Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu tân dược

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu tân dược hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu tân dược và nguyên liệu sản xuất thuốc tân dược tại Công ty cổ phần xuất nhập khẩu y tế Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

LỜI MỞ ĐẦU

I. Lý do lựa chọn đề tài:

Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế lớn của thời đại. Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định cần phải: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy nội lực, nâng cao hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh Quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường”. Các doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu đã tham gia vào quá trình hội nhập với không ít những khó khăn, thách thức và cơ hội.

Nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu có vai trò quan trọng đối với một doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu. Nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu không những là cơ sở cơ bản cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp mà còn là nhân tố thúc đẩy cạnh tranh trong kinh doanh và tối đa hóa lợi nhuận. Do vậy nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu là yêu cầu cấp thiết, là mục tiêu hàng đầu trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay.

Hiểu rõ vai trò quan trọng của việc nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu đối với doanh nghiệp nhưng hiện nay không ít các doanh nghiệp đang gặp khó khăn trong việc xác định hiệu quả hoạt động nhập khẩu và lựa chọn con đường để nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu cho doanh nghiệp mình. Xuất phát từ thực tiễn trên đây, việc lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu tân dược và nguyên liệu sản xuất thuốc tân dược tại Công ty cổ phần xuất nhập khẩu y tế Việt Nam” là cần thiết.

II. Mục tiêu nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu tân dược và nguyên liệu sản xuất thuốc tân dược tại Công ty cổ phần xuất nhập khẩu y tế Việt Nam” nhằm mục tiêu làm rõ cơ sở khoa học của hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp, đánh giá hiệu quả hoạt động nhập khẩu tân dược và nguyên liệu sản xuất thuốc tân dược tại Công ty cổ phần xuất nhập khẩu y tế Việt Nam và từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu tân dược và nguyên liệu sản xuất thuốc tân dược tại Công ty cổ phần xuất nhập khẩu y tế Việt Nam.

III. Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu:

Bài khóa luận trên hướng đến đối tượng nghiên cứu là hoạt động nhập khẩu thuốc tân dược và nguyên liệu sản xuất thuốc tân dược qua đó đánh giá hiệu quả hoạt động nhập khẩu thuốc tân dược và nguyên liệu sản xuất thuốc tân dược tại Công ty cổ phần xuất nhập khẩu y tế Việt Nam. Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu tân dược.

Để làm sáng rõ nội dung nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu thuốc tân dược và nguyên liệu sản xuất thuốc tân dược tại Công ty cổ phần xuất nhập khẩu y tế Việt Nam, người viết khóa luận này sử dụng số liệu hoạt động kinh doanh nhập khẩu tân dược và nguyên liệu sản xuất thuốc tân dược từ năm 2023 đến năm 2025 do Công ty cổ phần xuất nhập khẩu y tế Việt Nam cung cấp.

Với mục đích phân tích thấu đáo nội dung của đề tài, người viết đã sử dụng kết hợp phương pháp đánh giá, phân tích định tính, phân tích định lượng và so sánh và phương pháp thu thập và xử lý thông tin, bao gồm thông tin sơ cấp và thứ cấp.

IV. Bố cục:

Ngoài mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục sơ đồ, lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, bài khóa luận này còn bao gồm ba chương chính như sau:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
  • Chương 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh nhập khẩu thuốc tân dược và nguyên liệu sản xuất thuốc tân dược tại Công ty cổ phần xuất nhập khẩu y tế Việt Nam
  • Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu thuốc tân dược và nguyên liệu sản xuất thuốc tân dược tại Công ty cổ phần xuất nhập khẩu y tế Việt Nam.

Với nhận thức và khả năng còn nhiều hạn chế, bài khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót. Người viết khóa luận này mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy, cô giáo để bài viết ngày càng hoàn thiện hơn.

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP

I. Khái quát về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Hiệu quả kinh doanh là mối quan tâm hàng đầu của mọi nền sản xuất xã hội nói chung và của mọi doanh nghiệp nói riêng. Vậy hiệu quả kinh doanh là gì? Bản chất của hiệu quả hoạt động kinh doanh là gì? Tất cả các câu hỏi trên sẽ được làm rõ sau đây.

1. Khái niệm hiệu quả kinh doanh

Để hiểu đúng đắn khái niệm hiệu quả kinh doanh, trước hết cần tìm hiểu khái niệm kinh doanh. Có nhiều cách hiểu khác nhau về kinh doanh

Theo Luật Doanh Nghiệp 2021: “ Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phầm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”.

Từ điển kinh tế có khái niệm về kinh doanh như sau: “Kinh doanh là hoạt động nhằm mục đích sinh lời của các chủ thể kinh doanh trên thị trường”. Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu tân dược.

Từ trước tới nay, các nhà kinh tế đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tùy theo từng lĩnh vực nghiên cứu mà có các quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh doanh. Dưới đây là một số quan điểm về hiệu quả kinh doanh:

Nhà kinh tế học người Anh, Adam Smith cho rằng: “Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, doanh thu tiêu thụ hàng hóa”.

Theo cách tiếp cận khác, khái niệm về hiệu quả kinh doanh được hiểu như sau: “Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mức độ hữu ích của sản phẩm sản xuất ra tức là giá trị sử dụng của nó; hoặc là doanh thu, nhất là lợi nhuận thu được sau quá trình kinh doanh. Quan điểm này lẫn lộn giữa hiệu quả với kết quả sản xuất kinh doanh, giữa hiệu quả với mục tiêu kinh doanh.

Hiệu quả sản xuất kinh doanh là sự tăng trưởng kinh tế, được phản ánh qua nhịp độ tăng của các chỉ tiêu kinh tế. Cách hiểu này là phiến diện chỉ đứng trên giác độ biến động theo thời gian.

Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mức độ tiết kiệm chi phí và mức tăng kết quả kinh tế. Đây là biểu hiện của bản chất mà không phải là khái niệm về hiệu quả kinh tế.

Hiệu quả sản xuất kinh doanh là các chỉ tiêu được xác định bằng tỷ lệ so sánh giữa kết quả và chi phí. Định nghĩa như vậy chỉ đề cập đến cách xác lập chỉ tiêu chứ không toát lên ý niệm của vấn đề.

Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mức tăng của các kết quả sản xuất kinh doanh trên mỗi lao động hau mức doanh lợi của vốn sản xuất kinh doanh. Quan điểm này muốn quy hiệu quả sản xuất kinh doanh về một chỉ tiêu tổng hợp cụ thể nào đó

Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hiện tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực và trình độ chi phí các nguồn lực đó trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh. Nó là thước đo ngày càng trở nên quan trọng của sự tăng trưởng kinh tế và là chỗ dựa cơ bản để đánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp trong từng thời kỳ”.

Đỗ Hoàng Toàn cũng đã đưa ra khái niệm về hiệu quả kinh doanh: “Hiệu quả kinh doanh là chỉ tiêu kinh tế – xã hội tổng hợp để lựa chọn các phương án hoặc các quyết định trong quá trình hoạt động thực tiễn ở mọi lĩnh vực kinh doanh và tại mọi thời điểm. Bất kỳ các quyết định cần đạt được phương án tốt nhất trong điều kiện cho phép, giải pháp thực hiện có tính cân nhắc, tính toán chính xác phù hợp với sự tất yếu của quy luật khách quan trong từng điều kiện cụ thể”.

  • Từ các khái niệm trên có thể tổng hợp và đưa ra công thức chung để đánh giá hiệu quả kinh doanh như sau:

Kết quả đầu ra có thể đo bằng các chỉ tiêu như: giá trị tổng sản lượng, doanh thu thuần, lợi nhuận thuần, lợi nhuận gộp, kim ngạch xuất nhập khẩu… Chi phí đầu vào bao gồm: lao động, đối tượng lao động, vốn chủ sở hữu, vốn vay.

Công thức (1) cho thấy sức sản xuất (mức sinh lời) của các yếu tố đầu vào được tính cho tổng số và riêng cho giá trị gia tăng. Công thức này cho biết một đơn vị đầu vào được sử dụng cho ra bao nhiêu kết quả đầu ra.

Công thức (2), nghịch đảo của công thức (1), phản ánh sức hao phí các chỉ tiêu đầu vào, nghĩa là để có một kết quả đầu ra thì cần có bao nhiêu đơn vị yếu tố đầu vào được sử dụng. Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu tân dược.

Theo cách hiểu như trên, hiệu quả kinh doanh không chỉ là sự so sánh giữa kết quả đầy vào và kết quả đầu ra mà hiệu quả kinh doanh được hiểu trước hết là phải hoàn thành mục tiêu kinh doanh, nếu không hoàn thành mục tiêu kinh doanh thì không thể có hiệu quả kinh doanh và để hoàn thành mục tiêu kinh doanh đó cần phải sử dụng nguồn lực như thế nào?

Điều này thể hiện một quan điểm mới là không phải lúc nào cũng là để đạt được mục tiêu thì phải giảm chi phí mà vấn đề là sử dụng chi phí đó như thế nào, có những chi phí không cần thiết thì phải giảm nhưng cũng có những chi phí cần tăng lên vì chính việc tăng những chi phí này sẽ giúp cho doanh nghiệp tăng kết quả đầu ra và hoàn thành mục tiêu tốt hơn. Tác giả nhận thấy đây là một quan điểm mới có tính thuyết phục và quan trọng hơn, khi áp dụng quan điểm này thì hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp được đánh giá sát thực, giúp cho doanh nghiệp ra quyết định chính xác trong kinh doanh.

2. Đặc điểm hiệu quả kinh doanh

  • Từ khái niệm về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp có thể thấy hiệu quả kinh doanh có các đặc điểm như sau:

Thứ nhất, hiệu quả kinh doanh là một phạm trù phức tạp và khó xác định. Nguyên nhân là do hiệu quả kinh doanh là được xác định bởi mối tương quan giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó mà hai đại lượng này đều tương đối khó xác định trên thực tế do nhiều lý do khác nhau.

Thứ hai, hiệu quả kinh doanh khó xác định được kết quả mà doanh nghiệp thu được. Kết quả mà doanh nghiệp thu được thông thường được biểu hiện giá trị dưới dạng là tiền tệ. Bất cứ sự thay đổi trên thị trường của đồng tiền đều có thể ảnh hưởng đến việc xác định kết quả đạt được của doanh nghiệp.

Thứ ba, hiệu quả kinh doanh khó xác định được chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra một cách chính xác vì chi phí cũng chịu ảnh hưởng của đồng tiền. Mặt khác một chi phí bỏ ra có thể tham gia vào nhiều chu kỳ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thì việc phân bổ chi phí đó cho từng chu kỳ, từng đối tượng chỉ mang tính tương đối mà thôi. Hơn nữa, chi phí không chỉ là những chi phí trực tiếp mang lại kết quả cho doanh nghiệp mà còn bao gồm cả những chi phí gián tiếp liên quan đến quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: chi phí dành cho giáo dục, cải tạo môi trường… có tác động không nhỏ đến kết quả kinh doanh và các chi phí này khó tính toán trong quá trình xem xét hiệu quả kinh doanh.

Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế, thông qua đó doanh nghiệp có thể đưa ra các quyết định đầu tư chính xác cho doanh nghiệp mình để hoạt động sản xuất của doanh nghiệp thu được kết quả cao nhất với chi phí đầu vào thấp nhất. Do vậy cần nắm vững đặc điểm của hiệu quả kinh doanh để vận dụng chính xác trong quá trình nghiên cứu.

3. Phân loại hiệu quả kinh doanh Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu tân dược.

Hiệu quả kinh doanh được biểu hiện dưới nhiều dạng khác nhau. Mỗi dạng có những đặc trưng và ý nghĩa nghiên cứu khác nhau. Việc phân loại sau đây chỉ mang ý nghĩa tương đối.

3.1. Hiệu quả kinh tế cá biệt và hiệu quả kinh tế – xã hội

Hiệu quả kinh tế cá biệt là hiệu quả kinh tế thu được từ hoạt động thương mại của doanh nghiệp, của từng thương vụ kinh doanh. Biểu hiện chung của hiệu quả cá biệt là lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt được. Tiêu chuẩn cơ bản của hiệu quả này là lợi nhuận cao và ổn định nhất. Trong công tác quản lý thương mại, hiệu quả cá biệt là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp và nhà đầu tư.

Hiệu quả kinh tế – xã hội là sự đóng góp của hoạt động thương mại vào việc phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng năng suất lao động, nâng cao đời sống xã hội…

Hiệu quả kinh tế – xã hội và hiệu quả cá biệt có mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau. Hiệu quả kinh tế – xã hội đạt được trên cơ sở hiệu quả cá biệt. Tuy nhiên vẫn có những trường hợp hiệu quả cá biệt của doanh nghiệp nào đó không đảm bảo nhưng vẫn có thể thu được hiệu quả chung của cả nền kinh tế do nhiều nguyên nhân khác nhau. Mặt khác, để thu được hiệu quả kinh tế – xã hội đôi khi cần phải từ bỏ một hiệu quả cá biệt nào đó. Bởi vậy Nhà Nước cần có chính sách kết hợp hài hòa lợi ích của từng doanh nghiệp với lợi ích của xã hội trên cơ sở là đặt hiệu quả cá biệt trong hiệu quả kinh tế – xã hội.

3.2. Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh

Hiệu quả tuyệt đối là lượng hiệu quả được tính toán cho từng phương án cụ thể bằng cách xác định mức lợi ích thu được với lượng chi phí bỏ ra. Chẳng hạn, tính toán mức lợi nhuận thu được từ một đồng chi phí sản xuất, từ một đồng vốn bỏ ra…

Hiệu quả so sánh được xác định bằng cách so sánh các chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối của các phương án khác nhau. Nói cách khác, hiệu quả so sánh chính là mức chênh lệch về hiệu quả tuyệt đối của các phương án từ đó cho phép lựa chọn một cách làm có hiệu quả cao nhất.

Người ta xác định hiệu quả tuyệt đối khi phải bỏ chi phí ra để thực hiện một thương vụ nào đó, để biết được với những chi phí bỏ ra sẽ thu được những lợi ích cụ thể và mục tiêu cụ thể gì để từ đó để đi đến quyết định có nên bỏ ra chi phí hay không cho thương vụ đó. Vì vậy trong công tác quản lý kinh doanh, bất kỳ công việc gì đòi hỏi phải bỏ ra chi phí dù với một lượng lớn hay nhỏ cũng đều cần phải tính toán hiệu quả tuyệt đối

Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh có môi quan hệ chặt chẽ với nhau, song cũng có tính độc lập tương đối. Trước hết xác định hiệu quả tuyệt đối là cơ sở xác định hiệu quả so sánh. Nghĩa là trên cơ sở những chỉ tiêu tuyệt đối của từng phương án, người ta so sánh mức hiệu quả ấy của các phương án với nhau. Mức chênh lệch này là hiệu quả so sánh

3.3. Hiệu quả của chi phí bộ phận và chi phí tổng hợp Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu tân dược.

Tại mỗi doanh nghiệp, chi phí bỏ ra để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh suy đến cùng là chi phí lao động xã hội, nhưng khi đánh giá hiệu quả kinh tế, chi phí lao động biểu hiện dưới dạng chi phí như:

  • Chi phí trong quá trình sản xuất sản phẩm
  • Chi phí ngoài quá trình sản xuất sản phẩm

Bản thân mỗi loại chi phí trên có thể phân chia chi tiết theo những tiêu thức nhất định. Do đó, khi đánh giá hiệu quả của hoạt động kinh doanh cần phải đánh giá hiệu quả tổng hợp của các loại chi phí trên đây đồng thời phải đánh giá hiệu quả của từng loại chi phí. Đó là đòi hỏi cần thiết giúp cho công tác quản lý kinh doanh tìm được hướng giảm chi phí cá biệt và giảm chi phí tổng hợp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh.

3.4. Phân loại khác:

Căn cứ vào thời gian đạt được kết quả kinh doanh có thể phân loại thành hiệu quả trước mắt và hiệu quả lâu dài.

  • Hiệu quả trước mắt: Là hiệu quả được xem xét trong thời gian ngắn.
  • Hiệu quả lâu dài: Là hiệu quả được đánh giá và xem xét trong thời gian dài.

Doanh nghiệp vần phải xem xét thực hiện các hoạt đông kinh doanh sao cho mang lại cả hiệu quả trước mắt và hiệu quả lâu dài, không nên vì hiệu quả trước mắt mà làm thiệt hại đến hiệu quả lâu dài của doanh nghiệp.

4. Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh

Sự thành công trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nếu không tính đến vận may, chỉ xuất hiện khi kết hợp hài hòa các yếu tố bên trong và bên ngoài. Chỉ trên cơ sở nắm vững các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mới đề ra được những mục tiêu và chiến lược đúng đắn. Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau như lao động, vốn… nhưng tựu chung lại thì bao gồm hai nhân tố chính: Nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan.

4.1. Nhân tố khách quan Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu tân dược.

4.1.1 Môi trường vĩ mô:

  • Môi trường chính trị – luật pháp:

Để kinh doanh có hiệu quả, các doanh nghiệp cần phải phân tích, dự đoán về chính trị và luật pháp cùng xu hướng vận động của nó bao gồm:

  • Sự ổn định chính trị và đường lối ngoại
  • Sự cân bằng các chính sách của Nhà nước.
  • Vai trò và chiến lược phát triển kinh tế của Đảng và Chính phủ
  • Sự điều tiết và khuynh hướng can thiệp của Chính phủ vào đời sống kinh tế.
  • Sự phát triển các quyết định bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.
  • Hệ thống pháp luật, sự hoàn thiện và hiệu lực thi hành chúng.

Môi trường kinh tế:

Các yếu tố kinh tế bao gồm các nhân tố tác động đến sức mua của khách hàng và dạng tiêu dùng hàng hóa, “là máy đo nhiệt” của thị trường, quy định cách thức doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực của mình, bao gồm:

  • Sự tăng trưởng kinh tế.
  • Sự thay đổi về cơ cấu sản xuất và phân phối.
  • Tiềm năng kinh tế và sự gia tăng đầu tư.
  • Lạm phát, thất nghiệp.
  • Các chính sách về lãi xuất, tín dụng, tỷ giá…

Kỹ thuật và công nghệ: Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu tân dược.

Yếu tố kỹ thuật và công nghệ làm cơ sở cho yếu tố kinh tế, là sức mạnh “tàn phá sáng tạo” dẫn đến sự ra đời của sản phẩm mới, sẽ tác động vào mô thức tiêu thụ và hệ thống bán hàng. Ngược lại yếu tố kỹ thuật bị ảnh hưởng của cách thức quản lý vĩ mô. Khi xét đến nhân tố kỹ thuật và công nghệ, doanh nghiệp cần quan tâm đến những vấn đề sau:

  • Cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân
  • Tiến bộ kỹ thuật và khả năng ứng dụng kỹ thuật trong hoạt động kinh doanh
  • Chiến lược phát triển kỹ thuật, công nghệ của nền kinh tế.

Bên cạnh các yếu tố trên, môi trưỡng vĩ mô còn có các nhân tố khác ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp như: yếu tố văn hóa xã hội, yếu tố môi trường tự nhiên và cơ sở hạ tầng…

4.1.2 Môi trường vi mô

  • Khách hàng

Khách hàng có thể là các cá nhân, nhóm người, doanh nghiệp có khả năng thanh toán về hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp mà chưa được đáp ứng và mong được thỏa mãn.

Thị trường của doanh nghiệp là tập hợp khách hàng rất đa dạng, khác nhau về lứa tuổi, sở thích, giới tính… Doanh nghiệp có thể chia khách hàng nói chung thành những nhóm khách hàng khác nhau, mỗi nhóm có đặc trưng riêng phản ánh quá trình mua sắm của họ:

  • Theo mục đích mua sắm: có khách hàng là người tiêu dùng cuối cùng, những khách hàng trung gian, Chính phủ và các tổ chức phi lợi nhuận.
  • Theo thành phần kinh tế: có khách hàng là cá nhân, tập thể hay doanh nghiệp nhà nước. Nguồn gốc khác nhau của đồng tiền thanh toán và sự tiêu dùng cho chính họ hay tập thể và những người khác là đặc trưng của nhóm khách hàng này.
  • Căn cứ vào khối lượng mua sắm hàng hóa: có thể có khách hàng mua với khối lượng lớn, có thể có khách hàng mua với khối lượng nhỏ.
  • Căn cứ vào phạm vi địa lý: có khách hàng trong vùng, trong địa phương; trong nước và quốc tế
  • Theo mối quan hệ của khách hàng với doanh nghiệp: có khách hàng truyền thống và khách hàng mới.

Yếu tố văn hóa, xã hội ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống và hành vi của con người qua đó ảnh hưởng đến hành vi mua sắm của khách hành. Do vậy, doanh nghiệp cần phải dành thời gian khảo sát, nghiên cứu thật kỹ yếu tố này để nắm bắt được hành vi tiêu dùng của khách hàng. Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu tân dược.

  • Nhà cung cấp

Nhà cung cấp là các tổ chức, doanh nghiệp cung ứng hàng hóa, dịch vụ cần thiết cho doanh nghiệp và các đối thủ cạnh tranh. Doanh nghiệp cần phải xác định số lượng, chủng loại mặt hàng, sự lớn mạnh và khả năng cung ứng của nguồn hàng trong hiện tại lẫn trong tương lai. Để có quyết định mua đúng đắn, doanh nghiệp cần xác định rõ đặc điểm của từng nguồn hàng trên cơ sở đó lựa chọn đơn vị cung ứng tốt nhất về chất lượng, có uy tín giao hàng, có độ tin cậy cao và giá rẻ…

  • Đối thủ cạnh tranh

Trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu cũng như các hoạt động kinh doanh khác trong nền kinh tế thị trường đều phải cạnh tranh. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh luôn xuất hiện các đối thủ cạnh tranh. Mặt khác các đối thủ cạnh tranh thường xuyên thay đổi các chiến lược kinh doanh bằng nhiều biện pháp khác nhau. Luôn đổi mới và thích ứng được sự cạnh tranh mới là yếu tố cần thiết. Phải đề ra các biện pháp thích ứng và có các biện pháp phương hướng đi trước đối thủ là một việc làm luôn được quan tâm.

Ngoài các yếu tố trên, khi xét đến những yếu tố thuộc môi trường vi mô ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp còn bao gồm: trung gian thương mại, công chúng…

4.2. Nhân tố chủ quan

4.2.1 Nguồn nhân lực

Trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nguồn nhân lực ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động kinh doanh theo các hướng sau:

  • Trình độ lao động: Nguồn nhân lực có trình độ lao động cao sẽ góp phần thực hiện tốt yếu tố vật chất trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp.
  • Cơ cấu lao động: Doanh nghiệp có cơ cấu lao động hợp lý, trước hết nó góp phần vào sử dụng có hiệu quả bản thân các yếu tố lao động trong quá trình kinh doanh, mặt khác nó góp phần tạo lập và thường xuyên điều chỉnh mối quan hệ tỷ lệ hợp lý, thích hợp giữa các yếu tố trong quá trình kinh doanh.
  • Ý thức, tinh thần trách nhiệm, kỷ luật lao động. Đội ngũ lao động có tinh thần trách nhiệm và ý thức lao động tốt sẽ tạo nên một tập thể vững mạnh, giúp phát huy được sức mạnh của tập thể.

4.2.2 Khả năng tài chính Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu tân dược.

Khả năng tài chính là yếu tố đặc biệt quan trọng, cần được sự quan tâm, chú ý của các nhà doanh nghiệp. Những yếu kém trong yếu tố này thường gây ra những khó khăn không nhỏ đối với việc thực hiện mục tiêu của các doanh nghiệp. Các nội dung cần xem xét ở yếu tố này là:

  • Khả năng nguồn vốn hiện có so với yêu cầu thực hiện các kế hoạch
  • Khả năng huy động vốn từ bên ngoài
  • Tình hình phân bổ và sử dụng các nguồn vốn
  • Kiểm soát các chi phí
  • Dòng tiền thu và chi
  • Các quan hệ tài chính trong nội bộ và trong quan hệ với các đơn vị khác

Các nhân tố trên đều có tác động tích cực hoặc tiêu cực đến hiệu quả kinh doanh thông qua hoạt động của bộ máy quản trị doanh nghiệp và đội ngũ các cán bộ quản trị.

4.2.3 Cơ sở vật chất kỹ thuật và ứng dụng khoa học công nghệ

Trình độ phát triển của cơ sở vật chất kỹ thuật và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật có ý nghĩa quan trọng và ảnh hưởng lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Nó như “cây đũa thần kỳ” mang đến những phép nhiệm màu cho hiệu quả kinh doanh. Cơ sở vật chất kỹ thuật tốt cùng với khả năng ứng dụng những tiến bộ khoa học hiện đại vào quá trình hoạt động kinh doanh giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí đồng thời nâng cao năng suất lao động.

4.2.4 Trình độ tổ chức quản lý

Trong kinh doanh, nhân tố quản trị kinh doanh có vai trò vô cùng quan trọng. Quản trị doanh nghiệp có vai trò định hướng cho doanh nghiệp một hướng đi đúng trong hoạt động kinh doanh, xác định chiến lược kinh doanh, phát triển doanh nghiệp. Chiến lược kinh doanh, phát triển doanh nghiệp là cơ sở để đạt được hiệu quả hoặc thất bại phi hiệu quả của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.

5. Các quan điểm cơ bản về nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu tân dược.

Trong thực tiễn không phải ai cũng hiểu biết và quan niệm giống nhau về hiệu quả kinh doanh và chính điều này đã làm triệt tiêu những cố gắng, nỗ lực của họ mặc dù ai cũng muốn làm tăng hiệu quả kinh doanh. Như vậy khi đề cập đến hiệu quả kinh doanh chúng ta phải xem xét một cách toàn diện cả về mặt thời gian và không gian trong mối quan hệ với hiệu quả chung của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, hiệu quả đó bao gồm cả hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.

  • Về mặt thời gian: Sự toàn diện của hiệu quả đạt được trong từng giai đoạn không được làm giảm hiệu quả khi xét trong thời kỳ dài, hoặc hiệu quả của chu kỳ sản xuất trước không được làm hạ thấp hiệu quả chu kỳ sau.
  • Về mặt không gian: Có hiệu quả kinh tế hay không còn tuỳ thuộc vào chỗ hiệu quả của hoạt động kinh tế cụ thể nào đó, có ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả kinh tế của cả hệ thống mà nó liên quan tức là giữa các ngành kinh tế này với các ngành kinh tế khác, giữa từng bộ phận với toàn bộ hệ thống, giữa hiệu quả kinh tế với việc thực hiện các nhiệm vụ ngoài kinh tế.
  • Về mặt định lượng: Hiệu quả kinh tế phải được thể hiện qua mối tương quan giữa thu chi theo hướng tăng thu giảm chi. Điều này có nghĩa là tiết kiệm đến mức tối đa chi phí sản xuất kinh doanh để tạo ra một đơn vị sản phẩm có ích.
  • Về mặt định tính: Đứng trên góc độ nền kinh tế quốc dân, hiệu quả kinh tế mà doanh nghiệp đạt được phải gắn chặt với hiệu quả của toàn xã hội. Giành được hiệu quả cao cho doanh nghiệp chưa phải là đủ mà còn đòi hỏi mang lại hiệu quả cho xã hội. Trong nhiều trường hợp, hiệu quả toàn xã hội lại là mặt có tính quyết định khi lựa chọn một giải pháp kinh tế, dù xét về mặt kinh tế nó chưa hoàn toàn được thoả mãn.

Trong bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào khi đánh giá hiệu quả của hoạt động ấy không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả đạt được mà còn đánh giá chất lượng của kết quả ấy. Có như vậy thì hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh mới được đánh giá một cách toàn diện hơn.

Cụ thể khi đánh giá hiệu quả kinh doanh chúng ta cần phải quán triệt một số quan điểm trong việc đánh giá hiệu quả kinh doanh như sau:

Thứ nhất: Bảo đảm sự kết hợp hài hoà các loại lợi ích xã hội, lợi ích tập thể, lợi ích người lao động, lợi ích trước mắt, lợi ích lâu dài… Quan điểm này đòi hỏi việc nâng cao hiệu quả kinh doanh phải xuất phát từ việc thoả mãn một cách thích đáng nhu cầu của các chủ thể trong mối quan hệ mắt xích phụ thuộc lẫn nhau.

Thứ hai : Bảo đảm tính toàn diện và hệ thống trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh. Theo quan điểm này thì việc nâng cao hiệu quả kinh doanh phải là sự kết hợp hài hoà giữa hiệu quả kinh doanh của các bộ phận trong doanh nghiệp với hiệu quả toàn doanh nghiệp. Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu tân dược.

Thứ ba: là phải bảo đảm tính thực tiễn cho việc nâng cao hiệu quả kinh doanh. Quan điểm này đòi hỏi khi đánh giá và xác định biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh phải xuất phát từ đặc điểm, điều kiện kinh tế – xã hội của ngành, của địa phương và của doanh nghiệp trong từng thời kỳ.

