Luận văn: Tổng quan về cổ phiếu tại các Cty chứng khoán

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Tổng quan về cổ phiếu tại các Cty chứng khoán hay nhất năm 2022 cho các bạn học viên ngành đang làm Luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Luận văn thì với đề tài Luận văn: Nghiên cứu tác động của thông tin kế toán đến giá cổ phiếu của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Tp. Hồ Chí Minh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1 Công ty niêm yết, cổ phiếu và thông tin kế toán trình bày trên BCTC

2.1.1 Công ty niêm yết Luận văn: Tổng quan về cổ phiếu tại các Cty chứng khoán

Theo điều 53 của Nghị định số 58/2012/NĐ-CP ngày 20/07/2012 quy định các điều kiện niêm yết cổ phiếu tại Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM như sau:

  • Là công ty cổ phần có vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký niêm yết từ 120 tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán. Như vậy, để trở thành công ty niêm yết thì công ty đó trước hết phải là công ty cổ phần, tức là vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.
  • Có ít nhất 02 năm hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần tính đến thời điểm đăng ký niêm yết (ngoại trừ doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa gắn với niêm yết); tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) năm gần nhất tối thiểu là 5% và hoạt động kinh doanh của hai năm liền trước năm đăng ký niêm yết phải có lãi; không có các khoản nợ phải trả quá hạn trên 01 năm; không có lỗ lũy kế tính đến năm đăng ký niêm yết; tuân thủ các quy định của pháp luật về kế toán báo cáo tài chính;
  • Công khai mọi khoản nợ đối với công ty của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc (Tổng Giám đốc), Phó Giám đốc (Phó Tổng Giám đốc), Kế toán trưởng, cổ đông lớn và những người có liên quan;
  • Tối thiểu 20% cổ phiếu có quyền biểu quyết của công ty do ít nhất ba trăm cổ đông không phải cổ đông lớn nắm giữ, trừ trường hợp doanh nghiệp nhà nước chuyển đổi thành công ty cổ phần theo quy định của Thủ tướng Chính phủ;
  • Cổ đông là cá nhân, tổ chức có đại diện sở hữu là thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc (Tổng Giám đốc), Phó Giám đốc (Phó Tổng Giám đốc) và Kế toán trưởng của công ty; cổ đông lớn là người có liên quan với thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc (Tổng Giám đốc), Phó Giám đốc (Phó Tổng Giám đốc) và Kế toán trưởng của công ty phải cam kết nắm giữ 100% số cổ phiếu do mình sở hữu trong thời gian 06 tháng kể từ ngày niêm yết và 50% số cổ phiếu này trong thời gian 06 tháng tiếp theo, không tính số cổ phiếu thuộc sở hữu Nhà nước do các cá nhân trên đại điện nắm giữ;
  • Có hồ sơ đăng ký niêm yết cổ phiếu hợp lệ theo quy định.

Như vậy, để trở thành công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán TP.HCM, các công ty phải thỏa mãn các tiêu chuẩn có thể chia làm hai nhóm: tiêu chuẩn định lượng và tiêu chuẩn định tính. Ngoài ra, Nghị định này cũng đề cập đến điều kiện niêm yết cổ phiếu tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội. Do khuôn khổ của bài viết có giới hạn, đề tài không đề cập nội dung này vào luận văn.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Dịch Vụ Viết Luận Văn Thạc Sĩ Kinh Tế

2.1.2 Cổ phiếu và giá cổ phiếu Luận văn: Tổng quan về cổ phiếu tại các Cty chứng khoán

Khi một công ty gọi vốn, số vốn cần gọi đó được chia thành nhiều phần nhỏ bằng nhau gọi là cổ phần. Cổ đông được cấp một giấy chứng nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ phiếu và chỉ có công ty cổ phần mới phát hành cổ phiếu.

Theo luật chứng khoán Việt Nam số 27/VBHN-VPQH ban hành ngày 18/12/2013, cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức ban hành. Theo luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ban hành ngày 26/11/2014, cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó. Người mua cổ phiếu thường sẽ trở thành cổ đông thường hay cổ đông phổ thông.

Cổ phiếu thường có những đặc điểm sau:

  • CP là chứng nhận góp vốn do đó không có kỳ hạn và không hoàn vốn.
  • Cổ tức của cổ phiếu tùy thuộc vào kết quả kinh doanh, do đó không cố định. Khi doanh nghiệp làm ăn phát đạt, cổ đông được hưởng lợi nhuận cao hơn nhiều so với các loại chứng khoán khác có lãi suất cố định. Tuy nhiên, khi công ty làm ăn thua lỗ, cổ tức có thể rất thấp hoặc hoàn toàn không có.
  • Tính lưu thông giúp cho cổ phiếu có giá trị như một loại tài sản thực sự thực hiện nhiều hoạt động mua bán, tặng, thừa kế…
  • Khi công ty bị phá sản, cổ đông thường là người cuối cùng được hưởng giá trị còn lại của tài sản thanh lý.
  • Giá cổ phiếu biến động rất nhanh nhạy đặc biệt là trên thị trường thứ cấp, do nhiều nhân tố nhưng cơ bản nhất là hiệu quả kinh doanh và giá thị trường của công ty.

Các loại giá cổ phiếu:

Mệnh giá (par value): là giá trị ghi trên giấy chứng nhận cổ phiếu. Mệnh giá của mỗi cổ phiếu chỉ có giá trị danh nghĩa. Chính vì vậy, mệnh giá ít có ý nghĩa kinh tế

Đối với công ty vừa thành lập, mệnh giá của cổ phiếu thường được tính theo công thức:

Vốn điều lệ của công ty cổ phần

Mnh giá cphiếu thường = Tổng số cổ phiếu đăng ký phát hành

Thư giá (book value): là giá cổ phiếu ghi trên sổ sách kế toán phản ánh tình trạng vốn cổ phần của công ty tại một thời điểm nhất định. Thư giá hay còn gọi là giá trị sổ sách, biểu thị cho giá trị tài sản ròng của mỗi cổ phần (Bùi Kim Yến và cộng sự, 2012).

Giá trị sổ sách của mỗi cổ phần = Vốn cổ phần

Số cổ phần thường đang lưu hành

Giá trị nội tại (intrinsic value): là giá trị thực của cổ phiếu ở thời điểm hiện tại, được tính toán dựa vào cổ tức của công ty, triển vọng phát triển của công ty và lãi suất thị trường. Đây là căn cứ quan trọng cho nhà đầu tư khi quyết định đầu tư vào cổ phiếu, so sánh với giá của thị trường và chọn lựa phương án đầu tư có hiệu quả nhất (Bùi Kim Yến và cộng sự, 2012). Chữ nội tại cho thấy rằng, đây là giá trị bên trong của cổ phiếu chứ không phụ thuộc vào yếu tố thị trường bên ngoài.

Giá thị trường (market value): là giá cả cổ phiếu trên thị trường tại một thời điểm nhất định. Tùy theo quan hệ giữa cung và cầu mà thị giá có thể thấp hơn, cao hơn hoặc bằng giá trị thực của nó tại thời điểm mua bán. Quan hệ cung cầu cổ phiếu, đến lượt nó lại chịu tác động của nhiều nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội…trong đó yếu tố quan trọng nhất là giá thị trường của công ty và khả năng sinh lợi của nó (Bùi Kim Yến và cộng sự, 2012). Đối với các công ty niêm yết, thị giá cổ phiếu có ý nghĩa quan trọng. Nó phản ánh tình hình hoạt động của chính doanh nghiệp đó và có ý nghĩa trong việc khẳng định vị thế và quảng bá thương hiệu của doanh nghiệp khi có thị giá cao, và ngược lại. Đối với các nhà đầu tư, thị giá là cơ sở để đánh giá và so sánh công ty trên thị trường chứng khoán. Thị giá ảnh hưởng trực tiếp tới các chỉ số cơ bản trong việc đánh giá doanh nghiệp và ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của nhà đầu tư.

2.1.3 Thông tin kế toán trình bày trên BCTC Luận văn: Tổng quan về cổ phiếu tại các Cty chứng khoán

Trước tiên, luận văn đề cập sơ lược về báo cáo tài chính và mục đích của báo cáo tài chính. BCTC phản ảnh tình hình tài chính của doanh nghiệp bằng cách tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế, tài chính có cùng tính chất kinh tế thành các yếu tố của báo cáo tài chính. Các yếu tố liên quan trực tiếp đến việc xác định tình hình tài chính trong Bảng cân đối kế toán là Tài sản, Nợ phải trả và Vốn chủ sở hữu. Các yếu tố liên quan trực tiếp đến đánh giá tình hình và kết quả kinh doanh trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là Doanh thu, thu nhập khác, Chi phí và Kết quả kinh doanh (VAS 01-Chuẩn mực chung, Bộ Tài Chính, 2002).

Mục đích của BCTC là cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu hữu ích cho số đông những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế. Để đạt được mục đích này, BCTC phải cung cấp những thông tin của một doanh nghiệp về:

  • Tài sản;
  • Nợ phải trả;
  • Vốn chủ sở hữu;
  • Doanh thu, thu nhập khác, chi phí, lãi và lỗ;
  • Các luồng tiền

Các thông tin này cùng với các thông tin trình bày trong Bản thuyết minh BCTC giúp người sử dụng dự đoán được các luồng tiền trong tương lai và đặc biệt là thời điểm và mức độ chắc chắn của việc tạo ra các luồng tiền và các khoản tương đương tiền (VAS 21-Trình bày BCTC, Bộ Tài Chính, 2003).

Như vậy, mục đích của BCTC là cung cấp các thông tin kế toán. Thông tin kế toán là những thông tin có được do hệ thống kế toán xử lý và cung cấp. Thông tin kế toán có những tính chất sau: là thông tin hiện thực, đã xảy ra; là thông tin có độ tin cậy vì mọi số liệu kế toán đều phải có chứng từ hợp lý, hợp lệ; là thông tin có giá trị pháp lý. Để thông tin kế toán hữu ích với nhà đầu tư trong quá trình ra các quyết định kinh tế, đòi hỏi các nhà đầu tư phải có kiến thức và am hiểu về ý nghĩa của các số liệu kế toán.

Thông tin kế toán cung cấp cho cả đối tượng sử dụng bên trong và bên ngoài. Do đó, thông tin kế toán bao gồm cả thông tin kế toán tài chính và thông tin kế toán quản trị. Bản chất của thông tin kế toán quản trị là thông tin quản lý, không phải thông tin tài chính đơn thuần, đối tượng hướng đến là nhà quản lý, ban lãnh đạo công ty. Thông tin kế toán tài chính ngoài cung cấp các thông tin tài chính cho nhà quản lý thì còn cung cấp cho các đối tượng bên ngoài như nhà đầu tư, cơ quan thuế, chủ nợ…

Tính minh bạch và độ tin cậy của thông tin kế toán là cơ sở quan trọng để bảo vệ nhà đầu tư cũng như tính ổn định của thị trường chứng khoán. Khi tham gia vào thị trường chứng khoán, vấn đề quan trọng và mong muốn của nhà đầu tư là nắm được những thông tin tài chính trên thị trường.

Yêu cầu đối với thông tin được trình bày trong BCTC

BCTC phải được lập và trình bày trên cơ sở tuân thủ các chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán và các quy định có liên quan hiện hành để đảm bảo yêu cầu trung thực và hợp lý. Vậy thì cụ thể, thông tin trình bày trong BCTC phải đạt được những yêu cầu gì? Thông tư 200/2014/TT-BTC được Bộ Tài Chính ban hành năm 2014 nêu rõ 5 yêu cầu đối với thông tin trình bày trên BCTC.

Sự trung thực: thông tin phải có 3 tính chất là đầy đủ, khách quan và không có sai sót.

  • Thông tin được coi là đầy đủ khi bao gồm tất cả các thông tin cần thiết để giúp người sử dụng BCTC hiểu được bản chất, hình thức và rủi ro của các giao dịch và sự kiện. Đối với một số khoản mục, việc trình bày đầy đủ còn phải mô tả thêm các thông tin về chất lượng, các yếu tố và tình huống có thể ảnh hưởng tới chất lượng và bản chất của khoản mục.
  • Trình bày khách quan là không thiên vị khi lựa chọn hoặc mô tả các thông tin tài chính. Trình bày khách quan phải đảm bảo tính trung lập, không chú trọng, nhấn mạnh hoặc giảm nhẹ cũng như có các thao tác khác làm thay đổi mức độ ảnh hưởng của thông tin tài chính là có lợi hoặc không có lợi cho người sử dụng BCTC.
  • Không sai sót có nghĩa là không có sự bỏ sót trong việc mô tả hiện tượng và không có sai sót trong quá trình cung cấp các thông tin báo cáo được lựa chọn và áp dụng. Không sai sót không có nghĩa là hoàn toàn chính xác trong tất cả các khía cạnh, ví dụ, việc ước tính các loại giá cả và giá trị không quan sát được khó xác định là chính xác hay không chính xác. Việc trình bày một ước tính được coi là trung thực nếu giá trị ước tính được mô tả rõ ràng, bản chất và các hạn chế của quá trình ước tính được giải thích và không có sai sót trong việc lựa chọn số liệu phù hợp trong quá trình ước tính.

Tính thích hợp: thông tin tài chính phải thích hợp để giúp người sử dụng BCTC dự đoán, phân tích và đưa ra các quyết định kinh tế.

Trọng yếu: thông tin tài chính phải được trình bày đầy đủ trên mọi khía cạnh trọng yếu. Thông tin được coi là trọng yếu trong trường hợp nếu thiếu thông tin hoặc thông tin thiếu chính xác có thể làm ảnh hưởng tới quyết định của người sử dụng thông tin tài chính của đơn vị báo cáo. Tính trọng yếu dựa vào bản chất và độ lớn, hoặc cả hai, của các khoản mục có liên quan được trình bày trên BCTC của một đơn vị cụ thể.

Thông tin phải đảm bảo có thể kiểm chứng, kịp thời và dễ hiểu.

Nhất quán: thông tin tài chính phải được trình bày nhất quán và có thể so sánh giữa các kỳ kế toán; so sánh được giữa các doanh nghiệp với nhau (Thông tư 200/2014/TT-BTC, Bộ Tài Chính, 2014).

Đặc điểm chất lượng của thông tin kế toán theo IASB

Khuôn mẫu cho việc lập và trình bày BCTC của Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) đoạn QC4 nói rằng: để thông tin tài chính hữu ích, nó phải đồng thời đạt được 2 đặc điểm chất lượng cơ bản là tính thích hợp và trình bày trung thực – hay còn gọi là tính đáng tin cậy (Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế – IASB, 2010).

Tính thích hợp: thông tin kế toán phải có khả năng tạo ra sự khác biệt trong việc ra quyết định của đối tượng sử dụng thông tin. Theo đó, “nó phải có giá trị dự đoán, giá trị xác nhận, hoặc cả hai” (Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế – IASB, 2010a).

Giá trị dự đoán và giá trị xác nhận của thông tin tài chính liên quan đến nhau. Thông tin có giá trị dự đoán thường cũng có giá trị xác nhận. Chẳng hạn, thông tin về doanh thu năm hiện tại, có thể được sử dụng làm cơ sở để dự đoán doanh thu trong những năm tương lai, cũng có thể được so sánh với dự đoán doanh thu cho năm hiện tại đã được thực hiện trong năm trước. Kết quả của những so sánh đó có thể giúp cải thiện các quy trình đã được sử dụng để thực hiện những dự đoán trước đó (Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế – IASB, 2010a).

Trình bày trung thực (tính đáng tin cậy): Thông tin được trình bày trung thực khi nó được mô tả đầy đủ, trung lập và không có sai sót (Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế – IASB, 2010a).

Ngoài ra, Khuôn mẫu cho việc lập và trình bày BCTC của IASB còn đề cập đến đặc điểm chất lượng là: tính có thể so sánh, có thể kiểm chứng, tính kịp thời và tính có thể hiểu được. Những đặc điểm chất lượng này có thể làm tăng cường cho tính hữu ích của thông tin BCTC để nó có thể đạt được tính thích hợp và trình bày trung thực (tính đáng tin cậy).

Thông qua sơ lược những yêu cầu đối với thông tin trình bày trên BCTC theo Thông tư 200/2014/TT-BTC do Bộ Tài Chính ban hành và những đặc điểm chất lượng của thông tin BCTC trình bày trong khuôn mẫu cho việc lập và trình bày BCTC do Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) ban hành, chúng ta có thể thấy được sự tương đồng trong việc mô tả thông tin trình bày trên BCTC giữa 2 tổ chức nhằm đạt được mục tiêu: báo cáo tài chính trình bày trung thực và hợp lý và thông tin BCTC hữu ích cho người sử dụng trong việc ra các quyết định kinh tế.

Thuật ngữ “giá trị thích hợp” của thông tin kế toán trình bày trên BCTC Giá trị thích hợp (thuật ngữ tiếng Anh: value-relevance) của thông tin muốn nói sự ảnh hưởng kết hợp giữa tính thích hợp và trình bày trung thực (tính đáng tin cậy), là một trong những vấn đề cơ bản trong nghiên cứu thị trường vốn trên cơ sở kế toán. Tính hữu ích của thông tin được định nghĩa như là khả năng của thông tin được công bố trong báo cáo tài chính có thể phản ánh được giá trị doanh nghiệp. Tính hữu ích có thể được đo lường thông qua mối quan hệ thống kê giữa thông tin được trình bày trên báo cáo tài chính và giá thị trường của cổ phiếu (hay tỷ suất sinh lợi). Như vậy có thể hiểu, giá trị thích hợp là thuật ngữ dùng để chỉ khả năng phản ánh của thông tin BCTC đến giá trị nội tại của giá cổ phiếu.

2.2 Tác động của thông tin kế toán đến giá cổ phiếu của công ty niêm yết Luận văn: Tổng quan về cổ phiếu tại các Cty chứng khoán

2.2.1 Tác động của lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS) đến giá cổ phiếu

Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) số 30 – Lãi trên cổ phiếu trình bày việc xác định chỉ tiêu lãi cơ bản trên cổ phiếu và lãi suy giảm trên cổ phiếu. Chuẩn mực VAS 30 nói rằng: doanh nghiệp phải tính lãi cơ bản trên cổ phiếu theo các khoản lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông của công ty mẹ. Lãi cơ bản trên cổ phiếu cung cấp số liệu đánh giá lợi ích từ kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo mà mỗi cổ phiếu phổ thông của công ty mẹ mang lại. Tương tự, doanh nghiệp phải tính giá trị lãi suy giảm trên cổ phiếu dựa trên số lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông của công ty mẹ. Doanh nghiệp phải điều chỉnh lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông của công ty mẹ và số bình quân gia quyền cổ phiếu phổ thông đang lưu hành do ảnh hưởng của các cổ phiếu phổ thông tiềm năng có tác động suy giảm để tính lãi suy giảm trên cổ phiếu. Việc tính lãi suy giảm trên cổ phiếu là nhằm đảm bảo tính nhất quán với lãi cơ bản trên cổ phiếu, cung cấp thước đo lợi ích của mỗi cổ phiếu phổ thông trong kết quả hoạt động của doanh nghiệp khi tính tới tác động của các cổ phiếu phổ thông tiềm năng có tác động suy giảm đang lưu hành trong kỳ (Bộ Tài Chính, 2005).

EPS được xác định và trình bày nhằm so sánh hiệu quả hoạt động giữa các doanh nghiệp cổ phần trong cùng một kỳ báo cáo và hiệu quả hoạt động của cùng một doanh nghiệp qua các kỳ báo cáo. Trong trường hợp doanh nghiệp phải lập cả báo cáo tài chính riêng và báo cáo tài chính hợp nhất thì chỉ phải trình bày thông tin về lãi trên cổ phiếu theo quy định của chuẩn mực này trên báo cáo tài chính hợp nhất (VAS 30 – Lãi trên cổ phiếu, Bộ Tài Chính, 2005). Điều này là tương tự như hướng dẫn trong thông tư 200/2014/TT-BTC được Bộ Tài Chính ban hành năm 2014.

Đối với bản thân doanh nghiệp và các nhà đầu tư, EPS là một chỉ tiêu quan trọng khi phân tích BCTC. Chỉ tiêu này cũng chính là bộ phận chủ yếu cấu thành nên tỷ số giá thu nhập (P/E). Tỷ số giá thu nhập là một trong những thuật ngữ tài chính được các nhà đầu tư sử dụng hàng ngày trên thị trường chứng khoán. Với một cổ phần đang có giá trên thị trường đồng nghĩa với việc nó đang được bán với mức P/E cao. Điều này có nghĩa các nhà đầu tư sẵn sàng trả giá cao hơn trên cùng một đồng thu nhập EPS để mua được cổ phần đó (Trần Ngọc Thơ và cộng sự, 2005). Luận văn: Tổng quan về cổ phiếu tại các Cty chứng khoán

Tác động của EPS đến giá cổ phiếu của các công ty niêm yết là một trong những vấn đề nghiên cứu chuyên sâu nhất trong kế toán. Những nghiên cứu này có thể chia thành 2 nhóm: nhóm các nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu trong khoảng thời gian ngắn như vài ngày xung quanh việc công bố lợi nhuận và nhóm các nghiên cứu tiến hành trong khoảng thời gian dài từ một năm đến mười năm (Nguyễn Thị Khánh Phương, 2015). Các nghiên cứu này hầu hết đều kết luận rằng: lợi nhuận là một trong các chỉ tiêu hữu ích có tác động mạnh đến giá cổ phiếu của công ty niêm yết. Theo đó, EPS có ảnh hưởng cùng chiều (+) đến biến động giá cổ phiếu của các công ty niêm yết.

Lãi cơ bản trên cổ phiếu theo thông tư 21/2006/TT-BTC

Thông tư 21/2006/TT-BTC do Bộ Tài Chính ban hành năm 2006 quy định và hướng dẫn phương pháp tính lãi cơ bản trên cổ phiếu và trình bày chỉ tiêu này trên báo cáo tài chính. Theo đó, lãi cơ bản trên cổ phiếu được tính bằng cách chia lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông của công ty cho số lượng bình quân gia quyền của số cổ phiếu phổ thông đang lưu hành trong kỳ.

Lãi bản trên cổ phiếu = Lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông (  )

Số bình quân gia quyền của cổ phiếu đang lưu hành trong kỳ (  )

Trong đó:

  • Chỉ tiêu lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông của công ty là các khoản lợi nhuận hoặc lỗ sau thuế thu nhập doanh nghiệp trong kỳ sau khi được điều chỉnh bởi cổ tức của cổ phiếu ưu đãi, những khoản chênh lệch phát sinh do thanh toán cổ phiếu ưu đãi và những tác động tương tự của cổ phiếu ưu đãi đã được phân loại vào nguồn vốn chủ sở hữu.

Việc tính lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ phiếu phổ thông được thực hiện bằng cách lấy chỉ tiêu lợi nhuận hoặc lỗ sau thuế thu nhập doanh nghiệp trong kỳ trừ (-) các khoản điều chỉnh giảm và cộng (+) thêm các khoản điều chỉnh tăng lợi nhuận hoặc lỗ sau thuế thu nhập doanh nghiệp. Trường hợp công ty trình bày lãi cơ bản trên cổ phiếu trên báo cáo tài chính hợp nhất thì lợi nhuận hoặc lỗ sau thuế thu nhập doanh nghiệp trong kỳ là lợi nhuận hoặc lỗ sau thuế thu nhập doanh nghiệp được tính trên cơ sở thông tin hợp nhất. Trường hợp công ty trình bày trên báo cáo tài chính riêng thì lợi nhuận hoặc lỗ sau thuế thu nhập doanh nghiệp trong kỳ là lợi nhuận hoặc lỗ sau thuế của riêng công ty.

Lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ phiếu phổ thông = Lợi nhuận hoặc lỗ sau thuế TNDN – Khoản điều chỉnh giảm + Khoản điều chỉnh tăng.

Khoản điều chỉnh giảm bao gồm:

  • Cổ tức của cổ phiếu ưu đãi
  • Khoản chênh lệch lớn hơn giữa giá trị hợp lý của khoản thanh toán cho người sở hữu với giá trị ghi sổ của cổ phiếu ưu đãi khi công ty cổ phần mua lại cổ phiếu ưu đãi của người sở hữu.
  • Khoản chênh lệch lớn hơn giữa giá trị hợp lý của cổ phiếu phổ thông hoặc các khoản thanh toán khác thực hiện theo điều kiện chuyển đổi có lợi tại thời điểm thanh toán với giá trị hợp lý của cổ phiếu phổ thông được phát hành theo điều kiện chuyển đổi gốc.

Khoản điều chỉnh tăng: khoản chênh lệch giữa giá trị ghi sổ của cổ phiếu ưu đãi lớn hơn giá trị hợp lý của khoản thanh toán cho người sở hữu khi công ty cổ phần mua lại cổ phiếu ưu đãi của người sở hữu cộng vào lợi nhuận (hoặc lỗ) phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông của công ty để tính lãi cơ bản trên cổ phiếu.

Chỉ tiêu số lượng cổ phiếu phổ thông được sử dụng để tính lãi cơ bản trên cổ phiếu là số bình quân gia quyền của cổ phiếu phổ thông đang lưu hành trong kỳ. Số bình quân gia quyền cổ phiếu phổ thông đang lưu hành trong kỳ hiện tại và tất cả các kỳ trình bày phải được điều chỉnh cho các sự kiện (trừ việc chuyển đổi cổ phiếu phổ thông tiềm năng) tạo ra sự thay đổi về số lượng cổ phiếu phổ thông mà không dẫn đến thay đổi về nguồn vốn. Thông tư 21/2006/TT-BTC hướng dẫn 2 trường hợp xác định chỉ tiêu này:

  • Phát hành hoặc mua lại cổ phiếu
  • Gộp, chia tách, thưởng cổ phiếu

Theo thông tư 200/2014/TT-BTC thì chỉ tiêu này phản ánh lãi cơ bản trên cổ phiếu, chưa tính đến các công cụ được phát hành trong tương lai có khả năng pha loãng giá trị cổ phiếu. Thông tư 200/2014/TT-BTC cũng đề cập đến việc xác định lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông và số lượng bình quân gia quyền của cổ phiếu phổ thông đang lưu hành trong kỳ được thực hiện theo hướng dẫn của Thông tư số 21/2006/TT-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ Tài chính và các văn bản sửa đổi, bổ sung thay thế (Bộ Tài Chính, 2014).

Lãi suy giảm trên cổ phiếu theo thông tư 200/2014/TT-BTC

Theo thông tư 200/2014/TT-BTC thì chỉ tiêu này phản ánh lãi suy giảm trên cổ phiếu, có tính đến sự tác động của các công cụ trong tương lai có thể được chuyển đổi thành cổ phiếu và pha loãng giá trị cổ phiếu. Tương tự như lãi cơ bản trên cổ phiếu, chỉ tiêu này được trình bày trên Báo cáo tài chính của công ty cổ phần là doanh nghiệp độc lập. Đối với công ty mẹ là công ty cổ phần, chỉ tiêu này chỉ được trình bày trên Báo cáo tài chính hợp nhất, không trình bày trên Báo cáo tài chính riêng của công ty mẹ.

Chỉ tiêu này được xác định như sau:

  • Lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ phiếu phổ thông = Lợi nhuận hoặc lỗ sau thuế
  • Cổ tức của cổ phiếu ưu đãi
  • Khoản chênh lệch lớn hơn giữa giá trị hợp lý của khoản thanh toán cho người sở hữu với giá trị ghi sổ của cổ phiếu ưu đãi khi công ty cổ phần mua lại cổ phiếu ưu đãi của người sở hữu.
  • Khoản chênh lệch lớn hơn giữa giá trị hợp lý của cổ phiếu phổ thông hoặc các khoản thanh toán khác thực hiện theo điều kiện chuyển đổi có lợi tại thời điểm thanh toán với giá trị hợp lý của cổ phiếu phổ thông được phát hành theo điều kiện chuyển đổi gốc.
  • Các khoản cổ tức hoặc các khoản khác liên quan tới cổ phiếu phổ thông tiềm năng có tác động suy giảm
  • Các khoản lãi được ghi nhận trong kỳ liên quan tới cổ phiếu phổ thông tiềm năng có tác động suy giảm; và
  • Các yếu tố khác làm giảm lợi nhuận sau thuế nếu chuyển đổi cổ phiếu phổ thông tiềm năng có tác động suy giảm thành cổ phiếu phổ thông.
  • Khoản chênh lệch lớn hơn giữa giá trị hợp lý của khoản thanh toán cho người sở hữu với giá trị ghi sổ của cổ phiếu ưu đãi khi công ty cổ phần mua lại cổ phiếu ưu đãi của người sở hữu.
  • Các yếu tố làm tăng lợi nhuận sau thuế nếu chuyển đổi cổ phiếu phổ thông tiềm năng có tác động suy giảm thành cổ phiếu phổ thông.
  • Việc xác định số lượng bình quân gia quyền của cổ phiếu phổ thông đang lưu hành trong kỳ được thực hiện theo hướng dẫn của Thông tư số 21/2006/TT-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ Tài chính, tương tự như trường hợp lãi cơ bản trên cổ phiếu.
  • Việc xác định số lượng bình quân gia quyền của cổ phiếu phổ thông sẽ được phát hành thêm trong kỳ được thực hiện theo quy định của Chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS số 30 “Lãi trên cổ phiếu”.

2.2.2 Tác động của giá trị sổ sách vốn chủ sở hữu trên mỗi cổ phiếu (BVPS) đến giá cổ phiếu Luận văn: Tổng quan về cổ phiếu tại các Cty chứng khoán

Giá trị sổ sách vốn chủ sở hữu trên mỗi cổ phiếu là giá cổ phiếu ghi trên sổ sách kế toán phản ánh tình trạng vốn cổ phần của công ty tại một thời điểm nhất định. Tương tự như tầm quan trọng của chỉ tiêu EPS đến chỉ số P/E, BVPS cũng là một yếu tố quan trọng cấu thành nên chỉ số tỷ số giá cổ phiếu trên giá trị sổ sách (P/B). Chỉ số P/B có ý nghĩa liên quan đến độ an toàn của khoản đầu tư dài hạn. Một hệ số P/B thấp có ý nghĩa cổ phiếu của doanh nghiệp được định giá thấp và thích hợp để mua và nắm giữ nó nếu doanh nghiệp có triển vọng tốt trong tương lai.

Một số nghiên cứu đã áp dụng phương pháp tiếp cận bảng cân đối kế toán với các dữ liệu có liên quan để định giá cổ phiếu. Những nghiên cứu thực nghiệm này sử dụng hàm hồi quy tuyến tính của giá trị sổ sách của tài sản và nợ phải trả của công ty niêm yết để rút ra kết luận về giá thị trường của cổ phiếu các công ty này. Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng cho thấy tài sản và nợ phải trả có ảnh hưởng đến giá thị trường của cổ phiếu trên thị trường chứng khoán. Tương tự như chỉ tiêu lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu, giá trị sổ sách vốn chủ sở hữu trên mỗi cổ phiếu cũng có ảnh hưởng cùng chiều (+) với biến động giá cổ phiếu của các công ty niêm yết.

2.2.3 Tác động của lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS) và giá trị sổ sách vốn chủ sở hữu (BVPS) đến giá cổ phiếu

Hầu hết các nghiên cứu về mảng đề tài này chưa xây dựng được một cơ sở lý luận vững chắc mãi cho đến khi Ohlson (1995) công bố công trình nghiên cứu mang tên “Lợi nhuận, Giá trị sổ sách vốn chủ sở hữu, và Cổ tức trong phương trình vốn”. Ohlson đã phát triển và phân tích giá thị trường của một công ty niêm yết liên quan đến lợi nhuận, giá trị sổ sách vốn chủ sở hữu và cổ tức.

Mô hình này đã cung cấp một nền tảng hữu ích cho khái niệm: giá thị trường của cổ phiếu chịu ảnh hưởng bởi thông tin kế toán trình bày trên BCTC và các thông tin khác. Bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng: cả lợi nhuận và giá trị sổ sách là những chỉ tiêu có tác động đáng kể, ảnh hưởng cùng chiều đến biến động thị giá của cổ phiếu. Hệ số xác định (R2) từ hồi quy tuyến tính bằng OLS là thước đo chính để đo lường tác động này. Có thể nói, mô hình Ohlson (1995) đã mở đường cho hàng loạt các công trình nghiên cứu thực nghiệm sau này ra đời. Hầu hết kết quả nghiên cứu đều chứng minh ảnh hưởng cùng chiều (+) của chỉ tiêu lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS) và giá trị sổ sách vốn chủ sở hữu trên mỗi cổ phiếu (BVPS) đến giá cổ phiếu (P) của công ty niêm yết.

2.3 Sơ lược các mô hình nghiên cứu về ảnh hưởng của thông tin kế toán đến giá cổ phiếu

2.3.1 Mô hình chiết khấu cổ tức

Một trong những mô hình nghiên cứu về tác động của thông tin kế toán đến giá cổ phiếu công ty niêm yết mà luận văn muốn đề cập đến là mô hình chiết khấu cổ tức. Mô hình xác định giá trị kinh tế của một tài sản thông qua việc xác định chiết khấu các lợi ích kinh tế kỳ vọng của tài sản đó hoặc có thể xác định bằng dòng tiền thu được trong suốt thời gian sử dụng tài sản đó với tỷ suất chiết khấu là chi phí cơ hội vốn.

Khi định giá cổ phiếu thì giá bán cổ phiếu xác định bằng cách chiết khấu các dòng tiền trong tương lai mà người mua kỳ vọng nhận được trong thời gian họ nắm giữ cổ phiếu. Do vậy, giá trị hiện tại của cổ phiếu được tính toán bằng cách chiết khấu các dòng cổ tức trong tương lai mà nhà đầu tư kỳ vọng nhận được. Có thể thấy, nhược điểm của mô hình này khi áp dụng vào thực tiễn là phải ước tính dòng cổ tức bằng tiền và tỷ lệ chiết khấu cho từng giai đoạn. Nếu như một công ty đang tăng trưởng và có khuynh hướng giữ lại toàn bộ lợi nhuận để tái đầu tư nên không chi trả cổ tức cho cổ đông thì mô hình sẽ không thể định giá chính xác giá trị nội tại của cổ phiếu công ty.

2.3.2 Mô hình thu nhập thặng dư Luận văn: Tổng quan về cổ phiếu tại các Cty chứng khoán

Mô hình này ra đời để khắc phục nhược điểm của mô hình chiết khấu cổ tức nêu trên. Thay vì sử dụng cổ tức bằng tiền, mô hình có thể biến đổi để thể hiện giá trị kinh tế của vốn cổ phần trong mối quan hệ với giá trị sổ sách kế toán và lợi nhuận thặng dư. Lợi nhuận thặng dư (hay còn gọi thu nhập bất thường) là phần chênh lệch của thu nhập thông thường sau khi đã trừ chi phí vốn chủ sở hữu.

Theo mô hình thu nhập thặng dư, giá trị nội tại của cổ phiếu bao gồm giá trị sổ sách kế toán của cổ phiếu đó và giá trị có được từ tổng giá trị hiện tại của dòng lợi nhuận thặng dư trong tương lai của công ty. Một trong những đặc điểm của mô hình thu nhập thặng dư là giá trị của một công ty sẽ không bị ảnh hưởng bởi chính sách kế toán.

Giống như mô hình chiết khấu cổ tức, mô hình thặng dư gặp khó khăn trong việc áp dụng vì nó đòi hỏi phải ước tính trong một thời gian không xác định. Phương pháp này nếu áp dụng với trái phiếu sẽ hợp lý hơn với cổ phiếu do nguồn thu nhập mà trái phiếu mang lại thường ổn định và xác định trước một cách đáng tin cậy.

2.3.3 Mô hình Ohlson (1995)

Như đã trình bày trong chương tổng quan các nghiên cứu liên quan trước đây, mô hình Ohlson có thể được chia làm hai bộ phận: mô hình định giá cổ phiếu dựa trên lợi nhuận thặng dư (RIM) và thứ hai là chuỗi thông tin do Ohlson đề xuất.

Thành phần thứ nhất, mô hình định giá cổ phiếu dựa trên lợi nhuận thặng dư (RIM) thực chất chính là mô hình thu nhập thặng dư trình bày ở mục 2.3.2. Do việc áp dụng mô hình này khi định giá cổ phiếu gặp khó khăn trong thực tiễn, Ohlson (1995) đã đề xuất một giả thiết quan trọng liên quan đến dòng lợi nhuận thặng dư để xây dựng mô hình của mình.

Thành phần thứ hai, chuỗi thông tin được đưa ra dựa vào tính tồn lưu của lợi nhuận đã được ghi nhận trong các nghiên cứu thực nghiệm trước đó cũng như dựa trên thực tiễn BCTC chỉ là một tập hợp các thông tin có thể ảnh hưởng đến kỳ vọng của thị trường về lợi nhuận tương lai của công ty. Theo đó, kỳ vọng của nhà đầu tư về khả năng sinh lời của công ty phụ thuộc một phần vào thông tin BCTC hiện tại và vào các thông tin khác chưa (hoặc không) được phản ánh vào BCTC.

Như vậy, việc kết hợp mô hình lợi nhuận thặng dư với chuỗi thông tin do Ohlson (1995) đề xuất đã cho phép Ohlson rút ra được mô hình thể hiện tác động hai thông tin BCTC trực tiếp là lợi nhuận và giá trị sổ sách đến giá cổ phiếu của công ty. Ảnh hưởng này là tác động thuận, cùng chiều (+) phù hợp với các kết quả nghiên cứu thực nghiệm trước đó. Đặc điểm này của mô hình Ohlson (1995) được các nhà nghiên cứu thực nghiệm đặc biệt đánh giá cao.

2.4 Các lý thuyết nền tảng có liên quan đến nghiên cứu Luận văn: Tổng quan về cổ phiếu tại các Cty chứng khoán

2.4.1 Lý thuyết ủy nhiệm

Lý thuyết này được Jensen & Meckling phát triển hoàn thiện vào năm 1976. Nội dung của lý thuyết này đề cập đến mối quan hệ giữa bên ủy nhiệm và bên được ủy nhiệm thông qua hợp đồng. Trong đó, bên được ủy nhiệm sẽ thực hiện một số công việc đại diện cho bên ủy nhiệm, bao gồm việc ủy thác một mức độ thẩm quyền ra quyết định cho bên được ủy nhiệm.

Lý thuyết ủy nhiệm cho rằng cả hai bên đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình. Chính vì vậy, trong mối quan hệ này luôn tồn tại những mâu thuẫn và điều này làm phát sinh một khoản chi phí đại diện (agency cost), được phân thành hai loại: chi phí đầu tư vào hệ thống kiểm soát cần thiết để giảm thiểu việc thiếu thông tin của bên ủy nhiệm và chi phí giảm thiểu rủi ro thông qua việc chia sẻ rủi ro với bên được ủy nhiệm nhờ những biện pháp kích thích dựa trên kết quả đầu ra.

Mối quan hệ ủy nhiệm xuất hiện rõ nhất là giữa cổ đông với nhà quản lý doanh nghiệp và giữa chủ nợ với các các cổ đông của công ty. Trái với mong đợi của người ủy nhiệm là tối đa hóa lợi ích của mình thì người đại diện – thường là các nhà quản trị công ty đôi khi lại có mục đích riêng và vì hướng đến mục đích đó mà những nhà quản trị này lại tiến hành điều chỉnh báo cáo tài chính làm cho BCTC không còn phản ánh một cách trung thực và hợp lý tình hình tài chính, kết quả hoạt động, hay dòng tiền của công ty. Và do đó, nó không cung cấp được thông tin hữu ích đến các cổ đông, chủ nợ, nhà đầu tư…

Ngoài ra, Jensen & Meckling (1976) cũng cho rằng kiểm toán giảm thiểu xung đột giữa giữa nhà quản lý và các cổ đông bên ngoài. Kiểm toán đóng vai trò giám sát cho các cổ đông vì KTV sẽ báo cáo phát hiện sai lệch trọng yếu trong báo cáo tài chính đã kiểm toán.

Khi áp dụng vào công trình nghiên cứu của tác giả, bài viết kỳ vọng rằng thông tin kế toàn trình bày trên BCTC được kiểm toán bởi KTV thuộc nhóm Big 4 sẽ giải thích tốt hơn biến động giá cổ phiếu của công ty niêm yết, hay nói cách khác là thông tin mang tính thích hợp hơn. Kỳ vọng này được đưa ra vì theo kết quả các nghiên cứu trên thế giới, chất lượng kiểm toán có liên quan đến danh tiếng cũng như thương hiệu của các công ty kiểm toán, và chất lượng kiểm toán thì có tương quan tích cực (+) với quy mô công ty kiểm toán đó. Khi một công ty kiểm toán cung cấp dịch vụ cho nhiều khách hàng thì công ty kiểm toán đó sẽ mất đi rất nhiều nếu cuộc kiểm toán thất bại, vì vậy mà họ sẽ có động lực mạnh mẽ để hạ thấp nhất khả năng thất bại của cuộc kiểm toán nhằm duy trì danh tiếng của công ty kiểm toán.

2.4.2 Lý thuyết tín hiệu

Lý thuyết tín hiệu dựa trên cơ sở đóng góp của nghiên cứu của Arrow (1972) và Schipper (1981). Lý thuyết tín hiệu giải quyết vấn đề bất cân xứng thông tin giữa công ty và nhà đầu tư. Theo lý thuyết này, các công ty phải công bố thông tin ra thị trường một cách tự nguyện và đưa tín hiệu tới các nhà đầu tư để tạo ra sự khác biệt về chất lượng hoạt động của mình so với các công ty khác.

Lý thuyết tín hiệu đã góp phần vào việc giải thích rằng những công ty có chất lượng cao sẽ chọn chính sách kế toán cho phép chất lượng vượt trội của họ thể hiện, trong khi những công ty chất lượng thấp hơn sẽ chọn những chính sách kế toán để cố gắng che bớt những khuyết điểm này. Động cơ để ra tín hiệu bằng việc lựa chọn chính sách kế toán sẽ cao nhất ở những nơi có thông tin bất cân xứng nhất, thông thường là những công ty có số lượng cổ đông lớn và dàn trải.

Khi thông tin kế toán trình bày trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp có ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư đối với công ty, công ty được cho rằng sẽ vận dụng chính sách kế toán để có thể cung cấp thông tin có lợi nhất về doanh nghiệp của họ cho các nhà đầu tư.

Khi áp dụng vào công trình nghiên cứu của tác giả, bài viết kỳ vọng rằng nhà đầu tư sẽ có những phản ứng phù hợp với thông tin nhận được từ các công ty niêm yết. Ngoài ra, dấu hiệu những công ty niêm yết được kiểm toán bởi KTV thuộc nhóm Big 4 (với kỳ vọng rằng chất lượng BCTC được kiểm toán sẽ cao hơn) thì thông tin kế toán trình bày trên BCTC sẽ có tác động tích cực hơn đến giá cổ phiếu hay nói cách khác là thông tin thích hợp hơn.

2.4.3 Lý thuyết thị trường hiệu quả Luận văn: Tổng quan về cổ phiếu tại các Cty chứng khoán

Lý thuyết thị trường hiệu quả lần đầu được phát triển bởi giáo sư Fama năm 1965 và xem xét tổng hợp lại cũng bởi giáo sư Fama vào năm 1970. Giả thuyết thị trường hiệu quả là một giả thuyết khẳng định rằng các thị trường tài chính hiệu quả thì giá chứng khoán trên thị trường tài chính sẽ phản ánh đầy đủ mọi thông tin đã biết. Theo đó, thị trường được phân chia thành ba cấp độ: thị trường hiệu quả dạng yếu, thị trường hiệu quả dạng trung bình, và thị trường hiệu quả dạng mạnh.

Thị trường hiệu quả dạng yếu:

Lý thuyết thị trường hiệu quả dạng yếu cho rằng giá chứng khoán hiện tại phản ánh đầy đủ các thông tin đã công bố trong quá khứ (thông tin dạng yếu). Trong thị trường hiệu quả dạng yếu, không thể dự báo được giá chứng khoán trong tương lai hay có thể kiếm được lợi nhuận vượt trội bằng cách căn cứ vào thông tin tương tự trong quá khứ.

Thị trường hiệu quả dạng trung bình (bán mạnh):

Lý thuyết thị trường hiệu quả dạng trung bình cho rằng giá chứng khoán sẽ điều chỉnh một cách nhanh chóng khi có thông tin được công bố. Nói cách khác, giá chứng khoán sẽ phản ánh đầy đủ các thông tin đã công bố trong quá khứ cũng như thông tin vừa công bố trong hiện tại (hoặc lân cận với hiện tại). Tương tự như thị trường hiệu quả dạng yếu, nhà đầu tư trong thị trường hiệu quả dạng trung bình cũng không thể kiếm được lợi nhuận bằng chênh lệch giá chứng khoán nếu chỉ dựa vào thông tin được công bố trong quá khứ cũng như trong hiện tại.

Thị trường hiệu quả dạng mạnh:

Lý thuyết thị trường hiệu quả dạng mạnh thì cho rằng: giá chứng khoán đã phản ánh đầy đủ từ các thông tin đã công bố cũng như các thông tin nội bộ (thông tin công bố trong quá khứ, thông tin công bố hiện tại và thông tin nội bộ). Như vậy, trong thị trường hiệu quả dạng mạnh, nhà đầu tư sẽ tiếp cận được mọi thông tin từ doanh nghiệp. Đây là một dạng thị trường ở điều kiện lý tưởng. Thị trường tài chính sẽ luôn tự điều chỉnh cho đến khi đạt đến sự hiệu quả.

Tóm tắt chương 2

Chương 2 đã giới thiệu về công ty niêm yết, cổ phiếu và thông tin kế toán trình bày trên BCTC, tác động của EPS, BVPS, EPS & BVPS đến giá cổ phiếu của công ty niêm yết. Chương này cũng trình bày sơ lược các mô hình nghiên cứu về ảnh hưởng của thông tin kế toán đến giá cổ phiếu (mô hình chiết khấu cổ tức, mô hình thu nhập thặng dư, mô hình Ohlson 1995). Cuối cùng, các lý thuyết nền tảng có liên quan đến đề tài như lý thuyết ủy nhiệm, lý thuyết tín hiệu, lý thuyết thị trường hiệu quả cũng được đề cập. Luận văn: Tổng quan về cổ phiếu tại các Cty chứng khoán

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY   

===>>> Luận văn: Thực trạng nghiên cứu cổ phiếu các Cty chứng khoán

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x