triệu và đến 2040 là 35 triệu), thu nhập của dân cư tăng, ý thức về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm tốt hơn nên xu hướng mua hàng tại các siêu thị, cửa hàng chuyên doanh tăng cao, với tốc độ dự kiến trên 150%/năm.
- Biểu đồ 2: Dân số thành thị giai đoạn 2015-2025, dự đoán 2029 và 2040
- Biểu đồ 3: Tỷ lệ dân số thành thị/tổng dân số giai đoạn 2015-2025, dự đoán 2029 và 2040.
Nếu như trong giai đoạn 2020 – 2024, tốc độ tiêu dùng tăng cao hơn so với nhiều lần so với tốc độ tăng dân số (7.7% so với 1.4%) chứng tỏ tiêu dùng bình quân đầu người và mức sống đuợc nâng lên đáng kể thì các chuyên gia kinh tế dụ báo tỷ lệ quỹ tiêu dùng cuối cùng so với GDP sẽ tiếp tục giữ khoảng 70% trong thời kỳ chiến lược 2025 – 2029 do Việt Nam ưu tiên cho đầu tư phát triển và xuất khẩu.
- Biểu đồ 4: Quỹ tiêu dùng cuối cùng/GDP thời kỳ 2015-2024
Hiện nay tỷ trọng phát triển thương mại hiện đại ở các nước phát triển trên thế giới ngày càng cao, tại Mỹ là 90%, Trung Quốc là 56%, còn tại Việt Nam, con số này chỉ vẻn vẹn có 15%. 85% còn lại của một thị trường hơn 80 triệu dân quả thật có sức hút lớn đối với các nhà đầu tư trong lĩnh vực bán hàng hiện đại.
Bên cạnh các chỉ số kinh tế – xã hội thuận lợi như vậy, trong “Đề án phát triển thương mại trong nước đến năm 2029 và định hướng đến năm 2040” của Bộ Công Thương đã đề ra chỉ tiêu tỷ trọng mức bán lẻ hàng hoá theo loại hình thương mại hiện đại (trung tâm thương mại, siêu thị, trung tâm mua sắm, khu thương mại – dịch vụ, cửa hàng tiện lợi, cửa hàng chuyên doanh, trung tâm logistics, tổng kho bán buôn, trung tâm hội chợ – triển lãm…) đạt 20%, khoảng 160 nghìn tỷ đồng vào năm 2029, đến năm 2040 đạt 40%, khoảng 800 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, Bộ cũng cũng đưa ra định huớng phát triển mạnh và ưu đãi đầu tư cho hình thức hiện đại của dịch vụ phân phối, hiện đại hoá kết cấu hạ tầng thương mại; chú trọng xây dựng và phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng thương mại hiện đại ở các đô thị, khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất, khu kinh tế cửa khẩu; hoàn thành về cơ bản chương trình phát triển các loại hình chợ (chợ dân sinh ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới hải đảo và chợ trung tâm, chợ chuyên doanh, chợ đầu mối ở các vùng sản xuất nông sản tập trung, các thị trường tiêu thụ lớn).
Cùng với các chỉ tiêu kinh tế – xã hội, chính sách vĩ mô thuận lợi cho viêc phát triển dịch vụ phân phối như vậy, chính phủ Việt Nam đang dần dần thực hiện mở cửa thị trường theo các cam kết quốc tế. Tháng 10 năm 2024, Việt Nam đã đưa ra các cam kết về dịch vụ phân phối trong Hiệp định thương mại Việt – Mỹ (BTA) và Hiệp định tự do hoá, xúc tiến bảo hộ đầu tư Việt Nam – Nhật Bản. Theo đó, Hiệp định thương mại Việt – Mỹ đã đưa ra lộ trình mở cửa từ 3 đến 7 năm cho các nhóm sản phẩm được tính từ ngày doanh nghiệp phân phối đó có hiện diện thương mại đầu tiên tại Việt Nam.
Theo cam kết với WTO, hiện nay, Việt Nam cho phép doanh nghiệp trong nước liên doanh với doanh nghiệp nước ngoài trong lĩnh ục bán lẻ, trong đó, đối tác được góp vốn lên đến 49%; từ ngày 01/01/2027, cho phép liên doanh không hạn chế vốn góp từ phía nước ngoài. Và từ ngày 01/01/2028, Việt Nam cho phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Việc mở thêm điểm bán lẻ đầu tiên sẽ được xem xét cấp phép trên cơ sở từng trường hợp. Nghĩa là, trong vòng 1 – 2 năm tới, nếu các doanh nghiệp bán lẻ trong nước không tự đổi mới mình, vượt qua thách thức để nâng cao năng lực cạnh tranh thì nguy cơ bị các doanh nghiệp đánh bại và thôn tính là khó tránh khỏi. Khóa luận: Thực trạng quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối.
Việt Nam cũng đang và sẽ đàm phán mở cửa thị trường dịch vụ (trong đó có thể có cả dịch vụ phân phối) ở các mức độ khác nhau trong khuôn khổ các Khu vực mậu dịch tự do ASEAN với các đối tác (ASEAN cộng) với các đối tác của ASEAN là Nhật Bản, Úc, Newzealand, Hàn Quốc, Ấn Độ, Trung Quốc và EU. Trong số này có một số đối tác có tiềm năng xuất khẩu dịch vụ phân phối sang Việt Nam cũng có cam kết dịch vụ phân phối với Singapore do Singapore cũng quan tâm đến lĩnh vực này.
Như vậy có thể thấy, Việt Nam đang dần mở cửa thị trường phân phối cho các doanh nghiệp nước ngoài mà đầu tiên là Mỹ, Nhật sau đó là các doanh nghiệp nước khác theo thỏa thuận WTO. Chính sách mở cửa này cộng với sự hấp dẫn của thị trường trong nước và qua một thực tế là hàng loạt các doanh nghiệp lớn của quốc tế đang thâm nhập hoặc đang có ý định thâm nhập thị trường Việt Nam có thể cho thấy một tốc độ tăng trưởng nhanh và mức độ cạnh tranh khốc liệt đã và đang diễn ra trong lĩnh vực dịch vụ phân phối ở nước ta.
1.2. Cuộc cạnh tranh gay gắt giữa nhà phân phối trong nước và nước ngoài
Trước các dự đoán kinh tế lạc quan và việc mở cửa lĩnh vực phân phối của Chính phủ Việt Nam, không chỉ các doanh nghiệp trong nước đầu tư vào lĩnh vực này mà các doanh nghiệp phân phối lớn đang tìm cách xâm nhập vào thị trường phân phối của Việt Nam. Hiện tượng này cho thấy hệ thống phân phối không còn là mảnh đất độc quyền của các doanh nghiệp trong nước và cuộc chiến giữa các kênh phân phối đã thực sự bắt đầu. Điều này buộc các doanh nghiệp trong nước phải chủ động tham gia nếu không muốn bị thất bại và gánh chịu những hậu quả khách quan trước áp lực cạnh tranh ngày càng khốc liệt.
Những năm gần đây đã chứng kiến sự thâm nhập của các tập đoàn phân phối lớn của nước ngoài vào Việt Nam. Hiện nay đã có gần 10 tập đoàn như Bourbon Group, Metro Cash & Carry, Lotteria, Medicare và gần đây là Parkson hoạt động trong các lĩnh vực siêu thị, thức ăn nhanh, trung tâm mua sắm, chăm sóc sức khỏe. Số lượng của các tập đoàn này cũng không ngừng mở rộng trên địa bàn cả nước. Dairy Farm (Hồng Công) đang xin cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn FDI. Ngoài ra còn có nhiều tập đoàn đang xây dựng kế hoạch để xâm nhập vào thị trường Việt Nam trong đó có các tập đoàn bán lẻ lớn trên thế giới như Wal- mart (Mỹ), Carefour (Pháp), Tesco (Anh) và các tập đoàn bán lẻ hàng đầu châu Á như: Dairy- Farm (Hồng Công), South Asia Investment Pte (Singapore). Các chuỗi cửa hàng tiện lợi Seven – Eleven, Wal – mart vốn hoạt động theo hình thức nhượng quyền cũng dự định đặt chân vào thị trường Việt Nam. Việt Nam đang trở thành thị trường mới hấp dẫn đối với các nhà phân phối lớn trên thế giới với dân số gần 83 triệu, mức tăng GDP 8,4%/ năm và tổng tiêu dùng lên đến 21 tỉ USD trong năm 2024. Đại diện nhiều tập đoàn tư vấn bất động sản quốc tế chuyên nghiệp cho rằng, sức hấp dẫn còn do mức giá cho thuê các trung tâm thương mại tại Việt Nam khá rẻ và linh động. Ngoài ra, Việt Nam còn là cửa ngõ dẫn tới một số thị trường như ấn Độ, Trung Quốc, Campuchia và Lào. Theo kết quả khảo sát của tập đoàn tư vấn hàng đầu thế giới AT Kearney (Mỹ), Việt Nam đang là thị trường bán lẻ hấp dẫn thứ tư thế giới sau Ấn Độ, Nga và Trung Quốc. Các tập đoàn bán lẻ nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam như Metro Cash & Carry (Đức), Bourbon (Pháp), Parkson thuộc tập đoàn Lion (Malaisia), Zen Plaza (Nhật Bản) và Diamond Plaza (Hàn Quốc) đang tích cực đẩy nhanh việc mở rộng thị phần qua các hoạt động kinh doanh của mình. Metro Cash & Carry đang hoạt động với 6 siêu thị tại Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Tp. Hồ Chí Minh, Cần Thơ với hình thức bán buôn và bán lẻ khoảng 10000 – 15000 mặt hàng các loại. Sau khi thành công với siêu thị Metro (Cổ Nhuế), cũng tại Hà Nội, ngày 19-9 vừa qua, Tập đoàn Metro Cash & Cary tiếp tục khai trương Metro Hoàng Mai. Ông Uwe Hoelzer- Tổng giám đốc của Tập đoàn Metro tại Việt Nam cho biết: “Tập đoàn đã xây dựng 8 trung tâm bán sỉ tự phục vụ tại Việt Nam với tổng vốn đầu tư 120 triệu USD. Hiện chúng tôi đang chuẩn bị mở 4 trung tâm nữa tại 4 thành phố lớn là Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh, Nha Trang và Đồng Nai” [48]. Khóa luận: Thực trạng quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối.
Hệ thống siêu thị Big C (Thái Lan) đang hoạt động với 3 siêu thị, 2 ở Tp. Hồ Chí Minh, 1 ở Đồng Nai và 4 siêu thị đang sắp xây dựng ở Hà Nội, Cần Thơ, Tp. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng. Tập đoàn Parkson của Malaisia đã khai trương trung tâm mua sắm đầu tiên trong hệ thống 10 trung tâm sẽ đầu tư ở Việt Nam. Tập đoàn Bourbon (Pháp) đã được cấp phép xây dựng tại Hải Phòng. Với những ưu thế về phương thức kinh doanh, vốn, trình độ quản lý, công nghệ, đã có nhiều tập đoàn phân phối quốc tế xây dựng kế hoạch xâm nhập thị trường sau khi Việt Nam vào WTO, trong đó có 3 tập đoàn bán lẻ hàng đầu thế giới là Wal – Mart (Mỹ), Carefour (Pháp) và Tesco (Anh), cùng nhiều tập đoàn châu á như Dairy Farm (Hồng Kông) và South Asia Investment (Singapore), sẽ tạo sức ép cạnh tranh rất lớn đối với các nhà sản xuất và các hãng phân phối Việt Nam. Tính đến tháng 12/2024, tập đoàn Carrefour đã thiết lập mạng lưới phân phối gồm 839 đại siêu thị, 1517 siêu thị, 4316 cửa hàng bán hàng chiết khấu và 331 các cửa hàng tiện lợi ở Châu Âu, Châu Mỹ và Châu Á. Tại Châu Á, hệ thống đại siêu thị của Carrefour đã có mặt ở Singapore, Malaysia, Indonesia, Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc. Trong đó, xuất hiện ở Trung Quốc nhiều nhất, với 70/191 đại siêu thị ở châu Á. Năm 2024, doanh số bán hàng của Carrefour ở châu Á đạt trên 74 tỷ Euro, trong đó hệ thống đại siêu thị đóng góp 43 tỷ Euro, hệ thống siêu thị đóng góp trên 13 tỷ Euro, cửa hàng bán chiết khấu đóng góp trên 6 tỷ Euro và 11 tỷ là doanh số của các loại hình phân phối khác. Trong 6 tháng đầu năm 2025, Carrefour tiếp tục mở rộng mạng lưới phân phối đại siêu thị, siêu thị, bán hàng chiết khấu và các cửa hàng khác với số lượng 1000. Trong đó, tại Pháp tăng thêm 150, tại châu Âu tăng thêm 600, tại châu Mỹ tăng thêm 160. Riêng ở châu Á, Carrefour đã mở thêm 45 đại siêu thị và 45 cửa hàng bán hàng chiết khấu [48].
