Khóa luận: Hiệu quả tín dụng cá nhân trung dài hạn ở Vietcombank

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Hiệu quả tín dụng cá nhân trung dài hạn ở Vietcombank hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng cá nhân trung – dài hạn tại NHTMCP Ngoại thương, Chi nhánh Hải Dương, PGD Sao Đỏ dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Có thể nói, tín dụng là một mảng nghiệp vụ ra đời cùng thời điểm với ngân hàng. Ngân hàng đóng vai trò là tổ chức tài chính trung gian giúp điều chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu, đem lại hiệu quả tối ưu nhất cho từng đồng vốn.

Các chủ thể mà ngân hàng hướng tới phần lớn là cá nhân. Thực tế cho thấy, nhu cầu vay vốn của từng cá nhân là ít nhưng số lượng các cá nhân lại là một con số không hề nhỏ. Cũng vì lẽ đó, tín dụng cá nhân từ khi được hình thành cho đến nay vẫn luôn phát triển và là một trong những nghiệp vụ được chú trọng, thậm chí trở thành định hướng hoạt động của cả một ngân hàng hay chi nhánh. Như vậy, không thể phủ nhận, tín dụng cá nhân là phạm trù truyền thống, cốt lõi của một trung gian tài chính như ngân hàng. Dù trong bất kì hoàn cảnh nào, với tiềm năng vốn có của nó là quy mô dân số đông, nhu cầu vay vốn không nhỏ, tín dụng cá nhân vẫn luôn đem lại một nguồn lợi lớn cho ngân hàng.

Hiện nay, đối tượng chủ chốt của tín dụng cá nhân chính là phân khúc thị trường những người trẻ, có nguồn thu nhập thường xuyên biến đổi và luôn có nhu cầu nâng cao cuộc sống vật chất, tinh thần. Đoạn thị trường này sẽ mang lại những khoảng đất màu mỡ, một môi trường mà các ngân hàng có thể khai thác với những nguồn lợi tiềm năng. Và nếu tưởng tượng nó là một chiếc bánh ngọt, ngân hàng nào chiếm được phần bánh lớn hơn, ngân hàng đó sẽ có thị phần lớn hơn so với các ngân hàng còn lại.

Những điều này đã được em đúc kết trong quá trình thực tập tại PGD Sao Đỏ, trực thuộc Chi nhánh Hải Dương của NHTMCP Ngoại thương. Khi tìm hiểu và làm việc tại đây, em nhận thấy mặc dù hoạt động huy động vốn khá thuận lợi bởi những chính sách ưu đãi mang lại cho khách hàng, tuy nhiên hiệu quả sử dụng những đồng vốn ấy chưa thực sự cao và xứng tầm. Chính vì những lẽ đó, em quyết định chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng cá nhân trung – dài hạn tại NHTMCP Ngoại thương, Chi nhánh Hải Dương, PGD Sao Đỏ” để nghiên cứu với hi vọng có thể đưa ra những giải pháp hữu hiệu, có chất lượng, nhằm mang lại những chuyển biến tích cực hơn trong hoạt động tín dụng cá nhân trung – dài hạn của PGD Sao Đỏ nói riêng cũng như Chi nhánh Hải Dương nói chung.

2. Mục đích nghiên cứu Khóa luận: Hiệu quả tín dụng cá nhân trung dài hạn ở Vietcombank.

  • Tổng hợp những cơ sở lý luận về tín dụng cá nhân trong điều kiện nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Tìm hiểu thực trạng tín dụng cá nhân trung – dài hạn tại PGD Sao Đỏ, trực thuộc Chi nhánh Hải Dương của NHTMCP Ngoại thương.
  • Từ những nhận định về thực trạng ở trên, đưa ra những đánh giá, nhận xét và tìm giải pháp để tháo gỡ vấn đề còn tồn đọng.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là tín dụng cá nhân trung – dài hạn tại NHTMCP Ngoại thương, Chi nhánh Hải Dương, PGD Sao Đỏ.
  • Phạm vi nghiên cứu của khoá luận là tìm hiểu, nhận định tổng quan tình hình hoạt động chung của PGD Sao Đỏ và chú trọng chủ yếu đến tín dụng cá nhân trung – dài hạn tại Sao Đỏ trong 3 năm từ 2023 – 2025. Từ đó, đưa ra đánh giá về mặt mạnh, mặt yếu cũng như giải pháp nhằm khắc phục những mặt còn tồn tại.

4. Phương pháp nghiên cứu

  • Khoá luận sẽ sử dụng nhiều phương pháp nhưng chủ yếu là phương pháp thống kê, phân tích, so sánh số liệu và phán đoán, tổng hợp nhằm đưa ra những nhận định, giải pháp.

5. Kết cấu khoá luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung khoá luận được chia làm 3 chương như sau:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận chung về tín dụng cá nhân
  • Chương 2: Thực trạng tín dụng cá nhân trung – dài hạn tại PGD Sao Đỏ
  • Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng cá nhân trung – dài hạn tại PGD Sao Đỏ

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG CÁ NHÂN

1.1. Khái niệm tín dụng cá nhân

Tín dụng ra đời, tồn tại, phát triển với xuất phát điểm là nhu cầu khách quan của con người, nhằm giải quyết tình trạng thừa, thiếu vốn giữa các chủ thể trong nền kinh tế. Khóa luận: Hiệu quả tín dụng cá nhân trung dài hạn ở Vietcombank.

Theo Mác, tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định và khi đến hạn, người sử dụng phải hoàn trả một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu (bao gồm phần gốc vay và phần lãi).

Khi trở thành một mảng nghiệp vụ tại các ngân hàng thương mại, tín dụng có thể hiểu là việc ngân hàng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi (Theo PGS.TS Mai Văn Bạn, 2022). Ở đây, ngân hàng đứng ra làm trung gian tài chính, huy động nguồn vốn nhàn rỗi từ người thừa vốn và phân phối cho người thiếu vốn, giữa ngân hàng và các chủ thể trong nền kinh tế có sự chuyển nhượng về vốn.

Nếu xét tín dụng trên phương diện các chủ thể vay vốn, có thể hiểu tín dụng cá nhân chính là việc ngân hàng giao cho khách hàng là cá nhân hay hộ gia đình một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi. Những mục đích vay vốn của cá nhân, hộ gia đình có thể là mua sắm, sửa chữa nhà cửa, chi tiêu hàng ngày, chi cho giáo dục, phát triển việc kinh doanh nhỏ lẻ của gia đình,…

Và khi xét tín dụng cá nhân trên cơ sở thời hạn, hoạt động này được chia làm hai loại: tín dụng cá nhân ngắn hạn và tín dụng cá nhân trung – dài hạn. Căn cứ vào phạm vi nghiên cứu, khoá luận chỉ xin đưa ra định nghĩa về tín dụng cá nhân trung – dài hạn dựa trên khái niệm tín dụng cá nhân đã được trình bày ở trên: Tín dụng cá nhân trung – dài hạn là việc ngân hàng giao cho khách hàng là cá nhân hay hộ gia đình để sử dụng vào mục đích nhất định, trong trung – dài hạn với nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi (thời gian từ 1 năm trở lên). Cụ thể, khách hàng vay tiền chủ yếu để mua sắm nhà, đất, xây hoặc sửa nhà, kinh doanh chứng khoán, mua ôtô,… Các mục đích này thường đòi hỏi số tiền thực hiện lớn, thời gian hoàn trả tương đối dài hoặc rất dài.

