Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Vietcombank

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Vietcombank hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương Hải Phòng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

2.1. Khái quát hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ phần  Ngoại Thương Hải Phòng

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển

Chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) Ngoại Thương Hải Phòng (HP) tự hào có một bề dày truyền thống gắn với những ngày đầu của đất nước. Tiền thân của chi nhánh ngân hàng TMCP Ngoại Thương chi nhánh Hải Phòng là phòng quản lý ngoại hối được thành lập từ năm 1963 thuộc Cục ngoại hối ngân hàng Nhà Nước mà trước đó được gọi là Sở quản lý ngoại hối.

Sau khi Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam được thành lập, phòng quản lý ngoại hối Hải Phòng về mặt đối ngoại được giới thiệu ra nước ngoài là một chi nhánh thuộc hệ thống ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, đã thực hiện một số nghiệp vụ đối ngoại tại chỗ, đó là thanh toán tiểu ngạch giữa Hải Phòng với Hồng Kông, Trung Quốc và thanh toán tiền ký ngân của các hãng tàu biển nước ngoài tới Cảng Hải Phòng.

Tháng 7 năm 1969, Chi nhánh nghiệp vụ ngân hàng Cảng thành phố được thành lập theo quyết định của Hội đồng chính phủ. Về mặt đối ngoại, chi nhánh nghiệp vụ ngân hàng Cảng thuộc hệ thống Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam có con dấu riêng, nhưng về mặt tổ chức chịu sự lãnh đạo của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam và Ngân hàng Nhà nước thành phố Hải Phòng. Phòng quản lý ngoại hối được sáp nhập với chi nhánh nghiệp vụ ngân hàng Cảng.

Sau năm 1975, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam nhanh chóng phát triển toàn diện cả về bề rộng lẫn bề sâu để góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế mà Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IV đề ra. Thực hiện chủ trương đẩy mạnh phát triển hoạt động của ngân hàng và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của thành phố Cảng, ngày 27/12/1976, Tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ra quyết định thành lập chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hải Phòng thuộc hệ thống Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam và chi nhánh chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/1977.

Trải qua quá trình xây dựng và phát triển, giờ đây chi nhánh Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Hải Phòng đã và đang phát triển lớn mạnh, trở thành một trong những ngân hàng có vị thế trong hệ thống NH Ngoại thương Việt Nam, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của đất nước .

2.1.2. Cơ cấu tổ chức hoạt động

Hơn 30 năm xây dựng và phát triển, giờ đây NHTMCP Ngoại thương Hải Phòng đã có trong tay hành trang tương đối vững chắc. Lãnh đạo Ngân hàng được đào tạo cơ bản về quản lý và điều hành, có kỹ năng chuyên sâu về các lĩnh vực nghiệp vụ ngân hàng và ngoại ngữ. Đội ngũ nhân viên có chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp, có đủ nhiệt tình và tâm huyết xây dựng một ngân hàng vững mạnh. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Vietcombank.

Ban Giám Đốc của chi nhánh NHTMCP Ngoại thương Hải Phòng bao gồm giám đốc và hai phó giám đốc. Giám đốc là người trực tiếp điều hành mọi hoạt động của chi nhánh và chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc và Hội đồng quản trị của ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam. Các phó giám đốc đảm nhiệm từng lĩnh vực mà mình phụ trách và có trách nhiệm giúp đỡ giám đốc điều hành hoạt động kinh doanh của chi nhánh. Toàn bộ chi nhánh có 07 phòng ban nghiệp vụ và 07 phòng giao dịch. Tổng số nhân sự của NHTMCP Ngoại thương Hải Phòng gồm có 160 nhân viên. Độ tuổi trung bình của cán bộ nhân viên ngân hàng TMCP Ngoại thương Hải Phòng vào khoảng 35 tuổi, trình độ thạc sỹ chiếm 4%, đại học chiếm 78%, còn lại là sơ cấp và trung cấp, đây là một trong những nhân tố cơ bản quyết định sự thành công của ngân hàng :

Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức Ngân hàng TMCP Ngoại thương HP

2.1.3. Tình hình hoạt động kinh doanh của NHTMCP Ngoại thương Hải Phòng giai đoạn 2022 – 2025

Trước sự ảnh hưởng chung của nền kinh tế thế giới và áp lực cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gay gắt, NHTMCP Ngoại thương Việt Nam (VCB) đã nỗ lực vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, đạt được kết quả kinh doanh tốt, giữ vững vị thế vai trò là Ngân hàng hàng đầu Việt Nam. Với vai trò là Chi nhánh của VCB, NHTM Ngoại thương Hải phòng đã triển khai có kết quả các giải pháp trong hoạt động kinh doanh, đóng góp một phần không nhỏ trong sự tăng trưởng của hệ thống Ngân hàng TMCP Ngoại thương.

  • Huy động vốn

Huy động vốn hiện đang là vấn đề được ngành tài chính ngân hàng, các doanh nghiệp hết sức quan tâm. Bởi chỉ khi nguồn vốn được đảm bảo thì mới tạo đà cho việc sử dụng vốn hợp lý vào các mục đích khác nhau. Và để có thể tạo được nguồn vốn riêng cho mình với chi phí rẻ nhất thì cách tốt nhất là ngân hàng huy động từ nềm kinh tế mà chủ yếu từ tổ chức kinh tế và dân cư. Nhận thức được vấn đề đó với phương châm coi tạo nguồn vốn là khâu mở đường tạo mặt bằng vốn tăng trưởng vững chắc NHTMCP NT HP đã cố gắng trong công tác huy động vốn với nhiều hình thức huy động khác nhau để đáp úng nhu cầu của khách hàng. Chính vì vậy, nguồn vốn huy động của ngân hàng luôn tăng trưởng trong những năm qua.

Huy động vốn tại NHTMCP NT HP từ năm 2022 – 2025 được thể hiện qua biểu đồ sau:

  • Biểu đồ 2.1. Tổng vốn huy động giai đoạn 2022 – 2025
  • Bảng 2.1: Tổng vốn huy động giai đoạn 2022 – 2025

Nhìn vào biểu đồ ta thấy, tổng vốn huy động luôn tăng trưởng qua các năm. Năm 2022 tổng vốn của ngân hàng là 4.075,46 tỷ đồng sang năm 2023 tổng vốn huy động tăng thêm 439,25 tỷ đồng đạt 4.514,71 tỷ đồng. Nguồn vốn của ngân hàng tiếp tục tăng trưởng trong những năm tiếp theo và đến năm 2025 đạt 5.026,532 tỷ đồng.

  • Cho vay Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Vietcombank.

Trong giai đoạn 2022 – 2025, nhìn chung NHTMCP Ngoại thương HP luôn có sự tăng trưởng về tín dụng qua các năm. Trong năm 2025, hoạt động tín dụng của Chi nhánh được phát triển theo hướng thận trọng trên cơ sở tập trung thu hồi nợ xấu, điều chỉnh cơ cấu tín dụng hợp lý, đa dạng hoá ngành hàng, tập trung vào phát triển các khách hàng có tiềm lực tài chính, năng lực kinh doanh tốt đảm bảo cho vay có hiệu quả cao.

Bảng 2.2: Thực trạng cho vay

  • Qua bảng số liệu trên ta thấy:

Doanh số cho vay: Năm 2022 tổng doanh số cho vay của NHTMCP NT HP đạt 5.057,184 tỷ đồng và tăng lên 5.543,603 tỷ đồng trong năm 2023. Có được doanh số này là do trong năm 2023 có nhiều dự án, phương án đầu tư hiệu quả để ngân hàng tài trợ vốn. Sang năm 2024, tổng doanh số cho vay lại có xu hướng giảm xuống còn 4.381,096 tỷ đồng giảm 1.1623 tỷ đồng. Đến năm 2025 doanh số cho vay lại giảm xuống 3.538,813 tỷ đồng. Nguyên nhân do kinh tế thế giới năm 2024 mặc dù đang phục hồi sau khủng hoảng tài chính toàn cầu và có những chuyển biến tích cực, song nhìn chung chưa thực sự ổn định và còn nhiều tiềm ẩn nhiều yếu tố bất lợi tác động đến kinh tế nước ta. Những khó khăn trong nước ảnh hưởng đến tình hình tín dụng của ngân hàng như cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, hiệu quả đầu tư thấp, lạm phát… Một yếu tố không thuận lợi nữa là các tổ chức nước ngoài liên tiếp hạ bậc tín dụng của Việt Nam do những quan ngại liên quan đến cán cân thanh toán và lạm phát gia tăng. Đối với ngành ngân hàng, năm 2024 là năm các ngân hàng trong hệ thống phải đối diện với nhiều khó khăn như: sự biến động mạnh của tỷ giá, lãi suất và chịu áp lực đáp ứng yêu cầu về các tỷ lệ an toàn theo thông tư 13/2024/TT-NHNN, 19/2024/TT_NHNN…

Tổng thu nợ: Năm 2022 ngân hàng thu được 4.319,983 tỷ đồng, sang năm 2023 doanh số thu nợ tăng lên đạt 5.224,700 tỷ đồng, tăng hơn năm trước 904,717 tỷ đồng. Có được điều này là do ngân hàng đã tăng cường các giải pháp tuyên truyền, phối hợp với các ban ngành nhằm đôn đốc thu nợ để đảm bảo an toàn nguồn vốn vay quay vòng. Sang năm 2024, tình hình thu nợ diễn ra có chiều hướng xấu, tổng doanh số thu nợ đạt 4.233,790 tỷ đồng giảm 990,91 tỷ đồng so với năm 2023. Đến năm 2025 tình hình thu nợ có xu hướng tăng lên đạt 5.040 tỷ đồng, tăng thêm 806 tỷ đồng so với năm 2024. Thu nợ tăng lên là do khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích, có hiệu quả từ đó nâng cao khả năng thanh toán nợ vay với ngân hàng. Mặt khác, trong năm 2025 NHTMCP Ngoại thương HP thu hồi được những khoản vay từ nhiều năm trước làm tăng tổng thu nợ của ngân hàng.

Tổng dư nợ: Tình hình dư nợ của Ngân hàng trong giai đoạn 2022 – 2025 tăng trưởng không ổn định, tuy nhiên dư nợ dài hạn vẫn chiếm tỷ trong cao trong tổng dư nợ cho vay, trung bình khoảng 51,04%. Cụ thể, tổng dư nợ năm 2022 đạt 3.773,836 tỷ đồng, năm 2023 tăng thêm 441 tỷ đồng so với năm 2022 đạt 4.215,266 tỷ đồng. Năm 2024 tăng tiếp thêm 269,933 tỷ đồng so với năm 2023 đạt 4.485,199 tỷ đồng. Khoản tăng đó nằm chủ yếu ở dư nợ ngắn hạn. Sang năm 2025 tổng dư nợ của NHTMCP Ngoại thương Hai Phòng giảm xuống 1.298,906 tỷ đồng còn 3.186,293 tỷ đồng so với năm 2024.

  • Bảng 2.3: Bảng doanh số cho vay theo loại tiền Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Vietcombank.

Nhìn vào bảng 2.3 ta thấy, doanh số cho vay bằng VND chiếm tỷ trọng cao hơn so với ngoại tệ và ngày càng tăng trong những năm gần đây. Năm 2022 doanh số cho vay bằng VND đạt 2.389,825 tỷ đồng chiếm 47,26% tổng doanh số cho vay, đến năm 2023 doanh số cho vay chiếm 68,15% tổng doanh số cho vay đạt 3.777,832 tỷ đồng. Như vậy, tình hình cho vay bằng VND đã có xu hướng tăng lên, các doanh nghiệp đã quay sang vay chủ yếu bằng VND. Đến giai đoạn 2024-2025 doanh số cho vay bằng VND vẫn chiếm tỷ trọng cao trong tổng doanh số cho vay, bình quân hơn 75%. Tuy nhiên, doanh số cho vay năm 2025 thấp hơn 2024 một lượng là 749,033 tỷ đồng. Nguyên nhân là do tỷ giá USD cuối năm 2025 biến động mạnh theo chiều hướng tăng, điều này đã gây ra nhiều khó khăn cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp cũng như của của các ngân hàng do nguồn cung USD khan hiếm. Chính điều này đã khiến các doanh nghiệp chủ yếu chuyển sang vay VND phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh.

  • Hoat động khác
  • a) Hoạt động thanh toán quốc tế

Trong hoạt động thanh toán quốc tế, NHTMCP Ngoại thương HP là một trong những ngân hàng đầu tiên tham gia hệ thống thanh toán bù trừ toàn cầu thông qua mạng SWIFT. Do không ngừng đổi mới và áp dụng những công nghệ tiên tiến trong hoạt động ngân hàng, chi nhánh đã trang bị được một hệ thống thông tin thông suốt, đáp ứng được yêu cầu thanh toán trong nước và quốc tế một cách nhanh chóng, kịp thời và chính xác, triển khai nhanh các loại hình nghiệp vụ mới của ngân hàng đối ngoại, phục vụ tốt và góp phần thúc đẩy quá trình phát triển kinh doanh trong lĩnh vực xuất nhập khẩu thuỷ sản, lương thực trên địa bàn thành phố và khu vực. NHTMCP Ngoại thương HP rất chú trọng đến việc mua ngoại tệ bằng nhiều nguồn và áp dụng nhiều biện pháp linh hoạt nhằm cung cấp đầy đủ, kịp thời ngoại tệ cho nhu cầu thanh toán của các doanh nghiệp. Số lượng các doanh nghiệp xuất nhập khẩu mở tài khoản giao dịch tại ngân hàng TMCP NT HP ngày càng nhiều. Trong những năm qua, NHTMCP Ngoại thương Hải Phòng đã luôn giữ vững vị trí thứ nhất trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh ngoại tệ và thanh toán quốc tế.

Bảng 2.4: Tình hình thanh toán quốc tế

  • b) Hoạt động thanh toán thẻ

Trong khi thanh toán không dùng tiền mặt đang được Chính phủ và Nhà nước khuyến khích người dân thực hiện theo, hoạt động thanh toán thẻ tại chi nhánh cũng đang được triển khai mạnh mẽ. Chi nhánh đã lắp đặt thêm nhiều máy rút tiền tự động, đến nay, tổng số máy ATM lên tới 30 máy phục vụ khách hàng nhằm cung cấp dịch vụ tiện ích tới khách hàng trên địa bàn thành phố với tổng số thẻ phát hành đã đạt tới hơn 134.783 thẻ. Tính đến cuối năm 2025, doanh số rút tiền mặt tại các máy ATM đạt 2.632,158 tỷ đồng. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Vietcombank.

Ngân hàng Ngoại thương là ngân hàng đầu tiên ở Việt Nam tham gia hệ thống đại lý và phát hành thẻ tín dụng. Hiện tại, NHTMCP NT HP là đại lý thanh toán của các tổ chức thẻ như Visa, Master, Amex, JCB, Dinner Club. Tính đến ngày 31/12/2025, NH TMCP NT HP đã phát hành được 1.422 thẻ tín dụng các loại với hệ thống đơn vị chấp nhận thẻ đạt 68 cơ sở.

Bảng 2.5: Kinh doanh thẻ

  • c)Hoạt động ngân quỹ

Doanh số thu, chi tiền mặt tăng trưởng trung bình qua các năm 28.95%. Đến năm 2024, doanh số thu tiền mặt đạt 17,222 tỷ đồng; doanh số chi tiền mặt đạt 17,193 tỷ đồng. Mặc dù khối lượng thu chi tiền mặt qua quĩ chi nhánh rất lớn, song công tác ngân quĩ của chi nhánh vẫn đảm bảo an toàn tuyệt đối.

  • Bảng 2.6: Số liệu thu, chi tiền mặt từ năm 2022-2024

2.1.4 Kết quả kinh doanh

  • Bảng 2.7: Bảng kết quả kinh doanh

Nhìn vào bảng 2.7 ta thấy nguồn thu chủ yếu của ngân hàng là thu từ lãi cho vay. Năm 2022 tổng thu nhập của Ngân hàng đạt 396,363 tỷ đồng trong đó thu lãi từ tiền gửi 13,864 triệu đồng, thu lãi cho vay 335,788 triệu đồng, thu phí dịch vụ 46,711 triệu đồng. Sang năm 2023 tổng thu của Ngân hàng giảm 69,128 tỷ đồng so với năm 2022 đạt 327,235 tỷ đồng, trong đó giảm chủ yếu ở khoản thu lãi cho vay (giảm 40,687 tỷ đồng). Đến năm 2024 và 2025 tổng thu của Ngân hàng có chiều hướng tăng lên. Tổng thu năm 2024 đạt 390.925 tỷ đồng tăng 63,69 tỷ đồng so với năm 2023, năm 2025 tăng thêm 24,848 tỷ đồng so với năm 2024. Các khoản thu tăng lên là do ngân hàng đa dang hóa các loại hình huy động và cho vay, đáp ứng được nhu cầu của khách hàng.

Cùng với sự tăng lên của thu nhập kéo theo đó là các khoản chi phí của Chi nhánh cũng tăng lên. Qua bảng trên ta thấy tổng chi phí của Ngân hàng khá cao đặc biệt trong năm 2025, tổng chi phí lên đến 1.443,563 tỷ đồng tăng 310% so với năm 2024. Chi phí của ngân hàng trong năm 2025 tăng cao đột biến là do ngân hàng phải chi nhiều khoản kiên quan đến việc huy động tiền gửi và kinh doanh dịch vụ của ngân hàng. Chi phí dịch vụ trong năm ngân hàng chi ra là 1.099,290 tỷ (trong đó trích lập quỹ dự phòng rủi ro (DPRR) là 1.046,251 tỷ đồng) chiếm 76,14% tổng chi phí.

  • Tuy nhiên nhìn vào bảng số liệu ta thấy: Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Vietcombank.

Nguồn thu từ lãi tiền gửi ít hơn chi trả lãi tiền gửi. Nguyên nhân do ngân hàng huy động dược nhiều vốn tiền gửi kéo theo đó là khoản trả lãi tiền gửi cho khách hàng cũng tăng lên. Thu từ lãi tiền gửi là khoản chênh lệch khi khách hàng

Nguồn chi từ phí dịch vụ cao hơn thu từ phí dịch vụ: NHTMCP Ngoại thương HP chi nhiều khoản cho dịch vụ trong những năm gần đây. Đặc biệt là năm 2025 chi 1.099,290 tỷ đồng, trong đó ngân hàng trích DPRR là 1.046,251 tỷ đồng. Nguyên nhân do tổng dư nợ của ngân hàng năm 2025 giảm 1.298,906 tỷ đồng so với năm 2024. Dư nợ này tập trung chủ yếu ở các ngành thuộc lĩnh vực đóng tài, vận tải biển và săt thép (chiếm trên 60% tổng dư nợ của chi nhánh). Mặt khác, do tỷ lệ dự trữ mà NHNN áp dụng cho các NHTM tăng dần qua các năm.

Trong những năm qua, với sự đoàn kết, quyết tâm của cán bộ nhân viên (CBNV) toàn hệ thống, tích cực chủ động trong hoạt động kinh doanh, phát triển đa dạng các sản phẩm, dịch vụ mới, giữ vững thị phần hoạt động trên các lĩnh vực truyền thống nên lợi nhuận của Chi nhánh vẫn đạt được mức lợi nhuận cao. Tuy nhiên trong năm 2025 bối cảnh nền kinh tế còn nhiều khó khăn, thách thức nên lơi nhuận của ngân hàng không được khả quan như các năm trước. Lợi nhuận năm 2022 đạt 90,157 tỷ đồng, năm 2023 lợi nhuận đạt 51,097 tỷ đồng. Sang năm 2024 lợi nhuận của chi nhánh đạt 38,604 tỷ đồng . Đến năm 2025 chi nhánh đạt lợi nhuận là -1.027,790 tỷ đồng

2.2. Thực trạng công tác huy động vốn tại NHTMCP Ngoại thương HP Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Vietcombank.

2.2.1 Tình hình chung về huy động vốn của NHTMCP NT HP trong giai đoạn 2022 – 2025

Vốn là cơ sở quan trọng quyết định tới việc thành lập, mở rộng hoạt động kinh doanh của các chủ thể kinh tế nói chung và các NHTM nói riêng. Đối với các NHTM, vốn gắn liền với hoạt động kinh doanh trong suốt quá trình tồn tại và phát triển đặc biệt là nguồn vốn huy động – nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của NHTM. Việc mở rộng nguồn vốn huy động đi đôi với việc mở rộng và phát triển qui mô tín dụng và các dịch vụ khác của NHTM. Để có thể tồn tại và phát triển thì các NHTM phải luôn quan tâm tới hoạt động vốn nói chung và công tác huy động vốn nói riêng.

Nhận thức được tầm quan trọng đó cũng như để đáp ứng nhu cầu vốn cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, phục vụ cho việc phát triển kinh tế trên địa bàn Hải Phòng, VCB Hải Phòng luôn quan tâm sát sao tới hoạt động huy động vốn, côi đó là tiền đề cơ sở cho ngân hàng triển khai các loại hình dịch vụ mới hiện đại nhằm phục vụ tốt nhất nhu cầu của khách hàng. NHTMCP NT HP đã tích cực chủ động khai thác các nguồn vốn nhàn rỗi, mở rộng mạng lưới hoạt động, đưa ra nhiều hình thức huy động vốn khác nhau nhằm thu hút khách hàng đến với ngân hàng. NHTMCP NT HP đã thực hiện đổi mới toàn diện hoạt động tín dụng của mình, đưa ra những chính sách phục vụ khách hàng nhằm giữ khách hàng truyền thống và thu hút thêm khách hàng mới. Những thay đổi tích cực này đã đem lại cho VCB HP một lượng vốn huy động tăng thêm đáng kể qua các năm.

NHTMCP NT HP nằm trên địa bàn có dân cư đông đúc với mức thu nhập tương đối cao. Bên cạnh đó, trên địa bàn còn tập trung nhiều tổ chức kinh tế (TCKT), thuộc đủ mọi thành phần hoạt động nên nhu cầu về vốn cũng như nhu cầu sử dụng các dịch vụ ngân hàng tương đối lớn.Mặt khác, tính cạnh tranh giữa các NHTM, các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn luôn diễn ra gay găt vì đây là nơi tập trung số lượng các NHTM lớn như ACB, Techcombank, Vietinbank…Các cuộc chạy đua lãi suất giữa các NHTM quốc doanh đã kéo các NHTM CP vào trong vòng xoáy đó. Có thời điểm lãi suất của ngân hàng này cao hơn lãi suất của ngân hàng khác. Trong môi trường cạnh tranh gay gắt như vậy hoạt động huy động vốn của NHTMCP NT HP gặp rất nhiều khó khăn. Đặc biệt trong năm 2025 ngành ngân hàng phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách lớn như nợ xấu tăng cao, thanh khoản căng thẳng ở một số ngân hàng, lãi suất, tỷ giá và tỷ giá vàng biến động phức tạp ảnh hưởng đến tâm lý của dân cư, tác động lớn đến công tác huy động vốn của ngân hàng vì dân chúng có xu hướng chuyển tích lũy vàng sang ngoại tệ, hoặc đầu tư các lĩnh vực khác.

Với phương châm “đi vay để cho vay” công tác điều hành vốn của NHTMCP NT HP đã có những chuyển biến tích cực, toàn chi nhánh tập trung cao cho nhiệm vụ huy động vốn đưa ra nhiều biện pháp tích cực để thu hút khách hàng như: đổi mới phong cách thái độ phục vụ, thực hiện các hình thức khuyến mại để thu hút khách hàng…Đồng thời tiếp tục củng cố cơ sở hiện có và mở rộng mạng lưới hoạt động, chủ động điều hành linh hoạt lãi suất, đa dạng các hình thức và thời hạn huy động. Mặt khác thường xuyên có quan hệ tốt với khách hàng gửi tiền lớn và ổn định, khai thác tốt nguồn vốn của các đơn vị truyền thống, mở rộng và phát triển quan hệ với khách hàng mới thông qua việc vận động mở tài khoản tiền gửi thanh toán, tiếp cận các quan hệ tín dụng mới, đồng thời đẩy mạnh các hoạt động quảng bá tiếp thị…Nhờ đó nguồn vốn liên tục tăng nhanh và bền vững qua các năm, tạo thuận lợi cho NHTMCP NT HP trong việc điều hành tín dụng.

2.2.2 Thực trạng huy động vốn của NTTMCP NT HP Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Vietcombank.

2.2.2.1 Qui mô huy động vốn

Ngân hàng TMCP Ngoại thương HP trong suốt quá trình thành lập và phát triển đã tạo lập được nguồn vốn ổn định và ngày càng vững chắc. NHTMCP NT HP luôn xác định vốn là yếu tố đầu tiên của quá trình kinh doanh, là yếu tố để nâng cao năng lực tài chính, nâng cao sức cạnh tranh trên lĩnh vực kinh doanh ngân hàng. Nguồn vốn huy động của NHTMCP NT HP đã góp phần quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, là một trong những khâu “đầu vào” then chốt để đảm bảo cho sự phát triển của ngân hàng. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, sự đòi hỏi của nền kinh tế thị trường, NHTMCP NT HP cũng như hệ thống các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác trên địa bàn thành phố, đang có sự chuyển biến tích cực trong các lĩnh vực hoạt động ngân hàng, đặc biệt là công tác huy động vốn. Vấn đề cạnh tranh để có thể đứng vững và phát triển thị phần huy động vốn giữa các ngân hàng đã diễn ra là một tất yếu khách quan và ngày càng sôi động. Nhất là những năm gần đây, khi nước ta bước vào hội nhập kinh tế, các tổ chức kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng tài chính nói riêng đã và đang đứng trước những thách thức to lớn từ các tổ chức kinh tế, các tập đoàn tài chính trên thế giới thì vấn đề duy trì hội nhập và phát triển của các ngân hàng trong nước cũng gặp nhiều khó khăn. Với bề dày kinh nghiệm, uy tín cũng như tiềm lực tài chính lớn mạnh của mình, NHTMCP NT HP vẫn giữ vững được thương hiệu và gia tăng nguồn vốn đều đặn theo các năm. Quy mô huy động vốn của ngân hàng không ngừng tăng qua các năm, được thể hiện cụ thể qua bảng số liệu sau:

Bảng 2.8: Tổng vốn huy động từ năm 2022-2025

Qua bảng trên cho thấy, Vốn huy động tăng trưởng nhanh và chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn cho ta thấy tính tự chủ về vốn ngày càng cao của NHTMCP NT HP. Năm 2016-2017, nhờ triển khai thực hiện chương trình Siverlake, một phần mềm về ngân hàng tài chính tiên tiến nhất Việt Nam, NHTMCP NT HP đã tiến hành đổi mới phương pháp giao dịch với khách hàng bằng cách áp dụng quy chế giao dịch “ một cửa” và thanh toán online trong toàn hệ thống. Nhờ công nghệ mới này mà thời gian giao dịch của khách hàng gửi tiết kiệm đã rút ngắn được một nửa, các khoảng cách về địa lý trên toàn hệ thống NHTMCP NT VN đã được xóa bỏ hoàn toàn. Khách hàng chỉ cần gửi tiền ở một nơi mà có thể rút tiền ở nhiều nơi. Các giao dịch qua tài khoản cá nhân, tiết kiệm được tiến hành nhanh chóng và thuận lợi hơn rất nhiều. Nhờ đó mà hiệu quả huy động vốn của ngân hàng đã được tăng lên rõ rệt.

2.2.2.2 Cơ cấu nguồn vốn huy động Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Vietcombank.

Vốn có tầm quan trọng rất lớn trong hoạt động kinh doanh của các NHTMCP nói chung và NHTMCP Ngoại thương HP nói riêng. Do đó, công tác huy dộng vốn rất được NHTMCP Ngoại thương HP chú trọng. Để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh phát triển, ngân hàng cần có cơ sở vốn vững mạnh để có thể tiến hành cho vay và đầu tư, thu lợi nhuận. Do đó, ngân hàng đã tìm cách đa dạng nguồn vốn bằng cách đa dạng hình thức huy động vốn, các kênh huy động vốn từ mọi nguồn trong mọi thành phần kinh tế. Vốn huy động của NHTMCP NT HP chiếm tỷ trọng trung bình 85% tổng vốn huy động. Vốn huy động của NHTMCP NT HP bao gồm: vốn tiền gửi, vốn vay và các nguồn vốn huy động khác. Để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng có hiệu quả, vốn huy động cũng phải có sự cân đối về tỷ trọng, về quy mô, tốc độ phát triển cũng như cơ cấu nguồn vốn hợp lý. Điều này sẽ được phân tích cụ thể qua bảng số liệu sau:

  • Bảng 2.9: Cơ cấu nguồn vốn huy động của NHTMCP NT HP từ 2022-2025

Qua bảng trên cho thấy, vốn tiền gửi của NHTMCP ngoại thương HP chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn huy động, trung bình vào khoảng 69,14% tổng số vốn huy động. Vốn tiền gửi chiếm tỷ lệ cao còn cho thấy cơ cấu nguồn vốn huy động của NHTMCP Ngoại thương HP là hợp lý và là nguồn vốn có khả năng mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng do chi phí huy động vốn thấp hơn rất nhiều so với vốn đi vay.

Để nghiên cứu cơ cấu nguồn vốn huy động của ngân hàng, cần phải đi sâu nghiên cứu các hình thức huy động vốn theo từng loại hình kết hợp với số liệu thực tế huy động được qua các năm.

2.2.2.2.1. Cơ cấu vốn tiền gửi theo kỳ hạn

Cơ cấu vốn tiền gửi theo kỳ hạn được tổng hợp theo bảng dưới đây:

  • Bảng 2.10: Cơ cấu vốn tiền gửi theo kỳ hạn

Thứ nhất, theo bảng 2.10 ta thấy nguồn vốn huy động không kỳ hạn chiếm tỷ trọng thấp trong tổng nguồn vốn huy động và cơ sự tăng trưởng qua các năm. Trong giai đoạn 2022-2025 vốn không kỳ hạn (VKKH) chiếm tỷ trọng trung bình là 23,7% trong tổng vốn tiền gửi, tốc độ tăng trưởng bình quân là 9,26 cao hơn tốc độ tăng trưởng chung của huy động vốn. Sự gia tăng này là điều có lợi vì đây là nguồn vốn có chi phí huy động vốn thấp. Nếu năm 2022 VKKH đạt 631,41 tỷ đồng, chiếm 25,74% tổng vốn huy động thì năm 2023 đạt 748,28 tỷ đồng chiếm 25,75% tổng vốn huy động. Năm 2024 VKHH đạt 748,00 tỷ đồng chiếm 22,64% tổng vốn huy động. Đến năm 2025 đạt 817,854 tỷ đồng chiếm 20,67% tổng vốn huy động. VKKH tăng là một ưu thế của NHTMCP NT HP vì đây là nguồn vốn có lãi suất huy động rất thấp. Ðây là thế mạnh để ngân hàng NHTMCP NT HP có thể đưa ra những sản phẩm vay tiêu dùng với chi phí rất cạnh tranh trên thị trường. Trong đó, vốn bằng VND chiếm tỷ trong cao trong tổng vốn không kỳ hạn. Năm 2022 VKKH huy động bằng VND ðạt 452,62 tỷ đồng chiếm 71,68% tổng VKHH và chiếm 18,45% tổng vốn tiền gửi. Năm 2023 VKKH huy động bằng VND đạt 478,80 tỷ đồng chiếm 63,99% tổng VKHH và chiếm 16,47% tổng vốn tiền gửi. Năm 2024 VKKH huy động bằng VND đạt 457,68 tỷ đồng chiếm 61,19% tổng VKHH và chiếm 13,85% tổng vốn tiền gửi. Ðến năm 2025, VKKH huy động bằng VND đạt 465,322 tỷ đồng chiếm 56,9% tổng VKHH và chiếm 11,76% tổng vốn tiền gửi. VKKH bằng VND chiếm tỷ trọng cao trong tổng VKKH là do người dân chuyển từ nắm giữ ngoại tệ sang VND. Mặt khác, chênh lệch lãi suất huy động giữa USD và VND là khá lớn (lãi suất huy động USD tối đa là 0.2%/năm còn VND lên tới 3%/năm). Với mức chênh lệch lớn như vậy,thì việc nắm giữ VND có lợi hơn nhiều so với USD.

Vốn ngoại tệ không kỳ hạn chiếm tỷ trọng trung bình khoảng 36,56% tổng vốn không kỳ hạn, khoảng 8,57% trong tổng vốn tiền gửi. Lượng tiền này biến động không nhiều do đối tượng của nó chủ yếu là tiền gửi thanh toán của các tổ chức tín dụng và tổ chức kinh tế. NHTMCP Ngoại thương HP là ngân hàng có thế mạnh về kinh doanh ngoại tệ, thanh toán quốc tế trên địa bàn thành phố Hải Phòng là nguyên nhân thu hút các chức kinh tế, tổ chức tín dụng mở tài khoản tiền gửi và giao dịch bằng ngoại tệ với NHTMCP Ngoại thương HP. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Vietcombank.

Thứ hai, vốn huy động có kỳ hạn chiếm tỷ trọng trung bình 76,03% với tốc độ tăng trưởng bình quân 17,99% cao hơn tốc độ tăng trưởng chung của huy động vốn. Đây là nguồn cơ bản quan trọng để ngân hàng tiến hành kinh doanh và sử dụng cho hoạt động tín dụng. Nguồn vốn có kỳ hạn (VCKH) trong giai đoạn 2022-2025 luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng và tăng trưởng đều qua các năm. Đặc biệt, trong đó là tiền gửi có kỳ hạn (CKH) nhỏ hơn 12 tháng.

Tỷ trọng VCKH dưới 12 tháng trung bình vào khoảng 60,11% trên tổng vốn huy động. Lượng vốn kỳ hạn dưới 12 tháng tăng đều qua các năm phù hợp với tốc độ tăng của tổng vốn huy động. Năm 2022 VCKH<12 tháng đạt 1.170,04 tỷ đồng chiếm 47,69% tổng vốn tiền gửi. Năm 2023 VCKH<12 tháng đạt 1.652,70 tỷ đồng chiếm 56,87% tổng vốn tiền gửi. Năm 2024 VCKH<12 tháng đạt 2.104,83 tỷ đồng chiếm 63, 69% tổng vốn tiền gửi. Sang năm 2025 VCKH<12 tháng đạt 2.743,685 tỷ đồng chiếm 69,36% tổng vốn tiền gửi. Trong đó vốn CKH<12 tháng huy động bằng VND chiếm tỷ trọng trung bình khoảng 33,56 trong tổng nguồn vốn tiền gửi, vốn huy động bằng ngoại tệ chiếm tỷ trọng trung bình khoảng 26,55% tổng vốn tiền gửi. Nguồn vốn VND của kỳ hạn ngắn tăng nhanh trong giai đoạn 2024 – 2025 là do ngân hàng Vietcombank áp dụng mức lãi suất 14% cho tát cả các kỳ hạn từ 1 – 60 tháng. Nguồn này có chi phí huy động thấp hơn, tuy nhiên phải dành ra một khoản thực hiện tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo quy định của NHNN cao hơn so với vốn có kỳ hạn trên 12 tháng. Vốn có kỳ hạn dưới 12 tháng thường được dùng để cho vay ngắn hạn.

Vốn có kỳ hạn trên 12 tháng chiếm tỷ trọng nhỏ hơn, trung bình vào khoảng 16,9% tổng vốn huy động. Đây là nguồn vốn cơ bản dùng để cho vay trung và dài hạn. Khoản vốn này tuy có chi phí huy động vốn cao hơn tương đương với từng kỳ hạn vốn nhưng có lợi thế về sự ổn định tương đối của kỳ hạn, ngân hàng có thể cân đối được nguồn vốn để cho vay trung và dài hạn, hạn chế một phần rủi ro thanh khoản do sự không phù hợp về kỳ hạn đem lại. Mặc dù ngân hàng vẫn có thể chuyển đổi một phần vốn huy động ngắn hạn để cho vay trung dài hạn nhưng sẽ tạo ra một khe hở thanh khoản cao hơn. Như vậy, vốn có kỳ hạn dài sẽ giúp ngân hàng chủ động hơn trong đầu tư tín dụng, giảm thiểu rủi ro trong thanh khoản, đặc biệt là tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với nguồn vốn này thấp hơn nhiều so với nguồn vốn ngắn hạn theo quy định của NHNN.

Cơ cấu vốn ngoại tệ có kỳ hạn chiếm tỷ lệ cao trong tổng vốn huy động có kỳ hạn. Lượng vốn huy động ngoại tệ có kỳ hạn chiếm tỷ lệ cao cho thấy tâm lý cất giữ tiền của dân cư là tiền ngoại tệ vì họ tin tưởng vào các ngoại tệ mạnh mặc dù lãi suất huy động ngoại tệ thấp hơn so với lãi suất huy động VND. Đây là nguồn vốn quan trọng và cần thiết cho việc cấp vốn tín dụng cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu – một trong những thế mạnh và làm nên thương hiệu của NHTMCP Ngoại thương Việt Nam nói chung và Hải Phòng nói riêng.

Có thể thấy tốc độ tăng trưởng nguồn vốn theo kỳ hạn qua các năm rõ nét hơn qua biểu đồ sau:

  • Biểu đồ 2.3: Tốc độ tăng trưởng vốn theo kỳ hạn của NHTMCP NT HP

2.2.2.2.2. Cơ cấu vốn tiền gửi theo loại tiền ( Nội tệ và ngoại tệ )

Vốn huy động bằng đồng Việt Nam chiếm tỷ trọng trung bình 51,65% trong tổng vốn huy động và có tốc độ tăng trưởng bình quân 25,46%/năm. Tỷ trọng này có xu hướng gia tăng trong 3 năm qua nhưng trong thời gian tới thì xu hướng chuyển đổi sang ngoại tệ để gửi tiết kiệm của người dân có thể làm tỷ trọng vốn huy động bằng VNĐ trong tổng vốn huy động giảm đi. Nguyên nhân đó là sự tăng giá mạnh của vàng và đồng đôla Mỹ gây ra tâm lý lo ngại về sự mất giá của đồng tiền Việt Nam trong dân chúng. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Vietcombank.

Ta có thể nghiên cứu kỹ hơn qua bảng số liệu sau:

  • Bảng 2.11: Cơ cấu vốn tiền gửi theo loại tiền

Vốn huy động bằng ngoại tệ vốn là thế mạnh của NHTMCP Ngoại thương Việt Nam nói chung và NHTMCP NT Hải Phòng nói riêng. Với thế mạnh về thanh toán xuất nhập khẩu cùng với lượng kiều hối hàng năm chuyển về thì trong giai đoạn 2022 – 2023 lượng vốn huy động bằng ngoại tệ của NHTMCP Ngoại thương HP ngày càng nhiều. Tuy nhiên sang năm 2024-2025, lượng vốn ngoại tệ của Ngân hàng giảm dần qua các năm.

Nhìn vào bảng số liệu ta thấy, Vốn huy động bằng VND chiếm tỷ trọng cao và tăng trưởng qua các năm. Năm 2022 huy động vốn bằng VND đạt 1.132,61 tỷ đồng chiếm 46,17% tổng vốn tiền gửi. Năm 2023 vốn VND đạt 1.328,05 tỷ đồng chiếm 45,70% tổng vốn tiền gửi và tăng 17,26% so với năm 2022. Năm 2024 vốn VND đạt 1.771,11 tỷ đồng chiếm 53,60% tổng vốn tiền gửi, tăng 33,36% so với năm 2023. Đến năm 2025 vốn VND tăng mạnh đạt 2.417,316 tỷ đồng chiếm 61,11% tổng vốn tiền gửi, tăng 61,11% so với năm 2024. Vốn huy động bằng VND tăng cao trong những năm gần đây là do lãi suất tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn bằng VND của ngân hàng tăng khá mạnh ở các kỳ dài hạn.

Vốn huy động bằng ngoại tệ tuy có tăng trưởng nhưng không đáng kể. Năm 2025 lượng ngoại tệ chỉ đạt 1.538,506 tỷ đồng trong khi đó lượng VNĐ đạt 2.417,316 tỷ đồng chiếm hơn 60% trên tổng vốn tiền gửi.Tỷ trọng vốn ngoại tệ giảm dần trong những năm gần đây cho thấy việc huy động vốn ngoại tệ trong thời gian này gặp nhiều khó khăn, ngân hàng có thể sẽ gặp khó khăn trong việc đáp ứng nhu cầu thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ – một trong những nghiệp vụ chủ yếu của NHTMCP Ngoại thương. Nguyên nhân do trần lãi suất huy động của NHNN thấp, còn nhu cầu tín dụng ngoại tệ không suy giảm.Tốc độ tăng trưởng huy động vốn bằng ngoại tệ tăng trung bình 8,33% qua các năm, tuy không lớn nhưng lại chiếm tỷ trọng khá lớn: trung bình 48,36% trong tổng vốn huy động. Vốn huy động bằng ngoại tệ thường có chi phí huy động rẻ hơn so với VNĐ, đây cũng là cơ sở để NHTMCP NT HP luôn có các sản phẩm cho vay cạnh tranh hơn hẳn so với các NHTM trên địa bàn, biệt là các sản phẩm cho vay xuất nhập khẩu. Do vây trong những năm tới NHTMCP NT HP nên có biện pháp tích cực để tăng lượng vốn ngoại tệ cho ngân hàng, nhằm đáp ứng được nhu cầu ngoại tệ của khách hàng.

2.2.2.2.3. Cơ cấu vốn tiền gửi theo hình thức huy động vốn

Vốn tiền gửi của NHTMCP Ngoại thương HP bao gồm: tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi của các tổ chức tín dụng và tiền gửi chuyên dùng. Trong đó, hình thức huy động tiền gửi qua tiết kiệm của dân cư chiếm tỷ trọng cao trong tổng vốn tiền gửi. Điều này cho thấy cách huy động vốn truyền thống vẫn là huy động từ nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư. Nền kinh tế càng ổn định và phát triển thì thu nhập của người dân trong xã hội càng cao, tạo ra những khoản thu nhập chưa sử dụng hết. Với mong muốn gia tăng thêm lợi nhuận cho những khoản tiền nhàn rỗi của mình, họ sẽ tìm đến ngân hàng để thỏa mãn mục đích đó. Đây là thị trường truyền thống mà NHTMCP Ngoại thương HP đang khai thác. Cơ cấu vốn huy động của NHTMCP Ngoại thương HP trong những năm qua được thể hiện qua bảng số liệu sau: Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Vietcombank.

Bảng 2.12: Cơ cấu vốn tiền gửi theo hình thức huy động

  • Qua bảng 2.12 ta có thể nhận thấy:

Thứ nhất, lượng tiền gửi thanh toán (TGTT) tăng đều qua các năm cùng với tốc độ tăng của nguồn vốn và chiếm tỷ trọng trung bình 22,32% so với tổng nguồn vốn. Năm 2022 TGTT của ngân hàng đạt 601,06 tỷ đồng, Năm 2023 tăng thêm 89,37 tỷ đồng so với năm 2022, năm 2024 tăng thêm 6,69 tỷ đồng so với năm 2023, năm 2025 tăng thêm 91,38 tỷ đồng. Đây là lượng tiền gửi bao gồm tiền gửi của các tổ chức kinh tế và cá nhân, trong đó, tỷ lệ tiền gửi thanh toán chiếm ưu thế thuộc về các doanh nghiệp. Lượng tiền gửi thanh toán tăng đều cũng đồng nghĩa với việc ngày càng nhiều doanh nghiệp đến mở tài khoản và giao dịch tiền gửi tại NHTMCP Ngoại thương HP. Đây là mảng thị trường tiềm năng đi kèm với chi phí vốn thấp, mang lại các nguồn thu khác cho ngân hàng như: sử dụng sản phẩm tiền vay và các sản phẩm dành cho doanh nghiệp khác.

Thứ hai, lượng tiền gửi tiết kiệm của dân cư cũng tăng đều qua các năm và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn tiền gửi (chiếm tỷ trọng trung bình 76,36%). Nguồn vốn này chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn chứng tỏ lượng tiền nhàn rỗi trong dân cư còn rất dồi dào và ngân hàng cần có những chính sách để thu hút thêm được thị trường tiềm năng này. Mặc dù tiền gửi tiết kiệm có chi phí huy động cao hơn tiền gửi thanh toán song kỳ hạn của vốn được cố định, giúp cho ngân hàng có kế hoạch sử dụng vốn phù hợp, góp phần phát triển kinh tế xã hội theo hướng lâu dài.

Thứ ba, tiền gửi của các tổ chức tín dụng và tiền gửi chuyên dùng chiếm tỷ trọng nhỏ so với tổng vốn huy động. Lượng tiền này biến động qua các năm, chủ yếu phụ thuộc vào vốn huy động ngoại tệ của các tổ chức tín dụng và tiền gửi chuyên dùng của các tổ chức kinh tế.

Điều này được thể hiện rõ nét hơn qua biểu đồ sau:

  • Biểu đồ 2.4: Cơ cấu vốn tiền gửi theo hình thức huy động

2.2.2.2.4. Sự phù hợp giữa cơ cấu huy động và sử dụng vốn

Trên thực tế, để đánh giá được một cách toàn diện, hiệu quả công tác huy động vốn của một ngân hàng không chỉ xét đến sự tăng trưởng về quy mô, cơ cấu huy động vốn mà cần phải xét đến cả khả năng đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn. Nếu ngân hàng huy động vốn nhiều mà sử dụng ít sẽ dẫn đến sự dư thừa, ứ đọng vốn. Ngược lại, nếu ngân hàng sử dụng vốn vượt quá khả năng huy động thì sẽ dẫn đến nguy cơ xảy ra rủi ro thanh khoản. Bởi vậy, sự phù hợp giữa cơ cấu huy động và sử dụng vốn của ngân hàng là một yếu tố rất quan trọng trong công tác huy động vốn của ngân hàng.

Để phân tích sự phù hợp giữa cơ cấu huy động và sử dụng vốn của ngân hàng thì trước hết ta cần xem xét mối quan hệ giữa tổng vốn huy động với tổng dư nợ. Điều này được thể hiện cụ thể qua bảng sau:

  • Bảng 2.13: Mối quan hệ giữa tổng vốn huy động và tổng dư nợ

Qua bảng số liệu trên cho thấy, quy mô tăng trưởng dư nợ tín dụng qua các năm liên tục được mở rộng nhưng đến năm 2025 lại giảm xuống. Năm 2023 tổng dư nợ đạt 4.215 tỷ đồng tăng 442 tỷ đồng so với 2022, năm 2024 đạt 4.485 tỷ đồng tăng 270 tỷ so với năm 2023 và năm 2025 đạt 3.186 tỷ đồng giảm 1299 tỷ đồng so với năm 2024. Tuy nhiên, tổng vốn huy động cũng tăng với gần như cùng một tốc độ với tốc độ tăng dư nợ tín dụng nên tăng trưởng dư nợ tín dụng so với tổng dư nợ không thể hiện rõ rệt. Tỷ lệ tổng dư nợ/tổng vốn huy động luôn đạt tỷ lệ cao nhưng luôn đảm bảo tổng dư nợ nhỏ hơn tổng vốn huy động cho thấy ngân hàng đã sử dụng vốn huy động phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn, đảm bảo sự an toàn trong thanh khoản. Hoạt động tín dụng là hoạt động đem lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng nên việc sử dụng vốn có hiệu quả, phù hợp với vốn huy động là một yếu tố rất quan trọng với hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Vietcombank.

Sự phù hợp giữa cơ cấu huy động vốn theo kỳ hạn với việc sử dụng vốn được thể hiện qua 2 bảng số liệu sau:

  • Bảng 2.14: Huy động và sử dụng vốn ngắn hạn
  • Bảng 2.15: Huy động và sử dụng vốn trung và dài hạn

Vốn huy động ngắn hạn có chi phí vốn thấp dẫn tới tăng thu nhập cho ngân hàng nhưng đây lại là nguồn vốn phải chịu tỷ lệ dự trữ bắt buộc cao theo quy định của NHNN. Mặt khác, đây cũng là nguồn dễ biến động về lãi suất nên khi sử dụng nguồn vốn này ngân hàng cần phải tính toán kỹ lưỡng tính thanh khoản của nó sau khi đã trừ đi tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Qua bảng 2.14 ta thấy, cơ cấu vốn huy động ngắn hạn của NHTMCP Ngoại thương HP là tương đối hợp lý, không những đáp ứng đủ cho nhu cầu sử dụng vốn ngắn hạn mà còn để đáp ứng cho vay trung và dài han, đảm bảo an toàn trong thanh toán. Nguồn vốn huy động ngắn hạn luôn tăng nhanh qua các năm, cụ thể năm 2023 nguồn vốn ngắn hạn này tăng 599,53 tỷ đồng so với năm 2022 và năm 2024 tăng 451,85 tỷ đồng. Cho vay ngắn hạn chiếm tỷ lệ trung bình vào khoảng 75% tổng vốn huy động ngắn hạn, do đó, phần vốn huy động ngắn hạn còn lại ngân hàng có thể sử dụng để cho vay vốn trung và dài hạn và đảm bảo được tuân thủ theo quy định của NHNN “ các NHTM không được sử dụng quá 40% nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn”.

Tuy nhiên, qua bảng 2.15 ta thấy, nguồn vốn huy động trung và dài hạn (TDH) có xu hướng ngày một giảm dần. Cụ thể, năm 2023 nguồn vốn huy động trung và dài hạn giảm 146,41 tỷ đồng so với năm 2022 và năm 2024 nguồn vốn này tiếp tục giảm đi 53,61 tỷ đồng so với năm 2023. Ngược lại, cho vay trung và dài hạn lại liên tục tăng qua 3 năm, cụ thể năm 2022 mới là 318,12 tỷ đồng thì sang năm 2023 đã tăng thêm 209,96 tỷ đồng và sang năm 2024 lại tăng 14,58 tỷ đồng so với năm 2023. Đây là một dấu hiệu không tốt vì vốn huy động trung và dài hạn ngày càng không đủ để đáp ứng cho nhu cầu cho vay trung và dài hạn sẽ dẫn đến việc ngân hàng phải sử dụng vốn huy động ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn, gây ra rủi ro thanh khoản và không đảm bảo an toàn trong thanh toán. Năm 2022 cho vay TDH chiếm 48,81% và năm 2025 chiếm 69,39% tổng vốn huy động dài hạn. Phần còn lại của vốn huy động dài hạn ngân hàng dùng để đầu tư chứng khoán và tham gia tiền gửi liên ngân hàng để đảm bảo khả năng thanh toán cho ngân hàng. Vì vậy, trong những năm tới, ngân hàng cần có biện pháp thu hút thêm nguồn vốn trung và dài hạn để đảm bảo an toàn cho người gửi tiền và nâng cao uy tín của ngân hàng.

2.2.3. Chi phí huy động vốn Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Vietcombank.

Chi phí huy động vốn của ngân hàng bao gồm chi phí trả lãi và các chi phí liên quan như: chi phí về tiền lương, chi phí về thiết bị, cơ sở vật chất…Trong đó, chi phí trả lãi tiền gửi luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất. Trong giai đoạn 2022 – 2025, các mức lãi suất tiền gửi VND của NHTMCP Ngoại thương HP vẫn áp dụng theo trần quy định của NHNT TW. Tuy nhiên, áp lực cạnh tranh lãi suất giữa các ngân hàng càng tăng và các NHTM cổ phần vẫn thường xuyên chào các mức lãi suất tiền gửi cao hơn so với mức NHTMCP Ngoại thương thông báo với chính khách hàng của mình nên với một số khách hàng đặc biệt, NHTMCP Ngoại thương HP vẫn đưa ra các mức lãi suất ưu đãi thông qua các hình thức như: lãi suất bậc thang, lãi suất thưởng. Lãi suất có vai trò quan trọng trong việc huy động vốn của ngân hàng, đặc biệt là huy động tiền gửi và phát hành giấy tờ có giá. Thường thì lãi suất huy động càng cao, vốn huy động thu được càng nhiều. Việc xác định lãi suất huy động phụ thuộc vào lãi suất cho vay, kết quả tài chính của hoạt động ngân hàng và các quy định của NHNN. Nhờ áp dụng chính sách lãi suất huy động và cho vay linh hoạt, hoạt động huy động vốn của ngân hàng đã đạt hiệu quả nhất định. Thu lãi và các khoản tương đương liên tục gia tăng và luôn lớn hơn chi phí trả lãi tiền gửi, tiền vay, không những bù đắp được những chi phí mà ngân hàng đã trang trải mà còn đem lại lợi nhuận cao cho ngân hàng.

  • Bảng 2.16: Các chỉ tiêu về chi phí trả lãi, thu lãi

Qua bảng 2.16 cho thấy, tỷ lệ thu lãi/ trả lãi của NHTMCP NT HP luôn đạt tỷ lệ tương đối cao, cho thấy ngân hàng đã sử dụng hiệu quả đồng vốn huy động được, khai thác tốt khả năng sinh lời của đồng vốn.

2.2.4 Chính sách khách hàng

Đối với các khách hàng có sử dụng nhiều dịch vụ tiện ích tại NHTMCP NT HP có thể được hưởng nhiều chính sách ưu đãi về lãi suất, phí dịch vụ, phí thanh toán hoặc cung cấp thêm dịch vụ bổ sung miễn phí. Mức ưu đãi lãi suất, phí…được tính toán cụ thể cho từng loại khách hàng, đảm bảo lợi ích hài hoà giữa khách hàng và ngân hàng. Hiện nay, NHTMCP Ngoại thương HP đã thực hiện chính sách ưu đãi đối với các khách hàng VIP vàng và VIP bạc của mình. Khách hàng có thể được hưởng các dịch vụ ưu đãi đặc biệt như: đến tận nhà khách hàng để làm một thủ tục ngân hàng như thanh toán, nhận tiền gửi với một lượng tiền nhất định, tăng lãi suất gửi tiết kiệm, được ưu tiên phục vụ khi đến giao dịch tại ngân hàng…

Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, báo chí, internet, chi nhánh đã quảng bá rộng rãi hình ảnh của mình đến với khách hàng, tạo mọi điều kiện cho các khách hàng làm quen với dịch vụ ngân hàng và nhận thức được những tiện ích của những sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng cung cấp. Thực hiện dán áp phích, quảng cáo cho các đợt tăng lãi suất, sản phẩm huy động mới, gửi thư kèm tờ rơi, quà tặng cho từng phòng ban các đơn vị, từng khách hàng để giới thiệu về sản phẩm huy động mới, sự gia tăng lãi suất, chất lượng dịch vụ…Khuyếch trương hình ảnh ngân hàng thông qua treo các băng rôn khẩu hiệu, tham gia tài trợ cho các chương trình hoạt động phổ biến tại các khu vực đông dân cư.

Ngoài ra, ngân hàng còn thực hiện việc mở rộng các hình thức khuyến mãi vào thời điểm thích hợp tạo sự hài lòng cho khách hàng. Khách hàng không chỉ được hưởng các dịch vụ của ngân hàng mà còn có cơ hội nhận được các phần quà có giá trị, trả lãi suất cao cho khách hàng giao dịch với khối lượng lớn. Đây chính là công cụ hiệu quả khuyến khích khách hàng hiện tại sử dụng nhiều dịch vụ hơn và thu hút thêm nhiều khách hàng mới. Ngoài ra, ngân hàng còn có các phần quà có giá trị cho các khách hàng giao dịch với số dư lớn hay nhân dịp sinh nhật, các ngày lễ tết, 8/3, 2/9, 20/10 và một số ngày lễ lớn, để khách hàng thấy được sự quan tâm của ngân hàng với khách hàng. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Vietcombank.

Bên cạnh đó, ngân hàng còn tổ chức hội nghị khách hàng để nắm bắt nguyện vọng và phổ biến chế độ, chính sách ngân hàng cho khách hàng. Thực hiện bố trí cán bộ tư vấn, giải đáp thắc mắc của khách hàng thông qua điện thoại để khách hàng tìm hiểu các dịch vụ của ngân hàng nhanh chóng và hiệu quả hơn.

Hơn nữa, ngân hàng đã tiến hành phân tích, nghiên cứu thị trường, các cơ quan đoàn thể có địa điểm xung quanh phòng giao dịch, chi nhánh, trên cơ sở đó tiến hành phân lọc các đơn vị, tiếp cận và xây dựng mối quan hệ với các đơn vị, doanh nghiệp trên địa bàn. Tiếp thị các doanh nghiệp trên địa bàn mở tài khoản, sử dụng các dịch vụ của ngân hàng như: dịch vụ thanh toán trong nước, quốc tế, tín dụng, trả lương qua tài khoản và sử dụng dịch vụ ATM…

2.2.5 Sản phẩm dịch vụ huy động vốn

Hiện nay, NHTMCP Ngoại thương HP đang thực hiện một số các hình thức huy động vốn truyền thống như: gửi tiết kiệm thông thường, tiền gửi thanh toán…cũng như một số hình thức huy động vốn mới đưa ra trong những năm gần đây như: tiết kiệm có lãi suất trả trước, tiết kiệm đảm bảo bằng ngoại tệ, tiết kiệm rút gốc linh hoạt, tiết kiệm theo kỳ hạn nhỏ ( một tuần, hai tuần ), tiết kiệm tự động, tiết kiệm lĩnh lãi định kỳ… Đặc biệt, đối với những khách hàng có số dư tiền gửi cao, ngân hàng còn đưa ra các chương trình tiết kiệm bậc thang lãi thưởng, chương trình tặng quà hấp dẫn. Ngoài ra, ngân hàng còn liên tục đưa ra các sản phẩm huy động vốn nhân các ngày đặc biệt trong năm như: sản phẩm tiết kiệm dành cho phái đẹp nhân ngày 8/3 và 20/10. Hơn nữa, ngân hàng còn đang triển khai chương trình khuyến mãi “quà tặng kim cương”, cơ hội du lịch 04 châu với chương trình gửi tích lũy kiều hối

2.3. Đánh giá hiệu quả huy động vốn tại NH TMCP Ngoại thương Hải Phòng Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Vietcombank.

2.3.1. Kết quả đạt được

Thứ nhất, sản phẩm huy động vốn của NHTMCP Ngoại thương HP ngày càng đa dạng, phong phú, linh hoạt, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.

Thứ hai, cơ cấu vốn huy động của NHTMCP NT HP tập trung chủ yếu vào huy động vốn tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi thanh toán. Với nhiều dịch vụ đưa ra trong thời gian qua càng chứng tỏ NHTMCP NT HP quan tâm nhiều đến lượng vốn huy động trên thị trường này.

Thứ ba, vốn huy động của NHTMCP NT HP chủ yếu là USD và VND. Do tiền thân là ngân hàng phục vụ trong lĩnh vực xuất nhập khẩu nên NHTMCP NT HP có ưu thế thu hút được một nguồn vốn ngoại tệ, đặc biệt là các doanh nghiệp lớn có doanh số xuất khẩu cao. Vì thế, NHTMCP NT HP có khả năng đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho các doanh nghiệp nhập khẩu trên địa bàn.

Thứ tư, quy mô huy động vốn ngày càng tăng. Ngân hàng TMCP Ngoại thương HP đã khai thác tối đa nguồn vốn huy động được để mở rộng đầu tư và cho vay.              .

Thứ năm, chi phí huy động vốn ngày càng được cải thiện. Tỷ lệ chênh lệch giữa chi phí trả lãi tiền gửi, tiền vay với chi phí thu lãi tiền gửi, tiền vay ngày càng tăng lên.

Ngân hàng TMCP Ngoại thương HP đạt được những kết quả trên là do: Ngân hàng đã triển khai các dịch vụ huy động vốn đa dạng, đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Đồng thời triển khai ký kết thoả thuận hợp tác toàn diện với một số công ty lớn về huy động vốn, kết hợp với tín dụng và cung cấp dịch vụ.

Bên cạnh đó, ngân hàng chủ trương đa dạng hoá đối tượng khách hàng. Thường xuyên tổ chức hội nghị khách hàng để qua đó, tiếp xúc, nắm bắt những ý kiến đóng góp xây dựng của khách hàng về cách thức phục vụ, chất lượng dịch vụ của ngân hàng. Từ đó có những điều chỉnh kịp thời để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng.

Cùng với việc duy trì, chăm sóc những khách hàng hiện hữu và thân thiết, ngân hàng còn thường xuyên mở rộng tìm kiếm, phát hiện thêm những khách hàng mới, khách hàng tiềm năng, do đó, đã tăng đáng kể số lượng khách hàng giao dịch với ngân hàng.

Lãi suất huy động của ngân hàng đưa ra luôn phù hợp với mặt bằng lãi suất huy động trên địa bàn. Mặt khác, ngân hàng cũng đưa ra nhiều hình thức khuyến mãi hấp dẫn cho khách hàng. Đồng thời tăng cường quảng bá thương hiệu, hình ảnh, nâng cao uy tín của ngân hàng TMCP NT HP trên thị trường.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, hoạt động huy động vốn của NHTMCP NT HP còn có những tồn tại nhất định làm cho hiệu quả huy động vốn của ngân hàng chưa cao.

2.3.2. Tồn tại và nguyên nhân Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Vietcombank.

2.3.2.1. Tồn tại

Thư nhất, tốc độ phát triển nguồn vốn của NHTMCP NT HP tuy có tăng trưởng nhưng vẫn chưa đủ đáp ứng được nhu cầu vay của các tổ chức kinh tế, đặc biệt trong thời gian tới khi Việt Nam gia nhập mạnh mẽ vào thị trường quốc tế thì nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh ngày càng tăng.

Thứ hai, cơ cấu nguồn vốn huy động về loại tiền, kỳ hạn và quy mô từng loại tiền chưa hợp lý dẫn đến tình trạng vốn huy động cho các dự án dài hạn còn hạn chế, ngân hàng phải sử dụng các nguồn vốn khác với chi phí cao hơn. Xu hướng mất ổn định của nguồn vốn ngày càng gia tăng. Kỳ hạn vốn huy động tập trung chủ yếu vào nguồn ngắn hạn ( có kỳ hạn từ 12 tháng trở xuống). Với chất lượng và quy mô tín dụng như hiện nay cũng cần đi đôi với chiến lược tập trung huy động vốn trung và dài hạn, tránh tình trạng mất cân đối vốn theo kỳ hạn.

Thứ ba, tính thanh khoản của nguồn vốn huy động không cao do tăng trưởng tín dụng vượt quá khả năng huy động vốn.

Thứ tư, chất lượng hiệu quả vốn huy động chưa đáp ứng được nhu cầu mở rộng hoạt động ngân hàng cũng như phát triển kinh tế địa phương.

2.3.2.2. Nguyên nhân

  • a) Nguyên nhân chủ quan Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Vietcombank.

Một là, chiến lược kinh doanh của ngân hàng chưa thực sự chú trọng đến công tác huy động vốn. Chính sách lãi suất chưa thực sự linh hoạt. Hiện nay, lãi suất huy động của NHTMCP NT HP đang ở mức thấp so với các ngân hàng khác, đặc biệt là các ngân hàng cổ phần. Trong điều kiện dư thừa vốn thì việc duy trì lãi suất huy động vốn thấp là hợp lý. Tuy nhiên, với mức lãi suất huy động thấp thì NHTMCP NT HP sẽ gặp khó khăn trong việc cạnh tranh với các ngân hàng bạn. Trên thực tế đã có nhiều khách hàng của NHTMCP NT HP rút tiền gửi tiết kiệm sang gửi ở ngân hàng khác để hưởng mức lãi suất cao hơn. Nếu ngân hàng không có chính sách lãi suất hợp lý thì sẽ mất rất nhiều khách hàng, đặc biệt là các khách hàng truyền thống có số dư tiền gửi lớn, thời hạn dài.

Hai là, hình thức huy động vốn chưa đa dạng, tiện ích chưa phong phú, chủ yếu vẫn là các hình thức huy động truyền thống như: tiết kiệm trả lãi sau, tiết kiệm dự thưởng, trái phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi…chưa tạo ra được nhiều hình thức huy động mới, hấp dẫn khách hàng. Sản phẩm huy động vốn của ngân hàng còn mang tính đại trà cho tất cả các khách hàng. Trong thời gian qua cũng có một số hình thức huy động mới được ngân hàng đưa vào áp dụng nhưng không đem lại hiệu quả cao do các ngân hàng khác cũng đưa ra các sản phẩm tương tự với lãi suất cạnh tranh hơn.

Ba là, hoạt động Marketing ngân hàng chưa được chú trọng đúng mức. Hiện nay, NHTMCP Ngoại thương HP đã thực hiện các chiến dịch khuyếch trương thương hiệu và các sản phẩm dịch vụ ngân hàng nói chung, các sản phẩm huy động vốn nói riêng với nhiều hình thức huy động khác nhau. Tuy nhiên, các chương trình này chưa thực sự đem lại hiệu quả cao.

Bốn là, nhân viên ngân hàng tuy có kinh nghiệm nhưng tư duy chưa thực sự được đổi mới, chưa thực sự coi khách hàng là thượng đế nên tác phong phục vụ còn thụ động, máy móc. Số cán bộ lâu năm tuy có kinh nghiệm nhưng trình độ ngoại ngữ, tin học còn hạn chế.

Năm là, NHTMCP NT HP còn chậm đổi mới trong phương thức phục vụ cho khách hàng như liên thông với các ngân hàng trong nước. Chủ trương đa dạng hoá khách hàng triển khai còn chậm và chưa đồng bộ, chưa chú trọng đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ để thu hút nguồn vốn và phát triển dịch vụ từ mảng khách hàng đang ngày một phong phú này.

Sáu là, trụ sở làm việc đang ngày càng trở nên lạc hậu và chật chội so với nhu cầu sử dụng ngày càng cao. Hệ thống phòng giao dịch còn mỏng, chưa chiếm lĩnh được thị phần huy động vốn trên địa bàn thành phố.

  • b)Nguyên nhân khách quan

Lạm phát gia tăng trong những năm gần đây đã gây ra tâm lý lo sợ đồng tiền trượt giá nên người dân thích cất trữ tài sản dưới dạng ngoại tệ mạnh, vàng và bất động sản hơn là gửi tiền vào ngân hàng. Tâm lý người Việt chưa quen sử dụng các công cụ thanh toán khác thay cho tiền mặt. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Vietcombank.

Áp lực cạnh tranh ngày càng tăng: với số lượng ngân hàng lớn như hiện nay, áp lực cạnh tranh với NHTMCP Ngoại thương nói chung và chi nhánh HP nói riêng sẽ ngày càng gia tăng, đặc biệt là cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn bởi vốn là đầu vào sống còn của hoạt động ngân hàng. Sức ép cạnh tranh để phát triển và giữ vững nguồn vốn ngày càng gay gắt, đặc biệt là sức ép từ khối các ngân hàng TMCP và ngân hàng nước ngoài. Điều này càng trở nên khốc liệt hơn khi NHNN đã cho phép các ngân hàng nước ngoài được phép huy động tiền gửi bằng VND và trong thời gian tới sẽ có nhiều ngân hàng nước ngoài được phép hoạt động ở Việt Nam. Khối các ngân hàng cổ phần đang tạo nhiều ấn tượng trên thị trường, các ngân hàng này đồng loạt khai trương các chi nhánh, phòng giao dịch mới, tạo thành những mũi nhọn trực tiếp nhất thu hút khách hàng. Người dân ngày càng tiếp cận khối các ngân hàng cổ phần thuận tiện hơn.

Bên cạnh đó, cạnh tranh về lãi suất được xem là hình thức cạnh tranh nổi bật nhất giữa các ngân hàng hiện nay. Khối các ngân hàng cổ phần thường có mức lãi suất hấp dẫn hơn. Ngoài ra, NHTMCP Ngoại thương HP còn bị cạnh tranh bởi nhiều tổ chức tài chính khác trong việc huy động vốn như: bảo hiểm nhân thọ, tài chính dầu khí…

Từ năm 2000 đến nay, thị trường chứng khoán Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể. Đây là một thị trường vốn tương đối toàn diện, tạo lập và vận hành kênh huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế. Thị trường này phát triển sẽ thúc đẩy hoạt động huy động vốn của ngân hàng, do làm tăng tính thanh khoản của các công cụ nợ do ngân hàng phát hành. Việc niêm yết cổ phiếu, trái phiếu làm tăng vốn của các ngân hàng trên thị trường chứng khoán đã làm tăng tính hấp dẫn của chúng đối với các nhà đầu tư, ngân hàng huy động vốn sẽ dễ dàng hơn. Tuy nhiên, sự phát triển của thị trường chứng khoán sẽ gây khó khăn cho hoạt động vốn của ngân hàng do thị trường chứng khoán đã thu hút một lượng vốn trung và dài hạn của công chúng và các tổ chức kinh tế thay vì gửi vào ngân hàng. Tuy nhiên, lượng tiền này còn nhỏ, chưa ảnh hưởng nhiều đến hoạt động huy động vốn của ngân hàng. Nhưng khi thị trường chứng khoán phát triển hơn nữa thì sẽ gây khó khăn cho hoạt động huy động vốn của ngân hàng.

Trên đây là toàn bộ thực trạng hoạt động huy động vốn tại NHTMCP Ngoại thương HP. Mặc dù trong những năm gần đây, hoạt động huy động vốn của NHTMCP Ngoại thương HP đã thu được những kết quả nhất định như quy mô vốn huy động liên tục gia tăng, vốn huy động đạt được tốc độ tăng trưởng nhất định, chi phí vốn luôn được cải thiện…Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, hoạt động huy động vốn của ngân hàng vẫn chưa đạt được kết quả cao. Trong thời gian tới, để nâng cao hiệu quả huy động vốn hơn nữa thì NHTMCP Ngoại thương HP cần thực thi một số giải pháp. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Vietcombank.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Giải pháp huy động vốn tại Ngân hàng Vietcombank

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x