Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Biện pháp đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Một số biện pháp đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975 ở lớp 12 THPT (chương trình chuẩn). dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Vị trí, mục tiêu, nội dung cở bản của “Lịch sử Việt Nam từ 1954 đến 1975” trong sách giáo khoa lớp 12 THPT.
2.1.1. Vị trí.
Từ năm học 2008 tất cả các lớp ở THPT được học tập lịch sử theo chương trình mới.
- Lớp 10: Chương trình lịch sử thế giới từ nguyên thủy đến hết phần một của lịch sử thế gới cận đại. Phần lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX
- Lớp 11: Lịch sử thế giới từ phần hai của lịch sử thế giới cận đại đến hết chiến tranh thế giới thứ hai. Phần lịch sử Việt Nam: từ khi thực dân Pháp xâm lược đến cuộc khai thác thuộc địa lần hai.
Lớp 12:
Kiến thức lịch sử được cấu tạo thành 2 phần:
- Phần một: Lịch sử thế giới hiện đại từ năm 1945 đến năm 2000.
- Phần hai: Lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến năm 2000.
Phần Lịch sử Việt Nam gồm 5 chương:
- Chương I: Việt Nam từ năm 1919 đến 1930.
- Chương II: Việt Nam từ năm 1930 đến 1945.
- Chương III: Việt Nam từ năm 1945 đến 1954.
- Chương IV: Việt Nam từ năm 1954 đến 1975.
Nội dung cơ bản của chương này là cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta từ năm 1954 đến năm 1975. Trong thời kỳ đó đất nước ta bị chia làm hai miền: miền Bắc vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội, chi viện cho miền Nam vừa chiến đấu chống đế quốc Mỹ; miền Nam làm nhiệm vụ tiền tuyến trực tiếp đương đầu với đế quốc Mỹ và tay sai để giành độc lập dân tộc.
- Chương V: Việt Nam từ năm 1975 đến 2000.
Tóm lại, trong chương trình lịch sử ở bậc THPT, phần lịch sử lớp 12 nói chung, lịch sử Việt Nam nói riêng và đặc biệt là giai đoạn lịch sử Việt Nam từ 1954 đến 1975 có một vị trí vai trò quan trọng trong việc cung cấp kiến thức và hình thành nhân cách cho học sinh. Học lịch sử Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975 giúp cho học sinh biết và hiểu rõ một giai đoạn lịch sử quan trọng và hào hùng của dân tộc. Trong chương IV “Việt Nam từ năm 1954 đến 1975.” học sinh không những được khắc sau hơn các khái niệm đã học trước đó như chiến tranh nhân dân, chiến lược, sách lược, tổng tiến công… mà còn được tiếp cận với các khái niệm mới như chiến lược chiến tranh, thực dân kiểu mới, xã hội chủ nghĩa…nhằm giúp các em hoàn thiện hệ thống tri thức của mình. Cuộc kháng chiến chống Mỹ thời kỳ này có tác động rất lớn tới tư tưởng tình cảm của học sinh. Nó giáo dục cho học sinh về lòng yêu nước, tinh thần chiến đấu bảo vệ độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Hơn nữa những kiến thức được học trong chương này còn giúp cho học sinh phát triển các kỹ năng phân tích, so sánh, khái quát, kỹ năng thực hành… Có thể thấy, nó có tác dụng với học sinh về cả ba mặt: kiến thức, kỹ năng và thái độ.
2.1.2. Mục tiêu. Khóa luận: Biện pháp đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh.
Sau khi học xong chương này học sinh cần đạt được:
- Về kiến thức
Từ năm 1954, Việt Nam bị chia cắt làm hai miền miền Bắc và miền Nam với hai chế độ chính trị- xã hội hoàn toàn khác nhau. Miền Bắc tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội và làm nhiệm vụ hậu phương đối với tiền tuyến miền Nam. Còn miền Nam tiến hành cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và tay sai nhằm giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Ngay từ năm 1954 Mỹ đã liên tiếp thực hiện các âm mưu, thủ đoạn xâm lược của chúng ở miền Nam Việt Nam. Bắt đầu từ năm 1961 đến năm 1973 Mỹ liên tiếp áp dụng các chiến lược chiến tranh ở Việt Nam với quy mô và mức độ ngày càng tăng từ “chiến tranh đặc biệt” (1961- 1965), đến “chiến tranh cục bộ” (1965- 1968) rồi “Việt Nam hóa chiến tranh” (1968-1973).
Tuy nhiên, nhân dân ta ở hai miền Nam- Bắc đã chiến đấu anh dũng đánh bại liên tiếp các chiến lược chiến tranh này. Riêng nhân dân miền Bắc trong những năm 1965- 1973 đã vừa chiến đấu vừa sản xuất, thực hiện nghĩa vụ hậu phương chi viện cho tiền tuyến miền Nam và nghĩa vụ quốc tế với cách mạng Lào và Campuchia. Những chiến thắng của quân và dân ta đã buộc Mỹ năm 1973 phải ký hiệp định Pari về Việt Nam, rút hết quân về nước.
Từ sau hiệp định Pari, quân dân miền Bắc ra sức khôi phục kinh tế, chi viện cho miền Nam. Nhân dân miền Nam tích cực đấu tranh, chuẩn bị lực lượng tạo thế và lực tiến tới Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước vào năm 1975.
Học tập chương này, học sinh cần nhận thấy những âm mưu và thủ đoạn của Mỹ và tay sai khi tiến hành xâm lược Việt Nam. Đồng thời thấy được vai trò của cách mạng miền Bắc, cách mạng miền Nam và mối quan hệ của cách mạng hai miền trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Về kỹ năng.
- Học tập những kiến thức lịch sử trên sẽ giúp học sinh phát triển các kỹ năng phân tích, đánh giá, so sánh các vấn đề, sự kiện lịch sử. Khóa luận: Biện pháp đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh.
- Rèn luyện các kỹ năng sử dụng sách giáo khoa, quan sát kênh hình… trong học tập.
- Ngoài ra còn giúp học sinh rèn luyện kỹ năng thực hành bao gồm có thực hành bộ môn như lập bảng, vẽ bản đồ…và kỹ năng thực hành trong cuộc sống.
Về thái độ:
Thông qua những kiến thức trên đã có tác dụng lớn đến giáo dục tư tưởng đạo đức và nhân cách cho học sinh:
- Lên án những tội ác của đế quốc Mỹ và tay sai trong cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở hai miền đất nước Việt Nam; bồi dưỡng tinh thần yêu nước, đoàn kết dân tộc, cảm thông với nhân dân miền Nam.
- Bồi dưỡng cho thế hệ trẻ lòng yêu nước, tự hào về những thắng lợi oanh liệt của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ; tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng trong công cuộc đổi mới hiện nay.
- Giáo dục cho các em thái độ kính trọng đối với các vị anh hùng dân tộc những người đã hi sinh cho nền độc lập nước nhà.
- Nêu cao tinh thần đoàn kết, liên minh chiến đấu của ba dân tộc trên bán đảo Đông Dương trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược.
Tóm lại, học tập Lịch sử Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975 học sinh không chỉ nắm được các kiến thức cơ bản của giai đoạn lịch sử đó mà còn giáo dục cho các em tư tưởng, tình cảm, đạo đức và phát triển các năng lực nhận thức, năng lực thực hành cho học sinh.
2.1.3. Nội dung cơ bản cần kiểm tra, đánh giá trong dạy học lịch sử Việt Nam từ năm 1954 đến 1975.
Nội dung cơ bản cần kiểm tra, đánh giá trong dạy học lịch sử Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975 có thể chia làm ba giai đoạn
- Giai đoạn 1954- 1965 Khóa luận: Biện pháp đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh.
Với âm mưu chia cắt lâu dài nước ta, Mỹ đã không chịu kí vào hiệp định Giơnevơ (1954), sau đó nhanh chóng gạt chân Pháp, giúp đỡ Ngô Dình Diệm dựng lên chính quyền Sài Gòn để biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ ở Đông Dương và Đông Nam Á. Do âm mưu và hành động của Mỹ- Diệm nên nước ta bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị- xã hội khác nhau.
Trong học tập lịch sử Việt Nam giai đoạn này học sinh cần đối chiếu, so sánh những nhiệm vụ và thành tựu của cách mạng hai miền Nam- Bắc ở từng giai đoạn ngắn:
Ở miền Bắc, từ tháng 7/1954 đến năm 1957 tiến hành cải cách ruộng đất, khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, sau đó bắt tay vào cải tạo quan hệ sản xuất và bước đầu phát triển kinh tế- văn hóa (1958-1960); trong khi đó miền Nam đấu tranh gìn giữ hòa bình, tiến tới “Đồng khởi” (1954- 1960).
Tiếp đó, miền Bắc đề ra và thực hiện kế hoạch nhà nước 5 năm, xây dựng bước đầu cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội (1961- 1965); trong khi đó miền Nam chiến đấu chống chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ.
Cách mạng mỗi miền tuy có nhiệm vụ chiến lược khác nhau, song đều có chung một nhiệm vụ thiêng liêng là kháng chiến chống Mỹ, cứu nước để tiến tới thống nhất Tổ quốc.
Đặt biệt trong cách mạng miền Nam từ 1954 đến 1965 học sinh cần khái quát được đặc điểm nổi bật của cuộc đấu tranh chống Mỹ: Mỹ luôn đưa ra nhiều âm mưu, thủ đoạn, chiến lược chiến tranh nhằm đàn áp cách mạng song chẳng bao lâu sau thì đều bị sụp đổ. Sự sụp đổ đó gắn liền với các thắng lợi lớn của nhân dân miền Nam. Ví dụ như, giai đoạn 1961- 1965, Mỹ đưa ra chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, với một loạt chiến thắng của ta ở Ấp Bắc, An Lão, Ba Gia, Đồng Xoài đã làm thất bại chiến lược này.
- Giai đoạn 1965- 1973
Sau thất bại trong chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, Mỹ vẫn không từ bỏ âm mưu xâm lược miền Nam nhằm khuất phục nhân dân ta. Từ giữa năm 1965 Mỹ bắt đầu mở rộng quy mô cuộc chiến tranh chiến lược, trực tiếp đưa quân viễn chinh Mỹ và chư hầu vào miền Nam Việt Nam, thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ” (1965- 1968), sau đó là “Việt Nam hóa chiến tranh” và “Đông dương hóa chiến tranh”. Khóa luận: Biện pháp đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh.
Ở miền Nam từ giữa năm 1965 đến năm 1973 đã trải qua hai thời kỳ chiến đấu chống chiến tranh xâm lược của Mỹ. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968 tuy có những hạn chế nhất định nhưng vẫn là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, đánh dấu bước ngoặt của cuộc kháng chiến: nó làm phá sản chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ, buộc Tổng thống Ních-xơn phải tuyên bố “Phi Mỹ hóa chiến tranh”.
Còn ở miền bắc từ năm 1965 đến 1973 đã trải qua hai thời kỳ chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của Mỹ. Trận “Điện Biên Phủ trên không” cuối năm 1972 trên bầu trời Hà Nội và cảng Hải Phòng là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của quân dân ta. Sau chiến thắng này của ta Mỹ buộc phải ký hiệp định Pari (27/1/1973), chấp nhận rút hết quân đội viễn chinh Mỹ về nước, chấm dứt chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam.
- Giai đoạn 1973- 1975
Với Hiệp định Pari năm 1973 về Việt Nam, Mỹ phải cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, phải rút quân về nước vô điều kiện. Song Mỹ vẫn giữ hơn 2 vạn cố vấn quân sự, lập ra Bộ chỉ huy quân sự, tiếp tục viện trợ quân sự và kinh tế cho chính quyền Sài Gòn. Chính quyền Sài Gòn với sự giúp đỡ của Mỹ đã tiến hành chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ”, lên tiếp mở các cuộc hành quân “bình định, lấn chiếm” các vùng mới giải phóng của ta.
Từ năm 1973 đến năm 1975, miền Bắc được trở lại hòa bình, cách mạng thực hiện nhiệm vụ khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế- văn hóa, dồn sức chi viện cho tiền tuyến miền Nam.
Ở miền Nam, tận dụng điều kiện thuận lợi sau hiệp định Pari, ta đẩy mạnh đấu tranh chống địch “tràn ngập lãnh thổ”, tạo thế và lực mới để chuẩn bị giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc. Cuộc Tổng tiến công và Nổi dậy Xuân 1975 được diễn ra qua ba chiến dịch lớn, nối tiếp và xen kẽ nhau: Chiến dịch Tây Nguyên (4/3- 24/3/1975), chiến dịch Huế- Đà Nẵng (21/3- 29/3/1975) và đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh (26/4- 30/4/1975). Ngày 2/5/1975, Châu Đốc là tỉnh cuối cùng ở miền Nam được giải phóng, kết thức 21 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước oanh liệt của dân tộc.
Trên cơ sở những kiến thức lịch sử đó, học sinh phải phân tích và rút ra được nguyên nhân thắng lợi và bài học kinh nghiệm của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta.
2.2. Yêu cầu khi xác định và sử dụng một số biện pháp đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam từ năm 1954 đến 1975 lớp 12 THPT. Khóa luận: Biện pháp đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh.
Dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn của kiểm tra, đánh giá trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông chúng tôi xin đưa ra một số biện pháp đổi mới kiểm tra, đánh giá ở trường phổ thông. Tuy nhiên để có thể xác định và sử dụng các biện pháp đó một cách đúng đắn và khoa học nhất cần phải đảm bảo một số yêu cầu sau:
Thứ nhất, các biện pháp đổi mới kiểm tra, đánh giá được xây dựng dựa trên cơ sở đảm bảo các yêu cầu chung của kiểm tra, đánh giá kiến thức lịch sử của học sinh. Trong đó quan trọng nhất là phải đảm bảo độ tin cậy và tính giá trị của bài kiểm tra, đánh giá. Bên cạnh đó cần phối hợp nhiều loại hình, phương pháp kiểm tra, đánh giá và đảm bảo tính thường xuyên, toàn diện của kiểm tra, đánh giá; cần kết hợp kiểm tra đánh giá của giáo viên và tự kiểm tra đánh giá của học sinh. Ngoài ra phương pháp kiểm tra, đánh giá càng đơn giản, ít tốn thời gian, sức lực, chi phí, phù hợp với điền kiện cụ thể thì càng tốt.
