Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Hoạt động bảo hiểm tiền gửi Việt Nam hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Hoạt động bảo hiểm tiền gửi Việt Nam – Thực trạng và giải pháp nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
LỜI NÓI ĐẦU
Công cuộc đổi mới đất nước sau gần 20 năm đã mang lại cho Việt Nam nhiều thành công về kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, nhưng Việt Nam vẫn chưa thực sự thoát khỏi ngưỡng một nước nghèo. Để đẩy mạnh hơn nữa phát triển kinh tế, nước ta cần tiếp tục thực hiện công nghiệp hóa-hiện đại hóa, phát huy cao độ nguồn nội lực trong nước và tranh thủ nguồn lực bên ngoài, trong đó phát huy nguồn nội lực trong nước là yếu tố quyết định.
Để phát huy nguồn nội lực, Việt Nam cần thu hút tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư để phục vụ đầu tư phát triển và trọng trách này được giao chủ yếu cho ngành ngân hàng. Do vậy, việc nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ hệ thống ngân hàng là yêu cầu quan trọng, đặc biệt xu thế mở cửa thị trường tài chính tiền tệ hiện nay đang tạo ra những áp lực cạnh tranh lớn giữa các ngân hàng khiến hoạt động ngân hàng chứa đựng nhiều rủi ro hơn. Trước nhu cầu đó, tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (DIV) ra đời tháng 7 năm 2000 đã góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, kiểm soát và đảm bảo an toàn, lành mạnh hoạt động hệ thống ngân hàng nên đã tạo điều kiện thu hút tối đa được tiền tiết kiệm trong dân. Sau 6 năm đi vào hoạt động, mặc dù đã đạt được nhiều kết quả ban đầu đáng khích lệ nhưng tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam vẫn còn rất non trẻ và còn bộc lộ nhiều bất cập, chưa tương xứng với vai trò của một tổ chức bảo hiểm tiền gửi. Với lý do như vậy, em lựa chọn đề tài: “Hoạt động bảo hiểm tiền gửi Việt Nam – Thực trạng và giải pháp nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập” cho bài khóa luận của mình.
Xây dựng một hệ thống bảo hiểm tiền gửi hiệu quả có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển ổn định của hệ thống tài chính quốc gia. Tại Việt Nam, hiệu quả hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam luôn là vấn đề được nhiều nhà khoa học, các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi và công chúng quan tâm. Bài khóa luận muốn thông qua việc nghiên cứu các vấn đề có tính chất nguyên lý, chuẩn mực về bảo hiểm tiền gửi, các mô hình hoạt động bảo hiểm tiền gửi tiêu biểu trên thế giới và thực trạng hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam trong thời gian qua để từ đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam phù hợp với định hướng chiến lược phát triển của tổ chức và đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế.
Bài khóa luận gồm 3 chương:
- Chương I: Những vấn đề cơ bản về bảo hiểm tiền gửi và tình hình hoạt động bảo hiểm tiền gửi trên thế giới.
- Chương II: Thực trạng hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt
- Chương III: Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của bảo hiểm tiền gửi Việt Nam.
Hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam còn rất mới mẻ, các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến hoạt động bảo hiểm tiền gửi là vấn đề phức tạp, chưa có nhiều thực tiễn ở nước ta. Bên cạnh đó, do những hạn chế nhất định trong quá trình thu thập thông tin và hạn chế về mặt thời gian nghiên cứu nên bài khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong sự thông cảm và đóng góp ý kiến từ các thầy cô giáo. Khóa luận: Hoạt động bảo hiểm tiền gửi Việt Nam.
Em xin gửi lời cám ơn chân thành và sâu sắc tới cô giáo – Tiến sĩ Nguyễn Hoàng Ánh đã hướng dẫn và giúp đỡ em tận tình hoàn thành khóa luận. Em xin cám ơn các thầy cô giáo trường Đại học Ngoại Thương đã trang bị cho em những kiến thức quý báu trong quá trình học tập tại trường và sự động viên của gia đình, bạn bè trong suốt quá trình tham gia viết khóa luận.
CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI VÀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM TIỀN GỬI TRÊN THẾ GIỚI
I. Tổng quan về bảo hiểm tiền gửi
1. Khái niệm bảo hiểm tiền gửi
1.1. Định nghĩa
Khi gửi tiền vào các tổ chức huy động tiền gửi, người gửi tiền luôn phải lo lắng cho số tiền gửi của mình vì nếu tổ chức nhận tiền gửi hoạt động không hiệu quả khiến bị giải thể hay phá sản thì họ sẽ bị mất toàn bộ số tiền gửi đó. Vì vậy, để làm an lòng người gửi tiền, các tổ chức huy động tiền gửi đã tham gia vào một tổ chức chuyên trách về tiền gửi có tên gọi là Tổ chức bảo hiểm tiền gửi để bảo hiểm cho số tiền gửi của người gửi tiền tại tổ chức của mình.
Vậy bảo hiểm tiền gửi (BHTG) thực chất là gì? Theo tác giả John Black định nghĩa trong cuốn Từ điển kinh tế Oxford (2007): “BHTG (Deposit Insurance) là dịch vụ bảo hiểm rủi ro các ngân hàng hay các trung gian tài chính bị phá sản cho người gửi tiền tại các ngân hàng hay các tổ chức trung gian tài chính đó”.
Như vậy theo John Black, BHTG là bảo hiểm trách nhiệm dân sự của tổ chức huy động tiền gửi đối với người gửi tiền. Theo đó, khi rủi ro được bảo hiểm xảy ra, tức là khi ngân hàng hay tổ chức huy động tiền gửi phá sản thì Tổ chức BHTG sẽ đứng ra thanh toán số tiền gửi gồm cả gốc và lãi cho người gửi tiền.
Theo tài liệu “Hướng dẫn xây dựng một hệ thống BHTG hiệu quả (Guidance for developing effective deposit insurance system)” của Diễn đàn ổn định tài chính (Financial Stability Forum): “BHTG là một sự đảm bảo rằng số dư tiền gửi và lãi cộng dồn của các tài khoản tiền gửi nhất định sẽ được thanh toán tới một giới hạn nhất định khi các ngân hàng có khoản tiền gửi đó lâm vào tình trạng phá sản và mất khả năng thanh toán”. Theo định nghĩa này, sẽ có một giới hạn nhất định trong việc chi trả tiền bồi thường và chỉ những khoản tiền gửi nhất định mới được bảo hiểm.
Tại Việt Nam, nghị định số 89/2009/NĐ-CP của Chính phủ về bảo hiểm tiền gửi không có định nghĩa cụ thể nào về BHTG nhưng đã nêu rõ ba mục đích cơ bản của hoạt động BHTG tại Việt Nam:
“Hoạt động BHTG tại Việt Nam nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền; góp phần duy trì sự ổn định của các tổ chức tín dụng; bảo đảm sự phát triển an toàn lành mạnh hoạt động ngân hàng”.
Trên cơ sở những nội dung phân tích trên về BHTG chúng ta có thể hiểu BHTG một cách khái quát như sau: “BHTG là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp tổ chức nhận tiền gửi bị phá sản, theo đó tổ chức BHTG phải tiến hành thanh toán các khoản tiền gửi thuộc phạm vi và giới hạn bảo hiểm cho những người gửi tiền của một tổ chức huy động tiền gửi được bảo hiểm khi tổ chức này bị phá sản”.
1.2. Đặc điểm của bảo hiểm tiền gửi Khóa luận: Hoạt động bảo hiểm tiền gửi Việt Nam.
BHTG là loại hình bảo hiểm trách nhiệm dân sự của tổ chức huy động tiền gửi đối với người gửi tiền.”Trách nhiệm dân sự” trong trường hợp này là trách nhiệm hoàn trả tiền gửi (gồm cả gốc và lãi) cho ngưòi gửi tiền khi có rủi ro mất khả năng thanh toán xảy ra đối với tổ chức đó.