1.2. Đặc điểm của tín dụng cá nhân Khóa luận: Hiệu quả tín dụng cá nhân trung dài hạn ở Vietcombank.

Trước tiên, tín dụng cá nhân chính là một loại hình của tín dụng. Vì vậy, tín dụng cá nhân cũng mang những đặc điểm chung của tín dụng như sau:

Thứ nhất, tín dụng tồn tại trên cơ sở lòng tin. Ngay tên gọi, nó đã thể hiện điều đó. Tín là uy tín, chữ tín. Dụng là sử dụng, chiếm dụng. Tín dụng chính là hình thức ngân hàng cho một chủ thể khác vay dựa trên cơ sở tin tưởng chủ thể đó sẽ sử dụng đúng mục đích và hoàn trả đúng hạn.

Thứ hai, tín dụng là chuyển nhượng một lượng giá trị có thời hạn. Thời hạn cho vay rất quan trọng bởi ngân hàng sử dụng nguồn vốn đi vay (huy động được) để cho vay, điều này đồng nghĩa với việc ngân hàng cũng phải cân đối giữa thời gian cho vay và thời gian trả nợ, đảm bảo vòng quay tín dụng luôn thuận lợi (không bị ứ đọng tại khâu thu nợ hay trả nợ). Tuy nhiên, xác định được thời hạn cho vay là điều thật không đơn giản bởi thời hạn cho vay phụ thuộc vào thời hạn của nguồn vốn đi vay cũng như chu kì luân chuyển vốn của chủ thể được ngân hàng cho vay.

Căn cứ vào thời hạn nguồn vốn đi vay của ngân hàng, nếu thời hạn này dài, ngân hàng có thể cho vay với thời gian dài và ngược lại, nếu thời hạn này ngắn, ngân hàng chỉ có thể cho vay với thời gian ngắn nhằm đảm bảo khả năng thanh toán.

Căn cứ vào chu kì luân chuyển vốn của chủ thể được ngân hàng cho vay, nếu thời hạn cho vay dài hơn chu kì luân chuyển vốn, chủ thể vay vốn có thể sẽ sử dụng sai mục đích khoản tiền được vay, gây ra những rủi ro về tính thanh khoản cũng như mất khả năng kiểm soát cho phía ngân hàng. Ngược lại, nếu thời hạn cho vay ngắn hơn chu kì luân chuyển vốn, chủ thể vay vốn có thể chưa thu hồi được nguồn vốn, khiến việc trả nợ cho ngân hàng trở nên chậm trễ.

Thứ ba, tín dụng là việc ngân hàng cấp một khoản giá trị cho người có nhu cầu về vốn và có quyền được nhận lại đầy đủ cả gốc – lãi khi đến hạn (tính bắt buộc hoàn trả). Đây là một điều khá hiển nhiên bởi khi quyết định cho vay, tức nguồn vốn của ngân hàng sẽ bị chiếm dụng trong một khoảng thời gian nhất định. Đổi lại, ngân hàng xứng đáng được hưởng phần lãi tương ứng, bù đắp vào chi phí cơ hội cũng như nhận lại phần gốc để đảm bảo khả năng thanh khoản. Tuy nhiên, hoàn trả đúng hạn cũng là một vấn đề nan giải, phức tạp và chứa đựng những rủi ro nhất định. Điều này tuỳ thuộc vào quá trình thẩm định trước khi cho vay cũng như tình hình chu chuyển của dòng vốn nằm trong tay người đi vay. Nếu quá trình thẩm định được thực hiện đúng quy trình, đưa ra kết quả tương đối xác thực, tính đảm bảo hoàn trả nợ đúng thời hạn sẽ ở mức cao. Bên cạnh đó, nếu các chủ thể vay vốn làm ăn có lãi, họ xoay sở được đồng vốn, nguồn tiền của họ quay vòng đúng theo chu kì dự tính, họ sẽ trả nợ đúng hạn. Ngược lại, khi họ làm ăn thua lỗ, chu kì vòng quay của nguồn vốn lớn hơn thời hạn được vay, việc trả được nợ lại trở thành điều không đơn giản. Đây chính là một trong những vấn đề mà các ngân hàng luôn tìm cách hạn chế đến mức tối đa: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản. Khóa luận: Hiệu quả tín dụng cá nhân trung dài hạn ở Vietcombank.

Ngoài mang những đặc điểm vốn có của phạm trù tín dụng, tín dụng cá nhân cũng bao hàm trong nó những đặc điểm riêng (giúp phân biệt với các mảng nghiệp vụ khác như tín dụng sản xuất đối với doanh nghiệp nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn,…) về các mặt như sau:

Khách hàng vay: là các cá nhân và hộ gia đình. Thực tế đã chứng minh khi con người có thu nhập cao, họ sẽ mang khuynh hướng tiến bộ đi cùng thời đại, mong muốn nâng cao chất lượng cuộc sống của bản thân nhiều hơn, thậm chí vượt mức thu nhập hiện có. Điều này dẫn đến nhu cầu vay vốn cũng có xu hướng tăng. Đối với các hộ gia đình cũng tương tự, khi các thành viên trong gia đình có thu nhập cao, có mong muốn kinh doanh hay có nhu cầu sử dụng các dịch vụ, sản phẩm tốt hơn, tân tiến hơn, nhu cầu vay vốn cũng sẽ tăng.

Mục đích vay: Điều này đã phần nào được thể hiện qua định nghĩa về tín dụng cá nhân. Khi các chủ thể vay, chủ yếu vì mục đích tiêu dùng, phục vụ những nhu cầu hàng ngày (trong ngắn hạn) như: mua sắm vật dụng gia đình, đóng học phí,… hay phục vụ những nhu cầu cần lượng vốn lớn (trong trung – dài hạn) như: kinh doanh buôn bán nhỏ lẻ, mua sắm phương tiện đi lại (xe máy, ô tô), mua nhà,…

Nguồn trả nợ: Vì mục đích vay không chủ yếu hướng vào sản xuất, kinh doanh nên dễ dàng nhận thấy, lượng giá trị đi vay thường không mang lại lợi nhuận. Các chủ thể thường dùng lương hoặc thu nhập từ các nguồn khác: dạy thêm, buôn bán nhỏ lẻ, ăn hoa hồng từ việc môi giới,… để trả nợ ngân hàng. Điều này cũng gián tiếp tác động đến cường độ làm việc của họ, khiến họ có thêm động lực để kiếm tiền trang trải khoản nợ.

Quy mô khoản vay: Như đã nói, mỗi chủ thể vay vốn ở đây thường vay một lượng giá trị nhỏ. Tuy nhiên, số lượng các chủ thể lại là một con số khá lớn nên tổng quy mô lượng vốn cho vay là không nhỏ.

Nhu cầu vay vốn để phục vụ tiêu dùng chịu ảnh hưởng lớn từ tình hình kinh tế. Thật vậy, khi kinh tế phát triển, thu nhập tăng, con người có nhu cầu mua sắm nhiều hơn, vay vốn cũng nhiều hơn. Ngược với đó, khi kinh tế suy thoái, giá cả không có xu hướng giảm, mọi chi tiêu của con người trở nên eo hẹp hơn, nhu cầu vay vốn cũng ít đi bởi nguồn tiền có thể dùng để trả nợ ngày càng giảm. Và thay vì vay vốn, họ chuyển sang hình thức khác nhằm mục đích chi trả cho những phát sinh hàng ngày, đó là tiết kiệm.