Để có thể đề ra những biện pháp đổi mới kiểm tra, đánh giá trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông cần phải tuân thủ các yêu cầu của việc kiểm tra, đánh giá nói chung.
Hai là, đổi mới kiểm tra, đánh giá phải lấy yêu cầu về chuẩn kiến thức, kỹ năng và hướng thái độ của chương trình giáo dục phổ thông làm căn cứ và mục tiêu.
Một trong những yêu cầu cơ bản khi đề ra các biện pháp nhằm đổi mới kiểm tra, đánh giá trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay là phải dựa vào chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình giáo dục phổ thông làm căn cứ và mục tiêu. Chuẩn kiến thức, kỹ năng và hướng thái độ là một thành phần của chương trình giáo dục phổ thông đảm bảo cho việc chỉ đạo dạy học, kiểm tra, đánh giá học sinh theo chuẩn sẽ tạo nên sự thống nhất trong cả nước; làm hạn chế tình trạng dạy học quá tải, đưa thêm nhiều nội dung nặng nề, quá cao so với chuẩn vào dạy học, kiểm tra, đánh giá; góp phần làm giảm tiêu cực của dạy thêm, học thêm; tạo điều kiện cơ bản, quan trọng để có thể tổ chức kiểm tra, đánh giá và thi theo chuẩn.
Các mức độ về kiến thức, kỹ năng được thể hiện cụ thể, tường minh trong chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình giáo dục phổ thông. Khóa luận: Biện pháp đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh.
- Về kiến thức: yêu cầu học sinh phải nhớ, nắm vững, hiểu rõ các kiến thức cơ bản trong chương trình, sách giáo khoa, đó là nền tảng vững vàng để có thể phát triển năng lực nhận thức ở cấp độ cao hơn.
- Về kỹ năng: Biết vận dụng các kiến thức đã học để trả lời câu hỏi, giải bài tập, làm thực hành, có kỹ năng tính toán, vẽ hình, dựng biểu đồ…
Kiến thức, kỹ năng phải dựa trên cơ sở phát triển năng lực, trí tuệ học sinh ở các mức độ, từ đơn giản đến phúc tạp; nội dung bao hàm các mức độ khác nhau của nhận thức.
Mức độ cần đạt được về kiến thức theo phân loại của Bloom có 6 mức độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá. Tuy nhiên đối với học sinh phổ thông ở nước ta thường chỉ sử dụng với 3 mức độ nhận thức là nhận biết, thông hiểu và vận dụng.
Như vậy, các biện pháp đổi mới kiểm tra, đánh giá đặt ra phải dựa trên cơ sở chuẩn kiến thức, kỹ năng, hướng thái độ và đó cũng chính là mục tiêu mà kiểm tra, đánh giá cần hướng tới.
Các biện pháp đổi mới kiểm tra, đánh giá phải đảm bảo thực hiện được hai chức năng cơ bản của kiểm tra, đánh giá đó là chức năng điều khiển và chức năng xác định.
Biện pháp đổi mới kiểm tra, đánh giá đề ra phải có tác dụng giúp giáo viên xác định mức độ đạt được trong việc thực hiện mục tiêu dạy học, xác định mức độ đạt chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình giáo dục mà học sinh đạt được khi kết thúc một giai đoạn học tập.
Đồng thời các biện pháp đổi mới kiểm tra, đánh giá phải giúp phát hiện những mặt tốt, mặt chưa tốt, khó khăn, vướng mắc và xác định nguyên nhân, kết quả đánh giá là căn cứ để quyết định giải pháp cải thiện thực trạng, nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học và giáo dục. Đánh giá hoạt động dạy học không chỉ nhằm đánh giá thành quả học tập của học sinh mà còn bao gồm cả đánh giá quá trình dạy học nhằm cải tiến quá trình dạy học. Bên cạnh đó kiểm tra còn phải giúp cho học sinh biết được khả năng học tập của mình so với yêu cầu được đặt ra, từ đó điều chỉnh phương pháp học tập, phát triển kỹ năng tự đánh giá. Tất cả điều đó đều nhằm đảm bảo cho kiểm tra, đánh giá là một động lực thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học.
- Ngoài ra, các biện pháp đổi mới kiểm tra, đánh giá cần có tác dụng phát huy tính tích cực học tập của học sinh.
Lý luận dạy học hiện đại đã nói đến vai trò tích cực, chủ động của học sinh như một yếu tố quan trọng nhất quyết định đến kết quả của quá trình dạy học “mọi sự tác động từ phía giáo viên chỉ là những tác động bên ngoài, khách quan, yếu tố quyết định chất lượng dạy học phải là hoạt động tư duy tích cực của chính bản thân người học” [20; tr.69].
Trong nhà trường truyền thống với phương pháp dạy học thụ động, giáo viên nắm vai trò chủ đạo truyền đạt kiến thức còn học sinh chỉ thụ động lắng nghe và ghi chép lại. Cách dạy và học như vậy không những không phát huy được tính tích cực học tập của học sinh mà còn làm các em mất dần đi tư duy sáng tạo, độc lập của mình. Điều này đã không còn phù hợp với yêu cầu của thời đại ngày nay. Khóa luận: Biện pháp đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh.
Hiện nay, yêu cầu đặt ra cho ngành giáo dục là phải đào tạo những con người năng động, sáng tạo, thích ứng với môi trường xã hội mở cửa hội nhập quốc tế. Môi trường đó không dung nạp và phù hợp với những ai không chủ động tìm tòi, sáng tạo và vươn lên. Như vậy, rõ ràng cách dạy truyền thống đã không còn phù hợp. Đổi mới phương pháp dạy học hiện nay là phải gắn liền với việc phát huy tính tích cực học tập của học sinh. Và đổi mới khâu kiểm tra, đánh giá cũng không nằm ngoài yêu cầu đó. Các biện pháp đưa ra để đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh cần phát huy được tính tích cực học tập của học sinh. Có như vậy, các biện pháp đó mới đạt hiệu quả cao và có tác dụng tích cực.
Tóm lại, các biện pháp để đổi mới kiểm tra, đánh giá được nêu ra cần thực hiện đầy đủ các yêu cầu về kiểm tra, đánh giá nói chung cũng như những yêu cầu khác như: lấy chuẩn kiến thức, kỹ năng làm căn cứ và mục tiêu để đánh giá; đảm bảo chức năng cơ bản của kiểm tra, đánh giá; phát huy tính tích cực học tập của học sinh … Thực hiện đúng các yêu cầu trên sẽ đảm bảo cho việc xây dựng và sử dụng các biện pháp đổi mới kiểm tra, đánh giá một cách hợp lý và phù hợp với thực tiễn dạy học ở trường phổ thông.
2.3. Một số biện pháp đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh trong dạy học Lịch sử Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975 ở lớp 12 THPT.
Trên cơ sở những lý luận chung về kiểm tra, đánh giá trong dạy học nói chung và trong dạy học lịch sử nói riêng đồng thời căn cứ vào thực trạng kiểm tra, đánh giá ở trường phổ thông hiện nay chúng tôi mạnh dạn nên lên một số biện pháp thực hiện việc kiểm tra, đánh giá trong dạy học lịch sử theo yêu cầu đổi mới.
2.3.1. Xây dựng các quy định, quy chế về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh nói chung và học tập lịch sử nói riêng. Khóa luận: Biện pháp đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh.
Để thực hiện việc kiểm tra, đánh giá theo tinh thần đổi mới trước hết phải đổi mới về quan niệm. Đó là nhận thức được vai trò, ý nghĩa quan trọng của kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh là một khâu không thể thiếu của quá trình dạy học và là một biện pháp để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.
Quá trình dạy học bao gồm 6 thành tố là mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học, phương tiện dạy học, hình thức tổ chức dạy học và kiểm tra, đánh giá. Các thành tố này có mối quan hệ tác động tương hỗ lẫn nhau trong đó kiểm tra, đánh giá được xem là thành tố cuối cùng của quá trình. Trước đây trong giáo dục thường chỉ quan tâm tới mối quan hệ giữa mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học. Khâu kiểm tra, đánh giá chỉ được xem xét dưới góc độ sao cho việc đánh giá được thuận tiện và khách quan hay nếu có thì cũng chỉ chú ý tới kiểm tra kiến thức. Ngày nay, khi khoa học công nghệ phát triển, khi xã hội đòi hỏi những con người có năng lực thực hành, tư duy sáng tạo, tinh thần tích cực…thì cách thức kiểm tra, đánh giá như trên đã bộc lộ rõ những điểm hạn chế, yếu kém. Yêu cầu đổi mới kiểm tra, đánh giá đã trở nên cấp thiết trong việc nâng cao chất lượng dạy học. Quá trình dạy học chỉ có thể có hiệu quả tối ưu nếu như giáo viên và học sinh thường xuyên tiến hành kiểm tra, đánh giá và tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của mình.
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn về vai trò, ý nghĩa của kiểm tra, đánh giá, các cơ quan chuyên môn của Bộ Giáo dục- đào tạo, Sở Giáo dục- đào tạo phải xây dựng các quy định, quy chế về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh. Đây được coi là một biện pháp để đổi mới quy trình kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học.
Với quan niệm kiểm tra, đánh giá nghiêm túc không chạy theo thành tích, các nhà quản lý giáo dục phải xây dựng các quy định, quy chế về kiểm tra, đánh giá một cách có hệ thống, toàn diện và đảm bảo việc thực hiện nó một cách có hiệu quả nhất. Các quy định, quy chế đưa ra phải đảm bảo hoàn thiện từ nội dung, hình thức đến phương pháp tiến hành kiểm tra, đánh giá và có chỉ đạo cụ thể đến từng trường THPT. Khóa luận: Biện pháp đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh.
Để công việc kiểm tra, đánh giá được thực hiện tốt, ban lãnh đạo nhà trường phải có kế hoạch chỉ đạo chuyên môn thực hiện nghiêm túc kiểm tra, đánh giá theo đúng các quy chế đã được đưa ra. Nhà trường không nên coi kiểm tra, đánh giá là một hoạt động cốt để lấy điểm, chạy theo thành tích mà cần nhận thấy kiểm tra, đánh giá là một động lực thúc đẩy quá trình học tập của học sinh và giảng dạy của giáo viên. Trong mỗi trường hoặc mỗi sở Giáo dục- Đào tạo nên xây dựng một ngân hàng đề thi, kiểm tra của các bộ môn để việc tiến hành kiểm tra, đánh giá được thuận lợi và đảm bảo tính khách quan.
Đối với giáo viên, phải được nắm vững lý luận về kiểm tra, đánh giá và các quy chế của việc kiểm tra, đánh giá thông qua việc tìm hiểu sâu các tài liệu bồi dưỡng của Bộ Giáo dục hoặc các lớp học bồi dưỡng của Sở Giáo dục hay nhà trường tổ chức. Việc giáo viên nắm vững lý luận và quy chế sẽ đảm bảo việc ra đề, chấm thi và coi thi đạt hiệu quả cao. Trong khi tiến hành kiểm tra, đánh giá giáo viên mặc dù thực hiện đúng quy chế, quy định coi thi một cách nghiêm túc nhưng cũng cần tạo không khí thoải mái, không nên làm cho học sinh căng thẳng lo sợ dẫn đến tình trạng gian lận, thiếu sáng tạo, mất tự tin. Khi đánh giá giáo viên cần phải hết sức khách quan, đánh giá cả quá trình học tập của học sinh và đưa ra các biện pháp sư phạm thích hợp cho từng đối tượng học sinh.
Việc triển khai và thực hiện nghiêm túc các quy định, quy chế của kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh sẽ đem lại hiệu quả cao trong quá trình dạy học. Những thông tin phản hồi thu được từ quá trình kiểm tra, đánh giá sẽ chính xác và đó là cơ sở cho việc điều chỉnh quá trình dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.
2.3.2. Căn cứ vào chuẩn kiến thức, kỹ năng, hướng thái độ để đảm bảo tính toàn diện về nội dung kiểm tra, đánh giá.
Mục đích của nhà trường phổ thông là đào tạo những con người phát triển toàn diện, hài hòa, năng động, sáng tạo. Nhà trường không chỉ trang bị cho học sinh hệ thống tri thức khoa học, cơ bản hiện đại mà còn giáo dục tư tưởng đạo đức và rèn luyện những kỹ năng, kỹ xảo tương ứng cho các em. Do vậy, để đánh giá học sinh phải đánh giá một cách toàn diện những tiêu chuẩn trên. Đồng thời với xu hướng áp dụng phương pháp dạy học tích cực hiện nay việc kiểm tra, đánh giá cũng không chỉ đơn thuần là ghi nhớ sự kiện mà còn phải phát triển khả năng sáng tạo, tư duy độc lập của học sinh. Nói cách khác việc kiểm tra, đánh giá học sinh cần đảm bảo tính toàn diện về nội dung trên cả ba mặt: kiến thức, kỹ năng và thái độ.
Tuy nhiên muốn đánh giá toàn diện phải có chuẩn đánh giá toàn diện “chuẩn đánh giá chính là biểu hiện cụ thể mức tối thiểu/ mức độ chuẩn của mục tiêu giáo dục mà người học phải đạt được”[3; tr.224]. Chuẩn kiến thức, kỹ năng và đánh giá theo chuẩn được xem là một bộ phận của chương trình giáo dục phổ thông. Chương trình giáo dục phổ thông 2006 đã xác định “Chuẩn kiến thức, kỹ năng là căn cứ để biên soạn sách giáo khoa, quản lý dạy học, đánh giá kết quả giáo dục ở từng môn học, từng hoạt động giáo dục nhằm đảm bảo tính thống nhất, tính khả thi của chương trình phổ thông, bảo đảm chất lượng và hiệu quả của quá trình giáo dục”[3; tr.227]. Khóa luận: Biện pháp đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh.
Như vậy, để đánh giá khách quan, chính xác chất lượng học tập của bộ môn cần dựa trên những tiêu chí được xây dựng từ các chuẩn nhằm kiểm tra được cả về số lượng tức lĩnh vực kiến thức và chất lượng tức mức độ nhận thức. Đề kiểm tra phải đảm bảo được toàn diện về nội dung trên cơ sở các chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu về thái độ.
- Về mặt kiến thức:
Chuẩn kiến thức là yêu cầu học sinh phải nhớ, hiểu rõ các kiến thức cơ bản trong chương trình, sách giáo khoa. Căn cứ vào chuẩn kiến thức đó giáo viên kiểm tra, đánh giá học sinh ở cả ba mức độ biết, hiểu và vận dụng kiến thức.