BHTG là loại hình bảo hiểm bắt buộc và phi thương mại. Đây là loại hình bảo hiểm bắt buộc bởi mọi tổ chức có hoạt động huy động tiền gửi đều phải tham gia BHTG nhằm bảo vệ quyền lợi người gửi tiền và sự an toàn của hệ thống ngân hàng và hầu hết tất cả các quốc gia trên thế giới đều có quy định này trong Luật điều chỉnh hoạt động BHTG. BHTG là hoạt động phi thương mại vì BHTG hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận mà với mục tiêu lớn nhất là bảo vệ quyền lợi của ngưòi gửi tiền và giữ vững ổn định hệ thống tài chính quốc gia.
BHTG là hoạt động cung cấp dịch vụ BHTG. Dịch vụ BHTG thuộc loại hàng hóa công không thuần tuý bởi loại hàng hóa này không loại trừ thụ hưởng một cách tuyệt đối. Tính chất này của hàng hóa do BHTG cung cấp có được là do xuất phát từ mục đích của hoạt dộng BHTG là góp phần đảm bảo sự ổn định của hệ thống tài chính quốc gia. Người hưởng lợi trực tiếp của dịch vụ BHTG là người gửi tiền tại các tổ chức huy động tiền gửi có tham gia BHTG, còn người hưởng lợi gián tiếp từ dịch vụ này là người đi vay do tính ổn định của hệ thống tài chính đem lại. Bên cạnh đó, sự ổn định của hệ thống tài chính còn giúp các ngành kinh tế khác phát triển thuận lợi hơn. Như vậy, người thụ hưởng từ dịch vụ BHTG là toàn xã hội.
2. Vai trò của bảo hiểm tiền gửi đối với nền kinh tế quốc dân
Mặc dù ra đời rất muộn so với lịch sử phát triển của hệ thống Ngân hàng thế giới và chỉ mới thực sự được Chính phủ các nước quan tâm phát triển từ những năm 80 của thế kỉ 20 nhưng BHTG đã và đang ngày càng thể hiện được vai trò quan trọng không thể thiếu của mình đối với sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu nói chung và của thị trường tài chính thế giới nói riêng. Vai trò của BHTG đối với nền kinh tế quốc dân được thể hiện qua các mặt sau:
2.1. Hoạt động bảo hiểm tiền gửi góp phần củng cố niềm tin của quần chúng đối với hệ thống ngân hàng
Trong quá trình hoạt động, công ty BHTG sẽ tiến hành việc giám sát và kiểm tra việc chấp hành các qui định của pháp luật về BHTG và an toàn trong hoạt động kinh doanh của các tổ chức huy động tiền gửi tham gia BHTG. Công ty sẽ cung cấp cho công chúng những thông tin đầy đủ, đáng tin cậy về các tổ chức tín dụng, ngăn chặn kịp thời những nguy cơ có thể làm ảnh hưởng tới tính lành mạnh và an toàn trong hoạt động ngân hàng và có các biện pháp hỗ trợ tài chính khẩn cấp, kịp thời cho các tổ chức tín dụng này khi nhận thấy họ gặp khó khăn, giúp các họ tiếp tục hoạt động kinh doanh của mình. Nếu tổ chức huy động tiền gửi tham gia BHTG bị phá sản và mất khả năng thanh toán, BHTG sẽ đứng ra thanh toán tất cả tiền gửi cho người gửi tiền tại tổ chức đó. Việc có một tổ chức sẵn sàng thay thế các ngân hàng đứng ra đảm bảo thanh toán các khoản tiền gửi cho người gửi tiền khi ngân hàng bị phá sản và mất khả năng thanh toán không chỉ giúp tạo dựng và củng cố niềm tin cho người dân khi họ gửi tiền vào các ngân hàng mà còn có tác dụng lấy lại niềm tin của họ vào hệ thống ngân hàng.
Như vậy, bằng các nghiệp vụ của mình BHTG giúp các tổ chức huy động tiền gửi gặp khó khăn tiếp tục thực hiện các chức năng cơ bản, duy trì và củng cố niềm tin của dân chúng vào hẹ thống ngân hàng.
2.2. Bảo hiểm tiền gửi tạo điều kiện cho hệ thống ngân hàng quốc gia phát triển
- Vai trò này của BHTG được thể hiện ở ba góc độ: Khóa luận: Hoạt động bảo hiểm tiền gửi Việt Nam.
BHTG tạo sự cạnh tranh bình đẳng giữa các tổ chức tín dụng. Trước hết, hoạt động BHTG tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng mới ra đời và các ngân hàng có qui mô hoạt động hạn chế có điều kiện phát triển tốt hơn. Có thể nhận thấy tâm lý chung của người gửi tiền là luôn muốn gửi tiền vào ngân hàng lớn, có uy tín lâu năm với hi vọng cho sự ổn định và an toàn cho khoản tiền gửi của mình, vì thế sẽ là rất khó khăn cho các ngân hàng có qui mô hoạt động hạn chế và các ngân hàng mới bước chân vào thị trường tài chính. Nhưng khi có hoạt động BHTG với chính sách BHTG bắt buộc, tất cả các ngân hàng đều được yêu cầu tham gia BHTG thì tiền gửi ở tất cả các ngân hàng đều được bảo hiểm như nhau, và do đó người dân sẽ không còn phải băn khoăn hay bắt buộc phải lựa chọn các ngân hàng lớn để gửi tiền như trước nữa. Bên cạnh đó là những hỗ trợ tài chính cần thiết cho các ngân hàng khi ngân hàng gặp khó khăn, đặc bịêt là trong giai đoạn đầu mới đi vào hoạt động. Điều này đã tạo cơ hội cho các ngân hàng có qui mô nhỏ và ngân hàng mới đi vào hoạt động phát triển và có thể cạnh tranh được với các ngân hàng lớn.
BHTG góp phần đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng. Thông qua nghiệp vụ giám sát thường xuyên của mình, BHTG sẽ sớm nắm bắt được tình hình hoạt động kinh doanh của các ngân hàng, biết được những yếu kém của nó để có các biện pháp hỗ trợ tài chính kịp thời như cho vay vốn hoặc cho tiến hành sáp nhập với các ngân hàng khác. Khi ngân hàng bị phá sản và mất khả năng thanh toán, BHTG sẽ đứng ra chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền. Như vậy, Hoạt động BHTG giúp các ngân hàng yếu kém, không thể tiếp tục duy trì hoạt động có thể rút ra khỏi lĩnh vực kinh doanh một cách trật tự, không ảnh hưởng đến các ngân hàng khác và tới hệ thống ngân hàng, do đó đã giúp ổn định tâm lý cho người gửi tiền khi ngân hàng có dấu hiệu hoạt động không tốt, tránh được tình trạng phản ứng lan truyền rút tiền ồ ạt ra khỏi hệ thống ngân hàng.
BHTG tạo điều kiện cho các ngân hàng nâng cao chất lượng hoạt động. BHTG hoạt động trên nguyên tắc các thành viên cùng tương trợ, cùng giúp đỡ nhau, khi một ngân hàng gặp khó khăn, BHTG sẽ hỗ trợ tài chính để giúp ngân háng đó. Nguồn hỗ trợ tài chính này chính là khoản tài chính mà các thanh viên đã đóng góp vào tổ chức BHTG. Vì vậy, để tránh hiện tượng các ngân hàng khác ỷ lại vào mình, các ngân hàng sẽ thưòng xuyên giám sát hoạt động của các tổ chức thành viên, giúp đỡ các thành viên khi cần thiết, từ đó nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức thành viên. Và ngay bản thân các ngân hàng cũng luôn tự nâng cao chất lượng hoạt động của mình để có thể giảm thiểu phí đóng bảo hiểm hàng năm.
2.3. Bảo hiểm tiền gửi thúc đẩy huy động tiền tiết kiệm phục vụ đầu tư phát triển bền vững Khóa luận: Hoạt động bảo hiểm tiền gửi Việt Nam.
