Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Giải pháp công tác dân số kế hoạch hoá gia đình hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Công tác xã hội với việc thực hiện dân số kế hoạch hoá gia đình tại xã Lương Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Ý nghĩa của việc thực hiện công tác xã hội đối với dân số _ kế hoạch hóa gia đình tại xã Lương Ninh huyện Quảng Ninh tỉnh Quảng Bình.
3.1.1. Vị trí, tầm quan trọng của công tác Dân số-kế hoạch hóa gia đình
3.3.1.1. Vị trí của công tác Dân số-kế hoạch hóa gia đình
Công tác dân số – kế hoạch hóa gia đình chiếm vị trí quan trọng trước mắt cũng như lâu dài trong những hoạt động phát triển kinh tế – xã hội, chiến lược phát triển con người của một quốc gia nói chung, ở một địa phương nói riêng sự gia tăng dân số sẽ ảnh hưởng chi phối toàn bộ các hoạt động xã hội trên các lĩnh vực như đời sống, kinh tế, y tế, giáo dục, giải quyết việc làm cho người lao động. Sự bùng nổ dân số được Đảng ta xác định là một trong bốn nguy cơ cần giải quyết nhằm đưa đất nước phát triển. Do đó Đảng ta đã khẳng định tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII ngày 14/01/1993 (gọi tắt là Nghị quyết TW 4 khoá VII). “Công tác dân số – kế hoạch hoá gia đình là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế xã hội hàng đầu của đất nước ta là yếu tố cơ bản, để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và của toàn xã hội. Sự gia tăng dân số là một trong những nguyên nhân quan trọng cảng trở tốc độ phát triển kinh tế – xã hội, gây khó khăn lớn cho việc cải thiện đời sống, hạn chế điều kiện phát triển về mặt trí tuệ, văn hoá thể lực và giống nòi. Nếu xu hướng này cứ tiếp tục diễn ra thì trong tương lai không xa đất nước ta sẽ đứng trước những khó khăn rất lớn, thẩm chí nguy cơ về nhiều mặt”. Bước vào những năm đầu thế kỷ 21 Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt chiến lược dân số Việt Nam giai đoạn 2013-2022 với mục tiêu là “Thực hiện mô hình gia đình ít con, khoẻ mạnh, tiến tới ổn định quy mô dân số ở mức hợp lý để xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc”.
3.1.1.2.Tầm quan trọng của công tác Dân số-kế hoạch hóa gia đình
Sự gia tăng dân số quá nhanh, quá đông là một trong bốn nguy cơ của đất nước là nguyên nhân quan trọng cản trở sự phát triển kinh tế xã hội gây khó khăn về phát triển mọi mặt của gia đình và xã hội, ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng vật chất, tinh thần cho con người và sự phát triển của đất nước. Khóa luận: Giải pháp công tác dân số kế hoạch hoá gia đình.
Thật vậy, Việt Nam ta là một nước nghèo, nền kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, nhưng dân số tăng nhanh nên diện tích canh tác bình quân đầu người giảm dần, việc khai hoang thêm đất mới để sản xuất cũng là một biện pháp để giải quyết nhưng rất tốn kém, vả lại đất khai hoang rồi cũng sẽ hết, nhà cửa ngày càng mọc lên, nhu cầu vui chơi giải trí, xây dựng cơ bản phục vụ cho con người ngày càng tăng làm cho diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp. Bình quân diện tích đất canh tác tính theo đầu người năm 1945 là 0,26 ha/người, đến năm 1980 là 0,13 ha/người đến nay chỉ còn 0,058 ha/người. Bởi lẽ tình trạng đất chật người đông, sự gia tăng dân số làm cho của ít người nhiều, lương thực làm ra không đủ nuôi sống con người với chất lượng tối thiểu thì làm sao con người có thể phát triển một cách toàn diện. Theo các nhà nghiên cứu nếu dân số tăng 1% thì để đảm bảo đời sống thu nhập bình quân đầu người phải tăng 4%. Điều đó cho ta thấy rằng việc giảm sinh có tầm quan trọng rất lớn trong việc phát triển kinh tế của mỗi địa phương và của mỗi quốc gia.
Trong thực tế hiện nay gia đình đông con tỷ lệ đói nghèo chiếm tỷ lệ cao hơn nhiều so với các gia đình ít con. Cuộc sống gia đình khó khổ chế độ ăn uống không đảm bảo thì làm sao đủ dinh dưỡng để trẻ khỏe mạnh nên chúng thường ốm đau, bệnh tật, suy dinh dưỡng dẫn đến thể lực yếu, chất lượng giống nòi giảm.
Tình trạng đất chật người đông chất thải ngày càng nhiều vệ sinh không đảm bảo, rừng và cây cối bị chặt phá để phục vụ canh tác, lấy nguyên liệu phục vụ đời sống, sinh hoạt như chất đốt, làm nhà nguyên liệu công nghiệp, làm môi sinh bị phá hoại, môi trường bị ô nhiễm. Tình trạng hạn hán, lũ lụt thường xuyên xảy ra làm cho đất bị xói mòn, nguồn nước bị cạn kiệt đất bạc màu, năng suất cây trồng thấp.