Tri thức lịch sử bao giờ cũng mang tính cụ thể cao, nó bao gồm các sự kiện, nhân vật lịch sử, niên đại…Kiểm tra giúp học sinh nhớ sự kiện tức là đòi hỏi học sinh phải ghi nhớ, tái hiện các sự kiện, khái niệm, quy luật lịch sử… Việc nhớ sự kiện là cơ sở giúp học sinh đi đến hiểu được nội dung bản chất của sự kiện đó một cách có hệ thống.
Ví dụ: Khi học bài 21 lịch sử lớp 12 “ Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh chống đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam (1954- 1965)” ở mục III “ Miền Nam đấu tranh chống chế độ Mỹ- Diệm, giữ gìn và phát triển lực lượng cách mạng, tiến tới “Đồng Khởi” (1954- 1960)” học sinh phải nhớ được: Cách mạng miền Nam từ giữa năm 1954 chuyển sang đấu tranh chống Mỹ- Diệm, đòi thi hành hiệp định Giơnevơ, giữ gìn và phát triển lực lượng cách mạng. Phong trào đấu tranh phát triển mạnh mẽ dưới các hình thức như mít tinh, biểu tình… lôi cuốn mọi tầng lớp nhân dân tham gia, hình thành mặt trận chống Mỹ- Diệm. Từ năm 1957 đến 1959 Mỹ- Diệm tăng cường khủng bố đàn áp phong trào đấu tranh của quần chúng. Trước tình hình đó Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 15 đã quyết định nhân dân miền Nam sử dụng bạo lực cách mạng để đánh đổ chính quyền Mỹ- Diệm. Phong trào đấu tranh lúc đầu nổ ra lẻ tẻ ở từng địa phương như Bắc Ái (2/1959), Trà Bồng (8/1959)…sau lan ra khắp miền Nam và thành phong trào “Đồng Khởi” (1960). Sự thắng lợi của phong trào “Đồng Khởi” đã mở ra vùng giải phóng rộng lớn, dẫn đến sự ra đời của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ngày 20/12/1060.
Như vậy, sau khi học xong mục III học sinh có thể nhắc lại diễn biến của cuộc đấu tranh chống chế độ Mỹ- Diệm ở miền Nam từ năm 1954 đến năm 1960, đặc biệt là diễn biến của phong trào “Đồng Khởi”.
Tuy nhiên, học tập lịch sử không chỉ dừng lại ở ghi nhớ và tái hiện các kiến thức đã học mà còn phải hiểu được bản chất của các sự kiện, hiện tượng lịch sử đó. Học sinh phải thấy được mối liên hệ giữa các sự kiện, hiện tượng trong bối cảnh lịch sử cụ thể, phân tích, so sánh, đánh giá các sự kiện đó để rút ra kết luận. Khóa luận: Biện pháp đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh.
- Cũng ví dụ trên để đo được mức độ hiểu của học sinh, giáo viên có thể nêu câu hỏi kiểm tra, đánh giá như sau:
“Tại sao nói phong trào “Đồng Khởi” (1959- 1960) đã chuyển cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công?”.
Câu hỏi trên trước hết nhằm kiểm tra mức độ hiểu kiến thức của học sinh. Sau khi đã lĩnh hội được các sự kiện cơ bản của cách mạng miền Nam giai đoạn 1959- 1960 học sinh phải hiểu được ý nghĩa to lớn của phong trào “Đồng Khởi” là một bước ngoặt của cách mạng miền Nam. Dựa vào các sự kiện đã được học, học sinh lựa chọn và phân tích các sự kiện đó để lý giải vì sao phong trào “Đồng Khởi” đã chuyển cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công. Đồng thời câu hỏi trên cũng đòi hỏi sự thông minh, sáng tạo của học sinh khi vận dụng các kiến thức đã học để giải quyết vấn đề lịch sử. Học sinh trả lời không đơn thuần là trình bày các sự kiện y nguyên như sách giáo khoa hay bài giảng của giáo viên một cách máy móc mà các em còn phải so sánh giữa hai giai đoạn trước và sau “Đồng Khởi” để thấy được sự chuyển biến của phong trào cách mạng miền Nam.
Như vậy, nội dung kiểm tra, đánh giá dựa theo chuẩn kiến thức không chỉ yêu cầu học sinh ghi nhớ các sự kiện mà còn yêu cầu học sinh phải hiểu sự kiện và biết vận dụng các sự kiện đó để nghiên cứu kiến thức mới hoặc vận dụng vào thực tiễn. Nói cách khác đề kiểm tra xây dựng dựa vào chuẩn kiến thức phải đạt được ba mức độ: biết, hiểu, vận dụng về mặt kiến thức.
- Nội dung kiểm tra, đánh giá phải thể hiện kết quả phát triển kỹ năng thực hành bộ môn.
Yêu cầu của xã hội đặt ra với ngành giáo dục hiện nay là phải đào tạo những con người có năng lực thực hành cao, thích ứng với môi trường năng động của xã hội hiện đại. Vì vậy nhiệm vụ ở nhà trường phổ thông không chỉ trang bị cho học sinh về kiến thức lý thuyết mà phải giúp các em phát triển năng lực thực hành. Đối với bộ môn lịch sử yêu cầu đặt ra là phải phát triển cho học sinh năng lực thực hành bộ môn cũng như năng lực thực hành trong cuộc sống. Do đó, trong kiểm tra phải có những câu hỏi nhằm phát triển kỹ năng cũng như là kiểm tra kỹ năng của học sinh.
Ví dụ sau khi học xong bài 22 “Nhân dân hai miền trực tiếp chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược. Nhân dân miền Bắc vừa chiến đấu vừa sản xuất (1965- 1973)” giáo viên có thể đưa ra câu hỏi kiểm tra như sau:
“Em hãy lập bảng so sánh hai chiến lược “chiến tranh cục bộ” và “Việt Nam hóa chiến tranh” do Mỹ tiến hành ở miền Nam Việt Nam từ 1965 đến 1973?” Khóa luận: Biện pháp đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh.
Với câu hỏi trên giáo viên sẽ kiểm tra được kỹ năng thực hành lập bảng so sánh của học sinh. Trên cơ sở đó đánh giá kỹ năng của học sinh và có biện pháp điều chỉnh thích hợp với từng đối tượng học sinh.
- Nội dung kiểm tra, đánh giá phải thể hiện yêu cầu về giáo dục, tư tưởng, tình cảm của học sinh.
Lịch sử là môn học có ưu thế và nhiệm vụ trong việc giáo dục thế hệ trẻ. Những con người và những sự kiện, hiện tượng thực trong quá khứ có sức tuyết phục và có sức rung cảm mạnh mẽ với thế hệ trẻ. Những sự kiện đó trước hết giáo dục cho thế hệ trẻ lý tưởng, trách nhiệm của mình đối với đất nước, lòng tự hào trước những chiến công của cha anh, những thành tựu vật chất tinh thần mà cha ông để lại, qua đó khơi dậy tinh thần lao động sáng tạo, ý thức bảo vệ di sản văn hóa của dân tộc… Chính vì vậy, trong kiểm tra, đánh giá cũng cần có những câu hỏi mang nội dung giáo dục.
Ví dụ, sau khi học xong bài 22 “Nhân dân hai miền trực tiếp chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược. Nhân dân miền Bắc vừa chiến đấu vừa sản xuất (1965- 1973)” giáo viên có thể đưa ra câu hỏi như sau:
“Em có suy nghĩ gì về tinh thần chiến đấu của quân dân miền Bắc trong 12 ngày đêm cuối năm 1972?”
Trả lời câu hỏi này học sinh không những phải nắm được về cơ bản sự kiện chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” mà còn phải hiểu được ý nghĩa lịch sử to lớn của sự kiện này. Qua câu trả lời của học sinh giáo viên sẽ đánh giá được nhận thức của học sinh về cuộc chiến tranh phi nghĩa của đế quốc Mỹ ở Việt Nam mà đặc biệt là hành động bắn phá miền Bắc năm 1972, học sinh cũng phải thấy được tinh thần chiếu đấu anh dũng của nhân dân ta quyết tâm bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa.
Tóm lại, một đề kiểm tra được coi là toàn diện về nội dung khi nó đảm bảo được yêu cầu về chuẩn kiến thức, kỹ năng và thái độ. Ba mục tiêu đó trong dạy học lịch sử có mối quan hệ biện chứng với nhau. Nhiệm vụ giáo dục và phát triển chỉ có thể hình thành trên cơ sở nắm vững kiến thức đồng thời chính việc hoàn thành nhiệm vụ giáo dục và phát triển sẽ giúp học sinh nắm vững kiến thức hơn. Vì vậy, đổi mới kiểm tra, đánh giá về mặt nội dung là phải đánh giá toàn diện cả ba mặt trên.
2.3.3. Kết hợp nhuần nhuyễn, đa dạng các hình thức kiểm tra đánh giá. Khóa luận: Biện pháp đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh.
Vấn đề đổi mới về hình thức kiểm tra, đánh giá đã trở thành yêu cầu bức thiết nhằm nâng cao chất lượng dạy học bộ môn. Trên cơ sở lý luận dạy học hiện đại và những yêu cầu của thực tế chúng tôi đề xuất một số hình thức kiểm tra, đánh giá theo yêu cầu đổi mới như sau:
2.3.3.1. Tăng cường hoạt động tự kiểm tra, đánh giá của học sinh kết hợp với kiểm tra, đánh giá của giáo viên.
Quá trình dạy học là quá trình thống nhất giữa hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò. Đây là một quá trình hoạt động luôn luôn thay đổi, phát triển và có mối liên hệ xuôi- ngược. Việc truyền đạt thông tin của giáo viên tới học sinh là con đường liên hệ xuôi. Trong quá trình học tập học sinh thu được hai tín hiệu ngược là nhờ kết quả kiểm tra, đánh giá do giáo viên tiến hành (liên hệ ngược ngoài) và tự kiểm tra, đánh giá của mình (liên hệ ngược trong). Do vậy, học sinh cần tận dụng việc kiểm tra, đánh giá của thầy, đồng thời tiến hành có hệ thống việc tự kiểm tra, đánh giá của mình để củng cố và hiểu sâu sắc hơn kiến thức như:
- Tái hiện lại kiến thức lịch sử đã học
Tái hiện là quá trình làm sống lại nội dung đã được ghi nhớ và giữ gìn”. Quá trình tái hiện những kiến thức lịch sử được biểu hiện dưới ba hình thức: nhận lại, nhớ lại và hồi tưởng. Qua tái hiện học sinh tự kiểm tra được trình độ kiến thức của bản thân để tự khắc phục, tái hiện kiến thức thể hiện bằng các hoạt động sau:
- Tự lập và nhớ lại dàn ý bài học.
Ví dụ: Học xong tiết 2 của bài 23 “Khôi phục và phát triển kinh tế- xã hội ở miền Bắc, giải phóng hoàn toàn miền Nam (1973- 1975)”, khi học ở nhà, học sinh cần nhớ lại những kiến thức cơ bản của bài thông qua lập dàn ý theo nội dung đã học như: Đảng ta đã căn cứ vào điều kiện lịch sử nào để đề ra kế hoạch giải phóng hoàn toàn miền Nam? Nội dung kế hoạch đó là gì? Diễn biến, kết quả, ý nghĩa của cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975? Nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước? Khóa luận: Biện pháp đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh.
Việc nhớ lại và lập dàn ý của bài học đã giúp cho học sinh tái hiện lại những kiến thức được tiếp thu trên lớp, củng cố lại một lần nữa để các em nhớ sâu và hiểu kỹ hơn.
- Hình dung nhớ lại những sự kiện, khái niệm theo dàn ý đã lập.
- Tự trình bày hoặc trao đổi với bạn về dàn ý đã lập.
Sau khi nhớ lại những nội dung cơ bản của bài đã học theo dàn ý đã lập, học sinh sẽ tiến hành tự trình bày hoặc trao đổi với bạn những nội dung kiến thức đó. Hoạt động này vừa có tác dụng củng cố lại những kiến thức đã tiếp thu một cách sâu sắc vừa rèn luyện cho học sinh tính tự giác học tập và khả năng trình bày, lập luận những vấn đề lịch sử.
- Tự giải quyết bài tập về nhà do giáo viên đưa ra.
Theo như ý kiến của các giáo viên ở trường THPT thì ra bài tập và hướng dẫn học sinh làm bài tập về nhà là một hình thức giúp các em tự kiểm tra, đánh giá. Khi điều tra học sinh chúng tôi cũng nhận thấy có 76/200 học sinh coi hoàn thành bài tập do giáo viên đặt ra là một hình thức tự kiểm tra, đánh giá.
Hoàn thành các bài tập về nhà sẽ giúp học sinh nắm vững các kiến thức đã học và rèn luyện được các kỹ năng, kỹ xảo. Để có thể làm tốt bài tập học sinh trước hết cần xác định được yêu cầu cụ thể của bài tập, sau đó nghiên cứu lại sách giáo khoa hoặc tìm tài liệu tham khảo (nếu có) theo sự định hướng của giáo viên rồi mới tiến hành làm bài tập (nếu bài tập là câu hỏi tự luận thì cần thiết phải lập đề cương sau đó mới viết).
Ví dụ: sau khi học xong bài 21 lịch sử lớp 12 “Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh chống đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam (1954- 1965)” giáo viên có thể đưa ra hệ thống bài tập về nhà cho học sinh như sau:
Tại Hội nghị chính trị đặc biệt (27/3/1964), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định sau 10 năm khôi phục, cải tạo: “miền Bắc nước ta đã tiến những bước dài chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc. Đất nước, xã hội, con người đều đổi mới”. Bằng những sự kiện lịch sử có chọn lọc anh (chị) hãy chứng minh câu nói trên.
Học sinh phải độc lập suy nghĩ dưới sự hướng dẫn của giáo viên đề hoàn thành bài tập. Khi làm bài tập học sinh sẽ tái hiện lại được những kiến thức cơ bản đã được tiếp thu đồng thời vận dụng các kiến thức đó để giải quyết yêu cầu của đề bài ra.
- Tập trả lời những câu hỏi trong sách giáo khoa
Các câu hỏi ở cuối mỗi mục, mỗi bài là một bộ phận kênh chữ trong sách giáo khoa, nó chính là sự thể hiện kiến thức cơ bản mà giáo viên và học sinh cần lưu ý. Khóa luận: Biện pháp đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh.
Học sinh tự trả lời câu hỏi trong sách giáo khoa ở cuối mỗi mục, mỗi bài nhằm rèn luyện cho mình khả năng tái hiện, tưởng tượng, ghi nhớ nhất là khả năng tư duy và trình bày một vấn đề lịch sử. Để thực hiện hình thức tự kiểm tra, đánh giá này học sinh cần tiến hành các công việc sau:
- Xác định yêu cầu của câu hỏi.
Xác định nội dung của câu trả lời có trong sách giáo khoa và các tài liệu tham khảo. Học sinh phải nghiên cứu lại sách giáo khoa hay tài liệu tham khảo để xem phần kiến thức cần áp dụng để trả lời câu hỏi. Làm như vậy mới có cơ sở để trả lời câu hỏi một cách chính xác và khoa học nhất.
- Dự kiến các câu trả lời dưới dạng dàn ý: đây là một thao tác rất quan trọng, bởi nó phát triển cho học sinh tư duy logic. Dàn ý được lập càng chi tiết thì việc trả lời càng chính xác rõ ràng.
- Tái hiện những kiến thức có liên quan để trả lời. Sau khi đã có được dàn ý sơ lược hay chi tiết, học sinh lần lượt vận dung các kiến thức đã tiếp thu để trả lời câu hỏi.
- Tập trình bày câu trả lời dưới dạng một vấn đề lịch sử.
- Ví dụ “Miền Bắc đã thực hiện nghĩa vụ hậu phương lớn như thế nào đối với tiền tuyến lớn miền Nam từ năm 1965 đến năm 1973?”
Học sinh cần lần lượt thực hiện các thao tác sau:
- Xác định yêu cầu của câu hỏi: khái quát lại những thành tựu trong việc chi viện cho miền Nam từ năm 1965- 1973 của miền Bắc.
- Nội dung để trả lời câu hỏi trong sách giáo khoa và bài giảng của giáo viên.
Dàn ý:
1965- 1969: miền Bắc đã đưa hơn 30 vạn cán bộ, bộ đội vào miền Nam chiến đấu, gửi vào miền Nam hàng chục vạn tấn vũ khí, đạn dược, quân trang quân dụng, lương thực, thực phẩm… Khóa luận: Biện pháp đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh.
1969- 1971: miền Bắc vẫn đảm bảo tiếp nhận viện trợ từ bên ngoài và chi viện theo yêu cầu của miền Nam: trong 3 năm hàng chục vạn thanh niên nhập ngũ trong đó có 60% bổ sung cho chiến trường miền Nam và cho các chiến trường Lào, Campuchia; khối lượng vận chất đưa vào miền Nam trong 3 năm tăng gấp 1,6 lần 3 năm trước đó.
1972: có 22 vạn thanh niên miền Bắc được bổ sung cho chiến trường miền Nam và hàng chục vạn khối lượng vật chất.
Sau khi đã lập được dàn ý chi tiết trên, học sinh tiếp tục tái hiện lại tri thức đã học và tập trình bày một vấn đề lịch sử sao cho trôi chảy, logic chặt chẽ. Như vậy, tập trả lời câu hỏi trong sách giáo khoa là một biện pháp tự kiểm tra, đánh giá của học sinh rất có hiệu quả.
Việc tự kiểm tra, đánh giá của học sinh có liên quan chặt chẽ đến việc tự học. Việc tự học này phụ thuộc rất lớn ở thái độ học tập, sự nỗ lực của từng học sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Trong quá trình dạy học giáo viên cần thực hiện việc kiểm tra, đánh giá tri thức của học sinh đồng thời học sinh cũng phải thường xuyên tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của mình.
2.3.3.2. Sử dụng bài tập về nhà nhằm kiểm tra, đánh giá học sinh và giúp học sinh tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của bản thân.
Thực tế dạy học từ trước tới nay cả giáo viên và học sinh đều quan niệm rằng học lịch sử thì không cần bài tập, nếu có thì chỉ là những câu hỏi có tính hình thức mà không chú ý tới việc ra các bài tập thật sự phát triển hoạt động nhận thức độc lập của học sinh.
Xây dựng và sử dụng các dạng bài tập lịch sử trong dạy học lịch sử có vai trò quan trọng trọng việc củng cố tri thức lịch sử cho học sinh. Nó là một trong những biện pháp phát triển năng lực nhận thức độc lập, trong đó đặc biệt là tư duy độc lập, sáng tạo của các em. Sử dụng các dạng bài tập còn là hình thức quan trọng để kiểm tra, đánh giá và tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh. Bởi khi hoàn thành bài tập học sinh sẽ tự nhận thấy những thiếu sót của mình còn giáo viên sẽ nắm bắt được trình độ nhận thức của học sinh. Khóa luận: Biện pháp đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh.
Bài tập lịch sử không phải là lời dặn dò chung chung của giáo viên vào cuối giờ học mà nó mang nội dung rộng và đòi hỏi tư duy, trí tuệ của học sinh.
Bài tập lịch sử được xây dựng trên cơ sở một số sự kiện quan trọng, một số bài học, một chương hay một quá trình học tập. Nó khơi dậy tư duy của học sinh ở vùng phát triển gần nhất đồng thời nó lại yêu cầu cao đối với các em nhằm khắc sâu, củng cố vững chắc bài học và hoàn thiện kiến thức.
Bài tập lịch sử rất đa dạng và phong phú, có thể phân chia thành: bài tập nhận thức, bài tập thực hành bộ môn, bài tập trắc nghiệm…Trong dạy học lịch sử có thể sử dụng một số loại bài tập về nhà như sau:
- Bài tập dưới dạng câu hỏi tổng hợp
Nội dung loại bài tập này không phải là sao chép lại những gì đã học trên lớp mà phải yêu cầu học sinh xem xét lại những sự kiện đã học những đặt trong mối quan hệ khác, đòi hỏi phát hiện thêm một khía cạnh mới của vấn đề hoặc làm cho kiến thức đã biết thêm sâu sắc:
Ví dụ: sau khi nghiên cứu xong về “Hiệp định Pari năm 1973 về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam” trong tiết 2 bài 22 lịch sử lớp 12 giáo viên có thể đưa ra bài tập về nhà cho học sinh như sau:
“Hãy so sánh Hiệp định Giơnevơ 1954 và Hiệp định Pari 1973 để thấy được bước phát triển của cách mạng Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ?”
Bài tập không chỉ yêu cầu học sinh phải tái hiện được những nội dung của Hiệp định Giơnevơ và Hiệp định Pari mà qua đó các em phải phân tích, so sánh để thấy được bước phát triển thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Khi học sinh tự giải quyết bài tập này thực chất đã là một quá trình học sinh tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của các em. Đồng thời giáo viên cũng phải kiểm tra, đánh giá việc hoàn thành các bài tập đã giao cho học sinh.
- Bài tập nhằm rèn kỹ năng thực hành, hệ thống khái quát hóa kiến thức và vận dụng kiến thức.
Bài tập lập niên biểu nhằm giúp học sinh hệ thống hóa kiến thức như nêu lên những sự kiện quan trọng theo trình tự thời gian, so sánh các sự kiện để rút ra các dấu hiện bản chất, sự khác biệt giữa chúng. Tùy theo nội dung lịch sử cụ thể mà giáo viên yêu cầu học sinh lập niên biểu tổng hợp, chuyên đề hay so sánh. Khóa luận: Biện pháp đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh.
Ví dụ, Sau khi học xong bài 23 “Khôi phục và phát triển kinh tế- xã hội ở miền Bắc, giải phóng hoàn toàn miền Nam (1973- 1975)”, giáo viên yêu cầu học sinh về nhà làm bài tập sau:
“Hãy lập bảng niên biểu về diễn biến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975”
- Bài tập vẽ bản đồ, lược đồ.
Bản đồ, lược đồ là một nguồn cung cấp kiến thức mới, củng cố ôn tập kiến thức đã học, giúp học sinh phát triển tư duy, khả năng hoạt động độc lập. Vì thế loại bài này rất quan trọng đối với học sinh.
Ví dụ, Sau khi học xong bài 21 “Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh chống đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam (1954- 1965)” giáo viên có thể yêu cầu học sinh về nhà vẽ “Lược đồ phong trào Đồng Khởi 1959- 1960 ở miền Nam và tô màu các ký hiệu đúng với bản đồ Lịch sử”
- Bài tập trắc nghiệm khách quan.
Ngoài các bài tập có tính truyền thống như đã nêu trên, trong thời gian gần đây, lý luận dạy học hiện đại đã đề cập tới việc xây dựng các loại bài tập trắc nghiệm (test) trong dạy học lịch sử. Các bài tập trắc nghiệm trong dạy học lịch sử cũng được xây dựng dựa vào việc khai thác và sử dụng một cách đa dạng các nguồn kiến thức, các khía cạnh khác nhau của tri thức lịch sử. Do đó bài tập trắc nghiệm góp phần phản ánh, đánh giá khá chân thực và chính xác việc tiếp nhận, lưu giữ các kiến thức lịch sử của học sinh và là một phương tiện kiểm tra, đánh giá tri thức của học sinh rất tốt.
Bài tập trắc nghiệm đảm bảo tính khách quan rất tốt, giúp giáo viên kiểm tra được đầy đủ các kiến thức đã dạy đồng thời gây được hứng thú và phát triển tính tích cực học tập của học sinh.
- Ví dụ:
Hãy khoanh tròn chữ in hoa trước ý trả lời đúng? Khóa luận: Biện pháp đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh.
- Nội dung nào không phải là mục tiêu cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam trong những ngày đầu chống Mỹ- Diệm?
- Đòi thi hành hiệp định Giơnevơ.
- Bảo vệ hòa bình.
- Giữ gìn và phát triển lực lượng cách mạng.
- Lật đổ chính quyền Mỹ- Diệm.
Bài tập về nhà thường được nêu ra vào cuối giờ học. Nó chỉ thực sự có kết quả khi tiếp tục bồi dưỡng củng cố kiến thức đã học góp phần phát triển và giáo dục tư tưởng đạo đức cho học sinh.
Như vậy, việc đưa ra các bài tập về nhà có chất lượng yêu cầu học sinh phải hoàn thành đòi hỏi giáo viên phải đầu tư suy nghĩ, tìm tòi sáng tạo. Nội dung của bài tập cần hướng vào những nội dung quan trọng của bài học để giúp học sinh tự kiểm tra, đánh giá việc lĩnh hội kiến thức của mình. Đồng thời nội dung bài tập phải nhằm phát huy tư duy độc lập, sáng tạo của học sinh dựa trên các sự kiện cơ bản của sách giáo khoa, tìm tòi các tài liệu tham khảo kết hợp với bài giảng của thầy nhằm nắm vững kiến thức hơn.
2.3.3.4. Xây dựng hồ sơ học tập để đánh giá kết quả học tập của học sinh.
Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh không chỉ là sự đánh giá ở một thời điểm nhất định mà để đánh giá được chính xác thì phải theo dõi học sinh qua cả một quá trình học tập. Do đó, để đổi mới hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh giáo viên có thể xây dựng hồ sơ học tập nhằm theo dõi quá trình học của học sinh. Thực chất của việc lập hồ sơ học tập là “thu thập và đánh giá các sản phẩm của học sinh một cách hệ thống nhằm tài liệu hóa quá trình hướng tới đạt được các mục tiêu học tập hay để chứng tỏ mục tiêu học tập đã đạt được” .[6; tr.107]
Việc sử dụng phương pháp lập hồ sơ học tập trong học lịch sử có tác dụng rất tốt góp phần đánh giá kết quả học tập toàn diện của học sinh:
Thông qua lập hồ sơ học tập giáo viên theo dõi được quá trình học tập và sự tiến bộ của học sinh ở các thời điểm. Nếu chỉ đánh giá kết quả học tập của học sinh thông qua kiểm tra, giáo viên chỉ đánh giá được ở thời điểm nhất định còn với hồ sơ học tập giáo viên sẽ theo dõi được sự tiến bộ từng bước của học sinh. Với hồ sơ học tập người giáo viên sẽ thấy được quá trình học tập của học sinh và đó là cơ sở cho việc đánh giá một cách chính xác nhất tránh những đánh giá sai lệch khi chỉ dựa trên một bài kiểm tra. Khóa luận: Biện pháp đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh.
Ngoài ra, hồ sơ học tập được xem là một bản kế hoạch học tập của cá nhân, trong đó học sinh thể hiện đúng năng lực của mình thông qua việc thực hiện những yêu cầu cụ thể của hồ sơ học tập. Hoàn thành hồ sơ học tập cũng tức là các em đã thực hiện quá trình tự học của mình. Học sinh có thể tự đánh giá kết quả của mình dựa trên hồ sơ học tập. Vì vậy, hồ sơ học tập có vai trò thúc đẩy, phát huy tính tích cực, tự giác của học sinh.
Với vai trò to lớn đó, việc xây dựng hồ sơ học tập để đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh là rất cần thiết. Điều này cũng đã được các giáo viên nhận thức một cách đúng đắn. Khi tiến hành điều tra thực tế với giáo viên ở các trường trung học phổ thông thì 100% các giáo viên cho rằng nên lập hồ sơ học tập để đánh giá học sinh. Theo một số giáo viên thì thông qua hồ sơ học tập giáo viên sẽ nắm bắt được quá trình chuyển biến trong học tập của học sinh từ đó có những biện pháp sư phạm thích hợp để giúp đỡ các em. Tuy nhiên các giáo viên cũng cho rằng với thực tế dạy học hiện nay, một giáo viên phải dạy rất nhiều lớp, có tới vài trăm học sinh nên việc thực hiện phương pháp lập hồ sơ học tập là rất khó khăn. Đồng thời nhiều giáo viên còn lúng túng trong quy trình lập hồ sơ học tập sao cho hoàn thiện cả về nội dung và hình thức.
Có thể thấy rằng, việc lập hồ sơ học tập có vai trò quan trọng và nếu thực hiện được nó sẽ góp phần rất lớn trong việc đổi mới khâu kiểm tra, đánh giá. Ta có thể lập hồ sơ học tập theo một quy trình như sau:
- Bước 1: Xác định mục tiêu lập hồ sơ học tập:
Hồ sơ học tập được lập ra để đánh giá sự hiểu biết, đánh giá các sản phẩm, kỹ năng và các mục tiêu kỹ năng lập luận: viết, giải quyết vấn đề của học sinh. Thông qua hồ sơ giáo viên đánh giá quá trình tự học, tự làm việc của học sinh. Vì vậy, nội dung, mẫu hồ sơ mà học sinh làm phải có sự chuẩn hóa do giáo viên lựa chọn.
Ví dụ, Hồ sơ học tập lịch sử lớp 12 được giáo viên yêu cầu học sinh lập từ đầu năm học với mục tiêu chủ yếu là giúp giáo viên theo dõi và đánh giá quá trình học tập lịch sử lớp 12 của học sinh. Trong giai đoạn lịch sử Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975 những dữ kiện trong hồ sơ học tập của học sinh phải giúp giáo viên đánh giá được các kỹ năng của học sinh trong việc thu thập tư liệu lịch sử, khả năng tư duy, sáng tạo của các em. Đồng thời qua các bài viết của học sinh cũng giúp giáo viên đánh giá khả năng viết và giải quyết vấn đề lịch sử của các em. Hồ sơ học tập còn là một biện pháp quan trọng để giáo viên hướng dẫn và kiểm tra quá trình tự học của học sinh. Khóa luận: Biện pháp đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh.
- Bước 2: Xác định cấu trúc của hồ sơ học tập:
Hồ sơ học tập phải phù hợp với việc dạy học ở trường phổ thông. Hồ sơ là một phần thường xuyên gắn với quá trình học tập. Các tài liệu bên trong hồ sơ được sắp xếp theo trình tự thời gian của nội dung bài học hoặc theo chủ đề.
Ví dụ, trong giai đoạn lịch sử Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975 các tài liệu trong hồ sơ học tập được sắp xếp theo trình tự nội dung bài học. Cụ thể nó được sắp xếp như sau:
- Bài 21 “Xây dựng chủ nghĩa xã hội miền Bắc, đấu tranh chống đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam (1954- 1965)”
- Bài 22 “Nhân dân hai miền trực tiếp chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược. Nhân dân miền Bắc vừa chiến đấu vừa sản xuất (1965- 1973)”
- Bài 23 “ Khôi phục và phát triển kinh tế- xã hội ở miền Bắc, giải phóng hoàn toàn miền Nam (1973- 1975)’
Bố cục từng bài trong hồ sơ học tập chia một cách rõ ràng thành hai phần: cách mạng miền Nam và cách mạng miền Bắc.
- Bước 3: Xác định nguồn nội dung, đưa nội dung vào hồ sơ học tập:
Nội dung trong hồ sơ học tập gồm các mẫu bài lấy ngay từ hoạt động giảng dạy và phần đánh giá của học sinh và giáo viên. Học sinh tự viết bài nhận xét, phát biểu suy nghĩ, đánh giá của mình về sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử… sưu tầm tranh ảnh liên quan bài học để đưa vào hồ sơ theo sự hướng dẫn của giáo viên. Trong học sinh còn phải lưu giữ các bài kiểm tra của học sinh theo thời gian để tiện cho việc giáo viên theo dõi, đánh giá quá trình học tập của học sinh.
Ví dụ, hồ sơ học tập phần lịch sử Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975 được sắp xếp theo các bài như trên bao gồm các nội dung cụ thể sau: Khóa luận: Biện pháp đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh.
- Các bài kiểm tra của học sinh trong thời gian học phần lịch sử Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975.
- Các tư liệu về lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954- 1975 bao gồm: tranh ảnh lịch sử, các đoạn phim tư liệu (nếu có điều kiện), các bản đồ, lược đồ lịch sử …
- Bài viết của học sinh về các chiến thắng của quân và dân ta đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ ở miền Nam và thành tựu trong lao động sản xuất và chiến đấu ở miền Bắc.
Ví dụ, học sinh có thể viết bài cảm nhận về Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” của quân dân Hà Nội trong 12 ngày đên cuối năm 1972.
Về bài viết học sinh có thể tự chọn sự kiện hay theo sự yêu cầu của giáo viên.
- Bước 4: Hướng dẫn học sinh lập các tiêu chí chấm điểm và tự đánh giá:
Giáo viên cần xây dựng các tiêu chí giúp học sinh tự đánh giá trước khi thực hiện hồ sơ học tập. Sau khi lập hồ sơ học tập giáo viên cần hướng dẫn học sinh tự đánh giá theo các tiêu chí đó. Đồng thời để đảm bảo chất lượng và tính trung thực của hồ sơ giáo viên phải là người chịu trách nhiệm cuối cùng trong việc thực hiện lập hồ sơ học tập và đánh giá hồ sơ học tập.
Ví dụ, trước khi lập hồ sơ học tập, giáo viên giúp học sinh đưa ra các tiêu chí đánh giá về các mặt như nội dung, số lượng tư liệu và hình thức của tư liệu trong hồ sơ, hình thức trình bày hồ sơ, ý thức làm hồ sơ…Trong đó về mặt nội dung các bài viết của học sinh phải do giáo viên trực tiếp đánh giá. Có thể cho thang điểm 100 trong đó nội dung hồ sơ là 40 điểm, tư liệu và hình thức tư liệu là 30 điểm và hình thức, phương pháp trình bày hồ sơ là 30 điểm.
- Bước 5: Đánh giá hồ sơ học tập của học sinh: Khóa luận: Biện pháp đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh.
Sau khi lên kế hoạch lập hồ sơ và tiến hành lập hồ sơ đã hoàn tất, giáo viên đánh giá hồ sơ học tập của học sinh cũng chính là đánh giá quá trình tự học, tự rèn luyện của các em. Việc đánh giá hồ sơ học tập của học sinh dựa trên cơ sở xem xét sự hiểu biết về hồ sơ và cách sử dụng hồ sơ của học sinh, số lượng bài viết, tranh ảnh… Dựa trên tiêu chí đánh giá và dựa vào sự tự đánh giá của học sinh giáo viên tiến hành đánh giá hồ sơ học tập của học sinh. Kết quả đánh giá hồ sơ học tập cùng với việc giảng dạy trên lớp là sự phản ánh đúng kết quả quá trình học tập của học sinh.
Vú dụ, trong hồ sơ học tập lịch sử lớp 12, giáo viên dựa trên các tiêu chí đánh giá đã nêu cho học sinh để hướng dẫn học sinh tự đánh giá. Có thể đánh giá qua ba lần như sau: học sinh tự đánh giá sau đó bạn bè đánh giá và người cuối cùng đánh giá là giáo viên. Với cách đánh giá qua ba lần đó, giáo viên vừa giúp học sinh rèn luyện khả năng tự kiểm tra, tự đánh giá của mình vừa nâng cao được ý thức học tập của các em và đảm bảo tính khách quan khi đánh giá.
- Bước 6: Trả lại hồ sơ học tập cho học sinh hoặc nhà trường sau khi đánh giá.
Sau khi giáo viên đã đánh giá hồ sơ học tập của học sinh cần thiết phải trả lại để học sinh thấy được kết quả học tập của mình từ đó có những thay đổi cho phù hợp hơn. Điều này sẽ kích thích được khả năng ham học hỏi và ý chí vươn lên trong học tập của học sinh.
Như vậy sử dụng việc lập hồ sơ học tập có vai trò và tác dụng rất tốt đối với việc đánh giá khả năng tự học, tự rèn luyện của học sinh, góp phần tạo động cơ, hứng thú học tập và nâng cao chất lượng học tập lịch sử của học sinh.
2.3.4 Kết hợp phương pháp kiểm tra, đánh giá bằng câu hỏi tự luận với phương pháp kiểm tra, đánh giá bằng câu hỏi trắc nghiệm khách quan. Khóa luận: Biện pháp đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh.
Việc kết hợp nhuần nhuyễn các phương pháp kiểm tra, đánh giá là một biện pháp để đổi mới khâu kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh. Trong đó việc sử dụng triệt để phương pháp trắc nghiệm được coi là một biện pháp có hiệu quả nhất.
Trắc nghiệm trong giáo dục “là một phương pháp đo để thăm dò một số đặc điểm năng lực trí tuệ của học sinh (chú ý, tưởng tượng, ghi nhớ, thong minh, năng khiếu…) hoặc để kiểm tra, đánh giá một số kiến thức, kỹ năng kỹ xảo, thái độ của học sinh” [22; tr.37].
- Trắc nghiệm được chia làm hai loại: Trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan.
Câu hỏi tự luận có ưu thế trong việc đo được trình độ của học sinh về lập luận bởi bài tự luận yêu cầu học sinh thu thập, phân tích, giải thích các thông tin phức tạp, đưa ra sự đánh giá và tiến hành lập luận. Câu hỏi tự luận có thể sử dụng trong cả hình thức kiểm tra miệng và kiểm tra viết.
Tự luận là phương pháp rất có hiệu quả để đánh giá mức độ hiểu sâu, khả năng nắm bắt thông tin phức tạp của học sinh, rèn cho học sinh khả năng trình bày, diễn đạt vấn đề lịch sử. Đồng thời câu hỏi tự luận cũng đo được cảm xúc của học sinh qua cách trả lời. Đề kiểm tra với dạng câu hỏi tự luận thường ra dễ chuẩn bị và mất ít thời gian hơn so với các loại câu trắc nghiệm khách quan.
Tuy nhiên loại câu hỏi này cũng có nhiều hạn chế. Nội dung câu hỏi đề cập đến không nhiều nên khó đánh giá được người học với toàn bộ chương trình. Việc chấm bài tự luận thường khó khăn và tốn nhiều thời gian, việc xác định các tiêu chí đánh giá cũng khó hơn trắc nghiệm khách quan, trong quá trình chấm điểm có nhiều yếu tố làm thiên lệch điểm số.
Trắc nghiệm khách quan là hệ thống câu hỏi, bài tập đòi hỏi các câu trả lời ngắn để đo kỹ năng, kỹ xảo, năng lực các nhân hay một nhóm học sinh. Bài kiểm tra, đánh giá được coi là khách quan vì hệ thống cho điểm là khách quan không phụ thuộc vào người chấm.
Có rất nhiều hình thức đặt câu hỏi, bài tập trắc nghiệm khách quan:
- Câu hỏi, bài tập yêu cầu xác định đúng sai.
- Câu hỏi bài tập đòi hỏi học sinh phải lựa chọn câu trả lời đúng.
- Câu hỏi bài tập đòi hỏi học sinh phải biết xác lập mối quan hệ giữa các yếu tố được nêu.
- Câu hỏi bài tập đòi hỏi học sinh điền vào chỗ trống.
- Câu hỏi bài tập phân loại.
- Câu hỏi bài tập đòi hỏi học sinh làm việc với đồ dùng trực quan.
Sử dụng hình thức trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra, đánh giá có những ưu điểm và hạn chế sau:
Kiểm tra, đánh giá bằng câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong một thời gian ngắn giáo viên có thể kiểm tra được nhiều nội dung kiến thức, kết quả đánh giá khách quan, chính xác. Nó vừa tiết kiệm được thời gian cho học sinh lại vừa tiết kiệm công sức chấm bài của giáo viên. Hơn nữa với trắc nghiệm khách quan giáo viên có thể sử dụng phương tiện kỹ thuật hiện đại vào dạy học bằng cách chấm điểm bằng máy tính. Hình thức kiểm tra này còn có tác dụng tích cực trong việc gây hứng thú học tập cho học sinh phát huy tính tích cực của các em. Khóa luận: Biện pháp đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh.
Tuy nhiên loại bài này chỉ đo được kết quả chứ không đo được quá trình dẫn đến kết quả, cũng khó đánh giá được một cách chuẩn xác các biện pháp cảm xúc, khả năng sáng tạo của học sinh. Bài kiểm tra không thể hiện được bản sắc, khả năng riêng của học sinh trong việc nhận thức, trình bày, diễn đạt và giải quyết vấn đề. Mặt khác cũng có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới kết quả kiểm tra như may rủi, quay cóp.
Do mỗi loài câu hỏi tự luận hay trắc nghiệm khách quan có những ưu điểm cần phát huy và nhược điểm cần khắc phục riêng nên trong quá trình kiểm tra, đánh giá cần kết hợp cả hai phương pháp này để đạt hiệu quả cao nhất.
2.3.4.1. Đối với kiểm tra miệng.
Khi muốn kiểm tra việc chuẩn bị bài của học sinh ở nhà hoặc kiểm tra hoạt động nhận thức của các em giáo viên có thể sử dụng kiểm tra miệng bằng phương pháp kết hợp câu hỏi tự luận cho một học sinh và câu hỏi trắc nghiệm cho học sinh toàn lớp.
Khi kiểm tra giáo viên cần thu hút sự chú ý của học sinh toàn lớp để các em tích cực chủ động làm việc cho nên câu hỏi đặt ra khi kiểm tra miệng phải chuẩn bị cẩn thận. Câu hỏi phải chính xác rõ ràng, nội dung câu hỏi không chỉ giới hạn ở việc ghi nhớ mà phải buộc học sinh phải suy nghĩ, phân tích, khái quát các sự kiện để rút ra kết luận.
Trong lúc kiểm tra miệng, tất cả học sinh phải chú ý, vì vậy cần yêu cầu các em không được giở sách giáo khoa mà phải theo dõi để nhận xét, bổ sung câu trả lời của bạn.
Ví dụ: Sau khi nghiên cứu xong bài 23 “Khôi phục và phát triển kinh tế- xã hội ở miền Bắc. Giải phóng hoàn toàn miền Nam (1973- 1975)” giáo viên có thể kiểm tra miệng ở đầu giờ bằng cách Gọi 1 học sinh lên bảng điền tiếp vào bảng sau những chiến thắng tiêu biểu của cách mạng miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954- 1975)
- Các em khác trong lớp chú ý theo dõi và kẻ bảng vào trong vở.
Một học sinh khác lên bảng trả lời câu hỏi “Thông qua bảng trên hãy chọn và phân tích ý nghĩa của một chiến thắng theo em là quan trọng nhất?” Khóa luận: Biện pháp đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh.
Khi học sinh trả lời giáo viên chú ý theo dõi và nhắc nhở các học sinh khác nhắc bài bạn.
Cuối cùng khi học sinh trả lời và làm bài xong giáo viên gọi các học sinh khác trong lớp nhận xét và bổ sung phần trả lời của 2 bạn sau đó giáo viên đưa ra nhận xét và cho điểm từng phần trả lời.
