Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước với nghề công chứng

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước với nghề công chứng hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Luận văn thì với đề tài Luận văn: Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các tổ chức hành nghề công chứng tại tỉnh Phú Yên dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.2. Tình hình thực hiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với các tổ chức hành nghề công chứng ở Phú Yên hiện nay

2.2.1. Căn cứ pháp lý và khái quát về quản lý nhà nước đối với các tổ chức hành nghề công chứng ở Phú Yên hiện nay

Căn cứ pháp lý để nhà nước thực hiện việc quản lý bằng pháp luật đối với các tổ chức HNCC ở cả nước nói chung, trong đó có tỉnh Phú Yên:

  • Luật Công chứng năm 2014: Ngày 20 tháng 6 năm 2014, Luật Công chứng số 53/2014/QH13 (gọi tắt là LCC năm 2014) đã được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2015. Luật gồm có 10 chương 81 điều.
  • Nghị định số 29/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng.
  • Thông tư số 06/2015/TT-BTP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng
  • Thông tư liên tịch 115/2015/TTLT-BTC-BTP Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư liên tịch số 08/2012/TTLT-BTC-BTP ngày 19 tháng 01 năm 2012 hướng dẫn về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí công chứng.
  • Nghị định số 67/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.
  • Thông tư số 54/2015/TT-BTC quy định thu phí sát hạch bổ nhiệm công chứng viên; lệ phí cấp thẻ công chứng viên, cấp giấy đăng ký hoạt động VPCC.
  • Nghị định số 29/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng năm 2014.

Ngoài ra, bên cạnh hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành LCC, các công chứng viên còn phải áp dụng nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đến công chứng: Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng Dân sự, Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Cư trú, Luật Doanh nghiệp, Luật Kinh doanh bất động sản,….

Khái quát về QLNN đối với tổ chức HNCC ở Phú Yên những năm qua. Ngày 20 tháng 6 năm 2014, Luật Công chứng số 53/2014/QH13 (gọi tắt là LCC năm 2014) đã được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2015. Luật gồm có 10 chương 81 điều. Ngày 15/3/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định số 29/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của LCC. Đây là cơ sở pháp lý để nhà nước thực hiện việc quản lý bằng pháp luật đối với các tổ chức HNCC.. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước với nghề công chứng

Trước khi LCC có hiệu lực pháp luật, tại tỉnh Phú Yên việc công chứng, chứng thực do PCC số 1 tỉnh Phú Yên cùng UBND cấp huyện thực hiện. Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập đó là: chưa phân biệt rõ ràng về hoạt động công chứng và hoạt động chứng thực; tổ chức công chứng theo mô hình công chứng nhà nước do ngân sách nhà nước bao cấp; sự quá tải về công chứng, chứng thực tại PCC số 1 tỉnh Phú Yên và UBND cấp huyện dẫn đến chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu của cá nhân, tổ chức.

Từ khi LCC và Nghị định 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký có hiệu lực từ ngày 01/7/2007 đã giải quyết cơ bản những hạn chế, bất cập trong lĩnh vực công chứng, chứng thực, kịp thời thể chế hoá chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, phù hợp với tiến trình cải cách hành chính, cải cách tư pháp, tăng cường hoạt động tư pháp hướng về cơ sở, đã giao thẩm quyền cho cấp xã thực hiện công tác chứng thực, đặc biệt là cụ thể hoá chủ trương xã hội hoá hoạt động bổ trợ tư pháp, tăng cường năng lực tiếp cận hệ thống tư pháp của nhân dân được xác định trong Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020”.

Sau hơn mười năm thực hiện LCC ở tỉnh Phú Yên đã khẳng định chủ trương xã hội hóa công chứng là hoàn toàn đúng đắn, đã được xã hội đón nhận với chiều hướng tích cực. Tính đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn tỉnh Phú Yên có 6 tổ chức HNCC. Trong đó, có 01 PCC số 1 tỉnh Phú Yên (đã thành lập ngày 01/4/2007) trực thuộc Sở Tư pháp với tổng số 02 công chứng viên, tuy nhiên năm 2016 Sở Tư pháp đã tham mưu UBND tỉnh giải thể PCC; 05 VPCC (hoạt động theo mô hình công ty hợp danh) với tổng số 09 công chứng viên.

Về hoạt động: Thực hiện tích cực chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng, các PCC và VPCC đều đạt được những kết quả tốt với số lượng hợp đồng giao dịch không ngừng tăng theo các năm và đạt được doanh thu lớn không chỉ góp phần tạo công ăn việc làm cho người lao động mà còn mang lại nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước. Cụ thể:

  • Tỉnh Phú Yên trong năm 2016: Riêng khối các VPCC với tổng số 09 công chứng viên hoạt động tại 05 VPCC đã thực hiện công chứng 17.879 hợp đồng giao dịch, số lượng việc bình quân mà 01 công chứng viên thực hiện là 01 công chứng viên/1.987 việc, số lượng việc bình quân trên 01 VPCC là 3.576 việc/01 tổ chức HNCC. Doanh thu năm 2016 của 05 VPCC đạt 4.999.631.950 đồng, trong đó tổng thuế nộp nhà nước là 717.676.425 đồng.
  • Trong 3 tháng đầu năm 2017: 05 VPCC với tổng số 09 công chứng viên đã thực hiện công chứng 5.532 hợp đồng, giao dịch, tổng doanh thu là 1.629.631.000 đồng, trong đó tổng thuế nộp cho ngân sách nhà nước là 244.435.000 đồng; PCC số 1 tỉnh Phú Yên đã giải thể năm 2016. Như vậy, trong 3 tháng đầu năm 2017, tính trung bình trên địa bàn tỉnh Phú Yên, số lượng việc bình quân mà 01 công chứng viên thực hiện là 01 công chứng viên/614 việc, số lượng việc bình quân trên 01 tổ chức HNCC là xấp xỉ 1107 việc/01 tổ chức HNCC.

Qua số liệu hoạt động cụ thể của các tổ chức HNCC cho thấy nhu cầu công chứng các hợp đồng, giao dịch không ngừng tăng qua các năm. Điều đó đòi hỏi phải tiếp tục có sự phát triển của các tổ chức HNCC một cách có quy hoạch đồng bộ trong thời gian tới. Hiện nay, toàn tỉnh Phú Yên tạm tính đến tháng 3/2017, Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên đã cấp đăng ký hoạt động cho 05 VPCC. Tổng số công chứng viên của 05 VPCC là 09 công chứng viên (trong đó có 04 công chứng viên hợp danh).

Do điều kiện phát triển kinh tế xã hội của các địa bàn cấp huyện không đồng đều, nguồn công chứng viên hạn chế nên việc phát triển các tổ chức HNCC chưa đạt yêu cầu theo quy hoạch đề ra. Theo Quy hoạch phát triển các tổ chức HNCC đến năm 2020 thì giai đoạn 2011 – 2015 phát triển 11 tổ chức nhưng đến nay chỉ có 06 tổ chức (đạt 55%) so với Quy hoạch. Từ năm 2012 đến nay chưa phát triển thêm tổ HNCC nào, chưa hoàn thành được chỉ tiêu trong việc phát triển các VPCC theo Quy hoạch giai đoạn 2016 – 2020. Tuy số lượng VPCC trên địa bàn tỉnh Phú Yên còn ít, số lượng VPCC không đạt theo quy hoạch đã đề ra, nhưng đến nay tỉnh Phú Yên đã hoàn thành việc chuyển đổi các VPCC từ loại hình doanh nghiệp tư nhân sang công ty hợp danh theo quy định của LCC năm 2014.

Bảng 1.1: Thực trạng hoạt động các tổ chức hành nghề công chứng tại tỉnh Phú Yên đến tháng 3/2017

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>>  Dịch Vụ Viết Luận Văn Thạc Sĩ Luật Học

2.2.2. Hoạt động xây dựng thể chế quản lý nhà nước đối với tổ chức hành nghề công chứng Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước với nghề công chứng

Xây dựng và ban hành văn bản quản lý là khâu quan trọng trong hoạt động QLNN bằng pháp luật, là hình thức, phương tiện không thể thiếu được của chủ thể QLNN. Sự có mặt của các văn bản quản lý trong hoạt động của các cơ quan quản lý có thể được hiểu như sự “tập trung quyền lực của nhà nước, nhằm điều hành có hiệu quả nhất hoạt động quản lý”.

Xuất phát từ thẩm quyền của mỗi một cơ quan trong hệ thống cơ quan quản lý nhà nước, hệ thống văn bản quản lý cũng được sắp xếp theo trình tự nhất định tương ứng với thẩm quyền của từng cơ quan. Yêu cầu đặt ra là phải đánh giá đúng mức việc thực hiện các nội dung và mục tiêu của Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011- 2020, trên cơ sở đó chỉ ra những kết quả đạt được, những tồn tại hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm. Đồng thời nghiên cứu, đề xuất, kiến nghị những nội dung chủ yếu về Chương trình cải cách hành chính nhà nước giai đoạn sắp đến. Có những yêu cầu cụ thể đặt ra cho việc ban hành văn bản quản lý đối với các lĩnh vực kinh tế, xã hội và cụ thể là lĩnh vực công chứng.

Theo quy định của LCC năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành, Sở Tư pháp có nhiệm vụ cấp đăng ký hoạt động của các tổ chức HNCC, giúp UBND tỉnh thực hiện QLNN đối với hoạt động của các tổ chức HNCC tại địa phương.

Ngay khi LCC và các văn bản hướng dẫn có hiệu lực thi hành, Sở Tư pháp đã tham mưu cho UBND tỉnh ban hành Chỉ thị về việc tăng cường QLNN trong lĩnh vực công chứng trên địa bàn tỉnh Phú Yên, xây dựng Dự thảo Đề án phát triển tổ chức HNCC với sự tham gia đóng góp ý kiến của các ban, ngành hữu quan. Đề án được tỉnh và Sở Tư pháp là cơ quan được UBND tỉnh giao cho tổ chức và triển khai và thực hiện. Thực hiện nội dung của chỉ thị, đề án, Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên đã tiến hành củng cố, phân công cán bộ trực tiếp phụ trách lĩnh vực quản lý hoạt động công chứng; Xây dựng các quy trình tiếp nhận, thụ lý hồ sơ đăng ký thành lập VPCC, trong đó quy định rõ quy trình thụ lý hồ sơ cấp đăng ký hoạt động công chứng phải được thẩm định trụ sở, điều kiện hoạt động trước khi trình ủy ban tỉnh quyết định cấp phép thành lập VPCC; Xây dựng biểu mẫu, hồ sơ cấp đăng ký hoạt động, sổ sách quản lý tổ chức và hoạt động của các VPCC; Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho hơn 40 cán bộ, công chứng viên làm việc tại các tổ chức HNCC; Phối hợp với các cơ quan hưu quan kiểm tra công tác tổ chức và hoạt động của các tổ chức HNCC; Tổng hợp giải đáp những thắc mắc, kiến nghị, đề xuất của các tổ chức HNCC.

Ưu điểm của ban hành văn bản quản lý đối với các tổ chức HNCC:

Một ưu điểm trước hết được kể đến đó là các văn bản luật, bộ luật và văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng trong lĩnh vực công chứng đã được ban hành tương đối đầy đủ. Năm 2015, Sở Tư pháp tiếp tục xây dựng trình UBND ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản hướng dẫn thi hành LCC năm 2014 cũng như một số văn bản khác phục vụ công tác QLNN về công chứng.