Để nền kinh tế của một quốc gia có thể phát triển ổn định, bền vững thì trước hết chúng ta phải xây dựng được một cơ sở hạ tầng kĩ thuật tốt và vững vàng. Muốn vậy thì cần phải có vốn và chắc chắn nguồn vốn cho đầu tư xây dựng cơ bản không phải là nhỏ. Một quốc gia có rất nhiều kênh huy động vốn khác nhau: huy động từ nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài; huy động từ các nguồn viện trợ của nước ngoài và các tổ chức phi Chính phủ…Thế nhưng để nền kinh tế quốc gia thực sự có thể phát triển ổn định lâu dài thì nguồn vốn đó phải là nguồn vốn trong nước, được huy động từ chính nội lực của quốc gia. Chúng ta có thể huy động nguồn vốn này từ tiền gửi của các tổ chức nhưng nguồn vốn từ các tổ chức thường không ổn định và có thời hạn ngắn. Trong khi đó nếu chúng ta huy động được nguồn vốn tiết kiệm trong dân cư thì nguồn vốn này không những lớn mà còn có tính ổn định cao, thời hạn dài và đây thực sự mới là nguồn vốn ổn định cho đầu tư phát triển dài hạn. Nhưng tiền gửi của dân cư lại phụ thuộc vào sự phát triển của hệ thống ngân hàng, nếu ngân hàng hoạt động tốt, hiệu quả, đảm bảo an toàn cho các khoản tiền gửi của người dân, đồng thời lại có thể trả lãi thỏa đáng, tạo các điều kiện thuận lợi cho việc gửi tiền và rút tiền thì chắc chắn ngân hàng đó sẽ huy động được tối đa tiền gửi từ dân cư.
Như đã phân tích ở trên, thông qua các nghiệp vụ của mình BHTG đã góp phần tạo dựng và củng cố niêm tin của dân chúng vào ngân hàng đồng thời thúc đẩy sự phát triển chung của hệ thống ngân hàng. Thực chất là BHTG đã tạo môi trường thuận lợi, giúp các ngân hàng có được điều kiện thuận lợi và thỏa đáng cho người gửi tiền, góp phần trực tiếp và gián tiếp giúp các ngân hàng huy động được tối đa nguồn tiết kiệm trong dân cư và đó cũng chính là góp phần thúc đẩy huy động tiền gửi cho đầu tư phát triển.
Thực tế tại nhiều quốc gia trên thế giới đã cho thấy nếu áp dụng cơ chế BHTG theo loại tiền gửi thì tốc độ huy động tiền gửi thuộc đối tượng bảo hiểm cao hơn rất nhiều so với tốc độ huy động các loại tiền gửi khác. Còn nếu áp dụng cơ chế không phân biệt loại tiền gửi thuộc đối tượng bảo hiểm thì tổng số tiền gửi tại các tổ chức được bảo hiểm sẽ có xu hướng tăng. Tại Việt Nam, sau 5 năm Tổ chức BHTG chính thức đi vào hoạt động, tốc độ huy động tiền gửi tại các tổ chức tín dụng tăng 20%/năm, và dự tính mức tăng này sẽ tiếp tục cao hơn nữa do BHTG VN đang có những cải cách lớn để giúp các ngân hàng cũng như các tổ chức huy động tiền gửi hoạt động có hiệu quả cao hơn.
3. Hợp đồng bảo hiểm tiền gửi Khóa luận: Hoạt động bảo hiểm tiền gửi Việt Nam.
Khi tổ chức có hoạt động huy động tiền gửi đề nghị tham gia BHTG và được tổ chức BHTG chấp nhận, hợp đồng BHTG được kí kết. Thực chất, hợp đồng BHTG là một cam kết công khai của tổ chức BHTG đối với tổ chức tham gia BHTG về việc tổ chức BHTG sẽ trả tiền (gồm cả tiền gốc và lãi tích lũy) cho người gửi tiền khi tổ chức tham gia BHTG bị phá sản và mất khả năng thanh toán. Một hợp đồng BHTG bao gồm những nội dung chính sau:
3.1. Các bên trong hợp đồng bảo hiểm tiền gửi
- Người bảo hiểm trong bảo hiểm tiền gửi (Insurer)
Người bảo hiểm trong BHTG là tổ chức BHTG. Tổ chức BHTG là đối tác nhận đóng góp tài chính từ các tổ chức tham gia BHTG và có trách nhiệm thực hiện chi trả bảo hiểm cho người gửi tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG khi tổ chức này chấm dứt hoạt động và mất khả năng thanh toán.
Tại mỗi quốc gia khác nhau, tổ chức BHTG được thành lập theo các hình thức khác nhau. Nếu xét về hình thức sở hữu, tổ chức BHTG được tổ chức theo 3 loại hình sau:
Tổ chức BHTG thuộc sở hữu Nhà nước: bản chất của hoạt động BHTG là hoạt động cung cấp dịch vụ hàng hóa công nhằm bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền tại các ngân hàng. Nhưng mục đích chung nhất của BHTG là góp phần kiểm soát và duy trì tính ổn định và an toàn của hoạt động ngân hàng nên tại nhiều quốc gia đã xây dựng hệ thống BHTG dưới hình thức là một cơ quan quản lý Nhà nước. Theo đó, tổ chức BHTG được thành lập dưới hình thức là một cơ quan của Chính phủ, có sự tham gia của Ngân hàng Trung ương, Bộ Tài chính.
Vì là cơ quan Nhà nước nên vốn thành lập ban đầu và hỗ trợ tài chính khi cần thiết sẽ được Nhà nước đảm bảo, do đó có khả năng tạo được lòng tin với công chúng, đồng thời cũng có khả năng đáp ứng được nguồn tài chính khi có hiện tượng phá sản hàng loạt của các tổ chức tín dụng. Nhìn chung, tổ chức BHTG theo hình thức sở hữu Nhà nước thường được áp dụng đặc biệt đối với các nước mới xây dựng hệ thống BHTG. Khóa luận: Hoạt động bảo hiểm tiền gửi Việt Nam.
Tổ chức BHTG thuộc sở hữu tư nhân: Hình thức tổ chức này thông thưòng được thành lập dưới hình thức là một công ty cổ phần do Hiệp hội ngân hàng của quốc gia đó lập nên, thành viên tham gia và góp vốn là các ngân hàng và tổ chức tài chính trong quốc gia đó. Hình thức này thường được áp dụng tại những nước có Hiêp hội ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc điều hành hệ thống ngân hàng và mỗi ngân hàng có tiềm lực tài chính mạnh.
Tổ chức BHTG theo hình thức liên doanh giữa Nhà nước và tư nhân. Hình thức tổ chức này đã phát huy được những uu điểm, hạn chế được những nhược điểm của các hình thức trước, và có ưu điểm đặc biệt là có khả năng huy động vốn tối đa từ cả Chính phủ, các ngân hàng lớn và các tổ chức tín dụng. Tổ chức BHTG được thành lập theo hình thức liên doanh sẽ được Nhà nước đầu tư tài chính ban đầu theo một tỷ lệ nhất định và cũng được Nhà nước hỗ trợ khi cần thiết.
- Người mua bảo hiểm trong bảo hiểm tiền gửi (Assured)
Người mua BHTG là các tổ chức tham gia BHTG, bao gồm các ngân hàng và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng có hoạt động huy động tiền gửi. Các tổ chức này khi tham gia BHTG phải có trách nhiệm đóng góp tài chính cho tổ chức BHTG và có quyền yêu cầu tổ chức BHTG chi trả tiền BHTG cho người gửi tiền tại tổ chức tín dụng đó trong trường hợp tổ chức này mất khả năng thanh toán và bị cơ quan có thẩm quyền chấm dứt hoạt động.
Về cơ chế tham gia BHTG, tại mỗi nước quy định là khác nhau. Có nước qui định việc tham gia BHTG là bắt buộc đối với các tổ chức huy động tiền gửi, nhưng cũng có nước việc tham gia BHTG là tự nguyện. Nhưng thông thường chỉ tại quốc gia mới xây dựng hệ thống BHTG mới áp dụng cơ chế tham gia tự nguyện, còn hầu hết các quốc gia trên thế giới đều áp dụng cơ chế tham gia BHTG là bắt buộc.
- Người hưởng lợi bảo hiểm trong bảo hiểm tiền gửi (Beneficiary)
Người được bảo hiểm trong BHTG là khách hàng có có tiền gửi thuộc đối tượng được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG. Những người gửi tiền này không phải đóng góp tài chính cho tổ chức BHTG nhưng có quyền yêu cầu tổ chức BHTG thanh toán tiền gửi kể cả tiền lãi tích luỹ trên tiền gửi trong hạn mức chi trả tiền BHTG (nếu chi trả tiền BHTG có xác định mức hạn mức), hoặc thanh toán toàn bộ tiền gửi (nếu chi trả tiền BHTG không xác định mức hạn mức).