Việc kiểm tra như trên một mặt giáo viên có thể kiểm tra học sinh trong việc nắm những kiến thức cơ bản của lịch sử miền Nam từ năm 1954 đến năm 1975. Bằng cách lựa chọn những sự kiện cơ bản giáo viên có thể nhận thấy khả năng nắm kiến thức của học sinh, đồng thời giáo viên cũng rèn cho học sinh kỹ năng hoàn thành bảng niên biểu bởi những sự kiện được chọn đưa vào trong bảng phải hết sức tiêu biểu, được trình bày ngắn gọn. Bên cạnh đó, câu hỏi thứ hai yêu cầu học sinh phải suy nghĩ, tư duy để tìm ra chiến thắng quan trọng nhất và phân tích được ý nghĩa của chiến thắng đó. Qua câu trả lời giáo viên có thể biết được nhận thức của học sinh về các chiến thắng của quân dân miền Nam từ năm 1954 đến năm 1975.
Như vậy, phương pháp kiểm tra trên giúp giáo viên trong thời gian ngắn kiểm tra được nhiều học sinh, quản lý được lớp không còn tình trạng một học sinh trả lời còn các học sinh khác ngồi chơi. Nội dung của câu hỏi kiểm tra vừa giúp giáo viên đánh giá được khả năng nhận biết, hiểu kiến thức của học sinh, vừa giúp giáo viên đo được kỹ năng thực hành và thái độ, tư tưởng của học sinh. Nó đảm bảo sự toàn diện trong nội dung kiểm tra, đánh giá.
2.3.4.2. Đối với kiểm tra 15 phút.
Sau khi học xong một vài bài hoặc một chương giáo viên có thể tiến hành kiểm tra 10- 15 phút. Ở đây giáo viên cần kết hợp câu hỏi trắc nghiệm với câu hỏi tự luận, cần chú ý tới sự vừa sức của câu hỏi đối với học sinh và thời gian làm bài.
Ví dụ: Sau khi học xong bài 21 “ Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh chống đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam (1954- 1965)” giáo viên có thể tiến hành 1 bài kiểm tra 15 phút với nội dung như sau:
- Câu 1 (4 điểm)
Hãy phân loại các nội dung sao cho phù hợp với nhiệm vụ cách mạng ở miền Bắc từ 1954- 1960:
- Câu 2 (6 điểm) Khóa luận: Biện pháp đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh.
Nêu những âm mưu, thủ đoạn mới của Mỹ trong việc thực hiện chiến lược “chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam Việt Nam (1961- 1965)? Theo em thủ đoạn nào được Mỹ sử dụng thể hiện rõ nhất tính chất của chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới? Vì sao?
Câu hỏi thứ nhất của bài kiểm tra sẽ giúp giáo viên đánh giá mức độ nắm kiến thức của học sinh về công cuộc khôi phục kinh tế, cải tạo quan hệ sản xuất ở miền Bắc từ năm 1954 đến năm 1960. Thông qua việc cho học sinh bài trắc nghiệm phân loại giúp rèn luyện kỹ năng làm bài tập thực hành của học sinh.
Với câu hỏi thứ hai, giáo viên trước hết thấy được việc nắm kiến thức của học sinh về âm mưu, thủ đoạn của Mỹ trong việc thực hiện “chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam. Đồng thời để trả lời câu hỏi học sinh không chỉ nắm kiến thức đó mà còn phải so sánh với âm mưu, thủ đoạn của Mỹ ở giai đoạn trước (1954- 1960) để rút ra những điểm mới trong giai đoạn 1961-1965. Đồng thời từ việc nắm được âm mưu thủ đoạn của Mỹ trong “chiến tranh đặc biệt” và hiểu rõ bản chất của chiến tranh thực dân kiểu mới, học sinh phải lựa chọn được thủ đoạn nào là tiêu biểu nhất cho tính chất của chiến tranh thực dân kiểu mới mà Mỹ thực hiện ở miền Nam Việt Nam và lý giải được vì sao lại lựa chọn thủ đoạn đó. Qua kết quả bài kiểm tra thu được giáo viên sẽ đánh giá được mức độ hiểu bản chất cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam của học sinh. Câu hỏi này yêu cầu học sinh phải tư duy trên cơ sở những kiến thức đã học, phân tích và nhận thức đúng đắn.
Qua bài kiểm tra ngắn trên học sinh sẽ nhớ lại được sự kiện, hiện tượng lịch sử đã học, so sánh, phân tích các kiến thức lịch sử đồng thời rèn luyện kỹ năng thực hành cho học sinh. Nội dung kiểm tra vừa sức sẽ giúp giáo viên đo được chính xác kết quả học tập của học sinh ở tại thời điểm nhất định này.
2.3.4.3. Đối với kiểm tra 1 tiết.
Kiểm tra 1 tiết thường được tiến hành sau khi đã học xong 1 phần hay một khóa trình, nhằm tìm hiểu và đánh giá kiến thức chung đã học, làm cơ sở cho việc tiếp thu kiến thức phần sau. Đề kiểm tra đòi hỏi học sinh phải nắm vững một cách hệ thống các kiến thức cơ bản đã học, biết suy nghĩ để trình bày vấn đề đặt ra, kèm theo các kỹ năng thực hành cần thiết. Kiểm tra 1 tiết thường mang tính chất ôn tập, củng cố, bổ sung kiến thức. Do đó đòi hỏi giáo viên khi ra đề kiểm tra nội dung vừa mang tính khái quát lại vừa đòi hỏi tư duy của các em, các câu hỏi đặt ra phải phong phú, cẩn thận có chiều sâu và phù hợp với năng lực của các em.
Đề kiểm tra 1 tiết bao gồm cả phần trắc nghiệm và tự luận nên cần có thang điểm rõ ràng, chia từng ý nhỏ. Khi trả bài cho học sinh giáo viên cần nhận xét những ưu, nhược điểm của các em. Tuyên dương, khen thưởng nhũng em có thành tích tốt và cố gắng. Như vậy, giáo viên vừa đánh giá được học sinh lại khuyến khích được tinh thần hăng say học tập của các em. (Đề kiểm tra 1 tiết được cụ thể trong phần “Ra đề kiểm tra theo quy trình đổi mới”)
2.3.5. Tiến hành ra đề kiểm tra, thi theo quy trình đổi mới. Khóa luận: Biện pháp đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh.
Kiểm tra, đánh giá là một khâu quan trọng không thể thiếu, một biện pháp thiết thực để nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử. Kiểm tra bao gồm nhiều công việc như xác định mục đích, lựa chọn nội dung, phương pháp kiểm tra, xây dựng đề, đáp án, biểu điểm, đánh giá kết quả. Mỗi công việc đều có vị trí vai trò riêng trong đó việc ra đề có vai trò ý nghĩa hết sức quan trọng chi phối đến kết quả thực hiện quá trình kiểm tra. Hiệu quả của việc kiểm tra, đánh giá phụ thuộc vào mục đích, nội dung của các câu hỏi trong đề bài kiểm tra, thi. Đề phải đo được toàn diện kiến thức của học sinh ở ba mức độ biết, hiểu và vận dụng. Đề quá dễ hoặc quá khó thì giáo viên sẽ không nắm được sự phân hóa chính xác trong trình độ của học sinh. Vì vậy, đề kiểm tra, thi phải đảm bảo tính hiệu quả, tính khoa học và độ tin cậy cao.
Hiện nay trong kiểm tra, đánh giá phần lớn giáo viên mới chỉ chú ý tới chức năng đánh giá của kiểm tra mà chưa chú ý tới chức năng phát hiện và điều chỉnh lệch lạc. Đồng thời việc ra đề kiểm tra, thi ở trường phổ thông còn nhiều bất cập, chưa được chú trọng đúng mức, chưa đảm bảo được các yếu tố như độ tin cậy, tính giá trị…Do đó, để đảm bảo công việc ra đề tốt cần thực hiện các yêu cầu sau:
- Xác định được mục tiêu cụ thể của môn học sau một khối lượng kiến thức nhất định, tức là xác định được chuẩn kiến thức, kỹ năng, hướng thái độ.
- Xác định được cấu trúc bài kiểm tra, thi cân đối cụ thể phù hợp với thời gian quy định.
- Nội dung của đề kiểm tra, thi phải đảm bảo trong chương trình học, tính cập nhập, độ dài phải được tuân thủ theo chuẩn, không đánh đố học sinh.
- Việc làm đề kiểm tra, thi phải độc lập, giáo viên trực tiếp tham gia giảng dạy không nên ra đề thi.
- Các câu hỏi, đề kiểm tra, đánh giá phải phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh từng khối lớp có tác dụng phát huy tính tích cực, giáo dục tư tưởng đạo đức cho học sinh.
- Đề kiểm tra, thi phải chứa đựng nội dung rộng bao hàm cả kiến thức giáo viên giảng trên lớp và kiến thức học sinh tự học ở nhà.
Để đổi mới khâu ra đề giáo viên cần thực hiện quy trình ra đề kiểm tra, thi theo yêu cầu đổi mới bao gồm 6 bước như sau:
- Xác định mục đích kiểm tra, đánh giá. Khóa luận: Biện pháp đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh.
Mục đích đánh giá không chỉ là lấy điểm số mà còn nhằm theo dõi củng cố những tri thức đã tiếp thu của học sinh. Nếu làm tốt bước này sẽ giúp ta xác định được nội dung, phương pháp kiểm tra, đánh giá đồng thời giúp giáo viên tránh được sự tùy tiện, chủ quan, đảm bảo cho việc kiểm tra, đánh giá được tốt hơn.
Ví dụ, sau khi học xong chương IV “Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975” lịch sử 12 giáo viên ra đề kiểm tra theo quy trình sau:
Đây là bài kiểm tra được tiến hành sau khi học sinh học hết chương IV “Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975” SGK lịch sử 12 THPT. Tiến hành bài kiểm tra này giáo viên ngoài việc lấy điểm số còn nhằm củng cố, kiểm tra những kiến thức đã tiếp thu của học sinh. Bài kiểm tra đảm bảo sự toàn diện trên cả ba mặt: kiến thức, kỹ năng và thái độ.
- Về kiến thức.
Bài kiểm tra cần đánh giá, củng cố cho học sinh những kiến thức sau:
- Kiểm tra được học sinh biết các vấn đề lịch sử Việt Nam trong giai đoạn 1954- 1975 gồm những nội dung chính là:
Tình hình nước ta sau Hiệp định Giơnevơ 1954. Nhiệm vụ của cách mạng cả nước, cách mạng hai miền.
Yêu cầu cách mạng đối với nhân dân miền Bắc và những bước đi ban đầu (1954- 1960): hoàn thành cải cách ruộng đất, khôi phục kinh tế, cải tạo quan hệ sản xuất.
Phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam chống chế độ Mỹ- Diệm nhằm gìn giữ và phát triển lực lượng cách mạng (1954- 1959), đấu tranh đòi hòa bình của các tầng lớp nhân dân: phòng trào “Đồng Khởi”, sự ra đời của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.
Những thành tựu của miền Bắc trong bước đầu xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội (1961- 1965), nội dung của đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9/1960).
Nhớ được các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ thực hiện ở miền Nam từ năm 1961 đến năm 1973. Cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam chống lại các chiến lược chiến tranh đó và các sự kiện chiến thắng tiêu biểu như: chiến thắng Ấp bắc và chiến dịch tiến công địch ở miền Đông Nam Bộ trong Đông Xuân 1964- 1965; Tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân 1968; cuộc tiến công chiến lược xuân hè 1972. Khóa luận: Biện pháp đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh.
Hành động của Mỹ trong việc mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, cuộc đấu tranh của nhân dân miền Bắc chống hai lần chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ năm 1965- 1968 và 1972, đồng thời miền bắc còn đạt nhiều thành tựu trong sản xuất làm nghĩa vụ hậu phương với miền Nam.
Diễn biến, nội dung của Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam.
Những thành tựu của nhân dân miền Bắc trong khôi phục, phát triển kinh tế, chi việc cho miền Nam từ 1973- 1975; tiến hành giải phóng hoàn toàn miền Nam: bối cảnh, chủ trương kế hoạch, diễn biễn của các chiến dịch lớn.
- Trên cơ sở biết được những sự kiện cơ bản trên, đề kiểm tra phải kiểm tra được mức độ hiểu của học sinh về:
Lý giải và phân tích được mối quan hệ giữa nhiệm vụ cách mạng của hai miền sau Hiệp định Giơnevơ 1954.
Hiểu được ý nghĩa về những bước đi ban đầu của miền Bắc (1954- 1960) và phân tích được những hạn chế trong cải cách ruộng đất.
Ý nghĩa của phong trào “Đồng khởi”: đánh dấu bước phát triển của cách mạng miền Nam chuyển từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công.
Phân tích được những thành tựu của miền Bắc từ 1961- 1965 đã có tác dụng như thế nào đối với xã hội miền Bắc và cuộc đấu tranh chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam.
Phân tích âm mưu của Mỹ khi sử dụng các chiến lược chiến tranh ở miền Nam; so sánh được các chiến lược chiến tranh về quy mô, cường độ, thành phần tham chiến…; đánh giá được ý nghĩa của các chiến thắng của nhân dân miền Nam chống lại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ; cũng phải thấy một số điểm hạn chế của ta trong một số chiến dịch đặc biệt là cuộc tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân 1968.
Hiểu được âm mưu của Mỹ khi mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, tính chất của cuộc chiến tranh phá hoại đó, phân tích được ý nghĩa của quá trình vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại vừa sản xuất chi viện cho miền Nam của nhân dân miền Bắc, ý nghĩa của các chiến thắng của nhân dân miền Bắc. Khóa luận: Biện pháp đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh.
- Đánh giá được ý nghĩa của Hiệp định Pari 1973.
Chủ trương đúng đắn của ta giải phóng hoàn toàn miền Nam vào năm 1975, ý nghĩa của những chiến dịch lớn, vai trò to lớn của miền Bắc trong cuộc giải phóng miền Nam, ý nghĩa của sự kiện giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Từ biết và hiểu các kiến thức cơ bản của phần lịch sử Việt Nam từ 1954 đến 1975 học sinh phải biết vận dụng những kiến thức đó để:
- Đánh giá được vai trò của miền Bắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước từ năm 1954- 1975.
- So sánh được các chiến lược chiến tranh mà Mỹ sử dụng ở miền Nam Việt Nam.
- Từ phân tích được sự thắng lợi từng bước của nhân dân miền Nam trong cuộc đấu tranh chống lại âm mưu của đế quốc Mỹ từ 1954- 1975 học sinh phải biết rút ra nguyên nhân thắng lợi, bài học kinh nghiệm trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc.
