Khóa luận: Kế toán chi phi sản xuất tính giá thành tại Cty Mỹ Hảo

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Kế toán chi phi sản xuất tính giá thành tại Cty Mỹ Hảo hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phi sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty CP Mỹ Hảo dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Đối với các nhà quản lý doanh nghiệp chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là những chỉ tiêu kinh tế quan trọng, chúng phản ánh chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Một thực trạng mà hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam nói chung trong đó có công ty CP Mỹ Hảo nói riêng đang vấp phải đó là việc thực hiện kế hoạch giá thành. Vì giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu hiệu quả, muốn nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh thì biện pháp tối ưu là tiền đề tích cực giúp doanh nghiệp đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm, tăng sức cạnh tranh trên thị trường, từ đó tăng tích lũy cho doanh nghiệp góp phần cải thiện và nâng cao đời sống công nhân viên. Để đạt được điều đó trước hết doanh nghiệp phải kiểm tra, quản lý chặt chẽ chi phí sản xuất, lựa chọn phương án có chi phí thấp nhất. Thông qua công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sẽ cung cấp những thông tin chính xác và cần thiết giúp cho nhà quản lý lãnh đạo phân tích, đánh giá tình hình thực hiện các định mức chi phí, tình hình sử dụng vật tư, lao động, máy móc thiết bị tiết kiệm hay lãng phí. Từ đó tìm ra các biện pháp hữu hiệu nhất nhằm quản lý tốt chi phí, hạ giá thành.

2. Mục đích nghiên cứu đề tài

  • Hệ thống hóa lý luận chung về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp.
  • Mô tả và phân tích được thực trạng công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty CP Mỹ Hảo.
  • Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty CP Mỹ Hảo.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

  • Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp.
  • Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu đối tượng nêu trên trong phạm vi một đơn vị kế toán cụ thể, đó là công ty CP Mỹ Hảo.

4. Phương pháp nghiên cứu

  • Các phương pháp kế toán
  • Phương pháp thống kê và so sánh
  • Phương pháp chuyên gia
  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu để kế thừa thành tựu.

5. Kết cấu đề tài

Ngoài “Lời mở đầu và Kết luận” thì kết cấu đề tài gồm 3 chương:

  • Chương I: Cơ sở lý luận về tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất
  • Chương II: Thực trạng công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty CP Mỹ Hảo
  • Chương III: Một số giải pháp hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nhằm tăng cường quản lý chi phí sản xuất tại công ty CP Mỹ Hảo.

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

1.1 Bản chất và nội dung kinh tế của chi phí sản xuất

Sản xuất của cải vật chất là hoạt động cơ bản của xã hội loài người, đây chính là điều kiện quyết định của sự tồn tại và phát triển trong mọi chế độ xã hội. Sự phát triển của xã hội loài người gắn liền với quá trình sản xuất đi từ phương thức sản xuất giản đơn đến phương thức sản xuất hiện đại ngày nay. Nhưng nền sản xuất của bất cứ phương thức nào cũng gắn liền với sự vận động và tiêu hao các yếu tố cơ bản để tạo ra kết quả sản xuất. Nói cách khác quá trình sản xuất là quá trình kết hợp các yếu tố tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Vì thế sự hình thành các chi phí sản xuất tạo ra giá trị sản phẩm là tất yếu khách quan. Khóa luận: Kế toán chi phi sản xuất tính giá thành tại Cty Mỹ Hảo.

Trên góc độ kinh tế học, chi phí là khoản phí tổn phải bỏ ra khi sản xuất hàng hóa, dịch vụ trong kinh doanh.

Trên góc độ kế toán quản trị, chi phí sản xuất là các khoản phí tổn phải bỏ ra để mua các yếu tố cần thiết cho việc tạo ra sản phẩm mang lại lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp.

Trên góc độ kế toán tài chính, chi phí được nhìn nhận như những khoản phí tổn phát sinh gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp để tạo ra sản phẩm, lao vụ, dịch vụ nhất định. Chi phí được xem như lượng tiền phải trả cho những hao phí về lao động sống cần thiết, lao động vật hóa…trên cơ sở chứng từ, tài liệu, bằng chứng chắc chắn.

Như vậy các quan niệm trên thực chất chỉ là sự nhìn nhận bản chất chi phí từ các góc độ khác nhau. Từ đó ta có thể đi đến một biểu hiện chung nhất về chi phí sản xuất như sau:

Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp thực tế chi ra để tiến hành hoạt động sản xuất trong một kỳ kinh doanh nhất định. Các chi phí này phát sinh có tính chất thường xuyên gắn liền với quá trình sản xuất sản phẩm của một doanh nghiệp.

1.2 Bản chất và chức năng của giá thành sản phẩm

1.2.1 Bản chất của giá thành sản phẩm

Bản chất của giá thành sản phẩm là sự dịch chuyển giá trị của các yếu tố vật chất vào giá trị sản phẩm được sản xuất và tiêu thụ. Chưa có sự chuyển dịch này thì không thể nói đến chi phí và giá thành sản phẩm. Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, giá thành sản phẩm bao gồm toàn bộ các khoản hao phí vật chất thực tế cần được bù đắp bất kể nó thuộc bộ phận nào trong cấu thành giá trị sản phẩm. Hạch toán giá thành chính là tính toán, xác định sự chuyển dịch các yếu tố vật chất tham gia vào khối lượng sản phẩm vừa thoát khỏi quá trình sản xuất và tiêu thụ nhằm mục đích thực hiện các chức năng của giá thành sản phẩm (chức năng bù đắp, chức năng lập giá và chức năng đòn bẩy kinh tế).

Định nghĩa nêu trên cũng cho phép chúng ta thiết lập mối quan hệ chặt chẽ giữa giá thành sản phẩm với các yếu tố chi phối các phương thức chuyển dịch giá trị của các yếu tố vật chất vào giá trị sản phẩm. Đó là các yếu tố thuộc về mặt kỹ thuật và xã hội của quá trình tái sản xuất.

1.2.2 Chức năng của giá thành sản phẩm

Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác quản lý của các doanh nghiệp và của nền kinh tế.

Tính chất lượng của chỉ tiêu này được biểu hiện ở chỗ thông qua nó người ta có thể đánh giá được hiệu quả của quá trình sản xuất. Chứng minh được khả năng phát triển và việc sử dụng các yếu tố vật chất đã thật sự tiết kiệm và hợp lý chưa?

Tính tổng hợp của chỉ tiêu này được biểu hiện ở chỗ thông qua nó người ta có thể đánh giá được toàn bộ các biện pháp kinh tế tổ chức – kỹ thuật mà các doanh nghiệp đã đầu tư trong quá trình sản xuất kinh doanh bởi mọi biện pháp đầu tư đều tác động đến việc sử dụng các yếu tố vật chất để thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm và xét cho cùng thì đều được biểu hiện tổng hợp trong nội dung của chỉ tiêu giá thành.

1.2.2.1 Chức năng thước đo bù đắp chi phí

Giá thành của sản phẩm biểu hiện những hao phí vật chất mà các doanh nghiệp đã bỏ ra để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Những hao phí vật chất này cần được bù đắp một cách đầy đủ, kịp thời để đảm bảo yêu cầu tái sản xuất. Bù đắp hao phí sản xuất là vấn đề quan tâm đầu tiên của các doanh nghiệp bởi hiệu quả kinh tế được biểu hiện ra trước hết ở chỗ doanh nghiệp có khả năng bù lại những gì mình đã bỏ ra hay không. Đủ bù đắp là khởi điểm của hiệu quả và được như là yếu tố đầu tiên để được xem xét hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

1.2.2.2 Chức năng lập giá Khóa luận: Kế toán chi phi sản xuất tính giá thành tại Cty Mỹ Hảo.

Sản phẩm do các doanh nghiệp sản xuất ra là sản phẩm hàng hóa được thực hiện giá trị trên thị trường thông qua giá cả.

Giá cả sản phẩm được xây dựng trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết, biểu hiện mặt giá trị sản phẩm.

Để thực hiện được yêu cầu bù đắp hao phí vật chất thì khi xây dựng giá phải căn cứ vào giá thành sản phẩm. Tuy nhiên giá thành sản phẩm của từng doanh nghiệp không phải là cơ sở để xây dựng giá. Để xây dựng giá người ta phải căn cứ vào giá thành bình quân của ngành, của địa phương được sản xuất trong những điều kiện trung bình. Cá biệt nếu sản phẩm nào chủ yếu được sản xuất từ một doanh nghiệp cụ thể thì có thể sử dụng giá thành cá biệt nhưng bao giờ cũng gắn với các tính chất hợp lí của quá trình sản xuất và việc phát sinh của hao phí. Cần thấy rằng dù có dựa vào loại giá thành nào để làm căn cứ lập giá thì việc xác định giá thành cá biệt ở từng doanh nghiệp đều có ý nghĩa hết sức quan trọng. Không có chính sách và biện pháp vĩ mô nào để điều tiết các hoạt động vi mô mà lại không bắt nguồn từ những hoạt động và kết quả cụ thể của các doanh nghiệp.

Giá cả là biểu hiện mặt giá trị của sản phẩm, chứa đựng trong nó nội dung bù đắp hao phí vật chất dùng để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nên việc lấy giá thành làm căn cứ lập giá là một yêu cầu khách quan, vốn có trong nền sản xuất hàng hóa và được biểu hiện đầy đủ trong nền kinh tế thị trường.

Ngoài 2 chức năng có tính chất phổ biến trên, còn có một số quan điểm đưa ra một số chức năng khác nữa của giá thành.

Chương II: Thực trạng công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty CP Mỹ Hảo

2.1 Khái quát chung về công ty CP Mỹ Hảo Khóa luận: Kế toán chi phi sản xuất tính giá thành tại Cty Mỹ Hảo.

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty CP Mỹ Hảo

Ngày nay trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt với nền kinh tế nhiều thành phần. Nền kinh tế nước ta phát triển cao hơn rất nhiều so với nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp. Thu nhập của mọi người lao động cũng tăng lên dẫn đến các nhu cầu trong đời sống sinh hoạt của con người đòi hỏi càng cao hơn. Mọi người không còn nghĩ tới chuyện ăn lo, mặc ấm nữa mà đòi hỏi phải ăn ngon mặc đẹp. Chính vì vậy hàng hóa trên thị trường cũng thường xuyên thay đổi theo nhu cầu của con người từ chủng loại mẫu mã, kiểu dáng. Hàng hóa không những tốt mà bao bì mẫu mã cũng phải đẹp, phong phú, đa dạng về kiểu dáng hình thức lôi cuốn người tiêu dùng. Xuất phát từ nhu cầu đó, hợp tác xã Mỹ Hảo đã ra đời vào ngày 23 tháng 3 năm 1998 theo giấy đăng ký kinh doanh số 0039 LC do UBND quận Lê Chân cấp. Trụ sở giao dịch: Số 25 Vũ Chí Thắng – phường Vĩnh Niệm – quận Lê Chân – Hải Phòng. Với ngành nghề kinh doanh chủ yếu là chế biến, sản xuất bao bì Nilon.

Lúc mới thành lập Hợp tác xã Mỹ Hảo có khoảng 50 công nhân trong đó 70% là nam và 30% là nữ. Số vốn điều lệ ban đầu là 5.500.000.000 VNĐ. Trong đó:

Trong những năm đầu sản xuất, hợp tác xã có 4 máy thổi và 2 máy in ấn bao bì Nilon. Hợp tác xã đã gặt hái được nhiều thành công với việc ký được nhiều hợp đồng in ấn sản xuất bao bì với nhiều công ty lớn và nổi tiếng như: Công ty đồ hộp Hạ Long, Công ty giấy Hapaco, Công ty bánh kẹo Hải Hà. Hàng năm doanh thu của doanh nghiệp đạt từ 5-7 tỷ đồng. Đời sống của cán bộ, công nhân viên được nâng lên rất nhiều. Hợp tác xã thường xuyên đầu tư thêm máy móc thiết bị công nghệ mới, khoa học kỹ thuật được áp dụng vào sản xuất vì thế chất lượng sản phẩm của hợp tác xã ngày càng cao: màu sắc, kiểu dáng, mẫu mã đẹp, phong phú đa dạng về chủng loại, uy tín trên thị trường ngày càng được khẳng định.

Nhận thức được vai trò quan trọng của chất lượng sản phẩm với sự sống còn của mình. Để hòa nhập với xu thế hội nhập quốc tế và khu vực. Hợp tác xã Mỹ Hảo đã mở rộng thêm quy mô sản xuất và quản lý, nâng cao trình độ công nhân, đưa thiết bị máy móc sản xuất hiện đại vào sản xuất. Để làm được điều đó, ngày 06 tháng 12 năm 2001 Hợp tác xã Mỹ Hảo đã đổi thành công ty cổ phần Mỹ Hảo.

CÔNG TY CỔ PHẦN MỸ HẢO được thành lập theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh công ty CP số: 0203000126 cấp ngày 06 tháng 12 năm 2001 do sở kế hoạch và đầu tư Hải Phòng cấp.

Với vai trò và nhiệm vụ mới của công ty, công ty không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm nên tầm cõ quốc tế, công ty đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Công ty đã ký được nhiều hợp đồng với các nước trong khu vực như: Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan. Khóa luận: Kế toán chi phi sản xuất tính giá thành tại Cty Mỹ Hảo.

Quy mô của công ty ngày càng được mở rộng, với diện tích sử dụng là: 6000m2. Hệ thống máy móc thiết bị nhập ngoại với công suất cao. Số lượng lao động của công ty ngày càng tăng trung bình khoảng 2.500.000 đ/tháng.

Qua nhiều năm phấn đấu, công ty liên tục bảo toàn và phát vốn. Đến năm 2012, tổng vốn của công ty đã lên tới 40.518.000.000 VNĐ.

Không ngừng lại ở đó, công ty ngày càng mở rộng hợp tác với các công ty nước ngoài để nâng cao hơn nữa chất lượng sản phẩm và nghiên cứu chế tạo các sản phẩm mới. Qua gần 11 năm hoạt động, công ty đã đạt được nhiều thành công, công ty không những đứng vững trước những khó khăn do cơ chế thị trương gây ra mà còn tận dụng những hạn chế để phát triển. Công ty đã trở thành một trong những công ty hàng đầu trong ngành bao bì, in ấn, sản xuất nhựa ở Việt Nam. Công ty luôn hoàn thành vượt mức kế hoạch đề ra và hàng năm nhận được bằng khen của thành phố. Năm 2012 quy mô kinh doanh của công ty đã lớn hơn gấp nhiều lần so với trước đây.

2.1.2 Đặc điểm sản xuất kinh doanh của công ty CP Mỹ Hảo

Do đặc thù của công ty là sản xuất sản phẩm nhựa, bao bì nilon đòi hỏi độ bền cao, kiểu dáng mẫu mã đẹp nên NVL, CCDC của công ty chủ yếu là nhập khẩu từ các nước Hàn Quốc, Đài Loan như hạt nhựa, hạt màu, titan, bột PVC. Ngoài ra còn có NVL, CCDC thuê ngoài gia công chế biến.

Cơ cấu sản phẩm của công ty cổ phần Mỹ Hảo khá đa dạng và phức tạp, tuy nhiên các sản phẩm này đều đi qua các công đoạn gia công chế biến tương đối giống nhau. Quy trình công nghệ của công ty CP Mỹ Hảo có thế khái quát theo sơ đồ sau:

  • Sơ đồ 2.1: Quy trình sản xuất

Bộ máy sản xuất của công ty gồm 5 phân xưởng chính và một bộ phận xưởng phụ (phân xưởng cơ dụng), mỗi phân xưởng đều có quản đốc, đối với những phân xưởng lớn còn có thêm phó quản đốc. Các phân xưởng chưa hạch toán độc lập, mỗi phân xưởng bố trí nhân viên kinh tế có nghiệp vụ và công tác quản lý giúp quản đốc quản lý các thiết bị, vật tư lao động… nhân viên kinh tế có thể chê biến theo phân xưởng nhưng hoạt động theo hướng dẫn của phòng tài vụ, từng tháng nhân viên này phải làm báo cáo theo mẫu luân chuyển lên phòng tài vụ làm cơ sở hạch toán.

Công ty tiến hành tiêu thụ thành phẩm theo những hợp đồng lớn được ký kết với khách hàng như: Công ty Thủy sản Hạ Long, Công ty bánh kẹo Hải Hà, Công ty giấy Hapaco. Số lượng thành phẩm bán theo hợp đòng chiếm tới 70% tổng giá trị sản lượng của công ty. Hiện nay công ty đã có 4 cửa hàng bán lẻ và giới thiệu sản phẩm cùng với rất nhiều đại lý đặt ở các tỉnh như: Hải Phòng, Quảng Ninh, Thái Bình, Hải Dương, Hà Nội….

2.2 Đặc điểm bộ máy kế toán tại công ty CP Mỹ Hảo

2.2.1 Tổ chức bộ máy kế toán Khóa luận: Kế toán chi phi sản xuất tính giá thành tại Cty Mỹ Hảo.

Công ty tổ chức bộ máy kế toán theo mô hình tập trung bao gồm 7 người, mỗi người một chức năng nhiệm vụ khác nhau:

  • Sơ đồ 2.3: Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán
  • Chức năng và nhiệm vụ của từng bộ phận trong bộ máy kế toán

Kế toán trưởng: là người chỉ đạo trực tiếp về công tác kế toán đối với bộ phận kế toán công ty, có nhiệm vụ phân công, giao nhiệm vụ và kiểm tra chất lượng hoàn thành, chất lượng công việc của từng người trong phòng. Tham mưu cho giám đốc trong việc chỉ đạo sản xuất kinh doanh, ký kết hợp đồng kinh tế, chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch tài chính, kế hoạch giá thành và chịu trách nhiệm về số liệu kế toán trước lãnh đạo cấp trên.

Kế toán tiền mặt, TGNH và tiền lương: là người theo dõi phản ánh thu chi tiền mặt/ TGNH, theo dõi tình hình vay nợ ngân hàng, lập kế hoạch tiền mặt, tổ chức kiểm tra, đối chiếu với các bộ phận liên quan. Thường xuyên theo dõi số dư tài khoản, hối phiếu, thương phiếu,… Tính lương,tính BHXH, BHYT, KPCĐ cho cán bộ công nhân viên, thanh toán lương cho các đối tượng liên quan khác.

Kế toán TSCĐ: là người tổ chức mở sổ, thẻ chi tiết phản ánh số lượng và giá trị TSCĐ, kiểm kê hướng dẫn các đơn vị ghi chép, theo dõi các tài sản, đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ. Tổ chức hạch toán chi tiết TSCĐ và thường xuyên đối chiếu với các bộ phận liên quan lập nhật ký chung.

Kế toán vật tư: định kỳ xuống kho nhận chứng từ, hướng dẫn kiểm tra cách ghi sổ, tổ chức sắp xếp, bảo quản kho tàng. Mở sổ chi tiết từng loại vật tư, lập chứng từ ghi sổ, phân bổ vật tư vào đúng đối tượng sử dụng, đối chiếu kiểm tra bộ phận khác.

Kế toán thanh toán: lập kế hoạch tiền mặt/ TGNH, tổ chức kiểm tra đối chiếu với các bộ phận liên quan, lập bảng kê chi phí đúng thời gian, theo dõi các khoản phải thu, phải trả.

Kế toán tập hợp chi phí và tính giá: hạch toán chi phí chính xác, tính đúng, tính đủ giá thành sản phẩm, tập hợp chi phí sản xuất, tính giá thành mới để cung cấp cho các nhà lãnh đạo doanh nghiệp biết được chi phí và giá thành từng loại sản phẩm.

Thủ quỹ: Theo dõi và đảm bảo tiền mặt ở công ty, phụ trách các khoản thu chi tiền mặt theo các chứng từ hợp lệ, theo dõi và phản ánh việc cấp phát và nhận tiền vào sổ quỹ. Thủ quỹ phải thường xuyên so sánh, đối chiếu tình hình tồn quỹ tiền mặt ở công ty với sổ sách có liên quan để kịp thời phát hiện những sai lệch.

Nhân viên kinh tế của các phân xưởng: theo dõi, ghi chép tình hình, hoạt động hàng ngày cuả phân xưởng mình, báo cáo lại với bộ phận kế toán bên trên. Khóa luận: Kế toán chi phi sản xuất tính giá thành tại Cty Mỹ Hảo.

2.2.2 Tổ chức hệ thống kế toán tại công ty

Các chính sách kế toán chung

  • Chế độ kế toán công ty áp dụng theo QĐ số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính
  • Kỳ kế toán: Bắt đầu từ 01/01, kết thúc 31/12.
  • Đơn vị tiền tệ để ghi chép sổ kế toán : Đồng Việt Nam
  • Công ty áp dụng mô hình tổ chức công tác kế toán tập trung. Hình thức kế toán áp dụng: Nhật ký chung
  • Nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ
  • Kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên
  • Tính giá hàng xuất kho theo phương pháp bình quân gia quyền cả kỳ Phương pháp khấu hao TSCĐ theo phương pháp đường thẳng

Đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán Nhật ký chung: Tất cả các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh để ghi vào sổ nhật ký mà trọng tâm là sổ nhật ký chung, theo trình tự thời gian phát sinh và theo nội dung kinh tế (định khoản kế toán) của nghiệp vụ đó. Sau đó lấy số liệu trên các sổ nhật ký để ghi sổ cái theo từng nghiệp vụ phát sinh.

2.3 Thực trạng tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty CP MỸ HẢO Khóa luận: Kế toán chi phi sản xuất tính giá thành tại Cty Mỹ Hảo.

2.3.1 Đặc điểm và cách phân loại chi phí sản xuất

Để tính giá thành chính xác cho từng sản phẩm các doanh nghiệp cần phải xác định đúng đối tượng kế toán chi phí sản xuất, đối tượng tính giá thành sản phẩm

Để đạt được yêu cầu về tập hợp chi phí một cách đầy đủ tính giá thành sản phẩm chính xác cần phải căn cứ vào mối quan hệ giữa các bộ phận sản xuất để xác định trình tự tính giá thành: bộ phận nào cung cấp nhiều sản phẩm cho nội bộ hơn thì tính giá thành trước, bộ phận nào cung cấp cho nội bộ ít nhất sẽ tính giá thành sau cùng. Căn cứ vào tính chất của chi phí và quy định của nhà nước về hạch toán chi phí giá thành sản phẩm chỉ tính vào giá thành sản xuất của sản phẩm

2.3.2 Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm

2.3.2.1 Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất tại Công ty CP MỸ HẢO

Việc xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là nhiệm vụ đầu tiên của kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, ảnh hưởng đến tính chính xác và kịp thời của thông tin kế toán từ quá trình tập hợp chi phí sản xuất. Vì vậy, việc tập hợp chi phí sản xuất phải phù hợp với tình hình tổ chức sản xuất, phù hợp với yêu cầu quản lý chi phí sản xuất, có ý nghĩa quan trọng trong công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.

Việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất ở công ty CP Mỹ Hảo được dựa trên đặc điểm tổ chức sản xuất, quy trình công nghệ và yêu cầu quản lý. Tại công ty có một hệ thống dây chuyền sản xuất với quy trình liên tục, phức tạp và sản xuất ra nhiều loại sản phẩm, giữa các giai đoạn không cho ra bán thành phẩm có thể nhập kho hoặc bán ra ngoài. Do vậy, đối tượng tập hợp chi phí sản xuất tại công ty CP Mỹ Hảo là từng loại sản phẩm.

2.3.2.2 Đối tượng tính giá thành sản phẩm

Trong quá trình sản xuất sản phẩm, ở công ty không có bán thành phẩm nhập kho hoặc bán ra ngoài mà chỉ có các loại thức ăn thành phẩm nhập kho. Với đặc điểm này công ty xác định đối tượng tính giá thành là từng loại sản phẩm hoàn thành.

2.3.3  Kỳ tính giá thành và phương pháp tính giá thành sản phẩm

  • Kỳ tính giá thành sản phẩm

Để đáp ứng yêu cầu quản lý và hiệu quả của chỉ tiêu giá thành nên công ty xác định kỳ tính giá thành là theo từng tháng

  • Phương pháp tính giá thành sản phẩm

Xuất phát từ đặc điểm sản xuất của công ty là sản xuất sản phẩm với quy trình công nghệ khép kín từ khi đưa nguyên liệu vào cho đến khi sản xuất ra thành phẩm, khối lượng sản phẩm lớn, chu kỳ sản xuất ngắn do vậy công ty áp dụng phương pháp tính giá thành giản đơn. Khóa luận: Kế toán chi phi sản xuất tính giá thành tại Cty Mỹ Hảo.

CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM NHẰM TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY CP MỸ HẢO

3.1. Đánh giá thực trạng công tác kế toán nói chung và kế toán chi phí sản xuất – giá thành sản phẩm nói riêng tại Công ty CP Mỹ Hảo

3.1.1. Ưu điểm

Với địa bàn hoạt động tập trung, quy mô sản xuất không lớn, công ty áp dụng hình thức tổ chức bộ máy kế toán tập trung hợp lý, tạo điều kiện để kiểm tra chỉ đạo nghiệp vụ và đảm bảo sự lãnh đạo tập trung thống nhất của kế toán trưởng cũng như sự chỉ đạo kịp thời của lãnh đạo công ty đối với toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh.

Về công tác hạch toán: Công ty đã thực hiện đúng chế độ kế toán, sổ sách kế toán phù hợp với đặc điểm tổ chức sản xuất. Công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm luôn được coi trọng và được tổ chức kế toán có trình độ nghiệp vụ đảm nhận trách nhiệm.

Tại công ty, việc vận dụng hệ thống tài khoản chi tiết tương đối hợp lý linh hoạt. Hệ thống tài khoản kho được mở chi tiết theo từng loại vật liệu, công cụ, dụng cụ. Nguyên vật liệu tuỳ theo tác dụng mà được cất, bảo quản tại các kho khác nhau và đều được mã hoá, thuận lợi cho việc theo dõi, hạch toán chi tiết. Hệ thống tài khoản tập hợp chi phí sản xuất cũng được mở chi tiết.

Trải qua những năm xây dựng và trưởng thành, Công ty CP Mỹ Hảo đang ngày càng không ngừng vươn lên, lớn mạnh cả về cơ cấu, chất lượng sản phẩm và đứng vững trên thị trường xây dựng, nâng cao uy tín của công ty. Cùng với nỗ lực phấn đấu của Ban lãnh đạo, đội ngũ cán bộ, công nhân viên, Công ty CP Mỹ Hảo đã đạt được nhiều thành tích đáng khích lệ. Trong đó có sự đóng góp một phần không nhỏ của phòng kế toán.

Cụ thể:

  • Về tổ chức công tác kế toán Khóa luận: Kế toán chi phi sản xuất tính giá thành tại Cty Mỹ Hảo.

Bộ máy kế toán của công ty theo mô hình kế toán tập trung gọn nhẹ, hợp lý, hoạt động có nề nếp, có kinh nghiệm, hiệu quả thuận tiện trong phân công và chuyên môn hoá công việc đối với nhân viên kế toán được đồng đều. Trình độ đội ngũ kế toán của công ty tương đối tốt, nắm vững được chế độ và vận dụng linh hoạt, tác phong làm việc khoa học… Nhờ vậy, rất thuận tiện cho việc thu thập số liệu và xử lý thông tin kịp thời, tạo điều kiện thuận lợi cho công việc ra quyết định sản xuất kinh doanh của lãnh đạo công ty, đảm bảo rủi ro thấp.

  • Về hệ thống chứng từ, tài khoản sử dụng

Công ty đã chấp hành đầy đủ các chế độ chính sách do Nhà nước quy định, ghi chép đầy đủ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào hệ thống sổ sách. Nhờ đó, công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của công ty đã góp phần không nhỏ trong việc đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế cao.

Hệ thống tài khoản hạch toán của công ty bao gồm các tài khoản tổng hợp và các tài khoản chi tiết đã đáp ứng được nhu cầu phản ánh thông tin cho các đối tượng liên quan và được xây dựng chi tiết đáp ứng nhu cầu quản lý và hạch toán. Như trong việc tính giá thành được chi tiết theo các sổ chi tiết tài khoản 621, 622, 627, 154 và các sổ tổng hợp như Sổ Cái tài khoản 621, 622, 627,154.

Hệ thống sổ kế toán của công ty có đầy đủ cả sổ chi tiết và sổ tổng hợp. Hình thức ghi sổ kế toán mà công ty áp dụng phù hợp với quy mô, khối lượng công việc kế toán, trình độ của nhân viên kế toán, cách thức hạch toán, sổ chi tiết của các tài khoản được áp dụng theo một mẫu chung tạo nên sự thống nhất trong hệ thống sổ sách. Số liệu kế toán phản ánh trên các sổ sách và báo cáo kế toán được chứng minh bằng hệ thống chứng từ hợp pháp, hợp lệ theo nguyên tắc khách quan.

  • Về công tác hạch toán chi phí và tính giá thành sản phẩm

Công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty CP Mỹ Hảo cơ bản đã vận dụng đúng chế độ kế toán quy định cho ngành sản xuất công nghiệp, xác định đúng đắn đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành sản phẩm là các sản phẩm bao bì, vận dụng phương pháp tính giá thành phù hợp với đặc điểm của ngành và yêu cầu, trình độ quản lý chi phí sản xuất và giá thành của công ty.

Tập hợp chi phí sản xuất theo các khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung đã thể hiện được công dụng của chi phí, đáp ứng được yêu cầu cung cấp số liệu cho việc tính giá thành sản phẩm một cách thuận lợi, chính xác. Khóa luận: Kế toán chi phi sản xuất tính giá thành tại Cty Mỹ Hảo.

Nhìn chung, công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành của công ty đảm bảo được sự thống nhất về phạm vi, phương pháp tính toán và các bộ phận có liên quan. Công ty đã áp dụng hình thức giao khoán xuống các phân xưởng sản xuất, đây là hình thức tổ chức phù hợp với đặc điểm và tình hình sản xuất của công ty.

Ngoài hệ thống chứng từ gốc minh chứng các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, công ty sử dụng một hệ thống sổ chi tiết, bảng tổng hợp chứng từ chi phí thống nhất cho các phân xưởng. Quá trình hạch toán ban đầu ở các phân xưởng sản xuất không chỉ dừng lại ở việc tập hợp chứng từ lên phòng kế toán công ty mà bao gồm cả việc phân loại, tổng hợp chứng từ gốc vào các sổ chi tiết, bảng tổng hợp chi phí. Trên cơ sở các sổ chi tiết, bảng tổng hợp chi phí này, kế toán so sánh chi phí thực tế phát sinh trong quá trình sản xuất với dự toán để từ đó có kế hoạch điều chỉnh quá trình tích trữ nguyên liệu sản xuất cho các phân xưởng sản xuất một cách phù hợp và đánh giá được tình hình thực hiện kế hoạch sản lượng đã đặt ra. Bên cạnh đó, với hệ thống sổ chi tiết, kế toán chỉ hạch toán theo số liệu tổng cộng của các sổ chi tiết sau khi đã được kiểm tra đối chiếu với các chứng từ gốc kèm theo nên công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm được thực hiện khá gọn nhẹ, nhanh chóng tại phòng kế toán Công ty.

Sự thống nhất cả về biểu mẫu, thời gian tập hợp chứng từ từ phân xưởng sản xuất về phòng kế toán công ty giúp kế toán công ty phối hợp công việc nhịp nhàng hơn, thuận tiện hơn trong hạch toán, tổng hợp và kiểm tra thông tin kế toán.

Công ty đã sử dụng các tài khoản chi phí, giá thành sử dụng cho doanh nghiệp sản xuất, chi tiết theo đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành là sản phẩm bao bì…

  • Về hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

Công ty đã thực hiện tốt việc hạch toán chi phí nguyên vật liệu phải hạch toán trực tiếp vào các đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm, hạn chế việc phân bổ, trường hợp không thể hạch toán trực tiếp chi phí vật liệu vào đối tượng tính giá thành sản phẩm ngay được thì công ty đã lựa chọn tiêu thức phân bổ phù hợp. Điều này làm tăng tính chính xác cho việc xác định giá thành cho từng sản phẩm, qua đó giúp công ty có các dự toán chi phí chính xác hơn và có kế hoạch tài chính phù hợp hơn về việc có nên mua dự phòng nguyên vật liệu hay không…

  • Về hạch toán chi phí nhân công trực tiếp

Công ty đã sử dụng hệ thống chứng từ, bảng biểu đầy đủ, rõ ràng, thuận tiện cho việc hạch toán chi phí nhân công. Các chứng từ về chi phí tiền lương được kế toán tập hợp theo khối lượng sản phẩm hoàn thành từ đó đã giúp cho việc hạch toán chi phí nhân công trực tiếp hợp lý hơn. Khóa luận: Kế toán chi phi sản xuất tính giá thành tại Cty Mỹ Hảo.

Công ty đã áp dụng hình thức giao khoán sản phẩm cho người lao động. Đây là một hình thức quản lý tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ sản xuất sản phẩm, tăng năng suất lao động, tiết kiệm vật tư, tiền vốn, có tác động tích cực đến giảm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm. Phương pháp khoán sản phẩm trong sản xuất đã tạo điều kiện gắn liền với lợi ích vật chất của người lao động, với chất lượng và tiến độ sản xuất sản phẩm, xác định rõ trách nhiệm vật chất của từng phân xưởng sản xuất trên cơ sở phát huy tính chủ động sáng tạo và khả năng hiện có của công ty.

Bên cạnh Hợp đồng giao khoán còn có Bảng nghiệm thu công việc đã hoàn thành, Bảng thanh toán khối lượng thuê ngoài để xác định chính xác khối lượng công việc từng phân xưởng đã hoàn thành trong thực tế.

  • Về hạch toán chi phí sản xuất chung

Công ty đã theo dõi tốt chi phí sản xuất chung của công ty bao gồm tiền lương, phân bổ khấu hao, công cụ dụng cụ…Công ty theo dõi chi phí phát sinh chi tiết theo từng mục chi phí. Các khoản mục được hạch toán cụ thể. Riêng phần tiền lương nằm trong chi phí sản xuất chung được theo dõi cụ thể và phân bổ trên bảng phân bổ mục chi phí nhân công. Bảng trích khấu hao tài sản cố định thể hiện được đầy đủ chi tiết phần chi phí khấu hao nằm trong chi phí sản xuất dựa trên bảng phân bổ chi phí sản xuất chung phục vụ việc tính giá thành đầy đủ, chính xác. Công cụ dụng cụ và các chi phí mua ngoài cũng được công ty hạch toán kịp thời, đúng quy định và chuẩn mực kế toán hiện hành.Do đó kiểm soát được các khoản chi phí phát sinh, tiết kiệm được chi phí, hạ giá thành sản phẩm.

3.1.2. Một số tồn tại trong công tác kế toán tại công ty CP Mỹ Hảo

Bên cạnh những ưu điểm, công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của công ty còn một số tồn tại:

  • Thứ nhất: Về phương pháp hạch toán chi phí sản xuất

Trong quá trình sản xuất, để phục vụ cho sản xuất chính, công ty còn phải bỏ ra những khoản chi phí như chi phí về công cụ, dụng cụ, chi phí cho máy đóng túi, bảo hiểm hàng hoá, chi phí bao bì, chi phí sửa chữa TSCĐ. Kế toán ở công ty đã hạch toán các khoản chi phí này vào chi phí sản xuất chung để phân bổ cho các thành phẩm hoàn thành vào cuối tháng.

Nhưng trên thực tế, khi giá trị công cụ xuất dùng một lần với giá trị lớn, hoặc chi phí sửa chữa lớn TSCĐ phát sinh một lần quá lớn… thì các chi phí này trở thành chi phí trả trước (chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh nhưng chưa tính vào chi phí sản xuất kinh doanh do còn phát huy tác dụng ở nhiều kỳ hạch toán sau). Tại Công ty CP Mỹ Hảo, tuy đã sử dụng TK 142 – Chi phí trả trước, song đặc điểm sản xuất ít phát sinh những khoản chi phí có tính chất như vậy, hoặc nếu có thì cũng không quá lớn. Do vậy, kế toán thường tập hợp ngay vào các tài khoản chi phí. Việc tập hợp này có thể dẫn đến hiện tượng giá thành bị biến động giữa kỳ. Đây là vấn đề cần xem xét để đáp ứng yêu cầu về tính đúng, đầy đủ, chính xác về việc tập hợp chi phí sản xuất. Khóa luận: Kế toán chi phi sản xuất tính giá thành tại Cty Mỹ Hảo.

  • Thứ hai: Việc phân bổ 2 loại chi phí NCTT và SXC để tính giá thành cho từng sản phẩm

Công ty đang thực hiện phân bổ 2 loại chi phí NCTT và SXC theo tiêu thức số lượng sản phẩm hoàn thành. Tiêu thức phân bổ này khá giản đơn, dễ tính toán, song việc sử dụng tiêu thức phân bổ này có phần bất hợp lý. Vì công ty sản xuất nhiều loại sản phẩm mà mỗi loại sản phẩm lại có một mức giá thành không bằng nhau, nên nếu phân bổ đều theo số lượng sản phẩm hoàn thành sẽ có thể làm ảnh hưởng đến tính chính xác của giá thành sản phẩm hoàn thành, theo đó sẽ ảnh hưởng đến chính lợi nhuận của công ty.

  • Thứ ba: Việc sử dụng phương pháp tính giá vốn hàng xuất kho

Hiện nay, công ty đang tính giá vốn hàng xuất kho theo phương pháp bình quân gia quyền cả kì dự trữ. Mặc dù, phương pháp này có lợi thế đơn giản, dễ sử dụng, phù hợp với mọi loại hình công ty, đỡ tốn kém về mặt thời gian, dễ sử dụng. Song, trong quá trình sử dụng phương pháp này kế toán thường phải sử dụng nhiều sổ sách để theo dõi nguyên vật liệu khiến áp lực công việc tăng cao có thể dẫn đến nhầm lẫn vào cuối tháng. Đồng thời, nếu theo dõi vậy vẫn khó tránh khỏi những bất ổn trong công tác quản lý, thất thu một lượng lớn nguyên vật liệu.

  • Thứ tư: Về kiểm soát thiệt hại trong sản xuất

Trong quá trình sản xuất, do chất lượng vật tư không đảm bảo tiêu chuẩn, do sai sót của máy móc – dây chuyền sản xuất, do sự bất cẩn của công nhân… có thể gây ra những thiệt hại như rách nhãn, rách thùng,…Số liệu kế toán tập hợp được từ những thống kê về số lượng vật liệu thiệt hại trong kỳ do bộ phận thống kê của Phân xưởng sản xuất cung cấp. Thực tế những chi phí thiệt hại này được Công ty tập hợp vào CPSXKD và tính vào giá thành thành phẩm, như vậy chưa khuyến khích được công nhân sử dụng vật tư tiết kiệm và hiệu quả trong quá trình sản xuất.

  • Thứ năm: Về việc áp dụng công nghệ thông tin trong công tác kế toán

Đối với các doanh nghiệp sản xuất, khối lượng công việc lớn, nguyên liệu sản xuất nhiều,… việc áp dụng kế toán thủ công gây ra không ít khó khăn cho công việc hạch toán, tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Từ lâu Công ty đã trang bị hệ thống máy tính hiện đại tuy nhiên máy tính chỉ dùng để soạn thảo văn bản, kẻ mẫu sổ sách và ứng dụng Excel tính lương trong bảng thanh toán lương, khấu hao hàng tháng cho TSCĐ… Công việc kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm dồn vào cuối tháng nên ảnh hưởng đến tính kịp thời của thông tin kế toán.

3.2. Tính tất yếu phải hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm Khóa luận: Kế toán chi phi sản xuất tính giá thành tại Cty Mỹ Hảo.

Ngày nay, trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nền kinh tế nước ta với chính sách mở cửa đã thu hút được các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước tạo ra động lực thúc đẩy sự tăng trưởng không ngừng của nền kinh tế. Như vậy một doanh nghiệp muốn tồn tại và đứng vững phải tự chủ trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của mình từ việc đầu tư vốn, tổ chức sản xuất đến việc tiêu thụ sản phẩm. Để cạnh tranh trên thị trường, các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, thay đổi mẫu mã sao cho phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng. Một trong những biện pháp hữu hiệu nhất mà các doanh nghiệp có thể cạnh tranh trên thị trường đó là biện pháp hạ giá thành sản phẩm. Do đó việc nghiên cứu tìm tòi và tổ chức hạ giá thành sản phẩm là rất quan trọng đối với các doanh nghiệp sản xuất.

Để đạt được mục tiêu đó, các doanh nghiệp phải quản lý chặt chẽ chi phí sản xuất, đồng thời tìm ra các biện pháp tốt nhất để giảm chi phí không cần thiết, tránh lãng phí. Một trong những công cụ hữu hiệu để quản lý chi phí, hạ giá thành sản phẩm và nâng cao chất lượng sản phẩm đó là kế toán mà trong đó kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm luôn được xác định là khâu quan trọng và là trọng tâm của toàn bộ công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất. Vì vậy hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là việc làm rất cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong quá trình hoàn thiện kế toán của doanh nghiệp.

Cũng như nhiều doanh nghiệp khác, Công ty CP Mỹ Hảo đã không ngừng đổi mới, hoàn thiện để đứng vững, để tồn tại trên thị trường. Đặc biệt công tác kế toán nói chung, kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành nói riêng ngày càng được coi trọng.

Trong thời gian thực tập tại Công ty CP Mỹ Hảo, xuất phát từ những lý do trên, em nhận thấy đề tài: “Hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty CP Mỹ Hảo” là đề tài có tính thời sự, cần thiết.

3.3. Yêu cầu và phương hướng hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty CP Mỹ Hảo.

Việc hoàn thiện tổ chức kế toán nói chung và kế toán chi phí sản xuất –giá thành sản phẩm nói riêng cần dựa trên những cơ sở sau: Khóa luận: Kế toán chi phi sản xuất tính giá thành tại Cty Mỹ Hảo.

Thứ nhất, đảm bảo sự phù hợp giữa đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh và tổ chức quản lý của doanh nghiệp với chế độ kế toán chung. Bởi vì mỗi doanh nghiệp có những đặc điểm riêng, do đó vận dụng chế độ kế toán một cách linh hoạt, hợp lý trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, tích chất hoạt động và quy mô của mình sẽ giúp doanh nghiệp đạt hiệu quả cao trong công tác quản lý nói chung và công tác kế toán nói riêng.

Thứ hai, đảm bảo sự tuân thủ thống nhất, chặt chẽ giữa những quy định trong điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước, trong chế độ kế toán do Bộ tài chính ban hành với chế độ kế toán đặc thù ngành sản xuất kinh doanh.

Thứ ba, đảm bảo sự tiết kiệm và hiệu quả trong việc tổ chức công tác kế toán ở doanh nghiệp. Muốn vậy, phải tổ chức công tác kế toán khoa học, hợp lý, tiết kiệm nhưng vẫn đảm bảo thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ của kế toán để chất lượng công tác kế toán đạt được hiệu quả cao nhất với chi phí thấp nhất.

Thứ tư, đảm bảo thực hiện tốt chức năng thông tin cho nhà quản lý vì mục tiêu của việc hoàn thiện công tác kế toán là cung cấp thông tin kịp thời, chính xác để nhà quản trị ra các quyết định đúng đắn.

KẾT LUẬN Khóa luận: Kế toán chi phi sản xuất tính giá thành tại Cty Mỹ Hảo.

Qua quá trình học tập tại trường và thời gian thực tập tại công ty CP Mỹ Hảo đã giúp em nhận thức được rằng: Người làm kế toán không những cần phải nắm vững lý luận mà còn phải hiểu biết sâu sắc thực tế, biết vận dụng lý luận vào thực tiễn sinh động một cách sáng tạo, khoa học, đồng thời phải tuân thủ đúng mọi chế độ, quy định của nhà nước.

Việc tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp là một bộ phận không thể thiếu được trong toàn bộ công tác kế toán. Nó đánh giá sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Và một lần nữa chúng ta khẳng định: tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm chính xác là cơ sở xác định hiệu quả hoạt động SXKD của công ty. Chi phí tăng hay giảm, giá thành cao hay thấp là thước đo chất lượng công tác quản lý và hiệu quả sản xuất kinh doanh của đơn vị.

Qua thời gian em thực tạp tại công ty, em nhận thấy công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở công ty đã đáp ứng được nhu cầu đặt ra của cơ chế quản lý mới hiện nay. Tuy nhiên, nếu công ty thực hiện những biện pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa một số khâu, một số phần việc thì chắc chắn sẽ còn phát huy tác dụng nhiều hơn nữa đối với quá trình phát triển của công ty. Do thời gian tiếp xúc với thực tế có hạn, sự hiểu biết về khoa học kế toán còn nhiều hạn chế nên em không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Em mong các thầy cô giáo và các anh chị cán bộ kế toán của công ty CP Mỹ Hảo tham gia và đóng góp ý kiến với mục đích hoàn thiện hơn công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ngày càng tốt hơn.

Cuối cùng, em xin cảm ơn chân thành đến sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo_ Th.s Phạm Văn Tưởng và các anh chị cán bộ kế toán tài vụ tại công ty CP Mỹ Hảo đã giúp em hoàn thành đề tài này! Khóa luận: Kế toán chi phi sản xuất tính giá thành tại Cty Mỹ Hảo.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Kế toán doanh thu chi phí và XĐKQKD tại công ty Vina

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x