Khóa luận: Phương thức thể hiện mộng trong thơ văn Tản Đà

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Phương thức thể hiện mộng trong thơ văn Tản Đà hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Những phương thức thể hiện mộng trong thơ văn Tản Đà dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

Những phương thức thể hiện mộng trong thơ văn Tản Đà cũng rất phong phú và cũng có những đặc sắc nhất định.

3.1. Thể loại

Mục từ thể loại văn học trong Từ điển thuật ngữ văn học được viết như sau: “Lí luận văn học dựa vào các yếu tố ổn định mà chia tác phẩm văn học thành các loại và các thể (hoặc thể loại, thể tài). Loại rộng hơn thể, thể nằm trong loại. Bất kỳ tác phẩm nào cũng thuộc một loại nhất định và quan trọng hơn là có một hình thức thể nào đó.” và “Thể là dạng thức tồn tại chỉnh thể của tác phẩm. Cùng một loại nhưng các thể khác nhau rất sâu sắc” [8; tr. 301] ví dụ loại tự sự có: tiểu thuyết, truyện, ngụ ngôn, sử thi…loại kịch có: bi kịch, chính kịch, hài kịch. Có một điều cần lưu ý là các thể loại văn học mang tính lịch sử, nghĩa là theo từng giai giai đoạn phát triển của văn học mà thể loại xuất hiện, biến đổi và đôi lúc được thay thế bởi thể loại khác. Nếu như thời trung đại thơ chiếm vị trí cao nhất thì sang đến thời hiện đại vị trí ấy chuyển dần sang cho văn xuôi.

3.1.1 Thơ viết về mộng của Tản Đà đa dạng về thể

Trần Đình Hượu trong bài Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu nhận định rằng: “Tản Đà sáng tác đủ lối – nhiều thể loại – làm cho thơ ca ông đủ các giọng, các điệu, câu thơ hầu như đủ loại dài ngắn rất khác nhau” [7; tr. 574]. Thật vậy, Tản Đà đã huy động rất nhiều thể loại có trong truyền thống văn học dân tộc và có thể thấy là ở từng thể loại, ông đều đạt đến trình độ nghệ thuật cao.

Việc sáng tác bằng nhiều thể loại vào thời điểm này còn có Á Nam Trần Tuấn Khải (1895 – 1983), ông sáng tác thơ, tiểu thuyết, viết kịch và cả dịch thuật. Về thơ, Trần Tuấn Khải cho ra đời 9 tập, mà chỉ riêng trong hai tập Duyên nợ phù sinh ông đã sử dụng 5 thể để sáng tác gồm: thất ngôn bát cú, song thất lục, thơ bảy chữ, thơ tự do, thất ngôn tứ tuyệt. Trong cuốn Tản Đà toàn tập, tập 1, Nguyễn Khắc Xương đã tập hợp tất cả thơ Tản Đà và sắp xếp dựa vào thể loại, bao gồm các thể sau: tứ tuyệt – yết hậu (23 bài), bát cú (94 bài), trường thiên (18 bài), lục bát (49 bài), song thất (20 bài), hát nói (19 bài), tứ lục (6 bài), thơ tự do (16 bài), dân ca (20 bài), phong dao (51 bài, mỗi bài gồm 2 câu lục bát), chèo tuồng (2 bài), thù tiếp (8 bài), giáo khoa (2 bài).

Tản Ðà đã quan niệm khá mới mẻ về thể loại, trong buổi nói chuyện với Lưu Trọng Lư, ông cho rằng: “Thơ là như gạo và nhân. Cái thể thơ là như lá bọc ngoài. Bánh muốn ra hình gì cũng tùy cái khuôn lá bên ngoài. Nếu nó dài thì ra bánh tét của các ông và nếu nó vuông thì nó là cái bánh chưng bốn góc của ngoài chúng tôi.” [7; tr. 46]. Ông cũng là người thể hiện đầy đủ và thành công phương hướng giải quyết của thời đại, chính Tản Đà đã tuyên bố: Khóa luận: Phương thức thể hiện mộng trong thơ văn Tản Đà.

  • Đờn là đờn, Thơ là thơ.
  • Thơ thời có chữ, đờn có tơ.
  • Nếu không phá cách vứt điệu luật, Khó cho thiên hạ đến bao giờ?
  • (Thơ mới)

Về vấn đề thể loại trong văn thơ Tản Đà nói chung và văn thơ viết về mộng của Tản Đà nói riêng thì có thể nói cho đến nay, chưa nhà thơ nào vận dụng được đầy đủ các hình thức thơ ca dân tộc như Tản Đà. Chỉ tính riêng các bài thơ có liên quan đến mộng thì đã đa dạng về thể như: thất ngôn trường thiên, trường đoản cú, lục bát, hát nói. Các thể này có ý nghĩa làm khung nền cho những giấc mộng trong thơ ông, và ngược lại, chính vì muốn viết về mộng nên Tản Đà đã lựa chọn những thể ấy, hoặc giữ nguyên, hoặc biến thể cho thích hợp với dụng ý của mình, có khi ông còn sáng tạo thể mới để tự do nói mộng, tự do mơ mộng.

Trong bài thơ tiêu biểu về giấc mộng thoát ly của mình là Hầu Trời, Tản Đà đã sử dụng thể thất ngôn trường thiên, một thể thơ gồm bảy chữ kéo dài hàng trăm câu. Cần phân biệt rõ thể này với thơ bài luật của thơ Đường luật, thơ bài luật là “một dạng kéo dài của thơ Đường luật, trong đó sự đối ngẫu có trong sáu câu trở lên, cả bài gồm mười câu trở lên, theo tập quán, thường lấy số vẫn câu chẵn chục.” [8; tr. 311]. Với thể thơ không hạn định số câu như thể thất ngôn trường thiên, giấc mộng thoát ly của Tản Đà dường như được kéo giãn đến mức tuyệt đối qua 120 câu thơ:

Đêm qua chẳng biết có hay không, Chẳng phải hoảng hốt, không mơ mòng. Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể!

Thật được lên tiên – sướng lạ lùng. […]

Tiếng gà xao xác, tiếng người dậy Giữa sân còn đứng riêng ngậm ngùi. Một năm ba trăm sáu mươi đêm, Sao được mỗi đêm lên hầu Trời!

(Hầu Trời)

Mấy mươi năm đầu thế kỷ XX, thơ Đường không còn đủ sức độc tôn trên thi đàn, các nhà thơ muốn tìm một hình thức mới cho thi ca nhưng quá trình ấy không mấy dễ dàng. Tản Đà đã giải quyết vấn đề này bằng việc cách Việt hóa thơ Đường luật, kế tục Trần Tế Xương và Hồ Xuân Hương mang đến những thi phẩm “bình cũ rượu mới” với cách ngắt nhịp phóng khoáng trong thể thơ thất ngôn bát cú. Trong ba dạng của thơ Đường (thơ bát cú, thơ tuyệt cú, thơ bài luật) thì thất ngôn bát cú là dạng cơ bản nhất, từ thể này có thể suy ra hai thể còn lại về niêm luật. Thơ Đường luật thường ngắt nhịp 4/3 hay 2/2/3, khi viết về tính đa tình của mình trong giấc mộng yêu đương, Tản Đà lại có lúc ngắt nhịp 2/5 ở hai câu sau tạo thành cặp tiểu đối:

Xa cách / ngoại trăm nghìn dặm đất Uớc ao / trong sáu bảy năm trời.

(Cái giống yêu hoa) Khóa luận: Phương thức thể hiện mộng trong thơ văn Tản Đà.

Hát nói là một thể thông dụng trong ca trù, thường được các văn nhân dùng làm thơ. Thể hát nói là lối hát của ả đào, câu thơ ngắn dài không hạn định, nhạc điệu uyển chuyển. “Đây là thể thơ cột trụ của hát ca trù, đặc biệt thịnh hành vào thế kỷ XIX. Xét về mặt văn học, hát nói là một thể thơ cách luật. Bố cục một bài thơ hát nói đầy đủ gồm mười một câu chia làm ba khổ” [8; tr. 143].

  • Kiếp sau xin chớ làm người
  • Làm đôi chim nhạn tung trời mà bay Tuyệt mù bể nước non mây
  • Bụi hồng trông thẳm như ngày chưa xa
  • (Hơn nhau một chén rượu mời)

Thể trường đoản cú là thể thơ do Tản Đà sáng tạo ra. Trong khi các nhà thơ đương thời làm từ khúc đều dựa theo điệu của Trung Quốc thì Tản Đà tự đặt ra một thể với những câu dài ngắn khác nhau không theo khuôn phép nào cả. Thể này phát huy tác dụng triệt để trong việc diễn tả nỗi niềm của Tây Thi trong Giấc mộng con II:

  • Non xanh xanh.
  • Nước xanh xanh,
  • Nước non như vẽ bức tranh tình
  • Non nước tan tành, Giọt lụy tràn năm canh! Đêm năm canh,
  • Lụy năm canh,
  • Nỗi niềm non nước, Đố ai quên cho đành?

Bên cạnh đó, Tản Đà vận dụng thể lục bát khá nhiều, Văn Tâm từng nhận định rằng: “Khoảng hơn một nửa thi ca của ông làm theo những thể loại dân tộc: lục bát, song thất lục bát và những làn điệu dân ca.” [22; tr. 411], thậm chí trong các bài thơ dịch, Tản Đà cũng thường dịch theo thể lục bát – một thể thơ dân tộc. Chẳng hạn như bài Khuê oán của Vương Xương Linh được ông dịch lại như sau: Khóa luận: Phương thức thể hiện mộng trong thơ văn Tản Đà.

  • Trẻ trung nàng biết đâu sầu
  • Buồng xuân trang điểm lên lầu ngắm gương
  • Nhác trông vẻ liễu bên đường
  • “Phong hầu” nghĩ dại, xui chàng kiếm chi!
  • (Nhớ chồng)

Một đặc điểm nổi bật của thơ lục bát là có dung lượng rất linh hoạt, từ một câu cho đến vài ngàn câu như trong truyện thơ hạ kỳ trung đại (Tống Trân – Cúc Hoa, Thoại Khanh – Châu Tuấn…). Trước Tản Đà, Nguyễn Du đã nâng tầm thể thơ này lên mức điêu luyện với tinh hoa Truyện Kiều. So với Nguyễn Khuyến, Tú Xương, thơ lục bát của Tản Đà về số lượng có phần nhỉnh hơn. Trong Nói chuyện với bóng thì nhà thơ núi Tản sông Đà đã tự phân thân mình thành hai nhân vật là “ta” và “bóng” để dễ dàng phơi trải nỗi lòng. Cuộc đời gian truân, rốt cuộc rồi chỉ có “bóng” là người bạn chung thủy của “ta”:

  • Còn ta, bóng nỡ nào đi?
  • Ta đi, bóng có ở chi cõi trần?
  • Tin nhau đã vẹn muôn phần
  • Cũng xin giãi hết xa gần cùng nhau.
  • Bóng nghe, bóng cũng gật đầu.
  • (Nói chuyện với bóng)

Thơ lục bát là thể văn vần mỗi cặp gồm một câu sáu tiếng và một câu tám tiếng liên tiếp nhau. Thông thường bài thơ mở đầu bằng câu sáu chữ và kết thúc bằng câu tám chữ. Điều đặc biệt trong những bài thơ viết về mộng của mình, Tản Đà là có đôi lần ông kết thúc một bài thơ lục bát bằng câu lục (không phải câu bát như những bài lục bát thường thấy trong ca dao và truyện trung đại):

  • Ai về nhắn bác Nguyễn Tuân
  • Thu Trang, Thanh Hóa nghe gần Nhà diêm.
  • Là người cho đóm cho nem.
  • (Nhắn người trong Thanh)
  • Sông kia núi nọ hợp đồng
  • Sao cho nên vợ nên chồng hỡi em! Kẻo còn tưởng sớm mưa đêm.
  • (Phong dao)
  • Tin nhau đã vẹn muôn phần
  • Cũng xin giãi hết xa gần cùng nhau” Bóng nghe, bóng cũng gật đầu.
  • (Nói chuyện với bóng)
  • Hang lan thanh vắng một mình, Mấy lời ỳ ọp thảo trình tương tri.
  • Cánh bèo mặt nước đưa đi.
  • (Ếch mà)

Như vậy, Tản Đà sáng tác thơ Đường bằng chữ quốc ngữ, dịch thơ Đường bằng thể lục bát, cũng chính vì vậy mà Xuân Diệu cho rằng: “Thơ Tản Đà xuống tới những lớp dưới của xã hội, đi đến mọi hạng người” [7; tr. 229]. Trong quá trình tìm hiểu các thể loại mà thi sĩ núi Tản sông Đà đã sử dụng để làm thơ nói về mộng, chúng tôi nhận ra ông luôn đặt tiêu chí tự do lên hàng đầu, nghĩa là thể thơ ấy phải không hạn định về số lượng câu. Điều đó lý giải vì sao khi viết về mộng, Tản Đà đã dùng thể lục bát, trường đoản cú, hát nói, trường thiên rất nhiều cũng vì đặc tính không giới hạn của cõi mộng như chúng tôi đã nói ở chương 2. Ngược lại, cũng chính vì đặc tính lãng mạn của mình mà cõi mộng của Tản Đà đã góp phần đáng kể trong việc kéo giãn các thể thơ. Khóa luận: Phương thức thể hiện mộng trong thơ văn Tản Đà.

3.1.2 Văn xuôi viết về mộng của Tản Đà

Về văn xuôi, trong bài Hữu – vô tương tác trong thi pháp Tản Đà, Tầm Dương đã nhận định rằng: “Tản Đà cũng có những bước đi mới mẻ đầu tiên, cũng có một số đóng góp nhất định, đáng để chúng ta lưu tâm. Tiếc rằng về sau khi nền văn xuôi quốc ngữ đã tiến những bước dài thì Tản Đà không đóng góp được gì thêm (nói riêng về mặt hình thức nghệ thuật).” [22; tr. 430].

Từ năm 1916 cho đến 1932, ông cho ra đời, ngoài thi ca, một loạt những tác phẩm văn xuôi: Giấc mộng con (1916), Thề non nước (1929), Giấc mộng lớn (1922), Thần tiền (1931), Giấc mộng con II (1932). Nếu có nhiều người đón nhận văn xuôi Tản Đà với sự nhiệt tình, lòng cảm phục và thừa nhận mình chịu ảnh hưởng như: Phan Khôi, Nguyễn Công Hoan, Vũ Bằng thì cũng có người đánh giá thấp, thậm chí còn phủ định và cho rằng đây là bộ phận văn học không thể có vị trí xứng đáng trong sự nghiệp Tản Đà như: Vũ Ngọc Phan, Phạm Quỳnh, Lê Thanh. Như vậy, văn xuôi của Tản Đà ngay từ buổi đầu ra mắt đã nhanh chóng nhận được sự chú ý của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học.

Lê Chí Dũng trong Vấn đề thể loại văn học trong sáng tác của Tản Đà cho rằng: “tiểu thuyết của ông chỉ là biến dạng của tình sử, chí dị, du ký nhan nhản trong văn học phương Đông thời kỳ trung đại, văn kịch của ông chỉ là thơ, từ khúc, sở trường của Tản Đà. Vả lại, viết tiểu thuyết, văn kịch, ông không phân biệt được ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật, còn các nhân vật nghệ thuật của Tản Đà, thì chỉ là sự thể hiện cái tôi trữ tình của ông cùng với vốn văn hóa mà nhà thơ đã thụ hưởng.” [7; tr. 501], “Tản Đà không hoàn thành được nhiệm vụ phân hóa triệt để thơ và văn xuôi” [7; tr. 502].

Trong bài Tản Đà – một văn nho tài tử và lãng mạn, một nhà thơ giữa hai thế kỷ, Phạm Văn Diêu viết: “Trong khoảng thời gian 1915 – 1920 trên Đông Dương tạp chí, giữa các bài tản văn thiếu tính chất sáng tạo, văn xuôi Tản Đà trái lại đầy ý vị triết lý mới với một lối hành văn xuất sắc xuất hiện như một cơn gió lạ, không hòa điệu với không khí chung của tờ báo” [7; tr. 418]. Trần Đình Hượu trong Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu cho rằng: “Văn xuôi và thơ của Tản Đà chỉ là văn học cổ được cách tân, chỉ là khâu trung gian giữa văn học truyền thống và văn học hiện đại, giữa văn học nông thôn và văn học thành thị.” [7; tr. 554]. Trong Văn Tản Đà, Nguyễn Triệu Luật có nói: “Văn của Tản Đà hay ở chỗ dập đúng nhạc luật của tiếng Nam, ở chỗ dùng chữ rất táo bạo” [7; tr. 217]. Nguyễn Khắc Xương trong bài viết Về văn xuôi Tản Đà: “Truyện phiêu lưu, truyện viễn tưởng khoa học, ký và hồi ký tình yêu, truyện đối thoại, tự truyện, bút ký triết học, đó là những viên gạch mà Tản Đà đưa lại góp phần xây dựng một nền văn xuôi mới” [32; tr. 7]. “Văn Tản Đà chịu ảnh hưởng nhiều của cổ văn, dùng nhiều từ Hán và Hán Việt, nhiều điển tích với lối văn biền ngẫu và lối diễn tả lặp đi lặp lại” [32; tr. 8] “Ngôn ngữ văn học đi vào hiện đại cùng với nội dung đa dạng, với nhiều thể tài mới được mở ra đã đưa Tản Đà vào hàng những nhà văn tiên phong của văn xuôi Việt Nam” [32; tr. 10]. Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên: “Câu văn xuôi của Tản Đà ở các thiên ký sự cũng có điểm giống Tương Phố: có đối, có nhịp, đôi khi có cả vần hoặc thỉnh thoảng lẩy một câu Kiều hay ca dao cho thêm thi vị.”, “Nhưng câu văn của Tương Phố thường rậm rịt những chữ sáo trải ra lê thê, nhịp nhàng một cách chăm chỉ đôi khi nặng nề. Còn Tản Đà đặt câu ngắn nhẹ, dùng chữ một cách chừng mực, có ý vị cao.” [16; tr. 317]. Phạm Thế Ngũ nhận xét câu văn xuôi của Tản Đà “chịu ảnh hưởng rõ rệt của Hán văn”, “lối văn tài tử”, “hàm súc, rắn rỏi, đôi khi vắt vẻo ly kỳ, dấu cái ngạo đằng sau cái nhã”, văn Tản Đà có “tính nhạc” cực kỳ thu hút. Khóa luận: Phương thức thể hiện mộng trong thơ văn Tản Đà.

  • Bảng 3.1 Thống kê về thể loại của 3 tập giấc mộng trong văn Tản Đà

Xét về dung lượng tác phẩm thì hai tập Giấc mộng con chưa phải là tiểu thuyết theo quan điểm văn học hiện đại, vì: “Tiểu thuyết là tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ảnh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian.” [8; tr. 330]. Với một số đặc điểm: cái nhìn cuộc sống từ góc độ đời tư của tác giả, chất văn xuôi không “thi vị hóa, lãng mạn hóa, lí tưởng hóa” [8; tr. 330] nhân vật của tiểu thuyết là “nhân vật nếm trải”, nhân vật chính của tiểu thuyết không phải chỉ là cốt truyện và tính cách nhân vật như ở truyện vừa và truyện ngắn trung cổ mà còn tập trung miêu tả cách nhìn của nhân vật về thế giới xung quanh. Tiểu thuyết còn là một thể loại dân chủ vì nó xóa bỏ khoảng cách giữa nội dung trần thuật và người trần thuật. Như vậy, hai tác phẩm văn xuôi này tuy khá ngắn so với tiểu thuyết hiện đại, nhưng nhìn chung cũng đã mang đầy đủ những đặc trưng của thể loại này.

Nói hai tập Giấc mộng con thuộc thể truyện, một thể loại được gộp chung với thuật ngữ tự sự, một trong ba phương thức tái hiện đời sống bên cạnh trữ tình và kịch; trong truyện, nhà văn kể lại, tả lại “những gì xảy ra bên ngoài mình, khiến cho người đọc có cảm giác rằng hiện thực đang phản ánh trong tác phẩm tự sự là một thế giới tạo hình xác định đang tự phát triển, tồn tại bên ngoài nhà văn, không phụ thuộc vào tình cảm, ý muốn của nhà văn.” [8; tr. 385] cũng không chính xác lắm. Vì Tản Đà luôn khẳng định những gì ông thấy trong giấc mộng là một cuộc đời khác của mình, không phải là những gì xảy ra bên ngoài. Trịnh Bá Đĩnh gọi nó là du kí: “một loại hình văn học thuộc loại hình kí mà cơ sở là sự ghi chép của bản thân người đi du lịch, ngoạn cảnh về những điều mắt thấy tai nghe.” [8; tr 108] thì cũng không hẳn, vì trong Tản Đà cũng nhận rằng ở tập giấc mộng đầu tiên, ông chỉ du lịch bằng trí tưởng tượng. Giấc mộng con thật ra “không phải là lối tiểu thuyết phiêu lưu khoa học. Cuộc chơi này hoàn toàn có tính cách cá nhân. Nó đáp ứng với một nhu cầu thoát ly của nhà thơ lãng mạn.” [16; tr. 314].

Về Giấc mộng lớn, Văn Tâm và Nguyễn Khắc Xương gọi đó là tự truyện (“tác phẩm thuộc loại tự sự do tác giả tự viết về cuộc đời mình, nhà văn viết tự truyện như được sống lại một lần nữa đoạn đời đã qua của mình. Tự truyện có thể bao quát hầu hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự và sử thi” [8; tr. 389]), Trịnh Bá Đĩnh gọi là nhật kí: “Một thể loại thuôc hình kí. Nhật kí là hình thức tự sự ở ngôi thứ nhất được thực hiện dưới dạng những ghi chép hằng ngày theo thứ tự ngày tháng về những sự kiện của đời sống mà tác giả hay nhân vật chính là người trực tiếp tham gia hay chứng kiến. Khác với hồi kí, nhật kí thường chỉ ghi lại những sự kiện, những cảm nghĩ vừa mới xảy ra chưa lâu.” [8; tr. 237]. Riêng Tản Đà, ông nói rằng: “Vậy thời Giấc mộng lớn là một tập kỷ thực chăng?…Đã gọi là mộng, thời sao được gọi là kỷ thực? Vậy thời giấc mộng lớn, là một cuốn tiểu thuyết chăng?…Có sự thực mới chép, thời không phải là tiểu thuyết…Tác giả cứ theo sự chiêm bao mà tùy ý chép ra, không có mạch lạc, không có quy tắc…chẳng qua là một cuốn văn chơi”. (Giấc mộng lớn). Vậy thì tác phẩm chỉ là một cuốn “văn chơi” thôi, nhật ký thì không phải vì thời gian trong tác phẩm thường được tính theo năm và lúc có lúc không, chủ yếu nghiêng về sự kiện trong cuộc đời. Khóa luận: Phương thức thể hiện mộng trong thơ văn Tản Đà.

Trong lời đề tựa của Giấc mộng con, Hán Thu Nguyễn Tiến Lãng nhận định rằng: “Tôi dám quả quyết mà đáp rằng: giá trị văn xuôi của Tản Đà cũng không kém gì giá trị văn vần của Tản Đà”. Cống hiến quan trọng của Tản Đà trong lĩnh vực văn xuôi là sự cách tân các thể loại đã có (ký, tiểu thuyết) và đặt nền móng cho các thể loại văn xuôi mới (tự truyện, truyện viễn tưởng, truyện đối thoại). Chúng ta nên nhớ rằng, cùng thời với Tản Đà, một số tác gia vẫn còn viết theo lối tiểu thuyết chương hồi, thế nên về hình thức, văn xuôi Tản Đà đã có những cách tân nhất định. Về nội dung, tiểu thuyết của ông phát huy triệt để khả năng tưởng tượng của tác giả. Còn Giấc mộng con thực chất là một cuốn du ký nhưng giống với Guliver du ký vì có khá nhiều yếu tố hư cấu nên lại phá vỡ nhiều nguyên tắc của thể loại ký, do đó lại gần với tiểu thuyết hơn. So với Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác thì Giấc mộng con của Tản Đà đậm đặc yếu tố chủ quan, hư cấu. Cũng với Tản Đà, lần đầu tiên trong văn học Việt Nam xuất hiện một cuốn tự truyện Giấc mộng lớn, đánh dấu bước nhảy vọt của cái Tôi cá nhân và sự ảnh hưởng của văn học phương Tây. Do vậy, Tản Đà đã giúp văn xuôi cùng với những giấc mộng có một địa vị không hề kém cạnh thơ trên văn đàn trong buổi đầu hiện đại hóa nền văn học dân tộc.

Như vậy, thể loại là một phương thức quan trọng để Tản Đà nói mộng. Nếu ở thơ ông vận dụng linh hoạt, điêu luyện, đa dạng các thể và đậm đà bản sắc dân tộc thì ở văn xuôi, vì đang trong buổi đầu hình thành nên vẫn chưa đạt đến trình độ nghệ thuật cao, song cũng có những đóng góp đáng kể.

3.2 Ngôn ngữ Khóa luận: Phương thức thể hiện mộng trong thơ văn Tản Đà.

3.2.1 Ngôn ngữ trong thơ viết về mộng của Tản Đà

Nhà thơ núi Tản sông Đà trong những thi phẩm của ông nói chung và trong những bài có liên quan đến những giấc mộng nói riêng đều được định hình bởi một loại ngôn ngữ thơ vừa đậm đà tính dân gian vừa có những cách tân đáng kể.

Về tính dân gian trong ngôn ngữ thơ viết về mộng của Tản Đà, có thể thấy ông đã học tập cách sử dụng ngôn ngữ của văn học dân gian ở tính giản dị, tính tự nhiên, đó là một thứ ngôn ngữ dân tộc bình dị, trong sáng, giàu khả năng gợi cảm, điêu luyện và hơn hết nó gắn liền với quần chúng nhân dân. Trong Tản Đà – khối mâu thuẫn lớn, Tầm Dương viết: “Trong thi pháp Tản Đà tràn đầy những kỹ xảo mỹ từ pháp, những thủ pháp tu từ nói chung. Đó là các phép: dùng định ngữ (Gió thu, Hoa sen nở trước nhất đầm…), ẩn dụ (Ếch mà, Con cuốc và con chẫu chuộc…), nhân cách hóa (Thề non nước, Nói chuyện với bóng…), phúng dụ (Thề non nước, Thăm thằng bù nhìn…), ngoa dụ (Sự đời…), điệp ngữ, đảo ngữ…” [7; tr. 449]. Song, bên cạnh sự điêu luyện ấy, chất dân gian thể hiện ở việc ông dùng nhiều biện pháp tu từ đơn giản, không quá cầu kỳ để có thể đến gần hơn với mọi tầng lớp nhân dân.

  • Một số biện pháp tu từ nổi bật

Đầu tiên là phép nhân hóa (hay nhân cách hóa). Viết về cái bản chất đa tình của mình, Tản Đà không nói thẳng mà khéo léo dùng phép nhân hóa chính cái ảnh của mình để tâm sự:

Người đâu? Cũng giống đa tình,

Ngỡ là ai, lại là mình với ta. Mình với ta dẫu hai như một, Ta với mình, tuy một mà hai? Năm nay mình mới ra đời,

Mà ta ra trước đã ngoài đôi mươi.

(Nói chuyện với ảnh)

Nói chuyện với ảnh chưa đủ, Tản Đà còn nói chuyện với bóng của mình, một thế giới mộng ảo được mở ra bằng thủ pháp nhân hóa tài tình: Khóa luận: Phương thức thể hiện mộng trong thơ văn Tản Đà.

Bóng ơi, mời bóng vào nhà,

Ngọn đèn khêu tỏ, đôi ta cùng ngồi. Ngồi đây ta nói sự đời

Ta ngồi ta nói, bóng ngồi bóng nghe

(Nói chuyện với bóng)

Trong giấc mộng “kinh bang tế thế” của mình, cậu ấm Hiếu năm nào vẫn luôn canh cánh trong lòng một lời thề với non nước. Non nước có tình, có cả linh hồn:

Nước non nặng một lời thề

Nước đi, đi mãi không về cùng non. Nhớ lời nguyện nước thề non

Nước đi chưa lại non còn đứng không.

(Thề non nước)

Phép nhân hóa hỗ trợ rất đắc lực cho Tản Đà tạo nên thế giới mộng ảo trong cuộc nói chuyện với bóng, với ảnh. Không có phép nhân hóa, cho dù ông mặc định cái bóng cái ảnh là của con người thì không phải là con vật, thì nó cũng không ngồi im nghe ông giãi bày tâm tư rồi “gật đầu” được (“Bóng nghe, Bóng cũng gật đầu”). Nhờ có phép nhân hóa, Tản Đà có thể giãi bày tâm sự của mình với chính mình nhưng vẫn rất giàu hình ảnh, hợp lý và gợi sự liên tưởng.

Về biện pháp so sánh, theo Từ điển thuật ngữ văn học so sánh là “phương thức biểu đạt bằng ngôn từ một cách hình tượng dựa trên cơ sở đối chiếu hai hiện tượng có những dấu hiệu tương đồng nhằm làm nổi bật đặc điểm, thuộc tính của hiện tượng này qua đặc điểm, thuộc tính của hiện tượng kia. Chính vì thế so sánh thường có hai vế. Hai vế thường được nối liền với nhau bởi từ như hoặc bằng các từ so sánh khác: bằng, hơn, kém.” [8; tr. 282]

Chỉ riêng về mảng ca dao than thân, biện pháp so sánh với từ so sánh “như” đã được tác giả dân gian sử dụng khá triệt để, dùng tấm lụa, hạt mưa, trái bần và những thứ gần gũi nhất với đời sống sinh hoạt của nhân dân lao động để ví với “thân em”:

Thân em như tấm lụa đào Khóa luận: Phương thức thể hiện mộng trong thơ văn Tản Đà.

Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?

(ca dao)

Thân em như hạt mưa sa,

Hạt vào đài cát, hạt ra ruộng cày.

(ca dao)

Thân em như trái bần trôi,

Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu.

(ca dao)

Trong thơ Tản Đà, cả ba loại giấc mộng của ông đều được vận dụng phép so sánh, song có phần nghệ thuật hơn so với ca dao ở việc lựa chọn hình ảnh so sánh tuy vẫn dựa vào phép so sánh thông thường (A như B):

Ấy ai như thế, thế mà ưa

Ai bảo khôn ngoan hoá cũng khờ.

(Tiếc của đời)

Mình với ta dẫu hai như một,

Ta với mình, tuy một mà hai?

(Nói chuyện với ảnh)

Khổ thứ 14 bài Hầu Trời là một trong những khổ thơ sử dụng nhiều phép so sánh nhất, chỉ trong 6 dòng thơ mà tác giả đã đan vào đó 6 hình ảnh so sánh, bao gồm: “đẹp như sao băng”, “hùng mạnh như mây chuyển”, “êm như gió thoảng”, “tinh như sương”, “đầm như mưa sa”, “lạnh như tuyết”. Những hình ảnh so sánh này đạt đến giá trị nghệ thuật cao:

Trời lại phê cho: Văn thật tuyệt! Khóa luận: Phương thức thể hiện mộng trong thơ văn Tản Đà.

Văn trần được thế chắc có ít! Lời văn chuốt đẹp như sao băng!

Khi văn hùng mạnh như mây chuyển! Êm như gió thoảng, tinh như sương! Đầm như mưa sa, lạnh như tuyết!

(Hầu Trời)

Phép so sánh dường như được Tản Đà sử dụng nhiều nhất ở giấc mộng thoát ly. Với việc ví đời người như giấc mộng, ông đã lặp lại sự so sánh những ba lần một câu “Đời người như giấc chiêm bao” trong ba bài thơ sau:

Đời người như giấc chiêm bao

Nghìn xưa đã mấy ai nào trăm năm.

(Thơ rượu)

Đời người như giấc chiêm bao

Mà trong mộng ảo lại sao không nhàn

(Đời lắm việc) Đời người như giấc chiêm bao Trơ trơ là cái hoa đào gió đông!

(Mấy vần ngẫu hứng)

Biệp pháp so sánh được Tản Đà sử dụng theo lối đơn giản nhất (A như B) để có thể “đi xuống mọi hạng người” và hơn hết, với tác dụng đối chiếu sự vật này với sự vật khác, Tản Đà dùng phép so sánh để diễn cái mộng của mình một cách giàu hình ảnh nhất. Như việc “Trời” khen văn thơ Tản Đà, nếu chỉ nói “Văn thật tuyệt”, thì giá trị của những tác phẩm ấy giảm đi nhiều, nhưng khi “Trời” so lời văn, khí văn của anh Nguyễn Khắc Hiếu với “sao băng”, “mây chuyển” tức là đã nâng lên tầm vũ trụ.

Đối với biện pháp ẩn dụ, một biện pháp tu từ dùng tên gọi của sự vật/hiện tượng này bằng tên của sự vật/hiện tượng khác có nét tương đồng giữa 2 đối tượng về mặt nào đó nhằm tăng sức gợi hình và gợi cảm cho sự diễn đạt. Biện pháp tu từ này được Tản Đà sử dụng rõ ràng nhất trong chuỗi giấc mộng “kinh bang tế thế” mà chúng tôi đã đề cập đến ở mục 2.3. Tác giả đã dùng con ếch và chim họa mi để bộc lộ lòng yêu nước và tâm trạng bất lực trước thời cuộc, ngay cả việc lựa chọn hình ảnh cũng đã thấy được nỗ lực của Tản Đà trong việc dân gian hóa biện pháp tu từ vốn khá xa lạ với người dân lao động:

Cánh Bằng đập ngọn phù dao,

Đầm xa tiếng Hạc lên cao vọng trời.

Ao thu lạnh lẽo sự đời,

Cành sương ngọn gió bời bời lá tre.

Lắng tai Ếch những ngồi nghe

Tiếc xuân Quốc đã qua hè, ai thương?

(Ếch mà)

Hoạ mi, ai vẽ nên mi?

Trông mi mi đẹp, hót thì mi hay!

Ai đưa mi đến chốn này?

Nước trong gạo trắng, mi ngày ăn chơi

(Chim hoạ mi trong lồng) Khóa luận: Phương thức thể hiện mộng trong thơ văn Tản Đà.

Việc Tản Đà sử dụng nhân vật là loài vật trong hình ảnh ẩn dụ khiến ta liên

tưởng đến câu ca dao:

Con mèo mà trèo cây cau,

Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà.

(Ca dao)

Trong thời buổi đất nước bị đặt dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, thì phép ẩn dụ là phép tu từ thích hợp nhất để biểu lộ lòng yêu nước, vừa kín đáo vừa giàu hình ảnh. Sử dụng hình ảnh chim họa mi, một loài chim đẹp, nhưng lại ở trong lồng và nó hài lòng về điều đó để ẩn dụ cho Hoàng Cao Khải, Tản Đà đã nói lên sự khinh ghét của mình đối với những người xem thường sự mất tự do của dân tộc. Vậy, biện pháp tu từ này đã có những tác dụng nhất định trong việc nói lên lòng yêu nước – nguồn cơn dẫn đến cái mộng làm nhà tư tưởng của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu.

Một biện pháp tu từ nữa mà chúng tôi cho là khá “đắt” trong việc diễn cái mộng trong thơ Tản Đà là phép điệp. Đây là một biện pháp tu từ dùng sự nhắc lại một hoặc nhiều lần một từ, cụm từ nhằm nhấn mạnh, tạo ấn tượng, gợi liên tưởng, cảm xúc hoặc tạo nhịp điệu cho lời văn. Điệp có điệp cấu trúc và điệp ngữ. Trong thơ về mộng của Tản Đà, điệp ngữ được sử dụng khá nhiều và có phần nhiều hơn ở giấc mộng yêu đương với sự lặp đi lặp lại những nỗi nhớ, những biểu hiện của một “cái giống yêu hoa”. Từ “mê” được điệp ở hai câu văn liền nhau, thể hiện sự “ham thích tới mức như bị cuốn hút hoàn toàn vào” [19; tr. 813]. Hay việc điệp từ “nhớ” có một ý nghĩa nhất định trong việc diễn tả mộng tình cảm, ngược lại, cũng vì có mộng yêu đương mà Tản Đà sử dụng từ ấy nhiều lần:

Cái mê vô ích mà dại,

dại, mê mê mãi chẳng thôi.

(Cái giống yêu hoa)

Nhớ ai ta những lòng man mác Ta nhớ ai mà ai có nhớ ta!

(Cảnh đêm nhà ẩn sĩ) Nhớ lúc rượu ngon năm bảy chén Nhớ khi đêm vắng một đôi người

Nhớ sân đứng tế người thiên cổ

Nhớ chỗ nằm xem truyện Liêu Trai

(Nhớ bạn) Khóa luận: Phương thức thể hiện mộng trong thơ văn Tản Đà.

Trong nỗi chán đời những cũng chẳng thể bỏ đời, Tản Đà dùng cụm từ “nào những ai” được lặp lại ở đầu mỗi đoạn thơ, điệp chín lần:

Nào những ai:

Bảy thước thân nam tử Thỏa chí tang bồng

[…]

Nào những ai

Kê vàng tỉnh mộng Tóc bạc thương thân

(Cảm thu, tiễn thu)

Vô tình hay hữu ý, viết về giấc mộng thoát ly của mình, Tản Đà thường sử dụng

phép điệp, điệp cả ngữ lẫn cấu trúc.

Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể!

Thật được lên tiên – sướng lạ lùng.

(Hầu Trời)

bầu bạn, can chi tủi,

Cùng gió cùng mây, thế mới vui.

(Muốn làm thằng Cuội)

Đặc biệt, trong bài Nhớ mộng, chỉ với tám câu thơ mà từ “mộng” đã được lặp lại đến sáu lần: “giấc mộng”, “mộng mà chơi”, “không bằng mộng”, “tiếc mộng”, “người trong mộng”, “mộng cũ”. Như vậy, có thể thấy trong các dạng điệp ngữ (điệp ngữ cách quãng, điệp ngữ nối tiếp, điệp ngữ chuyển tiếp) thì Tản Đà thường sử dụng điệp ngữ cách quãng.

Từ một số dẫn chứng trên, có thể thấy rằng Tản Đà sử dụng phép điệp là có chủ đích, khi thì để khẳng định tính chân thật của việc mình lên hầu Trời qua từ “Thật”, có lúc diễn ta nỗi nhớ mộng quay quắt với sáu từ mộng, hay điệp cụm “nào những ai” chín lần để bình đẳng mọi kiếp người, để chứng minh “đời người như giấc chiêm bao”, đặc biệt là từ “nhớ” được lặp lại hàng trăm lần trong tổng số bài thơ, diễn tả nỗi nhớ như một sự ám ảnh của khách đa tình. Phép điệp vì vậy mà có một giá trị nhất định trong việc thể hiện mộng trong thơ Tản Đà. Khóa luận: Phương thức thể hiện mộng trong thơ văn Tản Đà.

  • Đại từ phiếm chỉ

Bên cạnh những biện pháp tu từ, nhà thơ núi Tản sông Đà cũng sử dụng biện pháp dùng đại từ phiếm chỉ thường thấy trong ca dao, mà đặc biệt là ba đại từ “ai”, “ta”, “mình”. Trong ca dao, cặp đại từ mình – ta gần như trở thành một điển hình của ca dao về đề tài tình yêu, hãy thử điểm qua một số câu quen thuộc:

Mình nói với ta mình hãy còn son,

Ta đi qua ngõ thấy con mình bò. Con mình những trấu cùng tro,

Ta đi xách nước rửa cho con mình.

Con mình vừa đẹp vừa xinh,

Một nửa giống mình một nửa giống ta.

(ca dao)

Bảng 3.2 Thống kê số lượng đại từ phiếm chỉ ai, mình, ta trong toàn thể những bài thơ viết về mộng của Tản Đà (Số lượng các loại giấc mộng được dựa theo số liệu đã thống kê ở bảng 2.1)

Từ số liệu của bảng thống kê trên cho thấy đại từ phiếm chỉ “ai” xuất hiện với mật độ khá dày đặc trong cả ba loại giấc mộng trong thơ Tản Đà, với gần 3/4 số bài. Đại từ phiếm chỉ “mình” và “ta” có phần yếu thế hơn nhưng cũng chiếm một dung lượng không hề nhỏ. Như vậy, đại từ phiếm chỉ hiển nhiên trở thành một phương thức thể hiện những giấc mộng trong thơ Tản Đà, ông dùng đại từ phiếm chỉ không chỉ với mục đích phổ quát hóa mà còn dân tộc hóa ngôn ngữ thơ ông.

3.2.2 Ngôn ngữ trong văn xuôi viết về mộng của Tản Đà Khóa luận: Phương thức thể hiện mộng trong thơ văn Tản Đà.

Ngôn ngữ trong văn xuôi Tản Đà nhìn chung cũng mang tính chất mộc mạc, giản dị và trong sáng. So với ngôn ngữ văn xuôi bấy giờ nói chung và với thơ của ông nói riêng thì cũng không có gì đặc sắc. Đó là thứ ngôn ngữ của văn xuôi trong buổi đầu hình thành. Cho nên, ở mục này, chúng tôi chỉ đề cập đến câu văn xuôi của ông, bởi xét thấy có phần nào ý nghĩa trong việc thể hiện những giấc mộng.

Văn xuôi Tản Đà là một lối văn giàu nhạc điệu và đậm chất thơ, đặc biệt là ở những tác phẩm mà Tản Đà cho là “chép mộng” như Giấc mộng con, Giấc mộng con II, Giấc mộng lớn. Nhạc tính của câu văn được tạo nên nhờ những câu văn biền ngẫu, cấu trúc câu, các vế lặp và sự xen kẽ của các câu thơ trong lời văn, phổ biến nhất là phép điệp từ kết hợp điệp cấu trúc: “Xuân đi hạ tới, thu lại đông qua, mỗi đêm chỗ góc vườn công viên, dù mưa phùn, dù gió lạnh, thường cùng nhau họp chuyện trong nửa giờ. Hết câu chuyện tình ý đến câu chuyện văn chương; hết câu chuyện văn chương, ra câu chuyện lý tưởng; hết câu chuyện lý tưởng, đến câu chuyện điển cố; hết câu chuyện điển cố, ra thế thái nhân tình; hết thế thái nhân tình, đến tha hương cố quốc”; “Không không mà sắc sắc, sắc sắc hay không không” (Giấc mộng con). “Rượu, ai muốn uống, tha hồ uống; hoa, ai muốn lấy, tha hồ lấy; quả, ai muốn ăn, tha hồ ăn; sách, ai muốn coi, tha hồ coi.” (Giấc mộng con II). Phép điệp có khi được sử dụng như một phương thức liên kết khi Tản Đà lặp nguyên văn ở cuối mỗi đoạn để thể hiện những xúc cảm mãnh liệt. Trong Bài chép mộng, ông điệp lại cả câu: “Thú thật là thú! Hay thật là hay” những mười lần, ở cuối mỗi đọan văn. Cũng như thơ, Tản Đà sử dụng phép điệp nhiều lần trong văn xuôi với mục đích nhấn mạnh từ, cấu trúc nhằm đạt giá trị biểu cảm và mang đến sự du dương, mềm mượt cho câu văn.

Bên cạnh đó, Tản Đà còn sử dụng các cặp tiểu đối nối tiếp nhau như: “lom khom đá mọc, hớn hở huê cười”, “tiền nong tính toán, lễ ý đi lại”, “tình tương thân, lệ tương trọng” (Giấc mộng con); “non xanh nước biếc, cỏ lục hoa hồng” (Giấc mộng con II), “gió hót giăng treo, rừng reo suối chảy” (Giấc mộng lớn) làm cho câu văn có nhịp như thơ, “đối là một phương thức tổ chức lời văn bằng cách điệp cú pháp nhằm tạo ra hai vế, mỗi vế là một câu tương đối hoàn chỉnh, được viết thành hai dòng cân xứng, sóng đôi với nhau.” [8; tr. 123]. Muốn trở thành một cặp tiểu đối thì phải có sự sóng đôi giữa hai về về ý và lời. Lối viết văn với nhiều vế đối nhau gần với kiểu văn biền ngẫu thường thấy trong văn Trung Quốc và văn học trung đại Việt Nam. Việc sử dụng nhiều tiểu đối khiến câu văn Tản Đà du dương, có vần có điệu. Khóa luận: Phương thức thể hiện mộng trong thơ văn Tản Đà.

Trong văn xuôi Tản Đà rõ ràng có sự xâm nhập của thơ, đặc điểm này thể hiện rõ nhất ở tập Giấc mộng con, tác phẩm văn xuôi đầu tay của Tản Đà, với những câu thơ xen lẫn vào văn như khi đến Para, Nguyễn Khắc Hiếu phải khuân vác để kiếm miếng ăn, lúc vất vả mà than rằng: “Lầm than lại có thứ này! Hỡi người tri kỷ bấy chầy biết chăng?”, hay trong năm canh ngồi đối diện với giai nhân (một người bạn thân của Chu Kiều Oanh) trong chuyến tàu đi sang Newyork, Hiếu trộm nghĩ: “Tấm riêng kết cỏ ngậm vành! Trông hoa mà lại nặng tình với hoa.”. Câu văn xuôi Tản Đà nhịp nhàng, uyển chuyển và đầy chất thơ lãng mạn cũng chính vì lẽ ấy, sau này, khi văn xuôi quốc ngữ đã tiến những bước dài thì kiểu câu văn xen câu thơ như vậy, gần như vắng bóng. Do đó, đây cũng chính là một nét đặc sắc trong ngôn ngữ câu văn xuôi của Tản Đà.

Văn Tản Đà nhìn chung vẫn chưa thể thoát khỏi lề lối Hán văn, một phần vì chữ Quốc ngữ buổi đầu vẫn chưa hoàn chỉnh và phong phú, hơn nữa nền Hán học bám sâu vào văn học nước ta đã ngàn năm khó mà bỏ một sớm một chiều. Tuy nhiên, lối viết văn xuôi của Tản Đà cũng có tác dụng lớn trong việc thể hiện mộng của ông, bởi vì nó cho thấy một tâm hồn dạt dào cảm xúc với nhiều cung bậc tình cảm khác nhau. Vậy nên câu văn xuôi mà lại có âm điệu, vần điệu như thơ.

Như vậy, xét về ngôn ngữ, thơ Tản Đà giàu có và dân tộc nhờ việc ông vận dụng nhiều biện pháp tu từ một cách điêu luyện, đại từ phiếm chỉ thường xuất hiện trong ca dao để làm nên những vần thơ trong trẻo, có duyên và bay bổng theo những giấc mộng. Văn Tản Đà là văn giàu nhạc điệu với những biện pháp nghệ thuật như phép điệp, tiểu đối v.v…Trong buổi văn xuôi quốc ngữ mới hình thành, thì việc câu văn chịu ảnh hưởng của Hán văn là điều dễ hiểu và khá phổ biến.

3.3 Không gian nghệ thuật của những giấc mộng trong thơ văn Tản Đà Khóa luận: Phương thức thể hiện mộng trong thơ văn Tản Đà.

Không gian nghệ thuật không phải là không gian vật lý hay không gian địa lý bao lấy đời sống mọi sinh vật mà là một dạng hình thức nội tại của hình tượng nghệ thuật. Trong Thi pháp học, Trần Đình Sử viết: “Không gian trong tác phẩm nghệ thuật ngoài ba chiều còn có chiều không gian tâm tưởng – không gian của cảm xúc, của hồi tưởng, của ước vọng.” [21; tr. 50]. Còn Từ điển thuật ngữ văn học lý giải: “Không gian nghệ thuật gắn với cảm thụ về không gian, nên mang tính chủ quan”. Vì vậy mà không gian này “có thể là không có tính cản trở, như trong cổ tích” [8; tr. 160]. Như vậy, với không gian nghệ thuật, những khao khát, những ước mơ trong nội tâm của nhân vật (mà cũng có thể là của tác giả) được tự do thực hiện, qua đó phản ánh thế giới quan của tác giả và rộng hơn là cả một giai đoạn văn học.

Ở các thể loại khác nhau, không gian nghệ thuật cũng mang những đặc trưng khác nhau tùy vào trình độ nhận thức của con người. Trong thần thoại và cổ tích, những thể loại đầu tiên trong văn học loài người, không gian mang tính không xác định. Cả vũ trụ rộng lớn vẫn là một sự bí hiểm mà con người vừa sợ hãi vừa muốn khám phá, họ thỏa sức thả cho trí tưởng tượng của mình bay bổng, không có bất cứ núi sông nào có thể cản trở được. Vì vậy mà “không gian hoàn cảnh không chịu trách nhiệm gì về hành động của nhân vật” [21; tr. 52], ở hiền thì gặp lành, ác giả ác báo, không gian trong cổ tích và thần thoại phần nào đó cũng mang tính lãng mạn. Sau này, khi mà đất đai đã được định danh thì không gian trong ca dao cổ lại thu hẹp lại trong những gì thân quen nhất bao lấy đời sống sinh hoạt và lao động của con người; với những mái đình: “Qua đình ngả nón trông đình”, quê nhà: “Anh đi anh nhớ quê nhà” và cây đa, bến nước, ruộng lúa, giếng nước đầu làng v.v…Còn không gian trong thơ cổ điển là không gian vũ trụ rộng lớn với mong muốn được “đăng cao” để hòa vào thiên nhiên.

Với Tản Đà, ngay từ những ngày khởi đầu sự nghiệp văn chương, trong lời tựa cho cuốn văn xuôi Giấc mộng con đầu tay, ông đã tự gọi mình là “người mộng”. Hơn nữa, chỉ cần nhìn vào nhan đề như: Giấc mộng con, Giấc mộng con II, Giấc mộng lớn, Xuân như mộng, Nhớ mộng, Bài chép mộng, Mộng tự...cũng có thể dễ dàng nhận thấy: cõi mộng là không gian nghệ thuật đặc trưng cho thế giới nghệ thuật của Tản Đà. Trong quan niệm của Tản Đà, con người sống trong hai thế giới: thế giới thứ nhất là thế giới của những gì con người đã trải qua và nhận biết được, ông gọi đó là “cảnh ngộ ở đời”; thế giới còn lại là một thế giới của những cảnh ngộ mà: “thân thể chưa trải biết mà ý thức đã đi trước” (Giấc mộng con), đó chính là thế giới của mộng.

Trần Đình Sử đã chia không gian nghệ thuật ra thành nhiều lớp, bao gồm: không gian vũ trụ (thiên nhiên và vũ trụ), không gian xã hội, không gian địa lý và không gian con người. Trong thơ văn viết về mộng của Tản Đà, chúng tôi xét thấy nổi bật nhất là lớp không gian thiên nhiên và không gian con người.

3.3.1 Không gian thiên nhiên Khóa luận: Phương thức thể hiện mộng trong thơ văn Tản Đà.

Không gian thiên nhiên là tất cả những gì thuộc về tự nhiên như mây, nước, trăng, gió, núi, hoa…và được phát triển theo quy luật của tự nhiên. Không gian thiên nhiên thường có tác động từ tâm trạng của tác giả, như việc Nguyễn Du nói: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” trong Truyện Kiều vậy. Không gian thiên nhiên thường có tác dụng như một phông nền giúp những dụng ý nghệ thuật của tác giả nổi bật lên trên. Nếu văn học dân gian có không gian ảo (xuất hiện nhiều trong truyện cổ tích) và không gian thực (gắn với các địa danh, những khung cảnh làng quê trong ca dao), thì văn học trung đại được bao trùm bởi không gian vũ trụ, con người trung đại hình dung thế giới mình đang sống là cả “thiên hạ” bao la, ôm lấy đất trời, rợn ngợp tâm hồn con người nhỏ bé. Nếp cảm thức trung đại này đã ít nhiều ảnh hưởng vào nhà nho Tản Đà và len lỏi vào thơ văn ông. Đó là kiểu không gian gắn với thiên nhiên, lánh xa bụi đời trần thế, nhưng riêng với thi sĩ núi Tản sông Đà thì đó còn là không gian của một tâm hồn phóng khoáng, một trí tưởng tượng tuyệt vời, một kiểu không gian mà chúng ta khó có thể bắt gặp trong văn học trước và sau đó.

Trong bài Về một vùng đất thường gặp trong thơ Tản Đà, Ngô Quân Miện chỉ ra rằng trong thơ văn Tản Đà thì hình ảnh của ngọn núi và con sông ở Khê Thượng quê ông rất hay xuất hiện. Bài thơ yết hậu được in trong tập Khối tình con II năm 1918, lúc này Tản Đà đang ở giai đoạn thành công nhất trong sự nghiệp thơ văn và ngời ngời hoài bão:

Văn chương thời nôm na,

Thú chơi có sơn hà,

Ba Vì ở trước mặt,

Hắc Giang bên cạnh nhà:

Tản Đà!

(Tự thuật)

Hay như trong Giấc mộng lớn, Tản Đà có viết: “Hằng khi dưới bóng tà dương, một mình dạo chơi trên con đường đê cao, bên nọ sông Đà, bên kia núi Tản, một mối cảm tình thanh thượng lơ thơ như liễu chiều xuân. Cái tiểu thuyết Thề non nước: Nước đi đi mãi không về cùng non, văn ý thực phát sinh trong lúc ấy”. Núi Tản và sông Đà là khung cảnh thiên nhiên luôn ngự trị trong tâm hồn Tản Đà và là nguồn cảm hứng mạnh mẽ cho thơ văn ông, cũng là nơi để Tản Đà dừng chân nhìn lại cảnh, nhìn lại tình sau những chuyến du ngoạn ngoài đời thực lẫn trong tưởng tượng: “Núi Tản đương xanh, sông Đà chưa cạn, giang sơn phong cảnh, nhìn kỹ như xưa.” (Giấc mộng con). Khóa luận: Phương thức thể hiện mộng trong thơ văn Tản Đà.

Không gian thiên nhiên là biểu hiện của sự lãng mạn, với ánh trăng vằng vặc sáng ôm lấy những nỗi nhớ trong giấc mộng yêu đương của Tản Đà:

Mình ơi có nhớ ta chăng?

Nhớ mình đứng tựa bóng trăng ta sầu.

(Phong dao)

Nhớ ai chén rượu vần thơ

Nhớ ai gió lạnh trăng mờ năm canh.

(Nhớ ai)

Trong Giấc mộng lớn có viết, năm Tản Đà 25 tuổi, thi trượt hai khoa liên tiếp và thất tình với mối tình đầu mà ông đâm ra chán nản đến “cùng cực”, quyết lên chùa Non Tiên trước để làm thơ tế nàng Chiêu Quân, sau để lánh đời. “Chùa Non Tiên ở núi Non Tiên, về phận đất làng Tiên Mai, thuộc phủ Mỹ Đức, tỉnh Hà Đông; chùa ở chân núi, núi trông xuống sông, sông có bãi.”. Non nước hữu tình, Non Tiên lại trở thành “chỗ dung người yếm thế”. (Người yếm thế là người sống theo triết lý yếm thế – một trường phái của những nhà triết học Hy Lạp cổ đại, cho rằng mục tiêu của cuộc đời con người là sống hòa hợp với thiên nhiên trên nền tảng đạo đức). Sau ông rời Non Tiên về ấp Cổ Đằng “gió hót trăng treo, rừng reo suối chảy. Cái bụng chán đời đến cực điểm, sau quyết mong tịch cốc để từ trần.”

Từ không gian thiên nhiên, Tản Đà kéo giãn ra, nâng rộng lên thành không gian vũ trụ. Vì không gian mặt đất hữu hạn không thỏa mãn nổi cái tôi thoát ly của ông Khắc Hiếu, nên ông đã “nới” nó lên cả trên Trời, và vì là không gian ảo, nên tác giả hoàn toàn có thể thả cho trí tưởng tượng của mình tung hoành mà không lo sai phạm. Điều đặc biệt là với Tản Đà thì không gian giữa trời và đất còn có sự liên thông, hai không gian rộng lớn ấy có thể hợp thành một không gian chung nửa thực nửa ảo. Như cái cách mặt trăng chiếu sáng khắp đêm trần gian, lại có thể trở thành một nơi dung thân cho thi sĩ trong mộng. Trăng của thiên nhiên nay lại trở thành không gian mộng ảo của Tản Đà: Khóa luận: Phương thức thể hiện mộng trong thơ văn Tản Đà.

Ai lên cung Quế nhờ thăm hỏi Soi khắp trần gian có thấy ai?

(Tây hồ vọng nguyệt)

Hạc kia bay bổng tuyệt vời

Hỏi thăm cung Nguyệt cho người trọ không?

(Trông hạc bay)

Như vậy, không gian thiên nhiên trong thơ văn Tản Đà bao la vô cùng, từ sông Đà núi Tản quê nhà cho đến không gian những đêm trăng sáng, và mở rộng ra đến không gian vũ trụ. Nhờ có mộng, Tản Đà đã tạo nên những không gian thiên nhiên có thực lẫn không có thực vô cùng đặc sắc và ngược lại chính những núi Tản sông Đà, vầng trăng sáng phần nào đã khởi nên cái mộng trong ông.

3.3.2 Không gian con người

Về không gian con người, trong Thi pháp học của Trần Đình Sử có đoạn viết: “không gian con người có hai bình diện: một là nơi con người cư trú, hai là tất cả những gì mà tâm tưởng con người có thể đạt đến” [21; tr. 5]. Nói đến nơi mình cư trú, Tản Đà phân trần trong đêm 23 tháng Chạp rằng giấc mộng rao giảng Thiên lương mà Trời giao cho ông bị cảnh riêng cản trở rất nhiều vì ông phải “Ở không yên ổn chạy lung tung”:

Khê Thượng, Bất Bạt về Hà Nội Sài Gòn, Vĩnh Yên ra Hải Phòng Bờ hồ Hoàn Kiếm xuống Nam Định

Xế chợ Đồng Xuân sang Hàng Bông.

Phố tỉnh Sơn Tây lại Khê Thượng Một tết Quảng Yên, nay Hà Đông

(Tiễn ông Công lên trời) Khóa luận: Phương thức thể hiện mộng trong thơ văn Tản Đà.

Giấc mộng lớn với không gian bao quát là đất nước An Nam, không gian nhỏ hơn là những nơi Tản Đà đã từng sống hoặc đi qua trong cuộc đời thực: “ở Nam Định học vỡ lòng chữ Hán”, “về quê nhà ở Sơn Tây, núi Tản sông Đà”, “theo ông anh vào tu thư Hà Nội”, “sang học ở phủ Vĩnh Tường (thuộc Vĩnh Yên)”, “lại xuôi về Nam với quan huyện”, “ở Nam Định vào Sơn Tây”, “đi Huế rồi nhân tiện vào Tourane”, “ở Hà Nội ra đi, tối đến Nghệ An, sáng hôm sau đến Hà Tĩnh”, “ở Hà Tĩnh vào Huế”, “ở Quy Nhơn vào Nha Trang”, “ở Nha Trang ít lâu rồi đi xe lửa vào Sài Gòn”, “từ Phú Phong ra Bình Định”, “ở Quảng Ngãi đáp xe hơi ra Tourane, chuyển hỏa xa về Bắc”.

Một đặc điểm nổi bật trong không gian văn xuôi Tản Đà là không gian không ổn định mà luôn có sự thay đổi, nhân vật thường di chuyển từ nơi này sang nơi khác tùy theo ý đồ của tác giả. Trong Thề non nước, hai không gian chính thức của tác phẩm là nhà cũ nghèo nàn, kém tiện nghi của cô Vân Anh, nơi diễn ra mối tình với nhân vật khách cùng bài thơ “Thề non nước”; và căn nhà khang trang sau này của cô ở Hàng Giấy. Nhưng kết tác phẩm lại, Vân Anh lại ôm va-li đi đâu thì không ai được biết, tức không gian vẫn có khả năng mở rộng theo hành trình mới của nhân vật.

Có thể thấy rằng trong cuộc đời mình, Tản Đà đã đặt chân đến rất nhiều nơi, thế nhưng bao nhiêu đó chưa đủ với một tâm hồn lãng mạn thoát ly, với quan niệm: “Người là một giống có ý thức. Có ý thức, cho nên có mộng” và “Ý thức đi trước mà không đến thời là tưởng; ý thức đi trước mà đến thời thành mộng” (Giấc mộng con). Vậy nên không gian cũng đến cùng lúc với ý thức con người, ấy là không gian mà tâm tưởng con người có thể chạm đến.

Không gian trong tác phẩm của Tản Đà thường bắt đầu từ một địa điểm cụ thể sau đó mở rộng ra mọi hướng đến mức tối đa. Với Giấc mộng con, Tản Đà đã đi qua các chân như: châu Âu, châu Mỹ, châu Úc, châu Phi, và dĩ nhiên là trong tưởng tượng: “Ai ngờ cậu ấm Hiếu vẫn nằm co ở xó rừng tình Sơn Tây, xứ Bắc kỳ, nước Nam Việt, mà cũng có lúc theo chân chen bóng miền đại bang.” (Giấc mộng con). Các không gian ấy có khi được miêu tả, có khi chỉ được nhắc lướt qua tùy theo độ dài của khoảng thời gian mà nhân vật đã dừng chân. Sự thay đổi liên tục các địa điểm tạo cảm giác không gian được mở rộng liên tục. Trong Giấc mộng con, Tản Đà viết: “cùng hai người bạn thân: Lệ Trùng và Thu Thủy, cùng chơi núi Sài Sơn, lên chợ Giời”, “Ở Sài Gòn được ít lâu, rồi theo ông Vinailles sang Đại Pháp”. Sau đó, một người bạn của Oanh là Woallak, người Mỹ cũng giúp Hiếu dời đến Newyork. Về đến France, đi ngay Lyon. Đến Washington rồi đến Canada, Alaska (Mỹ) và “theo mấy nhà thám hiểm lên bể Bắc Băng Dương, thẳng tiến về mặt Bắc”. Có thể thấy rằng Tản Đà viết rất chính xác và chân thực, sống động về các vùng đất này mặt dù ông chỉ đến đó bằng trí tưởng tượng và qua sách vở, như việc Tản Đà chú thích về sa mạc Sahara như sau: “Sahara là một bãi cát to nhất trong thế gian. Bề mặt so với Địa trung hải còn rộng hơn, ở vào chính giữa dải đất nóng cho nên nóng nực lạ thường […] Gió nổi lên thời cát bay rầm trời, chỗ nào thời chứa cao lên thành gò, chỗ thời hoắm xuống như đầm.” tạo cho người đọc cảm giác ông thật sự đang đứng trên sa mạc. Về “cõi đời cũ”, anh thư ký Nguyễn Khắc Hiếu đi đến nước Anh, sang Nauy, Thụy Điển, Nga, Vladivostok, Nhật Bản, Đại bản, Hoành tân rồi quay về Thượng Hải.“Qua Tứ Xuyên, sang Tây Tạng, quay đến Ấn Độ, xem núi Himalaya” rồi đến “Úc châu đã trải qua, lại quay về Phi châu (Afrique), chơi Ai Cập (Egypte)”. Như vậy, ông đã đi qua hết thảy mười ba quốc gia, một con số không nhỏ trong dung lượng mấy mươi trang của tác phẩm.

Tản Đà đã mở rộng không gian con người đến tận những nơi ý thức có thể đặt chân đến, với một tâm hồn lãng mạn thoát ly như Tản Đà, thì không gian ấy mở rộng đến cả Thiên giới. Trong Giấc mộng con II, một Bồng lai tiên cảnh với con sông Ngân không đáy mà khi nhìn xuyên qua thì: “giang sơn còn cũng nhỏ, thời còn có nhân vật nào là to?”, với những nhân vật tầm cỡ trong lịch sử như Tử Cống, Tử Lộ, Đông Phương Sóc, Nguyễn Trãi, Hàn Thuyên… Một điều đáng nói ở đây là hai không gian trời và đất thực chẳng cách nhau chẳng xa là mấy, chỉ cần bay theo con đường mây với “hai cô tiên” là đến cõi trời. Hình ảnh con đường vốn mang ý nghĩa biểu tượng cho hướng đi, cho giải pháp thì ở trường hợp này, con đường mây bay thẳng lên trời là sự biểu hiện cho khát vọng vượt thoát của thi nhân. Trước và sau Tản Đà, trong văn học Việt Nam chưa và cũng không xuất hiện không gian lãng mạn này: Khóa luận: Phương thức thể hiện mộng trong thơ văn Tản Đà.

Theo hai cô tiên lên đường mây Vù vù không cánh mà như bay. Cửa son đỏ chói, oai rực rỡ Thiên môn đế khuyết như là đây!

(Hầu Trời)

Lưu Thần và Nguyễn Triệu đi lên núi hoa đào, men theo suối là đến một khoảng không gian vô cùng đẹp đẽ, ấy là Thiên Thai, là cảnh Bồng lai hư hư thực thực mà con người phải hữu duyên mới mới được gặp: “Cảnh bồng lai trải biết gọi làm duyên” (Say):

Theo hai cô mời rủ lại nhà

Nhà lan huệ, áo lụa là

Giường màn sẵn đó, ngọc ngà thiếu chi!

(Lưu Nguyễn vào Thiên Thai)

Không gian mộng đa dạng và đặc sắc chính là một trong những dấu hiệu chứng tỏ Tản Đà là nhà thơ lãng mạn. So sánh với không gian cõi mộng của những nhà thơ 1930 – 1945, Tản Đà còn lãng mạn hơn. Nếu với Thế Lữ: “Thiên Thai thoảng gió mơ mòng” (Tiếng sáo thiên thai), Lưu Trọng Lư cảm nhận thiên đường “ở trong lòng người thiếu nữ” (Cảnh thiên đường), Vũ Hoàng Chương “Bụi nhuốm Thiên Thai nhòa hứng rượu” (Dựng) thì cõi Bồng Lai, chốn Thiên Thai trong thơ văn Tản Đà được miêu tả vô cùng chân thật, dường như với Tản Đà đó là một cõi hoàn toàn có thật, đó mới chính là nơi ông thuộc về vì ông luôn tự nhận mình là một “trích tiên”.

Như vậy, không gian con người trong thơ văn Tản Đà còn dài rộng hơn không gian thiên nhiên bởi chính đặc tính của nó. Một cuộc đời đầy sự xê dịch, đặt chân đến hơn chục tỉnh thành trong cả nước vẫn không thỏa được những mộng ước thoát ly của Tản Đà, thế nên tâm tưởng ông nhiều lúc đến những vùng đất lạ, và ông miêu tả nó, sống với nó, chân thật như chưa từng có một sự tưởng tượng nào ở đây. Không gian con người chiếm một vị trí quan trọng trong việc thể hiện mộng trong thơ văn Tản Đà, nó thể hiện rõ ràng nhất những nơi mà ông muốn đến.

3.4 Thời gian nghệ thuật của những giấc mộng trong thơ văn Tản Đà Khóa luận: Phương thức thể hiện mộng trong thơ văn Tản Đà.

Sự vật và hiện tượng luôn tồn tại trong không gian và thời gian. Thời gian là thước đo, là yếu tố khẳng định tính xác định của sự vật. Mỗi thời gian đều có độ dài và hướng vận động nhất định; thông thường thời gian có ba chiều: quá khứ, hiện tại, tương lai. Đó là thời gian tự nhiên, thời gian vật lý, và khi thời gian mang tính chủ quan, mang ý đồ nghệ thuật thì sẽ trở thành thời gian nghệ thuật. Nói cách khác, thời gian nghệ thuật là một: “Hình thức nội tại của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó” [11; tr. 323], do đó, thời gian trong tác phẩm văn học mang đậm tính chủ quan. Nó hoàn toàn có thể tự tái tạo (không vận động tuyến tính như thời gian tự nhiên), kéo giãn ra hàng vạn năm hoặc thu hẹp lại chỉ trong một khoảnh khắc tùy theo ý đồ, sự sáng tạo và đặc điểm tư duy của tác giả. Vì vậy, có thể nói: “thời gian nghệ thuật thể hiện sự tự cảm thấy của con người trong thế giới” [11; tr. 323] như việc con người ta cảm nhận thời gian từ những biến đổi trong tự nhiên: sáng, trưa, chiều, tối; những chặng đường phát triển trong đời người: lúc mới sinh, khi lớn lên và lúc chết đi; những thay đổi trong đời sống chính trị: trước và sau cách mạng v.v…Thời gian nghệ thuật góp phần tạo thành thế giới nghệ thuật độc đáo cho mỗi tác giả và rộng hơn là cả một giai đoạn văn học.

Theo Trần Đình Sử thì cấu trúc của thời gian nghệ thuật có hai lớp: thời gian trần thuật và thời gian được trần thuật, giữa hai lớp này có những mối tương quan nhất định. Thời gian trần thuật bao gồm nhiều kiểu thời gian khác nhau: thời gian nhân vật, thời gian tâm lý, thời gian tập thể, thời gian lịch sử, thời gian sự kiện. Trong thời gian sự kiện có thời gian gấp khúc và cần lưu ý đến nhịp điệu thời gian của tác phẩm (tức khoảng cách giữa các sự kiện). Thời gian nghệ thuật còn có các chiều và thường được quy ước là: quá khứ, hiện tại, tương lai.

  • Bảng 3.3 Thống kê số lần xuất hiện ba chiều thời gian trong ba kiểu giấc mộng ở thơ Tản Đà

3.4.1 Thời gian quá khứ

Quá khứ là thời gian hồi tưởng, loại thời gian này xuất hiện 8 lần ở mộng thoát ly, 19 lần ở mộng yêu đương và 14 lần ở mộng về tư tưởng trong thơ Tản Đà. Như vậy, ta có thể thấy rằng thi sĩ núi Tản sông Đà dành thời gian ở quá khứ, phần nhiều là cho giấc mộng yêu đương, cho những nỗi nhớ, đó có thể là nỗi nhớ đến “người trong mộng”, nhớ bằng hữu, hoặc nhớ cả những người tình “không quen biết” hay nhớ về quá khứ của chính mình: Khóa luận: Phương thức thể hiện mộng trong thơ văn Tản Đà.

Mình ơi có nhớ ta chăng?

Nhớ mình đứng tựa bóng trăng ta sầu.

(Phong dao)

Nhớ ai truyện thú trò cười,

Nhớ ai reo, khóc, sầu, tươi bấy chầy.

(Nhớ ai)

Nhớ ai ta những lòng man mác Ta nhớ mà ai có nhớ ta!

(Cảnh đêm nhà ẩn sĩ)

Nhớ đầu xanh còn đang độ mười ba

Cười trăng bóng xế thương hoa thu tàn.

(Ôm cầm)

Mình ơi ta nhớ mà mình quên ta!

Không quen biết cũng như quen biết

(Thư trách người tình nhân không quen biết)

Xuân xưa nhớ lúc ta lên năm

Vỡ lòng đi học phố thành Nam

(Ngày xuân nhớ xuân)

Trong 14 lần xuất hiện thời gian quá khứ ở giấc mộng “kinh bang tế thế”, Tản Đà chủ yếu hồi tưởng lại quá khứ hào hùng của dân tộc với niềm tự hào xen lẫn tiếc nuối. Đó là một khoảng thời gian dân tộc ta chứng kiến sự xuất hiện của những vị anh hùng xuất chúng như Đinh Tiên Hoàng, Nguyễn Cảnh Dị, Đặng Dung, Đinh Công Tráng…Bằng tất cả sự tài ba và tấm lòng yêu nước mãnh liệt, họ đã lập nên những chiến công và góp sức trong công cuộc bảo vệ chủ quyền đất nước. Tản Đà, trước tình cảnh đáng buồn của dân tộc, ông đã tái hiện lại lịch sử và không ít lần nhớ tiếc về một thời đại vàng son của dân tộc, một quá khứ đã trôi đi rất xa: Khóa luận: Phương thức thể hiện mộng trong thơ văn Tản Đà.

Đinh Tiên Hoàng, Đinh Tiên Hoàng. Tiên Hoàng cai thần Lá cờ lau,

Thống thần dân.

(Nói về liệt đại anh hùng nước ta)

Liều gan cố chết bấy nhiêu phen Các vị tướng thần ai bậc nhất? Ông Nguyễn Cảnh Dị, bố là Chân Cùng ông Đặng Dung, bố là Tất.

(Đời Hậu Trần)

Đốt hương xem chuyện nước mình Chuyện Đinh Công Tráng, Ba Đình ngày xưa

Thuận kinh đã đổi ngọn cờ Nước non xoay chuyển bây giờ là ai?

(Ba Đình ký)

Về văn xuôi, hầu hết thời gian trong Giấc mộng lớn là thời gian hồi tưởng của “ba mươi sáu năm Nguyễn Khắc Hiếu”. Tất cả những sự kiện diễn ra trong tác phẩm đều được tác giả xác định thời gian rất rõ ràng và khoảng cách khá liền mạch: “Năm mình lên năm tuổi, tức năm Thành Thái thứ năm, ở Nam Định học vỡ lòng chữ Hán.”, “Năm lên bảy lên tám thì về quê nhà ở Sơn Tây”, “Năm mười bốn, ông anh bổ về làm giáo thụ phủ Quảng Oai (thuộc Sơn Tây), mình theo về để học.”, “Năm mười chín lại theo ông anh về tu thư Hà Nội”, “Đến năm Canh Thân là năm 32 tuổi, mới theo một nhà tư bản vào chơi đất Trung kỳ.”, “Năm 33 tuổi, tức là năm 1921 mới ra làm chủ bút Hữu Thanh diễn thuyết ở nhà Hội Trí Tri”. Việc sử dụng thời gian hồi tưởng có ý nghĩa kéo dài giấc mộng của Tản Đà.

Trần Đình Sử cho rằng: “Có nhiều hình thức hồi tưởng, nhưng không phải lúc nào trong văn học cũng có thời gian hồi tưởng, như trong cổ tích, như diễm tình trung cổ, trong tiểu thuyết đời Minh trở về trước của Trung Quốc…đều không có thời gian hồi tưởng.” [21; tr. 45]. Chiều thời gian này chỉ có từ khi ý thức ở bên trong của con người xuất hiện, và cũng phải từ chủ nghĩa hiện thực phê phán trở về sau thì thời gian hồi tưởng mới có cơ hội phát triển mạnh mẽ. Vậy nên trong văn học trung đại, thời gian quá khứ rất hiếm hoi vì lúc này người ta quan niệm thời gian vận động theo chu kỳ của đất trời. Đó là thời gian tuần hoàn, thời gian xoay vòng, lặp đi lặp lại không kết thúc: Khóa luận: Phương thức thể hiện mộng trong thơ văn Tản Đà.

Xuân đi muôn vạn hoa tàn

Xuân về thắm lại ngập tràn những hoa Việc đời thế sự đi qua

Trên đầu tuyết điểm một vài cọng sương

Chờ cho xuân hết hoa tàn

Đêm qua sân trước nở vàng cành mai

(Cáo tật thị chúng – Mãn Giác thiền sư, bản dịch của Tản Đà)

Như vậy, với tác dụng kéo dài dung lượng tác phẩm bằng cách gợi lại những gì đã qua , thời gian quá khứ là nền tảng cho những giấc mộng của Tản Đà. Một quá khứ hào hùng của dân tộc khiến ông tự hào và tiếc nuối, từ đó nhìn lại thực tại đáng buồn của dân tộc mà khởi nên cái mộng cải cách xã hội qua thơ văn; những mối tình tan vỡ trong quá khứ hình thành nên những giấc mộng yêu đương. Do đó, thời gian quá khứ là một chiều thời gian có ảnh hưởng không nhỏ đến mộng trong thơ văn Tản Đà.

3.4.2 Thời gian hiện tại

Thời gian ở hiện tại thì đa dạng hơn và cần xác định thời điểm sáng tác lẫn các dấu hiệu từ câu chữ trong tác phẩm để xác định. Trong tác phẩm nghệ thuật thì thời hiện tại đóng vai trò tất yếu vì đó chính là thời gian cảm nhận, riêng trong thơ Tản Đà nói chung và hơn một nửa thơ về mộng nói riêng thì thời gian thông thường sẽ từ hiện tại, trở về quá khứ và rồi hướng đến tương lai. Do đó mà kiểu thời gian hiện tại chiếm ưu thế trong ba chiều thời gian với 59 lần, nhiều hơn thời gian quá khứ 18 lần, thời gian tương lai 16 lần. Mộng tưởng của Tản Đà, nếu ở thời gian quá khứ là sự hồi tưởng, thời gian tương lai là những mơ ước thì thời gian hiện tại là việc ông sống trong cõi mơ, sống mơ mơ màng màng ở thực tại.

Thời gian hiện tại đối lập với quá khứ vàng son, tạo nên một nỗi cô đơn, chán chường, Tản Đà vẽ nên khung cảnh thực tại lạc lõng, một cuộc sống đầy nỗi ngán ngẩm với cảnh nghèo “Hai chục năm dư cảnh khốn cùng.” (Tiễn ông Công lên trời). Vì nghèo mà hôn nhân dang dở, sự nghiệp lận đận. Nghèo đã “khốn cùng” lắm rồi, “ngán” lắm rồi, ấy vậy mà Trời giao cho trọng trách lớn lao quá, mái tóc ngày một bạc thêm, tuổi già ngày càng đến gần mà sự nghiệp vẫn “hút mắt”, một thực tại thật đáng buồn. Và cũng chính những lúc ấy ông đã giải tỏa nỗi niềm bằng cách nói chuyện với cái bóng của mình và với hình ảnh của bản thân:

Người đâu? Cũng giống đa tình, Khóa luận: Phương thức thể hiện mộng trong thơ văn Tản Đà.

Ngỡ là ai, lại là mình với ta. Mình với ta dẫu hai như một, Ta với mình, tuy một mà hai? Năm nay mình mới ra đời,

Mà ta ra trước đã ngoài đôi mươi.

(Nói chuyện với ảnh)

Bóng ơi, mời bóng vào nhà,

Ngọn đèn khêu tỏ, đôi ta cùng ngồi.

Ngồi đây ta nói sự đời

Ta ngồi ta nói, bóng ngồi bóng nghe

(Nói chuyện với bóng)

Có thể thấy rằng, ngày từ nhan để bài thơ đã cho thấy mộng, một thế giới mộng tưởng ngay ở thực tại của nhà thơ núi Tản sông Đà, một thế giới mà chiếc bóng hay cái ảnh có tâm tính, biết lắng nghe. Hay như việc trong đêm thu thấy buồn quá, ông mộng được lên cung Trăng, bầu bạn với chị Hằng cũng là một giấc mộng ở thời gian hiện tại, có lẽ chỉ có khi thả hồn mình lên cung Quế, Tản Đà mới thấy một chữ “vui” mà tạm quên đi cảnh đời “đáng chán”:

Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi! Trần giới em nay chán nửa rồi. Cung quế đã ai ngồi đó chửa? Cành đa xin chị nhắc lên chơi. Có bầu, có bạn, can chi tủi, Cùng gió, cùng mây, thế mới vui.

(Muốn làm thằng Cuội) Khóa luận: Phương thức thể hiện mộng trong thơ văn Tản Đà.

Cũng vì chán đời, Tản Đà mộng, mộng ngay trong thực tại, mộng ngay khi mở mắt. Để rồi khi nhận ra bản thân đã chìm trong mộng những mười năm, nhưng cũng như Lưu Nguyễn tiếc nhớ cõi Thiên Thai, khi tỉnh dậy, ông tiếc cái mộng ấy, ông không muốn tỉnh dậy. Ông từ chối việc sống ở đời thực, phủ nhận thời gian hiện thực. Ta dễ nhận ra sự bàng hoàng xen lẫn tiếc nuối của Tản Đà khi phải tỉnh mộng:

Giấc mộng mười năm đã tỉnh rồi Tỉnh rồi lại muốn mộng mà chơi. Nghĩ đời lắm nỗi không bằng mộng Tiếc mộng bao nhiêu lại ngán đời.

(Nhớ mộng)

Tản Đà là nhà thơ đầu tiên “đem văn chương ra bán phố phường”, thế nhưng sống bằng cái nghiệp ấy cũng thiếu trước hụt sau, vậy nên ông ngán nỗi sự đời, “nguyên lúc canh ba nằm một mình”, ông mơ ước được lên hầu Trời để giải bày cho Trời nghe, nghe để hiểu cuộc sống hiện tại của một vị “trích tiên” khổ sở như thế nào:

Văn chương hạ giới rẻ như bèo Kiếm được đồng lãi thực rất khó. Kiếm được thời ít tiêu thời nhiều Làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu.

(Hầu Trời)

Song, Tản Đà vẫn là con người thực tại, dẫu có chán nó nhưng vẫn phải đối mặt với nó, có trách nhiệm với nó. Đó là lý do vì sao, ông tự nhận mình được Trời giao phó một trọng trách thiêng liêng:

Trời rằng: “Không phải là Trời đày.

Trời định sai con một việc này

Là việc “thiên lương” của nhân loại, Cho con xuống thuật cùng đời hay.”

(Hầu Trời)

Về cõi mộng ở thời gian hiện tại của Tản Đà, chúng tôi nhận thấy đôi khi “Trong giấc mộng ấy, liền đứt mê man, ly hợp không thường, không thể tính rõ số ngày tháng” (Tản đà văn tập). Nhưng cũng có khi ông nhớ rõ thời khắc mình đi vào trong những giấc mộng, như trong bài Hầu Trời, giấc mộng lên trời bắt đầu và kết thúc gọn ghẽ chỉ trong một đêm, từ “Nguyên lúc canh ba nằm một mình,” đến khi “Tiếng gà xao xác, tiếng người dậy”.

Như vậy, thời gian hiện tại trong thơ văn Tản Đà không dừng lại ở khoảnh khắc tâm sự mà còn là dụng ý nghệ thuật của người nghệ sỹ. Những lần hiếm hoi phải sống với hiện tại, ông nhìn vào nó, và chán ngán vô cùng, thời gian hiện tại chính là lúc ông ý thức được tình hình đất nước và cái cảnh nghèo, cảnh già mà chưa lập được nghiệp lớn. Thế là ông mộng, vậy nên mới có người nói Tản Đà là “người mộng trong cõi thực”.

3.4.3 Thời gian tương lai Khóa luận: Phương thức thể hiện mộng trong thơ văn Tản Đà.

Thời gian ở tương lai gắn liền với các viễn cảnh, có khi được thể hiện bằng ước mơ hoặc những dự cảm về tương lai của tác giả, kiểu thời gian này xuất hiện nhiều nhất ở thơ Tản Đà trong giấc mộng “kinh bang tế thế”, với 20 lần. Tuy xuất hiện ít hơn thời gian quá khứ và thời gian hiện tại nhưng thời gian tương lai là một phần không thể thiếu trong thế giới mộng của nhà thơ núi Tản sông Đà, tương lai chính là nơi ông thể hiện rõ nhất những mộng ước.

Từ quá khứ vàng son đến hiện thực “đáng chán”, cậu ấm Hiếu ngời ngời hoài bão ngày nào nay đã nhiều lần không còn tin vào khả năng của bản thân và tiềm năng phát triển của đất nước, ấm Hiếu mong mình không phải làm người nữa trong tương lai xa nhất, ở kiếp sau:

Kiếp sau xin chớ làm người

Làm đôi chim nhạn tung trời mà bay

(Hơn nhau một chén rượu mời)

Song, Tản Đà chán đời nhưng không bỏ đời, ông vẫn luôn lo lắng cho vận mệnh của dân tộc. Đứng trước mâu thuẫn giữa khát vọng và khả năng, thơ văn Tản Đà, xét về mặt tổng thể gần như đã có ý đi theo kiểu thời gian chu kỳ trong văn học trung đại, với niềm tin mọi sự vật/hiện tượng sau khi trải qua những nốt nhạc trầm buồn rồi sẽ quay trở về giai đoạn thăng hoa trong quá khứ. Tản Đà đã có những dự cảm, những nỗi lo cho vận mệnh đất nước:

Non sông đứng ngắm lệ nhường vơi

Việc nhà chung cả ai ai đó

Ai có cùng ta sẽ liệu bồi?

(Địa đồ rách thứ tư)

Ngày xuân thêm tuổi càng cao

Non xanh nước biết càng ngao ngán lòng

(Xuân tứ)

Tương lai còn là thời gian cho những lời hứa, lời thề hẹn:

Nghìn năm giao ước kết đôi,

Non non nước nước không nguôi lời thề

(Thề non nước) Hai chữ Thiên lương thằng Hiếu nhớ Dám xin không phụ Trời trông mong.

(Tiễn ông Công lên trời) Khóa luận: Phương thức thể hiện mộng trong thơ văn Tản Đà.

Thời gian tương lai có những dự cảm thì cũng có những ước mơ. Trong Giấc mộng con II, anh thư ký Nguyễn Khắc Hiếu (tên nhân vật) sau cuộc đi chơi chợ Trời đã thầm nghĩ rằng: “cái tư tưởng đại đồng ở hạ giới mà có ngày được thực hiện như thế chăng, thời thật là hạnh phúc cho nhân loại biết bao!” bởi vì “Đã đại đồng thời cũng có lẽ hòa bình”, mà đã hòa bình thì dân tộc ta sẽ không còn chịu cảnh đô hộ của bất cứ nước nào cả, có giữ vững chủ quyền thì mới phát triển được.

Như vậy, với thời gian trong tương lai, thời gian của những gì chưa xảy đến, tâm hồn bay bổng nhiều mộng ước của Tản Đà có cơ hội được tự do mơ tưởng. Cũng có những dự cảm không hay, có những niềm tin về một ngày mai tươi sáng hơn của đất nước, có cả những lời hứa. Riêng về thơ, thơ Tản Đà đã thoát khỏi thi pháp trung đại phần nào ở quan niệm thời gian, thời gian trong thơ Tản Đà được chia thành quá khứ – hiện tại – tương lai chứ không còn là thời gian chu kỳ thường thấy ở văn học trung đại. Tản Đà có một cách diễn đạt về thời gian khá độc đáo và xuất hiện với tần suất khá nhiều, mà ông mộng thì cũng hết cả các chiều thời gian. Và sự phóng túng trong tư tưởng và tính cách của Tản Đà đã đem lại một cách cảm nhận và thể hiện riêng về không gian và thời gian.

Tiểu kết

Về những phương thức thể hiện mộng trong thơ văn tản đà, chúng tôi chủ yếu tìm hiểu về những phương thức mà ông đã sử dụng cho cả thơ và văn, đó là: thể loại, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật và ngôn ngữ. Có thể đúc kết lại rằng thơ về mộng của Tản Đà rất đa dạng về thể và ở từng thể thơ, ông đều sử dụng rất thành thạo. Ở mảng văn xuôi về mộng nói riêng và trong văn xuôi nói chung, có thể nói, cống hiến quan trọng của Tản Đà là sự cách tân các thể loại đã có (ký, tiểu thuyết) và đặt nền móng cho các thể loại văn xuôi mới (tự truyện, truyện viễn tưởng, truyện đối thoại). Xét về ngôn ngữ, ngôn ngữ trong thơ viết về mộng của Tản Đà sử dụng khá nhiều những biện pháp tu từ như: nhân hóa, so sánh, ẩn dụ, phép điệp; bên cạnh đó, văn xuôi của ông là một lối văn giàu nhạc điệu. Không gian nghệ thuật của những giấc mộng trong thơ văn Tản Đà nổi bật nhất là lớp không gian thiên nhiên và không gian con người. Từ không gian thiên nhiên Tản Đà còn kéo giãn ra, nâng rộng lên thành không gian vũ trụ. Ở không gian con người, những nơi ông đã từng đặt chân qua và cả những gì mà tâm tưởng ông có thể đạt đến đều được ông viết lại với một tâm hồn lãng mạn. Bên cạnh đó, thời gian nghệ thuật của những giấc mộng trong thơ văn Tản Đà cũng tuân theo ba chiều thời gian thường thấy trong văn học hiện đại: quá khứ, hiện tại, tương lai. Thời gian quá khứ với những hồi tưởng, thời gian hiện tại lạc lõng với những trăn trở, thời gian tương lai gắn liền với các mộng ước. Như vậy, những giấc mộng trong thơ văn Tản Đà được cụ thể hóa, nghệ thuật hóa bởi thể loại, ngôn ngữ, không gian, thời gian.

KẾT LUẬN Khóa luận: Phương thức thể hiện mộng trong thơ văn Tản Đà.

Nguyễn Tuân trong bài viết Tản Đà, một kiếm khách đã nói về sự hiện diện của Tản Đà trên cõi đời này như sau: “Như một giọi mật gấu làm rẽ khối nước nông tụ trong lòng đĩa mỗi khi rỏ xuống từ một bề cao, đấng tài hoa rớt vào đám người thường, để cho họ phải lánh xa mình với bao nhiêu là kinh hoảng” [7; tr. 69]. Thời niên thiếu không cha không mẹ, tình yêu tan vỡ, công danh trắc trở, Tản Đà vẫn giữ cái cá tính đặc biệt, một cái “ngông” rất Tản Đà mà có lần Ngô Tất Tố nói rằng chẳng ai thắc mắc về nó, người trong nghề đều chấp nhận và xem việc Tản Đà ngông là điều hiển nhiên. Có người “tôn kính vào bậc thầy” và cũng có người “kinh hoảng”, nhưng không ai có thể phủ nhận việc Tản Đà đã tạo nên một hiện tượng chưa từng có trong lịch sử văn học và đóng góp đáng kể cho tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc. Trong hơn năm mươi năm sống trên cõi đời, Tản Đà đã kịp để lại cho văn học Việt Nam những tác phẩm với số lượng nhiều, thể loại đa dạng, phong phú về nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật. Do đó, chúng tôi hoàn toàn đồng ý với nhận định của Văn Tâm trong Tản Đà khối mâu thuẫn lớn, rằng “Tản Đà đáng được chúng ta dành cho một cương vị vẻ vang đặc biệt trong lịch sử văn học dân tộc.” [22; tr. 431].

Ở phương diện nội dung, mộng trong thơ văn Tản Đà là những mộng tưởng, ước vọng. Ta dễ dàng thấy có một đường dây nối liền cõi mộng trong các tác phẩm văn học từ trung đại đến hiện đại, mà Tản Đà chính là điểm nối ở giữa; hay nói cách khác, mộng trong thơ văn Tản Đà tiếp biến mộng trong văn học trung đại và các nhà thơ mới đã tiếp thu mộng của Tản Đà. Mộng trong thơ văn Tản Đà, trong sự tìm hiểu của mình, chúng tôi chia thành ba kiểu mộng: mộng thoát ly, mộng tình yêu và mộng cải cách xã hội. Với giấc mộng thoát ly, Tản Đà nhiều lần cho rằng “nhân sinh như mộng”, mà cái điểm xuất phát của quan niệm ấy là từ sự chán đời, để rồi ông mộng được lên những cõi vô thực: cung Quế, Bồng Lai. Và từ cuộc đời thực đầy sự “xê dịch”, Tản Đà đã mang giấc mộng viễn du vào trong văn thơ. Về giấc mộng yêu đương, giấc mộng được hình thành nên từ việc Tản Đà tự nhận mình là “giống đa tình”, ta cần lưu ý đến bốn mối tình của ông ở cuộc đời thực, đã được ông đưa vào thơ văn. Những mối tình ấy đều tan vỡ, thế là thi sĩ núi Tản sông Đà uớc vọng được gặp hồng nhan tri kỷ trong cõi mộng, mội nỗi khát khao cứ bám riết lấy ông trong những đêm trăng quạnh quẽ. Tản Đà cần người tri kỷ, không chỉ để thỏa cái bản tính đa tình của mình, mà còn vì ông cho rằng, tri kỷ sẽ hiểu được cái tư tưởng lớn của ông. Tản Đà chán đời nhưng không bỏ đời, ông mộng làm một “nhà văn học kiêm triết học ở Đông Dương”, mong muốn được rao giảng, truyền bá “thuyết Thiên lương” mà Trời đã giao phó, và mơ về một “xã hội chủ nghĩa không tưởng”, về thế giới “đại đồng”. Đó một giấc mộng được khởi từ lòng yêu nước, thế nên dù còn nhiều hạn chế vì vốn hiểu biết về chính trị lẫn triết học có phần hạn hẹp của giai cấp tiểu tư sản nhưng giấc mộng “kinh bang tế thế” kiểu mới của Tản Đà vẫn rất đáng trân trọng. Như vậy, qua những biểu hiện và tính chất của mộng trong thơ văn Tản Đà, ta có thể đưa đến kết luận rằng: mộng trong thơ văn ông là mộng có quy mô, có cơ sở, có sắp xếp, có ý nghĩa, có đóng góp và rất đa dạng, đặc sắc, chứ không phải là “những chuyện ngông cuồng” hay “cái mộng kỳ quặc” như Phạm Quỳnh đã nhận xét. Và có thể nói, trước hay sau Tản Đà, thật không có bất cứ văn thi sĩ nào có cõi mộng đặc biệt như thế. Khóa luận: Phương thức thể hiện mộng trong thơ văn Tản Đà.

Về những phương thức thể hiện mộng trong thơ văn tản đà, chúng tôi chủ yếu tìm hiểu về những biện pháp nghệ thuật mà ông đã sử dụng cho cả thơ và văn, đó là: thể loại, ngôn ngữ, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật. Nói về thể loại, thơ về mộng của Tản Đà rất đa dạng về thể và ở từng thể thơ ông đều đạt đến trình độ nghệ thuật cao. Có một điều đáng lưu ý là Tản Đà thường lựa chọn những thể có khả năng co giãn như trường thiên, lục bát, hát nói để thỏa sức diễn cái mộng của mình mà không bị gò bó trong niêm luật, số câu. Ở mảng văn xuôi về mộng nói riêng và trong văn xuôi nói chung, có thể nói, cống hiến quan trọng của Tản Đà là sự cách tân các thể loại đã có và đặt nền móng cho các thể loại văn xuôi mới. Thể loại trong các tác phẩm văn xuôi của Tản Đà rất được sự quan tâm của giới nghiên cứu phê bình văn học, và riêng về thể loại của ba tập giấc mộng thì vẫn chưa có sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu. Xét về ngôn ngữ, giữa thơ và văn xuôi thì ngôn ngữ thơ Tản Đà đạt đến trình độ nghệ thuật cao hơn. Khi nói về mộng, ông sử dụng khá nhiều biện pháp tu từ trong sự lựa chọn nhất định như: nhân hóa, so sánh, ẩn dụ, phép điệp, bên cạnh đó ông cũng sử dụng đại từ phiếm chỉ. Về ngôn ngữ trong văn xuôi, ở buổi đầu hình thành, nền văn xuôi quốc ngữ đang trong thời kỳ phôi thai, nên xét về mặt ngôn ngữ vẫn chưa có gì đặc sắc, chưa đạt đến trình độ nghệ thuật cao. Vậy nên chúng tôi chỉ tìm hiểu về ngôn ngữ câu văn xuôi của Tản Đà, đó là một lối văn còn chịu ảnh hưởng của Hán học, giàu nhạc điệu. Bên cạnh đó, không gian nghệ thuật của những giấc mộng trong thơ văn Tản Đà theo chúng tôi thì có cả không gian thiên nhiên và không gian con người. Không gian thiên nhiên là quê hương ông với núi Tản sông Đà, không gian dưới trăng và từ không gian thiên nhiên Tản Đà còn kéo giãn ra, nâng rộng lên thành không gian vũ trụ. Ở không gian con người, ông đã thể hiện rất chi tiết những nơi mình đã từng đặt chân đến và những nơi mà tâm tưởng mình có thể đạt đến bằng một tâm hồn lãng mạn thoát ly. Thời gian nghệ thuật của những giấc mộng trong thơ văn Tản Đà cũng tuân theo ba chiều thời gian thường thấy trong văn học hiện đại: quá khứ, hiện tại, tương lai. Thời gian quá khứ với những hồi tưởng, những nỗi nhớ gắn với giấc mộng tình cảm; thời gian hiện tại lạc lõng với những trăn trở, chán đời và dẫn đến mộng thoát ly; thời gian tương lai mở rộng ra bởi mộng ước, sự hy vọng, những dự cảm và lời hứa. Như vậy, những giấc mộng trong thơ văn Tản Đà được cụ thể hóa, nghệ thuật hóa bởi những thể loại, ngôn ngữ, không gian, thời gian khi viết mộng, và cho dù là bất cứ phương thức nào, ông đều lựa chọn theo tiêu chí đơn giản, tự do nhưng có hiệu quả biểu đạt và giá trị nghệ thuật cao.

Với những gì ông thể hiện trong mộng, cả về nội dung lẫn nghệ thuật, ta có thể nhấn mạnh rằng: Tản Đà, một dấu nối tài hoa trong lịch sử văn học Việt Nam, một cái Tôi “ngơ ngác đi tìm mình trong sự bất hòa giữa thế giới hiện thực và lý tưởng” [29; tr. 6]. Và mộng trong thơ văn Tản Đà, vẫn sẽ còn nguyên giá trị, vẫn là mảnh đất màu mỡ cần được khám phá. Khóa luận: Phương thức thể hiện mộng trong thơ văn Tản Đà.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Mộng trong thơ văn Tản Đà

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x