Về kỹ năng.
- Bài kiểm tra góp phần giúp học sinh hoàn thiện các năng lực nhận thức như: tri giác, nhớ, tưởng tượng, tư duy nhanh.
- Đồng thời cũng hình thành và phát triển các kỹ năng thực hành bộ môn (lập bảng, sử dụng đồ dùng trực quan…) và trình bày một vấn đề lịch sử.
Về thái độ.
Thông qua việc kiểm tra kiến thức, giáo viên cũng đánh giá, củng cố và hướng thái độ cho học sinh về các vấn đề như:
- Lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc.
- Thái độ tin tưởng vào chủ nghĩa xã hội và quá trình xây dựng chủ nghĩ xã hội.
- Cảm phục, noi gương những người anh hùng đã chiến đấu vì độc lập tự do, thống nhất của đất nước.
- Có cái nhìn đúng về chiến tranh và có thái độ căm ghét chiến tranh, yêu chuộng hòa bình.
- Đồng thời bài kiểm tra, giúp hình thành ở học sinh lòng tin, ý chí quyết tâm đạt điểm cao, tinh thần tập thể, ý thức giúp đỡ lẫn nhau trong học tập.
Xác định trọng tâm kiến thức.
Bài kiểm tra thực hiện sau khi đã học xong một chương hay một khóa trình lịch sử nên nội dung kiến thức cần kiểm tra là rất lớn. Tuy nhiên trong bài kiểm tra giáo viên không thể kiểm tra hết những nội dung kiến thức đó vì vậy giáo viên khi ra đề cần tiến hành xác định trọng tâm kiến thức cần kiểm tra học sinh. Khóa luận: Biện pháp đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh.
Cũng ví dụ trên: Giáo viên nhận thấy giai đoạn lịch sử Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975 bao gồm những nội dung chính sau:
- Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh chống đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam (1954- 1965).
- Nhân dân hai miền trực tiếp chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược. Nhâm dân miền Bắc vừa chiến đấu vừa sản xuất (1965- 1973).
- Khôi phục và phát triển kinh tế- xã hội ở miền Bắc, giải phóng hoàn toàn miền Nam (1973- 1975).
Trong ba nội dung nêu trên thì nội dung lịch sử thứ hai là trọng tâm, hai nội dung còn lại tương đương nhau. Do đó mức độ câu hỏi của ba nội dung trong bài kiểm tra là khác nhau, dự kiến tỷ lệ là 30%- 40%-30%.
- Xây dựng ma trận hai chiều.
Để đảm bảo tính toàn diện trong nội dung và phương pháp đánh giá của đề kiểm tra, khi ra đề giáo viên cần xây dựng bảng ma trận hai chiều. Thực chất của Ma trận hai chiều là bảng kế hoạch phân bố nội dung kiểm tra, đánh giá được thiết lập theo mục đích giảng dạy hoặc theo mức độ nhận thức dưới dạng hai chiều.
Thiết lập bảng ma trận hai chiều giúp cho giáo viên biết được số lượng câu hỏi, những mục tiêu dạy học cần đạt.
Ví dụ: cũng với ví dụ trên giáo viên có thể lập bảng ma trận hai chiều như sau:
- Lựa chọn thiết kế các câu hỏi kiểm tra.
Đây được coi là công việc quyết định quy trình xây dựng đề kiểm tra, đánh giá. Câu hỏi được lựa chọn sẽ thể hiện mục đích, nội dung và phương pháp kiểm tra, đánh giá. Do đó khi thiết kế câu hỏi cần chú ý các điểm sau:
- Câu hỏi phải trau truốt, diễn đạt dễ hiểu, ngôn ngữ trong sáng.
- Giáo viên phải chú ý tới tỷ lệ các câu hỏi giữa ba mức độ biết- hiểu- vận dung, giữa câu hỏi tự luận và trắc nghiệm khách quan, mục đích đánh giá về kiến thức, kỹ năng, thái độ được đan xen vào nhau.
- Mức độ khó, dễ của câu hỏi tùy thuộc vào trình độ của học sinh.
- Câu hỏi đưa ra phải bảo đảm độ tin cậy và tính giá trị.
Ví dụ: dựa vào ma trận hai chiều trên giáo viên có thể thiết kế câu hỏi như sau:
- Phần trắc nghiệm.
Câu 1: Hãy khoanh tròn chữ in hoa trước ý trả lời đúng? (2 điểm).
- Quan sát bản đồ dưới đây và cho biết các chiến thắng Phan Rang, Xuân Lộc, Phnôm Pênh có ý nghĩa như thế nào đối với chiến dịch Hồ Chí Minh? Khóa luận: Biện pháp đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh.
- Phá tan các tuyến phòng thủ trọng yếu của địch bảo vệ Sài Gòn, mở đường cho chiến dịch Hồ Chí Minh.
- Là hiệu lệnh tiến công cho nhân dân Sài Gòn nổi dậy giành chính quyền.
- Là chiến thắng quyết định của chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng hoàn toàn miền Nam.
- Chiến thắng là cơ sở giúp Đảng ta đưa ra quyết định giải phóng miền Nam trong năm 1975.
- Nội dung nào không phải là sai lầm của cuộc cải cách ruộng đất 1954- 1956 ở miền Bắc?
- Đấu tố lan tràn, thô bạo.
- Đấu tố cả những địa chủ kháng chiến.
- Quy nhầm một số nông dân, cán bộ, đảng viên thành địa chủ.
- Quy nhầm cả tư sản mại bản thành địa chủ.
- Nội dung nào không phải là âm mưu của Mỹ khi tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất?
- Phá tiềm lực kinh tế, quốc phòng và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.
- Ngăn chặn sự chi viện từ bên ngoài vào miền Bắc và từ miền bắc vào miền Nam.
- Làm lung lay ý chí chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta.
- Xâm lược và đặt ách thống trị miền Bắc.
- Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ ở miền Nam Việt Nam ra đời trong hoàn cảnh:
- sau thất bại của chiến lược “Chiến tranh đơn phương”
- sau phong trào “Đồng Khởi”
- sau thất bại của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”.
- sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.
Câu 2: Hãy điền chữ Đ (đúng) hoặc chữ S (sai) vào ô □ trước các câu sau: (1 điểm)
- Chiến dịch Tây Nguyên thắng lợi đã chuyển cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước từ tiến công chiến lược phát triển thành tổng tiến công chiến lược.
- Chiến thắng Vạn Tường đã thể hiện khả năng đánh thắng đế quốc Mỹ về quân sự trong “ Chiến tranh đặc biệt”.
- Mỹ đã dựng lên sự kiện “Vịnh Bắc Bộ” để lấy cớ đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân năm 1965- 1968.
- Sau chiến thắng Phước Long của ta Mỹ đã có thái độ quyết liệt bằng ngoại giao.
Phần tự luận.
- Câu 1. (2 điểm)
Bằng những sự kiện lịch sử có chọn lọc hãy chứng minh phong trào “Đồng Khởi” (1959- 1960) đã chuyển cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công? Khóa luận: Biện pháp đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh.
- Câu 2. (3 điểm)
Lập bảng so sánh 3 chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, “chiến tranh cục bộ”, “Việt nam hóa chiến tranh” trên các tiêu chí sau: thời gian, đời tổng thống, quy mô, lực lượng tham gia, kết quả. Từ bảng so sánh đó em hãy rút ra nhận xét.
- Câu 3. (2 điểm)
Trình bày khái quát những thành tựu cơ bản của miền Bắc từ 1965 đến 1975. Qua đó em hãy phân tích mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ: xây dựng và bảo vệ ở miền Bắc. Em có suy nghĩ gì về mối quan hệ đó trong thời đại ngày nay?
- Xây dựng đáp án, thang điểm.
Việc xây dựng đáp án, thang điểm rõ ràng có một vai trò hết sức quan trọng trong kiểm tra, đánh giá. Nó đảm bảo cho việc nhiều giáo viên chấm hay một giáo viên chấm nhiều lần cho cùng một kết quả hay kết quả tương đương nhau.
Đáp án được đưa ra phải hướng dẫn cách cho điểm của từng câu trong thang điểm và toàn bộ đề kiểm tra, đánh giá. Riêng đối với câu hỏi tự luận đáp án phải chỉ ra được các ý đúng trong câu trả lời.
(Đáp án xem phụ lục 2B)
- Duyệt lại đề.
Đây là công việc cuối cùng trong khâu ra đề kiểm tra nhằm tránh những sai sót, những sơ xuất khi đưa đề kiểm tra, đánh giá cho học sinh.
Có thể thấy, việc đổi mới khâu ra đề có tầm quan trọng đặc biệt trong đổi mới kiểm tra, đánh giá. Thực hiện đúng quy trình ra đề đảm bảo cho việc đánh giá đáp ứng đúng các yêu cầu đặt ra, không chỉ đánh giá đúng trình độ học tập của học sinh mà còn có tác dụng động viên khuyến khích hoạt động học tập của các em.
2.3.6. Cải tiến khâu coi, chấm kiểm tra, thi. Khóa luận: Biện pháp đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh.
2.3.6.1.Khâu coi kiểm tra, thi.
Để việc đánh giá đạt kết quả chính xác, khoa học, cùng với việc ra đề kiểm tra thì coi kiểm tra cũng có một vai trò quan trọng. Nếu việc ra đề đáp ứng đủ các yêu cầu nhưng quá trình coi thi lại lỏng lẻo, dễ dàng thì sẽ ảnh hưởng rất nhiều tới việc đánh giá học sinh. Đồng thời, quá trình coi thi không nghiêm túc sẽ có tác động xấu tới việc giáo dục tư tưởng đạo đức của học sinh, dẫn tới các em thiếu tinh thần học tập, lao động nghiêm túc. Vì những lý do đó mà công tác coi thi cần đảm bảo sự nghiêm túc tuyệt đối, chúng tôi xin đưa ra một số giải pháp sau:
Việc tổ chức kiểm tra, thi phải được thực hiện đúng quy chế.
Đối với kiểm tra 1 tiết: giáo viên trực tiếp giảng dạy không nên coi kiểm tra, tuân thủ nguyên tắc khi coi kiểm tra.
Đối với thi cuối kỳ cần xếp số phòng thi theo thứ tự A, B, C; không xếp quá nhiều số báo danh trong một phòng thi, mỗi bàn chỉ nên có từ 1 đến 2 học sinh.
Trong thời gian thí sinh làm bài cần thực hiện nghiêm túc các quy định như không cho học sinh mang tài liệu vào phòng thi, coi thi nghiêm túc…Nếu có những trường hợp vi phạm cần xử lý nghiêm khắc, đúng quy chế, việc xử lý cần nhanh gọn để tránh ảnh hưởng tới những thí sinh khác.
Đồng thời trong công tác lựa chọn cán bộ coi thi cũng nên chú ý, cần lựa chọn những cán bộ có ý thức trách nhiệm cao, nếu cán bộ coi thi vi phạm quy chế thì đều bị xử lý nghiêm khắc.
2.3.6.2.Khâu chấm bài.
Chấm bài thi là khâu quan trọng quyết định đến kết quả kiểm tra, đánh giá học sinh. Vì vậy chấm bài cần có sự công bằng, chính xác, khách quan và ý thức trách nhiệm cao. Khóa luận: Biện pháp đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh.
Hiện nay việc chấm bài kiểm tra chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của công tác này. Nhiều giáo viên còn chấm bài một cách cẩu thả, không có thang điểm, đáp án rõ ràng, giáo viên chỉ đánh giá kiến thức của học sinh mà không chú ý tới cách diễn đạt, lỗi chính tả của các em. Có những trường hợp giáo viên còn chấm bài dựa vào cảm tính. Điều này ảnh hưởng rất lớn tới việc đánh giá chính xác kết quả học tập của học sinh. Đồng thời cũng có tác hại tới hứng thú học tập, ý thức vươn lên đạt điểm cao của học sinh và mối quan hệ thầy, trò trong nhà trường.
- Để việc chấm bài đạt kết quả tốt chúng ta cần thực hiện đầy đủ các yêu cầu sau:
Trước hết, để chuẩn bị cho chấm bài giáo viên cần có đáp án, thang điểm rõ ràng. Với một bài thi học kỳ, thi cuối năm nếu chấm hội đồng cần phải thực hiện chấm mẫu để thống nhất cách cho điểm và quan điểm. Điều này sẽ giảm tới mức tối thiểu các yếu tố chủ quan ảnh hưởng tới việc chấm bài.
- Nên chấm hai vòng độc lập và do nhiều giáo viên chấm sau đó lấy điểm trung bình.
- Chấm bài cần chú ý cả kỹ năng trình bày, kỹ năng viết bài của học sinh.
Tóm lại, có thể thấy việc tổ chức tốt các khâu coi kiểm tra, thi và chấm bài sẽ góp phần đắc lực vào đổi mới khâu kiểm tra, đánh giá từ đó nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.
Trên đây là một số biện pháp đổi mới về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh. Các biện pháp trên cần được tiến hành một cách linh hoạt, sáng tạo, chủ động tùy vào tình hình thực tế ở trường phổ thông. Nếu áp dụng tốt các biện pháp đổi mới kiểm tra đánh giá trên sẽ góp phần tích cực trong việc đổi mới kiểm tra, đánh giá nói riêng và đổi mới phương pháp dạy học nói chung.
2.4. Thực nghiệm sư phạm. Khóa luận: Biện pháp đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh.
2.4.1. Khái quát quá trình thực nghiệm.
2.4.1.1. Mục đích thực nghiệm.
Để thực nghiệm trong thực tế tính khả thi của một số biện pháp tiến hành kiểm tra, đánh giá trong dạy học lịch sử theo yêu cầu đổi mới, chúng tôi tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường THPT. Thông qua thực tiễn việc thực nghiệm sư phạm sẽ khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng các biện pháp đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh trong học tập lịch sử ở trường THPT. Kết quả thực nghiệm sẽ chứng tỏ sự đúng đắn của lý luận về kiểm tra, đánh giá làm cơ sở thực tiễn góp phần thực hiện đổi mới kiểm tra, đánh giá, nhằm nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường phổ thông.
2.4.1.2. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm.
Đối tượng thực nghiệm là học sinh lớp 12 trường THPT Ngô Sĩ Liên. Trong đó lớp 12A1 là lớp thực nghiệm và lớp 12A6 là lớp đối chứng. Cả hai lớp trên có số lượng tương đương nhau.