3.2. Đối tượng được bảo hiểm (Subject – matter – insured) Khóa luận: Hoạt động bảo hiểm tiền gửi Việt Nam.
Đối tưọng được bảo hiểm trong BHTG là các khoản tiền gửi tại tổ chức tính dụng tham gia BHTG, nhưng các tổ chức BHTG cũng qui định rõ loại tiền được bảo hiểm. Thông thường hệ thống BHTG các nước đều bảo hiểm cho tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi không kỳ hạn bằng nội tệ của các cá nhân, và không bảo hiểm cho các loại tiền gửi của các tổ chức, cá nhân nắm rõ hoạt động của ngần hàng hoặc hiều rõ qui luật của thị trường như các khoản tiền gửi của các ngân hàng, các cơ quan Chính phủ, các nhà đầu tư chuyên nghiệp và của lãnh đạo các ngân hàng. BHTG cũng không bảo hiểm cho các khoản tiền gửi có lãi suất cao hoặc có bảo hiểm nhưng việc bồi thưòng được qui định trong phạm vi số tiền gốc với lãi suất thấp hơn.
BHTG chỉ bảo hiểm cho loại tiền gửi thuộc đối tượng được bảo hiểm khi có rủi ro được bảo hiểm xảy ra. Rủi ro được bảo hiểm là rủi ro khi tổ chức tham gia BHTG bị phá sản hoặc bị chấm dứt hoạt động và không có khả năng thanh toán tiền gửi cho người gửi tiền. Như vậy, rủi ro của tổ chức tham gia BHTG chỉ được coi là rủi ro được bảo hiểm khi thỏa mãn đồng thời cả hai điều kiện sau:
- Rủi ro là rủi ro phá sản hoặc bị chấm dứt hoạt động.
- Tổ chức tham gia BHTG được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác nhận là mất khả năng thanh toán.
3.3. Giá trị bảo hiểm (Insured Value)
Là số dư tiền gửi tại tổ chức tham gia BHTG, dùng làm cơ sở tính phí bảo hiểm tại tổ chức đó. Giá trị bảo hiểm có thể là toàn bộ tiền gửi tại tổ chức tham gia BHTG, hoặc là toàn bộ tiền gửi thuộc đối tưọng bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG, hoặc là toàn bộ tiền gửi thuộc đối tượng bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG nhưng chỉ tính trong giới hạn chi trả bảo hiểm. Việc xác định số dư tiền gửi nào làm cơ sở tính phí bảo hiểm tùy thuộc vào chính sách BHTG tại mỗi quốc gia.
3.4. Số tiền bảo hiểm (Amount Insured) Khóa luận: Hoạt động bảo hiểm tiền gửi Việt Nam.
Số tiền bảo hiểm là số tiền mà tổ chức BHTG phải trả cho người gửi tiền tại tổ chức huy động tiền gửi tham gia BHTG khi có rủi ro được bảo hiểm xảy ra đối với tiền gửi được bảo hiểm. Có hai hình thức chi trả BHTG được áp dụng hiện nay trên thế giới:
- Chi trả không giới hạn: là hình thức thực hiện chi trả toàn bộ số tiền gửi (gồm cả lãi) thuộc đối tượng được bảo hiểm.
- Chi trả có giới hạn: là hình thức thực hiện chi trả chỉ tới một giới hạn nhất định (gọi là Hạn mức chi trả). Nếu số dư tiền gửi thuộc đối tượng bảo hiểm thấp hơn hoặc bằng giới hạn đó thì người gửi tiền sẽ được hoàn trả toàn bộ số tiền gửi (bao gồm cả lãi cộng dồn). Còn nếu số dư tiền gửi (gồm cả lãi) lớn hơn mức chi trả BHTG đã được qui định thì người gửi tiền chỉ nhận được khoản tiền bồi thường bằng hạn mức chi trả BHTG.
Như vậy, hạn mức chi trả BHTG là khoản tiền tối đa mà tổ chức BHTG sẽ thanh toán cho người gửi tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm khi có rủi ro được bảo hiểm xảy ra. Hiện nay có hai phương thức xác định hạn mức chi trả:
Xác định hạn mức chi trả theo người gửi tiền: là cách xác định mức chi tiền bảo hiểm tối đa đối với một người gửi tiền tại một tổ chức tín dụng không căn cứ vào số lượng tài khoản hoặc số tiết kiệm mà người đó có tại một ngân hàng. Nếu người gửi tiền có nhiều tài khoản tại một ngân hàng nhưng tổng số tài khoản đó vượt mức chi trả bảo hiểm tối đa đối với một người gửi tiền thì người đó cũng chỉ được nhận tiền bảo hiểm tối đa bằng hạn mức chỉ trả
Xác định hạn mức chi trả theo tài khoản: là việc định mức chi trả bảo hiểm tối đa cho một tài khoản tiền gửi tại một tổ chức nhận tiền gửi. Một người gửi tiền nếu có nhiều tài khoản tại một tổ chức tín dụng thì tiền gửi trên mỗi tài khoản đều được bảo hiểm tối đa ở mức bằng hạn mức chi trả cho một tài khoản.
3.5. Phí bảo hiểm tiền gửi (Premium)
Phí BHTG là khoản đóng góp tài chính của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi để được bảo hiểm cho tiền gửi tại tổ chức mình. Công thức tổng quát tính mức phí bảo hiểm đối với từng tổ chức tham gia BHTG như sau:
- Pa = r.D
Trong đó: Khóa luận: Hoạt động bảo hiểm tiền gửi Việt Nam.
- Pa: là mức phí BHTG hàng năm một tổ chức tham gia BHTG đóng.
- r: tỷ lệ phí BHTG áp dụng đối với tổ chức tham gia BHTG.
- D: Số dư tiền gửi tại tổ chức tham gia BHTG.
Như vậy, mức phí bảo hiểm phụ thuộc vào 2 biến số r và D, biến số D phụ thuộc vào qui mô hoạt động của mỗi tổ chức tín dụng, biến số r phụ thuộc vào cách qui định của từng tổ chức BHTG. Thông thường có hai cách tính phí BHTG:
Hình thức tính phí bảo hiểm theo tỷ lệ phí BHTG cố định: theo hình thức này, các tổ chức tham gia BHTG phải đóng góp tài chính cho tổ chức BHTG theo một tỷ lệ thu phí BHTG áp dụng cho tất các tổ chức tín dụng tham gia BHTG trong cùng một hệ thống BHTG của quốc gia. Mức phí BHTG đóng góp được tính bằng một tỷ lệ phần trăm nhất định tính trên số dư tiền gửi của các loại tiền gửi được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG. Cách tính phí BHTG này tương đối dễ dàng nhưng lại khiến cho các tổ chức huy động tiền gửi có mức độ rủi ro thấp phải gánh chịu chi phí trong khi những tổ chức có mức độ rủi ro cao hơn được hưởng lợi nên không phản ánh được mức độ rủi ro của các tổ chức thành viên.
Hình thức tính phí BHTG theo mức độ rủi ro: theo đó tổ chức BHTG sẽ tiến hành xếp hạng các tổ chức tín dụng tham gia BHTG, tổ chức nào có mức độ rủi ro cao sẽ phải đóng phí BHTG cao hơn các tổ chức tín dụng khác. Cách tính phí này khắc phục được hạn chế của hình thức trước, có tác dụng khuyến khích các thành viên tiến hành quản trị rủi ro chặt chẽ. Tuy nhiên, việc xác định mức độ rủi ro của từng tổ chức tín dụng lại rất phức tạp, đòi hỏi trình độ quản lý rất cao và liên quan đến vấn đề bảo mật tin tức ngân hàng. Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều áp dụng hình thức tính phí bảo hiểm này.
