Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Công ty Điện cơ hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
LỜI NÓI ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Hiệu quả sản xuất kinh doanh luôn là mục tiêu hành đầu, quyết định sự tồn tại của mỗi doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường doanh nghiệp muốn tồn tại phải làm ăn “có lãi”, nhất là những doanh nghiệp đã tiến hành CPH bước vào hoạt động với tư cách là CTCP, vận hành theo cơ chế thị trường tự chịu trách nhiệm với công việc sản xuất kinh doanh của mình. Nâng cao hiệu quả SXKD là nhiệm vụ hàng đầu của mỗi doanh nghiệp.
Có rất nhiều yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp như: yếu tố con người, vốn, thị trường cạnh tranh, chính sách của nhà nước… Để nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD cần phân tích để đánh giá toàn bộ quá trình và kết quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp, nhằm làm rõ chất lượng hoạt động SXKD và các yếu tố tiềm năng cần được khai thác, trên cơ sở đó đề ra các phương án và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp.
Nhận thấy được tầm quan trọng của vấn đề, vì vậy sau một thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng em đã lựa chọn đề tài “Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng” làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Phân tích tình hình hoạt động SXKD tại Công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng trong các năm 2007, 2008 để thấy được điểm mạnh và những thiếu sót cần khắc phục. Từ đó đưa ra một số biện pháp giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD hiện tại cũng như hướng phát triển trong tương lai.
3. Quan điểm nghiên cứu Khóa luận: Hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Công ty Điện cơ.
Hiệu quả hoạt động SXKD đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp.Trong cơ chế thị trường các doanh nghiệp muốn tồn tại thích nghi với những biến đổi của thị trường cần có chiến lược kinh doanh thích hợp, dựa vào nội lực của mình để vươn lên nhằm đạt được mục tiêu hiệu quả hoạt động SXKD.
Việc nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD gắn với kết hợp hài hoà giữa ba lợi ích: lợi ích xã hội, lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân. Trong đó người lao động là động lực trực tiếp quyết định hiệu quả hoạt động SXKD.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để phục vụ cho quá trình viết báo cáo, trong thời gian tìm hiểu, thu thập dữ liệu em đã sử dụng các phương pháp:
- Phương pháp duy vật biện chứng
- Duy vật lịch sử
- Phương pháp thống kê – so sánh
- Phương pháp phân tích – tổng hợp
5. Kết cấu khóa luận
Sau một thời gian thực tập và tìm hiểu tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, được sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban lãnh đạo Công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng, được sự chỉ bảo tận tình của Thầy giáo – Tiến Sĩ Nghiêm Sĩ Thương đã giúp cho em hoàn thành bài Khóa Luận tốt nghiệp của mình, gồm 3 phần chính:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
- Chương 2: Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng
- Chương 3: Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng
Em xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo công ty đã tạo điều kiện, giúp đỡ để em có thể tìm hiểu hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty và bước đầu áp dụng kiến thức đã học vào thực tế công việc của em sau khi ra trường. Em vô cùng cảm ơn Thầy giáo – Tiến sĩ Nghiêm Sĩ Thương đã hướng dẫn để em có thể vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế, để có thể phân tích, đánh giá hoạt động và đưa ra biện pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH Khóa luận: Hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Công ty Điện cơ.
1.1. Giới thiệu chung
1.1.1. Khái niệm
1.1.1.1. Khái niệm hoạt động sản xuất kinh doanh
Trong thời đại ngày nay, hoạt động sản xuất tạo ra của cải vật chất và dịch vụ luôn gắn liền với cuộc sống của con người, công việc sản xuất thuận lợi khi các sản phẩm tạo ra được thị trường chấp nhận tức là đồng ý sử dụng sản phẩm đó. Để được như vậy thì các chủ thể tiến hành sản xuất phải có khả năng kinh doanh.
Nếu loại bỏ các phần khác nhau nói về phương tiện, phương thức, kết quả cụ thể của hoạt động kinh doanh thì có thể hiểu kinh doanh là các hoạt động kinh tế nhằm mục tiêu sinh lời của chủ thể kinh doanh trên thị trường”
- Hoạt động kinh doanh có đặc điểm:
Do một chủ thể thực hiện và gọi là chủ thể kinh doanh, chủ thể kinh doanh có thể là cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp
Kinh doanh phải gắn với thị trường, các chủ thể kinh doanh có mối quan hệ mật thiết với nhau, đó là quan hệ với các bạn hàng, với chủ thể cung cấp đầu vào, với khách hàng, với đối thủ cạnh tranh, với Nhà nước. Các mối quan hệ này giúp cho các chủ thể kinh doanh duy trì hoạt động kinh doanh đưa doanh nghiệp của mình này càng phát triển.
Kinh doanh phải có sự vận động của đồng vốn: Vốn là yếu tố quyết định cho công việc kinh doanh, không có vốn thì không thể có hoạt động kinh doanh. Chủ thể kinh doanh sử dụng vốn mua nguyên liệu, thiết bị sản xuất, thuê lao động…
Mục đích chủ yếu của hoạt động kinh doanh là lợi nhuận. Khóa luận: Hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Công ty Điện cơ.
1.1.1.2. Khái niệm hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Trong cơ chế thị trường hiện nay ở nước ta, mục tiêu lâu dài bao trùm của các doanh nghiệp là kinh doanh có hiệu quả và tối đa hoá lợi nhuận. Môi trường kinh doanh luôn biến đổi đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có chiến lược kinh doanh thích hợp. Công việc kinh doanh là một nghệ thuật đòi hỏi sự tính toán nhanh nhạy, biết nhìn nhận vấn đề ở tầm chiến lược. Hiệu quả hoạt động SXKD luôn gắn liền với hoạt động kinh doanh, có thể xem xét nó trên nhiều góc độ. Để hiểu được khái niệm hiệu quả hoạt động SXKD cần xét đến hiệu quả kinh tế của một hiện tượng.
“Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc quá trình) kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định”, nó biểu hiện mối quan hệ tương quan giữa kết quả thu được và toàn bộ chi phí bỏ ra để có kết quả đó, phản ánh được chất lượng của hoạt động kinh tế đó.
Từ định nghĩa về hiệu quả kinh tế của một hiện tượng như trên ta có thể hiểu hiệu quả hoạt động SXKD là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã đặt ra, nó biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và những chi phí bỏ ra để có được kết quả đó, độ chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả càng cao. Trên góc độ này thì hiệu quả đồng nhất với lợi nhuận của doanh nghiệp và khả năng đáp ứng về mặt chất lượng của sản phẩm đối với nhu cầu của thị trường.
1.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Khóa luận: Hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Công ty Điện cơ.
1.2.1. Các nhân tố bên trong
1.2.1.1. Lực lượng lao động
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, lực lượng lao động của doanh nghiệp có thể sáng tạo ra công nghệ, kỹ thuật mới và đưa chúng vào sử dụng để tạo ra tiềm năng lớn cho việc nâng cao hiệu quả kinh doanh. Cũng chính lực lượng lao động sáng tạo ra những sản phẩm mới với kiểu dáng phù hợp với cầu của người tiêu dùng, làm cho sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp có thể bán được tạo cơ sở nâng cao hiệu quả kinh doanh. Lực lượng lao động tác động trực tiếp đến năng suất lao động, đến trình độ sử dụng các nguồn lực khác (máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu …) nên tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Ngày nay sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế tri thức. Đặc trưng cơ bản của nền kinh tế tri thức là hàm lượng khoa học công nghệ kết tinh trong sản phẩm (dịch vụ) rất cao. Đòi hỏi lực lượng lao động phải là lực lượng có trình độ khoa học kỹ thuật cao, điều này khẳng định vai trò ngày càng quan trọng của lực lượng lao động đối với việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.1.2. Trình độ phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật.
Công cụ lao động là phương tiện mà con người sử dụng để tác động vào đối tượng lao động. Quá trình phát triển sản xuất luôn gắn liền với quá trình phát triển của công cụ lao động, tăng năng suất lao động, tăng sản lượng, chất lượng sản phẩm và hạ giá thành. Như thế, cơ sở vật chất kỹ thuật là nhân tố hết sức quan trọng tạo ra tiềm năng năng suất, chất lượng và tăng hiệu quả kinh doanh. Chất lượng hoạt động của doanh nghiệp chịu tác động mạnh mẽ của trình độ kỹ thuật, tính đồng bộ của máy móc thiết bị, chất lượng của công tác bảo dưỡng, sửa chữa máy móc.