Ở lớp thực nghiệm 12A1 được áp dụng những biện pháp đổi mới kiểm tra, đánh giá trong đó có việc thực hiện ra đề kiểm tra theo quy trình đổi mới kết hợp câu hỏi trắc nghiệm khách quan và tự luận, nội dung đề thi thể hiện tính toàn diện. Lớp 12A6 thực hiện theo lối kiểm tra truyền thống dùng câu hỏi tự luận và ra đề không tuân thủ quy trình đổi mới, nội dung đề chủ yếu kiểm tra, đánh giá việc ghi nhớ của học sinh.
2.4.1.3. Nội dung thực nghiệm và phương pháp tiến hành thực nghiêm.
Tại trường tiến hành thực nghiệm, cả hai lớp được chọn đều do cùng một giáo viên giảng dạy, học sinh cùng học một chương trình, cùng một khối lượng kiến thức. Trong quá trình kiểm tra lớp 12A1 được thông báo là thực nghiệm các em sẽ làm bài kiểm tra kết hợp câu hỏi trắc nghiệm khách quan và câu hỏi tự luận. Lớp 12A6 làm lớp đối chứng, các em sẽ làm bài kiểm tra với câu hỏi tự luận, nội dung đề chủ yếu kiểm tra, đánh giá kiến thức ở mức độ nhớ và hiểu. Hai bài kiểm tra của hai lớp được xây dựng tương đương nhau về nội dung kiến thức. Hai lớp thực nghiệm và đối chứng cùng làm bài trong thời gian, quy trình và địa điểm như nhau. Khóa luận: Biện pháp đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh.
Tiến trình thực nghiệm.
- Chúng tôi tiến hành thực nghiệm bài kiểm tra 1 tiết môn lịch sử sau khi học sinh học xong chương IV “Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975”
- Trước khi tiến hành thực nghiệm đề kiểm tra được trao đổi, thảo luận với giáo viên trực tiếp giảng dạy.
- Nội dung và phương pháp tiến hành cụ thể của kiểm tra (xem phần phụ lục 2A)
Các tiêu chuẩn trong đánh giá kết quả thực nghiệm.
- Về mặt định lượng:
Chúng tôi sử dụng hệ thống câu hỏi, bài tập đã xây dựng để tiến hành kiểm tra 1 tiết đối với học sinh lớp 12 trường THPT. Nội dung những câu hỏi nhằm đánh giá kết quả học tập của học sinh theo các mức độ:
- Nhận biết và xác định đúng những kiến thức cơ bản của môn học.
- Rèn luyện những kỹ năng thực hành cho học sinh.
Về mặt định tính;
Chúng tôi quan sát, nhận xét trên các mặt sau:
- Không khí lớp học.
- Thái độ hứng thú học tập của học sinh.
- Tổng hợp ý kiến của các giáo viên tham gia thực nghiệm.
2.4.2. Kết quả thực nghiệm.
2.4.2.1. Bài kiểm tra của lớp thực nghiệm
Bài kiểm tra của lớp thực nghiêm bao gồm các câu hỏi trắc nghiệm khách quan và câu hỏi tự luận. Các câu hỏi đưa ra đều đảm bảo được độ khó. Số lượng câu hỏi được phân bổ một cách hợp lý theo bảng ma trận đã lập bao gồm 2 câu hỏi trắc nghiệm khách quan và 3 câu hỏi tự luận.
2.4.2.2. Bài kiểm tra của lớp đối chứng
Do đặc điểm của bài tự luận truyền thống nên mỗi bài kiểm tra thông thường được xây dựng 3 câu hỏi. Trong bài kiểm tra 1 tiết câu hỏi của lớp đối chứng như sau:
- Câu 1: Nêu những thành tựu xây dựng bước đầu cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc từ năm 1961 đến 1965? Khóa luận: Biện pháp đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh.
- Câu 2: Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968: hoàn cảnh, diễn biến, kết quả, ý nghĩa.
- Câu 3: Đảng ta đã căn cứ vào điều kiện lịch sử nào để đề ra kế hoạch giải phóng miền Nam? Nội dung kế hoạch đó là gì?
Qua nội dung của hai bài kiểm tra ở hai lớp thực nghiệm và đối chứng có thể thấy bài kiểm tra của lớp thực nghiệm bao quát, đề cập tới nhiều vấn đề lịch sử hơn, yêu cầu đánh giá các mức độ biết, hiểu, vận dụng kiến thức của học sinh và do đó giá trị nội dung cũng cao hơn, các mục tiêu đánh giá về kỹ năng và thái độ đan xem trong các câu hỏi biết, hiểu, vận dụng.
2.4.2.3. Kết quả kiểm tra.
- Nhận xét
Thông qua bảng tổng hợp kết quả thực nghiệm đối với lớp thực nghiệm và lớp đối chứng chúng ta thấy: số học sinh đạt loại giỏi, khá của lớp thực nghiệm cao hơn hắn lớp đối chứng. Điều đó phần nào cho thấy việc áp dụng các biện pháp đổi mới kiểm tra, đánh giá bước đầu có tác dụng.
Đồng thời, trong quá trình đánh giá kết quả thực nghiệm chúng tôi đã tiến hành so sánh với kết quả của bài kiểm tra 1 tiết lịch sử lớp 12 học kỳ I của hai lớp thực nghiệm và đối chứng. Kết quả của bài kiểm tra đó được cụ thể như sau:
Trong bảng 2 này ta cũng nhận thấy kết quả học tập của học sinh lớp 12A1 có phần tốt hơn kết quả học tập của học sinh lớp 12A6 tuy nhiên cũng không có học sinh nào đạt loại giỏi và vẫn có 1 học sinh thuộc loại yếu.
- Qua bảng kết quả 1 và 2 chúng ta nhận thấy như sau:
Trước hết ở lớp thực nghiệm 12A1 trong bài kiểm tra học kỳ I với nội dung và phương pháp kiểm tra theo lối truyền thống tức là chỉ sử dụng câu hỏi tự luận và nội dung kiểm tra kiến thức ở mức độ nhớ và hiểu thì kết quả có được không cao bằng lần kiểm tra thực nghiệm ở học kỳ II. Tuy nhiên khi so sánh trong mức độ tương quan với kết quả của lớp 12A6 thì lớp 12A1 ở cả học kỳ I và học kỳ II vẫn cao hơn. Điều này chứng tỏ rằng bài kiểm tra 1 tiết học kỳ II ở lớp thực nghiệm 12A1 đã đánh giá đúng năng lực của học sinh. Hơn nữa bài kiểm tra thực nghiệm vì đề ra có nội dung phát huy tính tích cực và trí thông minh của học sinh nên đã phân loại được học sinh một cách rõ ràng và cụ thể hơn, đã có số lượng học sinh giỏi và không còn học sinh yếu.
Còn với lớp 12A6, cả hai bài kiểm tra học kỳ I và học kỳ II đều cho kết quả gần tương đương nhau. Với kết quả này giáo viên không đánh giá được quá trình tiến bộ trong học tập của học sinh. Hơn nữa đề kiểm tra không đòi hỏi học sinh thông minh khi làm bài mà chỉ ở mức độ nhớ và hiểu kiến thức đã khiến cho kết quả bài kiểm tra không phân loại được học sinh khá- giỏi một cách cụ thể.
Như vậy qua kết quả thực nghiệm có thể nhận thấy, bài kiểm tra thực nghiệm đã đánh giá đúng khả năng của học sinh. Do đó nó mang tính giá trị và đảm bảo độ tin cậy cao.
2.4.3. Ý kiến của giáo viên và học sinh về việc sử dụng các biện pháp đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh. Khóa luận: Biện pháp đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh.
- Ý kiến của giáo viên.
Qua công tác thực nghiệm, chúng tôi tham khảo ý kiến của một số giáo viên và thấy rằng phần lớn các giáo viên đều cho rằng việc đổi mới kiểm tra, đánh giá như vậy là có hiệu quả. Ưu điểm lớn là học sinh có thái độ hứng thú học tập, trong giờ kiểm tra ít có hiện tượng căng thẳng và hầu như không có tình trạng gian lận. Việc sử dụng phương pháp này cũng giúp giáo viên đánh giá được học sinh một cách khách quan, công bằng. Song vận dụng các biện pháp đổi mới giáo viên phải là những người có tâm huyết với nghề và có lòng yêu học sinh. Xuất phát từ hai cơ sở đó mà giáo viên bỏ thời gian và công sức không chỉ cho việc dạy học kiến thức mới mà còn cho cả công tác kiểm tra, đánh giá. Việc sử dụng quy trình ra đề theo hướng đổi mới với bảng ma trận hai chiều đã giúp ích rất nhiều cho giáo viên trong công tác kiểm tra kết quả học tập của học sinh.
- Ý kiến của học sinh.
Trong quá tình thực nghiệm, chúng tôi cũng thu thập ý kiến của các em học sinh. Phần lớn các em đều hứng thú với phương pháp kiểm tra này.
Em Đồng Thị Mỹ Duyên lớp 12A1 viết “ Em thấy cách kiểm tra kết hợp cả câu tự luận và trắc nghiệm khách quan này rất hay. Đề cũng có một số ý hỏi khó hơn nên có bạn nào muốn chép sách cũng không chép được”
Em Ngô Thị Hà lớp 12A1 nói: “Trong giờ kiểm tra em thấy không khí rất thoải mái, tâm lý của em cũng không bị áp lực nhiều như khi làm bài kiểm tra mà hoàn toàn là câu hỏi tự luận”.
Em Nguyễn Văn Cường lớp 12A6 nói “Kiểm tra, đánh giá bằng câu hỏi tự luận với nội dung như vậy chỉ bắt học thuộc lòng sách giáo khoa, em thích đề kiểm tra có sử dụng cả câu hỏi trắc nghiệm và câu hỏi tự luận, nội dung câu hỏi cũng phải yêu cầu học sinh thông minh khi làm bài”.
Tóm lại, đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập lịch sử ở trường phổ thông là một yêu cầu hết sức cần thiết và phải được thực hiện một cách toàn diện. Những biện pháp đổi mới kiểm tra, đánh giá được đưa ra đã bước đầu được đưa vào thực nghiệm ở một số trường phổ thông và cũng cho những kết quả khả quan. Đặc biệt việc ra đề kiểm tra theo quy trình đổi mới vừa đảm bảo kiểm tra được mức độ nhận thức của học sinh bao gồm biết, hiểu, vận dụng vừa đảm bảo tính vừa sức lại giúp giáo viên đánh giá đúng trình độ học sinh. Nếu thực hiện tốt các biện pháp đổi mới kiểm tra, đánh giá nêu trên sẽ góp phần thiết thực trong việc nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường phổ thông.
KẾT LUẬN Khóa luận: Biện pháp đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh.
Việc kiểm tra, đánh giá tri thức học sinh trong dạy học lịch sử là một công việc hết sức cần thiết và quan trọng trong nhà trường phổ thông. Nó chẳng những giúp cho giáo viên nắm bắt được tình hình học tập của học sinh mà còn giúp cho giáo viên thấy được những thiếu sót trong phương pháp dạy học của mình để từ đó có những điều chỉnh cho phù hợp với tiến trình dạy học. Trên cơ sở những kết quả kiểm tra giáo viên có thể đánh giá được trình độ của học sinh, khả năng nhận thức của các em, bên cạnh đó còn có thể đánh giá thái độ học tập và ý thức vươn lên trong học tập của học sinh.
Kiểm tra, đánh giá được coi là một biện pháp quan trọng để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn. Nó không chỉ là công việc của giáo viên mà còn là công việc của cả học sinh. Giáo viên kiểm tra, đánh giá tri thức của học sinh còn học sinh tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của mình và kiểm tra, đánh giá lẫn nhau. Tuy nhiên có thể nhận thấy trên thực tế việc kiểm tra, đánh giá chưa được quan tâm đúng mức và thực hiện tốt. Vì vậy, việc đổi mới kiểm tra, đánh giá cần được đặt ra và tiến hành một cách nghiêm túc, toàn diện trên tất cả các mặt.
Xuất phát từ quan niệm đúng về kiểm tra, đánh giá khi tiến hành cần phải đảm bảo việc ra đề thể hiện tính toàn diện về nội dung trên cơ sở chuẩn kiến thức, kỹ năng và thái độ. Đó là việc thực hiện kiểm tra, đánh giá cả về kiến thức, kỹ năng và kết quả giáo dục. Trong kiểm tra, đánh giá cần kết hợp các hình thức, phương pháp kiểm tra, đánh giá một cách linh hoạt, nhuần nhuyễn sáng tạo đặc biệt là việc thực hiện quy trình ra đề theo hướng đổi mới. Đổi mới khâu ra đề là điều kiện đảm bảo cho quá trình kiểm tra, đánh giá một cách chính xác và khách quan nhất.
Để việc đổi mới kiểm tra, đánh giá được thực hiện có hiệu quả cần có sự giúp đỡ, hỗ trợ của cấp lãnh đạo, các ban ngành giáo dục, nhà trường và giáo viên cần phải nắm vững lý luận về kiểm tra, đánh giá để hạn chế đến mức tối đa những thiếu sót trong công tác kiểm tra, đánh giá hiện nay.
Đổi mới kiểm tra, đánh giá hiện nay cần được thực hiện một cách đồng bộ và toàn diện, như vậy mới có thể nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học bộ môn. Các biện pháp đổi mới kiểm tra, đánh giá phải được thực hiện từ quan niệm đến nội dung, hình thức, phương pháp, tổ chức. Các biện pháp đổi mới kiểm tra, đánh giá cần phải phù hợp với tình hình thực tiễn của trường phổ thông. Giáo viên cần lựa chọn các hình thức, phương pháp kiểm tra, đánh giá phù hợp và thí điểm dần dần các hình thức đó đặc biệt là trong việc ra đề, coi và chấm thi. Bên cạnh đó cũng cần áp dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại vào khâu chấm bài để đảm bảo tính khách quan. Khóa luận: Biện pháp đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh.
Trước yêu cầu đổi mới về phương pháp dạy học, đòi hỏi giáo viên lịch sử phải nắm vững nội dung, hình thức và phương pháp kiểm tra, đánh giá nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn. Để có được điều đó trước hết người giáo viên phải nắm vững lý luận về kiểm tra, đánh giá nói riêng và lý luận về dạy học nói chung.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh
