Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu hàng dệt may

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu hàng dệt may hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển hoạt động xuất khẩu hàng dệt may tại Công ty Haprosimex dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

I. Cơ hội và thách thức đối với hoạt động xuất khẩu hàng dệt may của công ty Haprosimex.

1. Cơ hội

Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO. Với việc gia nhập WTO chúng ta sẽ có cả cơ hội lẫn thách thức. WTO là tổ chức kinh tế đa phương, nhằm thúc đẩy tự do hoá thương mại, hội nhập kinh tế trên phạm vi toàn cầu. Với một thiết chế tổ chức chặt chẽ, hoạt động theo 5 nguyên tắc:

  • Thương mại không phân biệt đối xử.
  • Tạo dựng một nền tảng ổn định cho phát triển thương mại.
  • Đảm bảo thương mại ngày càng tự do thông qua đàm phán.
  • Tạo môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng.
  • Dành điều kiện đặc biệt cho các nước đang phát triển.

Vì vậy, trên phương diện chung khi trở thành thành viên của WTO sẽ tạo cho kinh tế Việt Nam có thế và lực trên trường quốc tế. Việt Nam sẽ có vị thế bình đẳng, được thụ hưởng các quyền lợi của một thành viên đang phát triển trong WTO, cùng các nước đang phát triển xây dựng quy định, luật lệ của WTO, hạn chế được sự áp đặt đơn phương bất bình đẳng của các nước đối với ta về kinh tế, xã hội, lao động, môi trường… Ngoài ra, chúng ta còn được tiếp cận hệ thống giải quyết tranh chấp thương mại công bằng và hiệu quả của WTO. Và với đà tăng trưởng như hiện nay của Việt Nam, công ty Haprosimex đang đứng trước những cơ hội lớn nhằm tăng khả năng xuất khẩu của công ty về cả kim ngạch lẫn quy mô thị trường. Sở dĩ, có thể khẳng định như vậy là vì:

Thứ nhất, Công ty Haprosimex sẽ mở rộng thị trường, tăng quy mô sản xuất từ đó hưởng tính lợi ích kinh tế nhờ quy mô. Khi Việt Nam gia nhập WTO, các thành viên WTO sẽ phải bãi bỏ hạn ngạch đối với hàng dệt may Việt Nam, Hoa Kỳ và EU hiện đang là một thị trường xuất khẩu lớn nhất của công ty Haprosimex (chiếm hơn 50%) thị phần và hạn ngạch vào các thị trường này đã được xóa bỏ. Việc Hoa Kỳ xóa bỏ hạn ngạch đối với hàng dệt may Việt Nam ngay sau khi Việt Nam gia nhập WTO trong khi Trung Quốc bị tái áp đặt hạn ngạch là cơ hội cho ngành dệt may đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu trong năm tới. Do không còn bị khống chế bởi hạn ngạch, và đối thủ Trung Quốc đã bị hạn chế bởi hạn ngạch. Do đó, công ty Haprosimex có nhiều cơ hội đẩy mạnh lượng hàng xuất khẩu sang thị trường này. Thêm vào đó, các thị trường khác cũng sẽ không có cơ hội áp đặt hạn ngạch như đã làm trước đây, từ đó đảm bảo tính ổn định hơn cho thị trường dệt may Việt Nam nói chung và công ty Haprosimex nói riêng. Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.

Hơn nữa, công ty sẽ giảm chi phí xuất khẩu gắn với việc phân bổ hạn ngạch, từ đó làm tăng khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu. Theo tính toán, việc phân bổ hạn ngạch dệt may theo Hiệp định ATC đã làm tăng chi phí xuất khẩu cho doanh nghiệp. Chi phí này chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng chi phí xuất khẩu của công ty Haprosimex, chi phí do hạn ngạch sinh ra đối với mặt hàng dệt xuất khẩu sang Mỹ chiếm 6.9% tổng chi phí, đối với mặt hàng may mặc vào thị trường EU là 7.1%. Cơ chế hạn ngạch làm nảy sinh những vấn đề xã hội như nạn tham nhũng, tiêu cực và sách nhiễu doanh nghiệp. Trong nhiều trường hợp, các doanh nghiệp có năng lực sản xuất và chất lượng hàng hóa tốt lại không có cơ hội xuất khẩu do không có hạn ngạch. Việc xóa bỏ hạn ngạch của các nước đối với Việt Nam sẽ góp phần giải quyết dứt điểm tình trạng này, tạo điều kiện cho công ty cạnh tranh bình đẳng trong việc xuất khẩu hàng dệt may và góp phần nâng cao uy tín về chất lượng hàng dệt may của công ty Haprosimex trên thị trường thế giới Như vậy, khi gia nhập WTO, với việc các thành viên WTO phải bỏ hạn ngạch đối với Việt Nam, hàng dệt may xuất khẩu của công ty Haprosimex sẽ có điều kiện giảm giá xuất khẩu do không phải mất chi phí do việc cấp hạn ngạch gây ra.

Thứ hai, xuất khẩu của công ty Haprosimex sẽ không bị bó hẹp trong các Hiệp định song phương và khu vực mà sẽ có thị trường toàn cầu. Công ty Haprosimex sẽ không bị phân biệt đối xử so với doanh nghiệp và hàng hoá của các nước khác theo điều kiện đối xử tối huệ quốc (MFN) và đối xử quốc gia (NT). Vì thế, thị trường xuất khẩu của công ty Haprosimex sẽ không ngừng mở rộng. Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.

Thứ ba, hệ thống kinh tế – thương mại dựa trên nguyên tắc chứ không phải là sức mạnh sẽ làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh dễ dàng hơn với tất cả các nước thành viên, và công ty Haprosimex sẽ được hưởng lợi từ điều đó. WTO có cơ chế giải quyết tranh chấp tạo điều kiện để các công ty nhỏ bảo vệ được lợi ích của mình hoặc có nhiều tiếng nói hơn. Vì Việt Nam đã là thành viên của WTO thì vụ kiện chống bán phá giá như cá tra và cá basa hoặc bán phá giá hàng dệt may có thể kiện lên WTO để giải quyết; khi đó các phán quyết có thể công bằng hơn so với phán quyết đơn phương của Hoa Kỳ như vừa qua.

Thứ tư, tham gia WTO sẽ góp phần làm cho hệ thống chính sách, pháp luật của Việt Nam ngày càng hoàn thiện và phù hợp với thông lệ quốc tế hơn. Theo nguyên tắc minh bạch hóa chính sách, trong quá trình gia nhập WTO, Việt Nam phải minh bạch hoá toàn bộ các chính sách liên quan đến thương mại của mình và thông báo các kế hoạch hành động để tuân thủ dần dần các nguyên tắc của WTO. Thông qua quá trình này, khuôn khổ pháp lý của Việt Nam về ngành dệt may sẽ minh bạch hơn, phù hợp với thông lệ quốc tế tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, cạnh tranh lành mạnh và tạo điều kiện cho các nhà đầu tư, các đối tác kinh doanh yên tâm đầu tư và làm ăn với các doanh nghiệp Việt Nam. Qua đó, công ty Haprosimex sẽ tăng cơ hội thu hút vốn, công nghệ, học hỏi kinh nghiệm quản lý và gia tăng thương mại đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu .

Nói như vậy, không có nghĩa là việc trở thành thành viên chính thức của WTO sẽ mở ra một thị trường “lý tưởng” cho thương mại của Việt Nam nói chung và xuất khẩu của công ty Haprosimex nói riêng mà trên thực tế, sẽ có không ít những thách thức mà cả nền kinh tế và cả công ty Haprosimex phải đối mặt khi tham gia tổ chức này.

2. Thách thức Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.

  • Khi Việt Nam đã là thành viên chính thức, nền kinh tế cũng đứng trước những thách thức lớn. Cụ thể là:

Thứ nhất, công ty Haprosimex sẽ phải đối mặt với nguy cơ bị áp dụng biện pháp chống bán phá giá. Các doanh nghiệp Việt Nam để bán được nhiều sản phẩm dễ dẫn tới việc hạ giá thành xuống, làm thiệt hại đến lợi ích doanh nghiệp và giảm lương người lao động; nhưng khi doanh nghiệp tự ý hạ giá lại vấp vào vấn đề cạnh tranh với hàng của Hoa Kỳ sản xuất trong nước. Vụ kiện cá tra, cá basa của Hoa Kỳ đối với Việt Nam và một loạt những vụ kiện chống bán phá giá mà các thành viên phát triển thường áp dụng với các thành viên đang phát triển cho thấy một thực tế là hàng xuất khẩu từ các thành viên đang phát triển, bao gồm cả hàng dệt may Việt nam có nhiều nguy cơ bị các thành viên phát triển như Hoa Kỳ, EU… áp dụng biện pháp chống bán phá giá. Đặc biệt, dệt may là mặt hàng mà Việt Nam rất có ưu thế về giá, cho nên nguy cơ này có khả năng cao. Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn của công ty nhưng nguy cơ và rủi ro đem lại từ thị trường này rất cao. Chính phủ Mỹ cam kết sẽ áp dụng chế độ theo dõi đặc biệt đối với ngành dệt may Việt Nam và áp dụng biện pháp chống bán phá giá. Khi áp dụng biện pháp này, thì tất cả các nhà nhập khẩu của Mỹ công bố rằng, đây là “một quả bom nổ chậm”, bởi việc làm ăn của họ sẽ gặp phải nhiều rủi ro, nhất là khi nhập khẩu mà không lường trước được khi nào sẽ bị tăng thuế. Theo ông Lê Quốc Ân, chủ tịch HĐQT Tập đoàn Dệt may Việt Nam cho biết một khi gặp khó khăn trong làm ăn với các DN Việt Nam, các nhà nhập khẩu Mỹ sẽ tính đến việc lựa chọn đối tác khác. Nhiều nhà nhập khẩu hàng dệt may Việt Nam ở Mỹ đang chuyển hướng đầu tư và đơn hàng sang các nước khác. Đây là thiệt thòi rất lớn. Như vậy, nguy cơ phía Hoa Kỳ tiến hành điều tra về bán phá giá hoàn toàn có thể xảy ra và dù công ty Haprosimex không bán phá giá nhưng cũng mang tiếng xấu. Trung Quốc là một bài học về vấn đề này. Hiện nay, xuất khẩu hàng dệt may Trung Quốc-nước xuất khẩu hàng dệt may lớn nhất thế giới-đang bị ảnh hưởng mạnh do Hoa Kỳ và EU đã và sẽ áp đặt hạn ngạch hoặc tái áp đặt hạn ngạch đối với nhiều mã hàng theo điều khoản tự vệ Trung Quốc đã nhân nhượng khi gia nhập WTO. Theo ước tính, những biện pháp hạn chế của Hoa Kỳ trong thời gian gần đây đã làm giảm tới 30% xuất khẩu của Trung Quốc vào thị trường này và Trung Quốc đang bị giảm thị phần tại Hoa Kỳ đối với nhiều mã hàng. Mặc dù so với Trung Quốc, ngành dệt may Việt Nam có năng lực chỉ bằng 1/50 và hiện chỉ chiếm 3% thị phần hàng dệt may nhập khẩu vào Hoa Kỳ. Mặt khác, Việt Nam đa phần chỉ xuất khẩu hàng may sẵn nên không ảnh hưởng đến ngành công nghiệp dệt của Hoa Kỳ. Tuy nhiên không loại trừ khả năng khi lượng hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam tăng mạnh sau khi gia nhập, Hoa Kỳ và một số thành viên khác sẽ áp dụng biện pháp tự vệ với hàng dệt may Việt Nam, từ đó có khả năng tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao và ảnh hưởng xấu tới ngành dệt may do đặc thù của ngành là thời gian từ khi ký kết hợp đồng – thu xếp vải, nguyên phụ liệu – sản xuất, giao hàng kéo dài từ 4-5 tháng. Một khi Hoa Kì đưa ra thông tin điều tra về chống bán phá giá, chưa biết ai thắng, ai thua, thậm chí theo kiện chúng ta có thể thắng; nhưng cái thua chính là khách hàng có thể bỏ chúng ta. Việc các nước nhập khẩu có quyền áp dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu hàng dệt may vào bất cứ thời điểm nào sẽ làm tăng tính bất ổn định và gây thiệt hại nghiêm trọng đối với các nhà xuất khẩu và nhập khẩu do sản xuất bị dở dang. Theo chiều hướng hiện nay, năm 2026, tuy Việt Nam đã là thành viên của WTO và trước mắt ngành dệt may chưa lâm ngay vào thế khó khăn, nhưng được dự báo sẽ khó có bước phát triển. Theo dự báo trước đây, kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may sẽ tăng 15 – 20%/năm, nhưng nếu Mỹ áp dụng chế độ theo dõi đặc biệt đối với ngành dệt may Việt Nam và áp dụng biện pháp chống bán phá giá, thì mức tăng chỉ còn khoảng 5-7%/năm. Vì vậy trong tương lai công ty cần chú trọng đến việc đa dạng hóa thị trường chứ không quá tập trung vào hai thị trường lớn như hiện nay là Mỹ và EU. Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.

Thứ hai, trong xu thế hội nhập cạnh tranh gay gắt khi đưa hàng ra các thị trường lớn, dệt may Việt Nam cũng đang gặp phải không ít khó khăn trước những rào cản thương mại, những tiêu chuẩn mà đối tác đặt ra. Trong số hàng loạt các tiêu chuẩn bắt buộc đặt ra đối với hàng dệt may, các nhà nhập khẩu hiện quan tâm nhiều đến tiêu chuẩn xanh, sạch đối với sản phẩm ngay từ khâu nguyên liệu đến thành phẩm… Thực chất, tiêu chuẩn Greentrade Barrier – tiêu chuẩn thương mại “xanh”, cũng chính là một rào cản thương mại xanh. Rào cản thương mại xanh được áp dụng đối với hàng may mặc là đòi hỏi các sản phẩm phải đáp ứng được các tiêu chuẩn sinh thái quy định, an toàn về sức khỏe đối với người sử dụng, không gây ô nhiễm môi trường trong sản xuất, bắt buộc các nhà xuất khẩu phải tuân thủ. Một liên hệ thực tế, tình trạng trên đã xảy ra đối với hàng dệt may của Trung Quốc, thì tất yếu sẽ xảy ra đối với ngành Dệt May của Việt Nam và các nước châu Á khác. Như vậy là, trong cuộc cạnh tranh quyết liệt sau khi hạn ngạch dệt may được rỡ bỏ và một số tiêu chuẩn được các thị trường EU, Mỹ, Nhật… áp dụng, thì rào cản thương mại “xanh” là một thách thức, trở ngại lớn đối với tất cả các nước xuất khẩu hàng dệt may vào các thị trường nói trên.

Một thực tế đặt ra đối với ngành Dệt May Việt Nam là cho đến nay, việc sản xuất các sản phẩm “xanh” chưa được quan tâm áp dụng đúng mức. Một số nhà quản lý, điều hành doanh nghiệp còn chưa được trang bị kiến thức hoặc hiểu biết còn hạn chế về những yêu cầu “xanh” đối với các sản phẩm dệt may xuất khẩu. Ngoài ra, phần lớn các công ty, xí nghiệp trong dây chuyền nhuộm-hoàn tất vẫn còn sử dụng một số hóa chất, chất phụ trợ, thuốc nhuộm và các hóa chất gây ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường sinh thái, sức khỏe người lao động và thậm chí đến cả người sử dụng sản phẩm. Có thể nêu lên vài ví dụ nổi bật sau. Trong hồ sợi, ngày càng sử dụng nhiều hóa chất độc hại đến nguồn nước, làm tăng tải lượng COD (nhu cầu oxy hóa học) trong nước thải khó xử lý vi sinh. Nước thải rũ hồ thông thường chứa 4000-8000 mg/l COD. Kỹ thuật “giảm trọng” polieste bông kiềm được áp dụng phổ biến làm sản sinh một lượng lớn terephtalat và glycol trong nước thải sau sử dụng 5-6 lần, đưa COD có thể lên tới 80.000 mg/l. Trong thành phần nước thải của các công ty, nhà máy dệt-nhuộm hiện nay, có khoảng 300-400 mg/l COD (đã vượt tiêu chuẩn nước thải loại B 3-4 lần) dự đoán sẽ tăng lên mức 700-800 mg/l và có thể còn tăng hơn nữa trong tương lai.

Nếu như tình hình ô nhiễm môi trường, trước hết là “nhiễm nước thải không được kiểm soát, thì các doanh nghiệp dệt-nhuộm phải đương đầu với nhiều vấn đề nghiêm trọng, phải tốn rất nhiều kinh phí cho việc xử lý môi trường, mới đáp ứng được các tiêu chuẩn quy định về môi trường, cũng như để phát triển sản xuất, xuất khẩu bền vững, đáp ứng các yêu cầu của tiêu chuẩn thân thiện về môi trường. Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.

Hiện nay công ty Haprosimex cũng như đa phần các doanh nghiệp dệt may khác của Việt Nam cũng chưa quan tâm đến vấn đề sản xuất xanh – sạch, bảo vệ môi trường nên rào cản xanh thực sự sẽ là một rào cản lớn với công ty. Điều đó đồng nghĩa với việc xuất khẩu sang các thị trường mà khắt khe với tiêu chuẩn xanh như EU, Nhật Bản…công ty sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Giải pháp cho vấn đề này là công ty phải đổi mới máy móc, trang thiết bị, nâng cấp nhà xưởng. Nhưng chi phí cho việc nâng cấp không phải nhỏ và sẽ làm tăng giá thành của sản phẩm lên rất nhiều.

Thứ ba, công ty Haprosimex sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO. Từ nay đến 2027, khi Trung Quốc còn bị áp đặt các biện pháp hạn chế thì Việt Nam còn có khả năng tăng trưởng khá. Nhưng sau 2027 như thế nào, liệu các DN Việt Nam có củng cố được sức cạnh tranh hay lại bị suy giảm như đầu năm 2024 là điều chưa thể nói trước được. Vào WTO, bỏ quota là một thuận lợi, nhưng hàng Việt Nam hiện nay mới chỉ chiếm 3,2% thị phần ở Mỹ so với mức 25% của Trung Quốc, 12% của Canada và Mexico… Vào WTO, thuế thông thường của hàng Việt Nam trung bình là 15% trong khi đó nhóm các nước Caribe, Canada và Mexico chỉ chịu thuế 0%. Bên cạnh đó, các nước đang phát triển như Trung Quốc, ấn Độ, Pakistan tuy có chung mức thuế với Việt Nam nhưng họ có thế mạnh về nguyên phụ liệu. Đây cũng là một thách thức lớn đối với công ty Haprosimex.

II. Định hướng phát triển của công ty Haprosimex Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.

Nhận thức được vị trí quan trọng của ngành Dệt May trong công cuộc Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá đất nước, ngày 4/9/2017 Chính phủ đã có quyết định số 169/QĐ phê duyệt quy hoạch phát triển ngành công nghiệp Dệt May đến năm 2030. Các chỉ tiêu sản xuất và xuất khẩu đến năm 2030 được đặt ra như sau:

  • Bảng 3.1. Chỉ tiêu sản xuất và xuất khẩu đến năm 2030

Mục tiêu phát triển của ngành công nghiệp Dệt May đến năm 2030 là: Phát triển một cách bền vững; hướng vào xuất khẩu để tăng ngoại tệ, góp phần tăng nguồn tích luỹ để CNH-HĐH đất nước: tạo thêm nhiều việc làm cho xã hội, giúp cho quá trình chuyển đổi cơ cấu được thực hiện nhanh chóng, 8 tỷ USD năm 2030; đưa nước ta trở thành một trong những cường quốc xuất khẩu hàng dệt may trong khu vực và trên thế giới.

Cùng với xu hướng phát triển chung của ngành dệt may Việt Nam Công ty Haprosimex cũng có những hướng đi riêng trong việc xuất khẩu hàng hoá ra các thị trường nước ngoài. Ngoài việc thực hiện những mục tiêu của mình Công ty Haprosimex cũng góp phần làm cho ngành dệt may Việt Nam thêm lớn mạnh, đẩy mạnh tăng trưởng nền kinh tế đất nước.

Trên cơ sở những kết quả thực tế đạt được trong các năm qua, đứng trước những cơ hội và thách thức như đã phân tích, đồng thời để góp phần thực hiện mục tiêu chung của ngành dệt may Việt Nam, Công ty Haprosimex đã đề ra những phương hướng phát triển cụ thể trong vài năm tới như sau:

1. Nâng cao chất lượng sản phẩm

Chất lượng sản phẩm là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến uy tín danh tiếng của Công ty, đồng thời chất lượng sản phẩm cũng là một yếu tố mà các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau, nếu chất lượng sản phẩm tốt sẽ giúp cho Công ty có chỗ đứng vững trên thị trường. Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.

Đối với Công ty Haprosimex sự thành bại trên thị trường phụ thuộc vào sự thích hợp của chất lượng sản phẩm, sự phù hợp của giá cả và điều kiện mua bán giao nhận. Trong đó cạnh tranh về chất lượng sản phẩm là cạnh tranh mạnh mẽ và quan trọng nhất. Bởi vì sản phẩm may mặc không chỉ thoả mãn nhu cầu bảo vệ mà quan trọng hơn đó là nhu cầu làm đẹp, nhu cầu khẳng định địa vị nên họ sẵn sàng chấp nhận mức giá cao hơn để có được điều đó. Do vậy để tạo uy tín và chỗ đứng vững chắc trên thị trường may mặc xuất khẩu thì chất lượng sản phẩm luôn là nội dung cơ bản trong chiến lược sản phẩm của bất kỳ doanh nghiệp nào. Sản phẩm có chất lượng cao giúp Công ty tạo được uy tín với khách hàng, nó thể hiện sức mạnh trong cạnh tranh đối với các doanh nghiệp cùng ngành.

Như vậy để nâng cao chất lượng sản phẩm sản xuất, Công ty cần chú ý các vấn đề sau:

  • Đầu tư nâng cấp trang thiết bị, quy trình sản xuất sản phẩm
  • Đảm bảo chất lượng vật tư dụng cho sản xuất sử dụng đúng định mức tiêu chuẩn kỹ thuật.
  • Chăm lo đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ kỹ thuật và công nhân lành nghề.
  • Tổ chức học tập nâng cao trình độ tay nghề cho công nhân.
  • Thực hiện tốt công tác kiểm tra chất lượng sản phẩm trước khi xuất.
  • Có chính sách thưởng phạt hợp lý nhằm khuyến khích bồi dưỡng vật chất cho cán bộ công nhân viên toàn Công ty để động viên và nâng cao tinh thần trách nhiệm, tính sáng tạo của họ.

2. Đa dạng hoá và cải tiến mẫu mã sản phẩm Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.

Hiện nay nhu cầu của người tiêu dùng luôn luôn thay đổi do đó để đáp ứng được nhu cầu đó của ngươì tiêu dùng công ty phải thường xuyên thay đổi, cải tiến mẫu mã sản phẩm của mình. Hiện nay các mẫu mã, kiểu dáng sản phẩm của công ty chưa đa dạng và phong phú, chưa có những thay đổi hợp lý để phù hợp với từng thị trường khác nhau. Trong thời gian tới để đẩy mạnh hơn nữa khả năng đa dạng hoá sản phẩm, công ty cần chú trọng đến các vấn đề sau:

  • Điều tra nghiên cứu thị trường để tìm ra nhu cầu hiện tại của người tiêu dùng từ đó tìm cách đáp ứng tốt nhất các nhu cầu này.
  • Cần có chiến lược đa dạng hoá sản phẩm một cách cụ thể và các điều kiện cần thiết cho triển khai thực hiện chiến lược đó.
  • Chú trọng thích đáng cho công tác nghiên cứu thị trường phục vụ cho sáng tạo mẫu mốt.

3. Hoàn thiện cơ cấu tổ chức và quản lý

Công ty xác định rằng muốn nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty thì nhiệm vụ trước mắt là cần phải tinh giảm bộ máy quản lý hiện đang cồng kềnh gây ra sự chồng chéo, giảm hiệu quả và khi đưa ra các quyết định thì chậm chạp. Muốn phát triển trong môi trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay công ty cần tuyển những cán bộ quản lý có năng lực thực sự, làm việc hiệu quả hơn, để tránh tình trạng phân công lao động chồng chéo, có nhiều người nhưng công việc vẫn không được giải quyết hiệu quả.

Ngoài ra công ty cần tiến tới hoàn thiện và mở rộng thêm bộ phận kinh doanh và các dịch vụ bán hàng. Để tận dụng nguồn vật tư dư thừa cũng như nguồn vật tư trong nước, nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ cho các cán bộ quản lý, đội ngũ cán bộ cần phải biết quản lý sản xuất kinh doanh, biết thu thập và xử lý các thông tin cần thiết một cách khoa học, biết xác lập và xác định mục tiêu, ra các quyết định hợp lý và kịp thời. Mở rộng và đào tạo cán bộ trên các lĩnh vực: chuyên môn, ngoại ngữ, tin học,…

4. Lao động

Tổ chức cải tiến sản xuất để đạt năng suất lao động cao, nâng cao hiệu quả sản xuất. Đào tạo mới và đào tạo lại đội ngũ cán bộ công nhân kỹ thuật thích ứng với cơ chế thị trường, với trình độ CNH – HĐH. Công nhân phải có trách nhiệm bảo quản máy móc thiết bị mà mình phụ trách, có tác phong công nghiệp trong sản xuất dây chuyền, vận hành máy móc. Công ty có lực lượng lớn là lao động nữ trong các xí nghiệp may vì vậy hiện tượng công nhân nghỉ việc trong thời gian dài ( nghỉ đẻ, chăm con ốm…) hoặc chuyển sang công ty khác, nghỉ việc đột ngột rất phổ biến khiến công ty gặp nhiều khó khăn khi thực hiện các hợp đồng lớn, lực lượng lao động thiếu hụt khiến công ty rất vất vả để hoàn thành kế hoạch sản xuất để kịp giao hàng cho đối tác. Trong tương lai công ty cần phải có các biện pháp chặt chẽ hơn để quản lý lao động một cách hợp lý. Công ty cần đề ra các chính sách lương, thưởng hợp lý hơn để kích thích người lao động làm việc hiệu quả hơn.

5. Máy móc thiết bị

Tiếp tục đầu tư hoàn thiện dần máy móc, thiết bị theo hướng CNH-HĐH để có khả năng sản xuất các sản phẩm đòi hỏi kỹ thuật cao, an toàn với môi trường để có thể vượt qua những tiêu chuẩn xanh hay hàng rào xanh và thích ứng với các thị trường khó tính nhất.

Tuy nhiên, Công ty cần tránh hiện tượng đầu tư ồ ạt tạo nên sự mất cân đối về cơ cấu, các thiết bị chuyên dụng, nhập nhiều nhưng vẫn thiếu về chủng loại. Việc nhập công nghệ, máy móc thiết bị phải được cân nhắc lựa chọn kỹ lưỡng về đặc điểm kỹ thuật cũng như các chỉ tiêu kinh tế thương mại tránh hiện tượng nhập thiết bị lạc hậu, thiết bị tân trang và giả giá đầu vào.

III. Các giải pháp phát triển hoạt động xuất khẩu hàng dệt may của công ty Haprosimex Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.

1. Tổ chức tốt công tác nghiên cứu và tiếp cận thị trường

Một chiến lược sản phẩm đúng đắn và năng động là một chiến lược dựa trên cơ sở phân tích sâu sắc thị trường. Đặc biệt để tham gia vào thị trường may mặt thế giới – là một thị trường hết sức phong phú, đa dạng, thay đổi rất nhanh về mẫu mã, kiểu mốt, chủng loại, thời gian cũng có yêu cầu ngày càng cao và tinh tế về chất lượng – thì việc nghiên cứu thi trường để luôn thích nghi với sự biến động và thay đổi của nó là việc làm cần thiết đầu tiên của công ty Haprosimex. Khi quyết định đưa một loại quần áo có sẵn hay quyết định triển khai một mốt quần áo mới vào thị trường xuất khẩu nào đó như Tây Âu, Bắc Âu hay Nhật Bản, thì điều cốt lõi để đảm bảo mặt hàng phù hợp và thích ứng được với người mua nước sở tại là phải nghiên cứu thị trường. Thông qua việc nghiên cứu thăm dò các thị trường, tìm ra các thị trường triển vọng để xác định một cách cẩn thận biện pháp làm cho mặt hàng thích ứng với đòi hỏi của thị trường.

Nội dung chủ yếu của việc nghiên cứu thị trường may mặc xuất khẩu mà công ty Haprosimex cần hướng tới là nghiên cứu khả năng xâm nhập và mở rộng thị trường

2. Các thông tin cần thu thập

  • Nghiên cứu thị trường may mặc xuất khẩu cần phải thu thập những nội dung thông tin sau:

2.1. Quy mô cơ cấu của thị trường may mặc xuất khẩu

Việc xác định quy mô cơ cấu thị trường đặc biệt có ích cho dự định tham gia vào thị trường xuất khẩu hoàn toàn mới của công ty Haprosimex. Hiện nay công ty cần đa dạng hóa thị trường xuất khẩu vì vậy nghiên cứu nắm bắt được quy mô, tiềm năng của mọi thị trường may mặc thế giới là điều cực kỳ quan trọng. Trên cơ sở nắm được quy mô, cơ cấu của mỗi thị trường, công ty Haprosimex có thể đề ra các biện pháp đồng bộ để khai thác triệt để mọi lợi thế của ta ở mỗi thị trường, do đó sẽ mang lại sự tăng trưởng và phát triển cũng như hiệu quả to lớn cho công ty.

2.2. Nghiên cứu các nhân tố của môi trường xuất khẩu liên quan đến mặt hàng may mặc

Môi trường là nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc xuất khẩu sản phẩm may mặc xuất khẩu. Khi công ty Haprosimex muốn xâm nhập vào một thị trường nước ngoài thì cần phải phân tích thị trường dưới các mặt chủ yếu sau:

  • Môi trường dân cư Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.

Dân số, cơ cấu dân cư theo tuổi, giới tính, theo nghề nghiệp, theo vùng ảnh hưởng quan trọng đến các sản phẩm dệt may về kiểu cách, màu sắc, chất liệu vải.Ví dụ: Trẻ em với đặc điểm tâm sinh lý hiếu động thì yêu cầu sản phẩm may mặc phải rộng rãi, thoải mái, yêu cầu vệ sinh là quan trọng, song với các thiếu nữ hay thanh niên nói chung yêu cầu làm đẹp, thích thời trang, kiểu mốt phong phú là yêu cầu chủ yếu. Với người lớn tuổi lại ưa dùng sản phẩm may mặc trịnh trọng, điềm đạm. Giữa nông thôn và thành thị, giữa người lao động chân tay và lao động trí óc yêu cầu về quần áo rất khác nhau.