Đối với tài nguyên do tình hình tăng dân số quá nhanh để đảm bảo cho nhu cầu sống và giải quyết lao động dư thừa nhưng rồi đã dẫn đến tình trạng khai phá tài nguyên một cách bừa bãi, làm cho tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt. Cũng vì lao động dư thừa, mà đất sản xuất không có nên đã nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội như ma túy, cờ bạc, rượu chè, mại dâm,… Ở nông thôn tình trạng thừa lao động, nhiều người bỏ ra thành phố kiếm sống gây khó khăn trong việc quản lý xã hội, quản lý con người, làm cho mật độ dân ở các thành phố tăng nhiều. Khóa luận: Giải pháp công tác dân số kế hoạch hoá gia đình.
Trong lĩnh vực y tế, ảnh hưởng của việc gia tăng dân số là cho điều kiện chăm sóc sức khỏe cho nhân dân chưa được đảm bảo, còn thiếu thốn về cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế, cán bộ y tế phục vụ cho việc khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân. Mặc khác, dân số tăng làm cho kinh tế nghèo nàn chế độ ăn uống không đảm bảo dinh dưỡng dẫn đến bệnh tật ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất trí tuệ của trẻ, làm suy thoái giống nòi.
Trong giáo dục ảnh hưởng của việc gia tăng dân số làm cho kinh tế kém phát triển, các gia đình không đủ lo cho cái ăn lấy gì mà lo cho trẻ đến trường, dẫn đến tình trạng bỏ học giữa chừng,…
Sự gia tăng dân số ảnh hưởng rất lớn đến tình hình phát triển kinh tế xã hội và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống tinh thần vật chất hàng ngày của mỗi con người, mỗi gia đình nếu không thực hiện tốt kế hoạch hóa gia đình, nếu sinh đẻ không có kế hoạch sẽ làm cho thu nhập không đủ đáp ứng nhu cầu cuộc sống, điều kiện sinh hoạt khó khăn, chật vật, do sinh đẻ lo nuôi dưỡng, chăm sóc con cái sẽ dẫn đến tình trạng thiếu lao động, và thực tế thì chi phí cho việc sinh một đứa trẻ là rất lớn, người mẹ sau khi sinh sẽ không lao động ít nhất là hai năm, những người liên quan trong gia đình cũng phải phục vụ, tốn kém về mặt thời gian, vật chất đáng kể, đồng thời đông con thì việc chăm sóc nuôi dạy con cái sẽ hạn chế, trẻ dể bị ốm đau, thất học, trở thành ghánh nặng cho xã hội, mọi ước mơ về một cuộc sống tốt lành sẽ khó thực hiện, vốn dĩ cái khó luôn bó cái khôn, cái nghèo đeo cái khổ sẽ làm cho hạnh phúc gia đình khó bề mà trọn vẹn mà sẽ rơi vào cái vòng lẩn quẩn của sự gia tăng dân số đó là: dân số tăng nhanh dẫn đến thừa người thiếu việc, rồi thừa người thiếu việc dẫn đến hiện tượng tiêu cực và thu nhập kém, thu nhập kém dẫn đến sức khỏe kém nên ra năng suất lao động thấp, kinh tế nghèo làm cho văn hóa kém và cứ như vậy lại dẫn đến dân số tăng nhanh. Cái vòng lẩn quẩn ấy nếu không có kế hoạch nó sẽ ràng buộc con người lúc nào cũng khó khăn, cực khổ cùng quẩn và cũng từ đó nó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thọ của một người cụ thể ở tỉnh ta theo khảo sát thống kê cho thấy:
Tuổi thọ trung bình: Khóa luận: Giải pháp công tác dân số kế hoạch hoá gia đình.
- Tuổi thọ bình quân của người có hai con là: 75 tuổi.
- Tuổi thọ bình quân ở người có năm con là: 65 tuổi.
Ngoài ra trong tình hình đất nước ta còn nghèo, nguồn ngân sách còn nhiều khó khăn, tình trạng dân số đông trong lúc kinh tế phát triển chậm, nhà nước chỉ có thể đầu tư giải quyết một số vấn đề chính sách xã hội mà thôi.
Với tầm quan trọng của vấn đề dân số – kế hoạch hóa gia đình nên đòi hỏi các cấp các ban ngành và toàn dân cần phải quan tâm và thực hiện tốt hơn nữa, nhằm mục đích đảm bảo lợi ích thiết thực cho con người cho sự phát triển chung của đất nước.
3.1.1.3. Các quan điểm và chủ trương lớn của Đảng ta trong công tác dân số – kế hoạch hóa gia đình
Do nhận thức được tầm quan trọng của công tác dân số – kế hoạch hóa gia đình với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, ngay từ năm 1993 Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương thực hiện chương trình dân số – kế hoạch hóa gia đình thông qua vận động sinh đẻ có kế hoạch. Tiếp đó trong nhiều văn kiện Đại hội Đảng và hội nghị Trung ương đã nêu ra những quan điểm và chủ trương lớn của Đảng trong chiến lượt ổn định và phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2012 thông qua đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng ta đã chỉ rõ “Phải thực hiện đồng bộ chiến lượt dân số trên cả ba mặt: quy mô dân số, cơ cấu dân số và phân bố dân số” Đại hội nhấn mạnh “giảm tốc độ tăng dân số là một quốc sách phải hình thành cuộc vận động lớn, mạnh mẽ và sâu sắc trong nhân dân tăng kinh phí phương tiện cán bộ, đồng thời thực hiện đồng bộ các biện pháp để đẩy mạnh cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch”. Hội nghị lần thứ 4 BCHTW Đảng lần thứ VII về chính sách dân số – kế hoạch hóa gia đình đã nêu ra những quan điểm mục tiêu giải pháp cơ bản trong thời gian đến như sau:
- Quan điểm của Đảng
Công tác dân số – kế hoạch hóa gia đình là một bộ phận quan trọng của chiến lượt phát triển đất nước là một trong những vấn đề kinh tế xã hội hàng đầu của nước ta là một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình, của toàn xã hội.
Giải pháp cơ bản để thực hiện công tác dân số – kế hoạch hóa gia đình là vận động, tuyên truyền, giáo dục, gắn liền với việc đưa dịch vụ kế hoạch hóa gia đình đến tận người dân, có chính sách mang lại lợi ích trực tiếp cho người chấp nhận gia đình ít con, tạo động lực thúc đẩy thực hiện phong trào kế hoạch hóa gia đình.
Đầu tư cho công tác dân số – kế hoạch hóa gia đình là đầu tư mang lại hiệu quả kinh tế trực tiếp rất cao cho nhà nước cần tăng mức chi ngân sách cho công tác dân số – kế hoạch hóa gia đình, đồng thời động viên sự đóng góp của cộng đồng, tranh thủ sự viện trợ của quốc tế.
Huy động lực lượng toàn xã hội tham gia công tác dân số – kế hoạch hóa gia đình đồng thời phải có bộ máy chuyên trách đủ mạnh để quản lý theo chương trình mục tiêu, đảm bảo cho các nguồn lực nói trên được sử dụng có hiệu quả đến tận người dân.
Để đạt được trong thời gian tương đối ngắn, điều có ý nghĩa quyết định là Đảng và chính quyền các cấp phải lãnh đạo và chỉ đạo tổ chức thực hiện công tác dân số – kế hoạch hóa gia đình theo chương trình.
3.1.2. Ý nghĩa đối với sức khỏe bà mẹ và trẻ em Khóa luận: Giải pháp công tác dân số kế hoạch hoá gia đình.
Tránh được những hao tổn về sức khỏe của bà mẹ do phải thường xuyên mang thai, đẻ nhiều, đẻ dày.
Tránh được những ốm đau cho trẻ xảy ra do phải ngừng sớm việc nuôi con bằng sữa mẹ và thiếu sự chăm sóc do có sự ra đời của đứa con mới.
Sinh con đầu lòng muộn hơn (từ 22 tuổi) khi người phụ nữ đã trưởng thành về cơ thể và xã hội, đứa con sinh ra sẽ khỏe mạnh và được chăm sóc tốt hơn. Tuổi sinh đẻ của phụ nữ tốt nhất từ 22 đến 35 tuổi.
Khoảng cách giữa hai lần sinh con càng thưa, càng giúp cho bà mẹ và trẻ em khỏe mạnh hơn vì bà mẹ được phục hồi sau khi sinh con, con được chăm sóc tốt hơn.
Đẻ ít và đẻ thưa làm cho thể chất và tinh thần của người mẹ được cải thiện vì ít phải lo lắng. Thể chất và tinh thần của các con cũng được cải thiện vì được chăm sóc nhiều hơn.
Cả bà mẹ và con đều có cơ hội sống tốt hơn.
3.1.3. Ý nghĩa đối với cuộc sống gia đình
Có một cuộc sống gia đinh hạnh phúc hơn;mỗi một đứa con đều có sự nuôi dưỡng và chăm sóc tốt hơn, có cơ hội hơn để học hành và có cơ hội để trở thành người tốt.
- Tránh được sự chật chội trong gia đình.
- Cho phép bố mẹ có nhiều thời gian để chia sẽ hạnh phúc vợ chồng.
- Tránh được sinh con quá muộn khi tuổi bố mẹ đã cao.
- Giúp cho các cặp vợ chồng chữa được bệnh vô sinh.
3.1.4. Ý nghĩa đối với kinh tế gia đình
- Ngăn được sự nghèo túng cho các gia đình.
- Gia đình có thể sắm thêm tiện nghi trong cuộc sống.
- Gia đình có cơ hội được giáo dục tốt, chăm sóc y tế và vui chơi nhiều hơn.
3.1.5. Ý nghĩa đối với cộng đồng và xã hội
- Tránh được đông dân và chật chội.
- Bảo vệ môi trường sống, bảo vệ tài nguyên thiên thiên không bị cạn kiệt.
- Giúp cho cộng đồng không bị nghèo đói.
- Giảm bớt gánh nặng về nghèo đói, giáo dục nhà ở, chăm sóc y tế, việc làm, cấp thoát nước…
- Góp phần xây dựng đất nước ngày càng văn minh, dân chủ.
3.2. Thực hành CTXH về Dân số-kế hoạch hóa gia đình tại xã Lương Ninh huyện Quảng Ninh- tỉnh Quảng Bình. Khóa luận: Giải pháp công tác dân số kế hoạch hoá gia đình.
3.2.1. Công tác nâng cao năng lực quản lý
Toàn xã có 3 đơn vị hành chính thôn gồm có 22 CTV hoạt động trãi đều để dể quản lý. Trong năm cán bộ chuyên trách được tham gia lớp tập huấn nghiệp vụ về chương trình Dân số-kế hoạch hóa gia đình, từ đó đảm bảo công tác chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng tiếp cận các đối tượng hơn. Nhìn chung với đội ngũ CTV có dày dạn kinh nghiệm nên hoạt động đi vào nề nếp, nắm bắt thông tin, báo cáo kịp thời các yêu cầu quản lý chuyên ngành. Việc nhận và cấp phát dịch vụ cho đối tượng một cách kịp thời và chế độ bồi dưỡng cho CTV đúng quy định. Việc theo dõi quản lý địa bàn dân cư và biến động dân số có nhiều tiến bộ so với năm trước. Đối với công tác kiểm tra, giám sát, hằng tháng có sự kiểm tra đối chiếu sổ sách giữa CTV và chuyên trách một cách đầy đủ. Từ đó khắc phục được những thiếu sót và hạn chế trong công tác thống kê, báo cáo.
3.2.2. Thông tin giáo dục truyền thông thay đổi hành vi
Căn cứ và nhiệm vụ được giao của năm 2025. Ban Dân số-kế hoạch hóa gia đình xã tổ chức các hoạt động tuyên truyền với nhiều hình thức đa dạng và phong phú.
Đầu năm tổ chức phát động đăng ký xã, thôn, tộc họ không có người sinh con 3+, có 2 /5 thôn và 2 tộc họ hưởng ứng đăng ký. Phối hợp với ĐTT ký kết phối hợp trách nhiệm xây dựng chuyên mục Dân số-kế hoạch hóa gia đình, phát thanh tuần 2 buổi vào thứ 2 và thứ 6 hàng tuần, Tuyên truyền về sàng lọc trước sinh và sơ sinh nhằm nâng cao chất lượng dân số; cùng với toàn huyện nhiệt liệt hưởng ứng ngày dân số thế giới 11/7. Tổ chức các hoạt động truyên thông như phát thanh, băng rôn khẩu hiệu,tư vấn nhóm nhỏ… nhân kỷ niệm 50 năm ngày dân số Việt Nam
3.2.3. Công tác phối hợp với các ngành đoàn thể Khóa luận: Giải pháp công tác dân số kế hoạch hoá gia đình.
Đầu năm Ban chỉ đạo công tác Dân số-kế hoạch hóa gia đình đã chủ động tổ chức ký kết kế hoạch phối hợp liên tịch với các ngành đoàn thể. Tạm giao chỉ tiêu cho các đơn vị thôn, sớm đưa nội dung chương trình dân số vào chỉ tiêu xét gia đình văn hóa cuối năm. Phối hợp với Tư pháp tư vấn cho các cặp vợ chồng đến đăng ký kết hôn về công tác dân số -KHHGĐ, phối hợp với trạm y tế tổ chức 2 đợt chiến dịch truyền thông trọng điểm và tuyên truyền tư vấn nhỏ lẻ. Nhìn chung công tác tuyên truyền đạt yêu cầu như kế hoạch đề ra.
3.2.4. Tổ chức chiến dịch truyền thông lồng ghép CS/SKSSKHHGĐ
Trong năm đã phối hợp với các ban ngành đoàn thể, trạm y tế,VHXH, ĐTT, Hội phụ nữ, Hội nông đân, Đoàn thanh niên, đài truyền thanh tổ chức 2 chiến dịch truyền thông dân số địa điểm tại trạm y tế. Mục đích tổ chức chiến dịch nhằm cung cấp và hướng dẫn cách sử dụng Biện pháp tránh thai, cấp gói dịch vụ viêm nhiễm đường sinh sản. Trong năm có 345 lượt người đến khám, trong đó có 90 chị mắc bệnh phụ khoa. Đồng thời thực hiện 24 ca vòng, 12 que tránh thai, 08 thuốc tiêm và một số Biện pháp tránh thai phi lâm sang.
Thông qua 2 đợt chiến dịch tuyền thông vào tháng 3 và tháng 9/2024. Địa phương đã hoàn thành các chỉ tiêu mà huyện đã đề ra.
3.2.5. Hoàn thành hệ thống thông tin dữ liệu dân cư
Các thông tin biến động dân số như: Sinh ,tử ,đi, đến, được cập nhật theo dõi hằng tháng thông qua duy trì các buổi họp giao ban định kỳ, vào sáng ngày 28 hằng tháng, giữa CTV và chuyên trách dân số xã. Chính từ đó đã kịp thời nắm bắt thông tin về tình hình biến động dân số, thông qua báo cáo của CTV phụ trách từng địa bàn dân cư. Nhìn chung công tác này đảm bảo tiến độ của huyện giao, Đồng thời cũng phát hiện sự chênh lệch. Ban DS-KKHGĐ xã làm tờ trình để sớm công nhận số liệu.
3.3. Đánh giá hoạt động về Dân số-kế hoạch hóa gia đình tại xã Lương Ninh huyện Quảng Ninh tỉnh Quảng Bình. Khóa luận: Giải pháp công tác dân số kế hoạch hoá gia đình.
3.3.1. Đánh giá tình hình về Dân số-kế hoạch hóa gia đình
Qua việc nghiên cứu tình hình dân số và kết quả thực hiện công tác Dân số-kế hoạch hóa gia đình trong thời gian qua và thực tế tình hình tại địa phương. Cho ta thấy công tác Dân số-kế hoạch hóa gia đình đóng một vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội và yếu tố quyết định hình thành nhân tố con người nhất là trong bối cảnh lịch sử nước ta đang tiến hành CHH-HĐH, xây dựng mô hình nông thôn mới nhân tố con người đóng vai trò hết sức quan trọng vì con người vừa là sản phẩm vừa là chủ thể của xã hội. Con người phải có tri thức, sức khỏe, biết lao động, có tình yêu thương, sống co văn hóa, có tinh thần yêu nước, yêu cầu đó không thể dễ dàng thực hiện nếu để cho dân số tăng mà không có điều chỉnh sinh sản ra con người, muốn thực hiện điều này, ngăn chăn nguy cơ bùng nổ dân số, không còn cách nào khác là phải thực hiện tốt công tác Dân số-kế hoạch hóa gia đình.
3.3.2. Những tồn tại cần khắc phục
Có sự quan tâm của lãnh đạo, chính quyền địa phương, nhưng chưa có biện pháp thích đáng về khen thưởng đối với Đảng viên vi phạm và thực hiện tốt.
Điều kiện ngân sách xã còn khó khăn nên chưa hỗ trợ cho việc tổ chức thực hiện, khuyến khích phong trào
Sự phối hợp giữa mặt trận với các ban đoàn thể với công tác dân số chưa thực sự đi vào chiều sâu, một số ban còn xem nhẹ chưa đặc vấn đề quan tâm mà xem đây là nhiệm vụ của ban dân số
Tình trạng mắc bệnh phụ khoa ở phụ nữ khá cao nên việc áp dụng biện pháp đặt vong càn hạn chế.
3.3.3. Phương pháp thực hiện trong thời gian tới Khóa luận: Giải pháp công tác dân số kế hoạch hoá gia đình.
3.3.3.1. Tổ chức hoạt động
Củng cố kiện toàn bộ máy hoạt động của ban DS. Phát huy hiệu quả mạng lưới CTV đảm bảo báo cáo thống kê chính xác, kịp thời. Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục vận động đối tượng thực hiện các biện pháp sinh đẻ có kế hoạch mở rộng việc đăng ký cụm không sinh con 3+. Phối hợp với HLHPN xã thành lập câu lạc bộ phụ nữ không sinh con 3+.
Duy trì thường xuyên họp giao ban định kỳ, hằng năm tổ chức hội nghi chuyên đề vể công tác Dân số-kế hoạch hóa gia đình ít nhất 1 lần.
Tạo điều kiện thuận lợi nhất cho công tác Dân số-kế hoạch hóa gia đình.
3.3.3.2. Công tác thông tin giáo dục truyền thông
Đẩy mạnh các biện pháp phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn
đường sinh sản, đảm bảo vê sinh môi trường có đủ nguồn nước sạch cho các công trình vệ sinh. Hội phụ nữ phối kết hợp với trạm y tế khám phụ khoa thường xuyên cho phụ nữ.
Thực hiện tốt các chế độ chính sách của Nhà nước, nhằm khuyến khích thỏa đáng, động viên tinh thần và vật chất đối với đội ngũ Dân số-kế hoạch hóa gia đình.
Hằng năm cần tổ chức việc tập huấn, bồi dưỡng và nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực quản lý và kỹ năng tư vấn của các cộng tác viên dân số.
Chính sách dân số phải đảm bảo tính vận động, thực hiện mục tiêu mỗi cặp vợ chồng chỉ có 1-2 con. Cần xử lý nghiêm minh, thích đáng đối với những trường hợp vi phạm chính sách dân số.
Tạo môi trường tâm lý, xã hội tích cực thúc đẩy phong trảo thực hiện chính sách dân số.
Tích cực nâng cao điều kiện sống về kinh tế, văn hóa xã hội cho các bà mẹ, tìm các biện pháp hữu hiệu nhất để giảm tối thiểu các bệnh tật và tử vong mẹ, suy dinh dưỡng ở trẻ em như ăn uống đủ chất, đúng giờ, vợ chồng kết hôn và sinh đẻ ở độ tuổi thích hợp, giảm số lần mang thai, ngăn chặn mang thai ngoài ý muốn, nạo phá thai không an toàn….
Để nâng cao chất lượng dân số, thì cần phải triển khai và mở rộng mô hình kiểm tra-tư vấn tiền hôn nhân, giảm nhanh tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng, mở rộng phạm vi thực hiên gia đình ít con, ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và các dự án tín dụng gia đình. Khóa luận: Giải pháp công tác dân số kế hoạch hoá gia đình.
Thực hiện tốt chính sách bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em
Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa Ban Dân số-kế hoạch hóa gia đình với các đoàn thể, các ban ngành liên quan như: trạm y tế, hội phụ nữ, đoàn xã nhằm nâng cao hiệu quả công tác CSSKSS-KHHGĐ.
Công tác tuyên truyền cần sử dụng một cách đa dạng từ tiếp xúc trực tiếp với truyền thông qua loa phát thanh của xã.
Thông tin-giáo dục, truyền thông-tuyên truyền và vận động tiếp cận đến mọi đối tượng, như các nhóm phụ nữ, thnah niên những người có uy tín trong cộng đồng thôn xóm, đặc biệt là cần nhấn mạnh đến trách nhiệm và sự thực hiện của nam giới đối với kế hoạch hóa gia đình và CSSKSS.
Đào tạo lại và tăng cường sử dụng cán bộ y tế đã nghĩ hưu, các lực lượng vũ trang để có đủ cán bộ nhằm kiện toàn hệ thống CSSKSS.
Huy động sự tham gia của nhân dân, của toàn xã hội vào việc thực hiện các hoạt động kế hoạch hóa gia đình và CSSKSS thông qua việc lồng ghép vào các kế hoạch chương trình hành động của các ngành, đoàn thể xây dựng phong trào quần chúng tham gia bảo vệ và CSSKSS bằng các hình thức tổ chức chiến dịch truyền thông, các ngày, tuần về CSSKSS và kế hoạch hóa gia đình.
Chính sách khuyến khích áp dụng các Biện pháp tránh thai hiện đại và khuyến khích phổ cập rộng rãi nhiều chủng loại Biện pháp tránh thai nhằm nâng cao hiệu quả kế hoạch hóa gia đình. Nội dung bao gồm việc tăng đầu tư ngân sách cho tuyên truyền vận động, tiếp thị xã hội kết hợp với giảm hoặc miễn phí các dịch vụ và phương tiện, khen thưởng những cá nhân và đơn vị làm tốt các dịch vụ trên.
Mặt khác cần có chính sách hỗ trợ các đối tượng chính sách và các vùng khó khăn bằng các hình thức như miễn phí toàn bộ hoặc một phần các dịch vụ CSSKSS và kế hoạch hóa gia đình.
3.3.4. Xây dựng thông điệp cho cộng đồng về vấn đề DS – kế hoạch hóa gia đình cụ thể tại địa phương. Khóa luận: Giải pháp công tác dân số kế hoạch hoá gia đình.
3.3.4.1. Xây dựng thông điệp cho cộng đồng về vấn đề mang thai ngoài ý muốn, đặc biệt là ở lứa tuổi vi thành niên.
Theo điều tra quốc gia về VTN và TN Việt Nam cho thấy 7,6% trong độ tuổi này có quan hệ tình dục trước hôn nhân. Và theo thống kê của bộ kế hoạch hóa gia đình Việt nam thì Việt Nam là một trong 3 nước có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới ( 1.2- 1,6 triệu ca 1 năm) trong đó lứa tuổi VTN chiếm 20%.
Đó là theo điều tra quốc gia còn ở địa phương chúng ta thì trong những năm gần đây tỷ lệ VTN/ TN mang thai ngoài ý muốn cũng cao, điển hình như đầu năm đến nay đã có 5 em là học sinh cấp III đã mang thai trong khi còn cắp sách đến trường và 4 người mang thai khi chưa kết hôn. Trước tình hình đó chúng ta thấy rõ những mất mát mà các bạn đó phải gánh chịu trong thời gian tới và sau này là rất lớn. 5 em học sinh đó phải bỏ học nếu giữ cái thai lại hoặc phải nạo phá thai để tiếp tục con đường học vấn của mình, đường nào cũng không tốt cho bản thân cả, nếu bỏ học thì tương lai, cơ hội của họ sau này sẽ hết còn nếu phá thai thì sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân có thể mất cơ hội làm mẹ sau này. Còn 4 người bạn kia cũng vậy, cũng đang rất lo lắng không biết giải quyết thế nào, nếu người yêu nhận cái thai đó và cưới đó là điều rất tốt nhưng ngược lại thì sẽ ra sao, tương lai sau này thế nào khi mà tuổi đời còn quá trẻ.
Qua thực tế đó, là một sinh viên thực tập chuyên ngành công tác xã hội, tôi muốn gửi tới các bạn một thông điệp đó là chúng tôi luôn lắng nghe những ý kiến, tâm sự của các bạn và mong các bạn có nhận thức đầy đủ hơn, hiểu biết hơn về các Biện pháp tránh thai để có thái độ đúng đắn đặc biệt cần có sự thay đổi hành vi để khỏi mang thai ngoài ý muốn.
Để có mối quan hệ tốt đẹp, lành mạnh thì các Biện pháp tránh thai, các biện pháp an toàn tình dục là rất cần thiết. Không có gì hơn khi các bạn chủ động tìm hiểu, tự chủ động bảo vệ chính mình. Nhưng tốt hơn nữa là chúng ta cần phải có một tình yêu lành mạnh không quan hệ tình dục trước hôn nhân.
- Nhà nước, xã hội, gia đình và công dân có trách nhiệm thực hiện chính sách Dân số-kế hoạch hóa gia đình.
- Hãy chọn cho mình một biện pháp tránh thai phù hợp để tránh mang thai ngoài ý muốn.
- Kế hoạch hóa gia đình là trách nhiệm của mỗi cặp vợ chồng.
- Dân số ổn định, xã hội phồn vinh gia đình hạnh phúc.
- Thực hiện công tác Dân số – Kế hoạch hóa gia đình góp phần nâng cao chất lượng dân số.
- Không kết hôn sớm vì hạnh phúc tương lai của mỗi gia đình.
3.3.4.2 Tiến trình công tác xã hội nhóm với việc thực hiện dân số-kế hoạch hóa gia đình
Trong quá trình thực tế tại địa phương, tìm hiểu về nhu cầu của phụ nữ về việc KHH-GD làm cũng như những chính sách giải quyết việc làm tại địa phương, vận dụng những kiến thức đã học tại trường, tôi thực hiện hiện tiến trình công tác xã hội với nhóm phụ nữ trong việc KHH-GD xã Lương Ninh huyện Quảng Ninh tỉnh Quảng Bình.
Tiến trình công tác xã hội nhóm dựa trên thuyết học hỏi hành vi xã hội, thuyết nhu cầu của Maslow…
Trong tiến trình công tác xã hội với nhóm trải qua 4 bước: Thành lập nhóm; khảo sát nhóm; duy trì nhóm; lượng giá và kết thúc.
- Bước 1: Thành lập nhóm Khóa luận: Giải pháp công tác dân số kế hoạch hoá gia đình.
