Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN tại BIDV

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN tại BIDV hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại phòng giao dịch Cẩm Phả – chi nhánh BIDV Quảng Ninh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

1 Khái quát về PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh

1.1 Quá trình hình thành và phát triển của PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh

1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam

Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam có tên viết tắt là BIDV, tên giao dịch quốc tế là Bank for Investment and Development of Vietnam . Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam ( BIDV ) là một trong bốn ngân hàng quốc doanh lớn nhất Việt Nam với 100 chi nhánh tại các tỉnh thành phố, gần 5000 cán bộ, quan hệ đại lý với hơn 500 ngân hàng trong và ngoài nước, cùng với 55 năm hình thành và phát triển, Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế nói chung và sự lớn mạnh của hệ thống ngân hàng VN nói riêng.

Ngày 26/4/1957, theo quyết định số 177- TTg của Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam trực thuộc Bộ Tài Chính được thành lập với nhiệm vụ chính là cấp phát vốn xây dựng đầu tư cơ bản theo kế hoạch Nhà nước. Năm 1981, Chính phủ ra quyết định 259- CP chuyển Ngân hàng Kiến thiết trực thuộc Bộ Tài Chính sang trực thuộc Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam được thành lập.

Năm 1990 cùng với quá trình đổi mới của nền kinh tế đất nước, Ngân hàng đổi mới theo mô hình đa năng và chính thức lấy tên là Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam ( BIDV ).

Ngày 28/3/1996 theo quyết định 186- TTg cho phép Ngân hàng hoạt động như một doanh nghiệp Nhà nước kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ.

Giai đoạn hội nhập từ năm 2000 – 2025, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng thể hiện trên một số bình diện sau đây: Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN tại BIDV.

Quy mô tăng trưởng và năng lực tài chính được nâng cao: BIDV luôn duy trì tốc độ tăng trưởng cao, an tòan và hiệu quả, giai đoạn 2019 – 2023, Tổng tài sản tăng bình quân hơn 25%/năm, huy động vốn tăng bình quân 24%/năm, dư nợ tín dụng tăng bình quân 25%/năm và lợi nhuận trước thuế tăng bình quân 45%/năm.

Cơ cấu lại hoạt động theo hướng hợp lý hơn: BIDV đã tích cực chuyển dịch cơ cấu khách hàng để giảm tỷ trọng dư nợ tín dụng trong khách hàng doanh nghiệp Nhà nước và hướng tới đối tượng khách hàng cá nhân, khách hàng doanh nghiệp ngoài quốc doanh. BIDV cũng tích cực chuyển dịch cơ cấu tín dụng, giảm bớt tỷ trọng cho vay trung dài hạn, chuyển sang tập trung nhiều hơn cho các khoản tín dụng ngắn hạn, chú trọng phát triển các dịch vụ ngân hàng hiện đại, nhằm tăng thu dịch vụ trên tổng nguồn thu của ngân hàng.

  • Lành mạnh hóa tài chính và năng lực tài chính tăng lên rõ rệt:

Từ 1996, BIDV liên tục thực hiện kiểm toán quốc tế độc lập và công bố kết quả báo cáo. Bắt đầu từ năm 2019, BIDV là ngân hàng đầu tiên thuê Tổ chức định hạng hàng đầu thế giới Moody’s thực hiện định hạng tín nhiệm cho BIDV và đạt mức trần quốc gia. Cũng trong năm 2019, với sự tư vấn của Earns & Young, BIDV trở thành Ngân hàng thương mại tiên phong triển khai thực hiện xếp hạng tín dụng nội bộ theo điều 7 Quyết định 493 phù hợp với chuẩn mực quốc tế và được NHNN công nhận.

Đầu tư phát triển công nghệ thông tin: BIDV luôn đổi mới và ứng dụng công nghệ phục vụ đắc lực cho công tác quản trị và phát triển dịch vụ ngân hàng tiên tiến; phát triển các hệ thống công nghệ thông tin như: ATM, POS, Contact Center; Củng cố và phát triển cơ sở hạ tầng các hệ thống: giám sát tài nguyên mạng; mạng định hướng theo dịch vụ (SONA); kiểm soát truy nhập máy trạm; Tăng cường công tác xử lý thông tin phục vụ quản trị điều hành ngân hàng MIS, CRM.

Hoàn thành tái cấu trúc mô hình tổ chức- quản lý, hoạt động, điều hành theo tiêu thức Ngân hàng hiện đại: Tiếp tục thực hiện nội dung Đề án Hỗ trợ kỹ thuật do Ngân hàng thế giới (WB) tài trợ nhằm chuyển đổi mô hình tổ chức hoạt động giai đoạn 2020 – 2023, năm 2021, BIDV đã thực hiện cơ cấu lại toàn diện, sâu sắc trên tất cả các mặt hoạt động của khối ngân hàng. Từ tháng 9/2021, BIDV đã chính thức vận hành mô hình tổ chức mới tại Trụ sở chính và từ tháng 10/2021 bắt đầu triển khai tại chi nhánh.

  • Đầu tư, tạo dựng tiềm lực cơ sở vật chất và mở rộng kênh phân phối sản phẩm: đến nay BIDV đã có 108 chi nhánh và hơn 500 phòng giao dịch, hàng nghìn ATM và POS tại 63 tỉnh thành trên toàn quốc.
  • Không ngừng đầu cho chiến lược đào tạo phát triển nguồn nhân lực
  • Tiếp tục mở rộng và nâng tầm quan hệ đối ngoại lên tầm cao mới: BIDV hiện đang có quan hệ đại lý, thanh toán với 1551 định chế tài chính trong nước và quốc tế, là Ngân hàng đại lý cho các tổ chức đơn phương và đa phương như World Bank, ADB, JBIC, NIB…. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN tại BIDV.

Thực hiện chiến lược đa phương hóa trong hợp tác kinh tế và mở rộng thị trường, BIDV đã thiết lập các liên doanh: Vid Public Bank (với Malaysia năm 1992), Lào Việt Bank (năm 1999) Bảo hiểm Lào -Việt (năm 2021), Ngân hàng Liên doanh Việt – Nga ( năm 2019), Công ty quản lý quỹ đầu tư BVIM (với Hoa Kỳ năm 2019), Công ty địa ốc BIDV Tower (với Singapore năm 2018), Công ty quản lý quỹ đầu tư tại Hồng Kông và thiết lập hiện diện tại Cộng hoà Séc.v.v

Đến nay, sau 55 năm xây dựng và trưởng thành gắn liền với các giai đoạn lịch sử của đất nước, BIDV trở thành Ngân hàng có uy tín lớn trong nước và quốc tế, ngày càng khẳng định vị thế một trong bốn NHTM chủ chốt của nền kinh tế, góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của nền kinh tế cũng như sự phát triển và thành đạt của các doanh nghiệp VN nói riêng.

1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh

Theo quyết định QĐ 888 của Ngân hàng Nhà nước, BIDV đã thành lập chi nhánh tại Quảng Ninh với tên gọi đầy đủ là Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam, chi nhánh Quảng Ninh. Đây là một trong những chi nhánh được thành lập từ ngày đầu khai sinh ra BIDV, chi nhánh Quảng Ninh – quản lý toàn bộ khu vực thành phố Hạ Long và khu vực Cẩm Phả. PGD Cẩm Phả là một PGD trực thuộc CN BIDV Quảng Ninh, nằm tại số 204 đường Trần Phú – Thành phố Cẩm Phả – Tỉnh Quảng Ninh. PGD Cẩm Phả là một trong những phòng giao dịch ra đời sớm, cách đây 55 năm, theo cùng với sự phát triển của BIDV Việt Nam:

Đơn vị bắt đầu thành lập ngày 26/4/1957 có tên là Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam chi nhánh Cẩm Phả với nhiệm vụ trọng tâm là cấp phát đầu tư xây dựng cơ bản thuộc Ngân hàng Nhà nước.

Đến 24/6/1981, đơn vị đổi tên là Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng chi nhánh Cẩm Phả với nhiệm vụ cấp phát cho vay đầu tư xây dựng cơ bản, cho vay tín dụng Nhà nước với lãi suất ưu đãi, cho vay dài hạn thuộc Ngân hàng Nhà nước.

Từ ngày 14/11/1990 , chi nhánh đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và Phát triển chi nhánh Cẩm Phả. Từ ngày 01/10/1990, Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam ban hành quy chế “Tổ chức và hoạt động của chi nhánh Ngân Hàng Đầu Tư và Phát Triển Quảng Ninh theo dự án TA2”. Chi nhánh Ngân hàng đầu Tư Và Phát Triển Cẩm Phả (chi nhánh cấp 2) đổi tên thành PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh. PGD Cẩm Phả hoạt động đầy đủ các chức năng như một chi nhánh của ngân hàng thương mại được phép kinh doanh đa năng tổng hợp về tiền tệ, tín dụng, dịch vụ ngân hàng và phi ngân hàng, làm ngân hàng đại lý, phục vụ các dự án từ các nguồn vốn, cho vay dài hạn, trung hạn, ngắn hạn cho các thành phần kinh tế, có nhiều kinh nghiệm đầu tư dự án trọng điểm. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN tại BIDV.

Năm 1995 có thể coi như một mốc quan trọng trong quá trình phát triển của PGD Cẩm Phả khi chuyển sang kinh doanh thương mại thực sự với chức năng mới là huy động vốn để cho vay. Từ chỗ phải vay vốn cấp trên để đáp ứng các nhu cầu tín dụng, đến nay (năm 2019) chi nhánh đã hoàn toàn tự lo nguồn vốn để cho vay, thực hiện các nghiệp vụ thanh toán trong nước – quốc tế, bảo lãnh, dịch vụ và kho quỹ. PGD Cẩm Phả cũng như BIDV Việt Nam nói chung đã trở thành Ngân hàng thương mại nhà nước đầu tiên áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001-2000 .

Năm 2018, đơn vị đã triển khai dự án hiện đại hoá ngân hàng và hệ thống thanh toán do ngân hàng Thế giới tài trợ. Dự án được đưa vào vận hành vào ngày 25/04/2018 trên 11 phân hệ chủ yếu và đã bộc lộ được tính ưu việt trong nhiều mặt, mở rộng thêm các sản phẩm dịch vụ mới đi kèm như rút tiền bằng máy ATM; dịch vụ trả lương cho công nhân, thanh toán quốc tế… mở rộng số lượng khách hàng, nâng cao hiệu quả hoạt động. Việc đưa vào vận hành theo mô hình giao dịch một cửa trong hoạt động giao dịch với khách hàng đã phát huy hiệu quả làm việc, nâng cao năng lực của cán bộ công nhân viên trong đơn vị. Những nỗ lực trên nhằm góp phần tạo thế và lực phát triển theo hướng bền vững, chủ động hội nhập theo thông lệ và xây dựng BIDV Việt Nam thành tập đoàn tài chính đa năng lớn mạnh vào năm 2024, đã đóng góp một phần to lớn vào sự phát triển chung của toàn ngân hàng. Đây là PGD trực thuộc BIDV Quảng Ninh, hoạt động theo luật các tổ chức tín dụng và điều lệ của BIDV nhưng có quyền tự chủ trong kinh doanh và con dấu riêng… Nằm trên địa bàn trọng điểm trong khu vực kinh tế Đông Bắc Bộ và tam giác kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh, đơn vị phải đối mặt với nhiều cơ hội và thách thức. Cơ hội đến từ tốc độ phát triển kinh tế trên 10% của Quảng Ninh, cùng với đó là sự tăng lên về số lượng các doanh nghiệp và số lượng cũng như thu nhập của dân cư. Tuy nhiên đây cũng là địa bàn hoạt động của hầu hết các ngân hàng khác như Agribank, Vietcombank, ACB, Sacombank, Techcombank… Điều này tạo ra một sự cạnh tranh khốc liệt đối với PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh. Nhưng với sự điều hành nhạy bén, sáng suốt của ban lãnh đạo, mà đứng đầu là giám đốc Nguyễn Mạnh Hà, tập thể cán bộ nhân viên PGD Cẩm Phả luôn hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu được giao đóng góp vào sự phát triển không chỉ của BIDV mà còn cho cả tỉnh Quảng Ninh. Thể hiện ở việc trong năm 2025, BIDV Quảng Ninh đã được BIDV Việt Nam chấp nhận về nguyên tắc để chuyển thành chi nhánh hạng đặc biệt với nhiều ưu thế hơn so với chi nhánh cấp I.

Sau một thời gian dài hoạt động, PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh ngày càng hoạt động có hiệu quả đồng thời khẳng định được thương hiệu của mình trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.

1.2 Bộ máy tổ chức của PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN tại BIDV.

1.2.1 Sơ đồ cơ cấu bộ máy tổ chức

1.2.2 Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban

Giám đốc : có vai trò vô cùng quan trọng. Là người quy định cụ thể quy trình phối hợp giữa các phòng ban và các đơn vị trực thuộc sao cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của chi nhánh, phù hợp với tình hình thực tế. Có vai trò phụ trách chung, điều hành mọi công việc cũng như các vấn đề liên quan tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng theo chế độ thủ trưởng ký và thực hiện các hợp đồng, là người chịu trách nhiệm trước cấp trên và trước pháp luật.

Phó giám đốc :là người chịu trách nhiệm điều hành chung công tác của chi nhánh ngân hàng dưới sự chỉ đạo kiểm soát của giám đốc. Thực hiện giải quyết các công việc đột xuất khác do giám đốc giao.Và phải chịu trách nhiệm về các quyết định của mình trong công việc được giao trước pháp luật và Giám đốc chi nhánh. Cũng là người thường trực phụ trách công tác kế toán ngân quỹ và điều hành cơ quan thay giám đốc khi giám đốc không có mặt.

  • Quan hệ khách hàng

Bộ phận quan hệ khách hàng chia theo đối tượng khách hàng, bao gồm bộ phận quan hệ khách hàng cá nhân và quan hệ khách hàng doanh nghiệp: Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN tại BIDV.

Quan hệ khách hàng cá nhân: Trực tiếp tiếp xúc với khách hàng nhằm tư vấn và bán các sản phẩm như thẻ, trả lương qua tài khoản, cho vay tiêu dùng, huy động tiết kiệm… và các sản phẩm liên quan tới các khách hàng cá nhân. Đồng thời, chăm sóc khách hàng, khai thác các điểm hợp tác liên kết, tiếp nhận và kiểm tra các hồ sơ cá nhân trước khi chuyển cho các bộ phận khác thẩm định, xác định và đưa ra các quyết định đề xuất có liên quan đến lĩnh vực tín dụng, nghiên cứu và đưa ra các đề xuất, tham mưu trong lĩnh vực lãi suất huy động vốn .Thực hiện phân loại nợ theo quy định…

Quan hệ khách hàng doanh nghiệp: Chịu trách nhiệm về thiết lập, duy trì, quản lý và phát triển mối quan hệ khác hàng, chịu trách nhiệm hỗ trợ, tiếp thị và bán các sản phẩm cho các khách hàng doanh nghiệp.Tiến hành phân tích thị trường, lựa chọn thị trường mục tiêu, khách hành muc tiêu, xây dựng chính sách khách hàng,chương trình tiếp thị để mở rộng kênh khách hàng và hoạt động kinh doanh. Kiểm tra giám sát quá trình sử dụng vốn vay; tài sản đảm bảo nợ vay; đôn đốc khách hàng trả nợ gốc, lãi; đề xuất cơ cấu lại thời hạn trả nợ…

  • Dịch vụ khách hàng

Là nơi tiếp nhận và thực hiện yêu cầu của khách hàng đến giao dịch. Các giao dịch viên có tinh thần cởi mở, hướng dẫn tận tình, cặn kẽ, chu đáo và lịch sự làm hài lòng khách hàng. Đảm bảo các yêu cầu của khách hàng được thực hiện nhanh chóng, kịp thời, chính xác.

Trực tiếp chịu trách nhiệm thực hiện công tác quản lý tài khoản và giao dịch với khách hàng, nhằm ngăn ngừa hoạt động rửa tiền có thể phát sinh trong quá trình giao dịch cũng như kịp thời xử lý các tình huống khẩn cấp. Kiểm tra giám sát tính pháp lý, tính đúng đắn, đầy đủ của các chứng từ giao dịch và đảm bảo tính bảo mật trong mọi hoạt động với khách hàng. Ngoài ra, phòng dịch vụ khách hàng còn kiểm tra tính pháp lý và thực hiện công tác lưu trữ hồ sơ thông tin cho ngân hàng

  • Kế toán ngân quỹ

Lập kế hoạch quản lí tiền vốn, tài sản của đơn vị; Tổng hợp lưu trữ hồ sơ kế toán, hàng tháng thực hiện chế độ báo cáo tài chính thống kê theo quy định của Nhà nước.Quản lý và thực hiện công tác hạch toán kế toán chi tiết, kế toán tổng hợp. Thực hiện công tác hậu kiểm đối với hoạt động tài chính kế toán của chi nhánh. Để xuất với giám đốc chi nhánh về việc hướng dẫn thực hiện chế độ tài chính, kế toán, xây dựng chế độ, biện pháp quản lý tài sản, định mức và quản lý tài chính, tiết kiệm chi tiêu nội bộ, hợp lývà đúng chế độ. Quản lý kho quỹ để đảm bảo an toàn, đồng thời điều hòa tiền mặt của ngân hàng. Thực hiện việc điều chuyển tiền, đảm bảo tính kịp thời trong nhu cầu tiền mặt của ngân hàng. Đồng thời theo dõi, tổng hợp lập báo cáo về tiền tệ và tình hình kho quỹ để trình lên cấp trên.

  • Mối quan hệ giữa các bộ phận

Ban giám đốc thực hiện phân công nhiệm vụ cụ thể tới từng khối trong phòng giao dịch. Quan hệ giữa các khối nghiệp vụ là quan hệ phối hợp chủ trì phối hợp để thực hiện công việc. Nếu phát sinh các công việc có liên quan, giữa các khối nghiệp vụ cần phối hợp để hoàn thành, nguồn gốc công việc có liên quan phát sinh ở khối nào trưởng bộ phận nghiệp vụ đó chịu trách nhiệm gặp các trưởng bộ phận có liên quan để trao đổi bàn bạc cùng thực hiện. Mặc dù mỗi khối có chức năng nhiệm vụ riêng nhưng lại có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ nhau tạo thành một tập thể thống nhất trong hoạt động, góp phần phát triển PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh.

1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh trong giai đoạn 2023-2025 Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN tại BIDV.

1.3.1 Hoạt động huy động vốn

Hiểu rõ vai trò to lớn của nguồn vốn đối với nền kinh tế nói chung và trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh nói riêng, PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh đã góp phần tích cực trong công tác huy động vốn của toàn hệ thống. Bên cạnh những sản phẩm huy động vốn truyền thống, PGD còn triển khai nhiều hình thức huy động vốn mới, áp dụng các cải tiến trong sản phẩm tiền gửi. Những đổi mới trong công tác huy động vốn tại PGD nhằm mục đích khai thác mọi nguồn vốn cả ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, từ đó huy động tối đa nguồn lực trong dân cư.

Về nhóm sản phẩm tiền gửi thanh toán: PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh có cung cấp nhóm sản phẩm tiền gửi thanh toán bao gồm: tiền gửi thanh toán thông thường, tiền gửi tích lũy hoa hồng, tiền gửi kinh doanh chứng khoán.

Về nhóm sản phẩm tiền gửi tiết kiệm: Bên cạnh sản phẩm tiền gửi thanh toán, thì nhóm sản phẩm tiền gửi tiết kiệm cũng khá đa dạng:

  • Tiết kiệm thông thường
  • Tiết kiệm tích lũy bảo an
  • Tiết kiệm lớn lên cùng yêu thương
  • Ngoài ra còn một số những sản phẩm khác như: tiết kiệm bậc thang, tiết kiệm rút gốc linh hoạt, tiết kiệm năng động.

Bảng 1: Cơ cấu nguồn vốn huy động từ năm 2023 – 2025

Nhìn chung nguồn vốn của PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh đã tăng dần qua các năm từ năm 2023 đến 2025. Từ năm 2023 sang năm 2024, nguồn vốn huy động của PGD tăng 278.621 triệu đồng, tương ứng tăng gấp 1,2 lần. Tới năm 2025 thì nguồn vốn huy động tăng gấp 1,48 lần so với năm 2024 và gấp 1,8 lần năm 2024. Con số ấn tượng này có thể cho thấy sự tăng trưởng lớn về quy mô cũng như tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ của nguồn vốn huy động tại PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN tại BIDV.

Khi phân chia nguồn huy động theo thời gian, thì PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh đã chia thành tiền có kỳ hạn và tiền gửi thanh toán. Tiền gửi không kỳ hạn mặc dù có song chiếm tỷ trọng nhỏ, không đáng kể trong nguồn vốn huy động được của đơn vị. Qua các năm có thể nhận thấy tiền gửi có kỳ hạn tăng nhanh chóng và có vai trò quan trọng trong nguồn vốn huy động của đơn vị, cụ thể tỷ trọng của nguồn này tăng lần lượt qua các năm 2023-2025 là 84% , 89% 92% nhưng ngược lại thì tiền gửi thanh toán lại có xu hướng giảm và giữ ổn định. Tính tới năm 2024 thì tiền gửi có kỳ hạn đã tăng 317233 triệu đồng, tức tăng 29%, bên cạnh đó thì tiền gửi thanh toán lại chỉ còn 170.880 triệu đồng, vậy là đã giảm 38612 triệu đồng (giảm 18%). Sang tới năm 2025, tiền gửi có kỳ hạn tăng so với năm 2024 là 729624 triệu đồng, tương ứng tăng tới 52% và tiền gửi thanh toán tăng nhẹ 18572 triệu đồng.

Phân chia theo thành phần kinh tế thì bộ phận dân cư lại có tỷ trọng cao hơn hẳn so với doanh nghiệp. Trong khi nguồn huy động từ doanh nghiệp liên tiếp giảm qua các năm từ 198.863 triệu (2023), giảm 105.705 triệu vào năm 2024 và chỉ còn 65.698 triệu (2025) (giảm tới 67% so với năm 2024). Ngược lại thì nguồn dân cư lại khá dồi dào và trên đà tăng mạnh. Số huy động sang tới năm 2024 bằng 1,35 lần năm 2023, nhưng tới 2025 thì con số này đã là gấp 1,5 lần năm 2024 và gấp 2,06 lần năm 2023. Bởi lẽ địa bàn hoạt động của PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh nằm trong khu công nghiệp đang trong giai đoạn đổi mới do đó, thu nhập của người dân nơi đây ổn định và có sự tăng trưởng nhanh, nguồn vốn tiết kiệm, để dành cũng tăng lên.

Theo cách phân chia về tiền tệ thì VND vẫn chiếm tỷ trọng chủ yếu trong nguồn huy động, do vẫn phần lớn là huy động trong nước, nên nguồn ngoại tệ không nhiều. Qua bảng số liệu có thể thấy nguồn vốn VND cũng như ngoại tệ khi quy đổi ra VND đều tăng qua các năm. Cụ thể là nguồn huy động bằng VND tăng với tốc độ 22% vào năm 2024 và 49% vào năm 2025. Con số này đối với ngoại tệ quy đối ra VND là 18% (năm 2024) và 26% (năm 2025).

Nhìn chung nhận thấy tổng nguồn vốn huy động của BIDV Cẩm Phả có xu hướng tăng qua các năm. Tiền gửi có kì hạn và tiền gửi của dân cư tăng và chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu vốn. Nguồn vốn huy động tương đối ổn định được coi là thành tựu của PGD Cẩm Phả- CN BIDV Quảng Ninh. Đạt được điều đó là do trong thời gian qua PGD đã chủ động thực hiện đa dạng hóa các hình thức huy động như huy động tiền gửi và vay các tổ chức kinh tế, huy động tiền gửi khách hàng bằng cả nội tệ và ngoại tệ dưới nhiều hình thức mở các hình thức dự thưởng như quay số trúng thưởng, quà tặng cho khách hàng lớn…kết hợp chặt chẽ với hoạt động maketing, quảng bá sản phẩm tới công chúng. Có thể đánh giá PGD đã hoàn thành tốt hoạt động huy động vốn của mình.

1.3.2 Hoạt động tín dụng Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN tại BIDV.

PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh đáp ứng tối đa và kịp thời nhu cầu về tín dụng, bảo lãnh nhằm hỗ trợ vốn cho khách hàng thực hiện các phương án sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư phát triển thông qua các sản phẩm tín dụng, bảo lãnh của BIDV. Trong giai đoạn 2023-2025 , PGD Cẩm Phả- CN BIDV Quảng Ninh đã áp dụng 1 số sản phẩm tín dụng:

Sản phẩm tín dụng với khách hàng cá nhân:

  • Cho vay hỗ trợ nhu cầu nhà ở
  • Cho vay mua ô tô
  • Vay ứng trước tiền bán chứng khoán niêm yết
  • Cho vay tiêu dùng tín chấp
  • Cho vay cầm cố giấy tờ có giá, thẻ tiết kiệm

Sản phẩm tín dụng với khách hàng doanh nghiệp:

  • Cho vay kinh doanh
  • Chiết khấu giấy tờ có giá
  • Thấu chi tài khoản tiền gửi

Bảng 2: Cơ cấu dư nợ theo kỳ hạn của PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh từ năm 2023 – 2025

Chỉ tiêu Năm 2023 Năm 2024 Năm 2025
Tuyệt đối (triệu đồng) Tỷ trọng (%) Tuyệt đối (triệu đồng) Tỷ trọng (%) Tuyệt đối (triệu đồng) Tỷ trọng (%)
Ngắn hạn 289.654 38,6 321.612 34,8 562.518 41,4
Trung hạn 242.651 32,3 341.615 36,9 382.691 28,2
Dài hạn 218.625 29,1 261.914 28,3 413.772 30,4
Tổng cộng 750.930 100 925.141 100 1.358.981 100

(Nguồn: BCTK của PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh năm 2023 – 2025) Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN tại BIDV.

Nhìn chung dư nợ qua các năm tại PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh tăng dần qua các năm. Sang năm 2024, dư nợ tín dụng đã tăng 174211 triệu đồng, tức 23%. Tới năm 2025 thì dư nợ đã đạt tới con số 1358981 triệu, tăng 47% so với năm 2024 và gấp 1,8 lần so với năm 2023. Có thể thấy quy mô của hoạt động tín dụng có xu hướng tăng chỉ trong 3 năm qua.

Từ bảng cơ cấu dư nợ theo kỳ hạn thấy rằng, tất cả các chỉ tiêu dư nợ tín dụng đều tăng dần qua các năm, nhưng lại có một số biến động về tỷ trọng so với tổng dư nợ. So với năm 2023 thì dư nợ ngắn hạn tăng thêm 31958 triệu vào năm 2024 và 140906 vào năm 2025. Cũng vì thế mà tỷ trọng dư nợ ngắn hạn trong năm 2025 tăng từ 34,8% lên 41,4%, nhận thấy PGD có xu hướng chuyển sang cho vay ngắn hạn. Điều này giúp tăng khả năng thanh khoản cho đơn vị. Tỷ trọng dư nợ dài hạn cũng có bước giảm nhẹ vào năm 2023 sau đó tăng trở lại vào năm 2025 nhưng sự thay đổi trong tỷ trọng không đáng kể. Không giống như hai chỉ tiêu trên, tỷ trọng dư nợ trung hạn lại tăng vào năm 2024 và giảm mạnh vào năm 2025, từ 36,9% xuống chỉ còn 28,2%. Có sự thay đổi trong tỷ trọng dư nợ theo kì hạn là do cuối năm 2024 – 2025, nền kinh tế chịu ảnh hưởng của lạm phát, ngành công nghiệp than và khai thác khoáng sản gặp nhiều khó khăn ảnh hưởng lớn đến các doanh nghiệp và dân cư trên địa bàn. Hoạt động của ngân hàng ảnh hưởng sau lạm phát, thị trường bất động sản đóng băng, hàng hóa tồn đọng nên hoạt động cho vay có cũng những biến động. Tình hình nợ xấu có xu hướng tăng nên ngân hàng tập trung vào các biện pháp thu nợ và chỉ tập trung cho vay đối với khách hàng thường xuyên có độ tín nhiệm cao. Đồng thời tăng cho vay ngắn hạn để đẩy nhanh vòng quay vốn tín dụng, từ đó rút ngắn thời gian thu hồi vốn để cho vay các khoản vay mới.

Bảng 3: Cơ cấu dư nợ phân theo đối tượng của PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh từ năm 2023 – 2025

Đối tượng 2023 2024 2025
Tuyệt đối (triệu đồng) Tỷ trọng (%) Tuyệt đối (triệu đồng) Tỷ trọng (%) Tuyệt đối (triệu đồng) Tỷ trọng (%)
Cá nhân 97.653 13 285.194 30,8 352.935 26
Doanh nghiệp Doanh nghiệp lớn 513.694 68,4 446.125 48,2 596.646 44
Doanh nghiệp vừa và nhỏ 139.583 18,6 193.822 21 409.400 30
Tổng cộng 750.930 100 925.141 100 1.358.981 10

(Nguồn: BCTK của PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh năm 2023- 2025) Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN tại BIDV.

Phân loại dư nợ theo khách hàng thì PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh chia ra làm hai loại chính là khách hàng doanh nghiệp và khách hàng cá nhân. Trong khách hàng doanh nghiệp thì bao gồm doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp vừa và nhỏ. Có thể nhận thấy rằng, mặc dù dư nợ vẫn tăng dân qua các năm nhưng tỷ trọng dư nợ của nhóm khách hàng cá nhân so với tổng dư nợ của PGD không thực sự ổn định. Thể hiện ở việc, sau khi tăng từ 13% (năm 2023) lên 30,8% trong năm 2024 thì tới năm 2025, tỷ trọng dư nợ của khách hàng cá nhân chỉ còn là 26%. Còn đối với khách hàng doanh nghiệp lớn, dư nợ có tăng nhưng hầu như không đáng kể, hơn thế nữa, tỷ trọng dư nợ của loại khách hàng này có xu hướng giảm trong thời gian qua, từ 68,4% (năm 2023) xuống chỉ còn 48,2% (năm 2024) và 44% (năm 2025). Ngược lại thì khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ lại thực sự thể hiện được vị trí khi cả dư nợ và tỷ trọng dư nợ đều tăng mạnh, nhất là năm 2025. Chỉ từ con số dư nợ khiêm tốn là 139.583 triệu (năm 2023) nhưng sang tới năm 2024 đã tăng gấp 1,4 lần và 2025 tăng gấp 2,9 lần. Tương ứng với đó là sự tăng lên của tỷ trọng, 18,6% năm 2023 đã trở thành 21% năm 2024 và 30% năm 2025. Đạt được điều này là do PGD đã áp dụng tốt các chính sách mà BIDV đưa ra cũng như phối hợp với các sở ban ngành địa phương trong các hoạt động tín dụng của mình. Nhận thấy được sự phát triển lệch về tỷ trọng giữa các DNNN( là các DN lớn tập trung vào các ngành khai khoáng, đóng tàu, cơ khí siêu trường siêu trọng, xây lắp…) với các DNVVN trên địa bàn, lãnh đạo TP đã đưa ra công văn, văn bản về định hướng phát triển của TP trong đó đẩy mạnh nhịp độ gia tăng giá trị sản xuất của DNVVN, đặc biệt ở lĩnh vực chế biến nông- lâm-thủy sản. Do đó với thế mạnh của 1 NH đi đầu trong lĩnh vực đầu tư và phát triển, PGD Cẩm Phả đã cho vay các dự án của sở y tế( do 1 số DNVVN trúng thầu), 1 số dự án xây dựng nhà máy chế biến,cho vay vốn lưu động… góp phần phát triển TP.

1.3.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh từ năm 2023 – 2025 Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN tại BIDV.

Bảng 4 : Kết quả hoạt động kinh doanh từ năm 2023 – 2025

Đơn vị: triệu đồng

Chỉ tiêu

2023 2024 2025
1. Doanh thu 39.500 51.267 104.169
Doanh thu từ hoạt động tín dụng 23.125 27.400 61.863
Doanh thu từ hoạt động dịch vụ 11.515 14.200 28.714
Doanh thu từ hoạt động khác 4.860 9.333 13.392
2. Tổng chi phí 19.100 20.323 38.503
3. Lợi nhuận trước thuế 20.400 30.934 65.666

(Nguồn: BCTK của PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh năm 2023 – 2025)

Qua bảng trên cho thấy doanh thu của PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh đã tăng nhanh chóng qua các năm. Sang năm 2024, doanh thu đã tăng thêm 11.767 triệu đồng, tới năm 2025 thì doanh thu đã tăng gấp 2 lần năm 2023 và gấp 2,6 lần năm 2023. Trong đó tăng mạnh ở doanh thu từ hoạt động tín dụng khi chỉ sau 2 năm đã tăng 2,7 lần năm 2023. Doanh thu của hoạt động này tăng lên hứa hẹn sự tăng trưởng của tín dụng – hoạt động đem lại nguồn thu chính cho đơn vị. Doanh thu từ hoạt động dịch vụ cũng tăng tương ứng. Khi mà các hoạt động thẻ ngày càng phát triển, cũng như việc thanh toán điện tử đã tới gần hơn với khách hàng thì sang tới năm 2025, doanh thu từ hoạt động này tăng gấp 2 lần năm 2024 và gấp 2,5 lần năm 2023.

Bên cạnh sự tăng lên của doanh thu, kéo theo sự gia tăng của chi phí với tốc độ như nhau. Từ năm 2023 sang năm 2024, chi phí chỉ tăng 1223 triệu đồng, còn tới năm 2025 thì chi phí tăng gấp 2 lần năm 2024.

Điều đó dẫn tới lợi nhuận trước thuế của đơn vị tăng nhanh qua các năm, đặc biệt vào năm 2025. Từ con số 20.400 triệu đồng năm 2023, chỉ sau 1 năm đã tăng lên gấp 1,5 lần, tới năm 2025 thì đã gấp 3,2 lần. Lợi nhuận tăng qua các năm cho thấy kết quả kinh doanh của đơn vị đang có hướng đi lên rõ rệt. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN tại BIDV.

2 Thực trạng chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh

2.1 Chính sách tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của BIDV

Thứ nhất, về chính sách tín dụng đối với DNVVN. Cùng với sự thay đổi trong chính sách của nhà nước đối với các DNVVN, chính sách tín dụng đối với DNVVN của BIDV Việt Nam cũng dần thay đổi theo xu hướng ngày càng mở cửa cho đối tượng khách hàng này. Từ chỗ chỉ tập trung vào các DNNN, BIDV đã có những thay đổi trong phân khúc thị trường khách hàng của mình. Bằng hàng loạt những chính sách, chiến lược, BIDV đang dần khẳng định mình là một địa chỉ quen thuộc của các DNVVN.

Theo công văn 7194 năm 2021, ban lãnh đạo của BIDV đã nêu rõ: mục tiêu chính là đưa BIDV trở thành ngân hàng thương mại hàng đầu trong cung ứng tín dụng, dịch vụ cho các DNVVN, cụ thể có đề cập đến vấn đề cắt giảm phí với các DNVVN: Miễn phí đối với dịch vụ bao gồm: tư vấn/thu xếp khoản vay, dự án/thẩm định dự án (mã phí E001) và cam kết cung cấp tín dụng cho khách hàng (mã phí E013). Bên cạnh đó, còn giảm 30% phí đối với một số dịch vụ, cụ thể:

Chuyển khoản, chuyển tiền thanh toán trong nước đối với các DNVVN có quan hệ tín dụng tại chi nhánh và xếp hạng từ BBB trở lên; Phát hành, sửa đổi L/C (có ký quỹ 100%); Phát hành, sửa đổi bảo lãnh (có ký quỹ 100%); Thanh toán bộ chứng từ L/C, nhờ thu, điện chuyển tiền.

Ngoài công văn trên BIDV còn đưa ra quy định 6366 nhằm mục đích thống nhất cách ứng xử của ngân hàng trong việc phát triển quan hệ với các DNVVN. Xây dựng một danh mục các khách hàng DNVVN có chất lượng cao, sử dụng đa dạng các tiện ích của BIDV. Xây dựng chính sách đa dạng, phù hợp với từng nhóm khách hàng nhằm hạn chế rủi ro, nâng cao chất lượng tín dụng đối với các khách hàng DNVVN. Tăng cường sức cạnh tranh, hướng tới phát triển BIDV trở thành ngân hàng thương mại hiện đại, dẫn đầu trong việc cung ứng các sản phẩm, dịch vụ cho các DNVVN. Quy định này tạo điều kiện cho các DNVVN được tiếp cận nhiều hơn nữa các sản phẩm tín dụng của BIDV. Sau khi thỏa mãn một số điều kiện cần thiết để giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng (những điều kiện này hoàn toàn phù hợp với các quy định của luật pháp như không cho vay các công ty kinh doanh buôn bán các danh mục mà pháp luật cấm, vay cho mục đích đầu cơ, găm hàng…) tùy theo số điểm mà các doanh nghiệp có được theo hệ thống xếp hạng tín dụng khách hàng của BIDV, họ sẽ được xếp vào các nhóm khách hàng khác nhau nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho doanh nghiệp khi sử dụng các sản phẩm của BIDV. Có thể ví dụ với các doanh nghiệp được xếp loại AAA và AA, thì quy định như sau: Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN tại BIDV.

Đối với những khách hàng đã có quan hệ tại BIDV: Thường xuyên đổi mới và cung cấp các sản phẩm tín dụng đa dạng, sản phẩm dịch vụ hiện đại phù hợp với nhu cầu của khách hàng để mở rộng quan hệ với khách hàng trong các hoạt động tín dụng,tiền gửi và các dịch vụ ngân hàng trên nguyên tắc cùng nhau phát triển bền vững.

Đối với những khách hàng hiện chưa có quan hệ tại BIDV: Xây dựng các chính sách về lãi suất tiền gửi, tiền vay đủ sức cạnh tranh, cung cấp các sản phẩm tín dụng, dịch vụ và các tiện ích thuận lợi khác trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp để tiếp thị khách hàng quan hệ với BIDV.

BIDV đáp ứng tối đa và kịp thời nhu cầu về tín dụng, bảo lãnh nhằm hỗ trợ vốn cho khách hàng thực hiện các phương án sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư phát triển thông qua các sản phẩm tín dụng, bảo lãnh của BIDV, đặc biệt trong đó: BIDV hỗ trợ, tư vấn khách hàng trong việc lập dự án, hồ sơ vay vốn và thu xếp vốn. Đối với cho vay đầu tư dự án: được đáp ứng tối đa và kịp thời nhu cầu về vốn khi khách hàng đã đáp ứng đầy đủ các quy định của pháp luật, của Ngân hàng Nhà nước về khách hàng, dự án, điều kiện vay vốn. Đối với cho vay vốn lưu động: Khách hàng nhóm này được áp dụng cho vay theo phương thức vay hạn mức, phương thức cho vay theo hạn mức thấu chi, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng (nếu có). Đặc biệt đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu xem xét áp dụng linh hoạt hình thức cho vay đảm bảo bằng hàng hoá, quản chấp lô hàng, đảm bảo bằng quyền đòi nợ, các khoản phải thu của doanh nghiệp … Đặc biệt, trong đó chính sách bảo đảm được quy định rõ ràng:

Về loại tài sản đảm bảo: BIDV xem xét kết hợp linh hoạt mọi tài sản của khách hàng để đảm bảo cho khoản vay phù hợp với quy định hiện hành về giao dịch bảo đảm trong cho vay của pháp luật và của BIDV. Đặc biệt,đối với khách hàng hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu,được xem xét áp dụng linh hoạt hình thức cho vay đảm bảo bằng hàng hoá, dịch vụ, quản chấp lô hàng, đảm bảo bằng quyền đòi nợ, các khoản phải thu của doanh nghiệp …

Về tỷ lệ giá trị tài sản đảm bảo/tổng dư nợ vay, bảo lãnh: PGD Cẩm Phả thực hiện theo quy định về chính sách khách hàng chung và các văn bản hướng dẫn hiện hành khác của BIDV. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN tại BIDV.

Thứ hai, về chính sách dịch vụ có liên quan tới DNVVN: Đối với các khách hàng DNVVN, BIDV xem xét ưu đãi phí dịch vụ đến mức tối đa trên cơ sở biểu phí từng thời kỳ của BIDV. BIDV cung cấp sản phẩm dịch vụ trọn gói cho các khách hàng nhóm này gồm: Bảo lãnh phát hành trái phiếu; Dịch vụ ngân hàng điện tử (homebanking, directbanking…); Dịch vụ quản lý tài khoản trọn gói (dịch vụ quản lý vốn tự động, quản lý các khoản phải thu, quản lý các khoản phải trả tự động, dịch vụ tiền gửi với mức lãi suất linh hoạt); Dịch vụ thanh toán quốc tế, mua bán ngoại tệ với tỷ giá ưu đãi; Dịch vụ thẻ ATM cho doanh nghiệp; Dịch vụ vấn tin tài khoản, tra cứu thông tin tỷ giá, tiền gửi, tiền vay, lãi suất, tra soát ….

Thứ ba, về các chính sách hỗ trợ khác: BIDV sẽ xem xét góp vốn đầu tư, liên doanh, liên kết đối với nhóm khách hàng này phù hợp với quy định của pháp luật và quy chế đầu tư hiện hành của BIDV. Còn đối với các DNVVN không đủ điều kiện xếp hạng trên hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ thì BIDV quy định Đối với các DNVVN không đủ điều kiện xếp hạng trên hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, Chi nhánh áp dụng chính sách khách hàng tương tự như đối với khách hàng xếp hạng BB quy định tại điều 8 quy định 6366. Việc cấp tín dụng đối với các trường hợp DNVVN không đủ điều kiện xếp hạng trên hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ do Hội đồng tín dụng cơ sở xem xét, quyết định phù hợp với thẩm quyền quyết định mức cho vay theo quy định hiện hành của BIDV về thẩm quyền phán quyết tín dụng (trừ các khoản tín dụng được đảm bảo 100% bằng: Số dư trên tài khoản tiền gửi; Sổ tiết kiệm tại BIDV hoặc tại tổ chức tín dụng khác; Trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc). Quy định cũng đã chỉ ra các xác định lãi suất cho vay (lãi suất cho vay = lãi suất cơ sở + mức phí) tùy thuộc vào điều kiện thực tế tại thời điểm vay, vào việc doanh nghiệp được xếp hạng vào nhóm khách hàng nào. Ngoài ra một số thủ tục trong quy trình xét duyệt tín dụng cũng được bỏ bớt nhằm đẩy nhanh thời gian tiếp cận khoản vay của doanh nghiệp.

Tóm lại chính sách tín dụng của BIDV đối với các DNVVN đã và đang thay đổi theo chiều hướng tích cực,từ chỗ chưa quan tâm, chú trọng thì nay DNVVN đã được ưu tiên hơn, quan tâm nhiều hơn. Những thay đổi này tập trung chủ yếu vào các sản phẩm tín dụng, đi kèm với đó là những chính sách ưu đãi về lãi suất và mức phí liên quan cùng với các ưu tiên về mặt dịch vụ đối với các khách hàng này.

2.2 Quy trình cấp tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN tại BIDV.

PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh đã thực hiện nghiêm túc quy trình cấp tín dụng đối với DNVVN theo quy trình chuẩn của BIDV, bên cạnh đó PGD cũng linh hoạt trong một số bước để phù hợp với tình hình thực tế tại đơn vị. Cụ thể tại PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh, quy trình tín dụng đối với DNVVN vẫn bao gồm 6 bước chính giống như quy trình tín dụng thông thường. Nhưng nội dung trong từng bước được chi tiết hóa, nhằm giúp cho cán bộ tín dụng dễ dàng hơn khi thực hiện hoạt động tín dụng đối với DNVVN. Bên cạnh đó còn đảm bảo hoạt động cấp tín dụng diễn ra thống nhất, khoa học, tạo cơ chế giám sát hiệu quả, hạn chế, phòng ngừa rủi ro, xác định trách nhiệm của từng khâu, từng bước trong quy trình cấp tín dụng và không ngừng nâng cao chất lượng tín dụng đối với DNVVN.

Quy trình tín dụng đối với DNVVN tại PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh bao gồm các bước cụ thể như sau:

  • Bước 1: Tiếp thị khách hàng và lập báo cáo đề xuất tín dụng đối với DNVVN.

Cán bộ quan hệ khách hàng DNVVN là đầu mối tiếp thị, xác định nhu cầu sử dụng các sản phẩm dịch vụ của DNVVN. Trên cơ sở nhu cầu của DN, cán bộ quan hệ khách hàng hướng dẫn DNVVN lập hồ sơ tín dụng theo đúng quy định.

Cán bộ quan hệ khách hàng sẽ căn cứ vào hồ sơ tín dụng của DNVVN để thực hiện nghiên cứu, thẩm định theo những nội dung sau: đánh giá chung về DNVVN, thẩm định tình hình tài chính của DN, thực hiện chấm điểm tín dụng DNVVN để áp dụng chính sách khách hàng.

Sau đó cán bộ quan hệ khách hàng tiến hành phân tích đánh giá về phương án sản xuất, kinh doanh, dự án đầu tư, khả năng trả nợ của DNVVN để xác định hình thức cấp tín dụng phù hợp. Bên cạnh đó, cán bộ quan hệ khách hàng cần đánh giá tài sản bảo đảm theo đúng quy định của BIDV, đánh giá toàn diện rủi ro và các biện pháp phòng ngừa

Tiến hành lập báo cáo đề xuất tín dụng có kèm theo hồ sơ tín dụng trình ban lãnh đạo bộ phận quan hệ khách hàng DNVVN. Lãnh đạo bộ phận quan hệ khách hàng thực hiện kiểm tra lại các nội dung trong báo cáo đề xuất tín dụng, ghi ý kiến vào báo cáo đề xuất và ký kiểm soát. Báo cáo đề xuất tín dụng cùng toàn bộ hồ sơ tín dụng của khách hàng được chuyển cho bộ phận quản lý để thẩm định rủi ro.

  • Bước 2: Thẩm định rủi ro đối với DNVVN

Cán bộ quản lý rủi ro thực hiện thẩm định rủi ro của các đề xuất cấp tín dụng và lập báo cáo thẩm định rủi ro kèm theo hồ sơ tín dụng trình lãnh đạo bộ phận quản lý rủi ro. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN tại BIDV.

Lãnh đạo bộ phận quản lý rủi ro đối với DNVVN thực hiện kiểm tra, rà soát lại nội dung của báo cáo thẩm định rủi ro, ghi ý kiến và ký kiểm soát để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt rủi ro.

  • Bước 3: Phê duyệt cấp tín dụng đối với DNVVN:

Khoản tín dụng cho DNVVN được coi là phê duyệt cấp tín dụng khi có đầy đủ chữ ký phê duyệt của phó giám đốc phụ trách quan hệ khách hàng trên báo cáo đề xuất tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng trên báo cáo thẩm định rủi ro. Đối với khoản tín dụng cho DNVVN thuộc thẩm quyền phê duyệt rủi ro PGD thì cán bộ quản lý rủi ro chịu trách nhiệm tập hợp hồ sơ và sao gửi các thành viên hội đồng tín dụng. Trường hợp khoản tín dụng vượt quá thẩm quyền phê duyệt của PGD sẽ được chuyển lên cấp cao hơn với đầy đủ hồ sơ và tài liệu liên quan tới khách hàng DNVVN.

Sau khi các hợp đồng đã được ký kết, bộ phận quan hệ khách hàng bàn giao toàn bộ hồ sơ tín dụng gốc của DNVVN cho bộ phận quản trị tín dụng để thực hiện nhập thông tin vào hệ thống SIBS và quản lý lưu giữ hồ sơ theo quy trình lưu trữ hồ sơ.

  • Bước 4: Giải ngân cho khách hàng DNVVN

Hồ sơ đề nghị giải ngân của DNVVN bao gồm: giấy đề nghị giải ngân do DN, bảng kê rút vốn vay các chứng từ làm căn cứ giải ngân. Bộ phận quan hệ khách hàng chịu trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra mục đích, điều kiện giải ngân của DNVVN đồng thời lập đề xuất giải ngân và chuyển toàn bộ hồ sơ cho bộ phận quản trị tín dụng.

Trên cơ sở đề xuất giải ngân của bộ phận quan hệ khách hàng, bộ phận quản trị tín dụng chịu trách nhiệm kiểm tra hạn mức còn lại; kiểm tra tính đầy đủ hợp lệ của căn cứ giải ngân và các thông tin được ghi trong các chứng từ giải ngân, sau đó lập tờ trình giải ngân trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Căn cứ vào tờ trình giải ngân của bộ phận quản trị tín dụng và hồ sơ giải ngân, cấp có thẩm quyền theo phân cấp xem xét ra quyết định: duyệt đồng ý giải ngân, yêu cầu bộ phận quản trị tín dụng hoàn thiện lại hồ sơ giải ngân hoặc từ chối giải ngân và ghi rõ lý do từ chối.

Cuối cùng là bước nhập dữ liệu vào hệ thống SIBS và lưu giữ hồ sơ. Hồ sơ giải ngân được cấp có thẩm quyền phê duyệt được chuyển lại cho bộ phận quản trị tín dụng để thực hiện nhập dữ liệu vào hệ thống SIBS và lưu giữ hồ sơ theo quy định.

  • Bước 5: Giám sát và kiểm soát đối với DNVVN Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN tại BIDV.

Bộ phận quan hệ khách hàng cụ thể là cán bộ quan hệ khách hàng có trách nhiệm thường xuyên theo dõi khoản vay, theo dõi đánh giá về DNVVN. Nội dung cụ thể gồm:

  • Thực hiện kiểm tra, rà soát đánh giá mục đích sử dụng vốn vay
  • Thực trạng tài sản bảo đảm theo quy định về giao dịch bảo đảm trong cho vay
  • Định kỳ hàng năm thực hiện rà soát, đánh giá lại hiệu quả khai thác các dự án đầu tư.

Việc kiểm tra, rà soát được thực hiện thông qua hồ sơ tín dụng, sổ sách chứng từ kế toán của DNVVN hoặc kiểm tra thực địa. Kết thúc mỗi lần kiểm tra, cán bộ quan hệ khách hàng phải tiến hành lập biên bản kiểm tra, báo cáo kiểm tra trình cấp có thẩm quyền. Song song với đó, PGD sẽ thực hiện phân loại nợ theo quy định của BIDV. Cán bộ tín dụng thực hiện đánh giá lại giá trị tài sản đảm bảo theo quy định về giao dịch bảo đảm trong cho vay của BIDV, thường xuyên theo dõi phân tích các biến động về hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính, tài sản; tài sản đảm bảo của khách hàng

Bộ phận quản lý rủi ro chịu trách nhiệm phối hợp với bộ phận quan hệ khách hàng và bộ phận quản trị tín dụng trong việc phát hiện kịp thời các dấu hiệu rủi ro, đề xuất các biện pháp xử lý trong trường hợp khoản tín dụng hoặc DNVVN có dấu hiệu bất thường hoặc khoản vay của DN chuyển sang trạng thái nợ xấu. Đồng thời giám sát việc thực hiện phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro, tổng hợp kết quả phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro gửi bộ phận kế toán để lập cân đối kế toán theo quy định và giám sát thực hiện các biện pháp xử lý rủi ro đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

  • Bước 6: Thu nợ và thanh lý hợp đồng

Bộ phận quan hệ khách hàng chịu trách nhiệm thông báo và đôn đốc DNVVN trả nợ gốc, lãi và phí đúng hạn.Trong quá trình theo dõi đôn đốc DNVVN trả nợ, bộ phận quan hệ khách hàng biết trước chắc chắn DN không có khả năng trả nợ đúng hạn thì phải áp dụng ngay một trong các biện pháp:

Nếu nguyên nhân DNVVN không trả được nợ là khách quan, DN có khả năng trả nợ nếu được gia hạn hoặc điều chỉnh kỳ hạn nợ: Trường hợp này khi DNVVN đề nghị cơ cấu lại nợ, bộ phận quan hệ khách hàng có thể xem xét đề xuất điều chỉnh tín dụng.

Nếu nguyên nhân DNVVN không trả được nợ là do yếu tố chủ quan hoặc DN không có khả năng trả được nợ ngay cả khi được gia hạn hoặc điều chỉnh kỳ hạn trả nợ: bộ phận quan hệ khách hàng phải thông báo cho bộ phận quản trị tín dụng để thực hiện chuyển nợ quá hạn hoặc phối hợp cùng bộ phận quản trị tín dụng theo dõi việc chuyển nợ quá hạn tự động trên máy và đồng thời thực hiện các bước xử lý thu hồi nợ quá hạn. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN tại BIDV.

Thực hiện thu nợ gốc, lãi, phí đối với DNVVN. Trường hợp thực hiện thu nợ gốc, lãi tự động, ngay sau khi giải ngân, cán bộ quản trị tín dụng cài đặt thu nợ gốc, lãi tự động trên máy. Định kỳ hàng tháng, bộ phận quản trị tín dụng thực hiện in các chứng từ thu gốc, lãi tự động chuyển bộ phận quan hệ khách hàng để chuyển cho DNVVN.

Khi DNVVN đã trả hết nợ hoặc khoản bảo lãnh đã hết hiệu lực, bộ phận quan hệ khách hàng phối hợp với bộ phận quản trị tín dụng, dịch vụ khách hàng để thực hiện đối chiếu kiểm tra lại số tiền thu nợ gốc, lãi, phí… để tất toán hồ sơ tín dụng. Bên cạnh đó, tiến hành giải chấp các hợp đồng bảo đảm và thanh lý các hợp đồng. Bộ phận quản trị tín dụng chịu trách nhiệm lưu trữ hồ sơ tín dụng đã tất toán theo quy định.

Quy trình tín dụng của PGD đã tuân thủ chặt chẽ các bước theo quy định của BIDV. PGD đã cụ thể, chi tiết các bước, và linh hoạt ở 1 số bước nhằm bám sát với tình hình thực tế ở đơn vị. Tuy nhiên PGD chưa chú trọng công tác thẩm định tín dụng, thẩm định đánh giá tính khả thi của dự án. Công tác thẩm định chưa chủ động còn phụ thuộc nhiều vào hồ sơ mà khách hàng cung cấp.

2.3 Phân tích, đánh giá chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN tại BIDV.

2.3.1 Chỉ tiêu dư nợ, tốc độ tăng trưởng dư nợ, tỷ trọng dư nợ đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ

  • Chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng dư nợ đối với DNVVN:

Bảng 5: Tốc độ tăng trưởng dư nợ đối với DNVVN tại tại PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh từ năm 2023 – năm 2025

Năm

2023 2024 2025
Dư nợ tín dụng đối với DNVVN (triệu đồng) 139.583 193.822 409.400
Tốc độ tăng trưởng tín dụng đối với DNVVN (%) 31 39 111

(Nguồn: BCTK của PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh năm 2023 – 2025)

Dựa vào số liệu về dư nợ tín dụng đối với DNVVN có thể thấy, qua 3 năm dư nợ tín dụng với loại khách hàng này liên tục tăng lên. Từ con số 139583 triệu đồng năm 2023 thì sang năm 2024 đã tăng thêm 54239 triệu đồng và tiếp tục tăng mạnh vào năm 2025 khi con số dư nợ đối với DNVVN tăng gấp 2,11 lần năm trước đó. Bên cạnh sự gia tăng về dư nợ, tốc độ tăng trưởng dư nợ đối với DNVVN cũng tăng khá nhanh. Khởi đầu với 31% trong năm 2023, sang năm 2024 tốc độ tăng trưởng đã tăng thêm 8% và tới năm 2025 thì con số này đã tăng gần gấp 3 lần năm trước đó. Đây là một con số khá nổi bật và phù hợp với định hướng của đơn vị trong giai đoạn này là đổi mới phân khúc thị trường. Với sự tăng lên về con số tuyệt đối của dư nợ tín dụng đối với DNVVN, hứa hẹn rằng hoạt động tín dụng đối với loại khách hàng này sẽ ngày được chú trọng và mở rộng về quy mô cũng như chất lượng. Song bên cạnh đó cần kết hợp đánh giá nhiều yếu tố khác vì có thể việc dư nợ đối với khách hàng DNVVN tăng lên do xu hướng tất yếu khi gia tăng tổng dư nợ tại PGD Cẩm Phả.

  • Chỉ tiêu tỷ trọng dư nợ đối với DNVVN: Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN tại BIDV.

Bảng 6: Tỷ trọng dư nợ của DNVVN tại PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh từ năm 2023 – 2025

Năm

2023 2024 2025
Tổng dư nợ (triệu đồng) 750.930 925.141 1.358.981
Dư nợ của DNVVN (triệu đồng) 139.583 193.822 409.400
Tỷ trọng dư nợ của DNVVN (%) 18,6 21 30

(Nguồn: BCTK của PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh năm 2023 – 2025)

Nhìn số liệu trên, bước đầu cho thấy, bên cạnh dư nợ tuyệt đối của DNVVN tăng mạnh qua các năm, kéo theo đó tỷ trọng dư nợ của khối khách hàng này cũng tăng lên đáng kể. Từ con số 18,6 % năm 2023, tới năm 2024 tỷ trọng dư nợ của DNVVN đã tăng thêm 2,4 % và sang năm 2025 thì chỉ tiêu này tăng hơn so với năm 2024 là 9% để đạt tới con số 30%. Có thể nhận thấy, với tốc độ gia tăng còn hạn chế của chỉ tiêu tỷ trọng dư nợ thì hoạt động tín dụng đối với khách hàng DNVVN chưa mấy khởi sắc.

Việc tỷ trọng dư nợ của khối khách hàng này còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng của các DNVVN trên địa bàn hoạt động của PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh. Cẩm Phả có thể nói là trung tâm kinh tế của tỉnh Quảng Ninh, là nơi tập trung rất nhiều các doanh nghiệp, trong đó DNVVN chiếm 72% tổng số 600 DN trên địa bàn.Tuy vậy do đặc thù hoạt động của PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh từ trước, cụ thể do những quy định của BIDV đối với các DNVVN nhằm đảo bảo sự an toàn trong hoạt động kinh doanh tín dụng của mình. Tuy rằng một số thủ tục, quy chế đã dần dần được xem xét giảm bỏ song các DNVVN vẫn còn phải mất nhiều thời gian trong việc vay vốn của mình (phải chứng minh được năng lực tài chính, tài sản bảo đảm, tính khả thi của dự án, có điểm quy mô nhỏ làm ảnh hưởng chung tới tổng điểm trong quy tình chấm điểm xếp hạng khách hàng của BIDV…). Vì vậy nên số lượng khách hàng DNVVN của đơn vị còn khá khiêm tốn, vẫn còn thua kém với một số ngân hàng khác trên cùng địa bàn như Agribank, Vietcombank… Điều này đã đưa ra vấn đề về hoạt động tín dụng đối với DNVVN vẫn còn nhiều tồn tại, chính điều đó gây ảnh hưởng không tốt tới chất lượng tín dụng DNVVN. Bên cạnh đó, hạn chế về tỷ trọng dư nợ của DNVVN tới từ nguyên nhân do công tác thẩm định và công tác marketing của PGD. Tuy có nền tảng khá vững chắc của BIDV, song trong quá trình thực hiện vẫn còn nhiều bước quá quan trọng thủ tục. Việc này gây mất thời gian cho khách hàng và ngân hàng khi đưa ra quyết định tín dụng, bỏ lỡ cơ hội và mối quan hệ với những khách hàng DNVVN có tiềm năng. Công tác marketing tại PGD vẫn chưa được chú trọng đúng mức. Trong khi địa phương có rất nhiều DNVVN đang tồn tại và phát triển, nếu công tác này chưa tốt sẽ có ảnh hưởng tiêu cực tới hình ảnh của đơn vị, bên cạnh đó việc mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng tín dụng đối với loại khách hàng này theo đó mà gặp nhiều khó khăn. Điều này làm lãng phí rất nhiều mối quan hệ khách hàng tốt cũng như hạn chế môi trường tín dụng của đơn vị. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN tại BIDV.

  • Phân tích cơ cấu dư nợ đối với DNVVN theo thành phần kinh tế

Bảng 7: Tình hình dư nợ DNVVN theo thành phần kinh tế

Đơn vị: triệu đồng

Chỉ tiêu 2023 2024 2025
Giá trị % Giá trị % Giá trị %
DNNN 17866 12,8 20933 10,8 41349 10,1
DN ngoài quốc doanh 121717 87,2 172889 89,2 368051 89,9
DNVVN 139583 100 193822 100 409400 100

(Nguồn: BCTK của PGD Cẩm Phả- CN BIDV Quảng Ninh năm 2023-2025)

Qua bảng số liệu cho thấy,dư nợ và tỷ trọng dư nợ DNNN chiếm tỉ lệ thấp và có xu hướng giảm mạnh qua các năm từ 12,8% năm 2023 giảm xuống chỉ còn 10,1% năm 2025.Thay vào đó là sự tăng lên trong dư nợ của các DNVVN ngoài quốc doanh kéo theo sự thay đổi của tỷ trọng dư nợ đối với DN này. Các DNVVN đến vay vốn tại PGD rất đa dạng nhưng chủ yếu là thành phần kinh tế ngoài quốc doanh như hợp tác xã, công ty hợp danh, công ty tư nhân, công ty cổ phần… Trong đó, số lượng công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty tư nhân và công ty cổ phần chiếm tỷ trọng lớn với một số DN có thể được coi là chủ lực của PGD gồm có công ty cổ phần Động Lực, Công ty Việt Tuấn… Đây là đối tượng khách hàng số lượng lớn, năng động, giàu tiềm năng song còn thiếu vốn. Với điều kiện linh hoạt và nhạy bén trong quá trình kinh doanh, khả năng thích ứng với những thay đổi của thị trường thì DNVVN ngoài quốc doanh là đối tượng khách hàng mà PGD tập trung phát triển trong thời gian tới.

  • Phân tích cơ cấu dư nợ tín dụng đối với DNVVN theo kì hạn

Bảng 8: Tình hình dư nợ DNVVN của PGD Cẩm Phả- CN BIDV Quảng Ninh theo kì hạn năm 2023-2025

Đơn vị: triệu đồng Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN tại BIDV.

Chỉ tiêu 2023 2024 2025
Giá trị % Giá trị % Giá trị %
Ngắn hạn 101198 72,5 146723 75,7 328338 80,2
Trung và dài hạn 38385 27,5 47099 24,3 81062 19,8
Tổng dư nợ TD của DNVVN 139583 100 193822 100 409400 100

(Nguồn :BCTK của PGD Cẩm Phả- CNBIDV Quảng Ninh năm 2023-2025)

Nhìn vào biểu đồ trên ta thấy, trong tổng dư nợ TD đối với DNVVN thì dư nợ ngắn hạn chiếm tỉ trọng rất lớn. Tỷ trọng cho vay ngắn hạn đối với DNVVN trong các năm 2023-2025 lần lượt là 72,5%; 75,7%; 80,2%. Tốc độ tăng dư nợ ngắn hạn lớn hơn đối với dư nợ dài hạn và tốc độ này tăng cao trong năm 2025. Điều này có thể lý giải là do hầu hết nhu cầu vay vốn của các DNVVN chủ yếu để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động; còn nhu cầu vay vốn trung dài hạn để đáp ứng nhu cầu về máy móc, công nghệ thiết bị và thực hiện các dự án có quy mô dài hạn. Tuy nhiên vấn đề gặp phải đó là DNVVN có quy mô và năng lực tài chính hạn hẹp, việc lập dự án vay dài hạn chưa thuyết phục được ngân hàng về tính khả thi nên DNVVN gặp phải nhiều khó khăn khi tiếp cận nguồn vốn dài hạn. Hơn thế nữa, NH luôn đánh giá DNVVN có mức độ rủi ro cao, trong điều kiện kinh tế khó khăn, sản xuất kinh doanh đình vốn, nên NH thận trọng chỉ tập trung cho vay ngắn hạn. Tuy nhiên, mức dư nợ đối với DNVVN cả ngắn hạn và dài hạn đều có xu hướng tăng cũng là dấu hiệu tích cực đối với hoạt động tín dụng của PGD.

2.3.2 Chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn

  • Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn của DNVVN:

Bảng 9: Tỷ lệ nợ quá hạn của DNVVN tại PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh từ năm 2023 – 2025

Năm

2023 2024 2025
Nợ quá hạn của DNVVN (triệu đồng) 391 407 1392
Tổng dư nợ của DNVVN (triệu đồng) 139.583 193.822 409.400
Tỷ lệ nợ quá hạn của DNVVN (%) 0,28 0,21 0,34

(Nguồn: BCTK của PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh năm 2023 – 2025)

Bằng việc tính toán tỷ lệ nợ quá hạn của DNVVN cho thấy, tỷ lệ này không ổn định qua các năm. Nếu vào năm 2023 tỷ lệ này là 0,28% thì sang năm 2024 đã giảm 0,07%. Nhưng tới năm 2025, tỷ lệ nợ quá hạn lại tăng mạnh trở lại, cao hơn cả năm 2023 những 0,06 %. Trong đó đặc biệt chú ý, khi năm 2024 do tình hình kinh tế được cải thiện đã làm tỷ lệ nợ quá hạn giảm xuống song giá trị tuyệt đối của nợ quá hạn vẫn còn cao. Hơn nữa việc tỷ lệ nợ quá hạn vào năm 2025 tăng mạnh cảnh báo rằng chất lượng tín dụng đối với DNVVN đang trên đà đi xuống. Tuy tỷ lệ nợ quá hạn tăng nhưng nó vẫn giữ ở mức thấp chứng tỏ PGD đã có biện pháp tích cực trong việc thu hồi và kiểm soát nợ quá hạn. Trong những năm tới, PGD cần có những biện pháp tích cực hơn nữa để tỷ lệ nợ quá hạn không vượt quá mức cho phép.

  • Chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu của DNVVN: Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN tại BIDV.

Bảng 10: Tỷ lệ nợ xấu của DNVVN tại PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh từ năm 2023 – 2025

Năm

2023 2024 2025
Nợ xấu của DNVVN (triệu đồng) 209 310 737
Tổng dư nợ của DNVVN (triệu đồng) 139.583 193.822 409.400
Tỷ lệ nợ xấu của DNVVN (%) 0,15 0,16 0,18

(Nguồn: BCTK của PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh năm 2023 – 2025)

Với sự gia tăng không ngừng của nợ xấu kéo theo tỷ lệ nợ xấu của DNVVN tại PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh cũng tăng lên qua các năm. So với năm 2023 thì tỷ lệ nợ xấu vào năm 2024 đã tăng thêm 0,01 %. Sang tới năm 2025 thì tỷ lệ này tăng thêm 0,02 % và đạt tới con số 0,18 %. Tỷ lệ nợ xấu không ngừng ra tăng đang chỉ ra rằng chất lượng tín dụng đối với DNVVN có chiều hướng đi xuống. Tỷ lệ nợ xấu đối với DNVVN chưa được cải thiện tất sẽ dẫn tới những ảnh hưởng xấu về chất lượng tín dụng và kết quả hoạt động kinh doanh của PGD. Thời gian tới đây, nền kinh tế còn nhiều những diễn biến khó lường, vì vậy mà đơn vị cần chú trọng hơn nữa những biện pháp kiểm soát chặt chẽ để giảm thiểu tỷ lệ nợ xấu nhằm cải thiện chất lượng tín dụng đối với DNVVN.

  • Chỉ tiêu tỷ lệ nợ không có khả năng thu hồi vốn của DNVVN:

Bảng 11: Tỷ lệ nợ không có khả năng thu hồi vốn của DNVVN tại PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh từ năm 2023 – 2025

Năm

2023 2024 2025
Nợ nhóm 5 của DNVVN (triệu đồng) 56 58 61
Tổng dư nợ của DNVVN (triệu đồng) 139.583 193.822 409.400
Tỷ lệ nợ không có khả năng thu hồi vốn của DNVVN (%) 0,4 0,03 0,015

(Nguồn: BCTK của PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh năm 2023 – 2025)

Mặc dù dư nợ nhóm 5 vẫn tăng qua các năm nhưng tỷ lệ nợ không có khả năng thu hồi vốn của DNVVN lại có xu hướng giảm. Từ xuất phát điểm là 0,04 % vào năm 2023 thì sang năm 2024 tỷ lệ nợ không có khả năng thu hồi vốn đã giảm 0,01 % và tới năm 2025 thì tỷ lệ này chỉ còn bằng một nửa của năm trước đó. Việc giảm dần tỷ lệ nợ không có khả năng thu hồi vốn là điểm đáng khích lệ đối với chất lượng tín dụng của DNVVN. Tuy nhiên việc tồn tại nợ nhóm 5 – nhóm dư nợ có khả năng mất vốn, gây tổn thất cho hoạt động tín dụng cũng như kinh doanh của toàn đơn vị, điều này cho thấy còn chứa đựng nhiều vấn đề đối với chất lượng tín dụng của DNVVN. Vì vậy trong thời gian tới đây, đơn vị cần chú trọng hơn nữa tới việc kiểm soát các chỉ tiêu dư nợ, đặc biệt là nợ nhóm 5 và tỷ trọng nợ không có khả năng thu hồi vốn đối với DNVVN.

2.3.3 Chỉ tiêu tỷ trọng dư nợ có tài sản đảm bảo đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN tại BIDV.

Bảng 12: Tỷ trọng dư nợ có tài sản đảm bảo đối với DNVVN tại PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh từ năm 2023 – 2025

Năm

2023 2024 2025
Dư nợ có tài sản đảm bảo của DNVVN (triệu đồng) 111.806 167.462 358.225
Tổng dư nợ của DNVVN (triệu đồng) 139.583 193.822 409.400
Tỷ trọng dư nợ có tài sản đảm bảo đối với DNVVN (%) 80,1 86,4 87,5

(Nguồn: BCTK của PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh năm 2023 – 2025)

Thông qua bảng số liệu có thể thấy tỷ trọng dư nợ có tài sản đảm bảo đối với DNVVN tại PGD có xu hướng tăng lên. Từ con số 80,1 % năm 2023, sang năm 2024 đã tăng thêm 6,3 %, và tới năm 2025 thì tăng thêm 1,1 %. Tất nhiên đó là do sự gia tăng của dư nợ có tài sản đảm bảo của DNVVN với tốc độ gia tăng nhanh hơn so với sự gia tăng của tổng dư nợ của DNVVN tại PGD. Điều này cho thấy dấu hiệu tốt về chất lượng tín dụng đối với DNVVN tại đơn vị. Song nó cũng phù hợp với diễn biến kinh tế trong thời gian vừa qua. Khi nền kinh tế có những biến chuyển khó lường, để đảm bảo an toàn cho hoạt động tín dụng cũng như giữ chất lượng tín dụng nói chung và đối với DNVVN nói riêng ổn định thì buộc PGD phải gia tăng tỷ trọng dư nợ có tài sản đảm bảo đối với DNVVN. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN tại BIDV.

2.3.4 Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ

Bảng 13: Hiệu suất sử dụng vốn vay đối với DNVVN tại PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh từ năm 2023 – 2025

Năm

2023 2024 2025
Tổng dư nợ của DNVVN (triệu đồng) 139583 193822 409400
Tổng nguồn vốn huy động (triệu đồng) 1293035 1571656 2319852
Hiệu suất sử dụng vốn vay đối với DNVVN (%) 10,8 12,3 17,6

(Nguồn: BCTK của PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh năm 2023 – 2025)

Thông qua bảng trên, có thể thấy hiệu suất sử dụng vốn vay đối với DNVVN tăng nhanh qua các năm, chỉ từ 10,8 % trong năm 2023, sang tới năm 2024, con số này đã tăng thêm 1,5%. Còn vào năm 2025, hiệu suất sử dụng vốn đối với DNVVN tăng lên những 5,3% so với năm 2024. Sự gia tăng của hiệu suất sử dụng vốn đối với DNVVN đã cho thấy việc khả năng tận dụng nguồn vốn cho hoạt động tín dụng đối với DNVVN tại đơn vị ngày càng nâng cao,chứng tỏ PGD đã chú ý hơn tới hoạt động tín dụng đối với DNVVN, phù hợp với định hướng, chính sách của đơn vị trong thời gian vừa qua. Tuy nhiên giá trị của chỉ tiêu này ở mức thấp, việc đầu tư cho DN này vẫn còn nhiều tiềm năng vì thế PGD cần chú trọng hơn trong thời gian tới.

2.3.5 Chỉ tiêu lợi nhuận đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ

  • Chỉ tiêu mức sinh lời từ hoạt động tín dụng đối với DNVVN:

Bảng 14: Mức sinh lời từ hoạt động tín dụng đối với DNVVN tại PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh từ năm 2023 – 2025

Năm

2023 2024 2025
Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng đối với DNVVN (triệu đồng) 2.081 3.557 11.032
Tổng dư nợ của DNVVN (triệu đồng) 139.583 193.822 409.400
Mức sinh lời từ hoạt động tín dụng đối với DNVVN (%) 1,49 1,83 2,69

(Nguồn: BCTK của PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh năm 2023 – 2025)

Có thể nhận thấy mức sinh lời từ hoạt động tín dụng đối với DNVVN tăng nhanh qua các năm. Mặc dù chỉ đạt con số 1,49 % vào năm 2023 nhưng sang tới năm 2024 thì đã tăng thêm 0,34 % (tức gấp 1,23 lần). Và vào năm 2025 thì mức sinh lời từ hoạt động tín dụng đã tăng gấp 1,47 lần năm trước đó và gấp 1,8 lần năm 2023. Sự gia tăng mạnh mẽ về mức sinh lời cho thấy tiềm năng của hoạt động tín dụng đối với DNVVN. Khi chỉ tiêu này ở mức khá và gia tăng ổn định cho thấy những dấu hiệu khả quan trong hoạt động tín dụng, đi kèm với đó là chất lượng tín dụng đối với DNVVN ngày một tốt hơn.

  • Tỷ trọng lợi nhuận từ hoạt động tín dụng đối với DNVVN:

Bảng 15: Tỷ trọng lợi nhuận từ hoạt động tín dụng đối với DNVVN tại PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh từ năm 2023 – 2025 Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN tại BIDV.

Năm 2023 2024 2025
Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng đối với DNVVN (triệu đồng) 2.081 3.557 11.032
Tổng lợi nhuận (triệu đồng) 20.400 30.934 65.666
Tỷ trọng lợi nhuận từ hoạt động tín dụng đối với DNVVN (%) 10,2 11,5 16,8

(Nguồn: BCTK của PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh năm 2023 – 2025)

Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng luôn chiếm vị trí quan trọng trong tổng lợi nhuận của ngân hàng. Cũng chính vì vậy mà khi xem xét tỷ trọng lợi nhuận từ hoạt động tín dụng đối với DNVVN sẽ cho ta thấy được sự đóng góp của hoạt động tín dụng đối với DNVVN tới tổng lợi nhuận của đơn vị. Từ số liệu đã được tính toán, dễ dàng nhìn ra tỷ trọng lợi nhuận từ hoạt động tín dụng đối với DNVVN tăng dần qua các năm. Từ chỗ chỉ đóng góp 10,2 % vào tổng lợi nhuận trong năm 2023 thì sang năm 2024 chỉ tiêu này đã tăng thêm 1,3 % (tức gấp 1,13 lần). Và tới năm 2025 thì con số này tăng gấp 1,46 lần năm trước đó để đạt tới mức tỷ trọng 16,8%. Sự tăng lên của chỉ tiêu này cho thấy rằng cùng với thời gian thì mức đóng góp vào tổng lợi nhuận hàng năm của hoạt động tín dụng đối với DNVVN có những bước biến chuyển khả quan. Đạt được điều này có thể thấy chất lượng tín dụng đối với DNVVN đã được đơn vị chú trọng cân đối để mang lại được lợi nhuận tốt cho ngân hàng. Tuy nhiên con số này vẫn còn khá khiêm tốn so với tiềm năng về DNVVN trên địa bàn. Vì thế trong thời gian tới đơn vị cần có những chính sách khuyến khích mở rộng hơn nữa hoạt động tín dụng đối với DNVVN để từ đó tăng thu lợi nhuận.

2.4 Kết quả đạt được trong hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh trong giai đoạn 2023-2025

2.4.1 Kết quả đạt được Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN tại BIDV.

Qua phân tích và các số liệu cụ thể trên đã phản ánh được những kết quả khả quan về tình hình hoạt động nói chung cũng như tình cho vay, đặc biệt là cho vay các DNVVN tại PGD Cẩm Phả.Với sự nỗ lực không ngừng của toàn thể cán bộ và ban lãnh đạo,PGD đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận sau:

Chính sách tín dụng đối với DNVVN của PGD đã có những bước chuyển biến rõ rệt, từ chỗ chưa quan tâm thì nay đã được ưu tiên quan tâm nhiều hơn. PGD đã tập trung mở rộng các sản phẩm tín dụng, đi kèm là những chính sách ưu đãi về lãi suất,biểu phí và dịch vụ cung ứng.Cụ thể miễn phí đối với dịch vụ tư vấn, thẩm định dự án; giảm 30% phí đối với một số dịch vụ như chuyển khoản, chuyển tiền thanh toán trong nước đối với các DNVVN có quan hệ tín dụng tại chi nhánh và xếp hạng từ BBB trở lên; Phát hành, sửa đổi L/C… Tùy theo từng đối tượng khách hàng cụ thể và mục đích vay vốn khác nhau, PGD có những biện pháp hỗ trợ đặc biệt nhằm tạo thuận lợi tối đa và đạt hiệu quả cao nhất trong việc cấp tín dụng.

Dư nợ tín dụng đối với DNVVN tăng lên với tốc độ tăng trưởng nhanh qua các năm :từ con số 139583 triệu đồng năm 2023 thì sang năm 2024 đã tăng thêm 54239 triệu đồng và tiếp tục tăng mạnh vào năm 2025 khi con số dư nợ đối với DNVVN tăng gấp 2,11 lần năm trước đó. Bên cạnh sự gia tăng về dư nợ, tốc độ tăng trưởng dư nợ đối với DNVVN cũng tăng khá nhanh. Khởi đầu với 31% trong năm 2023, sang năm 2024 tốc độ tăng trưởng đã tăng thêm 8% và tới năm 2025 thì con số này đã tăng gần gấp 3 lần năm trước đó. Điều đó chứng tỏ PGD đã mở rộng hoạt động tín dụng đối với DNVVN .Mở rộng quan hệ tín dụng đối với loại hình DN này giúp NH thu hút được nhiều đối tượng khách hàng sử dụng dịch vụ NH, làm tăng các khoản phí từ dịch vụ, góp phần đáng kể vào việc tăng lợi nhuận từ hoạt động tín dụng. Đồng thời để thu hút khách hàng đòi hỏi NH phải chú trọng nghiên cứu phát triển các sản phẩm dịch vụ từ đó chất lượng các sản phẩm dịch vụ sẽ ngày càng được cải thiện. Ngoài ra mở rộng quan hệ tín dụng với DNVVN giúp NH hạn chế rủi ro . Bởi lẽ hiện nay các DN lớn với những khoản vay dài hạn thường tiềm ẩn rủi ro tín dụng cao. Cùng một số dư nợ cho vay, nhiều DNVVN sẽ thay thế cho 1 DN lớn, từ đó rủi ro cũng được san sẻ.

Cơ cấu dư nợ với DNVVN thay đổi phù hợp với nhu cầu phát triển của nền kinh tế. Cho thấy PGD đã tích cực đẩy mạnh cho vay các DNVVN ngoài quốc doanh, dư nợ DNVVN ngoài quốc doanh đã tăng lên nhanh chóng. PGD đã đáp ứng nhu cầu vốn cho bộ phận DNVVN số lượng lớn, năng động, giàu tiềm năng phát triển nhưng lại ít được sự hỗ trợ của Nhà nước, giúp DN mở rộng sản xuất, hiện đại hóa công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh, góp phần tăng trưởng kinh tế và tạo công ăn việc làm cho người lao động. Mặt khác, cho vay DNVVN ở PGD tập trung vào lĩnh vực thương mại – dịch vụ, một lĩnh vực luôn thu hút nhiều vốn đầu tư trong nền kinh tế. Do đó, có thể nói hoạt động cho vay đối với DNVVN ngày càng đáp ứng nhu cầu phát triển nền kinh tế. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN tại BIDV.

Hiệu suất sử dụng vốn vay đối với DNVVN tăng qua các năm đã cho thấy việc khả năng tận dụng nguồn vốn cho hoạt động tín dụng đối với DNVVN tại đơn vị ngày càng nâng cao. Giá trị của chỉ tiêu này có xu hướng gia tăng, cho thấy PGD đã chú ý hơn tới hoạt động tín dụng đối với DNVVN, phù hợp với định hướng, chính sách của đơn vị trong thời gian vừa qua.

Tỷ trọng lợi nhuận và mức sinh lời từ hoạt động tín dụng đối với DNVVN tăng lên qua các năm .Cụ thể tỷ trọng lợi nhuận đạt 10,2% năm 2023 nhưng đến năm 2025 đã đạt 16,8 %.Mức sinh lời từ hoạt động tín dụng đối với DNVVN từ con số 1,49% năm 2023 thì đến năm 2025 đã là 1,69%. Việc tăng các chỉ tiêu này cho thấy tiềm năng của hoạt động tín dụng đối với DNVVN, đồng thời chất lượng tín dụng đối với này ngày một tốt hơn.

Việc giảm dần tỷ lệ nợ không có khả năng thu hồi vốn là điểm đáng khích lệ đối với chất lượng tín dụng của DNVVN. Chứng tỏ PGD đã có những biện pháp tích cực để giảm mạnh nợ xấu nhóm 5 này.

2.4.2 Hạn chế

Bên cạnh những kết quả đạt được đáng mừng thì trong hoạt động tín dụng đối với DNVVN còn có những hạn chế nhất định:

Tỷ trọng dư nợ đối với DNVVN còn thấp, tốc độ gia tăng tỷ trọng dư nợ còn hạn chế, dư nợ tín dụng chưa xứng với tiềm năng. Tổng dư nợ cho DNVVN phân bổ không đều mặc dù dư nợ đối với DNVVN đã có sự tăng trưởng và chiếm tỉ trọng ngày càng cao. Tín dụng vẫn chỉ tập trung chủ yếu vào tín dụng ngắn hạn trong khi đó vốn tự có của DNVVN không nhiều, nhu cầu vốn dài hạn là cao và cần thiết, khả năng đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn của DN còn hạn chế.

Hiệu suất sử dụng vốn vay cho DNVVN còn quá thấp, chưa quảng bá hình ảnh ngân hàng để mở rộng thêm khách hàng mới. PGD thu hút được nguồn vốn lớn nhưng tỷ lệ cho vay không cao, biến động thất thường. Trong điều kiện khó khăn của nền kinh tế nói chung và DN nói riêng, ngân hàng đang khá dè dặt đối với cho vay DNVVN.

Tỷ lệ nợ quá hạn tăng trong năm gần đây chứng tỏ chất lượng tín dụng đối với DNVVN đi xuống, sự lành mạnh trong các khoản vay đối với DNVVN cần được PGD tăng cường quản lý. Mặc dù điều này một phần là do ảnh hưởng khách quan của môi trường kinh tế khiến không ít DNVVN rơi vào tình trạng khó khăn đặc biệt là các DN ngoài quốc doanh không nhận được sự bảo trợ của nhà nước, từ đó làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của

Sự gia tăng của nợ xấu kéo theo tỷ lệ nợ xấu tăng qua các năm gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng tín dụng và kết quả kinh doanh của PGD.

Tuy tỷ lệ nợ không có khả năng thu hồi vốn có xu hướng giảm nhưng việc tồn tại nợ nhóm 5- nhóm dư nợ có khả năng mất vốn gây tổn thất cho hoạt động tín dụng của NH, điều này cho thấy còn chứa đựng nhiều vấn đề trong chất lượng tín dụng của DNVVN.

2.4.3 Nguyên nhân của hạn chế Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN tại BIDV.

  • Nguyên nhân chủ quan từ phía ngân hàng

Tuy cơ chế cho vay mới đã bước đầu mang lại những kết quả khả quan, nhưng là quy định chung áp dụng cho mọi loại hình DN. Hiện tại ngân hàng chưa có một cơ chế chính sách tín dụng nào quy định riêng cho loại hình DNVVN. Việc xét duyệt cho vay giống như đối với các DN lớn, quy trình thủ tục áp dụng cho những khoản cho vay quy mô lớn, không thật sự phù hợp với đối tượng khách hàng có quy mô nhỏ này.

Công tác xây dựng chiến lược cho vay trung và dài hạn đối với DNVVN chưa được quan tâm đúng mức. NH chưa có chiến lược phù hợp mở rộng cho vay trung và dài hạn. Công việc cho vay còn bị động, phụ thuộc vào khách hàng, NH chỉ thẩm định những dự án do khách hàng đưa đến để xin vay mà chưa chủ động tham mưu với khách hàng để tạo ra những dự án khả thi để mở rộng cho vay.

Chất lượng công tác thẩm định của ngân hàng còn chưa cao. Do thói quen khi khách hàng đã có tài sản đảm bảo cho khoản vay thì khả năng thu hồi vốn vay là lớn, điều này khiến cho việc thẩm định các dự án, phương án vay không được chú trọng, ngân hàng chưa thực sự phản ánh được liệu một dự án kinh doanh có khả thi hay không.

Trình độ năng lực cán bộ tín dụng của ngân hàng cũng là một nguyên nhân . Tuy cán bộ tín dụng có trình độ chuyên môn nhất định nhưng kiến thức tổng hợp về các ngành còn chưa cao. Mà với xu thế hiện nay, yêu cầu ngoài việc nắm những hiểu biết chuyên môn của ngành ngân hàng, còn cần phải có những hiểu biết nhất định về những ngành nghề khác cũng như phải am hiểu về luật pháp, nắm vững những quyết định, nghị định do nhà nước ban hành, cũng như là luật pháp quốc tế, có như vậy mới có thể đưa ra những quyết định chính xác và nhạy bén với diễn biến thị trường. PGD ững cán bộ tín dụ.,

Bên cạnh đó, do trang thiết bị vẫn còn hạn chế, cũng như những phần mềm hỗ trợ chưa được cập nhật đã gây khó khăn cho cán bộ tín dụng khi thực hiện các hoạt động tín dụng. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN tại BIDV.

  • Nguyên nhân từ phía DNVVN

Kỹ năng lập dự án, thuyết minh phương án kinh doanh chưa cao, rất ít các DN xây dựng được phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả, lại không thành thạo trong việc sử dụng các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh đang có trên thị trường như nguồn thông tin cần khai thác, dịch vụ tư vấn… Hơn nữa, đối với những DNVVN mới đi vào hoạt động, còn non trẻ, thì công tác kế toán, kiểm toán tại DN còn nhiều bất cập. DN không thể đưa ra những báo cáo kinh doanh đạt tiêu chuẩn gây khó khăn cho cán bộ tín dụng trong việc tiếp cận, thẩm định thông tin khách hàng, làm mất thời gian và cơ hội cho cả hai bên. Điều này đã gây rất nhiều trở ngại cho DNVVN khi đến vay vốn tại ngân hàng.

Trình độ quản lý của DN cũng là một nguyên nhân. Do nước ta trong thời buổi hội nhập kinh tế thế giới đã mọc lên rất nhiều công ty mới theo trào lưu nhưng hiểu biết về việc kinh doanh, kiến thức về thị trường, cũng như khả năng quản lý của những người lãnh đạo công ty còn hạn hẹp, sự năng động, tính linh hoạt trong điều hành còn không cao, chính vì thế nhiều DN khó có thể đứng vững trên thị trường trong một thời gian dài.

Ngoài ra sự thiếu trung thực trong việc cung cấp thông tin của khách hàng cũng ảnh hưởng tới chất lượng khoản Nhiều DN để có thể vay được vốn của ngân hàng đã cung cấp những thông tin thiếu trung thực như chỉnh sửa các báo cáo tài chính trước khi đưa cho cán bộ ngân hàng thẩm định, cung cấp thông tin giả về tình hình vay nợ trước đây…, khiến cho cán bộ ngân hàng có những đánh giá sai lệch về khách hàng dẫn tới cho vay không đúng chỗ.

  • Nguyên nhân khách quan

Nền kinh tế vừa trải qua cuộc khủng khoảng năm 2021 và suy thoái kinh tế vào năm 2025-2026, đã gây những cú sốc mạnh mẽ đối với mọi thành phần kinh tế, trong đó bao gồm cả DNVVN. Hoạt động của DNVVN trong những năm gần đây liên tục gặp khó khăn, do không tìm được đầu ra cho sản phẩm, hoạt động sản xuất kinh doanh bị ngưng trệ do thiếu vốn, làm cho không ít các DNVVN phải thu hẹp quy mô, hoạt động cầm cự hay thậm chí là phá sản. Đối mặt với tình hình đó, tất nhiên việc trả nợ cho NH sẽ bị ảnh hưởng, DN không có khả năng hoàn trả đủ vốn cho ngân hàng, dẫn tới nợ quá hạn và nợ xấu, gây tác động tiêu cực cho chất lượng tín dụng DNVVN.

Chính sách của chính phủ và nhà nước là một nguyên nhân khách quan không kém phần quan trọng. Trong khi các DNVVN gặp không ít những khó khăn tới từ môi trường kinh tế và nội tại bản thân doanh nghiệp thì chính phủ lại chưa có các biện pháp hỗ trợ kịp thời. Các chính sách dành cho khối DN này hầu như rất ít và tính ưu đãi còn hạn chế. Điều này gây thêm áp lực và bất lợi cho các DNVVN trong quá trình tiếp cận nguồn vốn NH cũng như NH trong việc cấp tín dụng cho doanh nghiệp. Khi hoạt động tín dụng đối với DNVVN gặp nhiều khó khăn sẽ có ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng tín dụng tại ngân hàng, cụ thể là PGD Cẩm Phả – CN BIDV Quảng Ninh. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DN tại BIDV.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng doanh nghiệp tại BIDV

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x