  • Môi trường kinh tế

Thu nhập bình quân đầu người, cơ cấu tỷ lệ chi tiêu cho hàng may mặc trong tổng thu nhập quốc dân của dân cư, xu hướng thay đổi các tỷ lệ đó. Hàng may mặc vừa là hàng hoá có nhu cầu thiết yếu nhưng đồng thời lại có nhu cầu xa xỉ, khi nghiên cứu thị trường nước ngoài cần chú ý đến thu nhập của người tiêu dùng để sản xuất ra các sản phẩm có chi phí hợp lý, thoả mãn nhu cầu của từng thị trường. Ví dụ ở những nước có thu nhập như các nước Châu Phi, Mỹ la tinh và một số nước Châu Á thì họ chủ yếu quan tâm đến giá cả và độ bền của sản phẩm tức là chất liệu vải và giá cả là mối quan tâm hàng đầu. Ở những nước có thu nhập cao thì người tiêu dùng đặc biệt chú ý đến mẫu mốt, kiểu dáng, bởi vậy vòng đời sản phẩm đối với họ là rất ngắn. Chẳng hạn như thị trường EU là thị trường dân cư có thu nhập cao, chi tiêu cho may mặc nhiều nên yêu cầu cao về kiểu mốt, mẫu mã chất lượng. Với thị trường này yêu cầu về chức năng bảo vệ của quần áo chỉ chiếm khoảng 10 – 15% còn yêu cầu về thẩm mỹ, mốt, mẫu thời trang chiếm tới 85 – 90% giá trị sử dụng. Hay như thị trường may mặc Nhật Bản là thị trường được cung cấp rất tốt, người tiêu thụ chỉ mua cái gì thích hợp với mình. Người tiêu thụ Nhật Bản quan tâm đến chất lượng là trên hết và kiểm tra kỹ lưỡng trước khi mua.

  • Môi trường văn hoá xã hội

Tỷ lệ dân cư theo trình độ văn hoá, tôn giáo, phong tục tập quán, lối sống, nguyên tắc và giá trị xã hội, các yếu tố về khí hậu địa lý sẽ ảnh hưởng đến các sản phẩm may mặc xuất khẩu. Sản phẩm may mặc không chỉ đơn thuần để đáp ứng nhu cầu bảo vệ (nhu cầu cơ bản, cấp thấp) mà còn phải đáp ứng nhu cầu làm đẹp, nhu cầu nâng cao địa vị, phẩm chất, đặc tính con người. Nói cách khác nó liên quan chặt chẽ tới yếu tố tinh thần của con người, nó phụ thuộc rất nhiều vào trình độ văn hoá, tôn giáo, phong tục tập quán, lối sống, nguyên tắc và giá trị xã hội của mỗi dân tộc.

Các nhu cầu đó thường được thể hiện qua một số các yếu tố cấu thành chất lượng sản phẩm may mặc nhằm thực hiện cả hai chức năng cơ bản của sản phẩm may mặc là bảo vệ và làm đẹp như:

Yếu tố về nguyên liệu: Về nguyên liệu chính (các loại vải dệt kim, dệt thoi) và các phụ liệu (mex, đệm, túi, khoá, khuy, cúc, chỉ), sản xuất mặt hàng may mặc nào đó thì yêu cầu của thị trường mỗi nước cũng thay đổi tuỳ theo sở thích tập quán của người tiêu dùng cũng như điều kiện địa lý của mỗi nước. Với các nước Châu Âu, các nước công nghiệp phát triển, nam giới rất thích các loại áo sơ mi làm từ vải bông 100% vì loại vải này có tính vệ sinh cao, khả năng thấm mồ hôi tốt. Nó thích hợp cho việc tạo ra những nét khoẻ khoắn của các bộ quần áo du lịch, dã ngoại của thanh niên. Như quần Jeans là loại quần áo được ưa chuộng đối với thanh niên ở hầu hết trên thế giới, đều làm từ vải 100% sợi bông. Ngược lại nam giới ở một số nước lại ưa chuộng áo sơ mi sợi bông pha sợi tổng hợp ở các tỉ lệ khác nhau. Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.

Kiểu dáng kích thước: Yếu tố này ngoài việc phụ thuộc vào đặc điểm về tập quán, lối sống, đặc điểm nhân trắc còn phụ thuộc vào từng loại, từng kiểu mốt quần áo. Những sự khác biệt về đặc điểm nhân trắc học của mỗi dân tộc khác nhau trên thế giới là yếu tố cực kỳ quan trọng trong nghiên cứu thị trường may mặc xuất khẩu để có thể thiết kế, sản xuất ra các sản phẩm may mặc có cỡ số phù hợp với người tiêu dùng ở mỗi nước, ví dụ người Châu Âu thì phải có kích cỡ lớn hơn người Châu Á.

Kiểu dáng cũng phụ thuộc vào tập quán, sở thích, phong cách ở từng thị trường. Nó luôn luôn thay đổi, biến động theo thời gian. Do vậy nghiên cứu thị trường may mặc xuất khẩu cũng phải dự đoán được cả xu hướng thay đổi để đưa ra sản phẩm thích hợp. Ví dụ với thị trường Nhật Bản ưa chuộng quần áo có kiểu đơn giản, không cầu kỳ nhưng lịch sự và sang trọng. Sự ưa chuộng này khá bền vững và ổn định trong thị trường may mặc Nhật Bản. Ngược lại người tiêu dùng ở các thị trường Tây Âu ưa sự tinh vi cầu kỳ và mang tính nghệ thuật cao trong các sản phẩm may mặc và sự biến động của các yếu tố này rất nhanh.

Sở thích của con người đối với sản phẩm may mặc chịu ảnh hưởng của lối sống các tầng lớp dân cư trong xã hội, do đó công ty Haprosimex khi nghiên cứu phân tích thị trường may mặc phải càng chú ý phân khu thị trường của mình dựa trên lối sống của khách hàng.

Yếu tố màu sắc: Đặc biệt đối với sản phẩm may mặc, giữa các nước hoặc các đoạn thị trường của mỗi nước có sự khác nhau quan trọng về sở thích màu sắc. Màu sắc là yếu tố quan trọng tạo nên giá trị thẩm mỹ của sản phẩm may mặc. Nó còn phụ thuộc vào từng loại, từng kiểu mốt quần áo nhất định. Hơn nữa, sự ưa chuộng về màu sắc trong trang phục cũng thay đổi rất nhanh, có thể từng mùa, từng năm hoặc nhanh hơn thế. Vấn đề là muốn xuất khẩu sản phẩm may mặc phải nắm bắt được những sở thích, thị hiếu cũng như xu hướng thay đổi về sở thích thị hiếu màu sắc của mỗi thị trường, mỗi nước để làm ra các sản phẩm thích nghi với từng thị trường xuất khẩu.

Các yếu tố nguyên liệu, kích thước, kiểu dáng, màu sắc là những yếu tố quan trọng tạo nên giá trị sử dụng, đặc biệt là giá trị thẩm mỹ của sản phẩm may mặc. Trong nghiên cứu thị trường may mặc xuất khẩu, cần tìm hiểu một cách cặn kẽ, cụ thể các đặc điểm đó cũng như dự đoán được xu hướng của nó để thiết kế, sản xuất các loại sản phẩm may mặc phù hợp với mỗi thị trường xuất khẩu. Sản phẩm của công ty có bán được hay không? Giá cao hay giá thấp? Khối lượng đặt hàng nhiều hay ít phụ thuộc vào yếu tố này của thị trường. Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.

  • Môi trường luật pháp

Khi có ý định hay trước khi quyết định xuất khẩu sản phẩm của công ty Haprosimex sang thị trường nước nào thì trước hết phải tìm hiểu quan hệ kinh tế thương mại giữa hai nước, sau đó cần nắm vững những quy định, luật lệ của nước sở tại để đảm bảo cho quá trình xuất khẩu được trôi chảy, không gây tổn thất cho doanh nghiệp. Ví dụ như Mỹ đưa ra các quy định rất nghiên ngặt về lắp và dán nhãn, đóng dấu, gắn thẻ lai lịch và gắn nhãn có kèm những thông tin về tên gọi tổng quát (tên chung) của sản phẩm và tỷ lệ trọng lượng các loại sợi cấu thành sản phẩm, tên của nhà sản xuất, tên quốc gia nơi chế biến gia công. Nắm được những quy định này của Mỹ, công ty Haprosimex nên lưu ý đến những quy định về nhãn hiệu, tên hàng và bản quyền vì bất cứ sự vi phạm nào cũng dẫn đến việc hàng hoá bị tịch thu; tránh những thiếu sót trong chứng từ có thể dẫn đến việc bị quy là gian lận thương mại vì lỗi này có thể bị các hình phạt nghiêm khắc theo luật pháp của Mỹ.

Đối với thị trường Nhật Bản công ty Haprosimex cũng cần phải nghiên cứu các đạo luật của Nhật Bản như cấm nhập khẩu các sản phẩm có nhãn mác mập mờ, giả mạo về xuất xứ, quy định các sản phẩm gia dụng phải tuân thủ các tiêu chuẩn về mức độ cho phép đối với các chất gây nguy hiểm cho da, luật về nhãn hiệu chất lượng hàng hoá đòi hỏi các sản phẩm quần áo đều phải dãn nhãn, trên nhãn phải ghi rõ thành phần của vải và các biện pháp bảo vệ sản phẩm thích hợp. Nắm được những quy định này công ty Haprosimex sẽ đưa ra những sản phẩm đảm bảo tiêu chuẩn, nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu.

  • Môi trường cạnh tranh

Những thông tin này giúp các công ty thích ứng được với môi trường cạnh tranh nghiệt ngã của thị trường thế giới. Ngoài các thông tin về chiến lược sản phẩm, kênh phân phối, giá cả công ty Haprosimex còn có thể học hỏi được từ các đối thủ cạnh tranh, từ đó đưa ra những chính sách hợp lý.

Trong điều kiện còn eo hẹp về kinh phí dành cho nghiên cứu thị trường công ty Haprosimex có thể lấy thông tin từ các đơn vị đầu ngành, đơn vị có kinh nghiệm, các tổ chức quốc tế, các đại sứ quán, các tổ chức xúc tiến mậu dịch, nếu thuận lợi hơn công ty Haprosimex nên thiết lập văn phòng đại diện, các chi nhánh ở thị trường tiêu thụ lớn để thu thập được các thông tin sơ cấp bởi các thông tin này không phải là bất biến, nó luôn luôn thay đổi mà điều quan trọng trong nghiên cứu thị trường là phải nắm bắt kịp thời cũng như dự báo được xu hướng của các thông tin đó.

2.3. Đa dạng hóa thị trường xuất khẩu Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.

Hiện nay công ty chủ yếu xuất khẩu sang 2 thị trường chính là EU và Mỹ, tổng kim ngạch xuất khẩu của hai thị trường này luôn trên 70% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của công ty. Tuy rằng đây là hai thị trường lớn nhưng nếu công ty tập trung vào hai thị trường này thì rủi ro sẽ rất cao nếu phía Mỹ hay EU áp dụng các biện pháp chống bán phá giá thì toàn ngành dệt may Việt Nam nói chung và công ty Haprosimex nói riêng sẽ bị thiệt hại nặng nề. Vì vậy trong giai đoạn hiện nay nhu cầu cần phải đa dạng hóa thị trường trở nên bức thiết với công ty hơn bao giờ hết. Công ty cần phải duy trì các thị trường vốn là thế mạnh của mình, ngoài ra cần phải phát triển thêm các thị trường mới. Công ty mở rộng thêm nhiều thị trường bằng cách tham gia vào các hội chợ triển lãm, các cuộc giao lưu, tìm hiểu cơ hội ở các thị trường mới. Trong tương lai, công ty dự định vẫn duy trì thế mạnh của 2 thị trường chính của công ty là Eu và Mỹ. Ngoài ra Nhật Bản là thị trường mà công ty đã nghiên cứu kỹ và dự định sẽ tập trung xúc tiến xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường này. Đồng thời công ty cũng đang tìm hiểu các cơ hội mới trên thị trường Hàn Quốc, Séc, Nga….và lập các kế hoạch chi tiết và cụ thể nhằm thâm nhập hiệu quả hơn vào các thị trường này.

  • Chiến lược thâm nhập thị trường EU

EU là một thị trường rộng lớn, với tổng số dân là 456 triệu người. Thị trường EU thống nhất cho phép tự do lưu chuyển sức lao động, hàng hoá, dịch vụ và vốn giữa các nước thành viên. EU gồm 27 thị trường quốc gia, mỗi thị trường lại có những đặc điểm tiêu dùng riêng. Do vậy có thể thấy rằng thị trường EU có nhu cầu rất đa dạng và phong phú về hàng hoá. Có những loại hàng hoá rất được ưa chuộng ở thị trường Pháp, Italy, Bỉ nhưng lại không được người tiêu dùng Anh, Ailen, Đan Mạch và Đức đón chào. Tuy có những khác biệt nhất định về tập quán và thị trường tiêu dùng giữa các thị trường quốc gia trong khối EU, nhưng 27 nước thành viên đều là những quốc gia chủ yếu nằm ở khu vực Tây và Bắc Âu nên có những điểm tương đồng về kinh tế và văn hoá. Trình độ phát triển kinh tế xã hội của các nước thành viên khá đồng đều, cho nên người dân thuộc khối EU có những điểm chung về sở thích và thói quen tiêu dùng. Người tiêu dùng EU thích sử dụng và quen tiêu dùng hàng may mặc như sau: người dân áo, Đức và Hà Lan chỉ mua hàng may mặc và giày dép không có chất nhuộm có nguồn gốc hữu cơ (Azo-dyes). Khách hàng EU đặc biệt chỉ quan tâm tới chất lượng và thời trang của hai loại sản phẩm này. Nhiều khi yếu tố thời trang lại mang tính quyết định cao hơn nhiều so với giá cả. Đối với mặt hàng này, nhu cầu thay đổi nhanh chóng, đặc biệt về mẫu mã.

Người tiêu dùng châu Âu có sở thích và thói quen sử dụng các sản phẩm có nhãn hiệu nổi tiếng trên thế giới. Họ cho rằng những nhãn hiệu này gắn liền với chất lượng sản phẩm và có uy tín lâu đời, cho nên dùng những sản phẩm mang nhãn hiệu nổi tiếng sẽ rất an tâm về chất lượng và an toàn cho người sử dụng. Nhiều trường hợp những sản phẩm này giá đắt, nhưng họ vẫn mua và không thích đổi sang các sản phẩm không nổi tiếng khác cho dù giá rẻ hơn nhiều. Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.

Thị trường châu Âu về cơ bản cũng như một thị trường quốc gia, có ba nhóm người tiêu dùng khác nhau: (1) Nhóm có khả năng thanh toán ở mức cao, chiếm gần 20% dân số ở EU, dùng những hàng có chất lượng tốt nhất và giá cả đắt nhất hoặc những mặt hàng hiếm và độc đáo; (2) Nhóm có khả năng thanh toán ở mức trung bình, chiếm 68% dân số, sử dụng loại hàng có chất lượng kém hơn so với nhóm 1 và giá cả cũng rẻ hơn; (3) Nhóm có khả năng thanh toán ở mức thấp, chiếm hơn 10% dân số, tiêu dùng những loại hàng hoá có chất lượng và giá cả thấp hơn so với hàng của nhóm 2. Hàng hoá đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trên thị trường này gồm cả hàng hoá cao cấp lẫn hàng bình dân phục vụ cho mọi đối tượng. Đối tượng tiêu dùng hàng Việt Nam là nhóm 2 và 3. Các đối thủ cạnh tranh chính của hàng Việt Nam là hàng Trung Quốc và hàng của các nước ASEAN khác.

Hệ thống kênh phân phối của EU về cơ bản cũng giống như hệ thống phân phối của một quốc gia, gồm mạng lưới bán buôn và mạng lưới bán lẻ.Hình thức tổ chức phổ biến nhất của các kênh phân phối trên thị trường EU là theo tập đoàn và không theo tập đoàn. Kênh phân phối theo tập đoàn có nghĩa là các nhà sản xuất và các nhà nhập khẩu của một tập đoàn chỉ cung cấp hàng hoá cho hệ thống cửa hàng và siêu thị của tập đoàn này mà không cung cấp hàng cho hệ thống bán lẻ của tập đoàn khác. Còn kênh phân phối không theo tập đoàn thì ngược lại, các nhà sản xuất và nhà nhập khẩu của tập đoàn này ngoài việc cung cấp hàng hoá cho hệ thống bán lẻ của tập đoàn mình còn cung cấp hàng hoá cho hệ thống bán lẻ của tập đoàn khác và các công ty bán lẻ độc lập.Rất ít trường hợp các siêu thị lớn hoặc các công ty bán lẻ độc lập mua hàng trực tiếp từ các nhà xuất khẩu nước ngoài. Mối quan hệ bạn hàng giữa các nhà bán buôn và bán lẻ trên thị trường EU không phải là ngẫu nhiên mà phần lớn là do có quan hệ tín dụng và mua cổ phần của nhau. Các nhà bán buôn và bán lẻ trong hệ thống phân phối của EU thường có quan hệ làm ăn lâu đời và rất ít khi mua hàng của các nhà cung cấp không quen biết. Họ liên kết với nhau chặt chẽ thành một chuỗi mắt xích trong kinh doanh bằng các hợp đồng kinh tế. Hệ thống phân phối của EU đã hình thành nên một tổ hợp chặt chẽ và có nguồn gốc lâu đời. Tiếp cận được hệ thống phân phối này không phải dễ dàng đối với các nhà xuất khẩu Việt Nam.

Bắt đầu từ tháng 1 năm 2024, EU bãi bỏ chế độ hạn ngạch hàng dệt may Việt Nam vào thị trường này. Đây là một điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam đồng thời cũng là một thách thức đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm để cạnh tranh với hàng dệt may của các nước khác. Để thâm nhập thành công thị trường này công ty Haprosimex cần phải có những biện pháp cụ thể là:

Do các yêu cầu về xuất xứ, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm…đối với thị trường EU luôn được thực hiện nghiêm ngặt nên công ty Haprosimex cần chú ý đến các tiêu chuẩn này tránh làm tổn hại đến mối quan hệ làm ăn tốt đẹp giữa nước ta và cộng đồng kinh tế EU. Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.

Do nhu cầu về mẫu mã và kiểu dáng của thị trường này luôn thay đổi nên để thâm nhập thành công thị trường này công ty Haprosimex cần chú trọng đến khâu thiết kế mẫu mã sản phẩm sao cho phù hợp với nhu cầu của khách hàng. Hàng dệt may của công ty Haprosimex chủ yếu phục vụ cho những khách hàng có thu nhập trung bình hoặc thu nhập thấp nên bên cạnh việc cạnh tranh bằng giá công ty cũng cần nghiên cứu về nhu cầu và thị hiếu của nhóm khách hàng này để đưa ra những mẫu sản phẩm thích hợp.

Người tiêu dùng châu Âu có thói quen sử dụng các sản phẩm có nhãn hiệu nổi tiếng vì vậy để tồn tại được tại thị trường này vấn đề sống còn với công ty Haprosimex là xây dựng được thương hiệu cho may mặc xuất khẩu. công ty Haprosimex có thể xem xét đến phương án liên doanh dưới hình thức: sử dụng giấy phép, nhãn hiệu hàng hoá. Theo hình thức này công ty Haprosimex mua nhãn hiệu hàng hoá của các nhà sản xuất nổi tiếng châu Âu để gắn vào sản phẩm của mình rồi tung vào thị trường EU. Sau một thời gian khi người tiêu dùng đã quen thì công ty tiến hành gắn nhãn hiệu của mình bên cạnh nhà sản xuất châu Âu. Khi nhu cầu của người tiêu dùng châu Âu đối với loại sản phẩm có gắn hai nhãn hiệu bắt đầu tăng nhanh thì công ty có thể bóc nhãn hiệu của nhà sản xuất châu Âu. Trong thời gian tới công ty Haprosimex một mặt vừa duy trì xuất khẩu trực tiếp, liên doanh để thâm nhập thị trường EU, mặt khác cần phải nghiên cứu để lựa chọn phương thức thâm nhập thị trường bằng hình thức đầu tư trực tiếp.

Để thâm nhập thị trường EU một cách có hiệu quả công ty Haprosimex phải tìm các nhà nhập khẩu EU để xuất khẩu trực tiếp vì hệ thống phân phối của EU đã hình thành nên một tổ hợp chặt chẽ và có nguồn gốc lâu đời và tiếp cận được hệ thống phân phối này không phải dễ dàng đối với các nhà xuất khẩu Việt Nam. Công ty có thể tìm các nhà nhập khẩu này qua các thương vụ Việt Nam tại EU, phái đoàn EC tại Hà Nội, các đại sứ quán ở các nước EU tại Việt Nam.

  • Chiến lược thâm nhập thị trường Mỹ Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.

Mỹ là thị trường khá hấp dẫn, lý tưởng của ngành dệt-may vì dân số Mỹ khá đông, hiện có 253 triệu người, đa số sống ở thành thị có mức thu nhập quốc dân cao. Do đó người Mỹ có sức mua lớn và nhu cầu đa dạng. Phải nói rằng, thị trường may mặc Mỹ là một miếng mồi béo bở, hấp dẫn bởi mức cầu lơn, tính thời trang, mẫu mốt và thị hiếu thể hiện rất rõ phong cách của người Mỹ.

Hàng may mặc của Mỹ chủ yếu là các sản phẩm cao cấp, giá cao cho các nước phát triển hoặc một phần là nguyên phụ liệu, bán sản phẩm xuất đi các nước khác để gia công lắp ráp thành phẩm để tái xuất lại vào Mỹ hoặc xuất khẩu đi các nước thứ ba. Thị trường hàng Dệt may Mỹ được chia thành: ”bình dân”’, ”trung” và hàng ‘cao cấp’.Trong nhóm hàng “Bình dân” phải kể đến nhóm hàng giá rẻ được bán trong các cửa hàng hạ giá (discounters), với nhãn mác riêng của cửa hàng bên cạnh một số sản phẩm thương hiệu riêng (không nổi tiếng) với giá rất hạ. Hai nhóm hàng còn lại, hàng trung và cao cấp chủ yếu được bán trong các cửa hiệu sang trọng (đôi khi cũng được bán trong quầy hàng của các trung tâm thương mại) là các mặt hàng giá cao đi đôi với chất lượng. Một số đại siêu thị có quầy hàng may mặc cũng kinh doanh hàng hoá và vật liệu với trữ lượng tương đối lớn.

Nhưng hiện nay công ty gặp nhiều khó khăn trong việc tìm hiểu luật lệ cách thức buôn bán, thị hiếu của người tiêu dùng và năng lực của bạn hàng khi muốn làm ăn với doanh nghiệp Mỹ. Ngoài ra visa cho các doanh nghiệp Việt Nam vào khảo sát thị trường Mỹ còn khó khăn, các thủ tục để lập văn phòng đại diện hay công ty trên lãnh thổ Mỹ phức tạp, rất tốn kém. Để đẩy mạnh hơn nữa xuất khẩu hàng sang thị trường Mỹ, công ty cần đầu tư nhiều hơn vào khâu thiết kế và sản xuất ra các mặt hàng có giá trị cao chứ không nên tập trung vào các mặt hàng giá rẻ như hiện nay.Vì nếu công ty tiếp tục đầu tư vào các mặt hàng giá rẻ thì sẽ không thu được lợi nhuận thực sự mà chỉ tăng doanh thu. Hơn nữa, trong tương lai việc bán các mặt hàng giá rẻ sẽ mang lại rủi ro bị kiện bán phá giá.

2.3.3. Chiến lược thâm nhập thị trường Nhật Bản

Hiện nay Nhật Bản chưa phải là thị trường có kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của công ty, nhưng trong thời gian tới công ty cần tranh thủ khai thác cơ hội đến từ thị trường này và đầu tư cần thiết để thị trường này trở thành một trong những thị trường chính của công ty, đây cũng là thị trường cần được lưu tâm trong kế hoạch đa dạng hóa thị trường của công ty.

Theo nhận định chung của nhiều chuyên gia kinh tế, Nhật Bản là thị trường đặc biệt khó tính, nhưng khi đã gây được lòng tin đối với khách hàng thì rất thuận lợi trong kinh doanh. Các đối thủ cạnh tranh với sản phẩm của Việt Nam khi XK vào thị trường Nhật Bản hiện nay phải kể đến Trung Quốc, Hàn Quốc, Mỹ, Thái-lan, Inđônêxia, Anh, Pháp, Ita lia… Đây là những nước có kim ngạch XK khá lớn vào Nhật Bản nhưng cơ cấu hàng hoá của họ chủ yếu là sản phẩm cao cấp và hàng mốt nên đa phần cạnh tranh về chất lượng và thị hiếu. Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.

Hàng may mặc nhập khẩu được chia làm 4 phân nhóm chính:-  Các sản phẩm thời trang cao cấp: Các sản phẩm may mặc có mầu sắc, kiểu dáng thời trang, chất lượng cao, được nhập khẩu chủ yếu từ Hoa Kỳ và châu Âu;

  • Các sản phẩm được sản xuất từ các nguyên liệu hiếm có ở Nhật Bản: Casơmia, len angora, len môhai và các loại len quý hiếm khác;
  • Các sản phẩm có hàm lượng lao động cao: Các sản phẩm thủ công nhập khẩu chủ yếu từ các nước có chi phí tiền lương thấp;
  • Các sản phẩm nghệ thuật thủ công truyền thống.

Hiện nay các sản phẩm của công ty Haprosimex xuất khẩu vào thị trường Nhật chủ yếu là sản phẩm có hàm lượng lao động cao, giá rẻ. Tuy nhiên, giá cả lại không phải là yếu tố quan trọng nhất khi người tiêu dùng Nhật quyết định mua sắm hàng hóa. Cạnh tranh bằng giá cả không thực sự có hiệu quả tại thị trường Nhật. Để tăng cường XK sang thị trường Nhật Bản, công ty Haprosimex cần chú trọng đến nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng. Người dân nước này đòi hỏi cao hơn về chất lượng, độ bền, độ tin cậy và sự tiện dụng của sản phẩm. Nhu cầu đối với sản phẩm có tính sáng tạo, có chất lượng tốt với giá cao. Mặt khác, các DN cần quan tâm giới thiệu, quảng bá sản phẩm tại các hội chợ, triển lãm và thông qua các phương tiện thông tin khác. Ngoài ra công ty cũng nên chú ý tới việc giao hàng đúng thời hạn vì người Nhật rất trọng chữ tín. Do đặc điểm là hàng dệt may của công ty xuất sang thị trường Nhật có số lượng ít hơn hẳn hàng xuất sang thị trường Mỹ và EU nhưng công ty Haprosimex cần phải chú ý hơn đến việc kiểm tra chất lượng từng sản phẩm may chặt chẽ và kỹ lưỡng vì nếu như kiểm tra chất lượng sản phẩm may mặc ở Hoa Kỳ và châu Âu thường chú ý tới hình thức của sản phẩm, thì người Nhật Bản kiểm tra rất kỹ đường may và các chi tiết của sản phẩm. Hàng lỗi thường bị trả lại ngay cả khi nó không ảnh hưởng tới việc sử dụng sản phẩm. Tóm lại tuy Nhật là thị trường khó tính nhưng nếu ta xuất khẩu được hàng sang thị trường này thì lợi nhuận sẽ rât cao. Bí quyết để xuất khẩu sang thị trường này chính là công ty Haprosimex phải đầu tư nhiều hơn đên khâu thiết kế sao cho phù hợp với thị hiếu và truyền thống của người Nhật. Ngoài ra công ty cần đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến xuất khẩu, quảng bá cho hình ảnh và thương hiệu của mình qua trang web, hội chợ, triển lãm.

Trên đây là ba thị trường lớn mà công ty Haprosimex dự định tập trung đầu tư nghiên cứu nhiều hơn trong thời gian tới, nhưng công ty vẫn xác định rằng đa dạng hóa thị trường là biện pháp đảm bảo cho công ty kinh doanh an toàn và ổn định sau khi Việt Nam là thành viên chính thức của WTO. Bên cạnh ba thị trường trên, công ty sẽ tập trung vào các thị trường khác như: Hàn Quốc, Séc, Nga,….

2.4. Không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.

Trong bất cứ một môi trường kinh doanh nào, chất lượng sản phẩm là yếu tố hàng đầu, sản phẩm đảm bảo chất lượng thì người tiêu dùng mới chấp nhận, bạn hàng mới tìm đặt. Chất lượng sản phẩm là yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định sự thành bại của mỗi doanh nghiệp.

Để thoả mãn kịp thời các yêu cầu về chất lượng, Công ty Haprosimex cần thực hiện các biện pháp thiết thực sau:

  • Chăm lo đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ kỹ thuật và công nhân lành nghề

Yếu tố con người có vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm của Công ty Haprosimex. Muốn làm ra sản phẩm có chất lượng lượng cao, người lao động phải có trình độ nghề nghiệp tinh thông. Nhiều chuyên gia hàng đầu về công nghiệp dệt may thế giới đã rút ra kết luận rằng: “đối với quần áo, khâu quan trọng nhất là khâu may và điều này phụ thuộc vào tay nghề của công nhân nên lĩnh vực mà họ cần cải tiến trước hết không phải là công nghệ mà là trình độ tay nghề của công nhân”.

Do vậy chăm lo đào tạo, sử dụng, bồi dưỡng, khuyến khích vật chất đối với cán bộ kỹ thuật, công nhân lành nghề là động lực quan trọng, thiết thực nâng cao chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp. Công ty thường xuyên tổ chức các khoá học đào tạo nâng cao trình độ cho công nhân, cán bộ kỹ thuật và có chế độ đãi ngộ hợp lý với những người có năng lực. Đặc biệt Công ty có thể cử một số công nhân, cán bộ kỹ thuật đi học ở nước ngoài và khi về họ sẽ là nòng cốt cho việc nâng cao trình độ cho toàn bộ lực lượng công nhân và cán bộ kỹ thuật của công ty.

  • Tiếp tục đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ hiện đại, đồng bộ, có trọng điểm nhằm tạo sự thay đổi căn bản về chất lượng sản phẩm của công ty Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.

Điều này đảm bảo được cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại phù hợp, đó là yếu tố then chốt nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, thực sự mang lại sức cạnh tranh mạnh mẽ cho sản phẩm của công ty trên thị trường thế giới.

Cũng như nhiều doanh nghiệp dệt may khác, đầu tư đổi mới trang thiết bị là yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng và đa dạng hoá sản phẩm, song khó khăn lớn nhất đối với công ty Haprosimex hiện nay là vấn đề vốn. Do vậy việc huy động có hiệu quả nguồn vốn trong và ngoài nước là giải pháp quan trọng để tháo gỡ khó khăn đó.

  • Thực hiện tốt công tác kiểm tra chất lượng sản phẩm là biện pháp quan trọng để nâng cao chất lượng sản phẩm

Công tác kiểm tra chất lượng sản phẩm phải được tiến hành tốt thì mới hạn chế được những tổn thất do những sản phẩm không đạt tiêu chuẩn chất lượng bị trả lại, tạo điều kiện mở rộng khả năng sản xuất, tăng cường khả năng cạnh tranh của công ty trên thị trường may mặc thế giới. Quan trọng hơn nữa là giữ được chữ tín của công ty trên thị trường. Đây là tài sản vô hình rất quý giá để đảm bảo cho công ty có chỗ đứng vững chắc trên thị trường thế giới, góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu của công ty.

Đúng vậy, dù công ty có cố gắng bao nhiêu về mặt thời gian giao hàng nhưng nếu sản phẩm không đáp ứng những quy định tiêu chuẩn thị trường nhập khẩu cũng không được thị trường chấp nhận và chỉ là sự lãng phí vô ích. Chất lượng không đạt tiêu chuẩn cao của nước nhập khẩu chính là sự tồn tại đang cản trở khả năng chuyển sang xuất khẩu trực tiếp của công ty Haprosimex. Do vậy trước hết công ty cần coi trọng công tác kiểm tra chất lượng sản phẩm, phải xem xét nó là một bộ phận không thể thiếu khi công ty theo đuổi mục tiêu chất lượng.

Trước mắt công ty phải đảm bảo đáp ứng tốt hơn những quy định tiêu chuẩn của thị trường nhập khẩu thông qua các khách hàng của doanh nghiệp. Đó cũng chính là cơ sở để công ty phấn đấu nâng cao trình độ sản xuất và chất lượng sản phẩm cuả mình.

Để làm được điều đó công ty cần chú trọng công tác chăm lo đào tạo bồi dưỡng trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ công nhân viên trong việc kiểm tra chất lượng sản phẩm để họ không chỉ là những người có vai trò quan trọng trong việc kiểm tra chất lượng sản phẩm mà còn là những trợ thủ đắc lực cố vấn trong việc tham gia sáng kiến cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm của Công ty về tiêu chuẩn chất lượng.

2.5. Mở rộng quan hệ với các đối tác nước ngoài Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.

Trong điều kiện nền kinh tế hiện nay vai trò của các đối tác thật sự quan trọng, nó quyết định sự thành bại của bất kỳ một công ty nào. Hoạt động hợp tác kinh doanh có được duy trì hay không phụ thuộc vào sự lựa chọn đối tác. Mỗi lĩnh vực hoạt động khác nhau thì sự tác động của các yếu tố này là khác nhau nhưng nhìn chung đều ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh.

Trong hoạt động gia công hàng xuất khẩu, vai trò của công tác lựa chọn đúng đối tác hết sức quan trọng. Do đặc điểm của hoạt động này, sự phụ thuộc của mỗi bên là rất lớn, nên cả hai phía phải tìm hiểu kỹ về nhau để quan hệ thương mại giữa hai bên đạt hiệu quả cao nhất.

Công tác mở rộng quan hệ với các đối tác nước ngoài do phòng kinh doanh tiếp thị đảm nhiệm thông qua các hoạt động như: cử đại diện ra nước ngoài, qua các phòng thương mại, các tổ chức thông tin… nhằm tìm kiếm thông tin về các thị trường cũng như các đối tác nước ngoài mà Công ty cần thiết lập mối quan hệ làm ăn, từ đó công ty có thể mở rộng thị trường xuất khẩu của mình đồng thời mở rộng được các mối quan hệ thương mại với các đối tác kinh doanh.

Trong tương lai Công ty sẽ tích cực mở rộng quan hệ với các đối tác của các nước: Mỹ, Nhật Bản, EU, đặc biệt là thị trường Mỹ, một thị trường mà công ty đã và đang tập trung khai thác và doanh số đạt được trên thị trường này là lớn.

Những năm qua hiệu quả đạt được từ hoạt động mở rộng quan hệ với với các đối tác nước ngoài chưa cao. Vì vậy trong những năm tới Công ty sẽ tăng cường hơn nữa công tác mở rộng quan hệ với các đối tác nước ngoài để hoạt động kinh doanh xuất khẩu của Công ty đạt hiệu quả cao nhất. Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.

2.6. Xây dựng thương hiệu cho sản phẩm dệt may xuất khẩu của công ty Haprosimex

Trong xu hướng xoá bỏ hạn ngạch dệt may như hiện nay, công ty Haprosimex phải đối mặt với vấn đề cạnh tranh ngày càng quyết liệt hơn. Khi đó, chỉ còn những yếu tố cạnh tranh liên quan đến chính hàng hoá như chất lượng, giá cả, thời hạn giao hàng và các dịch vụ thương mại khác đối với khách hàng và thương hiệu sản phẩm. Chất lượng ngày càng được nâng cao, cạnh tranh gay gắt thì vai trò của thương hiệu ngày càng trở nên quan trọng.

Để hàng dệt may của công ty Haprosimex có thể khẳng định được thương hiệu của mình trên thị trường thế giới, công ty phải tập trung xây dựng thương hiệu doanh nghiệp và thương hiệu sản phẩm của riêng mình. Điều mà công ty Haprosimex thấy rõ là dù có đầu tư lớn đến đâu cũng khó có thể cạnh tranh được thương hiệu lớn đã tồn tại từ rất lâu như Adidas, Pierre Cardin, Wrangler…Vì thế, dù mục tiêu có thương hiệu riêng là cái đích phải hướng tới nhưng không thể làm trong một sớm một chiều và phải tính tới vị thế hiện nay của công ty Haprosimex trên thị trường thế giới. Công ty Haprosimex cần tập trung nguồn lực tài chính đầu tư cho thiết kế mẫu mã, xây dựng thương hiệu cho doanh nghiệp và sản phẩm. Trong khi năng lực thiết kế còn chưa đáp ứng yêu cầu, có thể nghiên cứu phương án đặt hàng hoặc mua thiết kế độc quyền. Đồng thời, phải xác định thị trường mục tiêu cho từng thương hiệu, tiến hành các thủ tục đăng ký cho thương hiệu tại thị trường mục tiêu, phát triển mạng lưới phân phối tại các thị trường đó. Tăng cường tham gia các hoạt động xúc tiến thương mại, đặc biệt là hội chợ chuyên ngành dệt may, các hoạt động trình diễn mẫu thời trang trong và ngoài nước, tổ chức giới thiệu hàng dệt may Việt Nam, nhất là ở các thị trường mục tiêu.

2.7. Thực hiện chiến lược xây dựng hệ thống thương mại điện tử. Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.

Ngày nay, công nghệ thông tin ngày càng phát triển. Công ty Haprosimex muốn có chỗ đứng vững chắc trên thị trường quốc tế cần phải áp dụng các công nghệ tiên tiến, hiện đại. Công ty Haprosimex đã sử dụng hệ thống mạng Internet, xây dựng trang web của mình nhằm tiêu thụ và quảng bá sản phẩm trên khắp toàn cầu. Trang web có những thuận lợi là không cần có vị trí cố định, vùng thời gian và quốc gia. Thông qua trang web khách hàng ở các vùng địa lý khác nhau có thể tiếp cận dễ dàng tới nơi mà trước đó khách hàng không thể đến. Thông qua trang web công ty có thể dễ dàng cung cấp thông tin cho khách hàng ở bất cứ nào trên thế giới hay không bị chậm trễ để đưa ra sản phẩm mới và chiến dịch mới. Trang web giúp tăng thông tin phản hồi, tạo điều kiện cho người tiêu dùng một cách dễ dàng để gửi ý kiến của mình đến công ty, dựa vào đó để đưa công ty thâm nhập vào thị trường chung một cách dễ dàng. Thông qua đó, công ty biết nội dung mà mọi người quan tâm là gì, họ nói gì về sản phẩm…biết thông tin nhiều hơn về đối thủ cạnh tranh.

Thương mại điện tử mang lại cho công ty Haprosimex “cửa sổ” để hiểu được suy nghĩ của người tiêu dùng. Công ty sử dụng hình ảnh để thực hiện chiến dịch quảng cáo, khách hàng sẽ truy cập ngay vào hình ảnh minh hoạ của trang web, đảm bảo chất lượng, chính xác trên quảng cáo.

  • Khi công ty tiến hành thương mại điện tử thì nên có nhiều chiến lược cụ thể sau:

Trên trang web của mình, cần mô tả về sản phẩm dệt may bao gồm: giá cả, thời gian, phương thức giao hàng và bảo hành sản phẩm. Mô tả và thuyết minh về chất lượng sản phẩm, kiểu dáng, mẫu, mốt nêu lên xu hướng thời đại trong tương lai giúp cho khách hàng từ chỗ không biết về sản phẩm đến chỗ biết và ưa thích sản phẩm, trở thành khách hàng truyền thống của doanh nghiệp. Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.

Do sản phẩm dệt may được xuất khẩu ra thị trường thế giới là chủ yếu nên trên trang web cần sử dụng ngôn ngữ phổ biến, để khách hàng có thể biết rõ và hiểu về sản phẩm nhiều hơn. Công ty cần thường xuyên trả lời các câu hỏi, thắc mắc của những người quan tâm đến sản phẩm. Công ty Haprosimex nên xây dựng các bộ phận: bán hàng, hỗ trợ khách hàng và dịch vụ sản phẩm, kinh doanh nhằm đáp ứng mọi yêu cầu các khách hàng ngay lập tức, đảm bảo đúng thời gian giao hàng, uy tín…

2.8. Giải pháp công nghệ xanh

Trong xu thế hội nhập cạnh tranh gay gắt, các nước nhập khẩu đặt ra hàng loạt các hàng rào bảo vệ dưới hình thức các tiêu chuẩn, trong số hàng loạt các tiêu chuẩn bắt buộc đặt ra đối với hàng dệt may, các nhà nhập khẩu hiện quan tâm nhiều đến tiêu chuẩn xanh, sạch đối với sản phẩm ngay từ khâu nguyên liệu đến thành phẩm… Trong điều kiện kinh doanh mới đầy khó khăn này công ty Haprosimex đã đề ra một số giải pháp nhằm vượt qua được tiêu chuẩn thương mại “xanh”, để có thể yên tâm phát triển bền vững và xâm nhập vào các thị trường có yêu cầu về tiêu chuẩn thương mại “xanh”. Trước tiên công ty Haprosimex cần rà soát một cách kỹ lưỡng, cẩn thận những hóa chất, chất phụ trợ, thuốc nhuộm đang sử dụng (bao gồm cả hàng nhập khẩu và sản xuất trong nước), phải biết rõ nguồn gốc, xuất xứ của chúng và cần có “hồ sơ” của từng loại hóa chất, chất trợ, từng mẫu thuốc nhuộm. Đó là “Phiếu các số liệu an toàn” (safety data sheets) mà các hãng sản xuất hóa chất, thuốc nhuộm đều có. Thay thế vào đó là những hóa chất, chất phụ trợ thân thiện với môi trường, các thuốc nhuộm biết rõ nguồn gốc xuất xứ, chất lượng tốt, loại mới, không độc hại và ít ô nhiễm môi trường. Song song với hóa chất, chất phụ trợ, thuốc nhuộm (dùng cả trong nhuộm và in hoa) là công nghệ áp dụng và máy móc thiết bị tương ứng. Để phát triển bền vững, tăng trưởng mạnh, tạo sức mạnh cạnh tranh với các nước xuất khẩu hàng dệt may trên thị trường rộng lớn và “khó tính” như: Mỹ, EU, Nhật Bản…, công ty Haprosimex cần chuyển mạnh từ các công nghệ và thiết bị truyền thống sang loại hình sản xuất “thân thiện với môi trường”, sản xuất sạch hơn, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và đạt hiệu quả cao các hóa chất – chất phụ trợ, thuốc nhuộm, hơi, điện, nước với các máy móc thiết bị phù hợp, nhất là các loại mới tiên tiến, hiện đại…

Ngoài ra, các vấn đề tiêu chuẩn hàng hóa và môi trường cũng cần được ưu tiên lên hàng đầu không chỉ trong một khâu mà phải áp dụng trong tất cả các công đoạn của quá trình sản xuất. Việc làm này, các doanh nghiệp nước láng giềng Trung Quốc bắt đầu đặc biệt quan tâm đến đầu tư chuyển hướng sản xuất gắn với bảo vệ môi trường sau hàng loạt các đơn hàng bị từ chối và phải bồi thường gây tốn kém. Bắt đầu từ năm 2022, Trung Quốc thực hiện Tiêu chuẩn quốc gia mới GB18401-2020 đối với Formandêhit thoát ra từ các sản phẩm dệt-may chính thức có hiệu lực thi hành. Tiêu chuẩn này quy định các giới hạn Formandêhit phân giải như sau: 20mg/kg đối với những sản phẩm dùng cho trẻ sơ sinh (dưới 24 tháng); 75mg/kg cho các sản phẩm tiếp xúc trực tiếp với da và 300mg/kg đối với sản phẩm không tiếp xúc trực tiếp với da và dùng trong nhà. Các mức trong tiêu chuẩn này hoàn toàn đồng nhất với các ngưỡng giới hạn Formandêhit của “nhãn sinh thái” Oeko-Tex standard 100 nổi tiếng ở châu Âu và một số nước phát triển, Trung Quốc đã xây dựng bộ tiêu chuẩn “nhãn xanh” (standard for green labelling) từ năm 2020, đồng thời lập tổng sơ đồ quốc gia thực hiện tiêu chuẩn, quản lý và giám sát thực hiện, tiêu chuẩn này đã hoàn thành trong năm 2023. Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.

Đối với ngành Dệt May Việt Nam, cho đến nay vấn đề này vẫn còn coi nhẹ, nhiều doanh nghiệp vẫn còn thờ ơ với các tiêu chuẩn mà đối tác nhập khẩu đặt ra. Vấn đề chất thải gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và người tiêu dùng dường như không phải là công việc của các nhà sản xuất mà là của cơ quan môi trường. Chính vì vậy, trong tương lai công ty Haprosimex cần phải thực hiện các tiêu chuẩn về vệ sinh, sản xuất các sản phẩm “ sạch” thì mới có thể đưa hàng hóa vào các thị trường khó tính. Việc đầu tư theo hướng sản xuất hàng sạch sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tương lai phát triển của công ty. Vì vậy để phát triển bền vững trong những năm tới, công ty Haprosimex không thể không đầu tư, đổi mới trang thiết bị, dây chuyền sản xuất để sản xuất ra những sản phẩm phù hợp với đòi hỏi của thị trường. Hơn nữa công ty Haprosimex cũng cần giáo dục cho người lao động ý thức được tầm quan trọng của vệ sinh xanh sạch trong công ty. Để việc đổi mới sản xuất, sản xuất ra những sản phẩm không gây hại cho môi trường, công ty Haprosimex cần phải kiểm soát thật chặt chẽ ở tất cả các khâu một cách cẩn thận và nghiêm túc.

3. Kiến Nghị với nhà nước

Bên cạnh cố gắng của các công ty nhằm thích ứng với môi trường kinh doanh quốc tế, nhà nước cần phải ban hành các chính sách và đưa ra một số giải pháp phù hợp để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.

3.1 Chính sách về đầu tư phát triển

Các chính sách về đầu tư phải được tính toán trên phạm vi toàn ngành, tập trung vào ngành dệt và sản xuất phụ liệu may, đầu tư chọn lọc theo mặt hàng có thế mạnh nhằm tạo khả năng liên kết, hợp tác và khai thác tốt hơn năng lực thiết bị. Ngành dệt đòi hỏi vốn đầu tư lớn, nhà nước cần có chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực này. Bên cạnh đó khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các dự án sản xuất nguyên phụ liệu may cũng hết sức cần thiết. Đầu tư của nhà nước phải tập trung cho các công trình trọng điểm để sản xuất ra các sản phẩm phù hợp với tiêu chuẩn xuất khẩu.

3.2. Chính sách về thị trường xuất khẩu

Phát triển thị trường xuất khẩu theo phương châm đa dạng hoá. Bên cạnh việc duy trì và củng cố các thị trường truyền thống như EU, Nhật Bản. Sớm khôi phục các thị trường SNG và Đông Âu, phát triển các thị trường mới như Mỹ, Canađa, Trung Đông, giảm bớt sự phụ thuộc vào thị trường các nước Đông Nam Á.

Tăng cường vai trò các tổ chức xúc tiến thương mại của nhà nước, hỗ trợ doanh nghiệp trong công tác Marketing. Bên cạnh việc tìm hiểu, cung cấp các thông tin về thị trường, giá cả, các đặc điểm về kinh tế, văn hoá, xã hội cũng như bản sắc truyền thống dân tộc của các quốc gia cần phải có những chính sách tiếp cận, khai thông và phát triển với từng thị trường cụ thể.

3.3. Chính sách về nguyên liệu và phát triển sản phẩm Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.

Nhà nước cần phải có qui hoạch phát triển vùng nguyên liệu các loại tơ sợi thiên nhiên cho ngành dệt và các chính sách khuyến khích đầu tư phát triển vùng nguyên liệu, tạo nguồn nguyên liệu ổn định cho ngành dệt. Khuyến khích đầu tư cho sản xuất phụ liệu và sản xuất vải đủ tiêu chuẩn xuất khẩu, giảm bớt phụ thuộc của ngành may vào nguồn nguyên liệu nhập ngoại.

Nâng cao hiệu quả và chất lượng của hàng may gia công, tạo dựng và củng cố uy tín trên thị trường thế giới đồng thời tạo lập cơ sở để chuyển dần sang xuất khẩu trực tiếp.

Có chính sách hỗ trợ, khuyến khích đầu tư cho khâu thiết kế và sản xuất hàng mẫu, đầu tư đào tạo đội ngũ cán bộ đủ khả năng thiết kế mẫu mã đồng thời hỗ trợ cho công tác đăng ký nhãn hiệu hàng hoá, tạo điều kiện đưa các sản phẩm tên hiệu Việt Nam ra thị trường thế giới.

3.4. Chính sách về phát triển khoa học kỹ thuật và chuyển giao công nghệ.

Cần phải có sự kết hợp hài hoà giữa việc nhập thiết bị công nghệ hiện đại với thiết bị công nghệ đã qua sử dụng, vừa đáp ứng được yêu cầu phát triển sản phẩm, vừa cân đối được vốn đầu tư cho trang thiết bị và đảm bảo tính cạnh tranh về giá cả của sản phẩm xuất khẩu trên cơ sở tính hiệu qủa kinh tế. Ưu tiên đầu tư cho công nghệ thiết kế trên máy vi tính nhằm nâng cao năng lực sáng tạo mẫu mã. Có các chính sách khuyến khích đầu tư với các dự án sản xuất sản phẩm mới theo tiêu chuẩn ISO 14000, ISO 9000…

Nghiên cứu áp dụng khoa học về nguyên liệu mới, về vật liệu mới, về công nghệ và thiết bị đang còn bỏ trống sớm đầu tư thích đáng về cơ sở tạo mốt và nâng cao nghiệp vụ tạo mốt. Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.

3.5. Chính sách về tổ chức quản lý và đào tạo

Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ khuyến khích và thu hút các học sinh có khả năng theo học ngành công nghệ dệt may, khắc phục tình trạng thiếu kĩ sư dệt may như hiện nay. Đầu tư cho các trường dạy nghề, đào tạo công nhân kỹ thuật đáp ứng được yêu cầu sản xuất theo dây chuyền hiện đại, nhằm đào tạo một đội ngũ công nhân có tay nghề cao, thực sự trở thành thế mạnh về nhân lực của ngành dệt may Việt Nam.

Ưu tiên đào tạo các chuyên gia về thiết kế thời trang và Marketing, khắc phục điểm yếu cơ bản của ngành may xuất khẩu trong khâu thiết kế mẫu mốt và xúc tiến thị trường, từng bước tạo lập cơ sở để chuyển sang xuất khẩu trực tiếp các sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam, đồng thời có chính sách hỗ trợ đảm bảo công ăn việc làm, tạo nguồn thu nhập ổn định.

Tổ chức sắp xếp lại các doanh nghiệp dệt may trên phạm vi cả nước theo phương châm gắn vùng công nghiệp dệt với vùng nguyên liệu, công nghiệp may với các trung tâm tiêu thụ và xuất khẩu nhằm giảm bớt được chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.

KẾT LUẬN

Xuất khẩu hàng dệt may rất quan trọng trong hoạt động thương mại của nước ta. Dệt may Việt Nam liên tục có những thành tựu xuất sắc với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao và ổn định. Việt Nam đã lọt vào top 10 nước và vùng lãnh thổ xuất khẩu hàng dệt may lớn nhất thế giới. Qua 9 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu dệt may đạt 5,805 tỷ USD, vươn lên vị trí dẫn đầu trong kim ngạch xuất khẩu của nước ta.

Để có thể phát triển và đưa ngành Dệt may Việt Nam trở thành một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn, đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải cố gắng phấn đấu và hoàn thiện mình. Là một trong những doanh nghiệp thuộc ngành dệt may Việt Nam, công ty Haprosimex cũng có những nét đặc trưng chung của ngành dệt may, song cũng có những nét đặc thù riêng. Công ty Haprosimex đã đạt được một số thành qủa như kim ngạch xuất khẩu không ngừng tăng, năm sau cao hơn năm trước, mẫu mã chủng loại hàng hoá ngày càng phong phú, một số mặt hành tạo được những vị trí nhất định trên những thị trường lớn là EU, Mỹ, Nhật Bản. Tuy nhiên, công ty cũng còn những khó khăn và hạn chế cần phải khắc phục để có thể cạnh tranh trong điều kiện nền kinh tế toàn cầu như hiện nay. Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.

Đề tài: Các giải pháp phát triển hoạt động xuất khẩu hàng dệt may của công ty sản xuất xuất nhập khẩu tổng hợp Haprosimex được nghiên cứu với mong muốn làm rõ các giải pháp chủ yếu để giúp công ty Haprosimex nói riêng và các doanh nghiệp Việt Nam nói chung nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu. Nội dung luận văn đã phần nào giải quyết được 3 vấn đề lớn:

  • Làm rõ tình hình ngành dệt may Việt Nam và thế giới
  • Phân tích và đánh giá thực trạng của sản phẩm xuất khẩu ở công ty Haprosimex

Đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm phát triển hoạt động xuất khẩu hàng dệt may của công ty. Với khả năng của công ty và sự hỗ trợ từ phía Nhà nước, chúng ta tin rằng, trong thời gian tới, hoạt động xuất khẩu hàng dệt may của công ty sẽ được cải thiện.

Với trình độ và thời gian hạn chế, khóa luận chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến để đề tài được hoàn thiện hơn nữa. Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Phát triển hoạt động xuất khẩu hàng dệt may

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x