Tính rủi ro cao: Tín dụng cá nhân luôn tiềm ẩn những rủi ro ở hầu hết các bước trong quy trình cấp tín dụng cũng như các mặt liên quan đến tín dụng:

Việc thẩm định thường không đem lại kết quả xác thực bởi nguồn thông tin không đầy đủ. Điều này không tránh khỏi bởi các thông tin về tính khả thi, triển vọng của việc sử dụng vốn cũng như tình trạng sức khoẻ thường không có cơ sở cụ thể để xác minh, không mang tính rõ ràng, minh bạch như đối với các báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Các chủ thể có thể dễ dàng che giấu nhằm mục đích được vay vốn. Khóa luận: Hiệu quả tín dụng cá nhân trung dài hạn ở Vietcombank.

Nguồn trả nợ chủ yếu là từ thu nhập của cá nhân người đi vay. Nguồn thu nhập này không có tính ổn định, có thể dễ dàng thay đổi, tăng lên hay giảm đi bởi tác động từ tình trạng sức khoẻ (khoẻ, yếu), tình hình công việc (lên chức, bị giáng chức, điều chuyển công việc,…), hoàn cảnh gia đình (thêm người phụ thuộc, gặp phát sinh ngoài ý muốn,…),…

Chi phí quản lí khoản vay lớn: mất nhiều thời gian, công sức để thu thập, điều tra các thông tin về cá nhân, hộ gia đình trước khi cấp tín dụng là điều không tránh khỏi trong tiến trình thẩm định. Không những thế, số lượng các khoản tín dụng cá nhân lại rất lớn. Những điều đó cho thấy, chi phí dùng để quản lí các khoản vay này không hề nhỏ.

Lợi nhuận từ tín dụng cá nhân cao: Thực tế đã chứng minh lợi nhuận và tính rủi ro là hai yếu tố luôn song hành. Để có được lợi nhuận, ngân hàng thường áp mức lãi suất ở ngưỡng cao, gây khó khăn cho khách hàng trong việc trả nợ đầy đủ khi đến hạn, từ đó gây bất lợi cho ngân hàng trong việc thu hồi nợ (gây ra rủi ro về mặt thanh khoản). Điều đó cho thấy khi lợi nhuận lớn sẽ kèm theo tính rủi ro cũng tương đối cao.

1.3. Vai trò của tín dụng cá nhân

Tín dụng cá nhân là một bộ phận không thể thiếu trong hoạt động của ngân hàng, là kênh liên kết vững chắc với khách hàng và tác động đến cả nền kinh tế. Cụ thể:

1.3.1. Đối với ngân hàng

Tín dụng cá nhân là một mảng nghiệp vụ đặc trưng của ngân hàng. Bởi vậy, nghiệp vụ này có vai trò rất lớn đối với ngân hàng. Tiêu biểu là 3 vai trò chính sau:

Thứ nhất, tín dụng cá nhân là một kênh giúp tăng cường mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng cá nhân. Thông qua hoạt động này, nhân viên ngân hàng sẽ giao tiếp với khách hàng, từ đó có thể đẩy mạnh sự liên kết cũng như triển khai mở rộng các hoạt động nghiệp vụ khác đến với họ: huy động vốn, dịch vụ thanh toán,… Qua việc giao tiếp, ngân hàng cũng có thể tăng cường marketing cho bản thân nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh với các ngân hàng khác.

Thứ hai, tín dụng cá nhân là một nghiệp vụ truyền thống trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, đem lại một khoản lợi nhuận đáng kể và chiếm tỉ trọng cao trong tổng giá trị lợi nhuận mà ngân hàng thu được. Thật vậy, thường giá trị các khoản vay của cá nhân tương đối nhỏ, tuy nhiên số lượng các khoản vay lại rất lớn nên ngân hàng có thể dễ dàng phân tán rủi ro. Bên cạnh đó, khi xét tổng giá trị các khoản mà ngân hàng đã cho cá nhân vay sẽ là một con số không hề nhỏ. Tiếp nữa, tín dụng cá nhân bao hàm trong nó sự rủi ro rất lớn (đây là một trong những đặc điểm của hoạt động này) nên lãi suất mà ngân hàng áp khi cho khách hàng vay thường lớn, nhờ đó, nguồn lợi đem lại từ việc cho vay (trong điều kiện khách hàng thanh toán nợ vay đúng hạn) cũng rất cao.

Thứ ba, tín dụng cá nhân là vị cứu tinh đối với việc kinh doanh ban đầu của các ngân hàng nhỏ, còn non yếu trên thị trường. Khi mới đi vào hoạt động, các ngân hàng này cần dựa vào tín dụng cá nhân để thu hút khách hàng, chiếm lĩnh thị phần, dần dần tăng sức cạnh tranh với các ngân hàng khác. Qua đây, nó cũng sẽ gia tăng được nguồn lực, tạo cơ hội kết nối với các khách hàng là doanh nghiệp.

1.3.2. Đối với khách hàng Khóa luận: Hiệu quả tín dụng cá nhân trung dài hạn ở Vietcombank.

Đối với khách hàng, tín dụng cá nhân có những vai trò như sau:

Thứ nhất, tín dụng cá nhân giúp thỏa mãn những nhu cầu cần thiết hay cấp bách của khách hàng. Quả vậy, vay ngân hàng là một trong những kênh mà khách hàng cá nhân có thể được sử dụng một khoản tiền nhanh và an toàn nhất trong khoảng thời gian nhất định trước khi kịp tích lũy được một khoản tương ứng. Hiện nay, khi xã hội ngày càng phát triển, những nhu cầu của con người ngày càng phong phú, đa dạng dẫn đến mức độ chi tiêu tăng, thậm chí vượt mức cho phép.

Chính vì lẽ đó, việc ngân hàng cung cấp dịch vụ cho vay đối với khách hàng cá nhân đã góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của họ.

Thứ hai, tín dụng cá nhân ngày càng hoàn thiện, đem đến nhiều ưu đãi cho khách hàng. Cụ thể, mức lãi suất tại các ngân hàng thường thấp hơn mức lãi suất được áp tại các thị trường tự do (thị trường chợ đen). Các thủ tục hiện nay cũng đã rút ngắn, đem đến sự thoải mái, tiện ích nhất cho khách hàng. Bên cạnh đó, thời hạn vay cũng như phương thức trả nợ có thể đàm phán, thương lượng được tùy vào từng hoàn cảnh của khách hàng, giúp họ thêm an tâm khi sử dụng dịch vụ này.

1.3.3. Đối với nền kinh tế

Hiện nay, tín dụng cá nhân giữ một vị trí rất quan trọng và có tác động không hề nhỏ đến các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế. Cụ thể:

Thứ nhất, tín dụng cá nhân góp phần luân chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu. Việc này giúp tăng nguồn tiền ra ngoài thị trường, giúp kích cầu, làm tăng mức độ lưu thông hàng hóa, từ đó phần nào đã thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, tăng doanh thu cho các doanh nghiệp, giảm tỉ lệ thất nghiệp cho xã hội,…

Thứ hai, tín dụng cá nhân là một trong các dịch vụ bán lẻ cốt lõi của ngân hàng. Khi các dịch vụ này phát triển sẽ đẩy nhanh quá trình lưu chuyển tiền tệ, tận dụng tiềm năng lớn từ dân cư nhằm phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, hạn chế việc dùng tiền mặt,…

1.4. Phân loại tín dụng cá nhân Khóa luận: Hiệu quả tín dụng cá nhân trung dài hạn ở Vietcombank.

Hiện nay, để gia tăng sức cạnh tranh so với các ngân hàng khác cũng như thu hút khách hàng, chiếm lĩnh thị phần, các ngân hàng đã luôn tìm tòi và nghiên cứu để đưa ra các loại hình tín dụng mới dựa trên 4 tiêu chí chính:

1.4.1. Căn cứ vào thời hạn tín dụng

Thời hạn là một trong những yếu tố quan trọng khi cho vay mà ngân hàng quan tâm. Nó sẽ là căn cứ để quyết định số tiền cho vay, lãi suất cũng như các điều kiện khác liên quan đến việc cho vay. Và căn cứ vào thời hạn tín dụng, tín dụng cá nhân chia làm 3 loại:

  • Tín dụng ngắn hạn: là tín dụng với thời hạn nhỏ hơn hoặc bằng 1 năm. Đây là hình thức tín dụng chủ yếu, phục vụ trực tiếp cho nhu cầu tiêu dùng cần thiết của cá nhân, hộ gia đình. Rủi ro khi cho vay ngắn hạn là thấp nhất.
  • Tín dụng trung hạn: là tín dụng với thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm. Đối với cá nhân, loại hình tín dụng này thường để phục vụ các nhu cầu như mua ô tô, sửa hay xây nhà,…
  • Tín dụng dài hạn: là tín dụng với thời hạn từ 5 năm trở lên. Với loại hình này, các cá nhân thường dùng khi vay ngân hàng với số tiền lớn, phục vụ nhu cầu liên quan đến bất động sản (mua đất, mua nhà, căn hộ,…), chứng khoán,…Tín dụng dài hạn luôn ẩn chứa nhiều rủi ro hơn các loại hình tín dụng còn lại.

1.4.2. Căn cứ vào đảm bảo tín dụng

Tín dụng luôn bao hàm rủi ro nên sự đảm bảo trong tín dụng là điều cần thiết. Việc có hay không tồn tại sự đảm bảo cũng sẽ là một trong những nhân tố tác động tới quyết định cho vay của ngân hàng về những khía cạnh: cho vay hay không, số tiền cho vay, vay với thời hạn như thế nào,… Và căn cứ vào đảm bảo tín dụng, tín dụng cá nhân được chia làm 2 loại:

Tín dụng có đảm bảo: là hình thức tín dụng có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc có sự bảo lãnh của người thứ ba. Loại hình tín dụng này áp dụng với những khách hàng không có uy tín hay độ tin cậy thấp. Việc có đảm bảo sẽ tạo căn cứ pháp lí khiến ngân hàng yên tâm về nguồn thu dự phòng khi nguồn thu chính bị thiếu hụt, giảm thiểu rủi ro. Và đối với cá nhân, các khoản tín dụng được cấp trong thời gian trung – dài hạn và mang giá trị lớn thường có đảm bảo.

Tín dụng không đảm bảo: là hình thức tín dụng không có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc không có sự bảo lãnh của người thứ ba. Loại hình tín dụng này phần lớn áp dụng với những khách hàng thân quen, có uy tín hoặc có công việc, thu nhập ổn định, có khoản tích lũy. Các khoản cho vay theo loại hình này thường có giá trị thấp và được cấp trong thời gian ngắn.

1.4.3. Căn cứ vào phương thức hoàn trả nợ vay Khóa luận: Hiệu quả tín dụng cá nhân trung dài hạn ở Vietcombank.

Cách thức trả nợ cũng là một trong những vấn đề mà ngân hàng thường quan tâm. Nó có thể ảnh hưởng đến doanh số thu nợ, mức độ rủi ro,… và được quyết định dựa trên từng đối tượng, từng hoàn cảnh của khách hàng. Căn cứ vào phương thức hoàn trả nợ vay, tín dụng cá nhân được chia làm 2 loại:

Tín dụng trả góp: là hình thức người đi vay trả nợ cho ngân hàng theo nhiều lần với những kì hạn nhất định do ngân hàng quy định (tháng, quý,…). Loại hình này thường áp dụng đối với các khoản vay có giá trị lớn hoặc các khách hàng có thu nhập định kì.

Tín dụng hoàn trả một lần: là hình thức người đi vay trả nợ một lần khi hợp động tín dụng đến hạn. Loại hình này thường áp dụng đối với các khoản vay có giá trị nhỏ, thời hạn cho vay ngắn.

1.4.4. Căn cứ vào mục đích tín dụng

Mục đích tín dụng hay mục đích sử dụng là một trong những tiêu chí quan trọng giúp phân loại tín dụng, từ đó có thể đưa ra những điều kiện phù hợp khi quyết định cho vay như tỉ lệ cho vay, thời hạn, điều kiện về tài sản đảm bảo,… Và căn cứ vào mục đích sử dụng, tín dụng có thể chia thành 4 loại:

Cho vay bất động sản: là sản phẩm tín dụng nhằm phục vụ nhu cầu mua nhà, mua đất, sửa chữa và xây dựng nhà,… của khách hàng trong điều kiện tài chính hiện tại của họ khó khăn và thiếu thốn.

Cho vay tiêu dùng: là sản phẩm tín dụng nhằm phục vụ nhu cầu chi tiêu, mua sắm thông thường, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của khách hàng (thường là những người có công việc, thu nhập ổn định). Số lượng khách hàng sử dụng sản phẩm này thường khá lớn.

Cho vay sản xuất kinh doanh (Tiểu thủ công nghiệp): là sản phẩm tín dụng nhằm bù đắp những khoản thiếu hụt trong quá trình kinh doanh nhỏ lẻ của các cá nhân hay hộ gia đình. Đối với sản phẩm này, số lượng khách hàng có nhu cầu cũng khá đông nhưng doanh số thu được từ việc cho vay lại không nhiều do những mặt hạn chế về trình độ, thời gian của khách hàng cũng như quy mô hoạt động kinh doanh (quy mô khoản tiền vay) không lớn.

Cho vay nông nghiệp: đây cũng là một sản phẩm tín dụng liên quan đến sản xuất kinh doanh nhưng nó mang tính đặc thù hơn bởi nhắc đến nông nghiệp là nhắc đến việc trồng trọt, chăn nuôi_những việc phụ thuộc phần lớn vào thời tiết và ẩn chứa nhiều rủi ro bất thường. Loại hình tín dụng này không những cung cấp vốn nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất của bà con nông dân mà còn góp phần thay đổi phương thức canh tác từ thủ công đến vận dụng máy móc vào sản xuất, thu hoạch, từ quy mô nhỏ lẻ đến quy mô lớn hơn, thậm chí hướng tới thị trường xuất khẩu rộng rãi. Từ đó, hứa hẹn sẽ thay đổi được căn bản chất lượng, giá trị cuộc sống của người nông dân.

1.5. Quy trình tín dụng cá nhân Khóa luận: Hiệu quả tín dụng cá nhân trung dài hạn ở Vietcombank.

Quy trình tín dụng được hình thành trên cơ sở tổng hợp các nguyên tắc, quy định của ngân hàng trong việc cấp tín dụng, bao gồm nhiều giai đoạn được sắp xếp theo một trình tự logic, có quan hệ chặt chẽ với nhau. Thông thường, quy trình tín dụng cá nhân gồm 5 giai đoạn:

  • Sơ đồ 1.1. Quy trình tín dụng cá nhân

1.5.1. Lập hồ sơ tín dụng

Đây là giai đoạn khởi đầu cho mối quan hệ giữa khách hàng với ngân hàng, giúp cung cấp thông tin của khách hàng thông qua các giấy tờ, văn bản chứng minh nhu cầu về vốn tín dụng, tính hợp pháp về nhân thân cũng như tính tự nguyện xin cấp tín dụng của khách hàng. Từ đó, nó tạo cơ sở cho mọi giao dịch tín dụng sau này. Và đối với khách hàng, ngân hàng thường yêu cầu các loại giấy tờ sau:

  • Giấy đề nghị vay vốn: theo mẫu của từng ngân hàng
  • Hồ sơ pháp lí: gồm chứng minh thư nhân dân, sổ hộ khẩu/tạm trú,…
  • Hồ sơ thuyết minh vay vốn: trình bày mục đích vay vốn.
  • Hồ sơ chứng minh thu nhập: hợp đồng lao động, xác nhận lương,…
  • Hồ sơ tài sản đảm bảo: giấy tờ nhà, đất,…

1.5.2. Thẩm định tín dụng

Đây là giai đoạn quan trọng nhất trong quy trình tín dụng. Ở bước này, ngân hàng sẽ kiểm tra tính chính xác về các thông tin mà khách hàng đã cung cấp ở bước 1, từ đó tạo cơ sở giúp ngân hàng phân tích mục đích sử dụng vốn tín dụng cũng như khả năng hoàn trả vốn vay của khách hàng. Việc thẩm định này phải dựa trên cả hai mặt: định tính và định lượng.

  • Về mặt định tính, ngân hàng thường sử dụng phương pháp phân tích 5C

(Theo Giáo trình Nghiệp vụ ngân hàng thương mại, 2022) như sau: Khóa luận: Hiệu quả tín dụng cá nhân trung dài hạn ở Vietcombank.

Character (Tư cách của khách hàng): Ở đây, tư cách được biểu hiện qua mục đích vay vốn rõ ràng cũng như sự trung thực, tinh thần trách nhiệm, thiện chí trong việc trả nợ. Việc xác định mục đích sử dụng vốn rất quan trọng, giúp ngân hàng nhận định được sơ lược về khả năng trả nợ của khách hàng trong tương lai thông qua tiềm năng, mức độ sinh lời của mục đích ấy. Ngoài ra, mục đích sử dụng vốn vay cũng tạo cơ sở để ngân hàng đưa ra quyết định có nên cho vay hay không khi đối chiếu với chính sách tín dụng hiện hành. Ngoài ra, sự trung thực, trách nhiệm sẽ là căn cứ tạo lòng tin nơi ngân hàng về vấn đề hoàn trả nợ vay.

Capacity (Năng lực của khách hàng): Các khách hàng cần đảm bảo năng lực pháp luật dân sự (có quyền và nghĩa vụ dân sự theo pháp luật) và năng lực hành vi dân sự (khả năng của cá nhân trong việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự).

Capital (Vốn riêng của khách hàng): Đây là một trong các tiêu chí mà ngân hàng quan tâm nhất bởi nó ảnh hưởng đến việc hoản trả nợ vay. Ngân hàng sẽ thẩm định xem khách hàng sẽ làm gì, dùng cách gì giúp tạo ra khoản tiền để trả nợ (ngoài lương, ngân hàng sẽ căn cứ vào các thu nhập khác của khách hàng như buôn bán nhỏ lẻ, hưởng hoa hồng môi giới,…).

Collateral (Tài sản đảm bảo nợ vay): Đây cũng là một cơ sở để ngân hàng đưa ra quyết định sẽ cho khách hàng vay hay không. Nó thường là sự bảo lãnh hoặc một tài sản có giá trị (thường lớn hơn số tiền khoản vay), là nguồn thu thứ hai khi khách hàng không thể thanh toán khoản tiền đã vay. Nó phải đảm bảo sự hợp pháp, tính thanh khoản, sự giữ giá,… nhằm hạn chế rủi ro cho ngân hàng.

Conditions (Điều kiện trả nợ): Ngân hàng cần tìm kiếm thông tin cũng như nhận định sơ bộ về xu hướng phát triển, tiềm năng của công việc hay ngành nghề mà khách hàng đang theo đuổi cũng như các điều kiện kinh tế sẽ ảnh hưởng thế nào đến khoản tín dụng.

Về mặt định lượng, ngân hàng có thể sử dụng phương pháp điểm số tín dụng. Đây là cách xét yêu cầu cấp tín dụng cho khách hàng thông qua điểm số bằng cách chấm điểm tự động các yếu tố liên quan đến khách hàng. Từ đó, việc phân tích này trở nên cụ thể và đơn giản hóa. Mô hình này thường dùng từ 7 đến 12 hạng mục và mỗi hạng mục cho điểm từ 1 đến 10. Cụ thể, các ngân hàng thương mại ở Việt Nam thường tiếp thu, học hỏi cũng như đề ra bảng điểm số tín dụng dựa trên những hạng mục và điểm số tương ứng được áp dụng tại Mỹ do Anthony Sauder, một nhà kinh tế học xây dựng lên như sau:

  • Bảng 1.1. Hạng mục tín dụng và điểm số tương ứng

Theo bảng hạng mục ở trên, khách hàng sẽ có điểm cao nhất là 43 và thấp nhất là 9. Ngoài căn cứ vào bảng này, ngân hàng còn phải dựa trên số liệu thống kê từ những lần giao dịch trước đó để xác định số điểm là ranh giới giữa quyết định cho vay hoặc không, từ đó quyết định số tiền cho vay là bao nhiêu tùy thuộc từng thang điểm cụ thể.

Mặc dù phương pháp này ưu thế hơn phương pháp định tính nhưng cũng không tránh khỏi những rủi ro và sai sót khi các điều kiện kinh tế – xã hội có những thay đổi lớn và tác động mạnh mẽ lên các hạng mục. Lúc ấy, khi bảng hạng mục tính điểm không có sự linh hoạt sẽ dẫn đến nhiều hậu quả xấu: xác định sai đối tượng và số tiền cho vay, bỏ lỡ những khách hàng tiềm năng,…

1.5.3. Quyết định cấp tín dụng Khóa luận: Hiệu quả tín dụng cá nhân trung dài hạn ở Vietcombank.

Sau khi thẩm định, một giai đoạn không kém phần quan trọng chính là ra quyết định cấp tín dụng bởi đây là bước cuối cùng trong tiến trình tìm hiểu, nhận định thông tin và đưa ra câu trả lời cho yêu cầu vay vốn của khách hàng. Ngân hàng sẽ phải chịu mọi rủi ro và hậu quả từ việc cho vay nên họ rất thận trọng. Ngoài sử dụng các kết quả từ quá trình thẩm định, ngân hàng còn căn cứ vào các nguồn thông tin khác như các thông tin mới cập nhật về khách hàng, về các chính sách của pháp luật có liên quan,….

Từ những nguồn thông tin trên, ngân hàng sẽ đưa ra quyết định của mình. Nếu từ chối, ngân hàng sẽ gửi văn bản thông báo nêu rõ lí do. Nếu đồng ý, ngân hàng và khách hàng sẽ tiến hành kí hợp đồng tín dụng với những nội dung được nêu chi tiết và rõ ràng: mục đích vay vốn, số tiền vay, thời hạn vay, lãi suất vay,…

1.5.4. Giải ngân

Sau khi kí hợp đồng tín dụng với khách hàng, tùy theo những điều khoản nêu rõ trong hợp đồng, ngân hàng sẽ tiến hành giải ngân. Việc giải ngân có thể diễn ra một lần (nếu giá trị vay nhỏ) hoặc nhiều lần (nếu giá trị vay lớn) bằng nhiều cách: giải ngân bằng chuyển khoản hoặc tiền mặt, trả trực tiếp đơn vị cung cấp hàng hóa cho khách hàng,…

1.5.5. Giám sát, thu nợ và thanh lí tín dụng

Mục tiêu của bước này là theo dõi, đánh giá mức độ chấp hành hợp đồng của khách hàng và có những tác động phù hợp khi cần thiết. Cán bộ tín dụng cần theo dõi:

  • Sự ổn định về tài chính của người vay
  • Việc sử dụng khoản vay đúng mục đích
  • Giá trị tài sản đảm bảo
  • Tiến độ trả nợ
  • Nhu cầu mới của khách hàng

Trước khi đến hạn, ngân hàng có quyền thu hồi nợ hoặc ngừng giải ngân nếu khách hàng vi phạm hợp đồng. Khi đến hạn, nếu khách hàng thanh toán đủ gốc và lãi, các quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng được coi là kết thúc. Nếu khách hàng không thanh toán đủ gốc và lãi, ngân hàng sẽ tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra những quyết định: gia hạn hợp đồng, thay đổi cách trả nợ, bán tài sản đảm bảo bù đắp rủi ro,…

Như vậy, một quy trình tín dụng có vai trò rất quan trọng trong hoạt động của ngân hàng. Nó được xây dựng dựa trên điều kiện các quy định của pháp luật, điều kiện của từng ngân hàng. Quy trình cần xây dựng sao cho linh hoạt để thích ứng kịp thời với những thay đổi bất chợt cũng như đảm bảo sự hiệu quả, đơn giản, không rườm rà, gây phiền hà cho khách hàng. Có được một quy trình tốt, việc kinh doanh của ngân hàng sẽ phát triển hơn, giảm thiểu được những rủi ro không đáng có.

1.6. Hiệu quả tín dụng cá nhân của ngân hàng thương mại Khóa luận: Hiệu quả tín dụng cá nhân trung dài hạn ở Vietcombank.

1.6.1. Khái niệm

  • Tín dụng cá nhân của ngân hàng thương mại được coi là hiệu quả khi đảm bảo các tiêu chí sau:

Thứ nhất, đảm bảo lợi ích của ngân hàng (bên cho vay) thông qua việc duy trì mức chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay cũng như đảm bảo tính thanh khoản. Thật vậy, tín dụng là hoạt động ngân hàng cho vay nhằm thu lợi nhuận từ phần chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay. Và khi mức chênh lệch lãi suất đó được duy trì, tức là lợi ích của ngân hàng được đảm bảo.

Bên cạnh đó, tính thanh khoản cũng là một yếu tố giúp đảm bảo lợi ích của ngân hàng bởi khi tốc độ quay vòng vốn quá chậm, ngân hàng có thể mất khả năng thanh toán, gây mất uy tín.

Thứ hai, đảm bảo lợi ích của khách hàng (bên đi vay) thông qua sự nhanh chóng, tiện lợi khi làm thủ tục vay vốn cũng như sự đa dạng của các chính sách hỗ trợ, ưu đãi. Về điểm này, có thể thấy trước đây, với các quy định, thủ tục rườm rà, khách hàng thường e ngại trong việc giao dịch với ngân hàng. Khi vấn đề này được giải quyết, tần suất khách hàng đến với ngân hàng sẽ ngày càng tăng. Cùng với đó, các chính sách hỗ trợ, ưu đãi cũng là một nhân tố giúp níu chân khách hàng bởi khi đó, họ cảm thấy lợi ích của mình được đảm bảo: người nghèo có thể vay với lãi suất thấp, khách hàng trả chậm trong vòng một thời gian nhất định (khoảng thời gian này sẽ được quy định cụ thể theo từng giai đoạn phát triển của ngân hàng) có thể không phải chịu lãi suất phạt, khách hàng có thể trả góp theo thời hạn tuỳ thuộc vào sự thoả thuận,…

Thứ ba, đảm bảo lợi ích của kinh tế – xã hội thông qua việc đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế cũng như đảm bảo sự ổn định của đời sống xã hội. Khi khách hàng được vay vốn, họ có thể sẽ đầu tư vào các dự án, việc kinh doanh,… (nhằm thu lợi nhuận) hay mua sắm vật dụng gia đình, sửa chữa, xây mới nhà cửa,… (nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống). Và khi ngân hàng cho vay được, tức hoạt động kinh doanh thuận lợi, nhờ vậy lượng thuế họ nộp cho nhà nước cũng được đảm bảo và lượng tiền họ có thể tài trợ hay đầu tư cho xã hội cũng được duy trì. Chỉ khi làm được những điều này, tín dụng cá nhân mới thật sự đảm bảo được lợi ích của kinh tế – xã hội.

Xét theo chiều ngược lại, khi tín dụng cá nhân hiệu quả, các lợi ích của ngân hàng, khách hàng và kinh tế – xã hội cũng được đảm bảo. Bởi khi hoạt động này hiệu quả, tức việc kinh doanh của ngân hàng đang sinh lời, khách hàng tiếp cận đồng vốn vay dễ dàng hơn và các khoản tiền đầu tư vào kinh tế – xã hội cũng tăng.Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả tín dụng cá nhân là rất cần thiết.

1.6.2. Các chỉ tiêu đánh giá mức độ hiệu quả của tín dụng cá nhân Khóa luận: Hiệu quả tín dụng cá nhân trung dài hạn ở Vietcombank.

1.6.2.1. Doanh số cho vay

Doanh số cho vay là các khoản tín dụng mà ngân hàng đã cho vay xét trên một khoảng thời gian nhất định, thường theo tháng, quý hoặc năm. Doanh số cho vay cao thường thể hiện uy tín ngân hàng lớn, hoạt động tín dụng đang có xu hướng hiệu quả, khả năng xử lí nguồn vốn ứ đọng và tiếp thị tốt, thị phần mở rộng. Tuy nhiên, khi đặt trong những điều kiện hoàn cảnh đặc biệt, đôi khi việc doanh số cho vay đạt giá trị cao lại không đem đến cái nhìn khả quan. Cụ thể, khi thị trường tín dụng đang trong thời kì tăng trưởng nóng, tức là phần lớn dân cư trong xã hội đều có nhu cầu vay vốn. Điều này sẽ tốt nếu nguồn vốn huy động được lớn, thời gian phải trả dài và khả năng kiểm soát mức độ rủi ro của ngân hàng tốt. Tuy nhiên, không phải tiềm lực tài chính hoặc khả năng hạn chế rủi ro của ngân hàng nào cũng khá. Ngoài ra, khi trong môi trường cạnh tranh gay gắt về tìm đầu ra cho nguồn vốn, các ngân hàng có thể tiến hành giảm lãi suất. Điều này nhất thời sẽ giúp tăng tổng doanh số cho vay nhưng tỉ suất lợi nhuận cũng vì thế mà không cao, thậm chí có xu hướng giảm so với thời điểm trước đó.