3.6. Quyền và nghĩa vụ các bên trong bảo hiểm tiền gửi
- Quyền và nghĩa vụ của tổ chức bảo hiểm tiền gửi:
Tổ chức BHTG có quyền thu phí BHTG của các tổ chức tham gia BHTG theo quy định, có quyền yêu cầu các tổ chức tham gia BHTG gửi các loại báo cáo tài chính khi cần thiết, yêu cầu tổ chức thực hiện đúng các quy định an toàn trong kinh doanh và có quyền được hoàn trả lại các khoản hỗ trợ tài chính đã cấp cho tổ chức tín dụng tham gia BHTG khi tổ chức này gặp khó khăn. Bên cạnh đó, tổ chức BHTG có các nghĩa vụ như: chi trả các khoản tiền bảo hiểm cho người gửi tiền tại các tổ chức tham gia BHTG bị phá sản hay giải thể trong phạm vi mức bảo hiểm tối đa quy định; theo dõi, kiểm tra, giám sát việc chấp hành các quy định về BHTG và các quy định về an toàn trong kinh doanh của các tổ chức tham gia BHTG, cung cấp các thông tin về tình hình hoạt động của tổ chức tham gia BHTG cho các bên liên quan; hỗ trợ các tổ chức tham gia BHTG khi các tổ chức này gặp khó khăn, có nguy cơ mất khả năng chi trả. Khóa luận: Hoạt động bảo hiểm tiền gửi Việt Nam.
- Quyền và nghĩa vụ của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi:
Tổ chức tham gia BHTG có quyền yêu cầu tổ chức BHTG hỗ trợ khi gặp khó khăn và yêu cầu tổ chức BHTG chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền tại tổ chức của mình khi tổ chức này bị phá sản, giải thể. Đồng thời, tổ chức tham gia BHTG có nghĩa vụ nộp phí BHTG theo đúng quy định, cung cấp đầy đủ các loại báo cáo tài chính khi được tổ chức BHTG yêu cầu, thực hiện đúng quy định về BHTG cũng như an toàn trong kinh doanh, theo dõi-giám sát hoạt động của các tổ chức tham gia BHTG khác, hoàn trả lại các khoản vay hỗ trợ cho tổ chức BHTG.
- Quyền và nghĩa vụ của người gửi tiền
Người gửi tiền có quyền được tổ chức BHTG bảo hiểm cho số tiền gửi tại tổ chức tín dụng tham gia BHTG, được chi trả tiền bảo hiểm trong hạn mức quy định khi tổ chức tham gia BHTG bị phá sản, giải thể và được tổ chức BHTG cung cấp các thông tin về tình hình hoạt động của các tổ chức tín dụng. Người gửi tiền có nghĩa vụ cùng với tổ chức BHTG và các cơ quan chức năng theo dõi, giám sát hoạt động của các tổ chức tín dụng và việc chấp hành quy định về BHTG của các tổ chức này.
II: Lịch sử phát triển bảo hiểm tiền gửi tại một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Khóa luận: Hoạt động bảo hiểm tiền gửi Việt Nam.
1. Lịch sử phát triển bảo hiểm tiền gửi thế giới
Khái niệm BHTG đã được nhiều quốc gia biết đến từ lâu. Khi hoạt động BHTG công khai chưa được xuất hiện, bảo vệ tiền gửi đã được nhiều quốc gia thực hiện dưới các hình thức “bảo vệ ngầm”. Hình thức bảo vệ ngầm là việc Ngân hàng Trung ương hay Chính phủ có cam kết không công khai sẽ đảm bảo hoàn trả tiền gửi cho người nếu có hoạt động đóng cửa ngân hàng xảy ra và ngân hàng đó không có khả năng thanh toán cho người gửi tiền. Vì đây là cam kết không công khai nên không hình thành hợp đồng bảo hiểm giữa người gửi tiền và ngân hàng, ngân hàng và ngân hàng Trung ương hay Chính phủ. Nguồn gốc ra đời BHTG là xuất phát từ hoạt động “Bảo vệ tiền gửi công khai”. Bảo vệ tiền gửi công khai là chính sách đảm bảo tất cả hay một phần tiền gửi cùng với tiền lãi nhập gốc trên tài khoản tiền gửi sẽ được thanh toán cho người gửi tiền.
Bảo vệ tiền gửi công khai đầu tiên được thành lập ở Mỹ (1829) với tên gọi “Chương trình bảo vệ trách nhiệm ngân hàng” được thực hiện ở New York. “Trách nhiệm” được hàm ý trong chương trình này muốn đề cập đến tiền gửi ngân hàng và chứng chỉ huy động tiền gửi. Tiếp theo chương trình này, từ năm 1831-1858, 5 vùng ở Mỹ (Vermont, Indiana, Michigan, Ohio, Iowa) đã thành lập tổ chức BHTG2 với mục đích bảo vệ cộng đồng khi có ngân hàng đổ bể và bảo vệ người gửi tiền cá thể và người gửi các công cụ tiền gửi. Mặc dầu hệ thống BHTG Mỹ hoạt động trong giai đoạn này rất thành công nhưng do vào cuối năm 1830, sự ra đời của chính sách “Ngân hàng tự do” ở Mỹ và sự thành lập hệ thống Ngân hàng quốc gia 1886 đã tạo điều kiện một số ngân hàng rút khỏi tổ chức BHTG.
Thời kỳ tiếp theo của BHTG cũng diễn ra ở Mỹ vào những năm 1908-1930. Từ 1908 – 1917 ở Mỹ có 8 vùng thành lập hệ thống BHTG (Oklahoma, Kansas, Nebraska, Texas, Mississippi, South Dakota, North Dakota, và Washington). Tính đến năm 1930, cả 8 hệ thống này đã bị đóng cửa do ảnh hưởng của điều kiện kinh tế bất lợi làm cho những ngân hàng ở cả 8 vùng đóng cửa khiến tổ chức BHTG mất khả năng thanh toán.
Tình hình hoạt dộng của các ngân hàng Mỹ đầu những năm 30 tiếp tục khó khăn, đặc biệt cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933 đã khiến cho hàng nghìn ngân hàng bị đóng cửa. Trước tình hình đó, Công ty bảo hiểm tiền gửi Liên bang Mỹ (Federal Deposit Insurance Corporation-FDIC) ra đời vào 1/1/1934, đây là mô hình được xem là hình mẫu đầu tiên về BHTG. FDIC ra đời đã lấy lại lòng tin của dân chúng sau hàng loạt các cuộc sụp đổ ngân hàng, nhờ vậy đã giúp nước Mỹ thoát khỏi những khó khăn kinh tế và tiếp tục phát triển. Khóa luận: Hoạt động bảo hiểm tiền gửi Việt Nam.
Trước những thành công mà FDIC mang lại cho nền kinh tế Mỹ, các quốc gia khác trên thế giới đã nhận thức được vai trò quan trọng của hoạt động BHTG đối với sự phát triển ổn định của nền kinh tế và cũng thành lập tổ chức BHTG cho riêng mình. Trong những năm 1960 trên thế giới chỉ có 6 quốc gia xây dựng hệ thống BHTG (Ấn Độ, Nauy, Philippin, Canada, Phần Lan, Cộng hòa Dominican), những năm 70 có thêm 5 quốc gia (Achentina, Tây Ban Nha, Hà Lan, Bỉ, Áo). Hầu hết các quốc gia đều xây dựng hệ thống BHTG vào cuối những năm 2000 và tính cho đến năm 2002 trên thế giới có 74 hệ thống BHTG.
Trước sự phát triển ngày càng lớn mạnh của các thệ thống BHTG trên thế giới và để các hệ thống BHTG này hoạt động thống nhất theo mục tiêu và nguyên tắc chung trong vai trò bảo vệ sự ổn định của nền kinh tế tài chính thế giới, ngày 6/5/2002 Hiệp hội Bảo hiểm tiền gửi quốc tế (International Associaton of Deposit Insurers – IADI) được thành lập, có trụ sở tại Thụy Sỹ. Với sự tham gia của nhiều hệ thống BHTG, IADI đã đánh dấu sự quan tâm chung của nhiều nước về hoạt động BHTG và hứa hẹn một động lực phát triển hoạt động này trên phạm vi toàn cầu.
