Khóa luận: Mở rộng thị trường tiêu thụ tại công ty dịch vụ hàng hải

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Mở rộng thị trường tiêu thụ tại công ty dịch vụ hàng hải hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Một số giải pháp nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ tại công ty dịch vụ hàng hải phương đông dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

LỜI MỞ ĐẦU

Xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế đã và đang trở thành xu hướng chung của tất cả các quốc gia, các vùng lãnh thổ. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng ấy. Ngày 7/11/2021 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO. Gia nhập WTO tức là Việt Nam phải đón nhận những thời cơ cũng như chấp nhận cả những thách thức. Đó là cơ hội tích cực phát huy nội lực, thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư nước ngoài; tạo điều kiện cho đất nước có vị thế bình đẳng so với các quốc gia khác; quảng bá hình ảnh Việt Nam tới tất cả các nước trong khu vực và trên thế giới. Mặt khác, trong quá trình hội nhập, các mặt hàng của ta cũng chịu cạnh tranh khốc liệt với hàng ngoại; đồng thời phải đối mặt với rất nhiều luật pháp quốc tế, từ đó dẫn đến việc gặp phải rất nhiều các vụ kiện, tranh chấp quốc tế. Biết nắm bắt cơ hội, vượt qua thử thách để bắt kịp với tốc độ phát triển của thế giới, hoặc tiếp tục bị tụt hậu trong dòng chảy của thời đại, đó chính là vấn đề chúng ta cần giải quyết.

Là đơn vị hoạt động trong lĩnh vực Đại lý hàng hải chi nhánh Công ty cổ phần đại lý hàng hải Việt Nam – Dịch vụ hàng hải Phương Đông đã không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động và khẳng định được thương hiệu của mình trên thị trường đại lý hàng hải để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.

Được sự giúp đỡ của các cô chú trong Công ty, sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy giáo em đã thực hiện đề tài tốt nghiệp: “Một số giải pháp nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ tại công ty dịch vụ hàng hải phương đông”

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG VÀ CÔNG TÁC TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

1. Khái niệm về thị trường.

1.1. Khái niệm thị trường.

Thị trường là một phạm trù kinh tế gắn liền với nền sản xuất hàng hóa. Có nhiều quan điểm về thị trường cũng như có nhiều tài liệu bàn về thị trường. Khóa luận: Mở rộng thị trường tiêu thụ tại công ty dịch vụ hàng hải.

Theo Philip Kotler trong cuốn marketing căn bản thì thị trường bao gồm tất cả các khách hàng tiểm ẩn cùng có một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia, trao đổi để thỏa mãn nhu cầu và mong muốn đó.

Theo quan điểm này quy mô thị trường sẽ phụ thuộc vào số người có cùng nhu cầu và mong muốn, vào lượng thu nhập, lượng tiền mà họ sẵn sàng bỏ ra để mua sắm hàng hóa, để thỏa mãn nhu cầu mua sắm đó. Quy mô thị trường không phụ thuộc vào số người có nhu cầu và mong muốn và có những tài nguyên được người khác quan tâm, và sẵn sàng đem lại những tài nguyên đó để đổi lấy cái mà họ mong muốn.

Lúc đầu thuật ngữ thị trường được hiểu là nơi người mua và người bán gặp nhau để trao đổi hàng hóa, chẳng hạn như một cái chợ của làng. Các nhà kinh tế sử dụng thuật ngữ thị trường để chỉ một tập thể những người mua và người bán giao dịch với nhau về một sản phẩm hay một lớp sản phẩm cụ thể, như thị trường nhà đất, thị trường ngũ cốc… Tuy nhiên, những người làm marketing lại coi người bán họp thành ngành sản xuất, coi người mua họp thành thị trường.

Những người kinh doanh sử dụng thuật ngữ thị trường để chỉ nhóm khách hàng khác nhau. Họ nói về thị trường nhu cầu (chẳng hạn như thị trường thực phẩm thường ngày), thị trường sản phẩm (thị trường giầy dép), thị trường nhân khẩu (như thị trường thanh niên), và thị trường địa lý (thị trường Việt Nam) hay họ còn mở rộng khái niệm để chỉ cả những nhóm không phải khách hàng như thị trường cử tri, thị trường sức lao động.

Thực tế thì những nền kinh tế hiện đại đều hoạt động theo nguyên tắc phân công lao động trong đó mỗi người chuyên sản xuất một thứ gì đó, nhận tiền thanh toán rồi mua những thứ cần thiết bằng số tiền đó. Như vậy là nền kinh tế hiện đại có rất nhiều thị trường. Chủ yếu các nhà sản xuất tìm đến các thị trường tài nguyên (Thị trường nguyên liệu, thị trường sức lao động, thị trường tiền tệ…), mua tài nguyên, biến chúng thành hàng hóa dịch vụ, bán chúng cho những người trung gian để những người trung gian sẽ bán chúng cho những người tiêu dùng. Người tiêu dùng bán sức lao động của mình lấy tiền thu nhập để thanh toán cho những hàng hóa và dịch vụ mà họ mua. Nhà nước là một thị trường khác có một số vai trò. Nhà nước mua hàng hóa từ các thị trường tài nguyên, thị trường nhà sản xuất và thị trường người trung gian, thanh toán tiền cho họ, đánh thuế các thị trường đó (kể cả thị trường người tiêu dùng), rồi đảm bảo những dịch vụ công cộng cần thiết. Như vậy là mỗi nền kinh tế quốc gia và toàn bộ nền kinh tế thế giới hợp thành những tập hợp thị trường phức tạp tác động qua lại với nhau và liên kết với nhau thông qua các quá trình trao đổi. Khóa luận: Mở rộng thị trường tiêu thụ tại công ty dịch vụ hàng hải.

Theo khái niệm và các nhà kinh doanh thường dùng thì thị trường chứa tổng cung, tổng cầu về một loại hàng hóa hay một nhóm hàng hóa nào đó. Trên thị trường luôn luôn diễn ra các loại hoạt động mua và bán và các quan hệ hàng hóa, tiền tệ.

  • Có thể nói quan điểm chung nhất là:

Thị trường bao gồm toàn bộ các hoạt động trao đổi hàng hóa được diễn ra trong sự thống nhất hữu cơ với mối quan hệ do chúng phát sinh gắn liền với một không gian nhất định.

Hành vi cơ bản của thị trường là hành vi mua bán. Thông qua hoạt dộng mua bán hàng hóa (sản phẩm vật chất và sản phẩm dich vụ) người mua tìm được cái đang cần và người bán bán được cái mình có với giá thỏa thuận.

Hành vi đó diễn ra trong một không gian nhất định và tạo ra những mối quan hệ trong nền kinh tế: Quan hệ giữa nhà sản xuất với nhà sản xuất, quan hệ nhà sản xuất với người tiêu dùng, quan hệ giữa người tiêu dùng với nhau…

Thị trường có vai trò to lớn thúc đẩy sự phát triển mở rộng sản xuất và lưu thông hàng hóa. Một nền kinh tế hàng hóa có thể phát triển mạnh mẽ khi có đủ các dạng thị trường: thị trường hàng tiêu dùng, thị trường tiền tệ, thị trường người lao động…

  • Thị trường được phân loại như sau:

Thị trường tiềm năng: là tập hợp những người tiêu dùng thừa nhận có đủ mức độ quan tâm đến một mặt hàng nhất định của thị trường.

Thị trường mục tiêu: là một hoặc vài đoạn thị trường mà doanh nghiệp lựa chọn và quyết định tập trung nỗ lực marketing vào đó nhằm đạt mục tiêu kinh doanh của mình. Để lựa chọn đúng thị trường mục tiêu, doanh nghiệp phải quyết định sẽ lựa chọn loại khách hàng nào và có bao nhiêu loại khách hàng được lựa chọn.

1.1.2. Vai trò của thị trường: Khóa luận: Mở rộng thị trường tiêu thụ tại công ty dịch vụ hàng hải.

Đối với doanh nghiệp: doanh nghiệp và thị trường có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, mối quan hệ này là mối quan hệ hữu cơ. Mục đích của các doanh nghiệp này là lợi nhuận và lợi nhuận càng cao càng tốt. Doanh nghiệp muốn đạt đựơc lợi nhuận cao thì phải bán đựơc hàng hóa, muốn bán được hàng hóa thì phải tiếp cận với thị trường. Thị trường tiêu thụ hàng hóa càng lớn thì lượng hàng hóa bán ra càng nhiều và ngược lại thị trường eo hẹp thì sản phẩm bán được ít hơn, ứ đọng vốn…

Đối với sản xuất hàng hóa: thị trường là khâu tất yếu của sản xuất hàng hóa, là chiếc cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng. Đồng thời nó là khâu quan trọng nhất đối với tái sản xuất hàng hóa, thị trường còn là nơi kiểm nghiệm chi phí sản xuất hàng hóa, chi phí lưu thông, thực hiện yêu cầu của quy định tiết kiệm lao động xã hội.

Đối với kinh doanh: trong thị trường cạnh tranh mỗi doanh nghiệp không thể làm thay đổi thị trường mà ngược lại họ phải tiếp cận để thích ứng với thị trường. Vậy thị trường là cơ sở để các doanh nghiệp nhận biết được nhu cầu xã hội và đánh giá hiệu quả kinh doanh của mình.

Trong quản lý kinh tế thị trường đóng vai trò vô cùng quan trọng nó giúp nhà nước hoạch định các chính sách điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế và vi mô đối với các doanh nghiệp.

1.1.3 Chức năng của thị trường

1.1.3.1 Chức năng thừa nhận:

Khi hoạt động mua bán diễn ra tức là đã được thị trường thừa nhận. Thị trường thừa nhận tổng sản lượng hàng hóa đưa ra thị trường thông qua cung cầu, thừa nhận giá trị sử dụng của hàng hóa. Đồng thời thông qua quy luật kinh tế thị trường còn thực hiện kiểm tra, kiểm nghiệm quá trình tái sản xuất, quá trình mua bán.

1.1.3.2. Chức năng thực hiện Khóa luận: Mở rộng thị trường tiêu thụ tại công ty dịch vụ hàng hải.

Thị trường thực hiện hành vi mua bán, trao đổi hàng hóa, tức là thực hiện cân bằng cung cầu từng thứ hàng hóa, thực hiện giá trị và thực hiện việc trao đổi giá trị.

1.1.3.3. Chức năng điều tiết kích thích thực hiện tại chỗ

  • Thông qua nhu cầu thị trường mà các nguồn lực sản xuất như: vốn, lao động, tư liệu sản xuất di chuyển từ ngành này sang ngành khác, từ sản phẩm này sang sản phẩm khác để có lợi nhuận cao hơn.
  • Thông qua các hoạt động của các quy luật kinh tế thị trường, người sản xuất muốn tạo được lợi thế trên thị trường phải tận dụng tối đa lợi thế cạnh tranh của mình để tiết kiệm chi phí giảm giá thành.

1.1.3.4. Chức năng thông tin:

Thị trường thông tin về tổng quan nhu cầu đối với từng loại hàng hóa trên thị trường, chất lượng sản phẩm, các yếu tố khác và hướng vận động của hàng hóa.

1.2. Phân loại thị trường

Một trong những điều kiện cơ bản để tổ chức thành công hoạt động sản xuất kinh doanh là phải hiểu rõ đặc điểm, tính chất của thị trường. Phân loại thị trường là việc phân chia thị trường theo các tiêu thức khác nhau thành những thị trường nhỏ hơn và tương đối đồng nhất. Có thể phân loại thị trường thành các tiêu thức sau:

Phân loại theo khu vực địa lý:

  • Thị trường địa phương
  • Thị trường khu vực
  • Thị trường trong nước
  • Thị trường quốc tế.

Phân loại thị trường theo tính chất tiêu dùng hàng hóa trong mối quan hệ với thu nhập

  • Thi trường hàng xa xỉ: Nhu cầu tăng nhanh khi thu nhập tăng
  • Thị trường hàng thiếu yếu: Nhu cầu ít biến động khi thu nhập tăng hoặc giảm
  • Thị trường hàng hóa cấp thấp: Nhu cầu giảm nhanh khi thu nhập của người dân tăng lên.

Phân loại theo mục đích sử dụng của hàng hóa:

  • Thị trường hàng hóa tiêu dùng: Phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng
  • Thị trường hàng hóa tư liệu sản xuất: Phục vụ cho nhu cầu sản xuất.

Phân loại theo mối quan hệ với quá trình tái sản xuất:

  • Thị trường đầu ra: là thị trường sản phẩm của doanh nghiệp
  • Thị trường đầu vào: là thị trường cung cấp các yếu tố phục vụ quá trình sản xuất của doanh nghiệp bao gồm thị trường lao động, thị trường vốn, thị trường công nghệ, thị trường tư liệu sản xuất.

Phân loại theo tính chất cạnh tranh Khóa luận: Mở rộng thị trường tiêu thụ tại công ty dịch vụ hàng hải.

Thị trường độc quyền: gồm có độc quyền mua và độc quyền bán. Trong thị trường độc quyền bán chỉ có một người bán và có nhiều người mua quyền thương lượng của họ rất mạnh.

Thị trường cạnh tranh hoàn hảo: có rất nhiều người bán và người mua sản phẩm, sản phẩm đồng nhất, giá sản phẩm đồng nhất, giá cả sản phẩm của ngành do cung cầu quy định, không có một người mua hay một người bán nào có quyền ảnh hưởng đến giá cả. Họ phải chấp nhận giá cả.

Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo: Có trạng thái trung gian giữa hai loại thị trường trên. Thị trường cạnh tranh có thể chia thành hai loại thị trường cạnh tranh độc quyền và thị trường cạnh tranh độc quyền tập đoàn.

Ngoài ra người ta còn phân loại thị trường theo nhiều tiêu thức khác nhau như theo sản phẩm, theo ngành hàng.

1.3. Nghiên cứu thị trường Khóa luận: Mở rộng thị trường tiêu thụ tại công ty dịch vụ hàng hải.

1.3.1. Khái niệm

Nghiên cứu thị trường là quá trình thu thập, điều tra tổng hợp số liệu thông tin về yếu tố cấu thành thị trường, tìm kiếm quy luật vận động và những nhân tố ảnh hưởng đến thị trường ở một thời điểm hoặc một thời gian nhất định trong lĩnh vực lưu thông để từ đó xử lý các thông tin, từ đó rút ra những kết luận và hình thành những quyết định đúng đắn cho việc xây dựng chiến lược kinh doanh.

Nghiên cứu thị trường là công việc hết sức phức tạp bởi vì các thông tin và các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường đều có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau. Chẳng hạn khi tìm hiểu về đặc điểm của hàng hóa thì không thể bỏ qua mối quan hệ người mua và phương thức thanh toán.

1.3.2. Ý nghĩa và mục tiêu nghiên cứu thị trường

1.3.2.1. Ý nghĩa.

Nghiên cứu thị trường nhằm giải đáp các vấn đề sau:

  • Đâu là thị trường có triển vọng nhất đối với sản phẩm của doanh nghiệp hay lĩnh vực nào phù hợp nhất đối với các sản phẩm của doanh nghiệp.
  • Khả năng bán sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường là bao nhiêu
  • Cần có những biện pháp cải tiến như thế nào về quy cách, mẫu mã, chất lượng, bao bì, mã ký hiệu, quảng cáo như thế nào cho phù hợp.

1.3.2.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3.2.2.1. Nghiên cứu đặc điểm của hàng hóa

Nội dung các mục tiêu này bao gồm việc nghiên cứu công dụng, phẩm chất, bao bì, nhãn hiệu và khả năng cạnh tranh của hàng hóa. Khóa luận: Mở rộng thị trường tiêu thụ tại công ty dịch vụ hàng hải.

Trước khi quyết định tham gia vào thị trường một loại hàng hóa nào đó, nhà sản xuất cần phải biết người tiêu dùng món hàng đó vào việc gì, chất lượng ra sao. Nếu không biết được nhà kinh doanh sẽ thua thiệt, hàng hóa sẽ tồn đọng và vốn sẽ không thể vòng quay được. Đặc biệt hàng sản xuất để xuất khẩu thì vấn đề chữ tín đối với chất lượng sản phẩm phải được quan tâm đặc biệt, nếu không sẽ dẫn đến sự mất tín nhiệm và khó lấy lại chữ tín trên thương trường.

Vì công dụng của hàng hóa là khác nhau nên mức độ chịu ảnh hưởng tác động của thị trường đến chúng cũng khác nhau, chẳng hạn khi có biến đổi về chính trị xã hội thì thị trường vàng biến đổi nhanh hơn thị trường tư liệu sản xuất.

Ngoài ra khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển mà công dụng của hàng hóa ngày càng đa dạng nên nhu cầu ngày càng tăng vì vậy doanh nghiệp nên tính toán cách chuẩn bị lực lượng để đón đúng thời cơ.

Bên cạnh công dụng và phẩm chất hàng hóa, nhà kinh doanh cần phải lưu tâm đến hình thức bao bì và nhãn hiệu hàng hóa. Trong cơ chế quan liêu bao cấp các doanh nghiệp nhà nước ít quan tâm đến vấn đề này, nên hàng hóa ít được ưa chuộng. Những hàng hóa có uy tín trên thị trường, hay những nhãn hiệu được người tiêu dùng sùng bái và lựa chọn, đều bị các tư nhân làm hàng giả hay giả nhãn hiệu nhằm kiếm lời. Để tránh tình trạng đó, các doanh nghiệp phải đăng ký và giữ bản quyền sản phẩm hay dịch vụ của mình trên thị trường. Đồng thời nhà sản xuất có quyền khiếu nại, đòi bồi thường do kẻ làm giả gây ra.

1.3.2.2.2. Nghiên cứu về số lượng sản phẩm

Nắm bắt được số lượng hàng hóa tung ra thị trường là thành công đối với các doanh nghiệp sản xuất. Trên cơ sở đó nhà sản xuất khai thác tối đa khả năng tiêu thụ sản phẩm ở người tiêu dùng và xây dựng chiến lược sản phẩm hợp lý. Việc nghiên cứu lượng hàng hóa trên thị trường bao gồm việc xác định lượng hàng hóa có thể tiêu thụ được, sự biến động của hàng hóa trên thị trường và sự phân phối khối lượng hàng hóa của doanh nghiệp trên các khu vực thị trường khác nhau của thị trường.

  • Việc xác định số lượng sản phẩm tung ra thị trường được tính như sau:

Số lượng hàng trên thị trường= Số lượng sản xuất+ số lượng nhập khẩu – số lượng xuất khẩu.

Khi nghiên cứu hàng hóa trên thị trường cần chú ý tìm hiểu mức độ cung cầu thông qua độ phản xạ của người tiêu dùng đối với việc thay đổi giá cả, đồng thời nắm vững đặc điểm kinh tế, xã hội, tâm lý của người tiêu dùng để kịp thời điều chỉnh lượng cung cầu cho thích hợp từng mặt hàng, từng đối tượng tiêu dùng. Khóa luận: Mở rộng thị trường tiêu thụ tại công ty dịch vụ hàng hải.

Việc phân loại người tiêu dùng thành nhiều nhóm có thu nhập khác nhau tạo điều kiện dễ dàng cho việc xác định số lượng cầu ở mỗi nhóm, đồng thời tiến hành phân loại giá cả sao cho phù hợp với từng nhóm ngừơi tiêu dùng.

1.3.2.2.3. Nghiên cứu về phương thức bán hàng.

Phương thức bán hàng là việc trao đổi chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa, hình thức giao dịch mua bán ngày càng trở nên phong phú. Sau đây là một số phương thức bán hàng

  • Bàn hàng trực tiếp:

Đặc điểm của phương thức này là việc mua bán xảy ra ở mọi nơi mọi lúc. Hàng hóa được bán trực tiếp từ người bán sang người mua, hành vi mua và bán tách rời nhau. Phương thức này thường gặp dưới các hình thức bán lẻ.

  • Bán hàng qua trung gian:

Việc mua bán không diễn ra trực tiếp giữa người mua và người bán mà phải qua người thứ ba. Người thứ ba này được quyền nhận hoa hồng giữa người bán hoặc người mua, có khi nhận được từ hai bên.

Trong phương thức này chúng ta thường gặp các hình thức đại lý: đại lý ủy thác, đại lý hoa hồng, đại lý ký gởi. Ngoài ra còn có các hình thức môi giới, đó là người tạo điều kiện cho việc mua bán của người mua và người bán diễn ra thuận lợi hơn.

Bán hàng bằng phương thức đối lưu: đặc điểm của phương thức này là người mua đồng thời cũng là người bán. Hành vi mua bán gắn liền với nhau cùng một lúc. Phương tiện thanh tóan không dùng tiền mà dùng hàng hóa để trao đổi, giá trị sử dụng được lấy làm mục đích trao đổi.

Ngoài những hình thức trên, đặc biệt trong quan hệ giao dịch quốc tế người ta còn sử dụng nhiều hình thức mua bán khác nhau như: phương thức tái xuất, phương thức đấu gíá, phương thức đấu thầu, phương thức buôn bán ở sở giao dịch…

1.3.2.2.4. Nghiên cứu nghệ thuật quảng cáo

Quảng cáo vừa là khoa học vừa là nghệ thuật, mà các Công ty xí nghiệp sử dụng nhằm giới thiệu sản phẩm của mình với người tiêu dùng trên thị trường thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như báo chí, đài phát thanh, truyền hình, phim ảnh, áp phích…

Quảng cáo là một công cụ quan trọng, nó có tác dụng làm cho hàng hóa bán được nhiều hơn, nhanh hơn. Thông qua quảng cáo nhà kinh doanh hiểu được nhu cầu của thị trường và sự phản ứng của thị trường thông qua đó mà có những sự thay đổi cho phù hợp. Đây là công cụ hỗ trợ đắc lực cho doanh nghiệp trong việc cạnh tranh với các các đối thủ của mình. Sản xuất hàng hóa ngày càng phát triển, nhu cầu người tiêu dùng ngày càng đa dạng, phức tạp thì việc quảng cáo lại càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.

  • Chức năng của quảng cáo là cung cấp thông tin và kích thích tiêu dùng.

Nội dung của quảng cáo là phản ảnh được đặc điểm của sản phẩm sức quyến rũ của sản phẩm đối với người tiêu dùng. Mục đích của quảng cáo là gây sự chú ý đặc biệt, ấn tượng sâu sắc trong khách hàng về loại sản phẩm đó, qua đó tạo cho khách hàng sự ham muốn có hành động sẵn sàng mua sản phẩm đó.

1.4. Phát triển thị trường Khóa luận: Mở rộng thị trường tiêu thụ tại công ty dịch vụ hàng hải.

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, thị trường là nơi tập trung tất cả các hoạt động kinh tế, vì vậy bất cứ một hoạt động nghiên cứu và phát triển nào cũng không thể tách rời khỏi nghiên cứu và phát triển thị trường.

  • Mức độ phát triển thị trường:

Là chỉ trình độ tiến hành hoạt động phát triển thị trường của những doanh nghiệp khác nhau. Trong những điều kiện thị trường giống nhau, mức độ phát triển thị trường khác nhau là một trong những nhân tố quan trọng quyết định sức cạnh tranh thị trường của doanh nghiệp. Có thể chia thị trường thành ba phương thức cơ bản là phát triển thị trường có tính chất mới hoàn toàn, phát triển thị trường trên cơ sở sửa đổi cái cũ và phát triển thị trường trên cơ sở mô phỏng cái cũ.

  • Lựa chọn điểm phát triển thị trường:

Là tổ hợp các yếu tố thị trường mới mà người phát triển thị trường đã chọn. Nó cũng là một điểm nào đó trong lĩnh vực phát triển thị trường. Tất cả các doanh nghiệp đều phải đối mặt với lĩnh vực phát triển thị trường vô cùng rộng lớn, cơ hội cũng có rất nhiều. Những doanh nghiệp khác nhau vừa có thể lựa chọn điểm phát triển thị trường khác nhau, triển khai hoạt động phát triển thị trường trong những lĩnh vực khác nhau, vừa có thể tiến hành phát triển thị trường ở những cấp độ khác nhau. Để tránh và giảm thiểu đến mức độ tối đa mạo hiểm trong phát triển thị trường cũng như để thu được thành công, mỗi doanh nghiệp nên căn cứ vào tình hình thực tế của doanh nghiệp mình để lựa chọn cấp độ và lĩnh vực phát triển thị trường phù hợp cũng như điểm phát triển thị trường thích hợp.

  • Lĩnh vực phát triển thị trường. Khóa luận: Mở rộng thị trường tiêu thụ tại công ty dịch vụ hàng hải.

Thị trường là tổng hòa các mối quan hệ cung cầu. Một thị trường mới cũng bao hàm rất nhiều yếu tố thị trường mới như sự cung cấp mới, nhu cầu thị trường mới, mối quan hệ thị truờng mới…Chỉ cần thay đổi một yếu tố thị trường nào trong đó thì sẽ làm thay đổi tình hình của thị trường, từ đó hình thành nên một thị trường mới. Lĩnh vực phát triển thị trường là chỉ sự tổng hòa các yếu tố thị trường mà người phát triển thị trường có thể lựa chọn, có thể dẫn đến sự thay đổi của thị trường hiện có đồng thời dẫn đến sự xuất hiện của thị trường mới. Dưới đây là các lĩnh vực khác nhau của phát triển thị trường.

1.4.1. Tìm kiếm khách hàng mới

Điều khó khăn nhất khi khởi đầu kinh doanh là gì? Với hầu hết các doanh nhân khi bắt đầu bước vào thương trường, câu trả lời là “ tìm kiếm khách hàng”.

Tạo được sản phẩm hoặc dịch vụ có chất lượng cao và chắc chắn đáp ứng được nhu cầu khắt khe của khách hàng vẫn chưa đủ. Khách hàng sẽ không tự tìm tới doanh nghiệp cũng như trang web quảng cáo sản phẩm chỉ vì doanh nghiệp vừa mới khai trương một loại hàng hóa hay dịch vụ nào đó. Trên thực tế, tất cả các doanh nhân đều phải xúc tiến “công cuộc” tìm kiếm khách hàng cũng như các đối tác thường xuyên và liên tục.

Khách hàng mới với các doanh nghiệp bắt tay vào quá trình kinh doanh là cả một vấn đề không dễ dàng gì. Làm thế nào để duy trì và phát triển hệ thống khách hàng đầu tiên và khách hàng tiếp theo. Làm thế nào để duy trì và phát triển hệ thống khách hàng. Có cả một loạt các công việc phải làm ở mỗi doanh nghiệp để có thể tồn tại và phát triển được.

Một vấn đề đầu tiên được đặt ra ở đây chính là thái độ đối với khách hàng. Khách hàng thì nhiều nhưng số người là khách hàng của Công ty thì có hạn. Chính vì thế mà mỗi Công ty phải có thái độ biết ơn và kèm theo đánh giá khách hàng như các thượng đế.

Trong kinh doanh, luôn luôn có sự mâu thuẫn giữa việc thu hút khách hàng mới với việc phục vụ các khách hàng cũ. Các Công ty thường đánh giá mức độ phát triển dự kiến căn cứ vào lượng khách hàng mới cũng như đánh giá doanh thu mong đợi trên mỗi khách hàng. Trong khi có thể dễ dàng tăng thêm doanh thu trong thời gian ngắn bằng cách thu hút khách hàng mới, thì các Công ty cần phải nỗ lực nhiều hơn để thỏa mãn các khách hàng đã có. Các Công ty luôn coi trọng việc thu hút khách hàng mới đồng thời tìm cách phục vụ nhiều hơn cả những gì khách hàng tốt nhất của Công ty mong đợi.

Tìm kiếm và khai thác khách hàng tiềm năng là yếu tố hết sức quan trọng, vì thế các Công ty đang cố gắng đưa ra những chiến lược mới nhằm duy trì và khai thác lợi nhuận từ khách hàng này trong tương lai. Thông thường, các Công ty sẽ phân tích khách hàng mới của họ trong vòng từ 3 đến 4 tháng, cho tới khi họ có thể tính toán được tổng tiềm năng mà khách hàng mang lại. Họ có thể mời khách hàng tham gia vào các chương trình thường kỳ của Công ty, hoặc tạo ra các chiến lược giao tiếp nhằm duy trì số lượng khách hàng tiềm năng. Khóa luận: Mở rộng thị trường tiêu thụ tại công ty dịch vụ hàng hải.

Trước tiên doanh nghiệp cần phải cân nhắc xem những đối tượng nào có thể là khách hàng lý tưởng. Giả sử khi doanh nghiệp bán hàng cho tổ chức nào đó,cần đánh giá xem bộ phận nào sẽ mua sản phẩm hoặc dịch vụ và cá nhân nào (giữ trách nhiệm, quyền hạn gì) sẽ quyết định trực tiếp mua sắm cụ thể của tổ chức đó. Tiếp theo, doanh nghiệp cũng cần tìm hiểu xem cá nhân đó thông thường tìm kiếm những sản phẩm hay dịch vụ giống của doanh nghiệp mình đang cung cấp bằng cách nào. Họ thường mua ở đâu, họ thường nghe và tìm kiếm thông tin ở đâu khi muốn mua một sản phẩm hay dịch vụ? Từ đó tìm cách tiếp cận họ, cung cấp cho họ thông tin về các sản phẩm hay dịch vụ doanh nghiệp cung cấp.

Để tìm kiếm khách hàng tiềm năng của mình, các nhà quản lý cố gắng đẩy mạnh các chương trình và sáng kiến mới: Tăng cường hệ thống nhân viên, phân phối lại không gian cửa hàng, giới thiệu mở rộng các chương trình cho khách hàng trung thành, đưa ra các chiêu khuyến mãi gấp nhiều lần cho các ngày đặc biệt và xúc tiến bán hàng đặc biệt cho những người mua với số lượng lớn, tổ chức lại hệ thống cửa hàng hoặc buôn bán, tiếp thị doanh nghiệp. Tuy nhiên nếu không có một khả năng phán đoán rõ ràng về cơ hội sinh lời của thị phần đang hứa hẹn nhất ở đâu thì các nhà quản lý sẽ gặp quá nhiều vấn đề đem lại các tác động nhỏ.

Do đó doanh nghiệp cần ra sức kiếm tìm và thu hút khách hàng mới để tiêu thụ sản phẩm của mình. Tìm kiếm khách hàng mới là vấn đề quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Khách hàng là người quyết định sự sống còn đối với một doanh nghiệp. Bằng cách thay đổi các yếu tố đặc biệt trong chiến dịch bán hàng bao gồm sự phân loại, môi trường bán hàng và không gian trưng bày, các doanh nghiệp có thể làm tốt hơn trong việc thu hút những khách hàng đặc biệt.

1.4.2. Phát triển thị trường theo khu vực địa lý. Khóa luận: Mở rộng thị trường tiêu thụ tại công ty dịch vụ hàng hải.

Tất cả các thị trường đều có những giới hạn về ranh giới địa lý và ranh giới này vừa là kết quả khách quan của quá trình hình thành và phát triển của thị trường vừa là kết quả của quá trình quản lý và điều hành nền kinh tế và thương mại của các quốc gia các địa phương và các vùng. Nghiên cứu và hiểu biết về ranh giới thị trường là cơ sở quan trọng cho quá trình quản lý và hoạt động kinh doanh.

Thị trường theo khu vực địa lý là khái niệm biểu thị không gian được xác định của thị trường, có thể là khu vực vô cùng nhỏ nhưng cũng có thể là khu vực vô cùng lớn hình thành trong từng địa phương, từng vùng hoặc từng quốc gia đối với các các tổ chức kinh doanh. Thị trường địa lý được hình thành dưới sự tác động của các nhân tố khác nhau cụ thể như hành vi mua sắm của khách hàng định hướng chiến lược kinh doanh và khai thác thị trường của tổ chức kinh doanh.

Ranh giới của thị trường vừa là biến số quyết định hiệu năng kinh doanh của tổ chức, do đó các tổ chức kinh doanh không ngừng hoàn thiện các giải pháp kinh doanh nhằm mở rộng thị trường liên tục ranh giới địa lý và không gian của thị trường. Ranh giới thị trường địa lý bị tác động bởi các nhân tố liên quan đến hành vi mua sắm của khách hàng trên thị trường, phương tiện và điều kiện di chuyển mua sắm của cư dân cách thức và thói quen mua sắm cũng như những nỗ lực các tổ chức trong quảng bá và mở rộng thị trường. Kế hoạch để mở rộng thị trường hoặc thâm nhập thị trường đòi hỏi cân nhắc các điều kiện khác nhau và làm thế nào để ranh giới thị trường địa lý thực sự đạt được hiệu quả đối với quá trình kinh doanh của doanh nghiệp.

Mở rộng phạm vi của thị trường luôn là mối quan tâm đặc biệt của các tổ chức kinh doanh. Tiềm năng bán hàng và triển vọng phát triển kinh doanh phụ thuộc lớn vào chất lượng của quá trình mở rộng thị trường tiêu thụ của tổ chức, thu hút thêm nhiều khách hàng mới. Việc mở rộng phạm vi địa lý của thị trường thường kéo theo quá trình khai thông chiến lược của tổ chức kinh doanh cho phép khai thác những hiệu ứng kinh tế theo quy mô và phạm vi lớn, những đòi hỏi của quá trình phát triển tổ chức, cũng như những mong muốn của tổ chức về sự sinh lợi và hiệu năng của tài sản hữu hình và vô hình hình thành trong quá trình hoạt động kinh doanh của tổ chức. Khóa luận: Mở rộng thị trường tiêu thụ tại công ty dịch vụ hàng hải.

1.4.3. Phát triển mạng lưới cơ sở bán hàng.

Hoạt động thương mại trong địa phương vùng và một quốc gia đã đưa đến hình thành quan niệm về mạng lưới bán hàng với nhiều khái niệm và ý nghĩa khác nhau. Mạng lưới bán hàng được quan niệm là tập hợp các cơ sở tổ chức kinh doanh với sự phân bố hàng hóa trong một không gian thị trường, một địa phương, một vùng hoặc một quốc gia nhất định. Mạng lưới bán hàng có thể tập hợp nhiều cơ sở kinh doanh bán hàng theo loại hình bán hàng khác nhau và thuộc về các tổ chức kinh doanh khác nhau, cạnh tranh nhau trong việc thu hút khách hàng và cung cấp dịch vụ.

Trong một địa phương hoặc vùng mạng lưới thương mại bán hàng là tập hợp các cơ sở kinh doanh thương mại và dịch vụ với sự phân bố của chúng tại các địa điểm khác nhau trong vùng, được hình thành trong quá trình phát triển kinh tế và thương mại của địa phương. Mạng lưới bán hàng của địa phương có tầm quan trọng đặc biệt trong quá trình lưu thông hàng hóa.

Cấu trúc mạng lưới bán hàng là khái niệm biểu thị tổng thể các điểm bán hàng thuộc các tổ chức kinh doanh khác nhau, chuyên cung cấp các hàng hóa và dịch vụ thuộc các ngành nghề khác nhau, tọa lạc tại các vị trí khác nhau trong địa phương, vùng hoặc các quốc gia và tổ chức bán hàng cung cấp dịch vụ cho khách hàng mục tiêu.Về cơ bản cấu trúc mạng lưới bán hàng của một địa phương được xem xét theo các khía cạnh sau đây:

  • Tổng số các điểm bán hàng hiện diện trong mạng lưới. Sự phân bố các điểm bán tại khu vực trong mạng lưới
  • Ngành hàng, mặt hàng và dịch vụ của các điểm bán trong mạng lưới. Cơ cấu sở hữu của các tổ chức kinh doanh trong mạng lưới.
  • Hình thức kinh doanh và tổ chức kinh doanh trong mạng lưới. Các loại hình kinh doanh trong mạng lưới.
  • Mạng lưới bán hàng cùng với cấu trúc của chúng tạo nên bộ máy thương mại của

thị trường và là cơ sở quan trọng đánh dấu sự phát triển của bộ máy thương mại, đáp ứng tốt nhu cầu mua sắm của cư dân trong thị trường. Vì vậy các doanh nghiệp cần thực hiện các nghiên cứu cẩn trọng và định hướng phát triển mạng lưới bán hàng của tổ chức mình nhằm phát triển đáp ứng các yêu cầu về cạnh tranh, phát triển khai thác các lợi thế kinh tế theo quy mô. Các định hướng phát triển mạng lưới của doanh nghiệp có thể được xem xét như sau:

  • Không ngừng phác thảo kế hoạch phát triển số lượng các điểm bán mới trên thị trường hiện tại hoặc thị trường mới.
  • Hoàn thiện liên tục mô hình kinh doanh của các điểm bán trong mạng lưới.
  • Đa dạng hóa các loại hình kinh doanh bán lẻ trên các khu vực thị trường tiềm năng.
  • Tích hợp các chức năng cơ bản trong kinh doanh của mạng lưới bán hàng trong quá trình phát triển.

Gia tăng mức độ bao phủ thị trường thông qua quá trình phát triển mạng lưới đảm bảo sự phân chia ranh giới thị trường cho các điểm bán trong mạng lưới. Khóa luận: Mở rộng thị trường tiêu thụ tại công ty dịch vụ hàng hải.

Phát triển mạng lưới có thể xuất phát từ nguồn lực và điều kiện vốn có của tổ chức thông qua hình thức phát triển trực tiếp hoặc kết hợp phát triển từ nguồn lực vốn có của tổ chức khác thông qua hình thức phát triển nhượng quyền kinh doanh …

Không ngừng thay đổi các điểm bán hiện có phát triển các địa điểm mới, đổi mới mô hình kinh doanh trong mạng lưới đảm bảo khai thác có hiệu quả các lợi thế về nguồn lực kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của mạng lưới so với đối thủ.

Từng bước phát triển mạng lưới bán hàng của tổ chức theo hướng gia tăng thuận tiện trong mua bán của khách hàng, đảm bảo cung cấp hàng hóa tích cực cho nhu cầu khách hàng.

Chiến lược phát triển mạng lưới là kiểu chiến lược cho phép vừa định vị không gian thiết lập các điểm bán vừa cho phép phát triển hệ thống điểm bán liên kết nhau trong cùng quan điểm quản lý kinh doanh, khai thác triệt để các điểm trống của thị trường và thúc đẩy sự phát triển về hình thức và nội dung của tổ chức kinh doanh. Quá trình phát triển mạng lưới bán hàng với các tổ chức kinh doanh là cần thiết và có tầm quan trọng đặc biệt.

Chiến lược phát triển mạng lưới bán hàng trong từng địa phương, vùng. Chiến lược phát triển mạng lưới bán hàng trong lãnh thổ quốc gia. Chiến lược quốc tế hóa mạng lưới bán hàng của các tổ chức kinh doanh.

1.4.4. Phát triển sản phẩm mới trên thị trường.

Người ta chia sản phẩm mới thành 2 loại: Sản phẩm mới tương đối và sản phẩm mới tuyệt đối. Do vậy sẽ có khái niệm về 2 loại sản phẩm mới. Khóa luận: Mở rộng thị trường tiêu thụ tại công ty dịch vụ hàng hải.

1.4.4.1. Sản phẩm mới tương đối.

Sản phẩm đầu tiên doanh nghiệp sản xuất và đưa ra thị trường, nhưng không mới đối với doanh nghiệp khác và với thị trường. Chúng cho phép doanh nghiệp mở rộng dòng sản phẩm cho những cơ hội kinh doanh mới. Chi phí để phát triển loại sản phẩm này thường thấp, nhưng khó định vị sản phẩm trên thị trường vì người tiêu dùng vẫn có thể thích sản phẩm của đối thủ cạnh tranh hơn.

1.4.4.2. Sản phẩm mới tuyệt đối

Đó là sản phẩm mới đối với cả doanh nghiệp và đối với cả thị trường. Doanh nghiệp giống như ngưới đi tiên phong đi đầu trong việc sản xuất sản phẩm này. Sản phẩm này ra mắt người tiêu dùng lần đầu tiên. Đây là quá trình tương đối phức tạp và khó khăn (cả trong giai đoạn sản xuất và bán hàng). Chi phí dành cho nghiên cứu, thiết kế, sản xuất thử và thử nghiệm trên thị trường thường rất cao. Việc một sản phẩm có được coi là mới hay không phụ thuộc vào cách thị trường mục tiêu nhận thức về nó. Nếu người mua cho rằng đây là sản phẩm khác đáng kể so với các sản phẩm của đối thủ cạnh tranh về một số tính chất (hình thức bên ngoài hay chất lượng) thì các sản phẩm đó sẽ được coi là một sản phẩm mới.

Sản phẩm mới là yếu tố quan trọng trong sự phát triển và tồn tại của Công ty. Do liên tục phải đối mặt với thị trường cạnh tranh gay gắt, với nhu cầu thường xuyên thay đổi của khách hàng và những tiến bộ trong công nghệ nên một Công ty phải có chiến lược tung ra sản phẩm mới cũng như cải thiện các sản phẩm hiện tại để ổn định doanh thu.

Việc phát triển và tung sản phẩm mới ra thị trường vốn vô cùng tốn kém và không phải sản phẩm nào cũng có khả năng bám trụ được. Như Patrick Barwise và Sean Meehan viết trong cuốn Simply Better: “ Đổi mới chỉ vì lợi ích của sự đổi mới là vô nghĩa, nhưng đổi mới không ngừng để cải thiện hiệu suất dựa trên những ích lợi chung là yếu tố cần thiết để duy trì sự thành công trong kinh doanh”. Khóa luận: Mở rộng thị trường tiêu thụ tại công ty dịch vụ hàng hải.

Một thực tế khách quan hiện nay các doanh nghiệp đang phải đương đầu với điều kiện kinh doanh ngày càng trở nên khắt khe hơn:

  • Sự phát triển nhanh chóng của tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ làm nảy sinh thêm những nhu cầu mới.
  • Sự đòi hỏi và lựa chọn ngày càng khắt khe của khách hàng với các loại sản phẩm khác nhau.
  • Khả năng thay thế nhau của các sản phẩm.
  • Tình trạng cạnh tranh trên thị trường ngày càng gay gắt hơn.

Trong những điều kiện đó, các doanh nghiệp phải không ngừng đổi mới và tự hoàn thiện mình trên tất cả các phương diện: các nguồn lực sản xuất, quản lý sản xuất kinh doanh, sự ứng xử nhanh nhạy với những biến động của môi trường kinh doanh…

Nói chung một doanh nghiệp thường sản xuất kinh doanh một số sản phẩm nhất định. Chủng loại và số lượng sản phẩm ấy tạo thành danh mục sản phẩm của doanh nghiệp các sản phẩm trong danh mục có thể có quan hệ với nhau theo những kiểu khác nhau: Quan hệ trong sản xuất, quan hệ trong tiêu dùng, các sản phẩm có thể thay thế nhau… chủng loại sản phẩm trong danh mục nhiều hay ít tùy thuộc vào chính sách sản phẩm mà doanh nghiệp theo đuổi (chính sách chuyên môn hóa hay chính sách đa dạng hóa sản phẩm). Trong quá trình phát triển doanh nghiệp danh mục sản phẩm thường không cố định mà có sự thay đổi thích ứng với sự thay đổi của môi trường, nhu cầu thị trường và điều kiện kinh doanh. Điều này thể hiện sự năng động và nhạy bén của doanh nghiệp với sự thay đổi của môi trường kinh doanh và nhu cầu khách hàng, tạo cho doanh nghiệp khả năng cạnh tranh cao trong việc thỏa mãn nhu cầu khách hàng. Sự biến đổi danh mục sản phẩm của doanh nghiệp gắn liền với sự phát triển sản phẩm theo nhiều hướng khác nhau:

Hoàn thiện các sản phẩm hiện có. Phát triển sản phẩm mới tương đối Phát triển sản phẩm mới tuyệt đối và loại bỏ các sản phẩm không sinh lời.

Phát triển danh mục sản phẩm theo chiều sâu và theo chiều rộng là hướng phát triển khá phổ biến. Sự phát triển sản phẩm theo chiều sâu thể hiện ở việc đa dạng hóa kiểu cách, mẫu mã, kích cỡ của một loại sản phẩm nhằm đáp ứng thị hiếu đa dạng các nhóm khách hàng khác nhau. Sự phát triển sản phẩm theo chiều rộng thể hiện ở việc có thêm một số sản phẩm nhằm đáp ứng đồng bộ một loại nhu cầu của khách hàng. Khóa luận: Mở rộng thị trường tiêu thụ tại công ty dịch vụ hàng hải.

  • Một công ty có thể đi theo ba con đường để phát triển sản phẩm mới.
  • Mua bằng sáng chế hoặc giấy phép sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp khác, từ viện nghiên cứu khoa học và công nghệ;
  • Tự tổ chức quá trình nghiên cứu thiết kế sản phẩm mới bằng nguồn lực của mình;
  • Liên kết, phối hợp với các doanh nghiệp khác, với việc nghiên cứu để thực hiện quá trình này.

1.4.4.3. Phương pháp phát triển sản phẩm mới.

  • a, Hoàn thiện sản phẩm hiện có

Sự hoàn thiện sản phẩm này nhằm đáp ứng một cách tốt hơn đòi hỏi người tiêu dùng, khả năng cạnh tranh trên thị trường. Sự hoàn thiện sản phẩm hiện có lại được thực hiện với những mức độ khác nhau:

Hoàn thiện sản phẩm hiện có về hình thức: Giá trị sử dụng của sản phẩm không có gì thay đổi nhưng hình dáng bên ngoài của sản phẩm thay đổi như thay đổi nhãn mác, tên gọi sản phẩm để tạo ra sự hấp dẫn hơn với khách hàng, nhờ đó tăng và duy trì lượng bán.

Hoàn thiện sản phẩm về nội dung: Có sự thay đổi về nguyên liệu sử dụng để sản xuất sản phẩm để nâng cao chất lượng sản phẩm hoặc hạ giá thành sản phẩm mà chất lưọng sản phẩm không đổi. Ví dụ đó là sự thay đổi công nghệ sản phẩm.

Hòan thiện sản phẩm cả về hình thức lẫn nội dung: Có cả sự thay đổi về hình dáng bên ngoài, bao bì và nhãn hiệu sản phẩm lẫn sự thay đổi về cấu trúc, vật liệu chế tạo sản phẩm.

  • b, Phát triển sản phẩm mới hoàn toàn

Khó khăn: Chi phí cao, rủi ro lớn, cần có kế hoạch dài hạn, công nghệ khoa học tiên tiến và kết quả nghiên cứu thị trường đúng.

Lợi ích: Chúng có thể đem tới một nguồn lợi lớn và quan trọng đối với một doanh nghiệp nếu họ phải tránh bị phá sản hoặc bị đối thủ cạnh tranh mua lại.

Nếu các doanh nghiệp Việt Nam không đầu tư vào phát triển sản phẩm mới, rất dễ bị “quét sạch” khỏi thị trường bởi các đối thủ cạnh tranh nước ngoài.

1.4.4.4. Phát triển sản phẩm mới với môi trường.

Khi hình thành ý tưởng phát triển một loại sản phẩm nào, dù là sản phẩm mới tương đối hay tuyệt đối cũng phải tính đến sự tương tác giữa sản phẩm mới và môi trường.

Môi trường ở đây là chỉ phạm vi tác động của sản phẩm mới đến môi trường tự nhiên như: nước, đất; môi trường xã hội, môi trường sống và làm việc của con người và động, thực vật…khi sản xuất có ảnh hưởng đến sức khoẻ người lao động trực tiếp không? Nếu có ảnh hưởng thì phương án bảo đảm an toàn ra sao? Xử lý chất thải thế nào?

Ví dụ: Khi sản xuất một loại đồ chơi cho trẻ em. Trước tiên nhà sản xuất phải tính thị hiếu của trẻ thơ để bán được hàng, nhưng vấn đề không thể không tính đến là những sản phẩm ấy có ảnh hưởng gì xấu tới môi trường xung quanh, người lao động, người tiêu dùng và xã hội không. Như sản phẩm hình thù có sắc, nhọn quá dễ gây thương tích cho trẻ không? Có phù hợp với nền văn hoá, bản sắc và phong tục tập quán dân tộc nơi tiêu thụ không? Chất liệu làm đồ chơi đó có chứa chất độc hại cho trẻ em không?……những vấn đề đó đều phải tính đến. Khóa luận: Mở rộng thị trường tiêu thụ tại công ty dịch vụ hàng hải.

1.4.4.5. Đặc điểm của quá trình phát triển sản phẩm mới.

Để đảm bảo phát triển một sản phẩm mới thành công, doanh nghiệp cần chú trọng vào những đặc điểm cơ bản sau đây:

Sự ràng buộc của tiến bộ khoa học kỹ thuật và tiến bộ về mặt kinh tế: Việc bảo đảm toàn diện cả sự tiến bộ về kỹ thuật và sự tiến bộ về kinh tế là yêu cầu bắt buộc trong việc phát triển sản phẩm mới. Người ta thường gặp trường hợp sản phẩm mới có thể đạt được sự tiến bộ đáng kể về mặt kỹ thuật, song chưa chắc đã đạt được sự tiến bộ về mặt kinh tế. Chẳng hạn sản phẩm mới có công dụng, tính năng hoàn thiện hơn hẳn sản phẩm hiện có, nhưng thời hạn nghiên cứu, thiết kế, thử nghiệm kéo dài, chi phí sản xuất lớn làm giá bán cao, hoặc nảy sinh sự phức tạp trong sử dụng. Việc đưa sản phẩm mới loại này ra thị trường gặp nhiều khó khăn, thậm chí sẽ thất bại do khách hàng từ chối mua.

Sự rủi ro và tính mạo hiểm trong việc phát triển mới. Quyết định phát triển sản phẩm mới ít nhiều mang tính chất mạo hiểm. Sự cần thiết phải phát triển sản phẩm mới là điều dễ tìm thấy sự nhất trí trong những người có trách nhiệm của doanh nghiệp. Song họ lại không thể khẳng định được một cách chắc chắn sự thành công của việc tung sản phẩm mới ra thị trường, hoặc mức độ thành công có thể thu được từ phát triển sản phẩm mới sẽ là bao nhiêu. Dù đã có sự nghiên cứu thị trường, khách hàng và đối thủ cạnh tranh, nhưng những rủi ro có thể gặp phải trong kinh doanh sản phẩm mới và mức độ tác động của những rủi ro này là những yếu tố không thể tiên liệu hết, thậm chí không thể tiên liệu trước được.

Những ràng buộc về tài chính cho sự phát triển sản phẩm mới: Phát triển sản phẩm mới bao giờ cũng đòi hỏi những điều kiện về kinh tế – tài chính mà không phải doanh nghiệp nào cũng có khả năng bảo đảm được. Với các doanh nghiệp quyết tâm thực hiện phát triển sản phẩm mới, cần phải giành một ngân sách thoả đáng cho việc thực hiện các công việc khác nhau của quá trình phát triển sản phẩm mới. Ngân sách này phải đủ lớn để nắm bắt được những thành tựu mới của khoa học và công nghệ liên quan đến doanh nghiệp, để phản ứng mau lẹ với sự thay đổi của thị trường.

1.5. Bản chất và những đặc điểm của dịch vụ. Khóa luận: Mở rộng thị trường tiêu thụ tại công ty dịch vụ hàng hải.

1.5.1. Bản chất và những đặc điểm của dịch vụ.

Dịch vụ được hiểu là rất nhiều các loại hình hoạt động và nghiệp vụ thương mại khác nhau mà Philip Kotler định nghĩa dịch vụ như sau:

Dịch vụ là mọi biện pháp hay lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là không sờ thấy được và không dẫn đến sự chiếm đoạt một cái gì đó. Việc thực hiện dịch vụ có thể có và cũng có thể không liên quan đến những hàng hóa dưới dạng vật chất của nó.

Dịch vụ vốn có 4 đặc điểm cần được chú ý đến khi xây dựng các chương trình Marketing:

  • a, Tính không sờ thấy được.

Các dịch vụ đều không sờ thấy được. Không thể nhìn thấy, thử mùi vị, nghe hay ngửi chúng trước khi có được chúng. Ví dụ như người phụ nữ đi sửa sắc đẹp tại mỹ viện họ sẽ không nhìn thấy kết quả khi chưa mua dịch vụ.

Để củng cố lòng tin của khách hàng đối với mình, người cung ứng dịch vụ có thể có thể thi hành một loạt những biện pháp cụ thể. Thứ nhất là, ngừơi cung ứng có thể tăng tính sờ thấy được của hàng hóa. Ví dụ như chuyên gia tư vấn có thể vẽ bộ mặt của khách hàng sau khi phẫu thuật thẩm mỹ. Thứ hai là người cung ứng có thể không chỉ mô tả dịch vụ của mình mà còn làm cho khách hàng chú ý đến những lợi ích có liên quan đến dịch vụ đó. Thứ ba là, để tăng mức độ tin tưởng, người cung ứng có thể nghĩ ra những tên gọi cho những sản phẩm dịch vụ của mình. Thừ tư là, để tạo ra bầu không khí tin cậy, người cung ứng có thể mời một người nổi tiếng nào đó tham gia tuyên truyền cho dịch vụ của mình.

  • b, Tính không thể rời khỏi nguồn gốc

Dịch vụ không thể tách khỏi nguồn gốc của nó, dù cho đó là người hay máy móc, trong khi hàng hóa vật chất vẫn tồn tại không phụ thuộc vào sự có mặt hay vắng mặt của nó. Ví dụ, đi xem buổi biểu diễn âm nhạc, giá trị giải trí bằng mắt không thể tách rời người biểu diễn. Dịch vụ sẽ không còn như cũ nếu diễn viên chính vắng mặt vì bị ốm. Và điều đó có nghĩa là những người muốn được xem biểu diến trực tiếp đã bị hạn chế bởi thời gian biểu diễn.

Có một số quan điểm chiến lược về việc khắc phục sự hạn chế này. Người cung ứng dịch vụ có thể học cách làm việc với những nhóm đông khách hàng. Người cung ứng dịch vụ có thể học cách làm việc nhanh chóng. Tổ chức phục vụ có thể đào tạo nhiều người cung ứng dịch vụ hơn nhờ đó củng cố lòng tin khách hàng đối với mình.

  • c, Tính không ổn định về chất lượng. Khóa luận: Mở rộng thị trường tiêu thụ tại công ty dịch vụ hàng hải.

Chất lượng dịch vụ dao động trong một khoảng rất rộng tùy thuộc vào người cung ứng, cũng như vào thời gian và địa điểm cung ứng. Người mua dịch vụ thường biết sự không ổn định chất lượng này và khi lựa chọn người cung cấp dịch vụ thường hỏi ý kiến những người mua khác.

Để đảm bảo kiểm tra chất lượng, các công ty dịch vụ có thể thi hành hai biện pháp. Thứ nhất là dành ra một số tiền để thu hút và huấn luyện những chuyên gia giỏi thực sự. Thứ hai là người cung ứng dịch vụ phải thường xuyên theo mức độ hài lòng của khách hàng qua hệ thống khiếu nại và góp ý, thăm dò ý kiến và tiến hành mua thử để so sánh phát hiện các trường hợp phục vụ không đạt yêu cầu và chấn chỉnh tình hình kịp thời.

  • d, Tính không lưu giữ được.

Không thể lưu giữ dịch vụ được. Trong điều kiện nhu cầu không thay đổi thì tính không lưu giữ được của dịch vụ không phải là vấn đề, bởi vì có thể dễ dàng thu xếp trước một cách thỏa đáng. Thế nhưng nếu nhu cầu dao động thì công ty dịch vụ cũng sẽ gặp những vấn đề nghiêm trọng. Ví dụ, do nhu cầu vận chuyển cao những giờ cao điểm các xí nghiệp vận tải công cộng phải có nhiều phương tiện vận tải gấp bội số lượng cần thiết khi nhu cầu không thay đổi trong suốt cả ngày.

Dưới đây là một số vấn đề chiến lược về cách đảm bảo dung hòa tốt nhất cầu và cung ở các công ty dịch vụ.

  • Từ phía cầu:

Việc xác định giá phân biệt có thể dịch chuyển một phần nhu cầu từ giờ cao điểm sang giờ vắng khách. Ví dụ như ở các rạp chiếu phim giá vé ban ngày rẻ hơn giá vé vào buổi tối.

Có thể chủ động làm tăng nhu cầu vào những thời kỳ suy giảm

Trong những thời gian nhu cầu đạt cực đại có thể bổ sung thêm dịch vụ để những khách hàng đang chờ đến lượt được lựa chọn. Ví dụ như mở thêm cửa hàng bán nước giải khát tại chỗ cho những khách hàng chờ chỗ ở sân bay.

Một trong những phương thức quản lý nhu cầu là áp dụng hệ thống đặt hàng trước. Ví dụ đặt vé máy bay, đặt phòng khách sạn.

  • Từ phía cung: Khóa luận: Mở rộng thị trường tiêu thụ tại công ty dịch vụ hàng hải.

Để phục vụ khách hàng vào những thời gian nhu cầu đạt cực đại có thể huy động nhân viên tạm thời hoặc nhân viên làm việc bán thời gian.

  • Có thể quy định chế độ làm việc đặc biệt trong giờ cao điểm. Vào những lúc này các nhân viên chỉ làm những nhiệm vụ cần thiết nhất.
  • Có thể khuyến khích khách hàng tự làm nhiều việc hơn.
  • Có thể xây dựng chương trình cùng hợp lực để cung ứng dịch vụ.
  • Có thể thi hành những biện pháp nhằm tạo điều kiện tăng năng lực hiện có. Ví dụ công viên giải trí mua thêm những khu đất xung quanh để mở rộng thêm.

1.5.2. Phân loại dịch vụ.

  • Có thể phân loại dịch vụ theo những đặc điểm khác nhau.

Thứ nhất là, nguồn dịch vụ là người hay các loại máy? Trong số những dịch vụ có nguồn gốc con người có những dịch vụ cần có nhân lực chuyên nghiệp (kế toán, tư vấn các vấn đề quản lý) hay những chuyên gia lành nghề (sửa chữa máy móc thiết bị) hay nhân lực không có tay nghề (quét dọn, chăm sóc vườn hoa). Những dịch vụ có nguồn gốc là máy móc bao gồm những dịch vụ cần máy tự động hay những thiết bị có người điều khiển, trình độ tay nghề tương đối thấp hay những thiết bị cần sự điều khiển của những chuyên gia có trình độ cao. Ngay trong cùng một ngành dịch vụ cụ thể, những người cung ứng khác nhau cũng sử dụng những số lượng thiết bị khác nhau. Đôi khi thiết bị làm tăng giá trị của dịch vụ và đôi khi thiết bị làm giảm bớt nhu cầu nhân lực.

Thứ hai là khách hàng có nhất thiết phải có mặt khi cung dịch vụ hay không? Nếu sự có mặt của khách hàng là bắt buộc thì người cung ứng dịch vụ phải chú ý đến những yêu cầu của khách hàng đó.

Thứ ba là động cơ mua dịch vụ của khách hàng là gì? Dịch vụ có tác dụng thỏa mãn những nhu cầu cá nhân hay không hay thỏa mãn nhu cầu công việc?

Thứ tư là động cơ của người cung ứng dịch vụ (hoạt động thương mại hay phi thương mại) và hình thức cung ứng dịch vụ (phục vụ từng người hay phục vụ cộng đồng) như thế nào? Kết hợp hai đặc điểm này sẽ được những kiểu tổ chức phục vụ rất khác nhau.

2. Cơ sở thực tiễn của đề tài. Khóa luận: Mở rộng thị trường tiêu thụ tại công ty dịch vụ hàng hải.

Trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, việc giao thương buôn bán không chỉ gói ngọn trong phạm vi một quốc gia mà đã mở rộng ra phạm vi quốc tế. Không thể phủ nhận những lợi ích do ngoại thương đem lại đối với một quốc gia cũng như một doanh nghiệp.

Thương mại và vận tải là hai lĩnh vực có mối quan hệ khăng khít và tương hỗ lẫn nhau. Vận tải đẩy nhanh quá trình giao lưu trao đổi hàng hóa giữa các khu vực và trên phạm vi thế giới còn thương mại là điều kiện để vận tải phát triển.

Cùng với sự phát triển của ngoại thương là sự phát triển nhanh chóng các hình thức vận tải như: vận tải hàng không, vận tải đường ống, vận tải đường bộ, vận tải đường sắt, vận tải đường biển.

Trong những năm gần đây với chính sách mở cửa và đổi mới kinh tế, cùng với các ngành kinh tế khác, ngành vận tải nói chung và vận tải biển nói riêng đã có những bước phát triển vượt bậc. Với lợi thế về vị trí địa lý, Việt Nam có cơ hội phát triển ngành kinh tế vận tải biển trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước. Với mạng lưới cảng biển phủ kín từ Bắc vào Nam với các cảng biển lớn và ngày càng phát triển tạo điều kiện thuân lợi cho kinh tể vận tải biển phát triển. Cũng chính vì những điều kiện thuận lợi mà tạo hóa ưu đãi và sự nhanh nhạy trong công tác hoạch định chiến lược phát triển của nhà nước mà lượng hàng hóa lưu thông qua các cảng biển của Việt Nam luôn đạt tốc độ tăng trưởng cao.

2.1 Đặc điểm của lĩnh vực kinh doanh khai thác tàu biển

Trong mỗi quốc gia có biển hay không có biển, người ta đều có thể xây dựng đội tàu vận tải biển thuộc các hình thức sở hữu khác nhau để tiến hành vận chuyển hàng hoá, hành khách cho quốc gia mình hay đi chở thuê cho nước ngoài với mục đích kinh doanh, thu lợi nhuận, tăng thu ngoại tệ cho đất nước. Hình thức sở hữu tàu, hình thức tổ chức Công ty và phương thức kinh doanh tàu rất khác nhau tại các quốc gia khác nhau. Sự khác nhau này là do hệ thống pháp luật và điều kiện địa lý, tự nhiên của quốc gia đó quyết định. Tuy có sự khác nhau nhưng vì kinh doanh khai thác tàu vận tải biển mang tính quốc tế cao nên có những đặc điểm chung – sản xuất kinh doanh khai thác tàu mang tính toàn cầu, phạm vi sản xuất rộng, quá trình sản xuất kinh doanh liên quan đến hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia riêng rẽ và chịu sự chi phối của các công ước quốc tế liên quan đến thương mại, đến biển và kinh doanh vận tải biển. Khóa luận: Mở rộng thị trường tiêu thụ tại công ty dịch vụ hàng hải.

Trong kinh doanh khai thác tàu vận tải biển, nếu phân chia theo đối tượng vận chuyển thì các tàu vận tải biển chia thành ba loại: tàu hàng, tàu khách và tàu vừa chở hàng, vừa chở khách. Cách thức tổ chức khai thác các loại tàu mặc dù có những điểm chung nhưng vẫn có nhiều điểm khác nhau.

Căn cứ vào cách thức tổ chức chuyến đi (hình thức tổ chức chạy tàu) của các tàu vận tải biển mà người ta chia hoạt động của đội tàu vận tải biển thành hai loại: vận chuyển theo hình thức tàu chuyến (tramp) và vận chuyển theo hình thức tàu chợ (liner).

Đặc trưng cơ bản trong ngành vận tải biển hiện nay là ngoài những tuyến vận tải thường xuyên được tổ chức theo hình thức khai thác tàu chợ, do có những lượng hàng hoá không lớn vẫn xuất hiện trong thị trường vận tải, nên hình thức vận tải tàu chuyến rất phù hợp đối với những nước đang phát triển, kém phát triển, đội tàu vận tải biển nhỏ bé, hệ thống cảng chưa phát triển.

Ưu điểm của hình thức khai thác tàu chuyến là linh hoạt, thích hợp với vận chuyển hàng hoá không thường xuyên và hàng hoá xuất nhập khẩu, tận dụng được hết trọng tải của tàu lúc chở hàng trong từng chuyến đi có hàng. Nếu tổ chức tìm hàng tốt thì hình thức khai thác tàu chuyến là hình thức khai thác có hiệu quả không kém gì so với hình thức khai thác tàu chợ.

Vận tải tàu chợ là hình thức phát triển cao hơn và hoàn thiện hơn của hình thức vận tải tàu chuyến. Đặc trưng quan trọng của hình thức tàu chợ là tàu hoạt động cố định, chuyên tuyến giữa các cảng xác định; theo lịch vận hành được công bố từ trước.

Căn cứ theo dạng vận chuyển, hoạt động của đội tàu vận tải biển được chia thành: vận chuyển đường biển riêng rẽ; vận chuyển đa phương thức (vận tải biển chỉ là một bộ phận trong dây chuyền vận chuyển từ kho tới kho trên cơ sở một hợp đồng vận tải đơn nhất giữa người kinh doanh vận chuyển và người thuê vận chuyển); vận chuyển biển pha sông; vận chuyển sà lan trên các tàu mẹ trên biển. Khóa luận: Mở rộng thị trường tiêu thụ tại công ty dịch vụ hàng hải.

Các loại tàu tham gia vận chuyển bao gồm: tàu chở container; tàu dầu; tàu chở hàng rời, đổ đống; tàu mẹ chở sà lan; tàu hàng khô, tổng hợp.

Do xu hướng container hoá trong vận tải, hiện nay trong lĩnh vực kinh doanh khai thác tàu vận tải biển đã và đang hình thành các Công ty đa quốc gia với các chức năng kinh doanh tổng hợp – vận chuyển container, xếp dỡ container và dịch vụ hàng hải phục vụ cho việc vận chuyển container. Chức năng kinh doanh vận chuyển hàng hoá, hành khách chỉ là một mắt xích trong dây chuyền kinh doanh của các Công ty này. Các Công ty đa quốc gia có thể liên kết lại với nhau thành hiệp hội để độc quyền và cạnh tranh với các Công ty khác. Tính chất cạnh tranh trong lĩnh vực khai thác tàu biển diễn ra trên quy mô toàn cầu và ngày càng quyết liệt. Hiệp hội tàu chợ hình thành nhằm mục đích cải thiện tình trạng kinh tế của từng thành viên trong hội và hạn chế hoặc loại trừ sự cạnh tranh giữa các thành viên cùng tham gia vận chuyển trên tuyến tàu chợ thông qua việc thoả thuận bảng cước tàu chợ trên tuyến. Song nếu như trước đây đa số các quốc gia miễn trừ cho ngành vận tải biển khỏi việc áp dụng luật chống độc quyền thì hiện nay các Công ty hoạt động trong ngành vận tải biển đều phải tuân theo luật chống độc quyền trong ngành vận tải biển như EU quy định về chống độc quyền trong ngành vận tải biển áp dụng từ ngày 1/10/2023, theo đó không được thành lập các liên minh quy định về giá cước, phụ phí… IADA (Intra Asia Discussion Agreement) cũng đã quy định rõ về luật chống độc quyền trong ngành vận tải biển tại các quốc gia châu Á.

2.2. Các xu thế phát triển chủ yếu của vận tải biển trên thế giới và khu vực trong 20 năm gần đây.

2.2.1. Container hoá trên thế giới và tại khu vực Thái Bình Dương là xu thế nổi bật nhất của ngành:

Có thể nói: Container hoá trong vận tải biển là cuộc cách mạng lớn nhất thế giới sau cuộc cách mạng về công nghệ thông tin. Vào những năm cuối thập niên 50, ngành hàng hải thế giới chứng kiến việc container hoá các dịch vụ ven biển của Hoa Kỳ, và người được coi như là cha đẻ của việc áp dụng container hoá là Malcolm Mclean ở North Carolina. Xu thế này bắt đầu phát triển mạnh từ những năm 1960 khi những chuyến vận tải container quốc tế đầu tiên được thực hiện, và đây được coi là cuộc cách mạng lớn nhất trong ngành hàng hải. Từ đó đến nay, vận tải hàng hoá bằng container đã tăng trưởng đến mức độ chóng mặt, đặc biệt trong giai đoạn 20 năm trở lại đây. Trong giai đoạn 1975-1994, số lượng container được xếp dỡ tại các cảng tăng từ 17,4 triệu TEU đến 126,6 triệu TEU (tăng khoảng 7 lần).. Khóa luận: Mở rộng thị trường tiêu thụ tại công ty dịch vụ hàng hải.

Xu thế tăng trưởng này vẫn tiếp tục duy trì cho những năm đầu của thế kỷ 21-Theo như dự báo của Ocean Shipping Consultant, trong một viễn cảnh khả quan, đến năm 2020 và 2025, số lượng container xếp dỡ tại các cảng sẽ là 342 triệu TEU và 525 triệu TEU tương ứng, tức là tốc độ tăng trưởng hàng năm vào khoảng 9%. Gần đây một đề tài nghiên cứu về vận tải biển thế giới do Trung tâm nghiên cứu Nhật Bản tiến hành đã kết luận: Vùng Châu Á – Thái Bình Dương là khu vực vận chuyển container nhiều nhất – chiếm 43,7%.

2.2.2. Tăng kích thước các tàu container; xu thế sử dụng các tàu có tính kinh tế ở các tuyến vận tải chủ yếu và việc liên doanh, hợp tác của các Công ty vận chuyển container lớn.

Một hiện tượng nổi bật trong hoạt động vận tải biển là các tuyến vận tải chủ yếu có xu thế sử dụng các tàu cực lớn. Trong thập kỷ trước đây, các tàu lớn nhất thế giới là tàu có sức chở 3.000 TEU hoạt động ở tuyến Viễn Đông và Châu Âu. Hiện nay các tàu với sức chở 4.000 TEU và 6.000 TEU đã trở thành quen thuộc ở vùng Thái Bình Dương. Hiện nay người ta đã nghĩ tới các tàu có trọng tải lớn hơn, ví dụ như tập đoàn Maersk đã dự tính đặt hàng đóng tàu có trọng tải trên 15.000 TEU. Về mặt kỹ thuật thì không có vấn đề gì khi đóng các tàu này. Tuy nhiên, các Công ty vận tải biển phải xem xét cẩn thận liệu các tàu này có kinh tế không và liệu có thị trường cho các tàu này hay không.

Xuất hiện các Công ty vận tải khổng lồ do liên doanh, liên kết toàn cầu. Trong thời gian qua lĩnh vực vận tải biển diễn ra nhiều cuộc sáp nhập lớn tạo ra các Công ty vận tải khổng lồ với phạm vi hoạt động và năng lực vận tải rất lớn. Sau đây là một vài ví dụ điển hình cho xu thế này: Việc sáp nhập của P&O (Công ty vận tải biển của Anh) và Nedloyd (một hãng vận tải container của Hà Lan) vào tháng 12 năm 1996 đã tạo ra một Công ty có năng lực vận tải 000 TEU, trở thành nhà vận tải container lớn thứ 3 trên thế giới. Tương tự năm 1997, NOL (Công ty vận tải biển của Singapore) mua APL (hãng vận tải container của Hoa Kỳ) trở thành NOL Group, đã nâng công suất của mình lên tới 165.000 TEU. Khả năng hợp nhất của Sea Land và Maersk Line được thảo luận vào đầu năm 1998 và cho đến nay việc hợp nhất này đã được triển khai từ tháng 6 năm 1999. Năm 1997 có 20 hãng tàu hàng đầu thế giới kiểm soát 48% năng lực container trên thế giới. Bước tiếp theo là các Công ty liên kết với nhau thành các liên minh. Việc các hãng vận tải tàu biển gia nhập các liên minh toàn cầu hy vọng sẽ thực hiện những lợi thế cả về chi phí vận tải tàu biển và chi phí dịch vụ vận tải và tiếp thị của các hãng này. Sự kết hợp được thực hiện không chỉ trong vận tải biển mà còn trong khâu quản lý thiết bị trước và sau hoạt động kinh doanh vận tải, kể cả vận hành các trạm; đặc biệt trong quản lý container và khả năng hợp lý hoá việc sử dụng năng lực vận tải thông qua các hợp đồng trao đổi khoang hàng, container. Theo ước tính có khoảng 20% container di chuyển trên biển là container rỗng, kèm theo nó là chi phí ước tính khoảng 2-3 tỷ đô la. Trong năm 1996, 22% container nhập khẩu và 12% container xuất khẩu được xử lý ở cảng Hồng Kông, Trung Quốc là rỗng hay nói cách khác là các cảng đã xử lý 2,4 triệu TEU rỗng. Như vậy, còn rất nhiều tiềm năng để giảm chi phí vận tải nếu các nhà vận tải có sự phối hợp, nhất trí với nhau trong khâu sử dụng container. Khóa luận: Mở rộng thị trường tiêu thụ tại công ty dịch vụ hàng hải.

2.2.4. Việc hình thành các trung tâm xếp dỡ cho tàu container (hub- port)

Việc xuất hiện các tàu vòng quanh thế giới của Malcolm McLean- người đi đầu trong vận tải container và cũng là người sáng lập Công ty vận tải Sea-Land đã gây ảnh hưởng đến hình mẫu vận chuyển container đường biển thế giới. Một số cảng hạn chế hoặc không cho phép các tàu có trọng tải lớn (trên 3000 TEU) vào bốc dỡ trên một số tuyến vận tải chính. Chính vì thế mà các tàu này buộc phải rẽ vào một số các cảng lựa chọn trong từng khu vực (pilot ports). Các cảng này trở thành các trung tâm chuyển tải khu vực hoặc trung tâm chất hàng từ đó các container sẽ được chuyển đi các cảng nhỏ hơn nhờ các tàu container nhỏ hơn (feeder) hoặc các phương tiện vận tải khác trong mạng lưới. Và cũng chính các tàu feeder sẽ chuyển container từ các khu vực cảng khác đến các cảng trung tâm (hub- port) để chuyển cho các tàu lớn chạy vòng quanh thế giới.

2.2.5. Liên kết các phương thức vận tải – Vận tải đa phương thức

Bên cạnh các xu thế trên, việc liên kết giữa hai phương thức vận tải thuỷ bộ (Sea-land) cũng được phát triển như vũ bão trong những năm gần đây, nhất là ở Bắc Mỹ. Năm 1984, Công ty APL đưa vào hoạt động các dịch vụ của tàu hoả hai tầng đã đánh dấu một cột mốc quan trọng trong việc liên kết các phương thức vận tải. Hiện nay hầu hết các tuyến vận tải đường biển đều hợp tác với nhau để sử dụng phương thức liên kết trên.

Các dịch vụ của tàu hoả hai tầng hoàn thành các công việc nhanh hơn nhiều so với các dịch vụ vận chuyển đơn thuần chỉ sử dụng đường thuỷ. Thời gian chuyển tải giữa Tokyo và New York là 15 ngày chứ không phải là 31 ngày như trước đây. Các dịch vụ vận tải này đã chiếm được thị trường rất lớn đối với các loại hàng có giá trị cao và yêu cầu vận chuyển nhanh trên tuyến vận chuyển Mỹ- Viễn Đông.

Song song với sự phát triển của quá trình toàn cầu hoá sản xuất, cung ứng và phân phối trong nhiều ngành công nghiệp thì thị trường tiếp vận vận tải (Logistic) vẫn tiếp tục khẳng định được vị trí của mình, tồn tại và phát triển ngay cả trong xu hướng tạo nguồn và tập trung vào kinh doanh cơ bản.

Xu hướng sử dụng vận tải đa phương thức trong việc chuyên chở hàng hoá quốc tế là một xu thế đang thị nh hành trên thế giới. Hiện nay các Công ty, các hãng tàu và các cơ quan quản lý cảng cũng như các hiệp hội đều đang thúc đẩy và tạo điều kiện cho phương thức vận tải này phát triển. Có thể nói vận tải đa phương thức đã trở thành một xu thế phát triển hiện đại trong ngành vận tải hàng hoá quốc tế với dị ch vụ cung cấp đảm bảo và được hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Tuy nhiên, cũng cần phải nói thêm là xu hướng này hình thành và phát triển như ngày nay là nhờ rất nhiều vào các thành tựu của ngành công nghệ thông tin, giúp cho việc trao đổi thông tin, khớp nối hành trình, quản lý dịch vụ đồng bộ được thực hiện một cách thuận tiện và chính xác hơn với sự hỗ trợ của các mạng lưới thông tin toàn cầu.

2.3. Thực trạng vận tải biển của Việt Nam và thế giới trong những năm gần đây. Khóa luận: Mở rộng thị trường tiêu thụ tại công ty dịch vụ hàng hải.

2.3.1. Thực trạng vận tải biển thế giới.

2.3.1.1. Thực trạng vận tải hàng hóa trên thế giới.

Nếu như trong năm 2024 tất cả các hãng tàu đều lỗ nặng do khủng hoảng kinh tế đặc biệt tháng 5 năm 2024 kỷ lục về số lượng tàu lay up – 735 tàu các loại đang nằm chờ ở các cảng Singapore tương đương khoảng 41 triệu tấn tàu, 1.3 Triệu TEU tương đương với 10.4% đội tàu thế giới.

  • a. Vận tải hàng rời bắt đầu phục hồi từ cuối năm 2024,2025

Trong quý 3 năm 2024 nhu cầu nguyên liệu tăng nhanh nên hoạt động vận tải biển đã được phục hồi. Sau tháng 3 năm 2025 tình hình thị trường hàng ròi, BDI lại lên xuống thất thường, không ổn định.

  • b. Vận tải hàng lỏng

Trong đó có vận tải dầu thô chiếm hơn 60% khối lượng vận chuyển hàng lỏng. Xăng và Gas, khí đốt hóa lỏng chiếm hơn 30%.

Vận tải hàng lỏng phụ thuộc khá nhiều vào.

  • Chính sách điều tiết sản lượng của OPEC (chiếm 59% sản lượng của vùng Trung Đông và châu Phi, 40% nguồn cung dầu thô tòan cầu)
  • Nhu cầu tiêu thụ Bắc Mỹ và châu Âu (Hơn 50% tổng tiêu thụ toàn cầu) và Trung Quốc.
  • Số lượng tàu dầu chênh lệch so với nhu cầu vận tải.
  • Hết năm 2025: Tàu vỏ đáy đơn trên 20 tuổi không được chạy quốc tế chiến 21%

Tàu vỏ đáy đôi quá 25 tuổi không được chạy đến hết 2015.

  • c. Vận tải container.

Nhu cầu vận tải tăng trong năm 2025, nhất là trong quý 3 và 4 Vận tải Container có nhiều diễn biến trái ngược: Cước tăng mạnh ở các tuyến dài và giảm dần ở nhiều tuyến ngắn. Khóa luận: Mở rộng thị trường tiêu thụ tại công ty dịch vụ hàng hải.

Sản xuất Container gần như ngưng trệ năm 2024 vì cầu “rơi tự do”. 2025: Thiếu hụt “nghiêm trọng” container ở châu Á, nhiều hãng tàu phải container đang dùng ở các tuyến châu Âu và Bắc Mỹ về để lấp khoảng trống ở Viễn Đông.

Sự thiếu cân bằng container đã tạm được ổn định từ tháng 7 năm 2025, do sản xuất container lại được tiếp tục. Các hãng tàu lớn đối mặt với thiếu container trong năm 2026. Năm 2025 do không có tàu mới được đóng nên nhiều hãng đã cắt tuyến dài, thiếu vỏ nên năm 2025 có lợi nhuận. Các báo cáo tài chính của năm 2025 cho biết lợi nhuận của NOL = $461Triệu, CMA – CGM = $1.627Tỷ. Song cộng dồn 2 năm nhiều hãng tàu vẫn lỗ do khủng hoảng năm 2025.

Quý 1 năm 2026 Diễn biến phức tạp do ảnh hưởng của giá xăng dầu, nguồn hàng, giá cước đang xuống từng tuần đặc biệt là tháng 4 năm 2026, tuyến Mỹ có dấu hiệu lỗ. Ngành vận tải đang ở trong tình trạng: High Fixed cost, Many Players – Fragmented; Fierce Competition, Hing Barriers to Exit, Low Margins.

2.4. Thực trạng các cảng biển trên thế giới và tại Việt Nam.

2.4.1. Thực trạng các cảng biển trên thế giới

Đến năm 2025 có sự thay đổi vị trí thứ nhất. Cảng Shang Hai lần đầu tiên vượt Singapore trở thành cảng lớn nhất thế giới. Cảng Shang Hai năm 2025 có tổng số lượng thông qua cảng đạt 650 Triệu Tấn. Số lượng container qua cảng đạt 29.05 Triệu TEU.

  • Sự nổi lên của các cảng biển thuộc hệ thông Trung Quốc đại lục chiếm 23% sản lượng cảng container toàn thế giới. Trong đó có 6 cảng lọt Top 20.
  • Tính riêng châu Á có 13/20 cảng trong TOP 20.
  • Tháng 7 năm 2025 UNCTAD đã đưa ra xếp hạng 65 quốc gia và vùng lãnh thổ về sản lượng container.
  • Danh sách 20 cảng container lớn nhất thế giới (đơn vị tính TEU)
  • Từ bảng số liệu trên của UNCTAD ta thấy Việt Nam đứng thứ 14 trong số 20 cảng biển có sản lượng container cao nhất thế giới. Khóa luận: Mở rộng thị trường tiêu thụ tại công ty dịch vụ hàng hải.

Theo thống kê của CMIT cụm cảng thành phố Hồ Chí Minh của Việt Nam đang đứng thứ 29 trong số 30 cảng container có số lượng container thông qua cảng lớn nhất thế giứoi với sản lượng tương đương khoảng 4.7 triệu TEU. Nếu tiếp tục đà tăng trường như hiện nay thì trong khoảng 5 năm tới Việt Nam sẽ có cảng Container lọt top 10.

2.4.2. Thực trạng tại các cảng Việt Nam.

  • Bảng thống kê sản lượng thông qua cảng biển Việt Nam năm 2025

Tháng 1 năm 2026: Sản lượng thông qua 22.2 Triệu tấn ( 621.099 TEUs) tăng 12.4% so với cùng kỳ năm 2025, hàng lỏng 4.4 triệu tấn, tăng 15.51%, hàng khô, bách hóa đạt hơn 7.6 triệu tấn, hàng quá cảnh 3.2 triệu tấn.

2 tháng đầu năm 2026: Ước tính sản lượng thông qua các cảng biển Việt Nam là 44.2 triệu tấn hàng hóa lưu thông qua hệ thống.

Tháng 2: Sản lượng qua cảng Hải Phòng giảm so với tháng 1, tổng sản lượng hàng hóa thông qua đạt hơn 1,15 triệu tấn, bằng 92% kế hoạch và bằng 76% so với tháng 1.

  • Bảng tổng hợp sản lượng container thông qua cảng năm 2025

2.5. Thực trạng các hãng tàu container trên thế giới và tại Việt Nam.

2.5.1. Các hãng tàu trên thế giới.

Năm 2024 có thể nói là một năm ảm đạm của nền kinh tế thế giới nói riêng và của các hãng tàu nói riêng. Trong năm 2024 thế giới đã phải chứng kiến những vụ phá sản khổng lồ của các tập đoàn kinh tế lớn. Các hãng tàu châu Á cũng chứng kiến sự phá sản của các hãng tàu mà có thể kể đến là hãng tùa SYMS và hãng tàu Sơn Đông.

Dưới đây là bảng tổng hợp lợi nhuận của một số hãng tàu lớn trên thế giới năm 2024

  • Bảng xếp hạng 20 hãng tàu lớn nhất thế giới năm 2025.

2.5.2. Các hàng tàu của Việt Nam.

Mục tiêu tăng trưởng bình quân trong các năm trước đây 15 – 18% Năm 2026 mục tiêu phấn đấu tăng 9 – 11% sản lượng vận tải biển. Khóa luận: Mở rộng thị trường tiêu thụ tại công ty dịch vụ hàng hải.

  • Đặc biệt trong năm 2025: sản lượng đạt 89 triệu tấn trong đó VOSCO đạt 4 triệu tấn, Vitranschart đạt 1,2 triệu tấn, Vinaship đạt 1,4 triệu tấn, Vinalines Hải Phòng đạt 536 nghìn tấn…
  • Thực tế các hãng tàu của Việt nam không có nhiều mà tập trung ở các Công ty lớn như Vinaship, VOSCO…
  • Trong năm 2026 sẽ còn khó khăn hơn so với năm 2025 đối với nhiều doanh nghiệp vận tải biển Việt Nam, nhất là những doanh nghiệp vừa và nhỏ.
  • Phải tiếp tục xử lý các khoản vay mua tàu rầm rộ từ năm 2022 –
  • Lãy vay ngân hàng năm 2026 tăng cao, lạm phát.
  • Giá cước vận tải năm 2026 sẽ còn rất đen tối, tiếp tục bấp bênh và thiều ổn định ( theo tham luận của Ls. Tạ Hòa Bình HNSXKD Vinalines2026)
  • Sản lượng vận tải biển 2 tháng đầu năm 2026 ước đạt 13.3 triệu tấn (tháng 2 = 6.8 triệu tấn). Vận tải nước ngoài thường xuyên cao gấp đôi vận tải nội địa.

Theo định hướng phát triển đội tàu biển Việt Nam đến 2015

  • Tổng trọng tải 8.5 – 9.5 triệu DWT.
  • Đảm nhận khoảng 110 – 126 triệu tấn hàng hóa.

Định hướng phát triển đội tàu Việt Nam đến năm

  • Tổng trọng tải 11.5 – 13.5 triệu DWT
  • Đảm nhận vận chuyển hàng hóa đạt 215 – 260 triệu tấn.
  • Trẻ hóa đội tàu biển đạt độ tuổi trung bình 12 năm.

Đóng và mua mới đội tàu hàng thêm 3.8 – 4.9 triệu DWT; đội tàu khách du lịch, tàu khách ven biển ra vào đảo thêm khoảng 14.000 ghế. Khóa luận: Mở rộng thị trường tiêu thụ tại công ty dịch vụ hàng hải.

  • Theo số liệu thống kê của UNCTAD Việt Nam xếp thứ 30/35 quốc gia và vùng lãnh thổ có đội tàu lớn nhất.
  • Từ cuối năm 2024, Trung Quốc vượt Đức trở thành nứơc sở hữu nhiều tàu thứ Việt Nam đứng vị trí 30 với 544 tàu (460 tàu treo cờ Việt Nam + 84 tàu Việt Nam treo cờ nứơc ngoài), trọng tài đạt 6.7 triệu tấn.
  • Các tuyền hoạt động chính của đội tàu Việt Nam: Đông Nam Á, đông bắc Á, từ châu Á đi châu Phi , Nam Mỹ nhiều Công ty đang mở rộng sang thị trường Mỹ ( Vinaship/ Houston).

Đội tàu Việt Nam gồm có 691 ngàn thuyền viên gồm:

  • 2766 thuyền trưởng
  • 2344 Máy trưởng
  • 2084 Đại phó
  • 1673 máy hai
  • 5122 sỹ quan boong
  • 4677 sỹ quan máy
  • Thị phần vận tải xuất nhập khẩu vẫn ở mức 15 – 20%.

Một vài số liệu về đội tàu biển Việt Nam

  • Tổng cộng 1654 tàu.
  • Tổng trọng tải:7.1 Triệu DWT. Trong đó:
  • Tàu khô 64%, tàu dầu 19%, tàu container 4%…
  • 450 tàu tham gia vận tải quốc tế.
  • Đứng thứ 60/152 trên thế giới ( thứ 4 ASEAN)
  • Độ tuổi trung bình 12.9 tuổi đứng thứ 2 ASEAN sau Singapore. Khóa luận: Mở rộng thị trường tiêu thụ tại công ty dịch vụ hàng hải.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Tình hình tại công ty dịch vụ hàng hải phương đông

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x