1.2.1.3. Nhân tố vốn
Đây là một nhân tố tổng hợp phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp thông qua khối lượng (nguồn) vốn mà doanh nghiệp có thể huy động vào kinh doanh, khả năng phân phối, đầu tư có hiệu quả các nguồn vốn cũng như khả năng quản lý các nguồn vốn kinh doanh. Khóa luận: Hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Công ty Điện cơ.
Yếu tố vốn là yếu tố chủ chốt quyết định đến quy mô của doanh nghiệp. Nó phản ánh sự phát triển của doanh nghiệp và là cơ sở đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trong kinh doanh.
1.2.1.4. Nhân tố quản trị doanh nghiệp.
Nhân tố quản trị doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Quản trị doanh nghiệp chú trọng đến việc xác định cho doanh nghiệp một hướng đi đúng dắn trong môi trường kinh doanh ngày càng biến động. Định hướng đúng là cơ sở để đảm bảo hiệu quả lâu dài của doanh nghiệp.
Muốn tồn tại và phát triển doanh nghiệp phải chiến thắng trong cạnh tranh, các lợi thế về chất lượng và sự khác biệt hóa sản phẩm, giá cả và tốc độ cung ứng để đảm bảo cho một doanh nghiệp giành chiến thắng trong cạnh tranh phụ thuộc vào nhãn quan và khả năng quản trị của các nhà quản trị doanh nghiệp.
Đội ngũ quản trị mà đặc biệt là các nhà quản trị cao cấp lãnh đạo doanh nghiệp bằng phẩm chất và tài năng của mình có vai trò quan trọng, có tính chất quyết định đến sự thành đạt của doanh nghiệp. Kết quả và hiệu quả hoạt động của quản trị doanh nghiệp đều phụ thuộc rất lớn vào trình độ chuyên môn của đội ngũ các nhà quản trị cũng như cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp, việc xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng bộ phận, cá nhân và thiết lập các mối quan hệ giữa các bộ phận trong cơ cấu tổ chức đó.
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐIỆN CƠ HẢI PHÕNG
2.1. Giới thiệu khái quát về Công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty
- Tên cơ sở kinh doanh: Công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng
- Tên giao dich: Hai Phong Electrical Mechanical Joint Stock Company
- Tên viết tắt: HAPEMCO
- Trụ sở chính: Số 734 Nguyễn Văn Linh – Lê Chân – Hải Phòng
- Điện thoại: 0313.835.927 hoặc 0313.783.32 Fax: 0313.85739
- Quá trình hình thành và phát triển
2.1.1.1. Giai đoạn 1961 – 1985 Khóa luận: Hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Công ty Điện cơ.
Những năm đầu của thập niên 60 của thế kỷ XX, khi miền Bắc bước vào công cuộc cải tạo tư bản tư doanh, chủ trương của Đảng ta lúc này là thành lập một loạt các nhà máy để sản xuất ra tư liệu sản xuất phục vụ cho công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc. Trong tình hình đó Xí nghiệp Hải Phòng Điện khí được phép thành lập theo Quyết định số 169/QĐ-TCCQ ngày 16/3/1961 của UBND Thành phố Hải Phòng. Xí nghiệp được thành lập trên cơ sở sáp nhập 3 cơ sở tư doanh nhỏ trong nội thành Hải Phòng là: Xưởng Công Tư hợp doanh Khuy Trai, Xưởng loa truyền thanh và Xí nghiệp 19 – 8. Theo quyết định thành lập và giấy phép kinh doanh thì Xí nghiệp là đơn vị duy nhất nằm trong vùng Duyên Hải sản xuất các loại quạt điện dân dụng. Từ khi thành lập cho đến nay Xí nghiệp đã trải qua nhiều nấc thăng trầm.
Đây là thời kì Xí nghiệp hoạt động mang tính kế hoạch hoá tập trung, thực hiện nhiệm vụ theo các chỉ tiêu Thành phố giao.
Về kết cấu sản phẩm chủ yếu của doanh nghiệp thời kỳ này gồm 3 sản phẩm chính, sản xuất, phân phối và tiêu thụ theo kế hoạch của Nhà nước là:
- Động cơ điện 3 pha từ 0,6 KW đến 10 KW.
- Máy hàn điện 3 pha 380V – 21 KV.
- Quạt điện dân dụng và công nghiệp.
Về tổ chức bộ máy quản lý: Mang đầy đủ đặc điểm của thời kỳ bao cấp: Đảng lãnh đạo toàn diện – Bộ tứ quyết định những vấn đề quan trọng. Vai trò của ban Giám đốc và điều hành không mang tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
Từ năm 1984 Xí nghiệp được đổi tên thành Xí nghiệp Điện cơ Hải Phòng. Có thể nói đây là thời kỳ vàng son của doanh nghiệp, sản phẩm sản xuất ra đến đâu tiêu thụ hết đến đó. Chính vì vậy Xí nghiệp có điều kiện đổi mới, mở rộng sản xuất, mở rộng quy mô, cơ cấu mặt hàng cũng đa dạng. Uy tín của sản phẩm chiếm lĩnh được lòng tin của khách hàng. Xí nghiệp hoàn thành nhiệm vụ sản xuất – kinh doanh, đạt vượt mức doanh thu của giai đoạn trước. Từ 1984 – 1987, Xí nghiệp đã nhiều lần giữ lá cờ đầu về sản xuất – kinh doanh của Sở Công nghiệp Hải Phòng và được thưởng nhiều huân chương và bằng khen của cấp trên.
Sản phẩm sản xuất là các loại quạt điện, động cơ điện, máy hàn. Trong đó sản phẩm chủ yếu là quạt điện mang nhãn hiệu “Phong Lan”.
2.1.1.2. Giai đoạn 1986 – 2005. Khóa luận: Hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Công ty Điện cơ.
Những năm cuối của thập niên 80, khi đất nước chuyển nền kinh tế từ tập trung kế hoạch hoá sang nền kinh tế thị trường, Xí nghiệp gặp rất nhiều khó khăn, nhất là trong khâu tiêu thụ. Nguyên nhân chủ yếu là do hàng hoá nước ngoài tràn vào bằng nhiều con đường khác nhau lấn át hàng nội địa, hàng các tỉnh phía Nam tràn ra bán tràn lan với giá rẻ lấn át thị phần quạt điện của xí nghiệp. Trong khi đó hàng của Xí nghiệp sản xuất bằng công nghệ đã lạc hậu, chất lượng thấp, giá thành cao, mẫu mã không được đổi mới kịp thời để đáp ứng nhu cầu của thị trường. Đồng thời đội ngũ Marketing của Xí nghiệp chưa đủ mạnh để thích ứng với đòi hỏi của nền kinh tế mới. Chính vì thế Xí nghiệp đứng trước nguy cơ đóng cửa, công nhân phải nghỉ việc nhiều tháng.
Trước tình hình đó, Đảng uỷ và Ban Giám đốc đã quyết định nhanh chóng phải thay đổi công nghệ sản xuất, đổi mới mẫu mã, chủng loại sản phẩm để kịp thời đưa ra thị trường những sản phẩm đẹp về hình thức, kiểu dáng, tiện dụng, chất lượng đảm bảo, giá cả hợp lý. Do đó Xí nghiệp đã dần dần ổn định và vượt qua những khó khăn ban đầu, khôi phục sản xuất kinh doanh.
Tháng 10/1992 UBND Thành phố ban hành quyết định số 1208/QĐ – UB ngày 11/10/1992 về việc thành lập doanh nghiệp Nhà nước đối với Xí nghiệp Điện cơ Hải Phòng. Và đến năm 1998 Xí nghiệp được đổi tên thành Công ty Điện cơ Hải Phòng. Từ đây đơn vị được hoạt động một cách tự chủ, hạch toán có lãi. Sản phẩm sản xuất là do thị trường quyết định, không còn mang tính kế hoạch hoá như trước đây nữa. Do đó Công ty chỉ sản xuất các loại sản phẩm mà thị trường cần và công ty có thế mạnh.
Sản phẩm chủ yếu là các loại quạt và lồng quạt, cánh quạt các cỡ để phục vụ cho công nghệ sản xuất liên tục tại Công ty và cung cấp các linh kiên quạt cho các bạn hàng cũng sản xuất quạt.
Tháng 4/1998 Công ty đã ký kết với tập đoàn Mitsustar của Nhật để sản xuất các linh kiện quạt, công nghệ máy móc đã được đầu tư hiện đại như: Dây chuyền hàn lồng tự động, dây chuyền phun sơn tĩnh điện.
Từ năm 1999 – 2005 sản phẩm quạt điện Phong lan đã được người tiêu dùng bình chọn là hàng Việt Nam chất lượng cao. Thị trường sản phẩm đã được mở rộng ra ngoài Thành phố cũng như xuất khẩu sang thị trường nước ngoài.
2.1.1.3. Giai đoạn từ 2006 cho đến nay.
Đây là giai đoạn Công ty hoạt động dưới hình thức Công ty cổ phần. Trong hoàn cảnh kinh tế thị trường phát triển, hội nhập với các nước lân cận, các khu vưc kinh tế; Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp tiến hành Cổ phần hoá nhằm đáp ứng nhu cầu mới của nền kinh tế, nhất là nhu cầu về vốn. Ngày 26/12/2005 Công ty Điện cơ Hải Phòng được đổi tên thành Công ty Cổ Phần Điện cơ Hải Phòng theo Quyết định số 3430/QĐ-UB ngày 26/12/2005 của UBND Thành phố Hải Phòng. Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng số 0203000691 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hải Phòng cấp ngày 13/01/2006.
Vốn Điều lệ trên giấy đăng ký kinh doanh là: 8,450 tỷ đồng. Trong đó:
- Vốn Nhà nước: 1,3 tỷ, chiếm 15%
- Vốn cổ đông trong Công ty: 6,266 tỷ, chiếm 74,20%.
- Vốn cổ đông ngoài Công ty: 884 triệu, chiếm 10,80%.
2.2. Phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng Khóa luận: Hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Công ty Điện cơ.
2.2.1. Phân tích hiệu quả sử dụng lao động
2.2.1.1. Đặc điểm lao động của công ty
- Cơ cấu lao động của công ty
Lao động có vai trò quan trọng, là nguồn tiềm năng lớn tạo ra của cải vật chất. Do vậy khi nói đến yếu tố lao động không chỉ đơn thuần đề cập đến số lượng và chất lượng mà còn cả việc tuyển chọn, đào tạo lao động, bố trí sắp xếp, quản lý và sử dụng lao động để đem lại hiệu quả cao đó mới là vấn đề phức tạp. Là công ty sản xuất sản phẩm nên chủ yếu đội ngũ công nhân kỹ thuật chiếm tỷ trọng cao trong tổng số lao động.
Tổng số lao động của Công ty được phân thành hai khối: Khối gián tiếp và khối trực tiếp. Cụ thể số lượng và cơ cấu mỗi loại thể hiện qua bảng sau:
Nhận xét: Theo bảng trên ta thấy, tổng lao động của Công ty năm 2008 tăng không đáng kể so với năm 2007. Cụ thể:
Năm 2007 có 220 người, năm 2008 là 225 người, tăng 5 người so với năm 2007 tương đương với 2,3%. Tổng lao động tăng lên là do lao động trực tiếp tăng:
Lao động trực tiếp năm 2007 là: 169 người, chiếm 76,8%, sang năm 2008 là 174 người, chiếm 77,3%. Như vậy là tăng cả về tuyệt đối (+5 người) lẫn tương đối. Trong đó tập trung công nhân nhiều nhất tại phân xưởng Cơ khí (chiếm 33,8%)
- Tình hình sử dụng chất lượng lao động
Chất lượng lao động có ảnh hưởng quan trọng đến năng suất lao động trong mỗi doanh nghiệp. Chất lượng lao động được thể hiện qua các tiêu chí: Trình độ tay nghề; trình độ văn hoá; mức thâm niên nghề…Dưới đây là bảng phân tích chất lượng lao động của Công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng Khóa luận: Hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Công ty Điện cơ.
- Chế độ làm việc của công ty
Qua bảng trên ta thấy, số ngày làm việc thực tế năm 2008 giảm 2 ngày. Trong khi số lượng cán bộ công nhân viên nghỉ ốm tăng thêm 3 ngày, như vậy sẽ ảnh hưởng đến công việc sản xuất của Công ty, riêng việc bộ phận quản lý phải điều động người từ xưởng khác đến để hoàn thành công việc đã gây ra nhiều khó khăn trong năng suất lao động như: Không phải chuyên môn, phải chờ xem công việc tại xưởng đó không có…, nhưng trong năm qua số ngày làm thêm cũng không tăng số ngày so với năm 2007. Qua điều tra và thu thập số liệu tình hình làm việc thực tế tại Công ty cho thấy, số ngày nghỉ trên chủ yếu đều từ công nhân ở phân xưởng nhựa. Có thể do tình hình môi trường làm việc ô nhiễm, nên số công nhân viên bị ảnh hưởng đến sức khoẻ nhiều. Công ty cần có biện pháp cải thiện môi trường làm việc, tăng cường trang thiết bị bảo hộ lao động để đảm bảo năng suất lao động.