Thứ tư: Đảm bảo thống nhất giữa nhiệm vụ chính trị, xã hội với nhiệm vụ kinh tế trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh. Quan điểm này đòi hỏi việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh phải xuất phát từ mục tiêu, chiến lược của Đảng và Nhà nước.

Thứ năm: Đánh giá hiệu quả kinh doanh phải căn cứ vào cả mặt hiện vật lẫn giá trị của hàng hoá. Theo quan điểm này đòi hỏi việc tính toán và đánh giá hiệu quả phải đồng thời chú trọng cả hai mặt hiện vật và giá trị.

II. Khái quát về hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp

Hoạt động nhập khẩu là một phần rất nhỏ trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Hiệu quả kinh doanh nhập khẩu cũng là một phần của hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Do vậy, bản chất của hiệu quả hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp được xây dựng trên nền tảng là bản chất của hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Hoạt động kinh doanh nhập khẩu là một bộ phận của hoạt động kinh doanh nói chung của doanh nghiệp do vậy trong quá trình tiến hành đánh giá hiệu quả hoạt động nhập khẩu khó có thể tách biệt rõ ràng hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động kinh doanh nhập khẩu nói riêng của doanh nghiệp.

  • Về mặt hình thức, hiệu quả nhập khẩu cũng là một đại lượng so sánh giữa kết quả thu đc và chi phí bỏ ra, nghĩa là:

Nhưng các khác biệt ở đây chính là kết quả họat động nhập khẩu được thể hiện như thế nào? Chi phí cái là gì và bao nhiêu? Ở đây kết quả của hoạt động nhập khẩu chính là sự chênh lệch giữa chi phí ngoại tệ nhập khẩu và giá trị nội địa của hàng nhập khẩu, còn chi phí nhập khẩu là tổng số các chi phí về hàng hóa đó khi hàng hóa đó đi từ nơi sản xuất đến khi về đến cửa khẩu nước nhập khẩu và sẵn sàng để chuyển giao cho người tiêu thụ trong nước. Chi phí nhập khẩu có vai trò rất quan trọng trong việc xác định hiệu quả tài chính của hoạt động nhập khẩu của một đơn vị. Nếu chi phí này không được tính toán đúng và đủ thì doanh nghiệp luôn có ảo tưởng về kết quả kinh doanh. Nghĩa là bản chất lỗ lại hiểu nhầm là lãi và ngược lại lãi lại tưởng là lỗ. Những ảo tưởng đó sẽ dẫn đến những quan điểm sai lầm trong phương án kinh doanh của doanh nghiệp.

Hiệu quả nhập khẩu là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp, nó liên quan nhiều tới nhiều yếu tố khác nhau và nó phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố đó. Do vậy, trong quá trình xem xét đánh giá hiệu quả nhập khẩu cũng cần cần phải nhất quán triệt để các quan điểm sau: Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu tân dược.

Đảm bảo thống nhất giữa nhiệm vụ chính trị và kinh doanh trong việc nâng cao hiệu quả nhập khẩu. Quan điểm này đòi hỏi việc nâng cao hiệu quả nhập khẩu phải xuất phát từ mục tiêu, chiến lựợc phát triển kinh tế xã hội của Đảng và nhà nước, đảm bảo sự phát triển cân đối của nền kinh tế quốc dân.

Đảm bảo sự kết hợp hài hòa lợi ích xã hội, tập thể và người lao động. điều này đòi hỏi việc nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu không chỉ là nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội của hoạt động nhập khẩu.

Đảm bảo tính toàn diện và hệ thống trong việc nghiên cứu hiệu quả hoạt động nhập khẩu. Điều này đòi hỏi không những phải xuất phát từ chính sách của Đảng và Nhà nước mà còn phải lấy cơ sở từ tất cả các hoạt động, các lĩnh vực, các khâu của qúa trình kinh doanh nhập khẩu và xem xét đầy đủ các mối quan hệ tác động qua lại của các lĩnh vực trong một hệ thống theo những mục tiêu đã xác định.

Đảm bảo tính thực tiễn trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu. Điều này đòi hỏi khí xác định mục tiêu, biện pháp nâng cao phải xuất phát từ đặc điểm, điều kiện kinh tế, xã hội của nghành, của doanh nghiệp trong từng thời kỳ. Chỉ có như vậy chỉ tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu và phương án kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp mới cơ đủ cơ sở khoa học để thực hiện, đảm bảo niềm tin cho người lao động, hạn chế được rủi ro tổn thất. Và như vậy nhiệm vụ nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu mới có đủ điều kiện để thực hiện.

Phải căn cứ vào kết quả cuối cùng để đánh giá hiệu quả hoạt động nhập khẩu. Điều này đòi hỏi khi tính toán, đánh giá một mặt phải căn cứ vào số lượng và giá trị của sản phẩm nhập khẩu bán ra, mặt khác phải tính đủ các chi phí bỏ ra để thực hiện việc nhập khẩu và bán ra hàng hóa đó.

III. Hệ thống chỉ tiêu và phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu tân dược.

Khi xem xét hiệu quả kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, cần phải dựa vào một hệ thống các tiêu chuẩn, các doanh nghiệp phải coi các tiêu chuẩn là mục tiêu phấn đấu. Có thể hiểu tiêu chuẩn hiệu quả là giới hạn, là mốc xác định ranh giới có hay không có hiệu quả. Nếu theo phương pháp so sánh toàn ngành có thể lấy giá trị bình quân đạt được của ngành làm tiêu chuẩn hiệu quả. Nếu không có số liệu của toàn ngành thì so sánh với các chỉ tiêu của năm trước. Cũng có thể nói rằng, các doanh nghiệp có đạt được các chỉ tiêu này mới có thể đạt được các chỉ tiêu về kinh tế. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm:

Để đánh giá tình hình hoạt động nhập khẩu của một doanh nghiệp, thường nhà phân tích đánh giá dựa trên các nội dung kinh tế cơ bản như sau:

1. Đánh giá kim ngạch và tốc độ tăng (giảm) kim ngạch nhập khẩu

1.1 Ý nghĩa phân tích:

Quy mô nhập khẩu lớn hay nhỏ, tốc độ gia tăng nhập khẩu nhanh hay chậm đều ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh nhập khẩu và mức độ chiếm lĩnh thị trường nhập khẩu của công ty. Kim ngạch nhập khẩu tăng hay giảm so với từng thời điểm trong quá khứ phần nào cho thấy công ty kinh doanh có hiệu quả hay không. Kim ngạch nhập khẩu một mặt hàng tăng đều đặn qua các năm chứng tỏ nhập khẩu mặt hàng đó mang lại lợi nhuận cho công ty nhiều hơn nhập khẩu một mặt hàng có kim ngạch biến động thất thường. Công ty phần nào có hy vọng vào sự hiệu quả của việc nhập khẩu mặt hàng đó.

1.2 Mục tiêu phân tích:

  • Xây dựng được các chỉ tiêu kinh tế đánh giá sự tăng, giảm tuyệt đối tương đối về kim ngạch nhập khẩu của các năm.
  • Đưa ra các nhận xét, đánh giá về quy mô nhập khẩu, về tốc độ tăng, giảm nhập khẩu của công ty qua các năm, nghiên cứu các nhân tố tác động đến khả năng nhập khẩu của công ty.
  • Đề xuất các giải pháp gia tăng quy mô và tốc độ nhập khẩu của doanh nghiệp.

2. Đánh giá tình hình ký kết và thực hiện các hợp đồng nhập khẩu Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu tân dược.

2.1 Mục tiêu phân tích:

  • Nhà phân tích phải thu thập được các số liệu phản ánh tình hình ký kết hợp đồng nhập khẩu và tình hình thực hiện các hợp đồng nhập khẩu đã ký qua các năm hoạt động.
  • Đánh giá, phân tích riêng: những mặt được và những mặt hạn chế của doanh nghiệp trong công tác ký kết và tổ chức thực hiện các hợp đồng. Nghiên cứu các nhân tố khách quan và chủ quan tác động đến từng khâu: ký kết và thực hiện các hợp đồng nhập khẩu đã ký.
  • Đề xuất các giải pháp tăng khả năng ký kết và thực hiện tốt các hợp đồng nhập khẩu đã ký.

2.2 Ý nghĩa nghiên cứu:

Đánh giá hiệu quả hoạt động nhập khẩu của một loại hàng hóa, không chỉ đánh giá sau khi hàng hóa được nhập về nước và tiêu thụ hàng hóa đó trên thị trường nội địa mà còn đánh giá ngay từ khi ký kết hợp đồng và mức độ thực hiện các hợp đồng nhập khẩu.

Theo xu hướng hiện nay có nhiều người cho rằng một doanh nghiệp càng ký được nhiều hợp đồng nhập khẩu hàng hóa, càng chứng tỏ doanh nghiệp đang nhập khẩu có hiệu quả. Tuy nhiên cách hiểu trên còn bộc lộ nhiều hạn chế. Một hợp đồng nhập khẩu thực sự đạt hiệu quả không chỉ là ký được hợp đồng đó mà phải hiểu là ký thế nào để mình có lợi nhất, mất ít chi phí nhất mà lại thu về hiệu quả cao nhất, đàm phán ra sao để hai bên tham gia hợp đồng cùng thu được thắng lợi. Cũng tương tự như thế, không nên căn cứ vào sổ sách, đếm số lượng hợp đồng đã ký để đánh giá hoạt động nhập khẩu có hiệu quả mà phải căn cứ vào tình hình thực tế của hoạt động nhập khẩu, rằng sau khi ký hợp đồng, việc thực hiện hợp đồng đó ra sao, thực hiện mất chi phí nhiều hay ít, thực hiện hợp đồng có thuận lợi hay không.

Đánh giá hiệu quả hoạt động nhập khẩu không chỉ nên căn cứ vào số lượng hợp đồng và thực hiện các hợp đồng đã ký mà còn phải căn cứ trên chất lượng của công tác đàm phán ký kết hợp đồng và thực hiện các hợp đồng nhập khẩu. Để đạt được hiệu quả khi ký kết và thực hiện hợp đồng cần chú ý đến các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng ký kết các hợp đồng nhập khẩu.

2.3 Các nhân tố tác động đến khả năng ký kết các hợp đồng nhập khẩu:

Khách quan: Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu tân dược.

  • Cơ chế chính sách nhập khẩu của Việt Nam, của nước xuất khẩu
  • Môi trường kinh doanh thuận lợi hay bất lợi của đối thủ cạnh tranh
  • Các chính sách vĩ mô khác

Chủ quan:

  • Phụ thuộc vào khả năng xúc tiến thương mại
  • Phụ thuộc vào năng lực đàm phán của cán bộ
  • Phụ thuộc vào chất lượng, mẫu mã, giá thành của sản phẩm nhập khẩu
  • Phụ thuộc vào tình hình thực hiện tốt hay không các hợp đồng nhập khẩu trước đó (đối với khách hàng quen, đã có giao dịch mua bán với nhau trước đó).

Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thực hiện hợp đồng nhập khẩu:

  • Mức độ thực tế của các hợp đồng nhập khẩu đã ký (nhiều hợp đồng đã ký nhưng vượt qua năng lực thực hiện của công ty)
  • Phụ thuộc vào tiềm lực, vốn và khả năng khai thác nguồn vốn của doanh nghiệp khẩu
  • Phụ thuộc vào tình hình dự trữ nguyên liệu hoặc hàng hóa phụ thuộc nhập
  • Phụ thuộc vào năng lực tổ chức thực hiện các khâu trong quá trình hoạt động nhập khẩu: xin giấy phép, thuê phương tiện vận tải…

Trong các nhân tố trên, hiệu quả thể hiện rõ rệt nhất thông qua việc lựa chọn phương thức nhập khẩu, thánh toán trong nhập khẩu và các điều kiện Incoterms sử dụng. Việc lựa chọn phương thức nào mang lại hiệu quả nhất có ý nghĩa quan trong khi đàm phán ký kết hợp đồng.

  • Phương thức kinh doanh nhập khẩu

Để tăng kim ngạch xuất nhập khẩu, một doanh nghiệp thường áp dụng nhiều phương thức kinh doanh xuất nhập khẩu khác nhau. Sau đây là các phương thức kinh doanh nhập khẩu phổ biến:

  • Nhập khẩu trực tiếp
  • Nhập khẩu ủy thác
  • Nhập khẩu hàng đổi hàng
  • Nhập khẩu liên doanh
  • Tạm nhập tái xuất

Mỗi phương thức có những ưu điểm và hạn chế riêng. Tùy vào đặc điểm tình hình ở từng doanh nghiệp mà lựa chọn hình thức kinh doanh nhập khẩu phù hợp và mang lại lợi ích kinh tế cao nhất.

  • Mục tiêu phân tích tình hình nhập khẩu theo phương thức kinh doanh:

Thông qua phương thức phân tích thống kê mà nhà phân tích kinh tế đánh giá để nêu được những thành công và hạn chế trong việc sử dụng các phương thức kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp.

Nghiên cứu những nhân tố tác động đến việc sử dụng các phương thức kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp. Trong thực tế, việc sử dụng phương thức kinh doanh nhập khẩu nào thì doanh nghiệp thường dựa vào các yếu tố sau đây:

  • Phụ thuộc vào thị trường nhập khẩu
  • Phụ thuộc vào điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp
  • Phụ thuộc vào kinh nghiệm kinh doanh nhập khẩu Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu tân dược.
  • Phụ thuộc vào trình độ cán bộ làm công tác kinh doanh xuất nhập khẩu: mức độ am hiểu về thị trường, am hiểu thông tin liên quan đến hoạt động nhập khẩu như thông tin về người bán, người mua, về giá cả…

Mục tiêu thứ ba đó là nhà phân tích phải đề xuất được các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các phương thức kinh doanh nhập khẩu.

Tóm lại phân tích tình hình nhập khẩu theo phương thức kinh doanh giúp cho nhà quản trị nắm chắc hơn năng lực kinh doanh nhập khẩu của mình từ đó xây dựng chiến lược kinh doanh nhập khẩu mang tính toàn diện.

  • Phương thức thanh toán quốc tế sử dụng

Khía cạnh kinh tế của việc sử dụng các phương thức thanh toán quốc tế trong nhập khẩu:

Có nhiều phương thức thanh toán quốc tế được sử dụng trong ngoại thương, trong đó có 4 phương thức thanh toán phổ biến nhất mà các doanh nghiệp Việt Nam hay áp dụng:

  • Phương thức thanh toán nhờ thu (Clean collection, D/P, D/A)
  • Phương thức thanh toán chuyển tiền (MT, TT)
  • Phương thức thanh toán đổi chứng từ trả tiền (CAD)
  • Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (L/C)

Trong mỗi phương thức đều có những ưu điểm và nhược điểm với chi phí thanh toán và độ an toàn trong thanh toán khác nhau ảnh hưởng đến tính hiệu quả của hoạt động nhập khẩu. Các phương thức thanh toán có lợi cho nhà nhập khẩu đó là: phương thức nhờ thu, TT trả chậm, L/C có thể hủy ngang, Stand- by L/C…

Các yếu tố kinh tế tác động đến lựa chọn phương thức thanh toán:

  • Thế và lực trong kinh doanh của doanh nghiệp. Bên nào có thế lực hơn thường lựa chọn phương thức thanh toán có lợi thế hơn (thế và lực biểu hiện thông qua tính độc quyền mua).
  • Phụ thuộc vào mối quan hệ kinh tế hoặc tổ chức giữa các bên mua và bán.
  • Năng lực đàm phán.
  • Trị giá của thương vụ.
  • Phụ thuộc vào uy tín của đối tác kinh Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu tân dược.
  • Phụ thuộc vào sự hiểu biết của cán bộ kinh doanh xuất nhập khẩu về các phương thức thanh toán: tính an toàn, nghiệp vụ tổ chức thanh toán, chi phí trả dịch vụ thanh toán…

Mục tiêu phân tích:

  • Sử dụng các phương pháp phân tích thống kê để đánh giá tình hình sử dụng các phương thức thanh toán quốc tế trong hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp qua các năm để rút ra những ưu điểm, những hạn chế của doanh nghiệp trong sử dụng các phương thức thanh toán.
  • Nghiên cứu các nhân tố khách quan và chủ quan tác động đến việc sử dụng các phương thức thanh toán trong hoạt động nhập khẩu của công ty.
  • Đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng các phương thức thanh toán trong hoạt động nhập khẩu
  • Điều kiện thương mại Incoterms

Khía cạnh kinh tế của việc sử dụng Incoterms trong hoạt động xuất nhập khẩu:

Incoterms là những tập quán thương mại quốc tế phổ biến được Phòng thương mại quốc tế (ICC) tập hợp lại, xây dựng chúng thành văn kiện mang tính khoa học. Trong kinh doanh quốc tế, việc lựa chọn điều kiện thương mại nào phụ thuộc vào các nhân tố sau đây:

Nhân tố khách quan:

  • Phụ thuộc vào cơ chế, chính sách của Nhà nước về khuyến khích sử dụng các dịch vụ nội địa về vận tải, bảo hiểm…
  • Phụ thuộc vào cách xác định thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu dựa vào điều kiện thương mại nào? Ví dụ ở Việt Nam, doanh nghiệp trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu ít sử dụng các điều kiện thương mại FCA, CPT, CIP, DES…có nguyên nhân thuế xuất khẩu tính theo điều kiện FOB, thuế nhập khẩu tính theo điều kiện thương mại CIF.
  • Phụ thuộc vào loại phương tiện vận tải lựa chọn.
  • Phụ thuộc vào thói quen sử dụng các điều kiện thương mại của doanh nghiệp.
  • Phụ thuộc vào cách thức đóng gói hàng hóa

Nhân tố chủ quan:

  • Phụ thuộc vào thế và lực kinh doanh của doanh nghiệp. Bên nào có thế và lực mạnh hơn bên đó giành được điều kiện thương mại có lợi hơn. Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu tân dược.
  • Phụ thuộc vào năng lực và kinh nghiệm thực hiện các công việc liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hóa: thuê phương tiện vận tải, mua bảo hiểm hàng hóa, làm thủ tục hải quan…
  • Phụ thuộc vào trình độ kinh doanh xuất nhập khẩu: am hiểu về điều kiện thương mại, năng lực đàm phán…
  • Phụ thuộc vào phương thức kinh doanh nhập khẩu lựa chọn

Mục tiêu phân tích tình hình xuất nhập khẩu theo điều kiện thương mại:

  • Sử dụng phương pháp phân tích, thống kê, phương pháp chuyên gia và phương pháp kinh nghiệm, nêu được những thành công và hạn chế trong việc sử dung các điều kiện thương mại Incoterms trong hoạt động nhập khẩu.
  • Nghiên cứu những nhân tố khách quan và chủ quan tác động đến việc sử dụng Incoterms trong hoạt động nhập khẩu.
  • Đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng các điều kiện thương mại trong hoạt động nhập khẩu.

3. Đánh giá tình hình nhập khẩu theo cơ cấu mặt hàng nhập khẩu

3.1 Mục tiêu phân tích tình hình nhập khẩu theo cơ cấu mặt hàng:

  • Nhà phân tích thu thập thông tin tình hình nhập khẩu ở từng mặt hàng nhập khẩu chủ lực (nếu ở doanh nghiệp có quá nhiều mặt hàng thì phân nhóm ngành hàng) và lập được bảng biểu và các chỉ tiêu kinh tế phục vụ cho phân tích.
  • Đánh giá để rút ra được những thành công, những tồn tại khó khăn ở từng mặt hàng kinh doanh.
  • Đề xuất những giải pháp đẩy mạnh nhập khẩu cho từng mặt hàng.

3.2 Ý nghĩa nghiên cứu:

Đánh giá tình hình cơ cấu mặt hàng nhập khẩu có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phân tích và đánh giá hiệu quả hoạt động nhập khẩu của một doanh nghiệp. Một doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu có hiệu quả khi cơ cấu mặt hàng nhập khẩu phát triển theo chiều rộng và chiều sâu. Phát triển theo chiều rộng đó là ngày càng gia tăng số lượng các mặt hàng nhập khẩu. Phát triển theo chiều sâu là phát triển theo định hướng đúng đắn của công ty, việc mở rộng đạt được hiệu quả kinh tế cao. Các doanh nghiệp không nên đánh giá quá cao phát triển theo chiều rộng hoặc phát triển theo chiều sâu mà cần kết hợp cả hai để đạt được sự hiệu quả bền vững. Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu tân dược.

4. Đánh giá tình hình nhập khẩu theo cơ cấu thị trường nhập khẩu

4.1 Mục tiêu phân tích nội dung thị trường nhập khẩu:

  • Đánh giá được thuận lợi và khó khăn trong hoạt động nhập khẩu trên từng thị trường mà doanh nghiệp triển khai xâm nhập.
  • Nghiên cứu các nhân tố tác động đến hiện tại và tương lai đến khả năng nhập khẩu của công ty trên từng thị trường.
  • Đề xuất những giải pháp nhằm duy trì và phát triển thị trường. Các giải pháp cho từng thị trường vì trên mỗi thị trường doanh nghiệp có những thuận lợi và khó khăn khác nhau.

4.2 Ý nghĩa nghiên cứu:

Cũng như đánh giá theo cơ cấu mặt hàng, cơ cấu thị trường nhập khẩu cũng thể hiện sự hiệu quả của doanh nghiệp. Cũng cần phải nói đến hiệu quả theo chiều rộng và hiệu quả theo chiều sâu. Cơ cấu thị trường đa dạng không hoàn toàn khẳng định được một doanh nghiệp có hiệu quả hay không. Một doanh nghiệp có thể nhập khẩu từ nhiều thị trường khác nhau nhưng không phải là thị trường cạnh tranh nhất thì cũng không được xem là hiệu quả. Điều đó cho thấy sự quan trọng của hiệu quả theo chiều sâu. Đa dạng cơ cấu thị trường nhập khẩu nhưng phải lựa chọn những thị trường tốt nhất, mang lại hiệu quả cho doanh nghiệp nhiều nhất.

5. Chỉ tiêu lợi nhuận kinh doanh nhập khẩu Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu tân dược.

  • Định nghĩa:

Lợi nhuận là chỉ tiêu phản ánh kết quả cuối cùng của hoạt động kinh doanh sau khi lấy doanh thu trừ đi chi phí.

  • Công thức: P = R – C

Trong đó:

  • P: Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh nhập khẩu
  • R: Doanh thu từ hoạt động kinh doanh nhập khẩu
  • C: Chi phí kinh doanh nhập khẩu

Ý nghĩa nghiên cứu:

Khi nghiên cứu hiệu quả hoạt động kinh doanh nói chung và hiệu quả kinh doanh nhập khẩu nói riêng, một trong những chỉ tiêu kinh tế được sử dụng phổ biến đó là chỉ tiêu lợi nhuận kinh doanh nhập khẩu.

Hiệu quả ở đây được biểu hiện thông qua việc so sánh kết quả (doanh thu) và các chi phí bỏ ra trong quá trình kinh doanh nhập khẩu gắn với doanh thu đó. Tuy nhiên khi sử dụng lượng lợi nhuận tuyệt đối này để phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu của một thương vụ hoặc của một doanh nghiệp cần lưu ý khối lượng lợi nhuận tuyệt đối thu được không phụ thuộc vào nỗ lực chủ quan của doanh nghiệp mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan khác như giá cả của các đầu vào, của chính sách thuế…

6. Tỷ suất ngoại tệ hàng nhập khẩu

Tỷ suất ngoại tệ hàng nhập khẩu là chỉ tiêu số lượng ngoại tệ mà doanh nghiệp thu được khi bỏ ra một đồng chi phí.

Trong đó:

  • Hnk: Tỷ suất ngoại tệ nhập khẩu
  • T: Tổng doanh thu bán hàng nhập khẩu tính bằng nội tệ (VNĐ)
  • C: Tổng chi phí nhập khẩu hàng hóa tính bằng đồng ngoại tệ

Nếu tỷ suất ngoại tệ nhập khẩu thấp hơn tỷ giá hối đoái trong cùng thời kỳ thì hoạt động kinh doanh nhập khẩu thu được hiệu quả và ngược lại.

7. Tỷ suất lợi nhuận hàng nhập khẩu

  • Tỷ suất lợi nhuận theo vốn:

Tỷ suất lợi nhuận theo vốn là chỉ tiêu phản ánh mức doanh lợi của vốn kinh doanh nghĩa là số lãi trên một đồng vốn.

Trong đó: Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu tân dược.

  • M: Tỷ suất lợi nhuận theo vốn
  • P: Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh nhập khẩu
  • V: Vốn kinh doanh

Chỉ tiêu này cho biết hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp: một đồng vốn tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Nó phản ánh trình độ lợi dụng yếu tố vốn của doanh nghiệp.

Tổng số tiền lợi nhuận được phản ánh trên báo cáo thu nhập cho ta biết kết quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp. Tuy nhiên số lợi nhuận này chưa phản ánh đúng đắn chất lượng nhập khẩu của đơn vị. Các đơn vị kinh doanh có số vốn đầu tư lớn thì thông thường có số lợi nhuận lớn hơn các đơn vị có vốn đầu tư nhỏ. Vì vậy không thể dùng chỉ tiêu này để đánh giá, so sánh chất lượng hiệu quả kinh doanh ở các doanh nghiệp khác nhau.

  • Tỷ suất lợi nhuận theo chi phí:

Là chỉ tiêu cho biết một đồng chi phí mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận cho doanh nghiệp

Trong đó:

  • Mv: Tỷ suất lợi nhuận theo chi phí
  • P: Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh nhập khẩu
  • C: Tổng chi phí cho hoạt động kinh doanh nhập khẩu

Tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu:

Là chỉ tiêu cho biết lợi nhuận thu được từ một đồng doanh thu trong kỳ. Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận từ một đồng doanh thu bán hàng. Chỉ tiêu này có ý nghĩa khuyến khích các doanh nghiệp tăng doanh thu, giảm chi phí nhưng để đảm bảo có hiệu quả, tốc độ tăng doanh thu phải lớn hơn tốc độ tăng chi phí.

Trong đó:

  • Mt: Tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu
  • P: Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh nhập khẩu
  • T: Tổng doanh thu từ hoạt động kinh doanh nhập khẩu

Khi sử dụng chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu, cần tránh quan niệm đơn giản cho rằng tỷ suất lợi nhuận càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn. Điều quan trọng là kinh doanh phải có lãi. Tỷ suất lợi nhuận chỉ là một căn cứ đánh giá hiệu quả, chứ không phải là căn cứ duy nhất để đưa ra quyết định kinh doanh.

8. Doanh lợi nhập khẩu Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu tân dược.

Chỉ tiêu này cho biết cứ mỗi đồng Việt Nam bỏ ra để kinh doanh nhập khẩu sẽ thu về được bao nhiêu đồng doanh thu.

Trong đó:

  • Dnk: Doanh lợi nhập khẩu
  • R: Doanh thu bán hàng nhập khẩu
  • Cn: Tổng chi phí ngoại tệ nhập khẩu đổi ra tiền Việt Nam theo tỷ giá hối đoái

9. Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh

  • Hiệu suất lợi nhuận của vốn:

Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn bỏ ra đem lại bao nhiêu đồng doanh thu. Hiệu suất vốn kinh doanh càng cao càng cho thấy doanh nghiệp đang kinh doanh vốn có hiệu quả.

  • Tốc độ vòng quay của vốn:

Số vòng quay của vốn lưu động cho biết vốn lưu động quay được bao nhiêu vòng trong kỳ. Số vòng quay càng nhiều thì chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn càng cao.

  • Số ngày thực hiện một vòng quay:

Chỉ tiêu này cho biết một vòng quay của vốn mất bao nhiêu ngày. Thời gian này càng nhỏ thì hiệu quả sử dụng vốn càng cao và ngược lại.

Trong đó:

  • V: Số ngày thực hiện một vòng quay
  • T: Số ngày trong kỳ
  • K: Số vòng quay

Số ngày quay được một vòng càng ngắn chứng tỏ vốn càng sử dụng được hiệu quả.

  • Mức đảm nhiệm vốn: Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu tân dược.

Chỉ tiêu này cho biết một đồng bán ra cần bao nhiêu đồng vốn. Chỉ tiêu này càng thấp thì việc kinh doanh vàng hiệu quả.

Trong đó:

  • M: Mức đảm nhiệm vốn
  • Cbq: Mức vốn lưu động bình quân trong kỳ
  • D/S: Doanh số bán ra trong kỳ

Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nêu trên thường được so sánh với nhau giữa các thời kỳ. Các chỉ tiêu này tăng chứng tỏ hiệu quả sử dụng các yếu tố thuộc vốn tăng và ngược lại.

Mặt khác, nguồn vốn thường xuyên vận động không ngừng và tồn tại ở nhiều dạng khác nhau, có khi là tiền, cũng có khi là hàng hoá để đảm bảo cho quá trình tái sản xuất. Đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn, do đó, sẽ góp phần giải quyết nhu cầu vốn cho doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Chính vì vậy, trong thực tế, người ta còn sử dụng chỉ tiêu số vòng quay của vốn để xác định tốc độ luân chuyển của vốn, cũng là những chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn. Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu tân dược.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Thực trạng kinh doanh nhập khẩu thuốc tân dược

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x