IADI là một tổ chức phi lợi nhuận được thành lập theo luật Thụy Sỹ, quyền hành xử lý các vấn đề của Hiệp hội thuộc về Đại hội các thành viên. Hiệp hội được điều hành bởi Hội đồng điều hành gồm 21 cá nhân xuất sắc đại diện cho các hệ thống BHTG trên thế giới. Chỉ qua 4 năm hoạt động, IADI đã chứng tỏ vai trò của mình với nhiệm vụ gắn kết các hệ thống BHTG trên thế giới nhằm xây dựng một nền tài chính ổn định mang tính chất toàn cầu. Cho đến nay số lượng thành viên của IADI đã tăng từ 34 lên 51 thành viên. Hàng năm hiệp hội đều tổ chức các cuộc hội thảo quốc tế về BHTG nhằm tạo một diễn đàn trao đổi kinh nghiệm giữa các thành viên và chuẩn bị cho những thách thức mới đối với BHTG thế giới trong bối cảnh tình hình tài chính luôn thay đổi.
2. Tình hình phát triển bảo hiểm tiền gửi tại Mỹ – Đức – Đài Loan
2.1. Hệ thống bảo hiểm tiền gửi Mỹ
- Hệ thống bảo hiểm tiền gửi Mỹ từ 1929 – 2000 Khóa luận: Hoạt động bảo hiểm tiền gửi Việt Nam.
Mỹ là quốc gia đầu tiên trên thế giới xây dựng hệ thống BHTG. Sau cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933, hàng loạt các công ty bị phá sản, ngân hàng đóng cửa và sự ra đời của Công ty BHTG Liên bang Mỹ (Federal Deposit Insurance Corporation–FDIC) như là một sự cứu cánh nhằm củng cố niềm tin của dân chúng vào hệ thống ngân hàng.
Ban đầu hệ thống BHTG Mỹ bao gồm nhiều quỹ BHTG riêng rẽ thuộc sở hữu Nhà nước như: Quỹ BHTG thuộc hội đồng các ngân hàng cho vay mua nhà của Liên bang; Công ty bảo hiểm tiết kiệm và cho vay Liên bang; Công ty BHTG Liên bang Mỹ. Theo qui định của Mỹ, mọi tổ chức được phép huy động tiền gửi đều phải tham gia ít nhất một tổ chức BHTG.
Từ khi ra đời cho đến những năm 1980, hệ thống BHTG Mỹ đạt được nhiều thành công và đã tạo dựng được một nền kinh tế tài chính ổn định, trung bình một năm chỉ có khoảng 20 ngân hàng bị phá sản, ít hơn nhiều so với con số 1000 ngân hàng vào giai đoạn 1929-1933. Nhưng từ khi Chính phủ Mỹ thực hiện chính sách đổi mới tài chính: nới lỏng dịch vụ ngân hàng, thả nổi lãi suất làm tăng mạnh lãi suất, đặc biệt là cho phép ngưòi gửi tiền được gửi tiền qua môi giới vì vậy người gửi tiền nhờ môi giới chia nhỏ tiền gửi vào ngân hàng khác nhau…và cùng với cuộc khủng hoảng năng lượng 1981-1982 các cuộc phá sản của ngân hàng tiếp tục tăng lên. Do những sai phạm trong quá trình xử lý các ngân hàng có nguy cơ phá sản nên Quỹ BHTG thuộc hội đồng các ngân hàng cho vay mua nhà của Liên bang và Công ty bảo hiểm tiết kiệm và cho vay Liên bang bị giải thể vào năm 1989. Cho đến nay, FDIC là công ty lãnh đạo duy nhất của hệ thống BHTG Liên bang Mỹ.
- Công ty bảo hiểm tiền gửi Liên bang Mỹ (FDIC)
Kể từ khi được thành lập 1/1/1934, FDIC đã có nhiều đóng góp to lớn cho việc củng cố nền tài chính Mỹ. Vốn hoạt động của FDIC do Chính phủ và các ngân hàng Nhà nước đóng góp, tỷ lệ phí đồng hạng đựơc áp dụng trong 59 năm và từ năm 2003 Mỹ áp dụng tỷ lệ phí không đồng hạng, và tỷ lệ này được xác định lại 2 lần/năm. Hạn mức bảo hiểm từ 2500 USD/người qua nhiều lần thay đổi cho đến nay tăng lên 100.000 USD/người. Khóa luận: Hoạt động bảo hiểm tiền gửi Việt Nam.
Trong quá trình hoạt động của mình, FDIC đặc biêt coi trọng công tác kiểm tra, giám sát và đây được xem là yếu tố quyết định thành công của tổ chức này. Ngay từ khi mới thành lập, FDIC đã có tới 4000 nhân viên giám sát-kiểm tra nhằm đánh giá các tiêu chí là thành viên của FDIC, đến năm 2005 con số này là 8000 nhân viên (so với Nhật Bản cả hệ thống BHTG chỉ có 400 nhân viên). Chính nhờ có hệ thống kiểm tra-giám sát hữu hiệu này mà các ngân hàng Mỹ đã hoạt động thực sự hiệu quả. Tuy nhiên cuộc khủng hoảng 1981-1982 cũng đã có tác động không nhỏ tới FDIC, các khoản chi phí dự phòng và tổn thất đều tăng vọt khiến cho Quỹ BHTG bắt đầu bị thâm hụt và FDIC đã bị giới tài chính chỉ trích rất nhiều.
Để củng cố cho hoạt động của FDIC, năm 2001 Quốc hội Mỹ đã thông qua Đạo luật củng cố FDIC, cho phép FDIC vay từ kho bạc Mỹ tối đa 30 tỷ USD và được hoàn trả trong 15 năm với mức lãi suất như phí BHTG áp dụng cho các ngân hàng. FDIC cũng được vay vốn lưu động tối đa 45 tỷ USD thế chấp bằng tài sản và số thanh toán các khoản nợ bằng nguồn vốn nhận từ phát mại tài sản của các ngân hàng bị phá sản. Nhờ vậy FDIC đang ngày càng hỗ trợ tốt hơn cho hoạt động của các ngân hàng.
Kể từ năm 2004, để giảm bớt gánh nặng cho Chính phủ, FDIC đã nghiên cứu tính khả thi đối với vấn đề BHTG tư nhân và xây dựng mô hình BHTG tư nhân và BHTG Nhà nước cùng tồn tại song song. Đồng thời, để tăng cường sự giám sát hoạt động các ngân hàng nhận tiền gửi, FDIC đang nghiên cứu áp dụng hình thức đồng bảo hiểm. Theo đó, người gửi tiền có tiền gửi trong giới hạn bảo hiểm vẫn phải chịu một phần tổn thất khi ngân hàng bi phá sản, do vậy họ sẽ đầu tư nhiều thời gian hơn để tìm hiểu tình trạng kinh doanh của ngân hàng nhận tiền gửi và lựa chọn ngân hàng ít rủi ro hơn. FDIC cũng tiến hành xếp hạng các tổ chức được bảo hiểm và xếp 11 ngân hàng lớn nhất vào loại không thể phá sản, tức là nếu các ngân hàng này có dấu hiệu mất khả năng thanh toán FDIC sẽ rót những khoản tiền khổng lồ để cứu trợ. Thực hiện chính sách này, FDIC không đặt vấn đề chi phí lên hàng đầu mà ưu tiên cho mục tiêu ổn định hệ thống tài chính, nhưng chính sách này vô hình chung đã tạo ra một lợi thế cạnh tranh cho các ngân hàng lớn và cản trở hoạt động của các ngân hàng nhỏ.
2.2. Hệ thống bảo toàn tiền gửi Đức
- Mô hình hệ thống bảo toàn tiền gửi Đức
Một trong những đặc trưng của hệ thống bảo toàn tiền gửi Đức và là yếu tố cơ bản nhất mang lại thành công cho hệ thống là đã kết hợp được sự ủng hộ của Chính phủ và nguồn lực của bản thân các ngân hàng để giải quyết các vụ ngân hàng phá sản, quyền lợi của người gửi tiền được bảo vệ một cách tối đa và hệ thống ngân hàng phát triển ổn định, lành mạnh. Chính sự kết hợp này đã tạo cho hệ thống bảo toàn tiền gửi Đức có được nguồn vốn hoạt động khổng lồ mà theo họ nhận xét, nếu có ngân hàng lớn nhất của Đức bị phá sản thì tổ chức bảo toàn tiền gửi vẫn có khả năng chi trả toàn bộ cho người gửi tiền Vì vậy, BHTG Đức được xem là mô hình BHTG hoạt động hiệu quả nhất hiện nay, và vì xuất phát từ mục đích đảm bảo an toàn cho toàn bộ tiền gửi tại tổ chức được bảo hiểm nên Hệ thống BHTG Đức lấy tên là Hệ thống bảo toàn tiền gửi Đức (BTTG).
Trong mô hình phát triển hệ thống BTTG Đức có ba loại hình bảo toàn cùng tồn tại:
- Hình thức bảo toàn tiền gửi của Nhà nước, thành lập 1/8/2008, công ty đền bù cho khách hàng gửi tiền với giới hạn là 90% số dư tiền gửi. Khóa luận: Hoạt động bảo hiểm tiền gửi Việt Nam.
- Hình thức hệ thống bảo toàn chung thuộc công ty bảo hiểm toàn liên
- Hình thức bảo toàn do các tổ chức tín dụng kết hợp với nhau gồm: Quỹ bảo toàn tiền gửi thuộc Hiệp hội ngân hàng hợp tác xã (1930); Quỹ bảo toàn tiền gửi của quỹ tiết kiệm Đức (1966) và Quỹ bảo toàn tiền gửi thuộc Hiệp hội các ngân hàng tư nhân Đức (1974).
Như vậy, khác với hệ thống BHTG Mỹ chỉ bao gồm một công ty BHTG duy nhất, hệ thống BTTG Đức bao gồm nhiều loại hình quỹ bảo toàn tiền gửi khác nhau. Chính sự đa dạng này đã cho phép hệ thống BTTG sử dụng được nguồn vốn của Chính phủ, tận dụng được năng lực tài chính của các tổ chức tham gia BTTG và đồng thời thúc đẩy các tổ chức cùng cung cấp dịch vụ BTTG cạnh tranh lẫn nhau nâng cao chất lượng dịch vụ.
- Ưu điểm – nhược điểm của hệ thống bảo toàn tiền gửi Đức
Hệ thống BTTG Đức hoạt động phi lợi nhuận, tự nguyện trên tinh thần trợ giúp nhau vượt khó khăn. Ở hệ thống này mức tiền gửi đựơc bảo hiểm gần như toàn bộ, quyền lợi của người gửi tiền được bảo vệ tới mức tối đa, giới hạn bảo hiểm lên tới 30% vốn tự có pháp định của một ngân hàng. Quan tâm hàng đầu của tổ chức BTTG không phải đợi đến lúc ngân hàng thành viên phá sản rồi mới bù đắp ít nhiều thiệt hại cho người gửi tiền. Họ nắm vững tình hình hoạt động của các ngân hàng (qua hệ thống kiểm toán của Hiệp hội Ngân hàng), khi một ngân hàng gặp khó khăn, họ hỗ trợ tài chính giúp các ngân hàng đứng vững và phát triển trở lại bằng các khoản vay không lãi suất hoặc với lãi suất thấp bằng 50% lãi suất thông thường cùng kì hạn với thời hạn từ 6 tháng đến 1 năm. Bên cạnh đó, vì hoạt động của quỹ mang tính chất tương hỗ, phi lợi nhuận nên quỹ thường xuyên có chính sách miễn giảm phí đối với thành viên gặp khó khăn, và khi quỹ phát triển đến mức độ có thể bù đắp toàn bộ số tiền gửi của ngân hàng thành viên thì các thành viên sẽ không phải đóng phí. Một ưu điểm nữa của Quỹ BTTG là khi rủi ro xảy ra thì việc chi trả tiền gửi thường diễn ra nhanh chóng, kịp thời. Thực tế trên 50 năm hoạt động không có ngân hàng nào bị phá sản, tổ chức BTTG phải bù đắp cho người gửi tiền. Họ quả quyết rằng, sắp tới nếu có ngân hàng lớn nhất lâm vào phá sản thì tổ chức BTTG vẫn có khả năng trả toàn bộ cho người gửi tiền. Đây là sự khác nhau cơ bản giữa BHTG và BTTG.
Với những ưu điểm của mình, Quỹ BTTG Đức đã góp phần quan trọng cho sự phát triển chung của hệ thống ngân hàng và tài chính quốc gia, tuy nhiên bên cạnh đó, Quỹ BTTG cũng bộc lộ những nhược điểm không tránh khỏi. Vốn của Quỹ là do các ngân hàng thành viên tự nguyện đóng góp và thuộc sở hữu chung của các ngân hàng thành viên nên phụ thuộc rất lớn vào khả năng đóng góp của các ngân hàng thành viên, do đó, đối với những nước mà hệ thống ngân hàng nhỏ bé và chưa phát triển thì qui mô vốn của quỹ là rất hạn chế. Hơn nữa, Quỹ BTTG do không có tư cách pháp nhân nên có nhiều khó khăn trong các giao dịch tài chính trong quá trình hỗ trợ các ngân hàng thành viên và thanh lý tài sản của các ngân hàng bị phá sản. Quỹ BTTG không được dân chúng tin tưởng bằng tổ chức BHTG Nhà nước vì đây chỉ là sự cam kết của các chủ ngân hàng đối với người gửi tiền.
2.3. Hệ thống bảo hiểm tiền gửi Đài Loan Khóa luận: Hoạt động bảo hiểm tiền gửi Việt Nam.
Vào đầu những năm 1985, một số sự kiện hoảng loạn ngân hàng đã xảy ra gây ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế của Đài Loan đã đánh dấu sự khẩn thiết cần có một hệ thống BHTG để ổn định nền kinh tê tài chính đất nước. Bộ tài chính và Ngân hàng Trung ương đã tổ chức và tài trợ thành lập Tổng công ty bảo hiểm Trung ương Đài Loan (CDIC) và khai trương hoạt động vào ngày 17/9/1985.
Ban đầu hệ thống BHTG Đài Loan thực hiện cơ chế tự nguyện tham gia BHTG nhưng cơ chế này tỏ ra không hiệu quả. Vì vậy, tháng 8/2005, Chính phủ Đài Loan đã sửa đổi Luật BHTG, chuyển cơ chế tham gia BHTG tự nguyện sang cơ chế tham gia bắt buộc và số lượng tổ chức tham gia CDIC tăng lên rõ rệt từ 79 tổ chức (1986) lên 387 tổ chức (2026).
Nhờ ưu thế của một nước đi sau, trong quá trình xây dựng hệ thống BHTG, Đài Loan có cơ hội đầu tư nghiên cứu, thừa kế kinh nghiệm của các hệ thống BHTG ra đời trước và đã đạt được nhiều thành công nhất định. Cho đến nay, Đài Loan là quốc gia đầu tiên ở châu Á thành công trong việc áp dụng phí BHTG theo rủi ro và xây dựng Hệ thống cảnh báo sớm Quốc gia về tài chính rất hiệu quả. Để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, bài khóa luận xin đi sâu phân tích việc triển khai thu phí bảo hiểm theo rủi ro và Hệ thống cảnh báo sớm Quốc gia về tài chính của Đài Loan.
- Triển khai thu phí bảo hiểm theo rủi ro
Thành công lớn nhất của CDIC là triển khai thu phí BHTG theo rủi ro. Phí bảo hiểm đồng hạng được áp dụng từ khi thành lập tới tháng 7/2009 với mức phí là 0,05% tính trên số dư tiền gửi tính phí và lần lượt được giảm xuống còn 0,04%(1987) và 0,015%(1988) để tăng cường tính tự nguyện tham gia BHTG của các tổ chức tài chính.
Cùng với việc thực hiện hệ thống BHTG bắt buộc, từ ngày 1/7/2009 CDIC triển khai chương trình hướng dẫn tính phí theo rủi ro. Hệ thống tính phí theo rủi ro sử dụng 2 loại chỉ số: (1) chỉ số về mức độ đáp ứng yêu cầu về vốn hoạt động của tổ chức tham gia BHTG và (2) chỉ số tổng hợp theo kết quả phân loại số liệu kiểm tra của Hệ thống Cảnh báo sớm Quốc gia về tài chính. CDIC dành nhiều nguồn lực nghiên cứu và xác định tỷ lệ phí cho các tổ chức tham gia BHTG đáp ứng sự công bằng và minh bạch tối đa và mức phí áp dụng cho từng tổ chức được giữ bí mật để giảm thiều rủi ro đạo đức. Có 3 mức phí và các mức phí cũng được tâng dần từ 0,015%, 0,0175%, 0,02% lên thành 0,05%, 0,055%, 0,06% để tăng tích lũy nguồn dự trữ.
Để triển khai phí BHTG theo rủi ro, CDIC đã có chương trình tranh thủ sự đồng thuận của các tổ chức tham gia BHTG và các đối tác có liên quan hết sức hấp dẫn. Họ đưa tới đối tác thông điệp có tính thuyết phục cao: “nhằm xây dựng một hệ thống BHTG tốt đẹp, những gì huy động đóng góp từ ngành tài chính được sử dụng cho quyền lợi của ngành”. CDIC cũng đã tổ chức các hội thảo để giải thích cặn kẽ tới tổ chức tham gia BHTG, Hiệp hội ngân hàng…Tiền thu phí bảo hiểm là nguồn chính để chi trả BHTG và để phù hợp với rủi ro tăng lên, CDIC đã tăng số tiền dành cho Quỹ chi trả từ 60% lên 90% số tiền thu phí.
- Hệ thống Cảnh báo sớm Quốc gia về tài chính
Hoạt động kiểm tra tài chính của CDIC cũng rất được quan tâm, từ năm 2006 CDIC đã tiến hành kiểm tra tất cả các tổ chức tài chính cộng đồng. Hoạt động kiểm tra và hỗ trợ tài chính của CDIC đã có đóng góp to lớn trong duy trì ổn định hoạt động ngân hàng tại Đài Loan, cho đến nay chưa có tổ chức tham gia BHTG nào bị đóng cửa và đã có 54 tổ chức huy động tiền gửi đã được hỗ trợ vượt qua khó khăn. Nhằm kiểm soát hoạt động của tổ chức tham gia BHTG, CDIC ngay từ đầu đã thành lập Hệ thống cảnh báo sớm Quốc gia. Hệ thống này sử dụng 2 công cụ giám sát chính là Hệ thống phân loại dữ liệu kiểm tra và Hệ thống phân loại Báo cáo thu nhập. Nhờ vậy, CDIC đã có thể cảnh báo sớm tình hình tài chính của các tổ chức thành viên. Việc xây dựng và phát triền thành công Hệ thống cảnh báo sớm quốc gia về tài chính được đánh giá là thành công to lớn của CDIC, góp phần quan trọng cho việc áp dụng thành công phí BHTG theo rủi ro ở Đài Loan.
3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Khóa luận: Hoạt động bảo hiểm tiền gửi Việt Nam.
Trong quá trình xây dựng hệ thống BHTG, mỗi quốc gia với đặc điểm và lợi thế riêng đều tìm cho mình những hướng đi mang màu sắc riêng, phù hợp với thực tế phát triển kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia. Từ kinh nghiệm của 3 hệ thống BHTG tiêu biểu trên thế giới: hệ thống BHTG Liên bang Mỹ-hệ thống BHTG đầu tiên trên thế giới; hệ thống BHTG Đài Loan-hệ thống BHTG châu Á đầu tiên áp dụng thành công thu phí bảo hiểm theo rủi ro tín đụng; hệ thống BHTG Đức- hệ thống BHTG được đánh giá là thành công nhất thế giới hiện nay, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau cho Việt Nam trong việc lựa chọn và xây dựng mô hình BHTG phù hợp với tình hình phát triển của riêng quốc gia mình.
3.1. Công tác kiểm tra giám sát cần phải được quan tâm hàng đầu
Có thể nhận thấy tất cả các hệ thống BHTG của cả Mỹ, Đức, Đài Loan đều đề cao vai trò của công tác kiểm tra và khẳng định đó là yếu tố quyết định tới thành công của các hệ thống BHTG. Kiểm tra giám sát thường xuyên sẽ kịp thời uốn nắn và ngăn chặn các hoạt động làm ảnh hưởng tới tính an toàn, ổn định của hệ thống ngân hàng. Nếu công tác giám sát-kiểm tra có hiệu quả thì BHTG sẽ là một mắt xích quan trọng trong mạng lưới đảm bảo an toàn tài chính quốc gia. Thực tế đã cho thấy, thất bại của hệ thống ngân hàng Mỹ trong thế kỷ 19 chủ yếu là do Mỹ đã không làm tốt công tác kiểm tra giám sát nên đã không chấn chỉnh kịp thời hoạt động của các ngân hàng (người Mỹ gọi là Reckless banking).
Nhưng để làm được điều đó, vấn đề đặt ra là chúng ta phải xây dựng được nguồn nhân lực và vật lực để đáp ứng được yêu cầu và xây dựng một cơ sở pháp lý có tính hiệu lực đồng cấp với cơ sở pháp lý điều chỉnh các đối tác cùng triển khai chính sách BHTG. Đài Loan chỉ mới triển khai hoạt động BHTG, chậm hơn nhiều so với lịch sử phát triển ngành ngân hàng của nước này, nhưng ngay từ đầu cơ sở pháp lý cho triển khai hoạt động BHTG đã được xây dựng ở cấp cao nhất-Luật BHTG, điều đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho CDIC xử lý các giao dịch và các vấn đề phát sinh liên quan tới người gửi tiền và tổ chức tham gia BHTG.
3.2. Cần đảm bảo qui mô vốn hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi
Kinh nghiệm của hệ thống BTTG Đức đã cho thấy qui mô vốn trong triển khai hoạt động của một tổ chức BHTG là rất quan trọng. Ví dụ Đài Loan, qui mô vốn cũng đã được tăng từ 2 tỷ Đài tệ lên 5 tỷ Đài tệ. Nhưng để huy động được một nguồn vốn lớn ngay từ đầu quả thực không phải là vấn đề đơn giản, tổ chức BHTG cần phải tranh thủ những đóng góp từ nhiều đối tác như Chính phủ, các ngân hàng lớn, các tổ chức tài chính, tổ chức bảo hiểm quốc tế… Đặc biệt cần tránh tình trạng nóng lòng tăng vốn bằng cách huy động vốn đóng góp quá cao từ các tổ chức tham gia BHTG vì có thể gây khó khăn cho các tổ chức trong khi họ lại đang mong muốn có được sự hỗ trợ để vượt qua kho khăn. Đồng thời trong quá trình hoạt động cũng cần tạo cơ chế cho phép tổ chức BHTG huy động tài chính trong những trường hợp đặc biệt. Ví dụ Quốc hội Mỹ cho phép FDIC vay từ kho bạc tối đa 30 tỷ USD và được hoàn trả trong 15 năm, và cho phép FDIC vay vốn lưu động tối đa 45 tỷ USD. Luật BHTG Đài Loan qui định CDIC được vay tài chính ngắn hạn đặc biệt từ Ngân hàng Trung ương trong khuôn khổ bảo lãnh kí quĩ.
3.3. Lựa chọn mô hình tổ chức phù hợp cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi
Cùng với xu thế nâng cao tính tự chủ trong hoạt động kinh doanh và giảm thiểu sự can thiệp trực tiếp của Chính phủ vào các hoạt động cụ thể của các thành phần kinh tế, đối với các quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường như Việt Nam, lựa chọn mô hình tổ chức cho tổ chức BHTG là một trong các vấn để có tầm quan trọng đặc biệt. Trong qua trình xem xét để đi tới quyết định, chúng ta cần lưu tâm tới bản chất của dịch vụ BHTG là loại hàng hoá công. Để hàng hóa này thích ứng với người tiêu dùng, tổ chức cung cấp hàng hóa đó cần có một nguồn tài chính lớn, cộng đồng đóng góp và hoạt động vì mục đích của cả cộng đồng. Không đơn thuần một tổ chức hay một nhóm tổ chức có thể cung cấp được loại hình dịch vụ thuộc hàng hoá công này khi tổ chức đó chưa hội tụ đầy đủ các điều kiện cần thiết nhất định như khả năng củng cố và duy trì niềm tin của công chúng vào hệ thống ngân hàng, khả năng đáp ứng về tài chính, khả năng tiếp cận các thông tin về các tổ chức tham gia BHTG… Khóa luận: Hoạt động bảo hiểm tiền gửi Việt Nam.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Thực trạng hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam