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐIỆN CƠ HẢI PHÕNG
3.1. Mục tiêu và phương hướng phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong giai đoạn 2009- 2011
Hiện nay nền kinh tế nước ta đã gia nhập WTO, tạo cho mỗi doanh nghiệp nhiều cơ hội và thách thức mới. Hàng hóa ngoại nhập nhiều, sự bình đẳng giữa các loại hàng hóa được xem trọng. Thị trường cạnh tranh càng thêm khốc liệt. Để đáp ứng được nhu cầu của khách hàng và chiếm lĩnh được thị trường trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, ban lãnh đạo công ty đã phối kết hợp cùng các bộ phận có liên quan như thị trường, tài chính…xây dựng các mục tiêu chiến lược cho quá trình họat động của mình. Phương hướng hoạt động của công ty trong thời gian tới là: “Tập trung phát triển và mở rộng thị trường sản phẩm quạt điện cơ Phong Lan. Tiếp tục đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất để đáp ứng và thỏa mãn tối đa các nhu cầu của khách hàng. Mở rộng thị phần ra khu vực miền Trung và miền Nam”
Trên cơ sở phương hướng tổng quát như trên, công ty đã đưa ra các mục tiêu chiến lược sau:
- Nghiên cứu, xác định những bất hợp lý trong công nghệ và thiết bị. Tìm cách đầu tư thiết bị và công nghệ mới nhằm giảm mức tiêu hao năng lượng.
- Tăng cường công tác quản lý và xác định mức tiêu hao vật tư, nguyên nhiên vật liệu một cách hợp lý và tìm biện pháp để giảm mức tiêu hao nhằm giảm giá thành sản phẩm.
- Sắp xếp và bố trí lao động một cách hợp lý, đúng với nhu cầu của từng vị trí và công việc cụ thể. Xây dựng định mức lao động và các chính sách tiền lương tiền thưởng phù hợp để động viên những lao động tích cực, có ý thức làm việc chăm chỉ và có tinh thần trách nhiệm. Từ đó làm tăng hiệu quả lao động và năng suất lao động.
- Có chính sách bán hàng hợp lý và tạo cơ chế thích hợp cho khách hàng mua hàng trả tiền ngay nhằm thu hồi vốn và tạo điều kiện để quay vòng vốn nhanh và có hiệu quả.
3.2. Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Khóa luận: Hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Công ty Điện cơ.
3.2.1. Biện pháp giảm lượng thành phẩm tồn kho
3.2.1.1. Cơ sở của biện pháp
Việc quản lý tài sản tồn kho trong các doanh nghiệp là rất quan trọng vì quá trình dự trữ thường phát sinh các loại chi phí như: chi phí kho bãi, chi phí bảo quản, hư hao mất mát, chi phí lương, tái chế khi chất lượng kém… Đây là những khoản chi phí lớn trong quá trình sản xuất kinh doanh. Dự trữ tối thiểu là mục tiêu lý tưởng của các doanh nghiệp, nó thể hiện muốn giảm tới mức thấp nhất có thể lượng dự trữ trong kho để vừa không lãng phí chi phí vừa đảm bảo nhịp cung ứng hàng hoá phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Do đó để tăng lượng vốn lưu động thường xuyên doanh nghiệp cần giảm lượng tài sản tồn kho dự trữ xuống đúng mức. Điều này giúp doanh nghiệp không bị gián đoạn sản xuất đồng thời lại tiếc kiệm vốn lưu động, giảm chi phí, làm tăng vòng quay vốn lưu động.
Qua phân tích ở chương 2 ta thấy: Lượng hàng tồn kho chiếm tỷ trọng nhiều trong tổng tài sản làm hiệu quả sử dụng tài sản năm 2008 giảm.
3.2.1.2. Nội dung của biện pháp
Việc dự trữ một lượng hàng tồn kho tối ưu sẽ giảm được chi phí bảo quản, chi phí lưu kho lưu bãi, bảo vệ tránh được những hao hụt về số lượng và quan trọng là giúp cho quá trình luân chuyển của vốn lưu động nhanh hơn để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, và giảm được các khoản vay ngắn hạn tại ngân hàng. Do vậy cần phải giảm lượng thành phẩm tồn kho, muốn vậy Công ty có thể quan tâm đến các vấn đề sau:
Nâng cao hiệu quả công tác Marketing trong đó đặc biệt phải chú trọng đến công tác nghiên cứu thị trường, sản phẩm và chính sách bán hàng, khi đó vòng quay hàng tồn kho sẽ giảm đi khiến cho hàng tồn kho giảm tối thiểu theo mức mà doanh nghiệp mong muốn. Cụ thể một bộ phận Marketing sẽ tăng cường cách thức Marketing chuyên nghiệp hơn, hiện nay công ty đang thực hiện tư vấn bán hàng doanh số tăng 10% và chi phí bán hàng giảm 10% so với giá mà công ty đã ký kết với đối tác của các lô hàng. Khóa luận: Hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Công ty Điện cơ.
Kiểm tra đánh giá những hàng hoá, thành phẩm không còn khả năng sinh lời trên thị trường thì cần phải được thanh lý nhanh để tận dụng nguồn vốn sử dụng cho mục đích khác.
Đối vối những hàng hoá bị trả lại thì áp dụng những chính sách giảm giá: treo biển giảm giá ở tất cả những đại lý trong nước, chiết khấu cho các đại lý phù hợp hơn.
Theo khảo sát thị trường, sau khi áp dụng các hình thức giảm giá và chiết khấu thương mại công ty đã nhận được các đơn đặt hàng từ phía các nhà đại lý tiêu thụ như sau:
- Lợi nhuận thu được khi thực hiện biện pháp 1
Công ty tiết kiệm được khoản chi phí lãi vay trong 7 tháng ( do vòng quay hàng tồn kho là 1,80 vòng tức là kỳ luân chuyển hàng tồn kho là 200 ngày) của số tiền thu được qua bán hàng là: 4.480.700.000 x 0.875% x 7 = 274.442.875 (đồng)
- Lợi nhuận công ty thu được khi bán hàng: 4.480.700.000 – 4.241.250.000 = 239.450.000 (đồng)
- Tổng lợi nhuận thu được khi thực hiện biện pháp: 274.442.875 + 239.450.000 = 513.892.875 (đồng)
- Một số chỉ tiêu đạt được sau khi thực hiện biện pháp 1:
Vậy sau khi thực hiện biện pháp 1 lượng hàng tồn kho giảm 4.875.000.000 (đồng), công ty thu được lợi nhuận là 513.892.875 (đồng) đồng thời số vòng quay hàng tồn kho tăng từ 1,8 vòng lên 2,18 vòng.
KẾT LUẬN Khóa luận: Hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Công ty Điện cơ.
Hầu hết các doanh nghiệp tham gia vào nền kinh tế đều đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu. Muốn đạt được lợi nhuận cao trong khi các yếu tố đầu vào có hạn thì doanh nghiệp phải không ngừng tìm cách nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình. Do đó, phân tích và tìm biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh luôn luôn là vấn đề cần được các doanh nghiệp quan tâm một cách đúng mức.
Sau khi áp dụng cơ sở lý luận vào phân tích cụ thể hoạt động SXKD tại công ty Công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng em nhận thấy rằng hoạt động kinh doanh của công ty trong năm qua đã đạt hiệu quả cao hơn năm trước. Tuy nhiên vẫn còn có các chỉ tiêu phản ánh kết quả cũng như hiệu quả kém hơn năm trước. Nếu những điểm này được cải thiện thì sẽ mang lại hiệu quả cao hơn cho Công ty. Từ những phát hiện khi phân tích các vấn đề đã tìm hiểu em đã đề xuất một số ý kiến nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty. Tuy nhiên, do những hạn chế về kiến thức và năng lực của bản thân cũng như những vấn đề em tìm hiểu không bao quát được mọi khía cạnh của Công ty nên những đề xuất em đưa ra chỉ có ý nghĩa ở một mức độ nhất định và khoá luận của em không tránh khỏi còn những thiếu sót. Em mong được sự góp ý và thông cảm của các thầy cô.
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy giáo – Tiến sĩ Nghiêm Sỹ Thương đã hướng dẫn em trong quá trình thực hiện đề tài. Em xin cảm ơn toàn thể cán bộ, nhân viên trong Công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng đã nhiệt tình giúp đỡ em trong thời gian qua! Khóa luận: Hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Công ty Điện cơ.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Kế toán doanh thu chi phí và XĐKQKD tại Cty Thắng