Trước thực trạng về DSKH-HGD xã Lương Ninh huyện Quảng Ninh tỉnh Quảng Bình nêu trên, thì nhu cầu KHH-GD ổn định mang lại thu nhập là mong mỏi của nhiều chị em phụ nữ nơi đây. Một trong những chủ trương của nhà nước Thực hiện theo kế hoạch chỉ tiêu giao năm 2025 của TTDSKHHGĐ huyện ,về việc phân bổ các chỉ tiêu kế hoạch hóa gia đình.
Chấp hành sự lãnh đạo, chỉ đạo về thực hiện công tác kế hoạch hóa gia đình năm 2025 của Đảng ủy – Uỷ ban nhân dân xã. Được sự lãnh đạo, chỉ đạo của TTDSKHHGĐ huyện, và cấp Ủy – Uỷ ban nhân dân xã, đồng thời có sự phối hợp chặt chẽ của các ban nghành đoàn thể, y tế, đội ngũ CTV dân số của xã, trong năm qua đã đạt được những kết quả, thực hiện các mục tiêu chương trình. Câu hỏi đặt ra là tại sao trong những năm qua, Chương trình này đã đi vào đời sống của người dân từ lâu nhưng cuộc sống vẫn không cải thiện mấy? Tôi thiết nghĩ khi đã có tiền nhưng không biết cách sử dụng đồng tiền đúng mục đích, hay đầu tư chưa đúng chỗ phải chăng đây là một trong những nguyên nhân chính của vấn đề. Chính vì thế, tôi quyết định thành lập “Nhóm tín dụng cho phụ nữ thực hiện KHH-GD”
- a/ Số lượng thành viên: 10 người (những chị em phụ nữ này nằm trong diện sinh con thứ 3 trở lên, đại diện cho 3 thôn: thôn Văn La. thôn Phú Cát, thôn Lương Yến)
- b/ Mục tiêu:
Nhằm tuyên truyền mục đích ý nghĩa của 50 năm ngày truyển thống Dân số Việt Nam, đồng thời nâng cao nhận thức cho cán bộ và nhân xã về dân số và sự phát triển ổn định xã hội, tiến tới cân bằng dân số.
Thông qua việc tổ chức các hoạt động thích hợp để đẩy mạnh công tác tuyên truyền tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động của các cấp. các ngành, các tổ chức và cá nhân trong việc thực hiện chính sách DS – kế hoạch hóa gia đình góp phần hoàn thành kế hoạch chương trình mục tiêu DS – kế hoạch hóa gia đình trên phạm vi toàn xã năm 2023.
- Cho chị em phụ nữ ý thức được việc KHH-GD.
- Phổ biến những kiến thức cơ bản về DS-KHHGD.
- Định hướng cho chị em cách sử dụng các biện pháp tránh thai oan toàn
- Tương trợ giúp đỡ, hỗ trợ nhau trong cuộc sống.
c/ Thời gian: Trong quá trình thực tế tại địa phương ngắn, nên thời gian thực hiện là 1 tuần ( vào các tối từ ngày 10/05/2025 – 17/05/2025).
d/ Nơi sinh hoạt: Tại nhà sinh hoạt văn hóa thôn Yến Lương.
e/ Cách triển khai các hoạt động: Thảo luận, văn nghệ, phổ biến kiến thức, nói chuyện chia sẽ kinh nghiệm vói nhau
f/ Nguyên tắc sinh hoạt nhóm: (nguyên tắc này được sự đồng ý của các thành viên trong nhóm)
- Các thành viên trong nhóm cam kết sinh hoạt nhóm đầy đủ, khi vắng có lý do phải báo cáo trước cho trưởng nhóm
- Tuân thủ các nguyên tắc về giờ giấc
- Được hỗ trợ thêm kiến thức về KHH-GDcó hiệu quả;
- Bị khiển trách, kiển điểm trước nhóm nếu không thực hiện đúng nội quy của nhóm đề ra
- Tôn trọng tính riêng tư của mỗi cá nhân.
g/ Sự tham gia của các nhóm viên: 100% nhóm viên sinh hoạt tuân theo thời gian biểu của nhóm.
Bước 2: Khảo sát nhóm Khóa luận: Giải pháp công tác dân số kế hoạch hoá gia đình.
- Khảo sát các thành viên trong nhóm: lúc này các thành viên nhóm bắt đầu có mối quan hệ tương đối tốt và được các nhóm viên am hiểu chấp nhận.
- Kế hoạch các hoạt động trong thời gian sắp tới:
Bước 3: Duy trì nhóm
- Triển khai các kế hoạch đã đề ra
- Rà soát các kế hoạch có phù hợp hay không
- Đánh giá từng tiến bộ của nhóm
Tạo sự gắn kết, tình cảm của từng thành viên trong nhóm. Nhìn nhận lại thái độ của các thành viên, xem trong nhóm có những mâu thuẫn, bất đồng nào nếu có cần giải quyết kip thời.
Áp dụng phương pháp công tác xã hội với cá nhân với những cá nhân có hoàn cảnh cá biệt trong nhóm.( Điển hình là trường hợp chị Nguyễn Thị Mai – năm nay 37 tuổi nhưng chị có tới 5 người con
Bước 4: Lượng giá và kết thúc
Lượng giá không riêng chỉ ở bước cuối cùng trong tiến trình mà nó xuyên suốt cả tiến trình công tác xã hội với nhóm. Trong suốt tiến trình, đặc biệt là kế hoạch đặt ra có phù hợp với chị em khi thực hiện hay không và nếu không cần thay đổi cho phù hợp.
