Khóa luận: Giải pháp tín dụng cá nhân trung dài hạn Vietcombank

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Giải pháp tín dụng cá nhân trung dài hạn Vietcombank hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng cá nhân trung – dài hạn tại PGD Sao Đỏ dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

3.1. Định hướng phát triển tín dụng cá nhân trong tương lai

Căn cứ vào tình hình tiềm lực và hoạt động hiện tại, có thể đưa ra những định hướng phát triển tín dụng cá nhân trong tương lai:

  • Chú trọng, đẩy mạnh việc đầu tư phát triển mảng nghiệp vụ này.
  • Mức thị phần chiếm lĩnh sau khoảng 5 năm nữa đạt 40%.
  • Tăng cường khối lượng cho vay kèm theo nhiều ưu đãi hơn nữa.
  • Mọi khâu kiểm soát trong tiến trình thu nợ được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả.
  • Tiến hành đào tạo chuyên sâu đối với các cán bộ tín dụng nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng quá trình thẩm định tín dụng, đem lại kết quả xác thực hơn, nhằm phòng tránh những rủi ro tín dụng.

Ngoài ra, tuỳ thuộc vào điều kiện của từng thời kì mà PGD sẽ có những thay đổi linh hoạt và phù hợp hơn.

3.2. Một số giải pháp của PGD Sao Đỏ

Qua quá trình tìm hiểu và phân tích, có thể thấy tín dụng cá nhân tại PGD đang tồn tại nhiều điểm bất ổn. Trên cơ sở đó cũng như tham khảo các giải pháp mà hiện nay PGD đã thực hiện, em xin trình bày các phương án sau với hi vọng phần nào có thể giải quyết được tình trạng trên.

3.2.1. Đa dạng hóa các sản phẩm tín dụng

Nhìn chung, về cơ cấu các sản phẩm tín dụng, PGD cũng đã và đang triển khai khá tốt theo hướng đa dang hoá. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều mảng sản phẩm chưa thật sự được khai thác, phát triển và đưa nó thành một sản phẩm độc lập, hoàn thiện. Cụ thể, PGD đang thực hiện sản phẩm Cho vay cá nhân khác. Đây là một sản phẩm tích hợp, trong nó bao gồm nhiều mảng sản phẩm nhưng chưa hoàn chỉnh: cho vay nông nghiệp, cho vay tiêu dùng, cho vay sản xuất kinh doanh. Nếu các mảng này được lưu tâm, phát triển thành những dòng sản phẩm khác nhau với những đặc tính riêng biệt về đối tượng vay, giá trị khoản vay, điều kiện vay, lãi suất vay, thời hạn vay,… thì khả năng thu hút khách hàng cũng như cạnh tranh sẽ được nâng cao.

3.2.2. Tăng cường kiểm soát tín dụng, hạn chế nợ quá hạn

Từ năm 2023 – 2025, tỉ lệ nợ quá hạn của PGD vẫn ở mức cao và không ngừng tăng lên qua các năm. Để khắc phục được tình trạng này, trong tiến trình tín dụng, sau khi giải ngân, ngân hàng cần phải đẩy mạnh và tiến hành chặt chẽ hơn nữa hoạt động kiểm soát tín dụng. Bởi kiểm soát tín dụng chính là việc ngân hàng theo dõi hành vi của khách hàng thông qua việc sử dụng vốn vay, ý thức trả nợ khoản vay, các luồng thu nhập của khách hàng, sự biến động trong cuộc sống của khách hàng có liên quan đến việc hoàn trả nợ vay,… Và qua việc tăng cường kiểm soát tín dụng sẽ giúp ngân hàng theo dõi mọi động thái của khách hàng, phán đoán những diễn biến sẽ xảy ra trong quá trình thu hồi nợ, từ đó có thể kịp thời đưa ra các biện pháp phòng tránh, xử lí. Bên cạnh đó, thông qua việc kiểm soát tín dụng, ngân hàng còn nắm bắt được khả năng hoàn trả nợ của khách hàng. Khi có những tín hiệu bất thường, ngân hàng có thể can thiệp nhằm giảm tình trạng trả nợ muộn, quá hạn.