Trong phạm vi khoá luận, doanh số cho vay được hiểu là tổng luỹ kế doanh số cho vay khách hàng cá nhân, hộ gia đình trong trung – dài hạn tính đến năm đang xét.

1.6.2.2. Doanh số thu nợ

Doanh số thu nợ là tất cả các khoản thu nợ gốc mà ngân hàng đã thu hồi từ những khoản cho vay của mình. Chỉ tiêu này cho thấy khả năng thu hồi vốn của ngân hàng, mức độ giảm thiểu rủi ro cũng như tình trạng mất khả năng thanh toán.

Trong phạm vi khoá luận, mức doanh số thu nợ được hiểu là tổng luỹ kế mức doanh số thu nợ từ khách hàng cá nhân, hộ gia đình trong trung – dài hạn tính đến năm đang xét. Khóa luận: Hiệu quả tín dụng cá nhân trung dài hạn ở Vietcombank.

1.6.2.3. Dư nợ

Dư nợ là toàn bộ số tiền ngân hàng đã cho vay nhưng chưa thu hồi được. Bởi vậy, chỉ tiêu này cũng là một nhân tố giúp đánh giá mức độ hiệu quả của hoạt động tín dụng và được tính bởi công thức:

  • Dư nợ = Doanh số cho vay – Doanh số thu nợ (Công thức 1.1)

Từ công thức trên, có thể thấy, nếu mức dư nợ thấp chứng tỏ khả năng thu hồi nợ gốc của ngân hàng khá tốt, ngược lại mức dư nợ cao lại cho thấy tình hình thu hồi nợ gốc của ngân hàng không khả quan. Tuy nhiên, chỉ dựa vào giá trị tính toán thì rất khó xác định được thế nào là dư nợ ở mức cao, dư nợ ở mức thấp. Trong trường hợp này, cần sử dụng chỉ tiêu tỉ trọng dư nợ trong tổng mức doanh số cho vay nhằm đưa ra những nhận định chính xác hơn về khả năng thu hồi nợ gốc. Chỉ tiêu này được tính bởi công thức:

Nếu tỉ trọng này nhỏ hơn 50% thì mức dư nợ có thể được coi là thấp. Ngược lại, nếu tỉ trọng này lớn hoặc bằng 50% thì mức dư nợ được coi là cao.

Trong phạm vi khoá luận, mức dư nợ được hiểu là tổng luỹ kế mức dư nợ của khách hàng là cá nhân, hộ gia đình trong trung – dài hạn tính đến năm đang xét.

1.6.2.4. Tỉ lệ nợ quá hạn

Nợ quá hạn là các khoản nợ mà khi đến hạn, khách hàng không thể hoàn trả toàn bộ hay một phần khoản gốc và lãi theo hợp đồng. Điều này phản ánh tiềm lực tài chính yếu kém của khách hàng cũng như cảnh báo rủi ro mất khả năng thanh toán của ngân hàng. Tỉ lệ này một phần đã phản ánh được chất lượng tín dụng của ngân hàng và được tính bởi công thức:

Qua công thức có thể thấy, tỉ lệ này có ý nghĩa: cứ trên 100 đồng dư nợ hiện hành sẽ có bao nhiêu đồng đã quá hạn. Nếu tỉ lệ này cao, chứng tỏ chất lượng tín dụng kém và ngược lại, nếu tỉ lệ này thấp, chứng tỏ chất lượng tín dụng tốt.

Trong phạm vi khoá luận, số dư nợ quá hạn được hiểu là tổng luỹ kế mức dư nợ quá hạn của khách hàng cá nhân, hộ gia đình trong trung – dài hạn tại mỗi năm thuộc giai đoạn đang xét.

Ngoài tỉ lệ nợ quá hạn, tỉ lệ nợ xấu cũng là một chỉ tiêu phản ánh mức độ hiệu quả của tín dụng. Tuy nhiên, do số liệu thu thập không đầy đủ nên khoá luận xin không đề cập đến chỉ tiêu này.

1.6.2.5. Hệ số thu nợ Khóa luận: Hiệu quả tín dụng cá nhân trung dài hạn ở Vietcombank.

Hệ số này phản ánh hiệu quả sử dụng vốn vay, khả năng thu hồi vốn của ngân hàng cũng như khả năng trả nợ của khách hàng và được tính bởi công thức:

Hệ số này cho biết trong 100 đồng cho vay, ngân hàng thu lại được bao nhiêu đồng nợ gốc. Nếu hệ số này cao, chứng tỏ khả năng thu hồi nợ gốc của ngân hàng tốt và ngược lại, hệ số này thấp cho thấy mức độ thu hồi nợ gốc của ngân hàng không cao.

1.6.2.6. Tỉ lệ sinh lời của tín dụng cá nhân

Tỉ lệ này thể hiện khả năng sinh lời từ hoạt động tín dụng cá nhân, cho biết số tiền lãi thu được trên 100 đồng cho vay. Chỉ tiêu này được tính bởi công thức:

Tỉ lệ này cao cho thấy mức thu nhập từ những khoản cho vay là lớn, ngược lại, tỉ lệ này thấp chứng tỏ mức thu nhập từ những khoản cho vay là nhỏ.

Trong phạm vi khoá luận, mức thu nhập từ tín dụng cá nhân được hiểu là tổng luỹ kế mức thu nhập từ tín dụng cá nhân trong trung – dài hạn tính đến năm đang xét.

1.6.2.7. Tính đa dạng của sản phẩm tín dụng cá nhân

Tín dụng cá nhân là một hoạt động luôn thu hút khách hàng. Tuy nhiên, khi xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của con người cũng ngày càng có chiều hướng gia tăng nên sự đa dạng trong các sản phẩm tín dụng sẽ là một công cụ cạnh tranh hữu hiệu mà mọi ngân hàng đều cần hướng tới. Ngoài ra, mức độ đa dạng của các sản phẩm cũng phần nào phản ánh hiệu quả của tín dụng cá nhân bởi một vài sản phẩm khi đã, đang hoạt động theo đúng quỹ đạo của nó thì ngân hàng sẽ nghĩ đến phương án phát triển thêm các sản phẩm mới cũng như một ngân hàng khi đang hoạt động tốt trong lĩnh vực tín dụng mới có đủ tiềm lực để làm phong phú thêm các sản phẩm của mình.

1.7. Nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả của tín dụng cá nhân Khóa luận: Hiệu quả tín dụng cá nhân trung dài hạn ở Vietcombank.

1.7.1. Nhân tố vĩ mô

1.7.1.1. Sự phát triển kinh tế – xã hội

Kinh tế – xã hội là hai phạm trù rộng lớn, thường có tầm ảnh hưởng sâu rộng đối với mọi vấn đề. Và tín dụng cá nhân cũng không ngoại lệ. Cụ thể:

Về kinh tế: Khi nền kinh tế đang trên đà phát triển, người dân sẽ có niềm tin vào mức độ ổn định và có khả năng tăng cao của thu nhập trong lương lai. Từ đó, họ sẽ tiêu dùng nhiều hơn, thậm chí vượt mức thu nhập hiện tại. Đây là một cơ hội cho tín dụng cá nhân tiếp tục phát triển. Ngược lại, nếu kinh tế đang trong thời kì suy thoái, người dân sẽ có xu hướng giảm chi tiêu, cố gắng tiết kiệm. Đây là điều bất lợi, ảnh hưởng không nhỏ đến tín dụng cá nhân.

Về xã hội: Xã hội bao gồm nhiều yếu tố như tình hình trật tự, thói quen, trình độ học vấn, địa vị xã hội,… Những điều này cũng góp phần quyết định không nhỏ trong hành vi tiêu dùng của con người. Thật vậy, đối với những người có học vấn, có địa vị, họ sẽ có xu hướng chi tiêu nhiều hơn nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và đồng nghĩa với việc nhu cầu vay vốn cũng lớn hơn_điểm thuận lợi cho tín dụng cá nhân. Ngược lại, đối với những người lao động, họ chỉ mong ổn định cuộc sống thay vì muốn thay đổi tốt hơn bởi khi chi tiêu quá nhiều, họ sẽ phải vay ngân hàng. Tuy nhiên, khả năng hoàn trả nợ của họ thật sự khó khăn.

1.7.1.2. Môi trường pháp lí

Có thể nói, mọi hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng đều chịu sự chi phối của pháp luật. Các văn bản pháp luật đã quy định rất rõ những vấn đề liên quan đến ngân hàng nói chung và tín dụng cá nhân nói riêng về cách thức hoạt động, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên liên quan,… Qua sự điều chỉnh của pháp luật, mọi thứ đều đi theo đúng quỹ đạo của nó. Việc này sẽ tạo nên một môi trường lành mạnh và phát triển. Và cũng nhờ sự định hướng của pháp luật, ngân hàng cùng các nghiệp vụ của mình (trong đó có tín dụng cá nhân) sẽ đi theo một đường lối đúng đắn, ngăn chặn được những rủi ro, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động. Khóa luận: Hiệu quả tín dụng cá nhân trung dài hạn ở Vietcombank.

1.7.1.3. Đối thủ cạnh tranh

Sự cạnh tranh luôn tồn tại ở mọi lĩnh vực trong nền kinh tế, đối với ngân hàng cũng vậy. Các đối thủ cạnh tranh luôn là mối đe dọa hàng đầu trong các hoạt động của ngân hàng. Các ngân hàng cạnh tranh về lãi suất, chính sách ưu đãi, sản phẩm dịch vụ,… và trong cuộc chiến không bao giờ dừng lại đó, chính sự khốc liệt đã tạo động lực giúp các ngân hàng tiếp tục cố gắng phát triển đa dạng hệ thống sản phẩm. Đây cũng là một cơ hội để tín dụng cá nhân_một mảng nghiệp vụ căn bản được phát triển hơn nữa.

1.7.2. Nhân tố vi mô

1.7.2.1. Ngân hàng thương mại

Bản thân tiềm lực của ngân hàng là nhân tố cốt lõi tác động lên mức độ hiệu quả của tín dụng cá nhân bởi ngân hàng chính là nơi diễn ra, vận hành nghiệp vụ này. Thật vậy, một ngân hàng còn tồn tại một hay một vài vấn đề như: nguồn vốn huy động thấp, trang thiết bị thiếu thốn, năng lực nhân viên kém, khả năng quản lí nguồn vốn cho vay còn chưa cao, chính sách cho vay lỏng lẻo, không xác thực,… thì hoạt động tín dụng cá nhân hiển nhiên sẽ không thể hiệu quả. Ngược lại, một ngân hàng luôn huy động được lượng vốn lớn, đầu tư trang thiết bị tân tiến, nhân viên thường xuyên được bổ sung kiến thức mới nhằm theo kịp tiến độ phát triển của khu vực và trên thế giới, khả năng quản lí đồng vốn cho vay tốt, chính sách cho vay ưu đãi, phù hợp với điều kiện thực tế,… thì tín dụng cá nhân cũng sẽ luôn hiệu quả.

1.7.2.2. Khách hàng

Khách hàng cũng là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự hiệu quả của tín dụng cá nhân bởi khách hàng chính là một thành phần quan trọng trong mối quan hệ tín dụng. Về điều này, có thể dễ nhận thấy, các vấn đề liên quan đến khách hàng đều trực tiếp hay gián tiếp tác động lên nghiệp vụ này. Trước tiên là nhu cầu, chỉ khi có nhu cầu, khách hàng mới tiến hành giao dịch vay vốn với ngân hàng, điều này giúp nguồn vốn huy động không bị ứ đọng, đem lại hiệu quả kinh doanh. Thứ hai là sự hài lòng, khi khách hàng cảm thấy quyền lợi của mình được đảm bảo (các giao dịch diễn ra nhanh chóng, thủ tục không rườm rà, không gây phiền hà; khách hàng được vay với chính sách ưu đãi về lãi suất và hình thức hoàn trả nợ vay,…), họ sẽ tiếp tục giao dịch khi có nhu cầu, khiến cho số lượng các giao dịch tín dụng cá nhân tăng. Cuối cùng là mục đích và việc sử dụng vốn vay, khi khách hàng có mục đích vay chính đáng hay hứa hẹn sẽ sinh lời và sử dụng vốn vay đúng mục đích, ngân hàng sẽ tránh được những rủi ro về tính thanh khoản, về khả năng thu hồi nợ, từ đó đem lại hiệu quả chung cho tín dụng cá nhân.

  • KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Có thể nói, tín dụng cá nhân là một mảng nghiệp vụ không mới. Trải qua hàng thế kỉ hình thành và phát triển, hoạt động này đã không ngừng lớn mạnh, luôn tạo một nguồn thu không nhỏ cho các tổ chức tín dụng. Nhận thức được điều này, em đã đi sâu vào thu thập, tổng hợp thông tin và Chương 1 chính là kết quả của quá trình tìm hiểu ấy. Hệ thống những cơ sở lí luận, một lần nữa lại cho thấy tầm quan trọng của tín dụng cá nhân. Hoạt động này là một nhánh nối liền mạch sống của cây đại thụ ngân hàng, giúp duy trì hoạt động của ngân hàng thông qua việc duy trì mối quan hệ với khách hàng và là phương tiện hỗ trợ, cung cấp nhằm thỏa mãn nhu cầu vay vốn của phần lớn bộ phận dân cư trong xã hội (cá nhân, hộ gia đình). Về cơ bản, trên cơ sở lí thuyết là vậy nhưng khi xét trong thực tế, tình hình tín dụng cá nhân trung – dài hạn tại một ngân hàng đã diễn ra như thế nào, đạt được những kết quả gì và còn gặp những khó khăn gì. Những điều này sẽ được giải đáp trong Chương 2 với điểm nghiên cứu là PGD Sao Đỏ, trực thuộc Chi nhánh Hải Dương của NHTMCP Ngoại thương. Khóa luận: Hiệu quả tín dụng cá nhân trung dài hạn ở Vietcombank.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Thực trạng tín dụng cá nhân trung dài hạn Vietcombank

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x