Trong quá trình làm việc, nhân viên công tác xã hội trao đổi với những người liên quan như đồng nghiệp để có thêm những kinh nghiệm trong vấn đề định hướng sử dụng biện pháp nào cho hợp lý, và dần rút vai trò của mình ra khỏi nhóm và trao quyền tự quyết cho các nhóm viên.
- Tổng kết, kết thúc nhóm.
Trong thời gian khá ngắn ở tại địa phương, trong bài báo cáo này tôi chỉ thực hiện được những bước cơ bản trong tiến trình công tác xã hội với nhóm phụ nữ thiếu kiến thức về KH-HGD. Tôi huy vọng trong thời gian sau, tiến trình này được phát triển và hoàn thiện hơn đúng với mục đích ban đầu của nó.
KẾT LUẬN VÀ KIÊN NGHỊ Khóa luận: Giải pháp công tác dân số kế hoạch hoá gia đình.
- Kết luận
Như chúng ta đã biết thì dân số là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế-xã hội của một quốc gia, một vùng hay một địa phương cũng như trên toàn thế giới. Vì vậy mà công tác dân số là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, là yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, của từng gia đình và của toàn xã hội. Góp phần quyết định để thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.
Do vậy, công tác dân sô luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, coi đó là nhiệm vụ quan trọng của chiến lược phát triển đất nước. Bước vào những năm đầu tuên của thế kỷ 21 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chiến lược dân số Việt Nam 2013-2022 và chiến lược quốc gia về CSSKSS 2013-2022. Song song đó là những chính sách, chương trình Dân số-kế hoạch hóa gia đình đã được triển khai rộng khắp nhằm thực hiện mục tiêu và các giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng dân số, cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe cho nhân dân và giảm tỷ lệ gia tăng dân số. Những hoạt động đó đã thu được nhiều thành quả to lớn về mục tiêu dân số và phát triển. Thế nhưng bên cạnh đó vẫn còn nhiều tồn tại khó khăn và thách thức cần được giải quyết nhất là chất lượng dân số và tỷ lệ sinh con thứ 3 đang có xu hướng gia tăng.
Bằng lý luận thực tiễn và qua nghiên cứu thực tế đề tài: CTXH với việc thực hiện dân số kế hoạch hóa gia đình của xã Lương Ninh đã giúp cho chúng ta thấy tình hình gia tăng dân số đã có nhiều tác động ảnh hưởng đên sự phát triển kinh tế xã hội, hạn chế đến việc phát huy nhân tố con người, với phương hướng đổi mới công tác Dân số-kế hoạch hóa gia đình đã góp phần hạ thấp tỷ lệ phát triển dân số với mục tiêu: dừng ở hai con để nuôi dạy cho tốt, không đẻ nhiều, đẻ dày, đẻ quá sớm, quá muộn nhằm mục đích xây dựng xã hội phồn vinh, gia đình hạnh phúc góp phần xóa đói giảm nghèo.
Trong giai đoạn hiện nay để tiến hành CNH-HĐH đất nước theo tinh thần đại hộ Đảng toàn quốc lần 8 đề ra, đảm bảo xã hội công bằng, văn minh là phải xây dựng con người mới thì công tác Dân số-kế hoạch hóa gia đình đóng vai trò hết sức quan trọng vì “xã hội nên làm được việc điều chỉnh sinh sản như điều chỉnh kinh tế thì mới lãnh đạo được chủ động xã hội” (Ăng ghen) mà muốn điều chỉnh được sinh sản phải đổi mới hoạt động công tác Dân số-kế hoạch hóa gia đình, đội ngũ cán bộ phải mạnh và có năng lực, nhiệt tình thì mới có thể làm tốt được công tác dân số. Nhà nước phải tăng cường đầu tư kinh phí cho ngành dân số, đồng thời ban dân số phải làm cho hoạt động dân số thêm phong phú đa dạng.
2.Kiến nghị
Trong quá trình làm việc cần tránh sự tương tác với mọi người, tranh thủ sự ủng hộ, quan tâm giúp đỡ của cán bộ và người dân đối với chính sách để làm việc được thuận lợi và hiệu quả cao.
Ngoài ra địa phương cần xây dựng và củng cố các mô hình CSSKSS và kế hoạch hóa gia đình cho nhân dân và cần có các hoạt động đa dạng và phong phú hơn, lôi cuốn sự tham gia hưởng ứng và ủng hộ cho nhân dân.
Cần tăng cường cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ cho công tá c dân số-kế hoạch hóa gia đình và Sức khỏe sinh sản.
Cộng tác viên dân số cần phải được đào tạo đầy đủ hơn để có thể không chỉ cung cấp vận động sử dụng các biện pháp tránh thai một cách đơn thuần mà còn có thể tư vấn một cách đầy đủ và hiệu quả về kế hoạch hóa gia đình.
Nội dung đào tạo, tập huấn cũng cần nhấn mạnh hậu quả của việc sinh nhiều con, những ảnh hưởng không tốt có thể có của nạo phá thai nhất là nạo phá thai không an toàn trong địa phương trong điệu kiên không đảm bảo vệ sinh để hạn chế việc sử dụng thủ thuật này như một biện pháp KHHGD. Nên có chương trình lồng ghép và giảng dạy ở trường học một cách có chất lượng. Khóa luận: Giải pháp công tác dân số kế hoạch hoá gia đình.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Công tác xã hội thực hiện dân số kế hoạch hoá gia đình