3.2.3. Tổ chức phân loại khách hàng Khóa luận: Giải pháp tín dụng cá nhân trung dài hạn Vietcombank.

Hiện nay, PGD Sao Đỏ chưa áp dụng cách thức phân loại khách hàng trong tiến trình kinh doanh. Điều này khiến tình trạng cho vay nhầm đối tượng, không xác định chính xác được đặc điểm của khách hàng,… vẫn còn tồn tại, tạo ra nhiều khó khăn cho PGD: không thể thu hồi nợ, khó kiểm soát việc sử dụng vốn vay đúng mục đích,… Và để có thể giải quyết được vấn đề này, trước hết cần hiểu khách hàng là một danh từ chung chỉ tất cả những đối tượng đến giao dịch với ngân hàng: gửi tiết kiệm, vay vốn, rút tiền, làm thẻ,… Khách hàng có thể bao gồm toàn bộ những loại người trong xã hội, có sự khác nhau về địa vị, thu nhập, nhận thức, ý thức,… Vì vậy, khi tiến hành phân loại khách hàng dựa trên những tiêu chí nhất định, ngân hàng sẽ dễ dàng hơn trong việc theo dõi khách hàng, đưa ra các quyết định phù hợp với từng đối tượng nhằm đạt hiệu quả cao nhất có thể cũng như phòng tránh rủi ro. Ví dụ:

  • Theo tuổi tác, có thể chia khách hàng thành 3 loại:

Từ 18 – 23 tuổi: Đây thường là đối tượng học sinh, sinh viên, vẫn phụ thuộc gia đình hoặc đã sống tự lập, thường vay vốn để học hành trong nước, du học hoặc tập kinh doanh nhỏ lẻ. Đối với loại này, ngân hàng thường cho vay theo chính sách với số tiền không nhiều, có ưu đãi về lãi suất, thời hạn vay dài nhưng tất nhiên vẫn căn cứ vào điều kiện của từng người. Nếu đã tự lập, ngân hàng sẽ xem xét thu nhập hiện tại. Nếu vẫn phụ thuộc, ngân hàng sẽ xem xét đến thu nhập của bố mẹ, điều kiện gia đình,… Khóa luận: Giải pháp tín dụng cá nhân trung dài hạn Vietcombank.

Từ 24 – 50 tuổi: Đây thường là đối tượng đã trưởng thành, có việc làm, sống không phụ thuộc gia đình, nhu cầu vay vốn cao. Đối với loại này, ngân hàng sẽ căn cứ vào thu nhập, điều kiện công việc, điều kiện nhà ở, mục đích vay vốn,… để quyết định cho vay. Số tiền cho vay thường lớn, lãi suất có thể cao, thời hạn vay tuỳ nhu cầu mỗi người,…

Từ 51 tuổi trở lên: Đây thường là đối tượng những người già, đứng tuổi, ít có nhu cầu vay vốn. Đối với loại này, ngân hàng sẽ căn cứ vào lương hưu (nếu có), điều kiện gia đình, điều kiện con cái, mục đích vay,… để đưa ra quyết định cho vay. Số tiền được vay có thể không nhiều, lãi suất thoả thuận, có thể được ưu đãi nếu thuộc diện chính sách,…

  • Theo nghề nghiệp, có thể chia khách hàng thành 3 loại:

Lao động chân tay: Đây là những đối tượng có thu nhập thấp, bấp bênh, trình độ dân trí thường không cao. Khi cho vay, ngân hàng sẽ căn cứ vào thu nhập bình quân của nghề nghiệp, điều kiện gia đình,… để quyết định cho vay nhưng số tiền được vay thường không lớn, lãi suất sẽ ưu đãi, thời gian vay dài,…

Công nhân viên chức: Đây là những đối tượng có thu nhập thường cũng không cao nhưng ổn định. Họ là những người có tri thức. Đối với loại này, ngân hàng sẽ xem xét đến lương và các thu nhập khác, điều kiện gia đình, nghề nghiệp,… để quyết định cho vay. Số tiền vay ở mức trung bình, phù hợp với thu nhập, thời gian vay theo thoả thuận, phương thức trả nợ thường là trả góp,…

Sản xuất kinh doanh, buôn bán: Đây là những đối tượng có thu nhập cao nhưng cũng hay biến động tuỳ thuộc điều kiện thị trường, nhu cầu vay vốn rất cao. Đối với loại này, ngân hàng sẽ xem xét thu nhập, điều kiện gia đình, tình hình kinh doanh,… để quyết định cho vay. Số tiền vay thường rất lớn, thời gian vay dài hạn, phương thức trả nợ theo thoả thuận nhưng thường là trả nợ một lần khi đến hạn,…

Ngoài hai tiêu chí trên, có thể sử dụng những tiêu chí khác cũng như kết hợp hai hay nhiều tiêu chí trong số đó để phân chia, xếp loại khách hàng như địa vị xã hội, mức thu nhập,…

3.2.4. Chi tiết nội dung về tài sản đảm bảo nợ vay Khóa luận: Giải pháp tín dụng cá nhân trung dài hạn Vietcombank.

Tài sản đảm bảo nợ vay là một trong những tiêu chí để ngân hàng đưa ra quyết định cho vay. Nhận thức được điều này, PGD cũng đã có văn bản quy định về tài sản đảm bảo nhưng các điều khoản còn chưa cụ thể và chi tiết. Vì vậy, để giúp ngân hàng xác định được đâu là một tài sản đủ tiêu chuẩn đảm bảo, nhằm giảm thiểu rủi ro khi khách hàng không thanh toán được nợ, các điều khoản này cần đầy đủ, xác thực hơn.

Và để xây dựng những nội dung liên quan tới tài sản đảm bảo nợ vay, đầu tiên cần hiểu tài sản đảm bảo nợ vay là gì? Nhìn chung, có thể nhận thấy một tài sản đảm bảo nợ vay trước hết là một tài sản có giá trị mà giá trị của nó lớn hơn hoặc bằng giá trị khoản tiền khách hàng vay. Tuy nhiên, nếu chỉ đơn thuần là một tài sản có giá trị lớn thì chưa thể khiến ngân hàng yên tâm cho khách hàng vay. Nên bên cạnh giá trị, tài sản đảm bảo nợ vay cần đảm bảo những tiêu chí sau:

  • Tài sản có đủ giấy tờ chứng minh giá trị cũng như sự sở hữu của khách hàng.
  • Tài sản có khả năng chuyển đổi được thành tiền.
  • Tài sản phải có tính thanh khoản, có giá trị ổn định (giữ giá).

Dựa trên 3 tiêu chí này, PGD sẽ lập ra một bản quy định rõ ràng về tài sản đảm bảo nợ vay, trong đó nêu đầy đủ các nội dung liên quan để qua đó, các cán bộ tín dụng có thể xác định và thẩm định được tài sản trước khi cho khách hàng vay. Ví dụ như giá trị tài sản đảm bảo phải bằng ít nhất 120% giá trị khoản vay, tài sản đảm bảo là nhà cần sổ đỏ phôtô công chứng để xác minh tính sở hữu, tài sản đảm bảo phải được các chuyên gia do ngân hàng chỉ định xem xét và đánh giá giá trị cũng như khả năng chuyển đổi, tính thanh khoản,… Khóa luận: Giải pháp tín dụng cá nhân trung dài hạn Vietcombank.

3.2.5. Điều chỉnh lãi suất linh hoạt, hiệu quả

Lãi suất cũng là một trong những nhân tố quan trọng nhất thúc đẩy khả năng đưa ra quyết định vay vốn của khách hàng bởi nó phải phù hợp với tiềm lực tài chính cũng như khả năng hoàn trả nợ vay của họ. Một lãi suất quá cao sẽ tạo cảm giác e dè nơi khách hàng, khiến họ chần chừ không dám vay, thậm chí tìm tới các đối thủ cạnh tranh có mức lãi suất thấp hơn, nhiều ưu đãi hơn. Khi đó, nguồn vốn huy động được bị ứ đọng, đây là một điều khá bất lợi đối với hoạt động tín dụng của một ngân hàng. Một mức lãi suất quá thấp, có thể doanh số cho vay sẽ tăng, khách hàng sẽ được hưởng lợi nhưng mức thu nhập từ hoạt động tín dụng lại giảm, điều này ngân hàng cũng không hề mong muốn. Hiểu được vấn đề đó, PGD nên điều chỉnh mức lãi suất sao cho linh hoạt hơn hiện tại, vẫn đảm bảo tính cạnh tranh mà lại hiệu quả, trên tiêu chí phù hợp với từng điều kiện hoàn cảnh, từng sản phẩm, từng đối tượng khách hàng. Bên cạnh đó, cần xác định, linh hoạt ở đây không phải là thả nổi, mà là sự thả nổi có điều tiết, thuận theo tình hình thực tế. Linh hoạt nhưng không nên chạy theo những động thái tăng, giảm lãi suất quá mạnh từ phía các đối thủ cạnh tranh, gây mất lập trường, khách hàng cũng mệt mỏi và dần mất đi sự tin tưởng.

3.2.6. Áp dụng nhiều công nghệ ngân hàng tiên tiến, hiện đại

Hiện nay, các ngân hàng đều có xu hướng ứng dụng nhiều công nghệ tiên tiến, hiện đại nhằm cạnh tranh với các đối thủ khác và đáp ứng nhu cầu khách hàng ngày càng tăng. PGD Sao Đỏ cũng không ngoại lệ. Trước mắt, PGD cũng đã trang bị cho mình một cơ sở hạ tầng khá hiện đại, bắt nhịp cùng sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ, đem lại sự thuận tiện trong công việc của nhân viên cũng như hiệu quả trong hoạt động. Những ứng dụng công nghệ cũng đem lại nhiều tiện ích hơn cho khách hàng, từ đó thu hút khách hàng và giúp PGD chiếm lĩnh thị phần. Các sản phẩm tín dụng từ khi được gắn liền với công nghệ đã trở nên nhanh, linh hoạt và chính xác hơn. Chỉ cần vài thao tác và một cú click chuột, một giao dịch tín dụng có thể chỉ mất trung bình 10s như: chuyển khoản tiền cho vay vào tài khoản, trả nợ thông qua tài khoản,… Hay ngay việc thống kê và quản lí các số liệu về mức doanh số cho vay, doanh số thu nợ, tỉ lệ nợ quá hạn, hệ số thu nợ, đưa ra đồ thị để có cái nhìn trực quan, phân loại khách hàng dựa trên các tiêu chí,… đều dùng đến công nghệ thay vì làm thủ công như trước. Tuy nhiên, trước sự phát triển và thay đổi nhanh như vũ bão của công nghê, PGD cần tiếp tục đầu tư nguồn vốn để trang bị thêm cho mình những ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại hơn nữa, từ đó đem lại hiệu quả cao hơn trong các hoạt động tín dụng.

3.2.7. Mở rộng kênh phân phối

Kênh phân phối chính là cầu nối quan trọng, giúp đưa sản phẩm của ngân hàng đến với khách hàng một cách nhanh nhất và là phương pháp hữu hiệu nhất trong việc chiếm lĩnh thị phần. Bên cạnh đó, nó cũng phần nào thể hiện tiềm lực và vị thế của một ngân hàng. Ở đây, thật ra bản thân PGD chính là một kênh phân phối của Chi nhánh VCB Hải Dương. Tuy nhiên, với đà phát triển như hiện nay, PGD cũng đang được cân nhắc để đưa lên thành Chi nhánh, cho xứng tầm với tiềm lực hiện có của nó. Bởi vậy, trong một tương lai không xa, để nâng cao hiệu quả tín dụng cá nhân, PGD sẽ cần đến biện pháp này nhằm thực hiện điều đó. Bởi thông qua các kênh phân phối, các sản phẩm sẽ tiến gần hơn đến khách hàng, từ đó có thể thu thập những ý kiến phản hồi, làm hoàn thiện hơn các sản phẩm tín dụng đã và đang triển khai.

3.3. Một số kiến nghị Khóa luận: Giải pháp tín dụng cá nhân trung dài hạn Vietcombank.

3.3.1. Với Ngân hàng Nhà nước

Đứng trước thực trạng tín dụng hiện nay của PGD, khoá luận xin đưa ra một vài kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước như sau:

Thứ nhất, củng cố chất lượng và tăng cường số lượng thông tin tín dụng. Có thể nói thông tin luôn là một nhân tố quan trọng đối với bất kì lĩnh vực nào của đời sống và trong tín dụng cũng không ngoại lệ. Có được lượng thông tin đầy đủ, chính xác, việc thẩm định tín dụng sẽ đem lại kết quả chân thực nhất, quá trình kiểm soát việc sử dụng nguồn vốn vay cũng chặt chẽ hơn. Và trong lĩnh vực ngân hàng, trung tâm thông tin tín dụng CIC (ra đời năm 1999, được tách ra từ Vụ Tín dụng) sẽ giúp giải quyết những vấn đề đó. Qua quá trình thu thập, phân tích thông tin, các bản tin CIC thường cung cấp khá chi tiết về tình hình quan hệ tín dụng, biểu đồ diễn biến phát sinh du nợ 3 năm gần nhất,… Tuy nhiên, với số lượng khách hàng khổng lồ như hiện nay, CIC dường như không đáp ứng đủ nhu cầu về mặt thông tin. Bên cạnh đó, CIC vẫn chưa có nhiều sự liên kết với các tổ chức tín dụng bởi thông tin vẫn là một vấn đề khá nhạy cảm, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi khách hàng, dẫn đến việc các thông tin được đưa ra đôi khi chưa hoàn toàn chính xác. Để hạn chế sự độc quyền này, tháng 6/2023, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã kí ban hành Thông tư 16 với nội dung liên quan đến việc thành lập và vận hành một Trung tâm thông tin tín dụng tư nhân. Tuy nhiên, đến nay, hành lang pháp lí cụ thể cho hoạt động này vẫn chưa thật sự rõ ràng và đồng bộ. Vì vậy, Ngân hàng Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện, nâng cao chất lượng thông tin của CIC cũng như tạo ra một hệ thống pháp lí đồng bộ, làm cơ sở giúp vận hành tốt hoạt động này một cách tốt hơn, hiệu quả hơn.

Thứ hai, tăng cường bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ tín dụng. Về vấn đề này, Ngân hàng Nhà nước cũng đã và đang triển khai nhưng số lượng các đợt bồi dưỡng còn ít, chất lượng các đợt bồi dưỡng lại chưa cao. Vì vậy, để có được một đội ngũ cán bộ tín dụng giỏi, năng động, nhạy bén với thông tin, theo kịp yêu cầu của thị trường, cần tổ chức nhiều hơn nữa các lớp kiểm tra, nâng cao nghiệp vụ cũng như mở các hội thảo để học hỏi và trao đổi kinh nghiệm. Các lớp bồi dưỡng, các hội thảo cần tập trung nhấn mạnh hơn nữa vào các vấn đề liên quan mật thiết đến tín dụng và thẩm định tín dụng như cách thu thập thông tin và đánh giá về khách hàng, kiến thức về các tài sản đảm bảo (nhà, đất, giấy tờ có giá,…),…