Thời gian qua, Bộ Tư pháp cùng các bộ, ngành liên quan đã phối hợp chặt chẽ trong công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật cũng như tổ chức thực hiện quy định của pháp luật. Một trong những bài học kinh nghiệm trong việc nâng cao chất lượng văn bản pháp luật và đưa vào cuộc sống là cần có sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của lãnh đạo các bộ, ngành. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc triển khai thực hiện quy định một cách hiệu quả trên thực tế. Bên cạnh đó, cần tiếp tục nâng cao chất lượng hoạt động trong lĩnh vực hành chính tư pháp; tăng cường năng lực cho các cơ quan bổ trợ tư pháp và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.

Việc ban hành văn bản quản lý là công cụ quản lý có tầm quan trọng đặc biệt bởi vì hoạt động công chứng là vận dụng các quy định của pháp luật để công chứng các hợp đồng giao dịch mà các tổ chức, cá nhân yêu cầu. Nhà nước đã có một hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh các mặt liên quan đến các tổ chức HNCC và các hoạt động công chứng. Với mục tiêu là xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; mọi người sống và làm việc theo pháp luật, thì công chứng là một trong những vấn đề bao trùm rộng khắp của pháp luật nói chung. Mà công chứng viên phải áp dụng các quy định của pháp luật để chứng nhận các hợp đồng giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại khi có yêu cầu. Các văn bản pháp luật, luật nội dung là khung pháp lý mà công chứng viên phải tuân thủ để hợp đồng giao dịch công chứng có hiệu lực pháp luật. Tiêu biểu như: Bộ Luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh Bất động sản, Luật Doanh nghiệp, Luật Hôn nhân và gia đình,….

Tuy nhiên đối với việc ban hành văn bản quản lý các tổ chức HNCC, nhất là loại hình VPCC đây là mô hình còn khá mới, dựa trên chính sách xã hội hóa công chứng, đã có nhiều văn bản quy phạm pháp luật chính thức hướng dẫn một số nội dung quan trọng về hoạt động công chứng. Nội dung của những văn bản này rất tiến bộ, phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với thực tế, hướng theo sự phát triển chung của những quốc gia tiến bộ trong lĩnh vực công chứng. LCC năm 2014 thể hiện rất rõ tinh thần đổi mới hình thức tổ chức và hoạt động công chứng theo hướng xã hội hóa và dịch vụ hóa. Luật này đã đổi mới căn bản chế định công chứng viên. Trước hết công chứng viên là chủ thể thực hiện hành vi công chứng mà không phải là PCC hay VPCC. Luật đã đề cao trách nhiệm và nghĩa vụ của công chứng viên, là người có đủ tiêu chuẩn được quy định trong luật và được Bộ Trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm để hành nghề. Đặc biệt, tại tinh thần của LCC năm 2014 thì công chứng viên không phải là công chức nhà nước, không hưởng lương từ ngân sách Nhà nước. Thực tế hiện nay tồn tại hai loại Công chứng viên đó là công chứng viên thuộc PCC và công chứng viên thuộc VPCC. Hai hình thức tổ chức HNCC khác nhau nhưng về địa vị pháp lý của họ trong hành nghề công chứng là hoàn toàn như nhau.

Hạn chế trong ban hành văn bản quản lý nhà nước đối với các tổ chức HNCC:

Lĩnh vực công chứng, các văn bản công chứng có liên quan đến nhiều các lĩnh vực, các cơ quan nhà nước khác nhau như Phòng Tài nguyên Môi trường, Văn phòng đăng ký đất đai, các cơ quan đăng ký giao dịch đảm bảo, thuế, ngân hàng,… Thời gian vừa qua khi người dân đã tiến hành công chứng tại các tổ chức HNCC sau đó đến thực hiện các thủ tục tiếp theo tại các cơ quan nói trên rất nhiều trường hợp bị ách tắc vì nhiều lý do khác nhau, trong đó có một phần là do các quy định của pháp luật về hoạt động công chứng chưa thống nhất, đồng bộ, thậm chí còn mâu thuẫn ngay trong cùng một bộ luật. Từ chỗ chưa có sự thống nhất trong các quy định của các văn bản pháp luật đã dẫn đến việc áp dụng pháp luật ở mỗi tổ chức HNCC một khác nhau, hiểu khác nhau, áp dụng khác nhau. Một số UBND xã vẫn tiến hành chứng thực các Hợp đồng giao dịch nhà đất, thừa kế, các địa phương ở tỉnh không chấp nhận hợp đồng công chứng trong giao dịch nhà đất; Một số UBND, Văn phòng đăng ký nhà đất, ngân hàng, …. chưa thực hiện đúng quy định của pháp luật về công chứng. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước với nghề công chứng

Bản thân, các tổ chức HNCC khi ra đời chịu sự điều chỉnh của LCC năm 2014 và Nghị định số 29/2015/NĐ-CP ngày 15/3/2015, và một loại văn bản công văn hướng dẫn. Điều mà áp dụng nhiều lại là công văn hướng dẫn của Bộ Tư pháp. Mà theo Luật Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành thì Công văn không phải là văn bản quy phạm pháp luật, chính điều này tạo tâm lý bất an cho các tổ chức HNCC khi thực hiện các giao dịch.

Theo Khoản 1 Điều 22 LCC năm 2014, VPCC phải có từ hai công chứng viên hợp danh trở lên. VPCC không có thành viên góp vốn, được thành lập được tổ chức và hoạt động theo loại công ty hợp danh. Các loại hình này VPCC này tự chịu trách nhiệm về hoạt động và chỉ chịu sự QLNN của Sở Tư pháp về lĩnh vực công chứng, chứ không phải là đơn vị trực thuộc của Sở Tư pháp. Vậy mà nhiều tỉnh thành trên cả nước, các VPCC dường như cũng đang rơi vào tình huống “loạn mũ” cơ quan chủ quản trên biển hiệu. Cụ thể là, rất nhiều VPCC phía trên cùng của biển hiệu của mình đã ghi thật to, thật rõ là Sở Tư pháp tỉnh A, tỉnh B,…. Những hành vi ghi tên cơ quan chủ quản trên biển hiệu của doanh nghiệp chỉ có thể xử phạt theo hướng “không ghi đúng, không ghi đầy đủ tên gọi bằng tiếng Việt trên biển hiệu”, song chế tài điều chỉnh đích danh hành vi loạn “mũ” cơ quan chủ quản lại chưa có. “Nhà quản lý đứng im …chờ hướng dẫn” Việc các VPCC bị “loạn mũ” không phải là phát minh gì mới mà rất nhiều người làm luật, hiểu luật đều biết rõ. Và dù LCC đã đi vào cuộc sống được 10 năm nhưng tình trạng một số VPCC tự ý ghi Sở Tư pháp phía trên vẫn tồn tại.

Từ khi LCC năm 2014 có hiệu lực, hầu hết các mô hình VPCC đã chuyển dần từ VPCC có một công chứng viên thành lập sang VPCC do hai công chứng viên trở lên theo quy định Khoản 1 Điều 22 LCC năm 2014. Ví dụ: Mô hình VPCC một công chứng viên chuyển đổi sang VPCC với từ hai công chứng viên trở lên, sau biến cố xảy ra với VPCC Việt Tín, xu hướng là các VPCC sẽ phải thành lập theo mô hình với 02 công chứng viên để đảm bảo quyền lợi cho các bên tham gia. Hậu quả khi xảy ra như với VPCC Việt Tín là vô cùng nghiêm trọng, và bản thân các cơ quan quản lý lúng túng khi xử lý.

Mâu thuẫn thẩm quyền công chứng về bất động sản: Đây là một trong những loại giao dịch lớn ở Việt Nam. Mà nguồn gốc phức tạp của pháp luật liên quan đến bất động sản là do chúng được quản lý bởi những cơ quan khác nhau. Trước khi có LCC năm 2014 thì quyền yêu cầu với không yêu cầu công chứng của người yêu cầu công chứng là rất mâu thuẫn nhau, lúc thì thuận do tính chất của từng loại việc lúc thì trở ngại do nhận thức của các cơ quan liên quan.

Một quy định của điều luật có nhiều cách hiểu khác nhau, ví dụ trước đây theo quy định LCC: “Nhiều bất động sản thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác nhau cùng được thế chấp để bảo đảm thực hiện một nghĩa vụ thì việc công chứng hợp đồng thế chấp đó do công chứng viên của tổ chức HNCC có trụ sở đặt tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có một trong số bất động sản thực hiện”

Tuy nhiên, qua thời gian thực hiện LCC năm 2006, trong nhiều trường hợp công chứng viên không thể biết được tình trạng pháp lý của bất động sản tại các tỉnh thành phố khác nên không đảm bảo chất lượng của văn bản công chứng, dẫn đến có những ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của người yêu cầu công chứng và các bên liên quan.

Do vậy, để đảm bảo an toàn pháp lý giao dịch đối với các bên tham gia hợp đồng, giao dịch liên quan đến bất động sản và thống nhất nguyên tắc công chứng thực hiện theo “địa hạt” thì khoản 1 Điều 54 LCC năm 2014 về công chứng hợp đồng thế chấp bất động sản quy định: “Việc công chứng hợp đồng thế chấp bất động sản phải được thực hiện tại tổ chức HNCC có trụ sở tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có bất động sản.”

Qua những hạn chế bất cập do việc ban ban hành văn quy phạm pháp luật còn nhiều bất cập. Vậy chúng ta nên chăng tiếp thu những tinh hoa của các nước văn minh đã phát triển lĩnh vực này. Để xây dựng văn bản pháp luật giàu thực tiễn, chúng ta phải lấy ý kiến của những người trực tiếp thực hiện trong lĩnh vực, để có được ý kiến sâu sắc từ giới chuyên môn. Cải cách thủ tục hành chính để thủ tục ngày càng đơn giản, hiệu quả với công việc.

Nguyên nhân dẫn đến việc ban hành văn bản quản lý các tổ chức HNCC chưa hiệu quả:

Báo cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng chỉ ra nội dung một số văn bản hướng dẫn thi hành còn chung chung, thiếu cụ thể, chưa theo kịp yêu cầu quản lý và tốc độ phát triển của ngành nên khi triển khai thực hiện gặp nhiều khó khăn, lúng túng. Văn bản trong một số lĩnh vực còn chồng chéo, gây khó khăn cho công dân. Báo cáo của Chính phủ về tình hình soạn thảo, ban hành và kiểm tra văn bản qui phạm pháp luật đưa ra một trong những khó khăn, vướng mắc là do một số luật, pháp lệnh có nhiều quy định mang tính nguyên tắc, chưa cụ thể. Nhiều vấn đề chi tiết thường được giao cho Chính phủ, bộ, ngành qui định tại văn bản dưới luật khiến lượng văn bản mà Chính phủ cần ban hành rất lớn (có những luật, pháp lệnh cần tới hơn 10 văn bản hướng dẫn). Để khắc phục tình trạng yếu kém trong ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Chính phủ đang xây dựng và hoàn thiện Qui trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trong đó tăng cường năng lực cho các cơ quan, công chức trực tiếp tham gia soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật đồng thời tăng cường trách nhiệm của bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ trong công tác chỉ đạo và ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Ngoài ra, báo cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng chỉ ra nội dung một số văn bản hướng dẫn thi hành còn chung chung, thiếu cụ thể, chưa theo kịp yêu cầu quản lý và tốc độ phát triển của ngành nên khi triển khai thực hiện gặp nhiều khó khăn, lúng túng. Văn bản trong một số lĩnh vực còn chồng chéo, gây khó khăn cho công dân. Một số nguyên nhân chính trong ban hành văn bản quản lý:

Thứ nhất, pháp luật thường xuyên thay đổi. Thực tế này là hệ quả tất yếu của việc chuyển từ cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường. Trong quá trình thể chế hoá các yêu cầu của sự phát triển kinh tế, xã hội, có không ít các quan điểm e ngại với những vấn đề mới, chỉ chấp nhận những vấn đề đã chín muồi, có sự đồng thuận cao, do đó khó tạo ra những đột phá và từ đó, có sự ổn định cần thiết. Thực tế này có nguyên nhân ở sự thiếu sót những tầm nhìn và quan điểm chiến lược cho sự phát triển các lĩnh vực kinh tế – xã hội cụ thể và từ đó, của cả hệ thống pháp luật. Chính vì vậy, nhiều văn bản pháp luật tuổi thọ rất ngắn, thậm chí mới ban hành đã phải tạm hoãn thực hiện hoặc phải sửa đổi, bổ sung. Pháp luật thường xuyên bị thay đổi, dẫn những khó khăn đáng kể trong việc thực hiện và tác động xấu đến sự ổn định của các quan hệ xã hội, nhất là đối với các quan hệ kinh tế. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước với nghề công chứng

Thứ hai, rất nhiều văn bản pháp luật có tính quy phạm thấp, tức là thiếu những quy tắc xử sự cụ thể mà chủ thể phải thực hiện. Có những văn bản chứa đựng những quy định mang tính tuyên ngôn hơn là quy phạm pháp luật. Nhiều lĩnh vực quan hệ xã hội đòi hỏi phải được điều chỉnh cụ thể, chi tiết thì pháp luật lại là văn bản pháp luật “khung” hay văn bản pháp luật “ống”. Phần lớn các văn bản luật như vậy giao cho Chính phủ ban hành nghị định để cụ thể hoá. Nhiều Nghị định của Chính phủ lại giao cho bộ, ngành, địa phương hướng dẫn thực hiện. Thực tế này đã dẫn đến tình trạng nảy sinh không ít mâu thuẫn giữa văn bản hướng dẫn và văn bản được hướng dẫn thi hành.

Thứ ba, tính minh bạch của hệ thống pháp luật còn hạn chế, nhất là nhìn nhận từ tính minh xác, tính minh định. Công báo của trung ương và các tỉnh đã đăng tải khá đầy đủ, kịp thời các văn bản quy phạm pháp luật. Các phương tiện thông tin đại chúng, cả hệ thống chính trị và xã hội đã có nhiều cố gắng tuyên truyền, phổ biến rộng rãi pháp luật. Như vậy, xét ở khía cạnh khả năng tiếp cận thì tính minh bạch của hệ thống pháp luật được bảo đảm tốt hơn. Tuy nhiên, xét ở tính minh xác, tính minh định thì hệ thống pháp luật vẫn còn thiếu tính minh bạch. Chính hạn chế này khiến các chủ thể thực sự lúng túng khi thực hiện hay áp dụng pháp luật. Quy trình xây dựng pháp luật vẫn chưa tạo được cho công chúng những tiếp cận và tham gia cần thiết. Các kiến của chuyên gia, của các nhà khoa học nói riêng và của công chúng nói chung chưa thực sự được cân nhắc và tiếp thu. Mặt khác, tính tích cực công dân tham gia xây dựng pháp luật nhìn chung chưa cao.

Thứ tư, tính hệ thống trong pháp luật còn rất hạn chế. Các văn bản luật, các văn bản dưới luật khác nhau chưa thực sự tạo thành một chỉnh thể với những nguyên tắc chỉ đạo xuyên suốt mang tính chuyên ngành hoặc liên ngành. Những mâu thuẫn giữa Luật Nhà ở, Luật Đất đai, Bộ luật Dân sự về một số vấn đề (như: hiệu lực các giao dịch, về căn cứ xác định sở hữu, đăng ký quyền sở hữu) mà công luận nêu lên gần đây là ví dụ cho tính hệ thống thấp của pháp luật hiện hành của nước ta.

Cuối cùng, trên nhiều lĩnh vực quan hệ xã hội, xây dựng pháp luật chưa gắn với quản lý thi hành pháp luật và, do đó, khó tránh khỏi hậu quả pháp luật xa rời thực tiễn, không những không phản ánh đầy đủ thực tại, mà còn khó có khả năng dự báo, đi trước sự phát triển của quan hệ xã hội. Tham mưu xây dựng chính sách, pháp luật với mô hình VPCC mà không quản lý công tác phòng chống tội phạm, xử lý tội phạm với loại hình này, đây có thể nói là là loại hình tội phạm ở một trình độ rất cao…thì khó có được một chính sách hoàn chỉnh, ổn định, thúc đẩy, chứ không phải kìm hãm sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Nhất là với hệ thống văn bản dành cho quản lý VPCC gần như bỏ ngỏ, có nhưng luật và nghị định còn nhiều vấn đề để bàn, chưa ban hành được thông tư hướng dẫn, những khó khăn vướng mắc của các VPCC thì được hướng dẫn bằng công văn – một loại văn bản không mang pháp lý cao.

Các quy định liên quan đến công chứng trong Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Doanh nghiệp,…. Và các văn bản hướng dẫn thi hành có điểm chưa đồng bộ với LCC nhưng chưa được sửa đổi bổ sung, một số quy định của 67

LCC, vẫn còn chung chung, chưa có văn bản hướng dẫn thực hiện kịp thời, hoặc LCC còn chưa dự liệu hết những vấn đề đang phát sinh trong thực tiễn thi hành, một số nguyên tắc về trình tự, thủ tục công chứng còn thiếu và chưa đầy đủ. Một số quy định pháp luật nội dung trong Bộ luật Dân sự và các văn bản có liên quan chưa cụ thể cũng dẫn đến những khó khăn trong hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ công chứng.

2.2.3. Thực hiện pháp luật trên một số lĩnh vực quản lý tổ chức hành nghề công chứng Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước với nghề công chứng

2.2.3.1. Quản lý việc thành lập, chuyển đổi, giải thể Phòng công chứng

Trong những năm qua hoạt động công chứng của các PCC diễn ra sôi nổi trên khắp địa bàn cả nước, nhất là các tỉnh, thành phố. Trước khi LCC có hiệu lực pháp luật, tại tỉnh Phú Yên việc công chứng, chứng thực do PCC số 1 tỉnh Phú Yên cùng với UBND cấp huyện thực hiện. Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập: chưa phân biệt rõ ràng về hoạt động công chứng và hoạt động chứng thực; tổ chức công chứng theo mô hình công chứng nhà nước do ngân sách nhà nước bao cấp; sự quá tải về công chứng, chứng thực tại PCC số 1 tỉnh Phú Yên và UBND cấp huyện dẫn đến chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu của cá nhân, tổ chức.

Cùng với quá trình xã hội hóa công chứng, trên địa bàn tỉnh Phú Yên ngày càng nhiều VPCC được thành lập mới. Với sức cạnh tranh lớn về chất lượng phục vụ từ các VPCC, PCC số 1 tỉnh Phú Yên đều chủ động rà soát, đơn giản hóa một số thủ tục hành chính trong lĩnh vực công chứng nhằm phục vụ người dân tốt hơn, giảm bớt được vấn đề quan liêu, cửa quyền như trước đây. Các giấy tờ, quy trình giải quyết cũng như phí, thù lao đối với từng loại việc công chứng được niêm yết công khai. PCC số 1 tỉnh Phú Yên đều ban hành nội quy, quy chế làm việc, chủ động ứng dụng công nghệ thông tin vào giải quyết công việc. Với đội ngũ công chứng viên nhiều kinh nghiệm cộng với uy tín đã được tích lũy qua nhiều năm, PCC vẫn giữ được số lượng hợp đồng, giao dịch đều đặn, đặc biệt là các hợp đồng có giá trị lớn như chuyển nhượng mua bán bất động sản, thế chấp bảo lãnh…; bảo đảm giải quyết nhanh chóng, đúng pháp luật đáp ứng kịp thời yêu cầu công chứng hợp pháp, chính đáng của tổ chức và công dân.

Qua thực tiễn hoạt động, có thể nhận thấy những yếu tố khách quan ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động công chứng của PCC số 1 tỉnh Phú Yên đó là tính cạnh tranh cao trong nội bộ ngành công chứng: Thực hiện xã hội hóa công chứng trên địa bàn tỉnh Phú Yên, đến đầu năm 2013, UBND tỉnh Phú Yên đã cho phép thành lập và cấp phép hoạt động cho 0 5 VPCC, điều này đã có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của PCC số 1 tỉnh Phú Yên.

Trước đây chỉ có các PCC hoạt động thì người dân, tổ chức kinh tế không có nhiều sự lựa chọn nơi công chứng theo ý muốn của mình, tuy nhiên hiện nay, khách hàng có thể đến bất kỳ tổ chức HNCC nào mà họ muốn. Rõ ràng, về phía người yêu cầu công chứng, họ có lợi thế hơn, họ được phục vụ tốt hơn; còn về phía tổ chức HNCC cần phải thay đổi phong cách làm việc để chuyên nghiệp hơn, lịch sự hơn, vui vẻ hơn trong giao tiếp với khách hàng.

Để tiếp tục thực hiện chủ trương xã hội hoá hoạt động công chứng, giảm về đầu tư ngân sách, nguồn nhân lực của Nhà nước, phát triển mạnh VPCC, nhất là đối với tỉnh Phú Yên, điều kiện là tỉnh đang phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo hài hoà lợi ích của Nhà nước và viên chức, người lao động đang làm việc tại PCC được chuyển đổi, tiến tới chỉ còn một hình thức tổ chức HNCC là VPCC, Điều 21 LCC năm 2014 quy định về việc chuyển đổi PCC thành VPCC khi không cần thiết duy trì PCC. Trong trường hợp không cần thiết duy trì PCC thì Sở Tư pháp lập đề án chuyển đổi PCC thành VPCC trình UBND cấp tỉnh xem xét, quyết định. Trường hợp không có khả năng chuyển đổi PCC thành VPCC thì Sở Tư pháp lập đề án giải thể PCC trình UBND cấp tỉnh xem xét, quyết định.

Tỉnh Phú Yên có một PCC là PCC số 1 tỉnh Phú Yên, do tình hình không đủ biên chế cho PCC hoạt động nên tỉnh Phú Yên không thành lập mới, không thực hiện chuyển đổi PCC. Căn cứ quy định tại Điều 21 LCC năm 2014 và Nghị định số 55/2012/NĐ-CP ngày 28/6/2012 của Chính phủ quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập cũng như tình hình thực tế hoạt động của PCC số 1 tỉnh Phú Yên. Năm 2016 Sở Tư pháp đã tham mưu UBND giải thể PCC số 1 tỉnh Phú Yên trực thuộc Sở Tư pháp.

2.2.3.2. Quản lý việc thành lập, đăng ký và thay đổi nội dung đăng ký hoạt động của Văn phòng công chứng Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước với nghề công chứng

UBND tỉnh Phú Yên đã ra Quyết định số 53/2015/QĐ-UBND ngày 20/11/2015, ban hành Quy định tiêu chí xét duyệt hồ sơ đề nghị thành lập VPCC của công chứng viên trên địa bàn tỉnh Phú Yên. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 01/12/2015. Việc xét duyệt cho thành lập VPCC phải bảo đảm theo nguyên tắc công khai, minh bạch, khách quan và đúng quy định. Hồ sơ phải phù hợp theo Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức HNCC đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh Phú Yên và chỉ xét duyệt đối với những hồ sơ đủ điều kiện số điểm do UBND tỉnh yêu cầu.

Nhằm phát triển tổ chức HNCC theo lộ trình xã hội hoá, Sở Tư pháp đã tham mưu UBND tỉnh ban hành Quyết định số 1840/QĐ-UBND ngày 12/11/2008 phê duyệt Đề án thành lập và phát triển các tổ chức HNCC trên địa bàn tỉnh Phú Yên đến năm 2015 với 18 VPCC, đảm bảo các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh đều có VPCC; đến nay, đã ra quyết định thành lập và cấp giấy đăng ký hoạt động cho 05 VPCC thành lập theo quy định của pháp luật. Cho phép Văn phòng công chứng Thành Phố chuyển đổi thành Văn phòng công chứng Nguyễn Thu được tổ chức và hoạt động theo loại hình công ty hợp danh.

2.2.3.3. Quản lý việc hợp nhất, sáp nhập, chuyển nhượng Văn phòng công chứng Đây là những quy định hoàn toàn mới của LCC năm 2014 so với LCC

năm 2006. UBND cấp tỉnh là cơ quan có thẩm quyền xem xét việc hợp nhất, sáp nhập, chuyển nhượng VPCC tại địa phương mình quản lý. Đặc biệt, đối với việc chuyển nhượng chuyển nhượng VPCC, LCC năm 2014 đã quy định khá chặt chẽ về điều kiện của công chứng viên nhận chuyển VPCC, cụ thể: Khoản 2 Điều 29 quy định: “Công chứng viên nhận chuyển nhượng VPCC phải đáp ứng các điều kiện sau đây: Đã hành nghề công chứng từ 02 năm trở lên đối với người dự kiến sẽ tiếp quản vị trí Trưởng VPCC; Cam kết hành nghề tại VPCC mà mình nhận chuyển nhượng; Cam kết kế thừa quyền và nghĩa vụ của VPCC được chuyển nhượng”. Và một điểm đáng lưu ý là công chứng viên đã chuyển nhượng VPCC không được phép tham gia thành lập VPCC mới trong thời hạn 05 năm kể từ ngày chuyển nhượng. Tuy nhiên, từ khi LCC năm 2014 có hiệu lực đến nay, tại tỉnh Phú Yên chưa xảy ra việc hợp nhất, sáp nhập, chuyển nhượng VPCC.

2.2.3.4. Quản lý việc thu hồi quyết định thành lập và chấm dứt hoạt động của Văn phòng công chứng Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước với nghề công chứng

Tỉnh Phú Yên đã hoàn thành việc chuyển đổi VPCC do một công chứng viên thành lập thành VPCC có từ hai công chứng viên hợp danh trở lên. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, quá trình triển khai thi hành LCC năm 2014 cũng đã phát sinh một số vướng mắc, bất cập, trong đó có quy định về chuyển đổi VPCC. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 79 của LCC năm 2014 thì trong thời hạn 24 tháng kể từ ngày Luật có hiệu lực thi hành (ngày 01/01/2015), VPCC do một công chứng viên thành lập phải chuyển đổi thành VPCC được tổ chức và hoạt động theo loại hình công ty hợp danh. VPCC do một công chứng viên thành lập không hoàn thành việc chuyển đổi đúng thời hạn thì bị thu hồi quyết định cho phép thành lập, giấy đăng ký hoạt động. Vì vậy trên địa bàn tỉnh không xảy ra trường hợp thu hồi quyết định thành lập và chấm dứt hoạt động của VPCC.

Đánh giá chung về thực hiện pháp luật trên một số lĩnh vực quản lý tổ chức HNCC ở tỉnh Phú Yên hiện nay:

Ưu điểm.

Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của dân, do dân và vì dân, Đảng đã chủ trương khuyến khích các tổ chức và cá nhân có đủ điều kiện tham gia vào việc cung ứng dịch vụ công cho xã hội. Nghị quyết Đại hội X của Đảng chỉ rõ: “Xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách bảo đảm cung ứng dịch vụ công cộng thiết yếu, bình đẳng cho mọi người dân”… “Đổi mới cơ chế quản lý và phương thức cung ứng các dịch vụ công cộng”, “… phát huy tiềm năng, trí tuệ và các nguồn lực vật chất trong nhân dân, của toàn xã hội để cùng nhà nước giải quyết các vấn đề xã hội và chăm lo phát triển các dịch vụ công cộng”.

Qua 10 năm thực hiện Luật Công chứng, chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng đạt nhiều kết quả tích cực. Số lượng tổ chức HNCC và công chứng viên tăng về số lượng. Các VPCC phát triển đã giảm áp lực lên bộ máy nhà nước, tạo sự cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động công chứng. Thực tế hoạt động công chứng thời gian qua đã chứng minh, chủ trương xã hội hóa công chứng là đúng đắn, tạo điều kiện cho việc phát triển mạnh loại hình dịch vụ pháp lý chuyên nghiệp này.

Hoạt động của các tổ chức HNCC đã và đang được phát triển theo hướng chuyên nghiệp hóa, đã được xã hội hóa, dịch vụ hóa, thể hiện ở tốc độ phát triển của các VPCC. Hơn 10 năm triển khai LCC đến nay cả nước đã có 964 tổ chức HNCC, bao gồm 139 PCC và 825 VPCC. Trong số 825 VPCC thì có 647 VPCC có từ hai công chứng viên hợp danh trở lên (chiếm khoảng 78% tổng số VPCC). Như vậy, còn 178 VPCC do một công chứng viên thành lập (khoảng 22%) chưa hoàn thành việc chuyển đổi theo quy định của LCC năm 2014. Việc phát triển các VPCC đã góp phần phục vụ kịp thời nhu cầu công chứng ngày càng tăng, trong khi không đòi hỏi sự đầu tư về ngân sách và biên chế của nhà nước. Kết quả hoạt động công chứng còn góp phần đáng kể thực hiện chủ trương cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực này. Một trong những điểm đổi mới căn bản, quan trọng hàng đầu của LCC năm 2014 và Nghị định 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 là việc tách bạch và phân biệt rõ về bản chất, chức năng, nhiệm vụ, đối tượng và nguyên tắc hoạt động của công chứng và chứng thực. Công chứng từ chỗ được hiểu như một hoạt động mang tính chất thủ tục hành chính đơn thuần thì nay được coi là một nghề, một ngành chuyên môn sâu có chức năng bảo đảm sự an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch, đặc biệt là các hợp đồng, giao dịch về bất động sản. Vì vậy, số lượng các hợp đồng, giao dịch được thực hiện tại các tổ chức hành nghề công chứng tăng cao hơn so với trước khi thực hiện Luật, các hợp đồng, giao dịch tăng không chỉ về số lượng mà cả tính phức tạp với giá trị hợp đồng lớn, nhiều hợp đồng có yếu tố nước ngoài…

Việc xã hội hóa ngành công chứng bằng việc ra đời của VPCC, đã khiến người dân ít bị ‘hành’ hơn thời công chứng nhà nước còn độc quyền. Để thu hút khách hàng, nhiều đơn vị công chứng tư đã có nhiều nỗ lực trong việc đưa ra những dịch vụ hỗ trợ khách hàng như công chứng tại nhà, công chứng ngoài giờ làm việc, ngày nghỉ. Từ đó, gây áp lực cạnh tranh đối với PCC và buộc các PCC phải nâng cao hơn nữa hiệu quả phục vụ của mình. Vì vậy, mở rộng hoạt động VPCC trong thời gian tới là hướng phát triển cần thiết.

Để LCC năm 2014 thực sự đi vào thực tiễn cuộc sống, tỉnh Phú Yên và các địa phương khác đã cho phép thành lập các VPCC thực hiện chủ trương xã hội hoá cần nhấn mạnh rằng, xã hội hoá hoạt động công chứng không nên hiểu là chuyển công chứng nhà nước thành công chứng tư nhân. Mô hình VPCC quy định trong LCC không phải là VPCC tư nhân. Đã là công chứng thì đều nhân danh Nhà nước. Cũng không nên quan niệm VPCC được tổ chức theo mô hình doanh nghiệp có nghĩa là chuyển hoạt động công chứng theo hướng kinh doanh thu lợi nhuận. Việc thu phí tại các VPCC và PCC đều được Nhà nước quy định chung, chứ không phải theo thoả thuận giữa công chứng viên với người yêu cầu công chứng. Hơn thế nữa, việc thành lập các VPCC cũng không theo kiểu tự do thành lập doanh nghiệp mà phải theo quy hoạch, kế hoạch của cơ quan có thẩm quyền ở địa phương. Các VPCC xã hội hoá bước đầu hoạt động có hiệu quả, góp phần giảm tải cho các PCC nhà nước và nâng cao chất lượng phục vụ, đáp ứng nhu cầu công chứng của xã hội công dân hiện đại.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, trong quá trình triển khai LCC cũng bộc lộ những khó khăn trong việc thực hiện LCC. Vì vậy, để làm tốt hơn nữa công tác công chứng, cần xây dựng và hoàn thiện thể chế về công chứng, nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung LCC nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập, tạo cơ sở pháp lý và phù hợp hơn cho phát triển hoạt động công chứng theo hướng chuyên nghiệp hóa; để điều chỉnh toàn diện hoạt động này.

Hạn chế.

Bên cạnh những mặt đạt được, tổ chức và hoạt động công chứng hiện nay cũng còn nhiều bất cập, nhiều quy định chưa đi vào cuộc sống như: Sự phát triển tổ chức HNCC chưa có quy hoạch tổng thể, hợp lý trên cả nước và trên từng địa phương, hiện mới chỉ có 49 địa phương trên cả nước có VPCC, còn lại 14 địa phương chưa có VPCC. Việc tổ chức thực hiện giữa công chứng và chứng thực theo quy định của LCC năm 2014 và Nghị định 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ gặp nhiều khó khăn như một phần do vấn đề luật còn quá mới, do nhận thức, thực hiện chưa tốt, phần khác do thiếu quy hoạch và định hướng phát triển tổ chức HNCC; một bộ phận nhân dân chưa nhận thức rõ tầm quan trọng và lợi ích của công chứng đối với việc chứng nhận các hợp đồng giao dịch; sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các tổ chức HNCC,…

Hạn chế đầu tiên được kể đến đó là tỉnh Phú Yên là một địa bàn nhỏ và kinh tế phát triển ở mức trung bình so với cả nước. Ví dụ như việc giao dịch bất động sản ở tỉnh Phú Yên, trước đây phải có hộ khẩu tỉnh Phú Yên mới được đứng tên đăng ký quyền sử dụng đất với mục tiêu là hạn chế việc mua bán chuyển nhượng đất ở tỉnh, vì thế dẫn đến một thực tế là người giao dịch thực phải nhờ người khác đứng tên, hoặc phải chứng minh với rất nhiều điều kiện đi kèm thì việc phát sinh tranh chấp là chuyện dễ hiểu. Cho đến năm 2010 UBND tỉnh Phú Yên mới bỏ quy định này. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước với nghề công chứng

Trình độ của cán bộ và bản thân cả công chứng viên còn nhiều hạn chế. Dẫn đến tình trạng bản thân cán bộ kiểm tra trình độ nghiệp vụ cũng không đạt chuẩn, nên chưa phát huy được việc thanh kiểm tra, chưa kịp thời phát hiện được những sai phạm. Trong khi đó, số lượng công chứng viên được chuyển đổi sang gần như là trình độ còn thiếu và yếu. Dù là bản thân, những cán bộ đó công tác tại các ngành như kiểm sát, tòa án, luật sư… nhưng lĩnh vực công chứng là một lĩnh vực hoàn toàn khác. Đòi hỏi công chứng viên phải có một trình độ toàn diện, cùng với một hiểu biết nhất định. Chỉ đơn giản như việc phân biệt giấy tờ tùy thân, hay vấn đề hộ gia đình, mỗi tổ chức HNCC làm theo một cách dẫn đến tình trạng là không làm được tổ chức HNCC thì đến tổ chức HNCC khác làm, đến khi phát hiện được vi phạm thì đã không thể khắc phục được hậu quả.

Hệ thống pháp luật còn chồng chéo, mâu thuẫn dẫn đến tình trạng luật thì không có giá trị bằng những hướng dẫn liên ngành. Điều này là điều cản trở rất nhiều sự phát triển chung của công chứng, nhất là khi Việt Nam đang dần bước vào sân chơi chung của thế giới.

Theo Khoản 1 Điều 44 LCC năm 2014 quy định về địa điểm công chứng: “Việc công chứng phải thực hiện tại trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng”. Cũng theo điều luật này quy định tại Khoản 2: “Việc công chứng có thể được thực hiện ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng trong trường hợp người yêu cầu công chứng là người già yếu không thể đi lại được, người đang bị tạm giữ, tạm giam, đang thi hành án phạt tù hoặc có lý do chính đáng khác không thể đến trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng”. Luật quy định vậy, nhưng công chứng viên tại VPCC Phú Yên đã cố tình làm trái, tạo ra một cuộc cạnh tranh thiếu lành mạnh trong hoạt động công chứng. Bằng chứng tại địa chỉ 247 Nguyễn Huệ, phường 5, thành phố

Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên để chứng nhận 2 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông bà Lê Trung K – Phạm Thị L ở thôn Phước Khánh, xã Hòa Trị, huyện Phú Hòa với bà Nguyễn Thị L ở hẻm 11 Lê Lợi, phường 5, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên. Trong phần lời chứng tại số công chứng 303 và 304, Quyển số 01/TP/CC-SCC/HĐGD ghi rõ địa điểm công chứng nêu trên, chứ không phải nơi VPCC Phú Yên có trụ sở giao dịch. Qua xác minh, địa điểm công chứng viên đã công chứng dạo là Văn phòng luật sư Dân Ý. Tương tự như thế, ngày 26/4, công chứng viên Nguyễn Trung Đoàn mang con dấu đi công chứng dạo theo số công chứng 200/CNHĐ 2010 tại một địa chỉ nhà riêng trên đường Lê Lợi, phường 3, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên. Mặc dù địa điểm công chứng là nhà riêng của vợ chồng bà Dương Thị T.T, nhưng tại thời điểm công chứng, các bên đương sự không phải là đối tượng được “ưu tiên” theo quy định tại Khoản 2 Điều 39 LCC năm 2014. Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên khẳng định việc mang con dấu đi công chứng dạo cho các trường hợp nêu trên đều trái pháp luật. Vì vậy Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên cần sớm chỉ đạo kiểm tra hoạt động công chứng tư ở VPCC Phú Yên để phát hiện, xử lý và đấu tranh ngăn chặn tình trạng này, tuy nhiên cho đến nay tình trạng này vẫn diễn ra trên địa bàn tỉnh Phú Yên.

Trình độ dân trí hiểu biết về pháp luật của người dân còn kém, làm gì cũng chủ yếu dựa vào tình cảm, quen biết, mà không hiểu là luật quy định như thế nào, đơn giản như việc chuyển quyền sử dụng đất, nhà ở chỉ được chuyển khi có Giấy chứng nhận quyền sử dụng, còn chưa có Giấy chứng nhận thì VPCC không thể công chứng được việc chuyển nhượng đó. Dân không hiểu cho rằng công chứng viên gây khó dễ, phiền hà.

Để thực hiện được mục tiêu hoàn thiện hệ thống pháp luật, quản lý, tổ chức thực hiện đối với các tổ chức HNCC đã đưa ra các hoạt động và giải pháp như: điều tra, khảo sát, đánh giá về tổ chức và hoạt động của các tổ chức

HNCC trong phạm vi cả nước; khảo sát, trao đổi, học tập kinh nghiệm xây dựng quy hoạch phát triển tổ chức HNCC ở nước ngoài; xây dựng, ban hành các tiêu chí xây dựng quy hoạch tổ chức HNCC ở địa phương và hướng dẫn các địa phương xây dựng quy hoạch; xây dựng quy hoạch phát triển tổ chức HNCC ở các tỉnh, thành phố trực trung ương và cuối cùng là xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức HNCC ở Việt Nam.

Nguyên nhân của hạn chế.

Có thể nói nguyên nhân trước tiên là đa dạng về thể loại văn bản và khổng lồ về số lượng văn bản quy phạm pháp luật. Nếu kể cả các văn bản pháp luật do các cấp chính quyền địa phương ban hành thì con số này sẽ rất đồ sộ. Hơn nữa, do có quá nhiều loại văn bản, được nhiều cấp ban hành, nhưng lại thiếu cơ chế cân nhắc toàn diện các lĩnh vực pháp luật khác nhau, nên mâu thuẫn và chồng chéo là khó tránh khỏi. Tính cồng kềnh, sự tồn tại các bất cập và mâu thuẫn làm giảm tính minh bạch của pháp luật, khiến cho pháp luật trở nên phức tạp, khó hiểu và khó áp dụng và vì thế, kém hiệu lực.

Với hệ thống pháp luật như vậy, việc áp dụng, thực hiện không hề dễ dàng đối với cán bộ pháp luật có trình độ, chưa nói đến các doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân.

Trong khi đó, QLNN bằng pháp luật đối với hoạt động công chứng còn mới và nhiều bất cập. Hiện tượng buông lỏng QLNN bằng pháp luật đã dẫn đến phát sinh tiêu cực và cạnh tranh không lành mạnh. Tổ chức thực hiện áp dụng pháp luật với các tổ chức HNCC còn quá nhiều điều bất cập, luật trên thực tế không được coi trọng bằng văn bản dưới luật như các hướng dẫn của các đơn vị như Sở Tư pháp. Dẫn đến tình trạng luật vẫn chỉ là luật còn thực tiễn thì xa vời. Đây cũng là điểm cần phải khắc phục kịp thời, để hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và xây dựng nhà nước pháp quyền nói riêng.

2.2.4. Thực hiện pháp luật về thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm đối với các tổ chức hành nghề công chứng Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước với nghề công chứng

Sau 10 năm kể từ khi LCC năm 2006 có hiệu lực, hoạt động của các tổ chức HNCC đã bộc lộ khá nhiều bất cập. Trong đó đáng kể là sự non kém về nghiệp vụ và kinh nghiệm của không ít công chứng viên dẫn đến tình trạng ẩu, ký xác thực mà không đọc kỹ văn bản, không thẩm định, xác minh tài sản, nhân thân của người ký hợp đồng giao dịch. Kết quả là có nhiều bản bị cơ quan chức năng trả lại, không chấp thuận hoặc gây ra tranh chấp trong giao dịch hợp đồng. Hệ thống các tổ chức HNCC thiếu sự liên kết thông qua mạng nội bộ để chia sẻ thông tin, không có cơ sở dữ liệu chung để kiểm soát thực trạng các hợp đồng… Do vậy, đã có trường hợp một căn nhà đem bán cho hai người, mang đi công chứng hợp đồng tại 2 tổ chức HNCC khác nhau, một tài sản đem thế chấp, bảo lãnh ở nhiều người, nhiều nơi, người đã chết nhưng vẫn “giao dịch”, công chứng cho người có tài sản đã bị cưỡng chế, kê biên, bán đấu giá thành, ký kết hợp đồng bán đấu giá thành trước khi tổ chức bán đấu giá tài sản, công chứng hợp đồng có mục đích, nội dung vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội, công chứng hợp đồng chuyển nhượng dựa trên hợp đồng ủy quyền giả, công chứng hợp đồng giao dịch không đúng người yêu cầu công chứng (do công chứng viên chấp nhận giấy chứng minh nhân dân photo, do nhầm người, do chứng minh nhân dân giả…), công chứng hợp đồng cho người không đủ năng lực hành vi dân sự… gây hậu quả pháp lý rất nghiêm trọng. Ngoài ra, chưa kể tới chuyện thù lao tại các tổ chức HNCC này, mỗi nơi quy định một kiểu. Thậm chí, trước đây còn xảy ra hiện tượng tranh chấp giữa những người góp vốn cùng công chứng viên để mở VPCC khiến dư luận xã hội rất quan tâm… Do đó, có thể nói QLNN bằng pháp luật trong giai đoạn hiện nay phải cần được tăng cường hơn nữa, trong đó thanh tra với vai trò là một khâu thiết yếu trong quản lý hành chính nhà nước cũng cần phải được tăng cường. Thanh tra nhằm mục đích đưa hoạt động đạt được các mục tiêu mà Nhà nước đã đề ra. Qua thanh tra sẽ rà soát, đánh giá được thực trạng về tổ chức, hoạt động; nắm bắt được những bất cập, mâu thuẫn, khó khăn, vướng mắc về nghiệp vụ cũng như phát hiện được những vi phạm pháp luật trong hoạt động, từ đó có kết luận, kiến nghị cụ thể để cấp có thẩm quyền kịp thời xem xét, có biện pháp chấn chỉnh về tổ chức, hoạt động; sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật, giải quyết kịp thời những vướng mắc về nghiệp vụ, xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm pháp luật, từng bước đưa công tác vào nề nếp.

Để tăng cường công tác QLNN về công chứng, đòi hỏi các ngành, các cấp phải phối hợp đồng bộ những cơ quan thanh tra chuyên ngành Tư pháp phải là lực lượng chủ công, nòng cốt và là chủ thể chính trong việc xử phạt vi phạm hành chính.

Cơ sở pháp lý để xử lý vi phạm hành chính: Vào những năm đầu của thập kỷ 90, các quy định của Pháp lệnh Xử lý Vi phạm Hành chính năm 1995 và các văn bản pháp luật có liên quan mới chỉ dừng lại ở mức quy định có tính chất định hướng cho việc xử phạt vi phạm hành chính. Thời điểm đó, chưa có quy định chi tiết và hướng dẫn cụ thể để tiến hành xử phạt các vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp nói chung, trong hoạt động nói riêng. Sau khi Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh) ra đời, thay thế Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 1995, Nghị định số 134/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh được ban hành và Nghị định số 76/2006/NĐ, Nghị định số 60/2009/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp được ban hành đã cụ thể hoá các hành vi bị xử phạt trong lĩnh vực Tư pháp. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động công chứng hiện nay được quy định cụ thể từ Điều 65, 66, 67 của Nghị định 67/2015/NĐ-CP bao gồm: cơ quan thanh tra Tư pháp, cơ quan công chứng, UBND các cấp và người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài. Đây là văn bản tạo cơ sở pháp lý chi tiết, cụ thể nhất và trực tiếp cho việc tiến hành xử phạt các hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động công chứng. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước với nghề công chứng

Phải kể đến một loạt các văn bản quan trọng khác liên quan đến những quy định về xử phạt vi phạm hành chính như Luật Thanh tra năm 2010, Nghị định số 54/2014/NĐ-CP quy định về tổ chức và hoạt động của Thanh tra ngành Tư pháp quy định tại Điều 20: “Nội dung thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực công chứng Thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về:

Thủ tục đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm công chứng viên tại Sở Tư pháp; tạm đình chỉ hành nghề công chứng; hoạt động của Phòng công chứng; thành lập Văn phòng công chứng, cấp giấy đăng ký hoạt động cho Văn phòng công chứng; thu hồi giấy đăng ký hoạt động, quyết định cho phép thành lập Văn phòng công chứng.

Tập sự hành nghề công chứng; việc thực hiện công chứng của công chứng viên; đăng ký hoạt động của Văn phòng công chứng; đăng ký thay đổi nội dung đăng ký hoạt động của Văn phòng công chứng; đăng báo nội dung đăng ký hoạt động của Văn phòng công chứng; hoạt động của Văn phòng công chứng; chấm dứt hoạt động của Văn phòng công chứng; thủ tục công chứng hợp đồng, giao dịch; lưu trữ hồ sơ công chứng; phí công chứng, thù lao công chứng; việc thực hiện các quy định khác của pháp luật về công chứng”, ngoài ra còn có Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 và các văn bản có liên quan khác.

Ưu điểm của việc thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm đối với các tổ chức HNCC trên địa bàn Phú Yên:

Qua công tác kiểm tra, kiểm tra xử lý vi phạm đã kịp thời phát hiện được những kẽ hở của pháp luật gắn liền với hoạt động công chứng, hoạt động tội phạm một cách tinh vi, như tín dụng đen, cho vay nặng lãi, giả mạo giấy tờ, mà theo cảm quan của công chứng viên thì không thể nhận biết hết được đâu là văn bản thực. Vì sự giả mạo quá tinh vi, với mặt thường nhận biết là hơi khó. Hơn thế giữa các tổ chức HNCC không có sự phối kết hợp để có thể làm giảm thiểu những sự vi phạm pháp luật. Tội phạm đã tìm ra được kẽ hở của LCC, biến công chứng viên thành công cụ để đạt được mục tiêu một cách công khai.

Qua công tác thanh tra, kiểm tra bước đầu đã đánh giá được tình trạng tuân thủ pháp luật công chứng của các tổ chức HNCC hiện hành, qua đó thấy được khó khăn vướng mắc của các tổ chức HNCC, để điều chỉnh các quy định pháp luật cho phù hợp với thực tiễn. Với xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp nói chung, trong hoạt động công chứng nói riêng là một trong những chế định quan trọng của pháp luật nhằm góp phần bảo đảm an toàn pháp lý trong hoạt động. Với mục đích của thanh tra là nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật, kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có biện pháp khắc phục; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý Nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước với nghề công chứng

Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên trong thời gian gần đây đã ra quyết định thanh tra toàn diện việc chấp hành pháp luật về công chứng tại 05 VPCC trên địa bàn tỉnh. Đoàn thanh tra đã làm việc từ ngày 10/12/2016 đến hết tháng 01/2017, tập trung làm rõ việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của công chứng viên và VPCC. Bên cạnh đó, đoàn sẽ xem xét kỹ các vấn đề như thu phí công chứng, thù lao công chứng, lưu trữ hồ sơ, giải quyết khiếu nại về công chứng… Đơn vị bị thanh tra đầu tiên là VPCC Phú Yên, tiếp đó là các VPCC Thành Phố, VPCC Luật Việt, … Qua đó, Sở Tư pháp sẽ kịp thời chấn chỉnh thiếu sót và xử lý các vi phạm, phát hiện những sơ hở trong quy định của Nhà nước về công chứng để kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền các biện pháp khắc phục. Sở Tư pháp cũng đã tiếp tục kiểm tra hoạt động VPCC Sông Cầu và VPCC Đông Hòa vào tháng 03/2017. Đã đưa ra những cảnh báo về một loại tội phạm mới liên quan đến lĩnh vực công chứng.

Hạn chế của việc thanh tra, xử lý vi phạm đối với các tổ chức HNCC tại tỉnh Phú Yên:

Mô hình VPCC mới ra đời khoảng 10 năm, với một loại mô hình mới, gần như Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp, UBND còn nhiều điều chưa có nội dung kiểm tra thanh tra phù hợp, nội dung kiểm tra một cách chung chung, với tỉnh Phú Yên văn bản quản lý không theo kịp nên thanh tra kiểm tra cũng bị hạn chế phần nào.

Với việc thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm với các tổ chức HNCC còn nhiều bất cập, bản thân những cán bộ kiểm tra yếu, kém về trình độ nên có thanh tra kiểm tra nhiều khi cũng chỉ mang tính hình thức, thiếu cán bộ chuyên môn, chuyên trách.

Tuy nhiên, trên thực tế việc xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động công chứng vẫn chưa thực sự đi vào đời sống xã hội, chưa đáp ứng được mục tiêu đặt ra là răn đe, phòng ngừa vi phạm để từ đó nâng cao hiệu lực QLNN. Cho đến nay, các địa phương thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn xử phạt phạm hành chính trong hoạt động tư pháp chưa nhiều; cơ quan thanh tra chuyên ngành tư pháp còn rất ít khi thực hiện thẩm quyền đó. Thực tiễn, khi phát hiện hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động công chứng, một số người có thẩm quyền còn nhiều lúng túng khi vận dụng các quy định của pháp luật để xử phạt. Trong khi đó, ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận lớn những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các hoạt động còn chưa cao. Để góp phần đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn; đưa những quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động vào thực tiễn đời sống xã hội.

Các văn bản pháp luật còn chồng chéo mâu thuẫn, nên việc áp dụng luật phụ thuộc rất nhiều vào thiện chí của cán bộ kiểm tra. Gần như lĩnh vực thanh tra, kiểm tra với các tổ chức HNCC tại tỉnh Phú Yên thời gian qua vẫn bỏ ngỏ, các VPCC hoạt động một cách tự phát, bừa bãi thiếu khoa học, thậm chí thực hiện LCC không đúng quy định.

Nguyên nhân của việc thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm đối với các tổ chức HNCC chưa hiệu quả:

Nguyên nhân trước hết được đặt ra là trong thời gian qua, các đợt kiểm tra, thanh tra được thực hiện ra những vi phạm trong hoạt động VPCC, với số lượng VPCC như hiện nay việc kiểm tra càng trở nên khó khăn hơn. Đối với hệ thống các PCC nằm trong hệ thống nhà nước công chứng viên là công chức nhà nước thì việc thanh tra kiểm tra hoạt động công chứng được thực hiện tương tự như đối với các cơ quan hành chính nhà nước khác. Còn đối với hệ thống các VPCC việc kiểm tra thanh tra cần có một cơ chế phù hợp. Bản thân các hoạt động thanh tra, kiểm tra dịch vụ công chứng ở nước ta hiện nay cũng chưa có được khung chế tài đủ mạnh. Chúng ta lại chưa có cơ chế đặc thù cho việc thanh tra, kiểm tra các văn bản công chứng, sản phẩm nghề nghiệp của công chứng viên, thủ tục, trình tự hủy hiệu lực của một văn bản công chứng hay tạm đình chỉ việc thực hiện văn bản này vẫn chưa quy định rõ…. Vì thế mà hoạt động thanh tra, kiểm tra đối với hoạt động công chứng chưa phát huy hết. Công tác kiểm tra trong trường hợp chỉ dừng lại ở mức độ kiểm tra hành chính, thu nhập thông tin, ghi nhận những phản hồi từ các phía các tổ chức HNCC và giải quyết các vụ việc đã xảy ra, do PCC không bị kiểm tra định kỳ, thực tế có những sai sót, yếu kém hoặc vi phạm nhưng không được phát hiện và xử lý kịp thời. Công chức năng lực yếu kém nhưng vẫn tiếp tục làm việc. Các cơ quan quản lý không chỉ ra cho công chứng viên những sai sót, sai phạm của họ về thể thức, cách thức vận dụng pháp luật trong tư vấn và lập văn bản công chứng, những sai sót về kỹ thuật nghiệp vụ để rút kinh nghiệm, khắc phục những hạn chế, nhược điểm đó. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước với nghề công chứng

Cần thiết phải đổi mới hoạt động thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực công chứng. Có thể khẳng định thanh tra, kiểm tra là một trong những khâu quan trọng của quá trình quản lý. Không có thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực công chứng đồng nghĩa với việc không quản lý. Vậy muốn nâng cao hiệu quả trong quản lý nhà nước đối với lĩnh vực, với các tổ chức HNCC cần thiết phải xây dựng một hệ thống thanh tra, kiểm tra đủ mạnh đối với hoạt động công chứng. Đây cũng được coi là điều kiện kiên quyết đảm bảo hiệu quả của việc xã hội hóa dịch vụ công chứng. Do đó, việc xã hội hóa dịch vụ công chứng phải đi đôi với việc xây dựng được một đội ngũ thanh tra chuyên nghiệp để thanh tra, kiểm tra loại hình dịch vụ quan trọng này. Nhà nước cần xây dựng quy chế thanh tra, kiểm tra phù hợp với đặc thù của hoạt động công chứng. Bản chất của hoạt động công chứng vừa mang tính chất dịch vụ tư pháp vừa mang tính chất dịch vụ hành chính vì thế mà việc thanh tra, kiểm tra không chỉ là trách nhiệm của cơ quan quản lý hành chính nhà nước mà còn cần có sự tham gia của các chủ thể khác có liên quan. Trước hết có thể mở rộng trách nhiệm của hệ thống thanh tra nhà nước đối với hoạt động công chứng. Tiến tới là xây dựng đoàn thành tra có sự phối hợp tham gia của các cơ quan khác nhau với trách nhiệm được phân công với từng nhóm công tác. Đoàn thanh tra, kiểm tra có thể có quyền tạm đình chỉ thi hành một văn bản hoặc kiến nghị Tòa án nhân dân có thẩm quyền hủy bỏ giá trị pháp lý của một văn bản công chứng.

Tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm với tổ chức HNCC có vai trò nhất định trong việc phòng ngừa và hạn chế rủi ro, nên chăng thực hiện quản lý theo phương án:

Quản lý nhà nước bằng tiền kiểm:

Kiểm soát đầu vào: Chất lượng đào tạo, chuyên môn, kinh nghiệm công tác, phẩm chất đạo đức, năng lực công tác của người được bổ nhiệm làm công chứng viên. Tất cả những điều này nếu không được kiểm soát tốt sẽ là nguyên nhân tiềm ẩn rủi ro tranh chấp trong hoạt động công chứng do nhận thức về pháp luật không đầy đủ, do thiếu kinh nghiệm dẫn đến lỗi bất cẩn hoặc do không giữ được sự khách quan khi hành nghề.

Kiểm soát việc thành lập: Điều kiện, cơ sở vật chất, đội ngũ nhân sự,….

Mức độ độc lập và chỉ chịu trách nhiệm trước pháp luật của công chứng viên có thể bị ảnh hưởng nếu: Chủ đầu tư cơ sở vật chất là một hay nhiều người khác, công chứng viên với vai trò chỉ là người làm công và hưởng lương do chủ đầu tư trả thì việc đương nhiên công chứng viên phải có sự lệ thuộc vào chủ đầu tư ở một mức độ nhất định về mặt kinh tế. Nếu có sự xung đột giữa chủ đầu tư và công chứng viên thì việc ảnh hưởng đến tính ổn định, liên tục của hoạt động công chứng là khó tránh khỏi.

Quản lý nhà nước bằng hậu kiểm:

Các tổ chức HNCC được Nhà nước chuyển giao một phần quyền của Nhà nước để thực hiện chức năng của Nhà nước trong một lĩnh vực cụ thể là công chứng các hợp đồng giao dịch. Bên cạnh đó, chính là trách nhiệm và nghĩa vụ to lớn là phải thực hiện công chứng một cách đúng pháp luật, bảo đảm lợi ích của Nhà nước. Đồng thời, nhà nước cho phép các tổ chức HNCC được quyền thu phí công chứng và thù lao công chứng. Để đảm bảo hài hòa cả hai yếu tố trên Nhà nước đã có một loạt các công cụ biện pháp để đảm bảo việc thực thi. Nhưng trên thực tế, các biện pháp ngăn chặn của Nhà nước đối với loại mô hình này chưa kịp thời vì đây là loại hình tiềm ẩn loại tội phạm tinh vi.

2.3. Đánh giá chung về thực hiện pháp luật quản lý nhà nước đối với các tổ chức hành nghề công chứng ở Phú Yên hiện nay Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước với nghề công chứng

2.3.1. Những kết quả đạt được và nguyên nhân

Ngay sau khi LCC năm 2014 có hiệu lực, Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên đã chủ động, tích cực tham mưu cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh và thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về công chứng theo thẩm quyền. Sở đã tiếp nhận, thẩm định hồ sơ đề nghị thành lập VPCC và cấp Giấy đăng ký hoạt động đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Hàng năm, Sở Tư pháp đều ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, chấn chỉnh hoạt động công chứng, triển khai nhiệm vụ công tác công chứng; quy định chế độ thông tin, báo cáo, giao ban chuyên đề các tổ chức HNCC niêm yết công khai trình tự, thủ tục công chứng để đánh giá, kiểm điểm, trao đổi nghiệp vụ về hoạt động công chứng; yêu cầu các cán bộ làm công tác này thực hiện tư vấn và hướng dẫn, giải đáp cho người yêu cầu công chứng, lịch làm việc, nội quy công chứng, bảng thu phí, thù lao công chứng,….

Trung bình mỗi năm các tổ chức HNCC trên địa bàn tỉnh đã thực hiện trên 18.000 hợp đồng, giao dịch, trong đó công chứng hợp đồng chuyển quyền sử dụng tài sản liên quan đến đất đai và tài sản gắn liền với đất đai 15.462 trường hợp; công chứng hợp đồng sở hữu, quyền sử dụng tài sản khác trên 2.000 trường hợp; số phí thu được từ việc công chứng trên gần 5 tỷ đồng, nộp ngân sách Nhà nước gần 800 triệu đồng.

Cùng với sự phát triển nghề công chứng của cả nước nói chung, PCC số 1 tỉnh Phú Yên được thành lập và hoạt động từ ngày 01/4/2007, đây được xem là một trong những tổ chức HNCC được thành lập đầu tiên của tỉnh Phú Yên, cho đến nay đã gần 10 năm hoạt động, tập thể và viên chức của PCC số 1 tỉnh Phú Yên những năm đầu mới thành lập, lĩnh vực công chứng còn gặp nhiều khó khăn. Với đội ngũ cán bộ, công chứng viên tận tâm và đầy nhiệt huyết, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, hoàn toàn tự chủ về biên chế và tự đảm bảo chi phí hoạt động, hàng năm đều có tích lũy và tăng thu nhập cho người lao động, cũng như hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn, phục vụ kịp thời yêu cầu công chứng của các cá nhân và tổ chức. Tuy nhiên, hiện nay do không đủ biên chế về công chứng viên nên Sở Tư pháp tỉnh đã có đề án giải thể PCC số 1 tỉnh Phú Yên vào năm 2016.

Xác định rõ hoạt động công chứng đóng vai trò quan trọng trong quan hệ giao dịch dân sự của tổ chức, cá nhân phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, ngay sau khi LCC có hiệu lực thi hành, UBND tỉnh đã ban hành kế hoạch và các văn bản chỉ đạo các cấp, các ngành trong tỉnh triển khai tổ chức thi hành LCC với nhiều giải pháp đồng bộ. Từ đó, những năm qua, hoạt động công chứng trên địa bàn tỉnh đã có sự chuyển biến rõ nét cả về số lượng và chất lượng. Những kết quả đạt được trên lĩnh vực công chứng đã

đóng góp tích cực trong việc phát triển kinh tế – xã hội, góp phần thực hiện tốt công tác cải cách hành chính, cải cách tư pháp, tăng cường bảo đảm an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch của các cá nhân, tổ chức và ngày càng khẳng định chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng của Đảng và Nhà nước ta là hoàn toàn đúng đắn.

Nhằm phát triển tổ chức HNCC theo lộ trình xã hội hoá, Sở Tư pháp đã tham mưu UBND tỉnh ban hành Quyết định số 1840/QĐ-UBND ngày 12/11/2008 phê duyệt Đề án thành lập và phát triển các tổ chức HNCC trên địa bàn tỉnh Phú Yên đến năm 2015 với 18 VPCC, đảm bảo các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh đều có VPCC; đến nay, đã ra quyết định thành lập và cấp giấy đăng ký hoạt động cho 5 VPCC thành lập theo quy định của pháp luật. Có thể nói, hoạt động công chứng của các VPCC đã có những đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh nói riêng và cả nước nói chung, kịp thời đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về công chứng, chứng thực của nhân dân; đồng thời góp phần phục vụ quản lý Nhà nước, bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch dân sự, kinh tế của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, góp phần phòng ngừa tranh chấp, vi phạm pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Ngoài ra, các VPCC ra đời đã giải quyết cơ bản gánh nặng bao cấp của Nhà nước trong việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, biên chế…; phục vụ kịp thời cho các nhu cầu công chứng của tổ chức, công dân, đảm bảo quan hệ dịch vụ bình đẳng giữa công chứng viên và người yêu cầu công chứng; minh bạch hóa, đơn giản hóa trình tự, thủ tục công chứng, phát huy tính chủ động, tích cực của công chứng viên trong quá trình tác nghiệp, loại bỏ lối làm việc bàn giấy, độc quyền của công chứng viên.

Trước đây chỉ có PCC hoạt động thì người dân, tổ chức kinh tế không có nhiều sự lựa chọn nơi công chứng theo ý muốn của mình, tuy nhiên hiện nay, khách hàng có thể đến bất kỳ tổ chức HNCC nào mà họ muốn. Rõ ràng, về phía người yêu cầu công chứng, họ có lợi thế hơn, họ được phục vụ tốt hơn; còn về phía tổ chức HNCC cần phải thay đổi phong cách làm việc để chuyên nghiệp hơn, lịch sự hơn, vui vẻ hơn trong giao tiếp với khách hàng.

Thực tế, nhiều người dân vẫn tin tưởng vào “Phòng Công chứng nhà nước”, nhiều tổ chức, đặc biệt là các tổ chức tín dụng vẫn đặt niềm tin vào các PCC, nên đã yêu cầu phải công chứng các Hợp đồng thế chấp, cầm cố tại các PCC. Các tổ chức tín dụng này cho rằng, tại các PCC, công chứng viên có kinh nghiệm, có trách nhiệm và thường kiểm tra, “phản bác” lại các hồ sơ của tổ chức tín dụng cho vay khi thấy hồ sơ chưa rõ ràng, không đảm bảo pháp lý trước khi công chứng hợp đồng, đồng thời, với suy nghĩ “Phòng Công chứng là của Nhà nước, nên khả năng rủi ro thấp, và nếu có phát sinh tranh chấp thì cũng có Nhà nước đảm bảo”. Do đó, các tổ chức tín dụng cũng như người dân vẫn tin tưởng vào các PCC trong thời điểm hiện nay là điều dễ hiểu. Sự tồn tại của các PCC trong thời điểm hiện nay là không thể phủ nhận được đặc biệt là với tâm lý của người dân ở Việt Nam. Việc đến các cơ quan nhà nước thường đem đến cho người dân một sự an tâm, tin tưởng. Tuy nhiên với tình hình hoạt động của PCC không đủ biên chế nên Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên đã thanh mưu UBND tỉnh giải thể PCC số 1 tỉnh Phú Yên. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước với nghề công chứng

Như vậy, theo Báo cáo kết quả công tác Bổ trợ tư pháp năm 2016 và nhiệm vụ công tác năm 2017 của UBND tỉnh Phú Yên, đến tháng 3 năm 2017, toàn tỉnh có 05 tổ chức HNCC bao gồm 5 VPCC. Các tổ chức HNCC đã chủ động có những giải pháp để triển khai thực hiện LCC năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành, hoạt động công chứng từng bước được xã hội hóa trên địa bàn tỉnh Phú Yên, góp phần bảo đảm an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch, phục vụ kịp thời nhu cầu hợp pháp, chính đáng của tổ chức và người dân, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Người dân khi đến công chứng các hợp đồng giao dịch đã thấy hài lòng và tin tưởng hơn. Nạn sách nhiễu, quan liêu, cửa quyền của một số cán bộ được thay bằng sự tận tình, chu đáo, bởi với chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng thì thu nhập chính của công chứng viên phụ thuộc vào lượng khách hàng. Hoạt động công chứng trên địa bàn tỉnh có được kết quả đáng ghi nhận trước hết là nhờ sự lãnh đạo, chỉ đạo, tạo điều kiện của Bộ Tư pháp, của Tỉnh Ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh và sự nỗ lực, phấn đấu của cán bộ, công chức UBND, Sở Tư pháp và các tổ chức HNCC.

Thời gian qua, công tác triển khai, áp dụng LCC và QLNN về lĩnh vực công chứng của UBND tỉnh đã đạt được rất nhiều kết quả tích cực:

  • Ngay sau khi LCC có hiệu lực thi hành, UBND tỉnh đã tập trung tuyên truyền, phổ biến pháp luật về công chứng thông qua các cơ quan thông tấn, báo chí. Bên cạnh đó, UBND tỉnh giao Sở Tư pháp – Thường trực Hội đồng phối hợp công tác phổ biến và giáo dục pháp luật biên soạn Cuốn “Hỏi Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước với nghề công chứng
  • Đáp pháp luật về công chứng, chứng thực” phát hành đến các Sở, ban, ngành của tỉnh và các huyện, thị xã, thành phố; tổ chức các lớp Tập huấn về pháp luật, nghiệp vụ công chứng cho hàng trăm lượt công chứng viên, nhân viên nghiệp vụ, kế toán, thủ quỹ của các tổ chức HNCC; đặc biệt là các VPCC mới được thành lập. Báo cáo viên là các chuyên gia về pháp luật của Bộ Tư pháp, các công chứng viên có trình độ, kinh nghiệm, uy tín nghề nghiệp của các PCC trên địa bàn tỉnh. Cùng với sự tuyên truyền thường xuyên, liên tục, chất lượng hoạt động ngày càng được nâng cao của đa số các VPCC dẫn đến những nhận xét, đánh giá tích cực của xã hội về chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng.
  • Trên địa bàn tỉnh, nhờ có công tác quản lý nhà nước mà hoạt động công chứng ngày càng đi vào nề nếp, việc xã hội hóa tiếp tục được đẩy mạnh, góp phần tạo sự phát triển lành mạnh của các tổ chức HNCC, bảo đảm an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch, phục vụ ngày một tốt hơn nhu cầu hợp pháp, chính đáng của người dân, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. UBND tỉnh luôn chủ động bám sát các Chương trình, Kế hoạch công tác của Bộ Tư pháp để ban hành các văn bản nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về công chứng; chỉ đạo và tạo điều kiện để Sở Tư pháp đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý, điều hành tại Sở Tư pháp và tại các tổ chức HNCC; chỉ đạo Sở Tư pháp ban hành các văn bản, kế hoạch công tác, tăng cường công tác nắm bắt tình hình, trao đổi, hướng dẫn nghiệp vụ, lề lối, cách thức làm việc tại các tổ chức HNCC tạo tiền đề quan trọng cho việc hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; giao Sở Tư pháp tổ chức các buổi tập huấn, bồi dưỡng chuyên đề để nâng cao kiến thức, kỹ năng hành nghề cho công chứng viên và thư ký giúp việc cho công chứng viên, như tập huấn, bồi dưỡng kiến thức nhận diện giấy tờ giả, người giả, tập huấn công tác lưu trữ trong hoạt động công chứng,….

Giải đáp các vướng mắc, khó khăn trong nghiệp vụ công chứng cho công chứng viên bằng hình thức trả lời bằng văn bản hoặc qua điện thoại.

Công tác kiểm tra, xử lý vi phạm: UBND tỉnh đã thành lập các Đoàn Kiểm tra liên ngành để kiểm tra việc chấp hành pháp luật công chứng, pháp luật thuế, pháp luật lao động tại các tổ chức HNCC. Ngoài ra, thực hiện sự chỉ đạo của UBND tỉnh, Sở Tư pháp đã tiến hành kiểm tra đột xuất để kịp thời phát hiện các trường hợp công chứng viên, VPCC vi phạm các quy định của pháp luật. Sở Tư pháp tổ chức tiếp công dân, giải quyết và trả lời bằng văn bản đối với các trường hợp khiếu nại, tố cáo liên quan đến công chứng viên và tổ chức HNCC. Qua thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, Sở Tư pháp tổ chức tổng kết rút kinh nghiệm, thông báo rộng rãi đến các công chứng viên, các tổ chức HNCC khác để hạn chế mắc phải.

2.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước với nghề công chứng

Tổ chức HNCC tại tỉnh Phú Yên trong những năm qua đã giúp giảm thiểu sự quá tải tại các Phòng Công chứng nhà nước trước đây, góp phần vô cùng quan trọng trong việc bảo đảm an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và các quan hệ xã hội khác, phòng ngừa vi phạm pháp luật và tăng cường pháp chế XHCN. Tuy nhiên, do phát triển quá nóng và ồ ạt, trong khi hệ thống pháp luật điều chỉnh còn nhiều lỗ hổng như đã phân tích ở trên, cộng với cơ chế quản lý còn lỏng lẻo nên hoạt động công chứng trên địa bàn tỉnh Phú Yên đã phát sinh một số vấn đề bất cập sau:

  • Tuy đã có quy hoạch phát triển tổ chức HNCC trên địa bàn tỉnh đến năm 2020 là 18 VPCC, nhưng việc tham gia mở VPCC là do tự nguyện; nguồn đào tạo công chứng viên để mở rộng tổ chức HNCC trên địa bàn tỉnh còn thiếu, nên khó có thể xã hội hoá lĩnh vực công chứng đều khắp tại các địa phương, nhất là các huyện miền núi để thực hiện việc chuyển giao hợp đồng, giao dịch từ UBND sang tổ chức HNCC theo quy định. Hơn nữa, các huyện miền núi địa bàn rất rộng, trong khi đó nhu cầu mở VPCC thường đặt tại trung tâm các huyện, thị xã và thành phố, việc chuyển giao hợp đồng, giao dịch từ UBND cấp xã sang tổ chức HNCC, sẽ gây phiền hà và tốn kém cho người dân ở xa trung tâm huyện khi đi đến các tổ chức HNCC để yêu cầu công chứng.
  • Số lượng tổ chức HNCC tuy đã phát triển tại các huyện, thị xã, thành phố nhưng chất lượng và tính chuyên nghiệp chưa cao; còn hiện tượng một số tổ chức HNCC do quá chú trọng đến việc thu hút khách hàng, nên còn giản đơn trong trình tự, thủ tục công chứng hoặc thực hiện công chứng không phù hợp với quy định về địa điểm, không bảo đảm an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch; tình trạng “cạnh tranh” không lành mạnh của một số VPCC vẫn diễn ra.
  • Luật Công chứng năm 2014 mở rộng nhiều đối tượng miễn đào tạo, tập sự hành nghề công chứng để bổ nhiệm công chứng viên, trong đó nhiều đối tượng ít am hiểu chuyên sâu các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công chứng đã dẫn đến nhiều trường hợp công chứng viên khi công chứng hợp đồng, giao dịch còn lúng túng, hoặc công chứng không phù hợp quy định của pháp luật. Thực trạng cho thấy, trong những năm qua nguồn công chứng viên ở các VPCC trên địa bàn tỉnh chủ yếu từ các ngành nghề khác chuyển sang, chưa được đào tạo, tập sự nghề công chứng, chưa được bồi dưỡng về nghiệp vụ, kỹ năng hành nghề nên chất lượng của một số công chứng viên chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Để khắc phục những bất cập trên, cần có chính sách cụ thể để động viên, khuyến khích việc đào tạo công chứng viên và chính sách hỗ trợ về địa điểm, tài chính đối với các công chứng viên tự nguyện đăng ký thành VPCC nhất là tại các huyện miền núi, vùng sâu, vùng xa. Ngoài ra, LCC cần điều chỉnh theo hướng hạn chế đối tượng miễn đào tạo, tập sự hành nghề công chứng và bắt buộc định kỳ bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng hành nghề công chứng đối với công chứng viên.

Hiện nay, tỉnh Phú Yên chưa thực hiện được chương trình quản lý thông tin ngăn chặn và thông tin về hợp đồng, giao dịch đã công chứng. UBND tỉnh đã chỉ đạo Sở Tư pháp, Sở Tài nguyên và Môi trường, UBND các huyện, thị xã, thành phố phối hợp, xây dựng cơ sở dữ liệu, chia sẻ thông tin nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, hạn chế tranh chấp, khiếu kiện liên quan đến giao dịch nhà đất. Chương trình quản lý này nhằm hạn chế việc thực hiện đồng thời nhiều giao dịch đối với một tài sản, hạn chế việc công chứng đối với Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất đã có Quyết định thu hồi, đã bị hủy, đã bị mất…, hạn chế việc sử dụng văn bản công chứng giả tham gia giao dịch, đăng ký biến động, đăng ký 93 giao dịch bảo đảm….  Thông tin trong Chương trình quản lý bao gồm: Thông tin ngăn chặn do các cơ quan có thẩm quyền gửi đến như: UBND, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Văn phòng đăng ký đất đai các huyện, thị xã, thành phố, cơ quan cảnh sát điều tra, cơ quan thi hành án, Tòa án…, thông tin tham khảo do công dân gửi đến và thông tin hợp đồng, giao dịch đã công chứng do các tổ chức HNCC nhập vào.

Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên cũng chưa thường xuyên tổ chức được các Hội thảo tăng cường phối hợp công tác giữa Sở Tư pháp, các tổ chức HNCC với Sở Tài nguyên và Môi trường, các Văn phòng đăng đất đai trên địa bàn tỉnh; xây dựng và phát hành danh bạ các tổ chức HNCC, các Văn phòng đăng ký đất đai để các bên liên hệ công tác khi cần thiết. Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước còn hạn chế, có những lúc chưa kịp thời bàn bạc, trao đổi, thống nhất để giải quyết các khó khăn, vướng mắc dẫn đến tình trạng văn bản công chứng khi thực hiện gặp nhiều hạn chế.

Các quy định về quản lý nhà nước còn có những sơ hở, lỏng lẻo, thiếu những chế tài mạnh để xử lý các hành vi vi phạm của công chứng viên, tổ chức HNCC, người yêu cầu công chứng, dẫn đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh Phú Yên còn chưa cao. Có thể nói, các thiếu sót trong quy định của pháp luật và cơ chế quản lý lỏng lẻo là nguyên nhân chính dẫn đến các bất cập trong hoạt động công chứng trên địa bàn tỉnh Phú Yên hiện nay. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước với nghề công chứng

Việc thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm với các tổ chức HNCC còn nhiều bất cập, bản thân những cán bộ kiểm tra yếu, kém về trình độ nên có thanh tra kiểm tra nhiều khi cũng chỉ mang tính hình thức, thiếu cán bộ chuyên môn, chuyên trách. Cho đến nay, tỉnh Phú Yên thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động tư pháp chưa nhiều; cơ quan thanh tra chuyên ngành tư pháp còn rất ít khi thực hiện thẩm quyền đó. Thực tiễn, khi phát hiện hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động công chứng, một số người có thẩm quyền còn nhiều lúng túng khi vận dụng các quy định của pháp luật để xử phạt. Trong khi đó, ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận lớn những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các hoạt động còn chưa cao, để góp phần đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn; đưa những quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động vào thực tiễn đời sống xã hội. Các văn bản pháp luật còn chồng chéo mâu thuẫn, nên việc áp dụng luật phụ thuộc rất nhiều vào thiện chí của cán bộ kiểm tra. Gần như lĩnh vực thanh tra, kiểm tra với các tổ chức HNCC tại tỉnh Phú Yên thời gian qua vẫn bỏ ngỏ, các VPCC hoạt động một cách tự phát, bừa bãi thiếu khoa học, thậm chí thực hiện LCC không đúng quy định.

Việc xã hội hóa công chứng một cách mạnh mẽ trên địa bàn tỉnh Phú Yên góp phần thuận lợi cho người dân khi có nhu cầu giải quyết công việc. Tuy nhiên, khi lực lượng thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra còn quá mỏng so với yêu cầu công việc cộng với số lượng, trình độ, năng lực cán bộ, công chức viên chức, các chức danh tư pháp còn chưa đáp ứng yêu cầu công việc thì việc xảy ra các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực công chứng rất dễ xảy ra. Việc quản lý nhà nước đối với hoạt động công chứng chưa theo kịp tình hình mới dẫn đến phát sinh những hiện tượng vi phạm, cạnh tranh không lành mạnh giữa các tổ chức HNCC.

Hoạt động của các tổ chức HNCC đã góp phần phục vụ quản lý nhà nước có hiệu quả, bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch dân sự, kinh tế của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, góp phần phòng ngừa tranh chấp, vi phạm pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Nếu cơ quan quản lý nhà nước thường xuyên quan tâm, thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước đối với sự phát triển, hoạt động của các tổ chức HNCC, sẽ đẩy nhanh sự phát triển và tạo điều kiện tốt đối với hoạt động của các tổ chức HNCC.

Tiểu kết Chương 2

Tỉnh Phú Yên là tỉnh có kinh tế ở mức trung bình khá của cả nước, khá của miền Trung. Cùng với sự phát triển nghề công chứng của cả nước nói chung, hoạt động công chứng tại tỉnh Phú Yên cũng đã có sự chuyển biến cả về số lượng và chất lượng. Xác định rõ hoạt động công chứng đóng vai trò quan trọng trong quan hệ giao dịch dân sự của tổ chức, cá nhân phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, ngay sau khi LCC năm 2006 có hiệu lực thi hành, UBND tỉnh đã ban hành kế hoạch và các văn bản chỉ đạo các cấp, các ngành trong tỉnh triển khai tổ chức thi hành LCC với nhiều giải pháp đồng bộ. Từ đó, những năm qua, hoạt động công chứng trên địa bàn tỉnh Phú Yên đã có sự chuyển biến rõ nét cả về số lượng và chất lượng. Những kết quả đạt được trên lĩnh vực công chứng đã đóng góp tích cực trong việc phát triển kinh tế – xã hội, góp phần thực hiện tốt công tác cải cách hành chính, cải cách tư pháp, tăng cường bảo đảm an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch của các cá nhân, tổ chức và ngày càng khẳng định chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng của Đảng và Nhà nước ta là hoàn toàn đúng đắn.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, tổ chức và hoạt động công chứng tại tỉnh Phú Yên hiện nay vẫn còn một số hạn chế, bất cập, rất cần những định hướng và giải pháp tích cực, đặc biệt là việc sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật công chứng nhằm tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, toàn diện, tháo gỡ những vướng mắc, bất cập về thể chế để thúc đẩy hoạt động công chứng phát triển là rất cần thiết. Đòi hỏi các cơ quan QLNN có trách nhiệm xây dựng quy hoạch phát triển của các tổ chức HNCC đến năm 2020 một cách hợp lý, và hoàn thiện hệ thống QLNN đối với các tổ chức HNCC bằng pháp luật phù hợp hơn. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước với nghề công chứng

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY    

===>>> Luận văn: Biện pháp tăng cường quản lý công chứng tại Phú Yên

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x