Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Ủy thác cho vay hộ nghèo giữa NH chính sách xã hội hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Uỷ thác cho vay hộ nghèo giữa ngân hàng chính sách xã hội và các tổ chức chính trị – xã hội trên địa bàn xã Bằng Thành, huyện Pắc Nặm, tỉnh Bắc Kạn dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Nền kinh tế nước ta đã và đang bước vào giai đoạn hội nhập với nền kinh tế quốc tế, sự chuyển biến về kinh tế – xã hội đang phát huy và có nhiều thành tựu to lớn, đưa đất nước ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, xã hội, tạo điều kiện cho giai đoạn phát triển mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa, nâng cao vị thế của việt nam trên thị trường quốc tế, Hội nghị trung ương thứ VI đã khẳng định: Sự phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa có vai trò cực kỳ quan trọng cả trước mắt và lâu dài làm cơ sở để ổn định và phát triển kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước theo hướng xã hội chủ nghĩa. Sự phát triển của kinh tế nông thôn đống góp một vai trò to lớn trong nền kinh tế quốc dân, quá trình phát triển này đá và đang có sự hỗ trợ không ngừng từ phía các tổ chức tín dụng. Sau 20 năm đổi mới, việt nam đá có nhiều thành tựu, tuy nhiên đời sống của người dân vẫn chưa được cải thiện đáng kể, đặc biệt là người dân ở vùng nông thôn. Nhiều vùng nông thôn vấn còn nghèo về vật chất – kỹ thuật, hạn chế về nhiều mặt trong nền kinh tế – xã hội chung của đất nước. Nhiều hoạt động trên lý thuyết lấn thực tế đang tập trung vào xóa đối giảm nghèo, cải thiện đời sống cho bà con nông dân đã phần nào phát huy hiệu quả, những cái mà bà con quan tâm nhất là nguồn vốn tín dụng thì vẫn còn nhiều hạn chế. Nhu cầu vốn tín dụng xuất pháp từ nhiều hoạt động khác nhau và việc đáp ứng được nhu cầu đó cũng là một bước phát triển của các tổ chức tín dụng. Hiện nay mạng lưới tín dụng đã có mặt ở khắc mọi vùng nông thôn, miền núi. Hoạt động của các tổ chức tín dụng đá và đang phát huy hiệu quả. Tuy nhiên, nhiều người dân ở vùng nông thôn vấn ít hoặc chưa tiếp cận được các hoạt động của các tổ chức này. Mạng lưới tài chính này chưa thật sự có hiệu quả ở vùng xâu vùng xa. Đa số người nghèo ở đây chưa được cán bộ tín dụng tiếp cận. Những quy định mới về thế chấp tài sản đã tháo gỡ một phần khó khăn khi người dân vay vốn, nhưng vấn bất cập đối với một bộ phận nông dân.
Tín dụng chính sách xã hội là giải pháp thực hiện mục tiêu giảm nghèo một cách cơ bản và bền vứng. Trong những năm qua hệ thống tín dụng chính sách tín dụng không ngừng được hoàn thiện, tạo điều kiện cho người nghèo và các đối tượng chính sách được tiếp cận nguồn vốn tín dụng ưu đái của nhà nước, từng bước nâng cao điều kiện sống, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ toàn diện ở các vùng nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Nâng cao thu nhập cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân đặc biệt là người dân nông thôn từ lâu vấn đang làm mối quan tâm hang đầu của Đảng và nhà nước ta. Vì vậy đã có rất nhiều chính sách, chương trình tháo gỡ khó khăn giúp người dân thoát nghèo. Vì vậy để thực hiện tốt các chính sách chương trình một cách có hiệu quả tốt đạt hiệu quả cao, nhà nước đã ủy thác cho vay hộ nghèo giữa ngân hang chính sách xã hội và các tổ chức chính trị xã hội cho người nông dân, để có đủ vốn chủ động đầu tư và tạo ra một thu nhập ổn định trong đời sống người nông dân.
Xã Bằng Thành là một xã thuộc Huyện Pắc Nặm, tỉnh Bắc Kạn. Xã cách huyện Pắc Nặm 12km. Bằng Thành vấn là một xã nông nghiệp, kinh tế – xã hội còn gặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí của người nông dân vấn còn chưa cao, diện tích đất canh tác, vốn, khoa học kỹ thuật còn yếu. Hoạt động kinh tế của hộ nông dân chủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi bao gồm: Trồng cây keo, ngô, lúa, nuôi lợn, trâu, bò, gà, vịt… Khóa luận: Ủy thác cho vay hộ nghèo giữa NH chính sách xã hội.
Đánh giá về đều kiên tự nhiên, kinh tế – xã hội cũng như tìm hiểu tình hình thực trạng về cơ hội và thách thức của người dân trong việc ủy quyền cho vay hộ nghèo giữa ngân hàng chính sách xã hội và các tổ chức chính trị xã hội, nơi đây sẽ là cơ sở cho việc xây dựng một mô hình phát triển kinh tế tăng thu nhập cho người dân xã Bằng Thành nói riêng và cũng như người dân trong địa bàn huyện Pắc Nặm nói chung, làm tiền đề cho các can thiệt của các dự án phát triên nông thôn, các chương trình xóa đối giảm nghèo, cải thiện sinh kế… để nâng cao đời sống cho người dân. Với mục đích như vậy nên tác giả đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Uỷ thác cho vay hộ nghèo giữa ngân hàng chính sách xã hội và các tổ chức chính trị xã hội trên địa bàn xã Bằng Thành, huyện Pắc Nặm, tỉnh Bắc Kạn”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Phân tích được cơ hội và thách thức trong việc ủy quyền cho vay hộ nghèo giữa ngân hàng chính sách xã hội và các tổ chức chính trị – xã hội tại địa bàn xã Bằng Thành. Từ đó đánh giá và đề xuất được các giải pháp khắc phục và phát huy các thế mạnh để nâng cao thu nhập đời sống người dân tại địa bàn nghiên cứu.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá thực trạng ủy thác cho vay hộ nghèo giữa ngân hàng chính sách xã hội thông qua hội phụ nữ trên địa bàn xã Bằng Thành, huyện Pắc Nặm, tỉnh Bắc Kạn.
- Phân tích và làm rõ những thuận lợi, khó khăn, nguyên nhân của những khó khăn của phương thức ủy thác cho vai hộ nghèo giữa ngân hàng chính sách xã hội thông qua hội phụ nữ trên địa bàn xã Bằng Thành, huyện Pắc Nặm, tỉnh Bắc Kạn.
- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho vay ủy thác từ ngân hàng chính sách xã hội thông qua hội phụ nữ trên địa bàn xã Bằng Thành, huyện Pắc Nặm, tỉnh Bắc Kạn.
- Tìm hiểu những khó khăn trở ngại và biện pháp khắp phục cho người nông dân trong địa bàn nghiên cứu.
1.3. Ý nghĩa của đề tài Nghiên cứu Khóa luận: Ủy thác cho vay hộ nghèo giữa NH chính sách xã hội.
1.3.1. Ý nghĩa trong khoa
- Nâng cao năng lực cũng như rèn luyện các kỹ năng cho bản thân trong quá trình tiếp cận và nghiên cứu đề tài.
- Giúp em được tiếp cận với thực tế nâng cao kiến thức, kỹ năng cho bản thân phục vụ cho công tác sau này.
- Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập xử lý thông tin của em trong quá trình nghiên cứu và phục vụ công tác sau này.
- Vận dụng và phát huy được những kiến thức đã học trên lớp trong sách vở vào thực tế trong quá trình nghiên cứu.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Xác định được các chính sách đang thực hiện tại địa bàn và đống góp về cơ cấu thu nhập của các hoạt động kinh tế từ đó có những biện pháp phù hợp cho từng hoạt động kinh tế.
- Đề tài góp phần làm rõ hơn hiệu quả của các hoạt động chính sách mang lại cho người dân địa phương.
1.4. Yêu cầu của đề tài
- Tiến hành tìm hiểu điểm nghiên cứu, quan sát và thực hiện phỏng vấn để thu thập số liệu sơ cấp và thứ cấp về các nội dung của đề tài nghiên cứu.
- Tìm ra được các chính sách mà người dân đang thực hiên và được hưởng từ các chính sách từ nhà nước trên địa bàn nghiên cứu.
- Nêu được những thuận lợi và khó khăn, đề suất các giải pháp khắc phục.
- Tư liệu hóa được các thông tin để hoàn thành đề tài tốt nghiệp.
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU Khóa luận: Ủy thác cho vay hộ nghèo giữa NH chính sách xã hội.
2.1. Cơ sở lý luận của đề tài
2.1.1. Khái niệm ủy thác và vốn
Ủy thác là việc giao cho cá nhân, pháp nhân bên được ủy thác, nhân danh người ủy thác để làm một việc nhất định mà người ủy thác không thể làm trực tiếp hoặc không muốn làm.
Trong luật dân sự việc ủy thác là hành vi pháp lý được thực hiện dưới hình thức văn bản – hợp đồng ủy thác, theo đó bên được ủy thác, còn gọi bên nhận làm đại lý được nhân danh và được bên ủy thác, bên giao làm đại lý trả tiền chi phí hoặc được trích trả một số tỷ lệ % tiền thu được để làm một số việc hoặc mua bán một số hàng hóa nhất định. Bên được ủy thác chỉ được làm và chỉ chịu trách nhiêm trong phạm vi được ủy thác. Nếu bên được ủy thác làm vượt khỏi phạm vi được ủy thác thì phải tự chịu trách nhiệm. Hợp đồng ủy thác phải ghi đầy đủ họ tên, địa chỉ, trục sở tài khoản nếu là pháp nhân, phạm vi, nội dung ủy thác, quyền, quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm các bên và do các người có thẩm quyền ký kết vào hợp đồng. Do vai trò quan trọng của vốn trong sự tồn tại và phát triển một doanh nghiệp nói riêng và của một nền kinh tế nói chung, từ trước tới nay, không chỉ có các chủ doanh nghiệp, những nhà quản lý quan tâm, trăn trở về nguồn huy động và cách thức sử dụng vốn mà ngay cả các nhà kinh tế, nhà lý luận đã tốn không ít giấy mực và tâm trí để đưa ra một định nghĩa, một nghiên cứu hoàn chỉnh nhất về vốn của doanh nghiệp.
Dưới giác độ các yếu tố sản xuất, Mark đã khái quát hoá vốn thành phạm trù cơ bản. Theo Mark, tư bản là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là một đầu vào của quá trình sản xuất. Định nghĩa của Mark có tầm khái quát lớn.
Tuy nhiên, do hạn chế của trình độ phát triển kinh tế lúc bấy giờ, Mark quan niệm chỉ có khu vực sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị thặng dư. Khóa luận: Ủy thác cho vay hộ nghèo giữa NH chính sách xã hội.
Paul. A. Sammelson, nhà kinh tế học theo trường phái “tân cổ điển” đã thừa kế quan niệm về các yếu tố sản xuất của trường phái cổ điển và phân chia các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất ra thành ba loại chủ yếu là: Đất đai, lao động và vốn. Theo ông, vốn là các hàng hoá được sản xuất ra để phục vụ cho một quá trình sản xuất mới, là đầu vào cho hoạt động sản xuất của một doanh nghiệp: đó có thể là các máy móc, trang thiết bị, vật tư, đất đai, giá trị nhà xưởng… Trong quan niệm về vốn của mình, Sammelson không đề cập tới các tài sản tài chính, những giấy tờ có giá trị đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Trong cuốn kinh tế học của D. Begg, tác giả đã đưa ra hai định nghĩa vốn hiện vật và vốn tài chính của doanh nghiệp. Vốn hiện vật là dự trữ các hàng hoá đã sản xuất ra để sản xuất các hàng hoá khác; vốn tài chính là tiền và các giấy tờ có giá của doanh nghiệp. Như vậy, D. Begg đã bổ sung vốn tài chính vào định nghĩa vốn của Sammelson.
Trong hai định nghĩa trên, các tác giả đã thống nhất nhau ở điểm chung cơ bản: vốn là một đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, trong cách định nghĩa của mình, các tác giả đã đều thống nhất vốn với tài sản của doanh nghiệp.
Thực chất, vốn là biểu hiện bằng tiền, là giá trị của tài sản mà doanh nghiệp đang nắm giữ. Vốn và tài sản là hai mặt hiện vật và giá trị của môt bộ phận nguồn lực mà doanh nghiệp huy động vào quá trình sản xuất kinh doanh của mình.
Vốn biểu hiện mặt giá trị, nghĩa là vốn phải đại diện cho một loại giá trị hàng hoá, dịch vụ nhất định, một loại giá trị tài sản nhất định. Nó là kết tinh của giá trị chứ không phải là đồng tiền in ra một cách vô ý thức rồi bỏ vào đầu tư.
Trong nền kinh tế thị trường, vốn là một loại hàng hoá. Nó giống các hàng hoá khác ở chỗ có chủ sở hữu nhất định. Song nó có điểm khác vì người sở hữu có thể bán quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định. Giá của vốn (hay còn gọi là lãi suất) là cái giá phải trả về quyền sử dụng vốn. Chính nhờ sự tách dời về quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn nên vốn có thể lưu chuyển trong đầu tư kinh doanh và sinh lời.
Dưới góc độ của doanh nghiệp, vốn là một trong những điều kiện vật chất cơ bản, kết hợp với sức lao động và các yếu tố khác làm đầu vào cho quá trình sản xuất kinh doanh. Sự tham gia của vốn không chỉ bó hẹp trong một quá trình sản xuất riêng biệt, chia cắt, mà trong toàn bộ các quá trình sản xuất và tái sản xuất liên tục, suốt trong thời gian tồn tại của doanh nghiệp, từ khi bắt đầu quá trình sản xuất đầu tiên cho tới chu kỳ sản xuất cuối cùng.
Tóm lại, vốn là một phạm trù được xem xét, đánh giá theo nhiều quan niệm, với nhiều mục đích khác nhau. Do đó, khó có thể đưa ra một định nghĩa về vốn thoả mãn tất cả các yêu cầu, các quan niệm đa dạng. Song hiểu một cách khái quát, ta có thể coi:
Vốn kinh doanh là toàn bộ những giá trị ứng ra ban đầu hay các giá trị tích luỹ được cho các quá trình sản xuất tiếp theo của doanh nghiệp [2].
2.1.2. Vai trò của việc ủy thác cho vay hộ nghèo giữa ngân hàng chính sách xã hội và các tổ chức chính trị xã hội trên địa bàn xã Khóa luận: Ủy thác cho vay hộ nghèo giữa NH chính sách xã hội.
Thông qua ủy thác của tổ chức chính trị – xã hội, hội liên hiệp phụ nữ, hoạt động của các tổ TK&VV đã tác động tích cực đến nhận thức của người nghèo và các đối tượng chính sách khác, giúp họ vươn lên, tạo được tính cộng đồng, có sự tương trợ lẫn nhau giữa các thành viên trong tổ. Đồng thời, các tổ TK&VV còn là kênh dẫn vốn trực tiếp, hiệu quả đến tận cơ sở, giúp NHCSXH chuyển tải nguồn vốn ưu đãi đến đúng đối tượng thụ hưởng và thực hiện một số công việc được NHCSXH ủy nhiệm, như: Họp bình xét cho vay; giám sát việc sử dụng vốn vay; theo dõi, đôn đốc người vay trả nợ khi đến hạn; tuyên truyền, vận động tổ viên tham gia gửi tiền tiết kiệm, nhằm tạo thói quen tiết kiệm tích lũy trả dần nợ gốc; thực hiện thu lãi, thu tiết kiệm theo định kỳ hàng tháng; phối hợp xử lý nợ tồn đọng, nợ rủi ro… hiệu quả.
Tính đến ngày 4-2-2019 trên địa bàn xã có 17 tổ TK&VV từ NHCSXH đang hoạt động. Chi nhánh NHCSXH có tổng dư nợ đạt 22.657.900.000 tỷ đồng, trong đó dư nợ ủy thác đạt 22.657.900.000 tỷ đồng, chiếm 100% tổng dư nợ.
Việc các tổ TK&VV hoạt động hiệu quả thông qua ủy thác của tổ chức chính trị – xã hội đã góp phần giải ngân kịp thời các chương trình tín dụng chính sách. Qua đó, đã hỗ trợ vốn đầu tư sản xuất, kinh doanh cho hàng trăm nghìn lượt hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác. Năm 2018, vốn tín dụng chính sách giúp 709 hộ nghèo, hộ vừa mới thoát nghèo, hộ cận nghèo được vay vốn ưu đãi đầu tư sản xuất, kinh doanh hiệu quả; gần 50 lượt học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn vay vốn học tập; xây dựng và sửa chữa 5 nghìn công trình nước sạch, vệ sinh; xây dựng và sửa chữa 3 căn nhà ở cho hộ nghèo…; góp phần tích cực thực hiện mục tiêu giảm nghèo, tạo việc làm, phát triển nguồn nhân lực và bảo đảm an sinh xã hội, ổn định an ninh – chính trị, xây dựng nông thôn mới trong toàn tỉnh.
Phát huy kết quả đạt được, để hoạt động của các tổ TK&VV ngày càng đi vào nền nếp, đóng góp hiệu quả hơn cho hoạt động tín dụng chính sách, thời gian tới NHCSXH Bắc Kạn tiếp tục chỉ đạo phòng giao dịch các huyện phối hợp ban đại diện – hội đồng quản trị các cấp và các hội, đoàn thể nhận ủy thác phát huy vai trò tham mưu, đồng thời thường xuyên tổ chức kiểm tra để củng cố, kiện toàn kịp thời đối với các tổ TK&VV hoạt động không hiệu quả. Thực hiện tốt công tác tuyên truyền, hướng dẫn, tạo điều kiện cho các hộ vay vốn biết cách làm ăn, thực hiện việc trả nợ đúng kỳ hạn. Tăng cường tuyên truyền người dân thực hiện tiết kiệm, tổ chức sản xuất hiệu quả tích lũy vốn để tái đầu tư sản xuất, góp phần nâng cao đời sống cho người dân và hạn chế việc cho vay nặng lãi ở khu vực nông thôn. Bên cạnh đó, ngân hàng cũng tổ chức tập huấn cho đội ngũ cán bộ hội, tổ trưởng tổ TK&VV để nâng cao vai trò, trách nhiệm trong việc nhận ủy thác, thực hiện nhiệm vụ trong hoạt động tín dụng chính sách.
2.1.3. Vai trò của việc ủy thác cho vay hộ nghèo giữa ngân hàng chính sách đến quá trình phát triển kinh tế hộ trên địa bàn xã
Sau hơn 20 năm đi vào hoạt động, Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội xã đã phát huy được vai trò của tín dụng chính sách trong việc thực hiện các chương trình, mục tiêu xóa đói giảm nghèo và tạo việc làm cho người lao động trên địa bàn xã.
Đây là kết quả của sự phối hợp đồng bộ giữa các hội đoàn thể với hoạt động chuyên môn của Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội. Khóa luận: Ủy thác cho vay hộ nghèo giữa NH chính sách xã hội.
Với đặc thù là ngân hàng chính sách, thực hiện các nghiệp vụ tín dụng cho các đối tượng xã hội, do vậy cơ cấu nguồn vốn hoạt động của Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) xã gồm: Vốn cho vay giải quyết việc làm, vốn cho hộ nghèo vay theo quy định chuẩn hộ nghèo Quốc gia (thời điểm hiện nay có thu nhập bình quân 260.000 đồng/người/tháng) và chuẩn hộ nghèo của tỉnh (có thu nhập bình quân 400.000 đồng/người/tháng ở khu vực đô thị và 300.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn), vốn cho vay xuất khẩu lao động, vốn hỗ trợ cho học sinh – sinh viên.
Để nguồn vốn tín dụng đến với người có nhu cầu vay vốn được thuận tiện, nhanh chóng, Chi nhánh đã tổ chức 17 tổ TK&VV giao dịch trong toàn xã. Các điểm giao dịch có khoảng cách 3km trở lên. Tại các điểm giao dịch, đều niêm yết công khai các văn bản thông báo những điều cần biết về NHCSXH, thủ tục và quy trình cho vay các nguồn vốn của NHCSXH.
Cùng chung niềm vui như chị Ngoảng, nhiều hộ nghèo ở xã Bằng Thành đã vươn lên từ đồng vốn của NHCSXH huyện Pác Nặm. Vốn tín dụng của Ngân hàng CSXH đã giúp nhiều hộ nghèo có điều kiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, đưa giống mới và áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chăn nuôi, tạo thêm nhiều sản phẩm cung ứng cho thị trường, từng bước tiếp cận phương thức sản xuất hàng hoá, thay đổi tập quán canh tác cũ để nhanh chóng thoát nghèo và vươn lên làm giàu.
Gia đình chị Sằm Mùi Liều ở thôn Khuổi Khí, xã Bằng Thành cũng đã thoát nghèo nhờ được vay vốn phát triển kinh tế từ NHCSXS huyện. Những năm trước đây, kinh tế gia đình chị Liều rất khó khăn, đời sống không ổn định vì thiếu đất canh tác, thiếu vốn sản xuất. Sản xuất nông nghiệp vẫn theo phong tục tập quán lạc hậu của đồng bào xưa đó là, dựa vào phát nương làm rẫy, trồng cây ngô, sắn. Do đó, gia đình thường xuyên thiếu đói từ 2 đến 3 tháng vào thời điểm giáp hạt.
Được sự quan tâm của chính quyền địa phương các cấp, gia đình chị được vay vốn năm triệu đồng từ Ngân hàng CSXH để phát triển kinh tế. Từ tiền được vay, cộng thêm vốn tự có của gia đình, chị đã quyết định đầu tư nuôi bò sinh sản. Sau nhiều năm tích cực phát triển kinh tế, đến nay cuộc sống gia đình chị Liều đã có những thay đổi rõ rệt, với đàn bò gần chục con, lợn thịt 8 con, khai hoang được hơn 5000m2 ruộng trồng lúa, ngô… Hàng năm, thu nhập từ việc bán các sản phẩm do mình làm ra, thu về cho gia đình gần 50 triệu đồng. Khóa luận: Ủy thác cho vay hộ nghèo giữa NH chính sách xã hội.
Chị Liều không khỏi xúc động khi tâm sự cùng chúng tôi: Gia đình tôi vui lắm, nhờ ơn Đảng và Nhà nước, đặc biệt là NHCSXH huyện đã tạo điều kiện cho những hộ dân nghèo như chúng tôi được vay vốn để phát triển kinh tế xoá đói, giảm nghèo từng bước vươn lên làm giàu bằng chính sức lao động của mình. Từ năm 2007 trở lại đây, gia đình tôi năm nào cũng được đón Tết cổ truyền một cách ấm cúng, đầy đủ và sung túc vì kinh tế gia đình ổn định nhờ đồng vốn vay của Nhà nước.
Từ khi có nguồn vốn cho vay hộ nghèo của NHCSXH kết hợp với các chương trình khuyến nông, khuyến công, chuyển giao khoa học kỹ thuật, đời sống của các hộ nghèo có nhiều chuyển biến rõ rệt. Từ những phương thức sản xuất lạc hậu, mang tính tự cung tự cấp dựa nhiều vào tự nhiên là chủ yếu, đến nay nhiều hộ nghèo của huyện Pác Nặm đã biết đầu tư nuôi lợn, nuôi bò, trồng ngô… áp dụng theo những tiến bộ khoa học nhằm phát huy hiệu quả kinh tế cao, tạo nguồn thu nhập đáng kể.
- Hình 2.1. Hộ nghèo đến vay vốn tại NHCSXH huyện Pác Nặm
Theo ông Lưu Thông Hiểu, Giám đốc NHCSXH huyện thì thiếu vốn để sản xuất, được coi như một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến đói nghèo. Chính vì vậy, ngân hàng CSXH huyện luôn nỗ lực để đồng vốn đến được với các hộ nghèo. Năm 2018, Ngân hàng đã cho 2.537 hộ nghèo vay vốn, với tổng dư nợ gần 72 tỷ đồng, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo của huyện xuống còn 52,08%. Trong năm 2019, ngân hàng sẽ tiếp tục tạo điều kiện cho người nghèo tiếp cận với kênh tín dụng ưu đãi của Nhà nước, mở rộng mạng lưới giao dịch, đồng thời chủ động huy động các nguồn vốn từ ngân sách Trung ương và địa phương để bổ sung nguồn vốn cho vay hộ nghèo, nỗ lực cùng các cấp, các ngành thực hiện thắng lợi mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 50%, theo đúng tinh thần Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ nhất đã đề ra.
2.1.4. Vai trò của việc ủy thác cho vay hộ nghèo giữa ngân hàng chính sách đến sản xuất Nông nghiệp trên địa bàn xã Khóa luận: Ủy thác cho vay hộ nghèo giữa NH chính sách xã hội.
Những năm qua, vốn vay ưu đãi của Ngân hàng Chính sách Xã hội đã tạo đà cho nhiều hộ nghèo trên địa bàn xã đã vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống, trở thành điểm tựa vững chắc cho người nghèo tại địa phương.
Cách đây vài năm, gia đình anh Hoàng Văn Pá ở Bản Mạn, là một trong những hộ nghèo nhất nhì thôn. Mặc dù, nhà cũng có ruộng vườn, nhưng do thiếu vốn, gia đình anh cứ mãi sống trong vòng luẩn quẩn nghèo khó. Cuộc sống của gia đình anh Pá chỉ thực sự thay đổi khi anh quyết định vay 50 triệu đồng từ Ngân hàng Chính sách Xã hội để mua 1 cặp trâu sinh sản về nuôi… Trong quá trình chăm sóc trâu, anh Pá đã được cán bộ chuyên môn của huyện, xã thường xuyên đến hướng dẫn kỹ thuật, nhờ đó trâu của gia đình anh lớn nhanh, không mắc dịch bệnh. Sau khi trâu lớn, được giá, gia đình đã bán đi để lấy vốn phát triển thêm chuồng trại nuôi lợn, gà… Nhờ đó, đến nay, gia đình anh đã trả được hết số nợ và thoát được diện hộ nghèo, cuộc sống dần ổn định.
Không riêng gia đình anh Pá, hàng trăm hộ gia đình khác ở xã đã vươn lên thoát nghèo nhờ vay vốn chính sách để phát triển sản xuất. Từ nguồn vốn vay, cùng với sự định hướng, giúp sức của chính quyền, nhiều mô hình kinh tế đã được hình thành phát huy hiệu quả trong việc sử dụng vốn vay như nuôi trâu, bò, dê ở các thôn, Khuổi Mạn, Bản Mạn, Lủng Mít…; trồng cây ăn quả ở thôn Khuổi Khí, Pắc Nặm…
Để chuyển tải nguồn vốn tín dụng ưu đãi đúng đối tượng thụ hưởng, đồng thời nâng cao chất lượng tín dụng, hỗ trợ tối đa cho đối tượng thụ hưởng, Ngân hàng Chính sách Xã hội xã đã phối hợp chặt chẽ với các tổ trưởng tổ vay vốn các thôn như: Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn thành niên, Hội Cựu chiến binh… xây dựng hợp đồng ủy thác, triển khai rà soát, xác định đối tượng để cho vay vốn. Từ đó đã hình thành mạng lưới tổ tiết kiệm và vay vốn trên địa bàn từng thôn, bản đưa vốn vay ưu đãi của chính phủ đến đúng đối tượng, tạo điều kiện cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác được tiếp cận dễ dàng vốn vay. Đến nay, mạng lưới hoạt động đã hình thành 17 tổ tiết kiệm và vay vốn tại xã.
Không chỉ đơn thuần là giải ngân cho vay, thu nợ, để đồng hành cùng người dân, Ngân hàng chính sách xã hội huyện còn xây dựng chương trình phát huy vốn vay bằng cách phối hợp chặt chẽ với Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các tổ chức, đoàn thể, tham gia tư vấn, phổ biến, hướng dẫn các hộ vay vốn áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh, tìm mô hình làm ăn phù hợp để bà con học tập, áp dụng. Từ đó, hiệu quả nguồn vốn vay được phát huy, nâng cao thu nhập, tạo thêm việc làm cho người dân, đồng vốn sau khi giải ngân được sử dụng đúng mục đích. Bên cạnh đó, để đảm bảo nguồn vốn, đáp ứng nhu cầu vay của các đối tượng thụ hưởng theo đúng cơ chế chính sách, Ngân hàng chính sách xã hội huyện còn chú trọng đến công tác huy động vốn tại địa phương. Để huy động vốn hiệu quả trong điều kiện lãi suất gửi tiết kiệm thấp hơn các ngân hàng thương mại, Ngân hàng chính sách xã hội huyện đã bám sát cơ sở, đổi mới tác phong giao tiếp, nâng cao chất lượng phục vụ và làm tốt công tác tuyên truyền. Vì thế, công tác thu hút nguồn vốn cũng đã đạt được nhiều kết quả tích cực.
Bằng các giải pháp hiệu quả và thiết thực, nguồn vốn vay ưu đãi của Ngân hàng chính sách xã hội đã được người dân đầu tư đúng hướng, góp phần giải quyết việc làm cho hàng trăm lao động nông thôn, giúp nhiều hộ nghèo vươn lên thoát nghèo bền vững. Thông qua vay vốn Ngân hàng Chính sách Xã hội, người dân từng bước được làm quen với tín dụng ngân hàng, có ý thức vươn lên thoát nghèo, góp phần quan trọng vào công cuộc giảm nghèo, an sinh xã hội của địa phương.
2.1.5. Các nguồn vốn Khóa luận: Ủy thác cho vay hộ nghèo giữa NH chính sách xã hội.
- Vốn trong nông nghiệp được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau:
Vốn tích lũy từ bản thân khu vực nông nghiệp: Là vốn tự do, do nông dân tiết kiệm được và sử dụng đầu tư vào tái sản xuất mở rộng. Mức độ tích lũy vốn thường được đánh giá bởi tỷ lệ tiết kiệm so với thu nhập hoặc tỷ lệ tiết kiệm so với GDP.
Vốn đầu tư của ngân sách: là vốn đầu tư cho nông nghiệp từ nguồn ngân sách của nhà nước. Vốn này được dùng vào khai hoang và xây dựng vùng kinh tế mới, nông trường quốc doanh, trạm, trại kỹ thuật nông nghiệp, thủy lợi, nghiên cứu khoa học, chương trình giải quyết việc làm ở nông thôn.
Vốn từ tín dụng nông thôn: Là vốn đầu tư cho nông nghiệp của nông hộ, trang trại và các doanh nghiệp nông nghiệp vay từ hệ thống định chế tài chính tài chính nông thôn thuộc khu vực chính thức và không chính thức.
Định chế thuộc khu vực chính thức là những tổ chức kinh doanh tiền tệ đăng ký hoạt động theo pháp luật của nhà nước, chịu trách nhiệm nộp các khoản thuế quy định cho nhà nước. Ở Việt Nam, hệ thống định chế này bao gồm: Ngân hàng phát triển nông nghiệp và nông thôn, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng công thương, HTX tín dụng nông nghiệp và Ngân hàng thương mại tư nhân.
Định chế thuộc khu vực không chính thức là những tổ chức kinh doanh tiền tệ nhưng không đăng ký theo pháp luật của nhà nước hoặc có đăng ký nhưng không đủ chức năng thật sự như một định chế chính thức (không nộp thuế). Hệ thống này bao gồm: người cho vay chuyên nghiệp ở nông thôn, bạn bè – bà con cho vay lẫn nhau (có lãi suất hoặc không có lãi suất), các tổ chức đoàn thể quần chúng làm dịch vụ tài chính như Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội nông dân…
- Nguồn vốn nước ngoài: Bao gồm 2 nguồn chủ yếu sau:
Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (Foreign IndirectINVESTMENT FII): nguồn vốn của nước ngoài đầu tư vào Việt Nam với hình thức viện trợ và cho vay ưu đãi. Nguồn vốn này được các tổ chức tài chính – tiền tệ thế giới và chính phủ các nước giúp đỡ Việt Nam dưới hình thức vay với thời kỳ dài và lãi suất thấp hoặc bằng 0, nhằm sử dụng đầu tư cho một số chương trình như dự án khôi phục nông nghiệp Việt Nam, bảo vệ rừng, cơ sở hạ tầng nông thôn, chương trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment FDI) [3].
2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài Khóa luận: Ủy thác cho vay hộ nghèo giữa NH chính sách xã hội.
2.2.1. Thực trạng sử dụng vốn của nông dân nước ta hiện nay
Trong 20 năm qua, vốn tín dụng chính sách đã được đầu tư đến 100% xã, phường, thị trấn trên cả nước; trong đó, tập trung ưu tiên cho vay các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới…
Cụ thể, đến nay đã có trên 31,8 triệu lượt hộ nghèo và các đối tượng chính sách được vay vốn từ NHCSXH, với doanh số cho vay đạt 433.245 tỷ đồng, doanh số thu nợ đạt 272.336 tỷ đồng; Góp phần giúp trên 4,5 triệu hộ vượt qua ngưỡng nghèo; Thu hút, tạo việc làm cho gần 3,4 triệu lao động, hơn 3,5 triệu lượt học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn học tập; Xây dựng trên 9,9 triệu công trình nước sạch và vệ sinh môi trường ở nông thôn; Gần 105 nghìn căn nhà cho hộ gia đình vượt lũ vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, gần 528 nghìn căn nhà cho hộ nghèo và các hộ gia đình chính sách, trên 11 nghìn căn nhà phòng, tránh bão, lụt khu vực miền Trung; trên 112 nghìn lao động thuộc gia đình chính sách được vay vốn đi xuất khẩu lao động có thời hạn ở nước ngoài…
Việc tổ chức thực hiện có hiệu quả các chương trình tín dụng chính sách đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội theo định hướng của Đảng và Nhà nước, bảo đảm an sinh xã hội, ổn định chính trị, trật tự xã hội, an ninh quốc phòng; Góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo giai đoạn 2001-2005 từ 17% xuống 7%; giai đoạn 2005-2010 từ 22% xuống 9,45%; giai đoạn 2011- 2015 từ 14,2% xuống 4,25% cuối năm 2015. Khóa luận: Ủy thác cho vay hộ nghèo giữa NH chính sách xã hội.
Hoạt động nhận ủy thác từ NHCSXH cũng đã tạo điều kiện cho các tổ chức chính trị – xã hội tập hợp lực lượng, củng cố, nâng cao cả về số lượng, chất lượng phong trào hoạt động… Hiện nay, có 4 tổ chức chính trị – xã hội đang phối hợp với NHCSXH tham gia quản lý 166.660 tỷ đồng, trong đó: Hội Phụ nữ tham gia quản lý 65.633 tỷ đồng (chiếm tỷ lệ 39,4%); Hội Nông dân tham gia quản lý 53.438 tỷ đồng (chiếm tỷ lệ 32%); Hội Cựu chiến binh tham gia quản lý 26.300 tỷ đồng (chiếm tỷ lệ 15,8%); Đoàn Thanh niên tham gia quản lý 21.289 tỷ đồng (chiếm tỷ lệ 12,8%)…
Cùng với việc tăng trưởng tín dụng, chất lượng tín dụng chính sách không ngừng được củng cố và nâng cao, tỷ lệ nợ quá hạn và nợ khoanh của toàn hệ thống NHCSXH giảm mạnh từ 13,75% tại thời điểm nhận bàn giao xuống còn 0,81% tại thời điểm 30/9/2017 (trong đó, nợ quá hạn 0,42%, nợ khoanh 0,39%).
Công tác kiểm tra, giám sát đối với hoạt động tín dụng chính sách xã hội đã và đang phát huy hiệu lực, hiệu quả. Công tác giám sát từ xa được chú trọng trong, qua đó, nâng cao ý thức, trách nhiệm trong việc sử dụng vốn hiệu quả.
Việc đổi mới và đa dạng các hình thức truyền thông đã giúp người dân và các cấp, các ngành nắm bắt kịp thời các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về tín dụng chính sách xã hội.
Việc triển khai Chỉ thị số 40 – CT/TW của Ban Bí thư đã có những tác động tích cực đối với hoạt động tín dụng chính sách xã hội. Cụ thể, dù NSNN có thời điểm khó khăn, nhưng các bộ, ngành đã quan tâm, tham mưu, trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ưu tiên dành nguồn lực để bổ sung cho NHCSXH; Bố trí vốn cấp bù chênh lệch lãi suất và phí quản lý cho NHCSXH; Bổ sung vốn điều lệ; Giao kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn NSNN giai đoạn 2016-2020.
Qua đó, đã đảm bảo nguồn lực, đáp ứng kịp thời nhu cầu vay vốn của hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác.
Để tăng cường hoạt động tín dụng chính sách xã hội, NHCSXH đã phối hợp với các bộ, ngành liên quan tham mưu, trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành bổ sung một số chương trình tín dụng chính sách xã hội mới như: Cho vay hỗ trợ nhà ở xã hội; Cho vay bảo vệ và phát triển rừng gắn với giảm nghèo nhanh và bền vững theo; Cho vay hộ mới thoát nghèo; Cho vay hỗ trợ hộ nghèo về nhà; Cho vay phát triển kinh tế – xã hội vùng dân tộc thiểu số…
Cùng với Trung ương, các tỉnh, thành phố cũng đã quan tâm hỗ trợ NHCSXH về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác, cân đối nguồn vốn ủy thác để bổ sung nguồn vốn cho vay trên địa bàn. Khóa luận: Ủy thác cho vay hộ nghèo giữa NH chính sách xã hội.
Theo thống kê, từ khi thực hiện Chỉ thị 40-CT/TW đến nay, nguồn vốn ủy thác địa phương đã tăng thêm 4.593 tỷ đồng (tăng 118% so với trước khi có Chỉ thị 40-CT/TW), đưa tổng nguồn vốn ủy thác địa phương đến nay đạt 8.485 tỷ đồng.
Nền kinh tế nước ta đã và đang bước vào giai đoạn hội nhập với nền kinh tế quốc tế, sự chuyển biến về kinh tế – xã hội đang phát huy và có nhiều thành tựu to lớn, đưa đất nước ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, xã hội, tạo điều kiện cho giai đoạn phát triển mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Hội nghị Trung ương thứ VI đã khẳng định: “Sự phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa có vai trò cực kỳ quan trọng cả trước mắt và lâu dài làm cơ sở để ổn định và phát triển kinh tế – xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Sự phát triển của kinh tế nông thôn đóng góp một vai trò rất lớn trong nền kinh tế quốc dân, và quá trình phát triển này đã và đang có sự hỗ trợ không nhỏ từ phía các tổ chức tín dụng.
Sau hơn 20 năm đổi mới, Việt Nam đã có nhiều thành tựu, tuy nhiên đời sống của người dân vẫn chưa được cải thiện đáng kể, đặc biệt là người dân ở vùng nông thôn. Nhiều vùng nông thôn vẫn còn nghèo về vật chất – kỹ thuật, hạn chế về nhiều mặt trong nền kinh tế – xã hội chung của đất nước. Nhiều hoạt động cả trên lý thuyết lẫn thực tiễn đang tập trung vào quá trình xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống cho bà con nông dân đã phần nào phát huy hiệu quả, nhưng cái mà bà con quan tâm nhất là nguồn vốn tín dụng thì vẫn còn nhiều hạn chế. Nhu cầu tín dụng của người dân xuất phát từ nhiều hoạt động khác nhau, và việc đáp ứng được nhu cầu đó cũng là một bước phát triển của các tổ chức tín dụng. Hiện nay, mạng lưới tín dụng đã có mặt ở khắp các vùng nông thôn, miền núi. Hoạt động của các tổ chức tín dụng này đã và đang phát huy hiệu quả. Tuy nhiên, nhiều người dân ở khu vực nông thôn vẫn ít hoặc chưa thể tiếp cận được các hoạt động của các tổ chức tín dụng này. Mạng lưới tài chính còn chưa thực sự có hiệu quả ở vùng sâu vùng xa. Đa số người nghèo ở đây chưa được cán bộ tín dụng tiếp cận. Những quy định mới về thế chấp tài sản đã tháo gỡ một phần khó khăn khi người dân vay vốn, nhưng vẫn bất cập đối với một bộ phận nông dân kinh doanh trang trại, doanh nghiệp vừa và nhỏ và cả người nghèo
2.2.2. Thực tiễn việc tiếp cận các chính sách vay vốn nước ta hiện nay Khóa luận: Ủy thác cho vay hộ nghèo giữa NH chính sách xã hội.
Trong những năm qua, hệ thống chính sách tín dụng ưu đãi không ngừng được hoàn thiện, tạo điều kiện cho người nghèo và các đối tượng chính sách được tiếp cận nguồn vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước, từng bước nâng cao điều kiện sống, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Để tạo điều kiện đẩy mạnh hoạt động tín dụng chính sách, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã tổ chức xây dựng kế hoạch, tham mưu trình ban hành và triển khai chỉ đạo thực hiện nhiều chính sách giảm nghèo như:
Chủ trì xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các cơ chế chính sách đối với hoạt động tín dụng chính sách, tạo sự đồng bộ, phù hợp với mục tiêu đặt ra như: Quyết định số 15/2013/QĐ-TTg ngày 23/2/2013 về tín dụng đối với hộ cận nghèo; Quyết định số 28/2015/QĐ-TTg ngày 21/7/2015 về tín dụng đối với hộ mới thoát nghèo; Các thông tư quy định chi tiết về chính sách cho vay ưu đãi lãi suất theo chương trình hỗ trợ các huyện nghèo (Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ); Quy định chi tiết thi hành việc hỗ trợ lãi suất đối với các khoản vay của người nghèo và các đối tượng chính sách khác; Hướng dẫn việc cho vay của Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) (Quyết định số 48/2014/QĐ-TTg ngày 28/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ hộ nghèo xây dựng nhà ở phòng, tránh bão, lụt khu vực miền Trung); Hướng dẫn thực hiện cho vay trồng rừng sản xuất, phát triển chăn nuôi (Nghị định số 75/2015/NĐ-CP ngày 09/9/2015 của Chính phủ về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015 – 2020)…
Tham mưu trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 22/11/2014 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tín dụng chính sách xã hội (Quyết định số 401/QĐ-TTg ngày 14/3/2016), đề ra nhiệm vụ, giải pháp và phân công cụ thể trách nhiệm của các bộ, ngành, chính quyền địa phương, nhằm tăng cường sự chỉ đạo của các cấp chính quyền từ Trung ương đến cơ sở trong việc xây dựng cơ chế chính sách và bố trí nguồn lực cho tín dụng chính sách xã hội.
Hỗ trợ góp phần bảo đảm ổn định nguồn vốn để NHCSXH thực hiện các chương trình tín dụng chính sách thông qua việc NHNN tái cấp vốn cho NHCSXH; Ban hành các Thông tư hướng dẫn và thường xuyên chỉ đạo các tổ chức tín dụng (TCTD) nhà nước thực hiện duy trì 2% số dư tiền gửi tại NHCSXH theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 4/10/2002.
Hỗ trợ hoàn thiện, củng cố tổ chức và hoạt động của NHCSXH. Theo đó, NHNN đã cử lãnh đạo NHNN, lãnh đạo một số đơn vị tham gia HĐQT, ban chuyên gia tư vấn và ban kiểm soát HĐQT tại NHCSXH. Khóa luận: Ủy thác cho vay hộ nghèo giữa NH chính sách xã hội.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Ứng dụng công nghệ tin học và máy toàn đạc điện tử