Thứ ba, thường xuyên thanh tra, giám sát, quản lí hoạt động tại Hội sở chính VCB. Hiện nay, Ngân hàng Nhà nước vẫn đang tiếp tục duy trì hoạt động này, tuy nhiên vẫn còn ở mức khá hạn chế bởi số lượng ngân hàng cần quản lí là khá lớn. Việc thường xuyên thanh tra, giám sát sẽ giúp mọi hoạt động kinh doanh luôn được thực hiện theo đúng chủ trương, chính sách mà Ngân hàng Nhà nước đã đề Bên cạnh đó, khi phát hiện những sai sót trong việc quản lí, vận hành Hội sở chính, Ngân hàng Nhà nước cũng có thể kịp thời đưa ra những định hướng và biện pháp xử lí phù hợp, tránh những hậu quả đáng tiếc, nghiêm trọng có thể xảy ra.

3.3.2. Với NHTMCP Ngoại thương Khóa luận: Giải pháp tín dụng cá nhân trung dài hạn Vietcombank.

Đối với Hội sở chính của NHTMCP Ngoại thương, khoá luận xin đưa ra các kiến nghị sau nhằm giải quyết các vấn đề còn tồn đọng trong thời gian qua của PGD Sao Đỏ:

Thứ nhất, tăng cường chỉ đạo, định hình xu hướng phát triển. Đối với một địa bàn đầy rộng lớn và tiềm năng như Chí Linh, việc xây dựng cũng như tạo được chỗ đứng cho PGD Sao Đỏ như hiện nay là một thành công không nhỏ. Tuy nhiên, xét một cách khách quan, PGD Sao Đỏ vẫn là một tổ chức tín dụng non trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm. Ban lãnh đạo PGD cũng đã nhiều lần đưa ra những phương hướng hoạt động cho riêng mình nhưng vẫn chưa thể giải quyết triệt để tình trạng sử dụng vốn vay kém hiệu quả. Vì vậy, Hội sở chính cần tăng cường chỉ đạo nhằm tìm ra hướng đi mới cho PGD: cách thức xây dựng các sản phẩm tín dụng mới, cách thức thẩm định tín dụng hiệu quả, cách thức đưa ra chính sách cho vay đảm bảo quyền lợi cho cả ngân hàng và khách hàng,…

Thứ hai, tiến hành kiểm tra hoạt động kinh doanh theo định kì. Để có thể kịp thời chỉnh đốn hoạt động của PGD, Hội sở chính cần hiểu và đánh giá được hoạt động của PGD. Và để làm được điều đó, Hội sở chính cần thường xuyên phái các đoàn thanh tra, kiểm tra nhằm xem xét tình hình kinh doanh thực tế của PGD về các mặt: trình độ và cách đối đãi của nhân viên với khách hàng, quy trình thẩm định và tiến hành cho vay vốn, mức doanh số cho vay trong kì,…

Thứ ba, thường xuyên điều chỉnh và đề ra những chính sách đãi ngộ đối với nhân viên một cách linh hoạt và phù hợp. Để có thể vận hành tốt mọi hoạt động, nhân viên là một nhân tố vô cùng quan trọng quyết định sự thành bại trong kinh doanh. Bởi vậy, đối với nhân viên, Hội sở chính nên tiếp tục đưa ra những chính sách đãi ngộ tốt nhằm khích lệ hơn nữa tinh thần, niềm say mê trong công việc, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh Các chính sách có thể áp dụng là: bình xét và đưa ra mức thưởng hợp lí đối với những nhân viên làm việc hiệu quả, đem lại nguồn lợi lớn cho ngân hàng theo từng tháng hoặc quý, tăng số ngày nghỉ phép,…

3.3.3. Với PGD Sao Đỏ Khóa luận: Giải pháp tín dụng cá nhân trung dài hạn Vietcombank.

  • Đối với PGD Sao Đỏ, khoá luận cũng xin đưa ra một vài kiến nghị như sau:

Thứ nhất, thường xuyên rà soát các khâu trong quy trình tín dụng. Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động cho vay bởi nếu các bước trong quy trình đều thực hiện tốt sẽ đảm bảo được quyền lợi của ngân hàng. Thật vậy, đối với bước Lập hồ sơ, ngay từ đầu, cần kiểm soát việc thu nhận hồ sơ theo đúng quy định, tránh tình trạng thiếu sót giấy tờ hay thông tin trong giấy tờ. Thứ hai, đến bước Thẩm định_một trong những bước quan trọng nhất quyết định hiệu quả tín dụng, Ban lãnh đạo cần xem xét các khía cạnh: nhân viên lấy thông tin từ những nguồn nào, có uy tín và đảm bảo không, còn có thể khai thác từ những nguồn nào khác, việc tổng hợp và xử lí thông tin có chuẩn xác , đúng quy trình không,… Làm được việc này thì kết quả quá trình thẩm định sẽ xác thực hơn. Thứ ba, đến bước Quyết định cấp tín dụng, bước này cũng đóng vai trò quan trọng không kém. Ở đây, ngoài căn cứ vào kết quả thẩm định trước đó, ngân hàng cũng cần kiểm soát các thông tin mới cập nhật, các thông tư mới ban hành có liên quan,… để đưa ra quyết định cuối cùng. Bên cạnh đó, ngân hàng cũng cần xem xét đến tính khách quan khi đưa ra quyết định cấp tín dụng của nhân viên, tránh những rủi ro về sau. Thứ tư, đến bước Giải ngân, ngân hàng sẽ xem xét số lượng, số lần cũng như phương thức giải ngân theo 3 tiêu chí: hợp lí, hiệu quả, đảm bảo quyền lợi của ngân hàng và khách hàng. Cuối cùng, ở bước Giám sát, thu nợ và thanh lí tín dụng, ngân hàng cần xem xét các vấn đề như: mức độ giám sát của nhân viên đối với khoản vay, quá trình thu nợ thuận lợi hay gặp sự cố, việc thanh lí tín dụng diễn ra thế nào,…

Thứ hai, có chính sách phù hợp với những khách hàng chủ đạo cũng như khuyến khích việc tìm thêm những đối tượng khách hàng mới, tiềm năng. Khách hàng chính là nguồn nuôi sống mọi hoạt động của ngân hàng, bởi vậy, tạo và xây dựng mối quan hệ với khách hàng là việc làm hết sức quan trọng. Đối với những khách hàng chính, thường xuyên giao dịch với ngân hàng, cần tăng cường sự ưu đãi nhằm giữ chân khách hàng như: cuối kì tiến hành các buổi Tri ân khách hàng với những phần quà giá trị, tăng cường lợi ích khách hàng được hưởng ở những lần giao dịch kế tiếp,… Đối với những khách hàng tiềm năng, hiện chưa tiến hành giao dịch, ngân hàng cần đưa ra chính sách khích lệ nhân viên tích cực tìm kiếm và mang về khách hàng cho PGD. Nếu những khách hàng này thật sự đem lại lợi ích cho ngân hàng, ngân hàng sẽ có những hình thức thưởng xứng đáng cho nhân viên, căn cứ vào chủ trương đã đề ra tại Hội sở chính: thưởng từ 10 – 30% lương tháng tuỳ thuộc vào mức độ lợi ích mà khách hàng đó mang lại, tăng số ngày nghỉ phép,… Khóa luận: Giải pháp tín dụng cá nhân trung dài hạn Vietcombank.

  • KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

Như vậy, sau khi đi vào tìm hiểu cơ sở lí luận cũng như tình hình thực tiễn, Chương 3 đã nêu lên những định hướng phát triển cũng như đề ra các giải pháp hữu hiệu nhằm giải quyết những vấn đề còn tồn đọng trong hoạt động tín dụng cá nhân trung – dài hạn.

Như đã trình bày, có 7 giải pháp giúp khắc phục những mặt yếu kém còn tồn tại đối với mảng nghiệp vụ tín dụng cá nhân. Nhìn chung, cả 7 giải pháp đều hướng tới một mục tiêu chung là cải thiện những mặt hạn chế cũng như tiếp tục nâng cao và phát huy những mặt đã làm tốt của PGD. Mỗi giải pháp dường như hướng tới đầy đủ những khía cạnh khác nhau của tín dụng như: sản phẩm (đa dạng), lãi suất (linh hoạt), khách hàng (phân loại), tài sản đảm bảo (quy định cụ thể), kiểm soát tín dụng, áp dụng công nghệ, kênh phân phối (mở rộng).

Mặc dù còn nhiều thiếu sót nhưng hi vọng, với những giải pháp này, PGD sẽ thực hiện tốt và nâng cao chất lượng tín dụng cá nhân trung – dài hạn.

KẾT LUẬN Khóa luận: Giải pháp tín dụng cá nhân trung dài hạn Vietcombank.

Đi từ cơ sở lí luận đến thực tiễn và những giải pháp đã cung cấp tri thức liên quan về tín dụng cá nhân mà cụ thể tại PGD Sao Đỏ. Đây được đánh giá là một nghiệp vụ xuất hiện rất lâu đời, khá truyền thống, cổ điển và không thể bỏ bởi nó chính là xương sống, có liên quan và tác động trực tiếp (gián tiếp) đến mọi hoạt động trong ngân hàng. Và nó vẫn là một nguồn lợi lớn không thể thiếu trong tổng mức thu nhập từ việc kinh doanh.

Nhìn chung là vậy, tuy nhiên, khi đi vào tìm hiểu, tín dụng cá nhân còn mang trong mình những đặc trưng khác: phục vụ chủ yếu nhu cầu tiêu dùng và sản xuất kinh doanh, đối tượng khách hàng là cá nhân, hộ gia đình (chiếm tỉ lệ chủ yếu trong tổng lượng dân số),… Từ những đặc trưng ấy, có thể thấy nó có vai trò hết sức to lớn không chỉ riêng đối với ngân hàng mà còn đối với khách hàng và nền kinh tế nói chung. Bên cạnh đó, nó cũng chịu tác động bởi rất nhiều yếu tố như: môi trường pháp lí, kinh tế – xã hội, đối thủ cạnh tranh (yếu tố vĩ mô), bản thân ngân hàng cũng như khách hàng (yếu tố vi mô). Và để đánh giá được mức độ hiệu quả của nó, thường căn cứ vào 7 tiêu chí lớn: doanh số cho vay, doanh số thu nợ, dư nợ và tỉ trọng dư nợ trong tổng doanh số cho vay, tỉ lệ nợ quá hạn, hệ số thu nợ, tỉ lệ sinh lời và tính đa dạng của sản phẩm.

Từ những cơ sở lí luận ấy, soi vào thực tế đã vẽ lên một bức tranh đa màu sắc về tình hình tín dụng cá nhân trung – dài hạn. Trong bức tranh ấy, có một phần nhỏ được phác hoạ bằng những nét chấm phá về PGD Sao Đỏ cũng như các hoạt động của nó. Tiếp theo, một phần chính tạo nên linh hồn của bức tranh là thực trạng tín dụng cá nhân tại PGD. Ở đây, bố cục bức tranh đã được phân chia theo 7 mảng màu tương ứng với 7 tiêu chí. Trong mỗi mảng màu, các con số thống kê, những đồ thị tạo nên cái nhìn trực quan đã giúp thể hiện phần nào tình hình hoạt động, những mặt được và những mặt còn tồn tại.

Và cuối cùng, từ bức tranh với những khoảng màu sáng (ưu điểm), tối (hạn chế) ấy, em đã đưa ra những định hướng phát triển cũng như các giải pháp nhằm phần nào khoả lấp được những lỗ hổng hiện có của tín dụng cá nhân.

Với những vốn kiến thức ít ỏi cùng sự phân tích và nhận định, em hi vọng có thể góp một phần nhỏ tạo nên thành công trong hoạt động kinh doanh của PGD. Khóa luận: Giải pháp tín dụng cá nhân trung dài hạn Vietcombank.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Hiệu quả tín dụng cá nhân trung dài hạn ở Vietcombank

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x