Tốc độ gia tăng trong đầu tư của các nhà phân phối lớn nước ngoài tại Việt Nam cho thấy một tiềm năng rất lớn về lĩnh vực dịch vụ phân phối ở nước ta. Thị trường này được đánh giá mỗi năm đạt doanh số 20 tỷ USD và có tốc độ tăng trưởng đến 30%/năm, với gần 85% người dân thành thị ở khu vực phía Nam thường xuyên mua sắm ở các siêu thị và trung tâm bán lẻ [56].
Doanh thu bán lẻ của họ mới chỉ đạt 10% tổng doanh thu bán lẻ của cả nước, cho dù tốc độ tăng trưởng của hệ thống này đạt bình quân trên 30%/năm. Số liệu này có thể làm nhiều người an tâm trong lĩnh vực dịch vụ phân phối, cho rằng ta vẫn đang làm chủ thị trường với thế “thượng phong” của 90% tổng doanh thu bán lẻ cả nước. Song, nếu nhìn toàn cảnh lĩnh vực này của Việt Nam và đặt nó trong bối cảnh hội nhập, mở cửa nền kinh tế nhanh chóng hiện nay, thì sự an tâm cao sẽ là nguy cơ lớn. Sự thâm nhập nhanh chóng của các tập đoàn bán lẻ đa quốc gia như Metro Cash & Carry hay Bourbon với những chiến lược thu hút khách hàng thể hiện tiềm lực tài chính, năng lực quản lý điều hành và trình độ phân tích thị trường hơn hẳn chúng ta đã ít nhiều gây chấn động trên thị trường bán lẻ Việt Nam. Tuy nhiên, do số lượng các tập đoàn phân phối cũng như hệ thống các siêu thị, trung tâm thương mại có yếu tố nước ngoài chưa nhiều, nên áp lực cạnh tranh trên thị trường còn thấp. Hiện nay, họ thực thi chiến lược định vị thị trường khá cao nhờ lợi thế hình ảnh hiện đại, sự vệ sinh, lịch sự… Nhưng chắc chắn trong vài năm tới, đặc biệt khi Việt Nam phải thực hiện đầy đủ các cam kết hội nhập quốc tế và khu vực, thì chiến lược cạnh tranh bằng hình ảnh sẽ được thay thế bằng cạnh tranh giá cả. Khi đó, nếu hệ thống phân phối trong nước không nhanh chóng thay đổi, thì khả năng họ sẽ lấn át các nhà bán lẻ của Việt Nam là hoàn toàn có thể xảy ra. Thêm vào đó, xu hướng tiêu dùng tiến bộ, chất lượng cầu ngày càng cao của người tiêu dùng Việt Nam sẽ dẫn tới sự lựa chọn hình thức dịch vụ phân phối bán lẻ nào nhanh, tiện lợi, hiện đại hơn. Tất cả tạo nên một áp lực rất lớn đối với hệ thống dịch vụ phân phối của Việt Nam và tiềm ẩn khả năng mất kiểm soát thị trường đối với các nhà quản lý.
1.3. Nhận xét về tính cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ phân phối ở Việt Nam Khóa luận: Thực trạng quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối.
Có thể thấy xu hướng đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ phân phối đã, đang và sẽ gia tăng mạnh mẽ. Với sự lớn mạnh của các nhà phân phối như sự có mặt nhiều hơn của các doanh nghiệp nước ngoài đã cho thấy thực trạng cũng như tiềm năng của một thị trường đầy sôi động trong thời gian tới. Tuy nhiên, bên ngoài sức ép cạnh tranh của nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với những hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Hiện nay trong dịch vụ phân phối, có thể nói tới thời điểm này đã manh nha ba loại hành vi. Đó là hành vi lạm dụng vị trí độc quyền, hành vi tập trung kinh tế bao gồm sáp nhập, mua lại và các hành vi cạnh tranh không lành mạnh [37].
Đối với loại hành vi thứ nhất, nó thường diễn ra ở 2 dạng liên kết: liên kết dọc giữa nhà sản xuất, nhập khẩu và nhà bán buôn, bán lẻ và liên kết ngang các nhà nhập khẩu với nhau, nhà bán buôn với nhau hoặc bán lẻ với nhau. Mặc dù bây giờ hành vi hạn chế cạnh tranh đã diễn ra ở liên kết dọc, còn liên kết ngang chưa diễn ra do tính quy mô yếu và phân tán giữa các nhà phân phối. Tuy nhiên điều này có thể sẽ thay đổi khi các nhà phân phối nước ngoài được mở cửa hoàn toàn trong thời gian tới. Vấn đề là phải phân biệt ranh giới trong việc các liên kết này có mang tính hạn chế cạnh tranh hay không. Đặc biệt là khả năng các nhà phân phối nước ngoài có tiềm lực thiết lập các hệ thống thông qua các phương pháp như khuyến mại lớn, tín dụng, giảm giá sẽ rất khó phân biệt.
Cũng tương tự, các hành vi tập trung, sáp nhập, mua lại hện nay là không đáng kể, so quy mô các doanh nghiệp trong nước không có nhiều doanh nghiệp nổi bật. Nhưng trong tương lai, đây sẽ trở thành một nguy cơ lớn khi mà nền kinh tế không ngừng phát triển.
Điều đáng chú ý hiện nay là các hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Các hành vi này ngày càng diễn ra nhiều. Thực tế cho thấy ở Việt Nam đã có dấu hiệu của những hành vi cạnh tranh không lành mạnh sau:
- So sánh trực tiếp các sản phẩm cùng loại.
- Khuyến mại gian dối về giải thưởng.
- Tặng hàng cho khách hàng dùng thử để đổi sản phẩm của doanh nghiệp khác.
- Hành vi liên kết của các doanh nghiệp để phân chia thị trường, ngăn cản doanh nghiệp mới gia nhập thị trường, thống nhất giá cả, dịch vụ. Khóa luận: Thực trạng quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối.
- Lạm dụng vị thế của mình: Các nhà phân phối lớn đã có hệ thống chuyên nghiệp, có chương trình quảng cáo lớn, hấp dẫn một lượng khách hàng lớn. Các doanh nghiệp này thường có vốn lớn, mặt hàng phong phú đa dạng từ trong nước đến nước ngoài, từ cấp cao đến cấp thấp. Với các thế mạnh đó, các doanh nghiệp thường đưa ra những điều kiện khắt khe vè giá, thủ tục, điều kiện thanh toán đối với các doanh nghiệp sản xuất muốn bày bán sản phẩm của mình. Điều này dễ làm phát sinh vấn đề các doanh nghiệp phân phối lớn lạm dụng thế mạnh đàm phán của mình với các doanh nghiệp sản xuất này đặc biệt là các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ.
- Bán dưới giá ghi trên sản phẩm.
Trong khi các tập đoàn phân phối nước ngoài được biết đến với tiềm lực mạnh về công nghệ và tài chính đang hiện diện rất gần thị trường Việt Nam thì hiện nay các doanh nghiệp phân phối Việt Nam vẫn đang còn tồn tại những điểm yếu cơ bản sau:
Thứ nhất, dịch vụ phân phối là một lĩnh vực kinh doanh đòi hỏi vốn đầu tư lớn nhưng các doanh nghiệp trong nước thường bị hạn chế về vốn. Đối với các doanh nghiệp này, việc mở rộng quy mô, tái đầu tư gặp nhiều khó khăn. Cho đến nay, theo thống kê chưa đầy đủ, cả nước có 200 siêu thị, 32 trung tâm thương mại, 1000 cửa hàng nhỏ bán hàng khắp các tỉnh thành với doanh số bán lẻ hàng hoá, dịch vụ khoảng 20 tỷ USD/năm. Đây là một con số còn rất khiêm tốn so với doanh số của các doanh nghiệp nước ngoài. Họ thâm nhập vào thị trường Việt Nam với mức vốn đăng ký không chỉ là hàng chục triệu USD mà có khi còn lên tới hàng trăm triệu USD. Ví dụ như Metro và Bourbon đều có mức vốn là 120 triệu USD [56].
Thứ hai, hệ thống phân phối luôn đòi hỏi có một hệ thống hậu cần chuyên nghiệp. Thế nhưng ở Việt Nam, hệ thống kho bảo quản dự trữ, các kho lạnh và các xe vận tải chuyên dùng, các thiết bị bảo đảm khâu bán hàng và hệ thống cơ sở vật chất khác đều thiếu đồng bộ, chưa đạt tiêu chuẩn của khu vực và quốc tế. Phần lớn các doanh nghiệp còn chưa xây dựng nguồn hàng, sản phẩm đặc trưng cho mình.
Thứ ba, tính chuyên nghiệp của các nhà phân phối trong nước còn rất yếu kém. Hiện nay chỉ có hai nhà phân phối bán lẻ được xem là thành công tại thị trường Viêt Nam là Metro Group và Saigon Co.op. Các trung tâm thương mại thành danh như Fivimart, Intimex cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay. Phần lớn các siêu thị, trung tâm thương mại vẫn còn loay hoay, bế tắc trong kinh doanh. Các nhà phân phối trong nước chưa xây dựng được các kênh phân phối qua nhiều tầng nấc nên không tạo được giá cạnh tranh. Các siêu thị hầu hết vẫn chưa quy mô, đồng thời cũng không mấy quan tâm đến thương hiệu và sản phẩm của mình.
Bên cạnh đó, việc thiếu tính liên kết giữa các doanh nghiệp trong nước để xây dựng nguồn hàng khiến cho nguồn hàng không ổn định về số lượng và chất lượng. Điều này dẫn đến chất lượng và số lượng hàng hoá đầu ra không được đảm bảo. Việc phá vỡ hợp đồng giữa các nhà máy, doanh nghiệp phân phối với người nông dân thường xuyên xảy ra.
Những nhược điểm trên đã làm cho năng lực cạnh tranh của phần lớn các doanh nghiệp phân phối trong nước kém cả về giá cả, chất lượng hàng hoá cũng như sự đa dạng của hàng hoá được bày bán. Điều đó sẽ dẫn đến một cuộc chiến không cân sức giữa các nhà phân phối Việt Nam và các doanh nghiệp phân phối nước ngoài. Nhất là hiện nay Việt Nam đã gia nhập WTO, cam kết mở rộng thị trường dịch vụ thì nguy cơ bị các doanh nghiệp phân phối trong nước bị các doanh nghiệp nước ngoài thôn tính, nhiều hành vi cạnh tranh không lành mạnh nảy sinh. Trong khi các nhà phân phối Việt Nam lại chưa biết sử dụng những công cụ pháp lý để tự bảo vệ mình trước các hành vi phản cạnh tranh thì các nhà phân phối nước ngoài lại tìm hiểu khá kỹ về pháp luật cạnh tranh. Đây chính là một vấn đề đặt ra cho các cơ quan quản lý cạnh tranh cũng như đối với chính bản thân mỗi doanh nghiệp.
2. Thực trạng quản lý cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ phân phối Khóa luận: Thực trạng quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối.
Đứng trước tình hình cạnh tranh ngày càng gay gắt và khốc liệt giữa các doanh nghiệp phân phối Việt Nam và doanh nghiệp phân phối nước ngoài, vai trò của quản lý cạnh tranh lại càng có ý nghĩa quan trọng. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh của Việt Nam, làm thế nào để quản lý cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ phân phối một cách hiệu quả vẫn là một vấn đề còn tồn tại nhiều bất cập. Chúng ta cần nhìn lại những gì mà Nhà nước cũng như ngay bản thân mỗi doanh nghiệp trong thời gian qua đã làm được để từ đó định hướng cho những hoạt động trong những năm sắp tới, nhất là hiện nay, Việt Nam đã trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO).
2.1. Triển khai thực thi pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ phân phối
Hiện nay, trong nỗ lực tạo lập một môi trường cạnh tranh tự do, lành mạnh cho tất cả các doanh nghiệp phân phối, Nhà nước đã ban hành một số văn bản pháp luật điều chỉnh cạnh tranh trong lĩnh vực này. Để thực thi các văn bản pháp luật ấy cũng như nâng cao hiệu quả trong việc quản lý cạnh tranh, Nhà nước thông qua các Bộ, Ngành đã tiến hành những hoạt động có ý nghĩa tích cực như tổ chức các buổi tọa đàm, diễn đàn, hội nghị nhằm tuyên truyền, phổ biến pháp luật cạnh tranh và khuyến khích thành lập các Hiệp hội phân phối.
Ngày 10/10/2025, tại Hà Nội, Cục Quản lý cạnh tranh đã tổ chức cuộc “Đối thoại về dịch vụ phân phối dưới góc độ cạnh tranh” giữa các cơ quan quản lý nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ phân phối với mục đích tìm kiếm quan điểm chung trong việc thiết lập môi trường cạnh tranh lành mạnh và sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phân phối.
Trong cuộc đối thoại, đại diện các doanh nghiệp nhiệt tình trao đổi, chia sẻ thông tin về thực trạng và xu hướng cạnh tranh của loại hình dịch vụ này cũng như những cơ hội, thách thức về môi trường cạnh tranh đối với các doanh nghiệp phân phối và các nhà sản xuất, cung ứng hàng hoá/dịch vụ khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO. Đại diện các cơ quan quản lý Nhà nước cũng đã chia sẻ những quan điểm liên quan tới vai trò và sự can thiệp của cơ quan quản lý nhà nước trong việc điều chỉnh các hành vi cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ phân phối cũng như việc thực thi luật cạnh tranh trong lĩnh vực này.
Ngày 27/01/2026, tại TP. Hồ Chí Minh, Cục Quản lý cạnh tranh đã tổ chức buổi “Toạ đàm về dịch vụ phân phối dưới góc độ cạnh tranh” với cộng đồng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ phân phối tại khu vực phía Nam với mục đích tìm hiểu quan điểm chung từ cộng đồng doanh nghiệp trong việc xây dựng khuôn khổ pháp lý để thiết lập môi trường cạnh tranh lành mạnh và sân chơi bình đẳng cho các chủ thể hoạt động trong lĩnh vực phân phối [8].
Không chỉ thông qua hoạt động của Cục Quản lý cạnh tranh, các buổi hội nghị, diễn đàn về cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ phân phối cũng đã được các cơ quan quản lý khác đứng ra tổ chức, thực hiện. Ngày 29/06/2026, Sở Công nghiệp Hà Nội và Sở Thương mại Hà Nội đã tổ chức “Hội nghị gặp gỡ các nhà sản xuất và phân phối” với cộng đồng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ phân phối và sản xuất trên địa bàn Hà Nội với mục đích tìm hiểu quan điểm chung từ cộng đồng doanh nghiệp nhằm tạo môi trường gắn kết cũng như thiết lập môi trường cạnh tranh lành mạnh và sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phân phối và sản xuất. Khóa luận: Thực trạng quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối.
Đặc biệt gần đây nhất là “Diễn đàn Thị trường bán lẻ Việt Nam hậu WTO: Cạnh tranh và phát triển” vừa được Cục Quản lý cạnh tranh – Bộ Công Thương tổ chức ngày 21/9/2026 tại Hà Nội. Đây là dịp để các nhà bán lẻ Việt Nam gặp gỡ, trao đổi chia sẻ các thông tin về môi trường cạnh tranh trong thị trường bán lẻ Việt Nam, mặt khác cũng để thực hiện công tác quản lý cạnh tranh trong lĩnh vực bán lẻ thời gian tới. Hoạt động cạnh tranh sẽ ngày càng sôi động trong bối cảnh Việt Nam sẽ thực hiện các cam kết gia nhập WTO về mở cửa thị trường bán lẻ Việt Nam từ ngày 1/1/2028 [9].
Có thể nói, việc tổ chức được các hội nghị, diễn đàn bàn về vấn đề cạnh tranh trong lĩnh vực phân phối như vậy có ý nghĩa rất thiết thực. Bởi vì, đó chính là nơi để chính bản thân các doanh nghiệp phân phối nói lên những bức xúc và đại diện cơ quan quản lý Nhà nước chia sẻ quan điểm trước thực trạng cạnh tranh ngày đang càng gay gắt và khốc liệt trong lĩnh vực kinh doanh này. Thông qua đó, các doanh nghiệp cũng đã nhận thấy sự quan trọng và cần thiết của việc nâng cao nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp về pháp luật cạnh tranh và vai trò của cơ quan quản lý cạnh tranh trong bối cảnh đang xuất hiện các hành vi cạnh tranh không lành mạnh giữa các nhà sản suất và phân phối hiện nay.
Thị trường phân phối nói chung và thị trường bán lẻ trong nước nói riêng đang rất sôi động, các nhà đầu tư nước ngoài xuất hiện ngày càng nhiều. Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, sự can thiệp của Nhà nước giảm dần. Thay vào đó, vai trò của các Hiệp hội ngành hàng trong việc thành lập và duy trì một môi trường cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng cho các nhà bán lẻ ngày càng trở nên quan trọng. Việc thành lập Hiệp hội các nhà bán lẻ hiện nay là sự phù hợp với quy luật phát triển và nhu cầu nội tại của lĩnh vực này.
“Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam” được Bộ trưởng Bộ nội vụ ký quyết định thành lập số 1159/QĐ – BNV ngày 05/09/2026. Theo Tiến sĩ Hoàng Thọ Xuân, Vụ trưởng Chính sách thị trường trong nước (Bộ Công Thương) sự kiện này góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành dịch vụ phân phối Việt Nam thông qua kết nối các nhà bán lẻ trong nước cùng xây dựng và phát triển hệ thống bán lẻ. Với số lượng thành viên bao gồm khoảng 130 các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân Việt Nam trong lĩnh vực bán lẻ, sự liên kết này tạo ra sức mạnh tập thể để các nhà bán lẻ trong nước tự bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình, đủ sức cạnh tranh và hợp tác hiệu quả với các nhà bán lẻ quốc tế lớn trên thị trường nội địa. Về phương hướng hoạt động chung giai đoạn 2026 – 2029, Hiệp hội phát huy vai trò tham gia với các cơ quan quản lý nhà nước trong quá trình hoạch định cơ chế chính sách liên quan kinh doanh bán lẻ nhằm tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng; chủ động đề xuất và dự thảo Luật Bán lẻ trình cấp có thẩm quyền xem xét. Trong những tháng cuối năm 2026 và năm 2027, Hiệp hội tập trung vào một số việc cụ thể như thành lập trang tin điện tử; xây dựng và tìm nguồn tài trợ cho dự án đào tạo nâng cao kỹ năng quản lý và chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực bán lẻ, xây dựng trung tâm đào tạo và cơ sở hậu cần, kho bãi cho hệ thống phân phối bán lẻ Việt Nam [40]. Khóa luận: Thực trạng quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối.
Trên thực tế hiện nay, nhiều siêu thị vẫn hoạt động theo kiểu manh mún, nhỏ lẻ, thiếu hiểu biết về thị trường, từ đó dẫn tới việc bị động trong kinh doanh. Do được hình thành tự phát nên sự cạnh tranh giữa các siêu thị ngày càng lớn, điều này đã dẫn tới tình trạng bán hàng không rõ xuất xứ, hàng kém chất lượng, hàng quá niên hạn sử dụng, tác phong phục vụ thiếu chu đáo, những điều này đã gây sự bất bình cho khách hàng. Với việc hoạt động đơn lẻ, các siêu thị không tìm được tiếng nói chung trong kinh doanh, thiếu sự gắn bó trong việc đặt hàng, tìm nguồn hàng đầu vào để phục vụ khách hàng. Chính những điều này đã hạn chế hoạt động của hệ thống siêu thị và việc thành lập ra một Hiệp hội cho cả hệ thống siêu thị là điều cần thiết. Hiệp hội siêu thị Hà Nội ra đời đã tạo điều kiện cho các thành viên trong Hiệp hội tăng cường hợp tác hỗ trợ nhau trong kinh doanh góp phần làm bình ổn thị trường, thống nhất về nguồn hàng, giá bán, liên kết, trao đổi kinh nghiệm trong hoạt động kinh doanh, đào tạo nhân viên theo hướng chuyên nghiệp hoá.
2.2. Xây dựng đề án nhằm tạo lập môi trường phân phối cạnh tranh lành mạnh
Hiện nay, Nhà nước đã quản lý cạnh tranh thông qua công cụ là các văn bản pháp luật như Luật Cạnh tranh 2023, Luật Thương mại, Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, các Quy chế về Siêu thị, Trung tâm thương mại… Đặc biệt, Chính phủ còn xây dựng những đề án để phát triển lĩnh vực dịch vụ phân phối trong nước trước nguy cơ bị thôn tính bởi sự xuất hiện ồ ạt của các doanh nghiệp phân phối nước ngoài, tiêu biểu là Quyết định ký ngày 15/02/2026: “Đề án phát triển phát triển thương mại trong nước đến 2025 – 2029 và định hướng đến 2040”, và Quyết định số 0518 /QĐ-BTM ngày 02/04/2026: “Kế hoạch triển khai thực hiện Quyết định 27/2026/QĐ-TTg ngày 15 tháng 02 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển Thương mại trong nước đến năm 2029 và định hướng đến năm 2040” [19].
Với mục tiêu tổng quát là “Xây dựng một nền thương mại trong nước phát triển vững mạnh và hiện đại, dựa trên một cấu trúc hợp lý các hệ thống và các kênh phân phối với sự tham gia của các thành phần kinh tế và loại hình tổ chức, vận hành trong môi trường cạnh tranh có sự quản lý và điều tiết vĩ mô của Nhà nước. Coi trọng phát triển các doanh nghiệp nhỏ, các hộ kinh doanh; đồng thời, khuyến khích và thúc đẩy quá trình hình thành các doanh nghiệp lớn thông qua quá trình tích tụ và tập trung nhằm tạo dựng các nhà phân phối lớn thương hiệu Việt Nam. Thực hiện việc mở cửa thị trường phân phối theo đúng lộ trình cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Xác lập sự liên kết giữa doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ trong việc tổ chức thị trường, tạo sức mạnh để hợp tác và cạnh tranh có hiệu quả với các tập đoàn nước ngoài khi Việt Nam mở cửa thị trường dịch vụ phân phối. Trên cơ sở đó, phát huy vai trò và vị trí của thương mại trong nước trong việc định hướng và thúc đẩy sản xuất phát triển, định hướng và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng phong phú, đa dạng của nhân dân, góp phần phát triển xuất khẩu, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng trưởng kinh tế” [18].
Từ việc xác định mục tiêu như vậy đã cho thấy Nhà nước đang tích cực đầu tư phát triển lĩnh vực dịch vụ phân phối mạnh mẽ trong thời gian tới. Đề án cũng đã đưa ra các giải pháp và cách tổ chức thực hiện nhằm xây dựng một môi trường kinh doanh lành mạnh, ổn định. Cụ thể, trong lĩnh vực phân phối, đề án đưa ra nhiệm vụ cho Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) cần phải: Khóa luận: Thực trạng quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối.
- Xây dựng quy chế về tổ chức và quản lý hệ thống phân phối đối với một số mặt hàng quan trọng hoặc đặc thù (như xăng dầu, khí đốt, xi măng, sắt thép, phân bón, dược phẩm, chất nổ, rượu, thuốc lá), bảo đảm nguyên tắc Nhà nước có khả năng kiểm soát và sử dụng các công cụ gián tiếp để tác động kịp thời vào thị trường thông qua các doanh nghiệp đầu nguồn;
- Hướng dẫn cụ thể việc thực thi các cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ phân phối đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong việc thực hiện các dịch vụ bán buôn, bán lẻ, nhượng quyền thương mại và đại lý.
Hiện nay, Bộ đang từng bước thực hiện nhiệm vụ của mình mà đề án đã nêu ra. Đó là Bộ đã ban hành được các quy chế về tổ chức và quản lý hệ thống phân phối đối với một số mặt hàng quan trọng hoặc đặc thù như Quy chế về kinh doanh xăng, dầu, Luật Điện lực. Về hướng dẫn cụ thể việc thực thi các cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ phân phối đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong việc thực hiện các dịch vụ bán buôn, bán lẻ, nhượng quyền thương mại và đại lý, Bộ Công Thương vừa ban hành Thông tư số 09/2026/TT-BTM hướng dẫn thi hành Nghị định số 23/2026/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tại Việt Nam, trong đó có các điều khoản liên quan đến hoạt động phân phối.
Bên cạnh đó, một số cơ quan quản lý cơ sở đã đưa ra các hoạt động cụ thể nhằm xây dựng một thị trường phân phối phát triển và cạnh tranh lành mạnh. Cụ thể, Sở Thương mại TP. Hồ Chí Minh còn đưa ra dự thảo đề án “Xây dựng kênh phân phối bán buôn, bán lẻ trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh đến năm 2040” [35]. Dự thảo đã đặt ra vấn đề là thành phố phải xây dựng và phát triển hệ thống kênh phân phối, bán buôn, bán lẻ như chợ, siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng bán lẻ, khu mua sắm tập trung, kho hàng và các nơi kinh doanh phải phù hợp với yêu cầu của một thành phố hiện đại, văn minh.
Kết luận: Qua những phân tích trên đã cho thấy rằng, một số lượng lớn các nhà phân phối nước ngoài với tiềm lực tài chính và công nghệ đã tham gia và thị trường phân phối Việt Nam, tạo ra một cuộc ganh đua ngày càng khốc liệt. Từ sự cạnh tranh gay gắt và quyết liệt đó, thị trường phân phối nước ta lại bị đe dọa trước sự tấn công, bóp méo môi trường cạnh tranh của những hành vi không lành mạnh, những thủ đoạn cạnh tranh. Trước tình hình đó, Nhà nước đã tiến hành các biện pháp nhằm quản lý cạnh tranh. Các biện pháp đã định hướng cho các doanh nghiệp phân phối hoạt động tuân thủ theo quy đinh của pháp luật. Tuy nhiên, trong khi cùng với thời gian và sự phát triển của nền kinh tế, những hành vi và thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh ngày càng trở nên tinh vi và nguy hiểm, gây ra những hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sự ổn đinh của hệ thống phân phối thì những biện pháp quản lý mà Nhà nước đã và đang tổ chức thực hiện còn chưa nhiều và chưa tác động thực sự hiệu quả đến tình hình cạnh tranh đang diễn ra. Các văn bản pháp luật được ban hành mới chỉ điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung chứ chưa thực sự có một văn bản điều chỉnh riêng cho lĩnh vực phân phối. Cụ thể, Luật Cạnh tranh – một văn bản pháp lý điều chỉnh chủ yếu cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh ở Việt Nam nhưng cũng mới chỉ quy định các hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hạn chế cạnh tranh áp dụng cho tất cả hoạt động kinh doanh trên mọi lĩnh vực, mà chưa có những hướng dẫn cụ thể đối với hoạt động phân phối. Hơn nữa, Nhà nước chưa có biện pháp xử lý các hành vi vi phạm nguyên tắc cạnh tranh không lành mạnh của doanh nghiệp phân phối một cách cụ thể và mạnh tay như chưa thực hiện hình thức phạt tù, phạt hành chính nhưng với mức độ thấp. Mặc dù, hiện nay, Nhà nước đã xây dựng được một số đề án phát triển thương mại trong đó có định hướng phát triển hoạt động phân phối, tuy nhiên, vẫn chưa có được những quy hoạch cụ thể để thực hiện. Thực trạng đó đã cho thấy, vấn đề quản lý cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ phân phối ở nước ta vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập yêu cầu Nhà nước cần có những giải pháp mang tính thiết thực và hiệu quả hơn.
II. KINH NGHIỆM QUẢN LÝ CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC DỊCH VỤ PHÂN PHỐI CỦA MỘT SỐ NƯỚC Khóa luận: Thực trạng quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối.
Thực trạng nêu trên đã cho thấy vai trò cũng như sự cấp thiết của việc quản lý cạnh tranh trong lĩnh vực phân phối ở Việt Nam. Thế nhưng làm thế nào để quản lý được cạnh tranh một cách hiệu quả, trong khi vẫn không hạn chế những tác động tích cực của cạnh tranh đối với sự phát triển kinh tế?. Để trả lời cho câu hỏi ấy, phần dưới đây của Khoá luận sẽ tập trung nghiên cứu, tìm hiểu kinh nghiệm của một số nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan và Đài Loan về quản lý cạnh tranh trong lĩnh vực phân phối, từ đó rút ra bài học cho Việt Nam trong điều kiện hiện nay.
1. Nhật Bản
1.1 Thực trạng hoạt động phân phối ở Nhật Bản
Nhật Bản là nước tiêu thụ hàng hóa lớn thứ 2 trên thế giới với các kênh phân phối hàng hóa đặc trưng. Hệ thống phân phối hàng hóa của Nhật Bản bao gồm các khâu, mối quan hệ giữa các nhà sản xuất, các nhà nhập khẩu, các công ty thương mại, các nhà bán buôn và các nhà bán lẻ thông qua các cửa hàng bán lẻ, siêu thị.
Trước đây, về tổng thể, hệ thống phân phối hàng hóa của Nhật Bản có những đặc điểm chung như sau:
- Hệ thống phân phối hàng hóa của Nhật Bản có nhiều cửa hàng bán lẻ với mật độ rất dày đặc nhưng với quy mô nhỏ.
- Trong hệ thống phân phối hàng hóa của Nhật Bản, từ khi hàng được sản xuất ra đến khi giao đến các cửa hàng bán lẻ tồn tại nhiều cấp phân phối trung gian, nhiều hơn so với các nước công nghiệp phát triển khác. Do đó, một hàng hóa ở Nhật Bản thường phải trải qua nhiều tầng nấc trung gian và phải đi một quãng đường dài hơn.
- Đặc điểm rất độc đáo trong hệ thống phân phối hàng hóa của Nhật Bản là sự tồn tại của hệ thống duy trì giá bán lẻ của nhà sản xuất kiểm soát giá bán lẻ thông qua các chính sách chiết khấu hoa hồng và mua lại hàng hóa.
- Hệ thống phân phối hàng hóa Nhật Bản có sự cấu kết chặt chẽ giữa các nhà sản xuất và các nhà phân phối theo vòng khép kín và bài ngoại. Các nhà sản xuất cung cấp vốn cho các nhà bán buôn và các nhà bán buôn lại cung cấp tài chính cho các nhà bán lẻ, thực hiện chế độ định giá bán lẻ, chiết khấu hoa hồng thường xuyên và rộng rãi, chế độ các nhà bán lẻ chỉ kinh doanh những mặt hàng đó do các nhà bán buôn và các nhà sản xuất giao.
Hệ thống phân phối hàng hóa của Nhật Bản đã góp phần thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa, tạo mối quan hệ kinh doanh lâu dài và ổn định giữa các nhà sản xuất và tiêu thụ. Tuy nhiên, hệ thống này cũng có các nhược điểm như hệ thống phân phối hàng hóa khép kín qua nhiều tầng nấc làm cho giá hàng hóa tăng giá khi tới tay người tiêu dùng; không kích thích các cửa hàng bán lẻ nỗ lực cải tiến nâng cao hiệu quả kinh doanh, hạ giá sản phẩm; duy trì số lượng cửa hàng bán lẻ đông đảo không hiệu quả; không minh bạch về định giá sản phẩm; hạn chế sự thâm nhập thị trường Nhật Bản của các công ty nước ngoài. Khóa luận: Thực trạng quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối.
Hiện nay, do nền kinh tế Nhật Bản suy thoái kéo dài, việc đồng yên tăng giá dẫn đến hàng hóa nhập khẩu có tính cạnh tranh về giá cả, thu nhập và cuộc sống của người Nhật Bản tăng đáng kể dẫn đến nhu cầu hàng hóa đa dạng và phong phú, hơn nữa do đầu tư nước ngoài của các doanh nghiệp Nhật Bản gia tăng nhanh chóng, buộc phải tái nhập khẩu hàng hóa được sản xuất tại các nhà máy ở nước ngoài, hệ thống phân phối của Nhật Bản đã có một số thay đổi theo hướng đơn giản, thông thoáng và quốc tế hóa hơn, giảm dần tính khép kín và bài ngoại. Những năm gần đây phương thức nhập khẩu đã được đa dạng hóa. Các nhà bán lẻ và bán buôn lớn phụ thuộc nhiều các đơn đặt hàng ở nước ngoài và nhập khẩu hàng, tạo nên nhãn mác thương mại nhập khẩu riêng của mình, trong khi đó các nhà sản xuất trong nước cũng bắt đầu tiến hành nhập khẩu các hàng hóa từ các cơ sở đầu tư ở nước ngoài. Các nhà bán buôn và bán lẻ nhỏ và trung bình lại mua hàng hóa từ công ty đặt hàng qua mail rồi nhập khẩu trực tiếp để bán lẻ cho người tiêu dùng. Đặc điểm nổi bật là theo quy định xuất nhập khẩu của Nhật Bản, mỗi cá nhân được phép tự do xuất, nhập khẩu hàng hóa. Gần đây, ngày càng nhiều người tiêu dùng tự nhập khẩu trực tiếp hàng hóa từ nước ngoài. Bên cạnh đó, với xu hướng toàn cầu hóa mua sắm các loại hàng hóa, ngày càng nhiều người bán lẻ có thể nhập khẩu các loại hàng hóa chất lượng cao với giá rẻ từ nước ngoài và trực tiếp phân phối hàng hóa mà không qua các nhà buôn lớn và thứ cấp nữa. Điều này đã làm cho kênh phân phối hàng hóa được rút ngắn và hiệu quả hơn hệ thống phân phối truyền thống của Nhật Bản trước đây. Kết quả là với nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng ngày càng đa dạng và phong phú, sự cạnh tranh về giá cả cũng khốc liệt hơn và với sự phát triển của Internet và các nhân tố khác nữa đang làm thay đổi mạnh mẽ hệ thống phân phối hàng nhập khẩu vào nước Nhật [10].
1.2. Điều chỉnh pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực phân phối của Nhật Bản
Luật cấm độc quyền tư nhân và duy trì thương mại công bằng (Luật số 54 năm 1947, bản sửa đổi gần nhất năm 2024) gọi tắt là Luật Chống độc quyền đã đưa ra một số điều khoản có liên quan:
- Điều 3: Cấm độc quyền tư nhân hoặc hạn chế thương mại bất hợp lý.
- Điều 19: Cấm các doanh nghiệp sử dụng các hành vi thương mại không công bằng.
- Điều 20: Quy định các biện pháp để loại bỏ hành vi vi phạm tại Điều
Hướng dẫn về hệ thống phân phối và các hành vi kinh doanh theo Luật Chống độc quyền (11/7/1991). Nội dung gồm 3 phần:
- Phần 1: Hướng dẫn Luật Chống độc quyền về các hành vi kinh doanh dựa trên mối quan hệ thường xuyên và độc quyền giữa các doanh nghiệp. Khóa luận: Thực trạng quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối.
Phần này tập trung vào các giao dịch của hàng hoá sản xuất và hàng hoá vốn của nhà sản xuất và người sử dụng, đưa ra các hướng dẫn ban đầu cho Luật Chống độc quyền đối với các hành vi kinh doanh được tiến hành nhằm thiết lập hoặc duy trì mối quan hệ giao dịch thường xuyên, hoặc củng cố mối quan hệ đó. Các hành vi này gây ra cản trở đối với sự gia nhập thị trường của các doanh nghiệp khác hoặc loại bỏ doanh nghiệp đang tồn tại trên thị trường. Những hành vi này chủ yếu đứng trên góc độ quy định các hành vi hạn chế thương mại bất hợp lý và hành vi thương mại không công bằng.
- Phần 2: Hướng dẫn Luật Chống độc quyền về các giao dịch trong phân phối.
Phần này tập trung vào các giao dịch trong quá trình phân phối hàng hoá tiêu dùng tới tận tay người tiêu dùng, đưa ra các hướng dẫn cho Luật Chống độc quyền đối với các hành vi kinh doanh. Những hành vi này xét trên góc độ quy định các hành vi thương mại không công bằng.
- Phần 3: Hướng dẫn Luật chống độc quyền về quan hệ phân phối độc quyền.
Phần này tập trung vào các hợp đồng phân phối độc quyền, quy định các hướng dẫn Luật Chống độc quyền trên góc độ quy định các hành vi thương mại không công bằng.
Quy định các hành vi thương mại không công bằng của nhà bán lẻ có quy mô lớn trong giao dịch với nhà phân phối (13/5/2024), còn được gọi là Thông báo số 11 năm 2024 của Uỷ ban Thương mại công bằng (JFTC), thay cho Thông báo số 7 năm 1954. Thông báo mới này là những quy định mới về lạm dụng vị trí thương mại dựa trên bản chất thực tế của các giao dịch cung cấp hàng hoá. Nhằm đảm bảo tính rõ ràng khi vận dụng bản Thông báo và cung cấp khả năng dự báo cho các nhà kinh doanh, JFTC đã ban hành Hướng dẫn về việc quy định các hành vi thương mại không công bằng của nhà bán lẻ có quy mô lớn trong giao dịch với nhà phân phối (1/11/2024). Gọi tắt là Hướng dẫn.
Hướng dẫn gồm 2 phần: Khóa luận: Thực trạng quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối.
- Phần 1: Định nghĩa nhà bán lẻ có quy mô lớn và nhà cung ứng chịu sự điều chỉnh của Thông báo.
Nhà bán lẻ có quy mô lớn là một doanh nghiệp thực hiện việc bán lẻ hàng hoá được người tiêu dùng sử dụng hàng ngày, cũng như bất kì nhà bán lẻ nào tiến hành hoạt động kinh doanh theo chuỗi như đã quy định và đáp ứng một trong các điều kiện dưới đây:
- Doanh nghiệp có doanh thu bán hàng không ít hơn 10 tỷ yên trong năm tài chính trước đó. Nếu doanh nghiệp tiến hành hoạt động kinh doanh theo chuỗi thì doanh thu tạo ra từ người được cấp quyền kinh doanh sẽ được tính vào.
- Doanh nghiệp sở hữu một cửa hàng thoả mãn một trong các điều kiện sau:
Có khu vực đặt cửa hàng (để tiến hành hoạt động kinh doanh bán lẻ) với diện tích mặt bằng không ít hơn 3000 m2 trong phạm vi Tokyo và tại các thành phố như quy định tại Điều 252-19 (1) Luật chính quyền địa phương (Luật số 67 năm 1947).
Một cửa hàng với diện tích mặt bằng không ít hơn 1500m2 tại các thành phố không phải là các thành phố nêu trên, các thị trấn và làng.
- Phần 2: Liệt kê các hành vi bị cấm theo Thông báo, đồng thời đưa ra các ví dụ có thể áp dụng.
Các hành vi bị cấm bao gồm:
- Trả lại hàng hoá bất hợp lý.
- Giảm giá bất hợp lý.
- Hợp đồng bán hàng uỷ thác không chính đáng.
- Buộc nhà cung ứng phải giảm giá cho các lô hàng hạ giá.
- Từ chối nhận các hàng hoá được đặt hàng một cách đặc biệt.
2. Thái Lan Khóa luận: Thực trạng quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối.
2.1 Thực trạng hoạt động phân phối ở Thái Lan
Thập kỷ 80 ghi nhận sự bùng nổ đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ phân phối bán lẻ của Thái Lan nhờ những chính sách thông thoáng trong thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực này. Trong suốt nhiều năm, đầu tư vào thương mại dịch vụ, trong đó có dịch vụ bán lẻ luôn duy trì tốc độ tăng trưởng khá ấn tượng: 19,8%, chỉ đứng sau mức tăng trưởng của hai ngành công nghiệp mũi nhọn – điện tử và trang thiết bị – của quốc gia này. Kết quả từ việc mở cửa thị trường hàng hoá, dịch vụ là sự nở rộ về số lượng các hệ thống cửa hàng tiện lợi trên đất Thái, nhưng cũng làm thay đổi sâu sắc mối tương quan giữa 2 thị trường mang yếu tố “ngoại” và “nội”, dẫn đến mất cân bằng nghiêm trọng thị trường phân phối nội địa theo hướng ngoại hoá. Khi hệ thống cửa hàng hiện đại có yếu tố nước ngoài phát triển nhanh thì các hệ thống phân phối truyền thống lâm vào tình trạng ế ẩm, thậm chí sụp đổ, kéo theo sự sụt giảm thị phần của hệ thống phân phối truyền thống. Nếu năm 2016, thị phần của các cửa hàng bán lẻ truyền thống của Thái Lan chiếm khoảng 74%, thì đến cuối năm 2020 chỉ còn 60%, trong khi thị phần của hệ thống bán lẻ hiện đại tăng trưởng tương ứng từ 26% năm 2016 lên 40% năm 2020. Theo các chuyên gia kinh tế, thì tỷ trọng 60/40 này sẽ còn tiếp tục thay đổi trong những năm tới theo hướng giảm dần thị phần của các cửa hàng truyền thống. Đây được coi là di chứng để lại từ sự tăng tốc mở cửa thị trường quá nhanh khi hệ thống phân phối trong nước chưa sẵn sàng ứng phó. Và lúc này, việc điều tiết, thâu tóm thị trường, hạn chế áp lực lấn át của hệ thống phân phối ngoại lên hệ thống phân phối nội đã trở thành bài toán nan giải đối với Chính phủ Thái Lan [10].
2.2. Điều chỉnh pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực phân phối của Thái Lan
2.2.1. Quy định B.E.2549 (2025) hướng dẫn hoạt động kinh doanh bán buôn, bán lẻ
Quy định được ban hành vào cuối năm 2025 nhằm hướng dẫn Điều 29 Luật Cạnh tranh (2018), quy định cấm doanh nghiệp tiến hành bất kỳ hành vi nào có thể cấu thành hành vi cạnh tranh không lành mạnh, không công bằng, làm cản trở, suy yếu hoặc hạn chế hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp khác hoặc cản trở hoạt động kinh doanh của người khác hoặc có thể dẫn tới sự chấm dứt hoạt động kinh doanh của người này. Quy định có hiệu lực từ ngày 1/10/2025 và được coi là văn bản pháp lý chi tiết đầu tiên điều chỉnh hoạt động bán buôn, bán lẻ ở Thái Lan. Mục tiêu của Quy định là nhằm cung cấp những hướng dẫn cho các nhà bán buôn/bán lẻ và nhà sản xuất hoặc nhà cung ứng xác định hành vi kinh doanh nào có thể cấu thành hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo Điều 29 của Luật Cạnh tranh. Điểm đáng chú ý là Quy định không quy định hạn chế đối với sự phát triển các hoạt động bán buôn/bán lẻ nhưng đã xác định cụ thể các hành vi kinh doanh được xem là hành vi cạnh tranh không lành mạnh, bao gồm: ấn định giá bất bình đẳng của các nhà bán buôn/bán lẻ; đòi hỏi quá mức các lợi ích kinh tế; trả lại hàng hóa một cách bất hợp lý; thỏa thuận giao hàng không công bằng; ép buộc mua hàng; sử dụng các nhân viên của nhà sản xuất hoặc cung ứng không công bằng; từ chối các hàng hóa đã sản xuất với thương hiệu của người đã đặt hàng hoặc thương hiệu của nhà bán buôn/bán lẻ. Khóa luận: Thực trạng quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối.
2.2.2. Luật Đầu tư nước ngoài – hạn chế các bên nước ngoài tham gia hoạt động kinh doanh bán buôn/bán lẻ ở Thái Lan
Ở Thái Lan, nhà đầu tư nước ngoài (bao gồm các công ty mà không phải do kiều bào Thái Lan nắm giữ hơn 40% cổ phần) bị cấm tham gia các hoạt động bán buôn và bán lẻ hàng hóa theo Luật Đầu tư nước ngoài (Foreign Business Act 2018-FBA) trừ khi vốn đăng ký của công ty vượt quá 100 triệu Bath hoặc công ty có vốn đăng ký là 20 triệu Bath cho mỗi cửa hàng (đối với bán lẻ) hoặc vốn đăng ký của công ty vượt quá 100 triệu Bath cho mỗi cửa hàng (đối với bán buôn). Yêu cầu có giấy phép đầu tư nước ngoài theo FBA nếu vốn đăng ký của công ty nước ngòai không đáp ứng các tiêu chí nêu trên.
2.2.3. Nỗ lực ban hành Luật Kinh doanh bán lẻ
Dự thảo Luật Kinh doanh bán lẻ lần đầu tiên được đưa ra trong kỳ họp quốc hội khóa trước, nhưng bị bác bỏ năm 2023. Hội nghị quốc gia các nhà bán lẻ trong nước chịu ảnh hưởng vào tháng 8/2025 đã yêu cầu các nhà bán lẻ lớn ngừng việc mở chi nhánh mới và nhấn mạnh sự cần thiết phải có những quy định chặt chẽ nhằm kiểm sóat việc bán buôn/bán lẻ thông qua việc ban hành Luật Kinh doanh bán lẻ. Những bước hợp tác đôi bên cùng có lợi đã được nhất trí thông qua (song không có văn bản thỏa thuận nào được ký kết) vào cuối tháng 9/2025 giữa đại đa số các cửa hàng bán lẻ và Bộ Thương Mại. Được biết, các chương trình mở rộng hoạt động bán buôn/bán lẻ trong tương lai sẽ bị đình chỉ trong 30 ngày cho đến ngày 28/10/2025 và biện pháp công bằng hơn sẽ được áp dụng vào cuối thời gian này.
Dự thảo Luật Kinh doanh bán lẻ còn có nhiều ý kiến khác nhau và chưa có được sự đồng thuận từ phía Nội các. Ngày 27/3/2026, Nội các lại tiếp tục bác bỏ bản dự thảo Luật Kinh doanh bán buôn và bán lẻ của Bộ Thương mại, và cho rằng một số vấn đề vẫn chưa rõ ràng, đặc biệt trong các qui định về khoanh vùng.
2.2.4. Những quy định hạn chế kinh doanh bán lẻ
Bộ Thương Mại đã ban hành những giải pháp tạm thời nhằm kiểm soát hiệu quả việc mở rộng hoạt động kinh doanh bán buôn và bán lẻ trong lúc Bộ luật Kinh doanh bán lẻ vẫn đang được bàn bạc và dự thảo, thay thế cho những biện pháp hợp tác song phương (giữa Bộ Thương mại và những nhà bán lẻ quy mô lớn) đã không còn tác dụng. Mục đích của những giải pháp tạm thời này là để giám sát các nhà kinh doanh bán buôn và bán lẻ quy mô lớn đang tìm kiếm cơ hội kinh doanh. Bằng việc áp dụng những giải pháp này, các doanh nghiệp bán buôn/ bán lẻ buộc phải đáp ứng những điều kiện sau khi mở chi nhánh mới, bao gồm: Khóa luận: Thực trạng quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối.
- Tránh cạnh tranh trực tiếp với các cửa hàng bán lẻ trong khu vực. Các cửa hàng bán buôn/bán lẻ hiện đại không được phép mở chi nhánh có diện tích nhỏ hơn 1000 m2.
- Kế hoạch mở chi nhánh mới phải được phê chuẩn bởi Ủy ban trung ương và chi nhánh mới không được sử dụng tên thương mại/thương hiệu hiện thời.
- Kế hoạch mở chi nhánh mới phải đi kèm theo các bản báo cáo, phân tích lợi thế và bất lợi ảnh hưởng đến môi trường và kinh tế địa phương.
- Phải thu thập thông tin phản hồi từ công chúng tại nơi chi nhánh mới sẽ được thành lập.
- Bán phá giá hàng hóa hoặc bán hàng hóa với giá thấp một cách bất thường là không được phép; và Vụ Phát Triển Thương mại phải được thông báo về việc mở rộng hoạt động kinh doanh trước ngày khai trương chính thức của chi nhánh mới.
3. Đài Loan
3.1 Thực trạng hoạt động phân phối ở Đài Loan
Các doanh nghiệp trong ngành phân phối ở Đài Loan đã phát triển nhanh chóng nhờ sự tiến bộ của công nghệ. Với mô hình kinh doanh chi phí thấp và giá bán phải chăng, các doanh nghiệp trong ngành phân phối đã sớm trở thành những doanh nghiêp có vị trí thống lĩnh trên thị trường. Trường hợp với những thị hiếu tiêu dùng luôn thay đổi, các doanh nghiệp này đã khôn khéo đưa ra nhiều chương trình khuyến mại để khuyến khích tiêu dùng và đồng thời họ cũng sử dụng công nghệ quản lý phân phối mang tính chuyên biệt hóa các mô hình quản lý dây chuyền cung ứng bằng thương mại điện tử và quản lý quan hệ khách hàng để kiểm soát và quản lý giá bán, khối lượng, địa điểm, thời gian, và quy mô bán hàng.
Tính đến năm 2023, Đài Loan có 8.115 cửa hàng tiện lợi trên tổng số dân là 22 triệu người. Như vậy cứ trung bình 2.772 người thì sẽ có một cửa hàng tiện lợi nhất tại khu vực châu Á Thái Bình Dương. Điều đáng lưu ý là kênh phân phối này chỉ đứng vị trí thứ hai về thị phần sau các trung tâm thương mại với 27,7% thị phần và đứng trên các siêu thị quy mô lớn với 20,3% thị phần.[10] Điều đó cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống phân phối tại Đài Loan, đồng thời cũng giải thích lý do vì sao các nhà sản xuất và cung cấp hàng hóa lại phụ thuộc vào các nhà phân phối đến vậy.
Nếu không có các kênh phân phối này, các nhà sản xuất và cung cấp sản phẩm chắc chắn sẽ gặp khó khăn trong việc mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của mình. Trên thực tế, các nhà sản xuất và cung cấp sản phẩm phải dựa vào các kênh phân phối để duy trì sự tồn tại của mình. Vì các quá trình và công nghệ bán hàng xét về mặt tổng thể mang tính chính xác và độ tinh vi ngày càng cao nên nhà sản xuất ít có khả năng kiểm soát quá trình bán hàng. Trong khi kênh phân phối dần chiếm vị trí nổi trội hơn bao giờ hết. Khóa luận: Thực trạng quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối.
Do đó, những doanh nghiệp trong ngành phân phối đã có được vị trí thống lĩnh thông qua việc mở rộng thị trường có thể đưa ra những yêu cầu vô lý như việc đòi hỏi các đối tác của mình tạm ngừng việc cung ứng. Các công ty này có thể hoặc tính thêm các khoản phụ phí bất hợp lý cho các đối tác thương mại của mình hoặc đưa ra yêu sách đòi các đối tác thương mại phải chào hàng với mức giá ưu đãi nhất. Hơn nữa, các doanh nghiệp trong ngành phân phối có thể hạn chế một cách bất hợp lý khu vực kinh doanh của các đối tác thương mại và các đối tác giao dịch của họ, hoặc không hề làm rõ các điều kiện loại bỏ hàng hóa hoặc thu hồi hàng hóa cũng như việc thâm hụt hàng tồn và trả lại hàng hóa. Hơn nữa, các doanh nghiệp trong ngành phân phối có thể thu hồi hoặc loại bỏ hàng hóa đang được trưng bày trên giá hàng, yêu cầu các mức bồi thường thiệt hại bất hợp lý hoặc thực hiện các hành vi khác tương tự. Những hành vi như vậy gây hạn chế cạnh tranh hoặc cạnh tranh không lành mạnh, đồng thời chúng làm suy yếu hoạt động cạnh tranh hiệu quả xét về mặt chát lượng, giá cả và các dịch vụ (những khái niệm trung tâm của cạnh tranh lành mạnh), và/hoặc đáng bị chê trách khi xét đến vấn đề đạo đức trong cạnh tranh thương mại. Hơn nữa, các hành vi như vậy gây trở ngại cho sự phát triển lành mạnh của các doanh nghiệp trong ngành phân phối.
3.2. Điều chỉnh pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực phân phối của Đài Loan
3.2.1. Chương trình khắc phục đối với các nhà bán lẻ theo chuỗi cửa hàng trong lĩnh vực phân phối
Sau một cuộc thăm dò kéo dài hơn 2 năm bắt đầu tư 1992 về mối quan hệ thương mại giữa các nhà bán lẻ theo chuỗi cửa hàng trong lĩnh vực phân phối với các nhà cung cấp hàng hóa, vào năm 2014 Uỷ ban Thương mại lành mạnh của Đài Loan (TFTC) đã ban hành chương trình khắc phục: các trung tâm thương mại, các cửa hàng tiện lợi, các siêu thị quy mô lớn, các hợp tác xã người tiêu dùng và các doanh nghiệp khác tham gia vào việc bán hàng hóa tiêu dùng thiết yếu hàng ngày. Họ được gọi là nhà bán lẻ quy mô lớn.
Nguyên tắc hướng dẫn về các trường hợp liên quan đến các nhà phân phối quy mô lớn thu phí bổ sung bất hợp lý. Nội dung của các Nguyên tắc hướng dẫn cụ thể như sau: Khóa luận: Thực trạng quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối.
- Định nghĩa về phí bổ
- Các nhân tố cần tính khi xác định vị thế thuận lợi thị trường.
- Ký kết thoả thuân bằng văn bản.
- Cung cấp thông tin về việc khấu trừ trực tiếp phí bổ sung từ khoản tiền mua hàng phải trả cho người cung cấp.
- Các hành vi cấu thành việc thu phí bổ sung bất hợp lý.
- Trường hợp vi phạm các Nguyên tắc hướng dẫn.
3.2.2. Ghi chú giải thích về các doanh nghiệp phân phối theo quy định của Luật Thương mại lành mạnh
Ngày 29/11/2020, Uỷ ban Thương mại lành mạnh đã thông qua bản Ghi chú giải thích về quy định đối với các doanh nghiệp phân phối theo quy định của Luật Thương mại lành mạnh. Sau 2 lần sửa đổi, văn bản pháp lý này đã được áp dụng từ ngày 10/11/2021. Có thể nói đây là một văn bản tương đối đầy đủ trong lĩnh vực dịch vụ phân phối với các quy định liên quan đến sáp nhập, thỏa thuận cùng hành động, hành vi hạn chế cạnh tranh hoặc làm cản trở cạnh tranh lành mạnh và hành vi gian dối hoặc rõ ràng không lành mạnh của các doanh nghiệp trong ngành phân phối cũng như các biện pháp chế tài và trách nhiệm pháp lý khi các chủ thể này vi phạm các quy định nói trên.
- Quy định liên quan đến sáp nhập trong phân phối:
Theo quy định tại khoản 1, điều 6 Luật Thương mại lành mạnh, khái niệm “sáp nhập” được sử dụng trong Luật này có nghĩa là một tình huống:
- Khi một doanh nghiệp và một doanh nghiệp khác nhập lại thành một;
- Khi một doanh nghiệp chiếm hoặc nắm giữ cổ phiếu hoặc các phần góp vốn của một doanh nghiệp khác từ 1/3 trở lên trong tổng số cổ phiếu có quyền biểu quyết hoặc trong tổng số vốn của doanh nghiệp khác đó;
- Khi một doanh nghiệp nhận quyền chuyển nhượng của doanh nghiệp khác hoặc doanh nghiệp đó thuê của một doanh nghiệp khác toàn bô hoặc phần lớn số tài sản hoặc hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác đó;
- Khi một doanh nghiệp phối hợi hoạt động với một doanh nghiệp khác một cách thường xuyên hoặc được các doanh nghiệp khác giao phó nhiệm vụ điều hành hoạt động;
- Khi một doanh nghiệp kiểm soát một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đối với hoạt động kinh doanh hoặc đối với việc bổ nhiệm hoặc miễn nhiệm dân sự của doanh nghiệp khác đó. Khóa luận: Thực trạng quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối.
Quy định về thoả thuận cùng hành động của các doanh nghiệp trong ngành phân phối. Bao gồm:
- Các quy định điều chỉnh thỏa thuận hành động.
- Loại thỏa thuận hành động mà các doanh nghiệp trong ngành phân phối có thể thực hiện như cấu kết với nhau để ép (các) đối tác thương mại ngừng cung ứng.
- Các quy định điều chỉnh các hành vi hạn chế cạnh tranh hoặc hành vi cản trở cạnh tranh lành mạnh của các doanh nghiệp trong ngành phân phối.
Các quy định về hành vi gian dối hoặc không rõ ràng không lành mạnh có thể ảnh hưởng đến trật tự thương mại của các doanh nghiệp trong ngành phân phối. Bao gồm:
- Các quy định về hành vi không lành mạnh rõ ràng hoặc gian dối khác có thể ảnh hưởng tới tật tự thương mại.
- Các loại hành vi không lành mạnh rõ ràng hoăc gian dối khác của các doanh nghiệp trong ngành phân phối có thể ảnh hưởng tới trật tự thương mại bao gồm:
- Đòi hỏi mức giá ưu đãi nhất từ {các} đối tác thương mại.
- Không nói rõ và cụ thể các điều kiện hoặc tiêu chí đối với việc loại bỏ hoặc thu hồi hàng hóa.
- Không quy trách nhiệm một cách rõ ràng và cụ thể đối với sự thiếu hóa hàng tồn.
- Tính toán thiệt hại để phạt tiền một cách bất hợp lý khi thiếu hụt hàng tồn.
- Không quy định rõ ràng và cụ thể các điều kiện và tiêu chí để trả lại hàng hóa.
- Các hành vi trả lại hàng hoá bất hợp lý.
4. Hàn Quốc Khóa luận: Thực trạng quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối.
4.1 Thực trạng hoạt động phân phối ở Hàn Quốc
Hàn Quốc đã thành công trong việc chuyển đổi nền kinh tế từ một trong những nước nghèo nhất trên thế giới vào những năm 60 để trở thành một quốc gia có nền công nghiệp giữ vai trò quan trọng như hiện nay. Tại thị trường Hàn Quốc, các phương pháp phân phối và số lượng cũng như chức năng của trung gian hết sức đa dạng tuỳ thuộc vào lĩnh vực sản phẩm và các quy định pháp lý liên quan.
Hình thức phân phối truyền thống thường tập trung ở các thành phố lớn. Kênh phân phối được hình thành thông qua một mạng lưới phức tạp, chủ yếu là các cửa hàng bán đồ trong khu vực dân cư, các gian hàng trong chợ, các cửa hàng ven đường. Tuy nhiên, sự phát triển về mặt kinh tế tại Hàn Quốc đã nhanh chóng làm thay đổi hình thức phân phối tại đất nước này trong một thời gian ngắn. Mô hình phân phối hiện đại đã thay thế các mô hình phân phối truyền thống trước đây và trở thành một trong những yếu tố cơ bản duy trì tăng trưởng kinh tế. Hình thức bán lẻ trong các siêu thị phổ biến tại các thành phố lớn, đặc biệt ở Seoul, II – san, Taejon và Busan, và các vùng ngoại ô quanh những thành phố này. Các cửa hàng bán lẻ như: Các cửa hàng đại lý chiết khấu như FDS, Price Costco (Mỹ), Wal – Mart (Mỹ), Carrefour (Pháp) và E – mart (Hàn Quốc) đã được nhiều người tiêu dùng ở Hàn Quốc biết đến. Sự mở rộng của một loạt các cửa hàng chiết khấu, các siêu thị, các chuỗi cửa hàng có quy mô lớn của nước ngoài đã gây ra một cuộc cạnh tranh sôi động giữa các nhà phân phối trong nước và các nhà phân phối nước ngoài trên thị trường Hàn Quốc. Sự cạnh tranh giữa các công ty bán lẻ lớn gây ra những cuộc chiến giảm giá rất gay gắt, các công ty bán lẻ lớn thường gây áp lực giảm giá phi lý đối với các công ty cung cấp của họ. Ví dụ như trường hợp của Wal – mart, điểm mạnh nhất của tập đoàn bán lẻ khổng lồ này là hàng hóa đa dạng và giá rẻ. Nhưng để có được mức giá cạnh tranh như thế, Wal – mart đã bị kết tội là thường xuyên o ép các nhà cung cấp để mua hàng với giá rẻ mạt. Tuy nhiên, các nhà sản xuất vẫn phải bán hàng cho Wal – mart vì trên thực tế, đại gia này chính là người luôn mua hàng với số lượng ổn định và thường xuyên nhất. Một khi Wal – mart không mua hàng nữa thì các nhà sản xuất sẽ buộc phải đóng cửa. Nắm được điều đó, Wal – mart luôn tìm cách buộc các nhà sản xuất cạnh tranh với nhau để hạ giá và mua hàng của người bán mức giá thấp nhất [57].
Trước thực trạng như vậy, Chính phủ Hàn Quốc đã ban hành một số quy định pháp lý nhằm tạo lập một môi trường cạnh tranh bình đẳng và lành mạnh hơn đối với các doanh nghiệp phân phối trong và ngoài nước.
4.2. Điều chỉnh pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ phân phối của Hàn Quốc
4.2.1. Luật Thương mại công bằng và điều chỉnh độc quyền (MRFTA)
MRFTA là luật chống độc quyền toàn diện, tập trung vào các hành động thương mại công bằng. Luật điều chỉnh hầu hết các vấn đề chính sách cạnh tranh chủ chốt, bao gồm sự thông đồng, sự lạm dụng vị trí chiếm ưu thế, độc quyền, hợp nhất & mua lại và các hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Mục tiêu của MRFTA là: “Khuyến khích cạnh tranh tự do và công bằng thông qua việc cấm lạm dụng vị trí chiếm ưu thế trên thị trường, tập trung tiềm lực kinh tế quá mức, và bằng việc điều chỉnh các hành vi thông đồng phi pháp, các hoạt động kinh doanh không lành mạnh, theo đó khuyến khích các hoạt động kinh doanh sáng tạo, bảo vệ người tiêu dùng và đẩy mạnh phát triển cân bằng nền kinh tế quốc gia”.
Nhìn chung, các doanh nghiệp kinh doanh lĩnh vực phân phối của Hàn Quốc sẽ chịu sự điều chỉnh chủ yếu của quy định về cấm lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường (Điều 3-2); các hành vi thoả thuận theo chiều ngang (Điều 19) và các hành vi kinh doanh không lành mạnh bị cấm (Điều 23). Khóa luận: Thực trạng quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối.
Theo điều 3-2, các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh trên thị trường bị cấm gồm:
- Ấn định, duy trì hoặc thay đổi giá cả của hàng hoá dịch vụ một cách bất hợp lý.
- Kiếm soát một cách bất hợp lý việc bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ.
- Can thiệp bất hợp lý vào hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp khác.
- Ngăn cản bất hợp lý việc thâm nhập thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới.
- Tham gia vào hoạt động thương mại không công bằng nhằm loại trừ các đối thủ cạnh tranh hoặc gây hạn chế cạnh tranh đáng kể hoặc gây tổn hại đến lợi ích của người tiêu dùng.
Nếu doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường vi phạm một trong những hành vi bị cấm nêu trên, KFTC sẽ ra lệnh cho doanh nghiệp này phải giảm giá, đình chỉ hành vi đó, công bố công khai việc vi phạm hoặc tiến hành các biện pháp điều chỉnh cần thiết khác. Uỷ ban Thương mại lành mạnh có thể phạt tiền doanh nghiệp nói trên không quá 3% tổng doanh thu có được trong thời gian kể từ thời điểm bắt đầu cho đến khi kết thúc vi phạm.
Ngoài ra, các doanh nghiệp trong lĩnh vực thương mại nói chung và doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phân phối nói riêng không được thoả thuận, câu kết với nhau để gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể. Theo điều 19, có 8 loại hành vi bị cấm đó là:
- Ấn định, duy trì hoặc thay đổi giá cả.
- Giới hạn các điều khoản, điều kiện đối với việc mua bán hàng hoá hoặc dịch vụ hoặc đối với việc thanh toán hay bồi thường.
- Hạn chế sản xuất, vận chuyển hoặc mua bán hàng hoá hoặc dịch vụ.
- Hạn chế phạm vi mua bán hoặc khách hàng.
- Hạn chế hoặc gây cản trở sự hình thành hay mở rộng cơ sở sản xuất; lắp đặt các trang thiết bị cần thiết cho việc sản xuất hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ.
- Hạn chế loại hình hoặc quy cách phẩm chất của hàng hoá tại thời điểm sản xuất hoặc mua bán hàng hoá đó.
- Thành lập một tập đoàn để tiến hành hoặc quản lý những phần quan trọng của hoạt động kinh doanh dưới hình thức cộng tác.
- Hạn chế hoặc cản trở các hoạt động kinh doanh hoặc bản chất hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp khác.
Nếu có bất kỳ vi phạm nào liên quan đến Điều 19, tương tự như biện pháp điều chỉnh đối với các doanh nghiệp thống lĩnh thị trường, KFTC cũng sẽ ra lệnh đình chỉ hành vi vi phạm, công bố công khai về hành vi vi phạm. Hoặc, KFTC có thể áp đặt một khoản tiền phạt không vượt quá 5% doanh thu của doanh nghiệp vi phạm Điều 19. Trong trường hợp doanh thu không tồn tại, Uỷ ban Thương mại lành mạnh sẽ đưa ra một khoản tiền phạt không vượt quá 1 tỷ won. Khi doanh nghiệp vi phạm tự nguyện thông báo cho KFTC về sai phạm của mình, tuỳ theo mức độ vi phạm, doanh nghiệp sẽ được giảm nhẹ hình phạt, giảm các khoản tiền phạt hoặc được miễn tiền phạt. Khóa luận: Thực trạng quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối.
Đối với các doanh nghiệp không có vị trí thống lĩnh trên thị trường, MRFTA cũng cấm các doanh nghiệp đó có các hành vi kinh doanh không lành mạnh. Theo Điều 23, không một doanh nghiệp nào được tham gia vào bất kỳ hành vi thuộc một trong những hành vi dưới đây:
- Từ chối giao dịch bất hợp lý hoặc phân biệt đối xử đối với một đối tác giao dịch nhất định.
- Loại bỏ một cách bất hợp lý các đối thủ cạnh
- Xúi giục hoặc ép buộc một cách bất hợp lý khách hàng của các đối thủ cạnh tranh phải giao dịch với mình.
- Lợi dụng một các bất hợp lý vị trí mặc cả của mình trong khi giao dịch với những đối tác khác.
- Giao dịch với những đối tác khác theo các điều kiện sẽ hạn chế hoặc gây cản trở cho những hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp khác.
- Sử dụng quảng cáo (kể cả sử dụng tên nhãn hiệu) hoặc tiến hành việc giới thiệu mang tính sai trái, lừa dối.
- Cung cấp một cách bất hợp lý và tạm thời cho những người có liên quan đặc biệt hoặc những công ty khác các khoản thanh toán, khoản cho vay, nhân lực, giấy tờ thương mại, hoặc quyền sở hữu vô hình.
- Các hoạt động khác gây cản trở cạnh tranh lành mạnh.
Trong trường hợp doanh nghiệp có hành vi vi phạm, KFTC có thể ra lệnh cho doanh nghiệp đó đình chỉ hành vi nói trên, đưa ra thông báo điều chỉnh về hoạt động quảng cáo vi phạm, công bố vi phạm một cách công khai. Bên cạnh đó, KFTC có thể áp đặt khoản tiền phạt không vượt quá 2% doanh thu của doanh nghiệp. Trong trường hợp doanh thu không tồn tại, KFTC có thể áp đặt một khoản tiền phạt không quá 500 triệu won.
4.2.2. Thông báo về các hình thức và tiêu chuẩn đối với các hành vi kinh doanh không lành mạnh liên quan đến việc kinh doanh cửa hàng bán lẻ lớn
Thông báo này nằm trong Luật MRFTA. Mục tiêu của thông báo nhằm quy định một cách rõ ràng và cụ thể hơn các hình thức và tiêu chuẩn của hành vi lợi dụng một cách bất hợp lý vị trí mặc cả của một doanh nghiệp trong giao dịch với những đối tác khác theo quy định của Điều 23 (Các hành vi kinh doanh không lành mạnh bị cấm).
- Khái niệm về kinh doanh cửa hàng bán lẻ lớn: Khóa luận: Thực trạng quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối.
“Kinh doanh cửa hàng bán lẻ lớn”: được hiểu là kinh doanh bán lẻ hàng hoá cho khách hàng tiêu dùng thông qua việc có được giấy phép mở một siêu thị, trung tâm mua sắm hoặc cửa hàng lớn theo quy định của Luật Phát triển Ngành Phân phối. Khái niệm này cũng sẽ bao gồm cả những người được phép kinh doanh bán buôn theo quy định của Luật này nhưng thực sự tham gia bán lẻ.
Các hành vi kinh doanh không lành mạnh liên quan đến các cửa hàng bán lẻ lớn bao gồm:
- Trả lại hàng hoá một cách bất hợp pháp.
- Giảm giá bất hợp pháp.
- Chậm thanh toán bất hợp pháp cho nhà cung cấp.
- Đưa ra các yêu cầu, ép buộc bất hợp pháp.
- Từ chối nhận hàng một cách bất hợp pháp.
- Cử nhân viên xúc tiến bán hàng.
- Áp đặt không công bằng đối với chi phí quảng cáo.
III. BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM Khóa luận: Thực trạng quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối.
Từ việc phân tích và nghiên cứu thực trạng cũng như các biện pháp quản lý cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ phân phối của Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc và Thái Lan, chúng ta có thể rút ra được những bài học kinh nghiệm áp dụng đối với thực tiễn ở Việt Nam.
Ở Việt Nam hiện nay, hoạt động kinh doanh phân phối chủ yếu được quy định tại Luật Cạnh tranh, Luật Thương mại. Liên quan đến đầu tư nước ngoài, Quốc Hội đã ban hành Luật Đầu tư 2024. Như vậy xét về mặt văn bản pháp lý điều chỉnh, chúng ta cũng có những nét tương đồng với Thái Lan. Mặc dù, Thái Lan ban hành Luật Cạnh tranh trước chúng ta đến 5 năm, với điều kiện kinh tế – xã hội có những bước phát triển cao hơn, nhưng hiện nay Thái Lan vẫn chưa thể có được một đạo luật riêng quản lý hoạt động phân phối một cách rõ ràng và cụ thể. Chính vì vậy, chúng ta cũng không cần quá nôn nóng, vội vàng để đưa ra nhưng quy định điều chỉnh khi mà thị trường Việt Nam còn chưa thực sự đòi hỏi về sự cấp thiết này. Khi Việt Nam đã là thành viên của WTO, chúng ta lại càng không thể đưa ra những quy định mang tính phân biệt đối xử cũng như hạn chế quá mức sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài. Chúng ta cần nghiên cứu thêm các quy định của nhiều nước phát triển và đang phát triển khác như Nhật Bản, Hàn Quốc, đặc biệt những nước có lịch sử phát triển tương đồng với Việt Nam. Nhu cầu xây dựng luật cũng phải bắt nguồn từ thực tế, ngay như Thái Lan, mặc dù giới kinh doanh trong nước, đặc biệt là các nhà bán buôn, bán lẻ đã thúc ép Chính phủ rất nhiều nhằm đưa ra những quy định pháp lý bảo vệ họ tránh khỏi sự cạnh tranh mạnh mẽ từ phía bên ngoài, nhưng một đạo luật trong gần 5 năm vẫn chưa được chấp thuận. Một đạo luật với quá nhiều mục đích, có đụng chạm đến lợi ích của nhiều đối tác kinh doanh, đặc biệt là hạn chế nhà đầu tư nước ngoài trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, như việc cho ban hành Luật Kinh doanh bán lẻ của Thái Lan là rất khó. Xu thế hội nhập sẽ không khuyến khích Chính phủ các nước đưa ra những quy chế trái với WTO, trái với xu hướng mở cửa tự do của nền kinh tế.
Bên cạnh việc ban hành các quy định hướng dẫn Luật Cạnh tranh trong lĩnh vực phân phối, chúng ta cũng cần học tập kinh nghiệm của nhiều nước để đưa vấn đề quản lý lĩnh vực này vào trong các văn bản pháp luật khác, như pháp luật quy hoạch, xây dựng khu đô thị, phát triển khu kinh tế… và pháp luật thuộc các lĩnh vực có liên quan. Việc mở các cửa hàng bán lẻ, bán buôn, các trung tâm thương mại, siêu thị,… có liên quan đến địa điểm, thời gian hoạt động, chính vì vậy các cơ quan, chính quyền ở địa phương cần được tăng thêm thẩm quyền trong việc cấp phép các chương trình, dự án kinh doanh tại địa phương mình. Cần cân nhắc khi cấp phép để đảm bảo không ảnh hưởng quá mức đến lợi ích của các chủ thể kinh doanh trong nước đang có, đặc biệt các chủ thể kinh doanh nhỏ lẻ, kinh doanh gia đình, theo kiểu truyền thống…Việc cấp phép cũng cần được quy hoạch để tránh lãng phí không cần thiết trong cạnh tranh, các cửa hàng, trung tâm bán buôn, bán lẻ cũng cần được quy hoạch đồng đều, ưu tiên phát triển ở những vùng sâu, vùng xa, nơi có điều kiện kinh tế – xã hội còn khó khăn.
Trong thực tiễn quản lý cạnh tranh trong lĩnh vực phân phối, Uỷ ban Thương mại lành mạnh của Đài Loan đã ban hành nhiều văn bản pháp lý để điều chỉnh hoạt động của các nhà phân phối nhằm đưa hoạt động của các chủ thể này vào khuôn khổ. Có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm của Đài Loan để có thể nghiên cứu áp dụng cho công tác quản lý cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ phân phối ở nước ta như sau: Khóa luận: Thực trạng quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối.
Đưa ra các quy định tổng thể và mang tính đặc thù trong ngành phân phối để điều chỉnh hành vi của các doanh nghiệp bao gồm quy định vế sáp nhập, về thoả thuận hành động, về hành vi hạn chế cạnh tranh hoặc cản trở cạnh tranh lành mạnh, về hành vi không lành mạnh rõ ràng hoặc gian dối khác.
Đưa ra chế tài hành chính và cả hình sự (sửa đổi bổ sung Bộ Luật Hình sự) mang tính răn đe cao, bao gồm: phạt tiền, phạt tù hoặc kết hợp cả hai hình thức xử phạt này; bên cạnh đó, Đài Loan còn sử dụng các hình thức xử lý khác như biện pháp khắc phục hậu quả (buộc cơ cấu lại doanh nghiệp, chuyển giao hoạt động kinh doanh,…) và bồi thường thiệt hại.
Nếu như ở Đài Loan có tình trạng các nhà phân phối quy mô lớn chèn ép các doanh nghiệp sản xuất thì ở Việt Nam chúng ta cần lưu tâm đến tình trạng các doanh nghiệp tên tuổi nước ngoài đang dần thống lĩnh thị trường phân phối, cạnh tranh mạnh mẽ và thắng thế với các doanh nghiệp phân phối Việt Nam và áp đặt luật chơi với các nhà sản xuất nội địa.
Nhật Bản là nước phát triển, nền công nghiệp sản xuất tiêu dùng và dân số rất đông, chính vì vậy thị trường phân phối của nước này hoạt động rất mạnh, với sự tham gia của các nhà công nghiệp hàng đầu thế giới và theo đó có khá nhiều các nhà phân phối lớn hình thành theo. Chính vì vậy, ở đất nước mặt trời mọc và xứ xở hoa anh đào, những quy định của pháp luật điều chỉnh các hành vi cạnh tranh trong lĩnh vực phân phối là khá nhiều, khá chi tiết và bao quát và họ đã có khoảng thời gian để sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các chế định này. Các quy định của Nhật Bản khá chi tiết và dễ vận dụng. Các bản quy định về hành vi cũng như hướng dẫn đi sát việc thực tiễn. Đặc biệt, trong các hướng dẫn có chỉ ra các ví dụ vi phạm/không vi phạm để có thể áp dụng ngay, đó cũng là cách để cảnh báo trước với các doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp điều chỉnh hoạt động kinh doanh của mình ngay từ lúc mới tiến hành. Việt Nam đang trong giai đoạn đầu thực thi Luật Cạnh tranh, chưa có nhiều kinh nghiệm, việc đưa ra các hướng dẫn cụ thể như vậy, trước mắt là chưa thể. Tuy nhiên, rất cần thiết để có những hướng dẫn chi tiết như thế này trong tương lai.
Có một số điểm khác biệt trong quy định của Nhật Bản và Việt Nam. Điểm khác biệt này cũng bắt nguồn từ sự khác biệt về kinh tế giữa 2 nước, bên cạnh đó Luật Chống độc quyền Nhật Bản ra đời cách đây khá lâu, gần 60 năm, thời gian đủ để có những trải nghiệm thực tế. Khóa luận: Thực trạng quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối.
Trong lĩnh vực phân phối, các hành vi lạm dụng vị trí có ưu thế trong thương lượng mua bán (như lạm dụng mối quan hệ giao dịch thường xuyên, quan hệ độc quyền, quan hệ sở hữu cổ phần, lạm dụng vị trí thống lĩnh trong thương lượng mua bán của nhà bán lẻ có quy mô lớn để ép buộc nhà cung ứng), được xem xét trên góc độ là hành vi thương mại không công bằng, hạn chế thương mại bất hợp lý. Không có quy định về thị phần đối với các doanh nghiệp lạm dụng vị thế này. Việc vi phạm chủ yếu căn cứ trên các hành vi thương mại không công bằng, hạn chế thương mại bất hợp lý. Đối chiếu với Luật Cạnh tranh Việt Nam, trong các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, ít có đề cập đến vấn đề này. Tuy nhiên nếu dựa trên các hành vi hạn chế cạnh tranh của Luật Cạnh tranh Việt Nam thì có thể xếp các hành vi trên vào hành vi thoả thuận gây hạn chế cạnh tranh, hoặc hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh. Tuy nhiên, theo Luật Cạnh tranh Việt Nam khi xem xét các hành vi nêu trên còn phải xem xét đến cả thị phần hoặc tính có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể của doanh nghiệp. Thiết nghĩ, trong tình hình kinh tế hiện này là phù hợp nhưng trong tương lai, việc quy định như thế này sẽ gây khó khăn cho công tác xử lý.
Nhật Bản đề cao tính tự tuân thủ của các doanh nghiệp. Chính vì vậy các quy định khá chi tiết. Điều này sẽ giúp doanh nghiệp dễ dàng nhận ra hành vi của mình, đồng thời giảm tải số vụ việc phải xử lý cho JFTC. Một điểm đáng lưu ý nữa trong quy trình xử lý vụ việc là JFTC không ra quyết định xử lý ngay khi kết thúc điều tra và chứng minh được có hành vi vi phạm. Thông thường, sau khi điều tra JFTC sẽ gửi một bản kiến nghị cho cá nhân/tổ chức vi phạm, trong đó chỉ rõ các hành vi vi phạm, các biện pháp xử lý. Doanh nghiệp khi nhận được bản kiến nghị này sẽ có một thời gian đủ để xem xét có chấp thuận bản kiến nghị hay không, nếu có, JFTC mới ban hành quyết định (với nội dung tương tự như bản kiến nghị đã gửi cho doanh nghiệp); nếu không JFTC sẽ tiến hành phiên điều trần, lúc này doanh nghiệp sẽ có cơ hội chứng minh những điểm mà họ không đồng ý trong bản kiến nghị. Cách làm như vậy sẽ giúp giảm nhẹ công việc cho JFTC, đồng thời một cách tự động tăng tính tự giác khai báo của các doanh nghiệp.
Tóm lại, sự ra đời của Luật Cạnh tranh là rất cần thiết nhằm tạo lập và thúc đẩy các cơ hội bình bẳng, không phân biệt đối xử, bảo vệ và khuyến khích cạnh tranh lành mạnh; ngăn chặn các hành vi gây hạn chế cạnh tranh. Tuy nhiên thông qua kinh nghiệm của các nước, có thể thấy hiện nay, Việt Nam chưa có các quy định cụ thể cho từng hoạt động thuộc lĩnh vực phân phối. Luật Cạnh tranh của ta mới chỉ quy định các hành vi cạnh tranh không lành mạnh áp dụng chung cho tất cả hoạt động kinh doanh trên mọi lĩnh vực, mà chưa có những hướng dẫn cụ thể đối với hoạt động của từng phân ngành: hoạt động bán lẻ, hoạt động bán buôn, đại lý ủy quyền, nhượng quyền thương mại. Do vậy, trong tương lai gần, chúng ta sẽ cần đưa ra các văn bản hướng dẫn cụ thể liên quan đến cạnh tranh trong hoạt động của hệ thống siêu thị bán buôn; bán lẻ; trung tâm thương mại; nhượng quyền thương mại nhằm tạo lập được môi trường kinh doanh lành mạnh, bình đẳng hơn nữa cho mọi đối tác thuộc mọi thành phần trong nước cũng như ngoài nước. Khóa luận: Thực trạng quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Giải pháp quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối
