Luận văn: Thực trạng Pháp luật về công ty luật ở Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng Pháp luật về công ty luật ở Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Luận văn thì với đề tài Luận văn: Pháp luật về công ty luật ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

2.1. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CÔNG TY LUẬT

2.1.1. Quy định về hình thức các công ty luật Luận văn: Thực trạng Pháp luật về công ty luật ở Việt Nam

Việt Nam, công ty luật được hình thành từ Pháp lệnh Luật sư năm 2001. Sau khi Quốc hội thông qua Luật Doanh nghiệp năm 1999 thì một vấn đề đặt ra là liệu luật sư có được hành nghề theo các loại hình doanh nghệp hay không? Có ý kiến cho rằng luật sư được lựa chọn các hình thức hành nghề theo Luật Doanh nghiệp. Nhưng có ý kiến khác lại cho rằng do đặc thù của nghề luật sư là phải chịu trách nhiệm vô hạn, nên chỉ có hình thức công ty hợp danh là phù hợp với nghề luật sư. Sau khi Pháp lệnh Luật sư năm 2001 được thông qua, hình thức công ty luật hợp danh được pháp luật thừa nhận. Song vì Công ty luật hợp danh là hình thức kinh doanh không phù hợp với hoạt động tham gia tố tụng, nên Pháp lệnh quy định công ty luật hợp danh được thực hiện tư vấn pháp luật, dịch vụ pháp lý khác nhưng không được thực hiện dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực tố tụng. Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005, thì kinh doanh dịch vụ pháp lý là một ngành, nghề kinh doanh, mà cá nhân phải đáp ứng đủ điều kiện luật định, thì mới được phép lựa chọn thành lập các loại hình doanh nghiệp để tiến hành hoạt động kinh doanh. Xuất phát từ quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Luật sư đã mở rộng hình thức tổ chức hành nghề luật sư. Theo đó, luật sư có thể lựa chọn một trong các hình thức hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư hoặc hành nghề với tư cách cá nhân. Hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư được thực hiện bằng việc thành lập hoặc tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư; làm việc theo hợp đồng của tổ chức hành nghề luật sư. Luật Luật sư quy định hai hình thức tổ chức hành nghề luật sư là văn phòng luật sư và công ty luật. Tại Điều 34 Luật Luật sư quy định về hình thức tổ chức hành nghề luật sư gồm: Công ty luật hợp danh và công ty luật trách nhiệm hữu hạn. Thành viên của công ty luật phải là luật sư. Công ty luật hợp danh do ít nhất hai luật sư thành lập. Công ty luật hợp danh không có thành viên góp vốn. Công ty luật trách nhiệm hữu hạn bao gồm: Công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên do ít nhất hai luật sư thành lập. Công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một luật sư thành lập và làm chủ sở hữu. Các thành viên công ty luật hợp danh, công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên thoả thuận cử một thành viên làm giám đốc công ty. Luật sư làm chủ sở hữu công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên là giám đốc công ty.

Như vậy, có thể nói hình thức tổ chức hành nghề luật sư được phát triển mở rộng cùng với sự phát triển hoàn thiện của Luật Doanh nghiệp. Theo pháp luật hiện hành, hình thức các công ty luật gồm: (i) Công ty luật hợp danh; (ii) Công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên; (iii) Công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

2.1.2. Quy định về thủ tục thành lập công ty luật Luận văn: Thực trạng Pháp luật về công ty luật ở Việt Nam

2.1.2.1. Điều kiện thành lập công ty luật

  • Điều kiện về chủ thể

Nghề luật sư không giống như các ngành nghề kinh doanh, thương mại. Người hành nghề luật sư yêu cầu phải có kiến thức pháp luật và kỹ năng hành nghề, việc hành nghề luật sư không lấy điểm xuất phát và không dựa vào vốn mà dựa vào kiến thức pháp luật và kỹ năng hành nghề của luật sư. Do vậy, pháp luật quy định điều kiện về vốn để thành lập công ty luật là không bắt buộc phải có số vốn nhất định. Tuy nhiên, pháp luật quy định một số điều kiện bắt buộc phải có khi muốn thành lập công ty luật, theo đó, bất kỳ luật sư nào có chứng chỉ hành nghề luật sư và có thẻ luật sư đều có thể thành lập tổ chức hành nghề luật sư. Quy định khi tiến hành kinh doanh dịch vụ pháp lý, người kinh doanh phải có chứng chỉ hành nghề luật sư là nhằm bảo vệ quyền lợi của khách hàng trong những trường hợp cần thiết. Chứng chỉ hành nghề được cấp ở nước ngoài không có hiệu lực thi hành tại Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác. Như vậy, người muốn thành lập công ty luật trước hết phải là luật sư và phải có chứng chỉ hành nghề luật sư do Bộ Tư pháp cấp và thẻ luật sư do Liên đoàn Luật sư Việt Nam cấp.Luận văn: Thực trạng Pháp luật về công ty luật ở Việt Nam

Luật Luật sư năm 2006 sau khi áp dụng trong thực tiễn đã có một số bất cập về điều kiện để thành lập tổ chức hành nghề luật sư như: Việc thiếu các quy định chặt chẽ về điều kiện thành lập tổ chức hành nghề luật sư trong đó có yêu cầu về kinh nghiệm hành nghề và trụ sở của các tổ chức hành nghề luật sư đã dẫn đến tình trạng nhiều tổ chức hành nghề hoạt động nhỏ lẻ, manh mún, không bảo đảm chất lượng dịch vụ khi cung cấp cho khách hàng. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng và tính chuyên nghiệp của nghề luật sư. Vì vậy, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Luật sư năm 2012 đã quy định về điều kiện thành lập tổ chức hành nghề luật sư, cụ thể quy định về số năm kinh nghiệm hành nghề là 02 năm đối với người thành lập, tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư và điều kiện tối thiểu về cơ sở vật chất của tổ chức hành nghề (trụ sở làm việc) nhằm nâng cao chất lượng hành nghề luật sư. Theo quy định của khoản 3, khoản 4 Điều 32 của Luật Luật sư sửa đổi, bổ sung năm 2012, quy định thành lập tổ chức hành nghề luật sư gồm các điều kiện sau: (i) Luật sư thành lập hoặc tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư phải có ít nhất hai năm hành nghề liên tục làm việc theo hợp đồng lao động cho tổ chức hành nghề luật sư hoặc hành nghề với tư cách cá nhân theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức theo quy định của Luật này; (ii) Tổ chức hành nghề luật sư phải có trụ sở làm việc; (iii) Một luật sư chỉ được thành lập hoặc tham gia thành lập một tổ chức hành nghề luật sư. Trong trường hợp luật sư ở các đoàn luật sư khác nhau cùng tham gia thành lập một công ty luật thì có thể lựa chọn thành lập và đăng ký hoạt động tại địa phương nơi có đoàn luật sư mà một trong các luật sư đó là thành viên.

Như vậy, có thể thấy về chủ thể muốn thành lập, tham gia thành lập công ty luật, thì trước tiên phải là luật sư, có chứng chỉ hành nghề và thẻ luật sư, phải có ít nhất hai năm hành nghề liên tục làm việc theo hợp đồng lao động cho tổ chức hành nghề luật sư hoặc hành nghề với tư cách cá nhân theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức.

  • Điều kiện về trụ sở làm viêc và tên công ty

Ngoài các điều kiện như đã nêu ở trên thì chủ thể muốn thành lập công ty luật còn phải thỏa mãn một số các điều kiện khác như:

  • Về trụ sở: Công ty luật phải có trụ sở làm việc, là một địa điểm có thực trên bản đồ hành chính Việt Nam, phải thoả mãn các điều kiện được pháp luật quy định tại Điều 35 Luật Doanh nghiệp năm 2005.
  • Về tên công ty: Tên của công ty luật hợp danh, công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên do các thành viên thoả thuận lựa chọn, tên của công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên do chủ sở hữu lựa chọn và theo quy định của Luật Doanh nghiệp nhưng phải bao gồm cụm từ “công ty luật hợp danh” hoặc “công ty luật trách nhiệm hữu hạn”, không được trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên của tổ chức hành nghề luật sư khác đã được đăng ký hoạt động, không được sử dụng từ ngữ, ký hiệu vi phạm truyền thống lịch sử, văn hoá, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc.

2.1.2.2. Thủ tục thành lập công ty luật Luận văn: Thực trạng Pháp luật về công ty luật ở Việt Nam

  • Hồ sơ đăng ký hoạt động

Hồ sơ đăng ký hoạt động là điều kiện cần và đủ để Nhà nước xem xét quy định một công ty luật có được ra đời hay không. Hồ sơ đăng ký hoạt động chủ yếu là các giấy tờ tài liệu do pháp luật quy định.

Theo Luật Luật sư thì hồ sơ đăng ký hoạt động của công ty luật gồm có:

  • Giấy đề nghị đăng ký hoạt động công ty luật theo mẫu thống nhất;
  • Dự thảo điều lệ của công ty luật gồm những nội dung chính sau: Tên, địa chỉ trụ sở; lọai hình công ty luật; lĩnh vực hành nghề; họ, tên, địa chỉ thường trú của luật sư thành viên; quyền và nghĩa vụ của luật sư thành viên; phần vốn góp của luật sư thành viên; điều kiện và thủ tục tham gia hoặc rút tên khỏi danh sách luật sư thành viên; cơ cấu tổ chức, quản lý, điều hành; thể thức thông qua quyết định, nghị quyết; nguyên tắc giải quyết tranh chấp nội bộ; nguyên tắc phân chia lợi nhận và trách nhiệm của các luật sư thành viên đối với nghĩa vụ công ty; các trường hợp tạm ngừng, chấm dứt hoạt động và thủ tục thanh lý tài sản; thể thức sửa đổi, bổ sung điều lệ công ty luật.
  • Bản sao chứng chỉ hành nghề luật sư, bản sao thẻ luật sư của luật sư thành lập, hoặc tham gia thành lập công ty luật;
  • Giấy tờ chứng minh về trụ sở của công ty luật. Đối với trường hợp thuê, mượn trụ sở thì trong hợp đồng phải ghi cụ thể vị trí, diện tích và mục đích thuê, mượn; trường hợp sử dụng nhà riêng để làm trụ sở thì có văn bản xác định cụ thể vị trí, diện tích dùng làm trụ sở.Luận văn: Thực trạng Pháp luật về công ty luật ở Việt Nam

Như vậy, do nghề luật sư là nghề đặc thù nên việc quy định các giấy tờ trong hồ sơ đề nghị đăng ký hoạt động cũng có sự khác biệt với hồ sơ đề nghị đăng ký kinh doanh của các doanh nghiệp thông thường.

  • Trình tự đăng ký hoạt động

Trình tự thủ tục đăng ký hoạt động được pháp luật quy định cụ thể tại Điều 35 LuâṭLuật sư , theo đóviêc̣ đăng kýhoạt động đươc̣ tiến hành taị Sở Tư pháp qua các bước sau:

Bước 1: Nộp hồ sơ đăng ký hoạt động

Hồ sơ đăng ký hoạt động theo quy đinḥ đươc̣ nôp̣ 01 bộ tại Sở Tư pháp địa phương nơi có đoàn luật sư mà giám đốc công ty luật là thành viên. Công ty luật do luật sư ở các đoàn luật sư khác nhau cùng tham gia thành lập thì nộp hồ sơ tại Sở Tư pháp ở địa phương nơi có trụ sở của công ty. Hồ sơ đăng ký hoạt động là những khai báo về bản thân của đại diện theo pháp luật của công ty do chinh́ ho ̣lâp̣ ra , do đó pháp luâṭ quy đinḥ ho ̣phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính chính xác , trung thưc̣ của nôị dung hồsơ đăng ký hoạt động và trong suốt thời gian công ty hoạt động.Luận văn: Thực trạng Pháp luật về công ty luật ở Việt Nam

Bước 2: Tiếp nhâṇ hồ sơ đăng ký hoạt động

Tiếp nhâṇ hồ sơ đươc̣ thưc̣ hiêṇ bằng viêc̣ cơ quan đăng ký hoạt động giấy biên nhân về viêc̣ tiếp nhâṇ hồ sơ là cơ sở pháp lý để người nộp hồ sơ có thể thưc̣ hiêṇ quyền khiếu naị của minh̀ trong trường hơp̣ cơ quan đăng ký không tiến hành viêc̣ đăng ký hoạt động theo đúng thời haṇ.

Bước 3: Giải quyết hồ sơ đăng ký hoạt động

Thời hạn giải quyết hồ sơ đăng ký hoạt động là khoảng thời gian cơ quan đăng ký tiến hành các thủ tục để cấp giấy đăng ký hoạt động cho công ty luật. Theo quy định của pháp luật hiện hành, thì trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Sở Tư pháp cấp giấy đăng ký hoạt động cho công ty luật; trong trường hợp từ chối, thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do, người bị từ chối cấp giấy đăng ký hoạt động có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật.

Công ty luật được hoạt động kể từ ngày được cấp giấy đăng ký hoạt động. Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày được cấp giấy đăng ký hoạt động, giám đốc công ty luật phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao giấy đăng ký hoạt động cho đoàn luật sư mà mình là thành viên.

2.1.2.3. Thay đồi nội dung đăng ký hoạt động công ty luật Luận văn: Thực trạng Pháp luật về công ty luật ở Việt Nam

Khi có sự thay đổi tên, địa chỉ trụ sở, chi nhánh, văn phòng giao dịch, lĩnh vực hành nghề, danh sách luật sư thành viên, người đại diện theo pháp luật của công ty luật, các nội dung khác trong hồ sơ đăng ký hoạt động, thì trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày quyết định thay đổi, công ty luật phải đăng ký với Sở Tư pháp nơi công ty luật đăng ký hoạt động. Trường hợp có thay đổi nội dung giấy đăng ký hoạt động, công ty luật được cấp lại giấy đăng ký hoạt động. Trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày thay đổi hoặc kể từ ngày nhận được giấy đăng ký hoạt động cấp lại, công ty luật phải thông báo bằng văn bản cho đoàn luật sư về việc thay đổi. Trường hợp giấy đăng ký hoạt động bị mất, bị rách, bị cháy hoặc bị tiêu huỷ dưới hình thức khác, công ty luật được cấp lại giấy đăng ký hoạt động.

2.1.2.4. Công bố nội dung đăng ký hoạt động công ty luật

Theo quy định tại Điều 38 của Luật Luật sư về công bố nội dung đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư. Theo đó, trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày được cấp giấy đăng ký hoạt động, công ty luật phải đăng báo hằng ngày của trung ương hoặc địa phương nơi đăng ký hoạt động hoặc báo chuyên ngành luật trong ba số liên tiếp về những nội dung chính sau đây: (i) Tên công ty luật; (ii) Địa chỉ trụ sở của công ty luật, chi nhánh, văn phòng giao dịch; (iii) Lĩnh vực hành nghề; (iv) Họ, tên, địa chỉ, số chứng chỉ hành

nghề luật sư của luật sư là giám đốc công ty luật và các thành viên sáng lập khác; (v) Số giấy đăng ký hoạt động, nơi đăng ký hoạt động, ngày, tháng, năm cấp giấy đăng ký hoạt động. Trong trường hợp thay đổi nội dung đăng ký hoạt động, công ty luật phải công bố những nội dung thay đổi đó trong thời hạn và theo phương thức như công bố thông tin mới thành lập công ty.

2.1.3. Quy định về tổ chức và hoạt động các công ty luật Luận văn: Thực trạng Pháp luật về công ty luật ở Việt Nam

2.1.3.1. Quy định về tổ chức quản lý công ty luật

  • Công ty luật hợp danh

Là loại hình công ty đối nhân nên việc tổ chức quản lý nội bộ của công ty luật hợp danh mang nhiều nét khác biệt và đặc trưng so với các loại hình công ty khác. Tổ chức và hoạt động của công ty luật hợp danh được quy định trong Luật Doanh nghiệp và các văn bản pháp luật có liên quan. Công ty luật hợp danh được tổ chức quản lý gồm các cơ quan sau: Hội đồng thành viên, chủ tịch hội đồng thành viên, giám đốc hoặc tổng giám đốc.

Hội đồng thành viên: Là cơ quan quản lý cao nhất trong công ty luật hợp danh. Hội đồng thành viên gồm tất cả các thành viên trong công ty có quyền quyết định tất cả công việc kinh doanh của công ty. Hội đồng thành viên bầu một thành viên hợp danh làm chủ tịch hội đồng thành viên, đồng thời kiêm giám đốc hoặc tổng giám đốc công ty nếu điều lệ công ty không có quy định khác. Thành viên hợp danh có quyền yêu cầu triệu tập họp hội đồng thành viên để thảo luận và quyết định công việc kinh doanh của công ty. Thành viên yêu cầu triệu tập họp phải chuẩn bị nội dung, chương trình và tài liệu họp. Khi biểu quyết, mỗi thành viên hợp danh có một phiếu biểu quyết trừ trường hợp điều lệ công ty quy định khác. Nếu điều lệ công ty không quy định thì quyết định các vấn đề sau đây phải được ít nhất ba phần tư tổng số thành viên hợp danh chấp thuận: Phương hướng phát triển công ty; sửa đổi, bổ sung điều lệ công ty; tiếp nhận thêm thành viên hợp danh mới; chấp nhận thành viên hợp danh rút khỏi công ty hoặc quyết định khai trừ thành viên; quyết định việc vay và huy động vốn dưới hình thức khác, cho vay với giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% vốn điều lệ của công ty, trừ trường hợp điều lệ công ty quy định một tỷ lệ khác cao hơn; quyết định mua, bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn vốn điều lệ của công ty, trừ trường hợp điều lệ công ty quy định một tỷ lệ khác cao hơn; quyết định thông qua báo cáo tài chính hàng năm, tổng số lợi nhuận được chia và số lợi nhuận chia cho từng thành viên; quyết định chấm dứt hoạt động của công ty; quyết định về các vấn đề khác được thông qua nếu được ít nhất hai phần ba tổng số thành viên hợp danh chấp thuận (tỷ lệ cụ thể do điều lệ công ty quy định), (Điều 135 Luật Doanh nghiệp).Luận văn: Thực trạng Pháp luật về công ty luật ở Việt Nam

Như vậy, có thể thấy vai trò của người đứng đầu công ty luật hợp danh cũng có sự khác biệt so với vị trí, vai trò của người đứng đầu công ty trách nhiệm hữu hạn. Nếu chủ tịch, giám đốc hoặc tổng giám đốc của công ty trách nhiệm hữu hạn, có một vị trí quan trọng so với các thành viên khác trong công ty, có quyền thực hiện những công việc kinh doanh của công ty, nhân danh chức vụ của bản thân, thì chủ tịch, giám đốc hoặc tổng giám đốc trong công ty hợp danh là một thành viên hợp danh và không có quyền cao hơn các thành viên hợp danh còn lại, không có quyền tự quyết định một vấn đề gì nếu không có sự thông qua của hội đồng thành viên. Chủ tịch hội đồng thành viên, giám đốc hoặc tổng giám đốc của công ty luật hợp danh chỉ có quyền điều phối các hoạt động vạch sẵn, sự thoả thuận và nhất trí của tất cả các thành viên hợp danh. Nói cách khác, người nắm giữ các chức vụ quản lý trong công ty luật hợp danh đơn giản chỉ là một thành viên hợp danh với những quyền và nghĩa vụ như bao thành viên hợp danh khác.

Giám đốc hoặc tổng giám đốc: Giám đốc hoặc tổng giám đốc do hội đồng thành viên cử ra trong số các thành viên hợp danh (kiêm chủ tịch hội đồng thành viên nếu điều lệ công ty không có quy định khác), có trách nhiệm điều hành hoạt động của công ty, giám đốc hoặc tổng giám đốc có các nhiệm vụ sau: (i) Quản lý và điều hành công việc kinh doanh hàng ngày của công ty với tư cách là thành viên hợp danh; (ii) Triệu tập và tổ chức họp hội đồng thành viên; ký các quyết định hoặc nghị quyết của hội đồng thành viên; (iii) Phân công, phối hợp công việc kinh doanh giữa các thành viên hợp danh; ký các quyết định về quy chế, nội dung và các công việc tổ chức nội bộ khác của công ty; (iv) Tổ chức sắp xếp, lưu trữ đầy đủ và trung thực sổ kế toán, hóa đơn, chứng từ và các tài liệu khác của công ty theo quy định của pháp luật; (v) Là người đại diện theo pháp luật của công ty, đại diện công ty trong quan hệ với cơ quan nhà nước; đại diện cho công ty với tư cách là bị đơn hoặc nguyên đơn trong các vụ kiện, tranh chấp; (vi) Các nhiệm vụ khác do điều lệ công ty quy định (Điều 137, Luật Doanh nghiệp).Luận văn: Thực trạng Pháp luật về công ty luật ở Việt Nam

Việc tiến hành họp hội đồng thành viên do Chủ tịch Hội đồng thành viên triệu tập hoặc theo yêu cầu của thành viên hợp danh. Trường hợp chủ tịch hội đồng thành viên không triệu tậo họp theo yêu cầu của thành viên hợp danh thì thành viên đó có quyền triệu tập họp hội đồng. Việc triệu tập họp hội đồng thành viên được quy định tại Điều 136 Luật Doanh nghiệp năm 2005 như sau: (i) Chủ tịch hội đồng thành viên có thể triệu tập họp hội đồng thành viên khi xét thấy cần thiết hoặc theo yêu cầu của thành viên hợp danh. Trường hợp chủ tịch hội đồng thành viên không triệu tập họp theo yêu cầu của thành viên hợp danh thì thành viên đó triệu tập họp hội đồng thành viên; (ii) Thông báo mời họp có thể bằng giấy mời, điện thoại, fax, telex hoặc các phương tiện điện tử khác. Thông báo mời họp phải nêu rõ mục đích, yêu cầu và nội dung họp, chương trình và địa điểm họp, tên thành viên yêu cầu triệu tập họp; (iii) Các tài liệu thảo luận được sử dụng để quyết định các vấn như: Quyết định phương hướng phát triển công ty, sửa đổi bổ sung điều lệ… phải được gửi trước đến tất cả thành viên; thời hạn gửi trước do điều lệ công ty quy định;

Chủ tịch hội đồng thành viên hoặc thành viên yêu cầu triệu tập họp chủ toạ cuộc họp. Cuộc họp của hội đồng thành viên phải được ghi vào sổ biên bản của công ty. Nội dung biên bản phải có các nội dung chủ yếu sau đây: Tên, địa chỉ trụ sở chính, số và ngày cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động,nơi đăng ký hoạt động; mục đích, chương trình và nội dung họp; thời gian, địa điểm họp; họ, tên chủ toạ, thành viên dự họp; các ý kiến của thành viên dự họp; các quyết định được thông qua, số thành viên chấp thuận và nội dung cơ bản của các quyết định đó; họ, tên, chữ ký của các thành viên dự họp.

Việc hoạt động điều hành công ty luật hợp danh được quy định tại Điều 137 Luật Doanh nghiệp năm 2005: Các thành viên hợp danh có quyền đại diện theo pháp luật và tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty. Mọi hạn chế đối với thành viên hợp danh trong thực hiện công việc kinh doanh hàng ngày của công ty chỉ có hiệu lực đối với bên thứ ba khi người đó được biết về hạn chế đó. Trong điều hành hoạt động kinh doanh của công ty, thành viên hợp danh phân công nhau đảm nhiệm các chức danh quản lý và kiểm soát công ty. Khi một số hoặc tất cả thành viên hợp danh cùng thực hiện một số công việc kinh doanh thì quyết định được thông qua theo nguyên tắc đa số. Hoạt động do thành viên hợp danh thực hiện ngoài phạm vi hoạt động kinh doanh các ngành, nghề kinh doanh đã đăng ký của công ty đều không thuộc trách nhiệm của công ty, trừ trường hợp hoạt động đó đã được các thành viên còn lại chấp thuận. Công ty có thể mở một hoặc một số tài khoản tại ngân hàng. Hội đồng thành viên chỉ định thành viên được uỷ quyền gửi và rút tiền từ các tài khoản đó. Như vậy, trong công ty luật hợp danh, Hội đồng thành viên là cơ quan có quyền hành cao nhất, các thành viên hợp danh có quyền đại diện theo pháp luật và tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty.Luận văn: Thực trạng Pháp luật về công ty luật ở Việt Nam

  • Công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên

Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có: Hội đồng thành viên, chủ tịch hội đồng thành viên, giám đốc hoặc tổng giám đốc. Khi công ty có trên mười một thành viên, thì phải có ban kiểm soát. Trường hợp có ít hơn mười một thành viên, có thể thành lập ban kiểm soát phù hợp với yêu cầu quản trị công ty.

Chủ tịch hội đồng thành viên hoặc giám đốc hoặc tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty theo quy định tại điều lệ công ty. Người đại diện theo pháp luật của công ty phải thường trú tại Việt Nam; trường hợp vắng mặt ở Việt Nam trên ba mươi ngày thì phải ủy quyền bằng văn bản cho người khác theo quy định tại điều lệ công ty để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của công ty.

Hội đồng thành viên là cơ quan có quyền quyết định cao nhất của công ty, bao gồm tất cả các thành viên công ty. Là cơ quan tập thể, hội đồng thành viên không làm việc thường xuyên mà chỉ tồn tại trong thời gian họp và ra quyết định trên cơ sở biểu quyết tại cuộc họp hoặc lấy ý kiến của các thành viên bằng văn bản.

Điều lệ công ty quy định cụ thể định kỳ họp hội đồng thành viên, nhưng ít nhất mỗi năm phải họp một lần và có thể được triệu tập họp bất cứ khi nào theo yêu cầu của chủ tịch hội đồng thành viên hoặc của thành viên (hoặc nhóm thành viên) sở hữu 25% vốn điều lệ của công ty (hoặc tỷ lệ khác nhỏ hơn do điều lệ của công ty quy định). Thủ tục triệu tập họp hội đồng thành viên, điều kiện, thể thức tiến hành họp và ra quyết định của hội đồng thành viên được thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp.

Với tư cách là cơ quan quyết định cao nhất của công ty, hội đồng thành viên có quyền xem xét và quyết định những vấn đề chủ yếu, quan trọng nhất của công ty như: Phương hướng phát triển công ty, tăng, giảm vốn điều lệ, cơ cấu tổ chức quản lý công ty, chuyển đổi, chấm dứt hoạt động của công ty…Luận văn: Thực trạng Pháp luật về công ty luật ở Việt Nam

Hội đồng thành viên có các quyền và nhiệm vụ sau đây: Quyết định chiến lược phát triển và kế hoạch kinh doanh hằng năm của công ty; quyết định tăng hoặc giảm vốn điều lệ, quyết định thời điểm và phương thức huy động thêm vốn; quyết định phương thức đầu tư và dự án đầu tư có giá trị trên 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính tại thời điểm công bố gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại điều lệ công ty; quyết định giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và chuyển giao công nghệ; thông qua hợp đồng vay, cho vay, bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính tại thời điểm công bố gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại điều lệ công ty; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm chủ tịch hội đồng thành viên; quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, ký và chấm dứt hợp đồng đối với giám đốc hoặc tổng giám đốc, kế toán trưởng và người quản lý khác quy định tại điều lệ công ty; quyết định mức lương, thưởng và lợi ích khác đối với chủ tịch hội đồng thành viên, giám đốc hoặc tổng giám đốc, kế toán trưởng và người quản lý khác quy định tại điều lệ công ty; thông qua báo cáo tài chính hằng năm, phương án sử dụng và phân chia lợi nhuận hoặc phương án xử lý lỗ của công ty; quyết định cơ cấu tổ chức quản lý công ty; quyết định thành lập, chi nhánh, văn phòng đại diện; sửa đổi, bổ sung điều lệ công ty; quyết định tổ chức lại công ty; quyết định tạm ngừng hoạt động, chấm dứt hoạt động của công ty.

Hội đồng thành viên bầu một thành viên làm chủ tịch. Chủ tịch hội đồng thành viên có thể kiêm giám đốc hoặc tổng giám đốc công ty. Nhiệm kỳ của chủ tịch hội đồng thành viên không quá năm năm. Chủ tịch hội đồng thành viên có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế. Chủ tịch hội đồng thành viên có thể là người đại diện theo pháp luật của công ty nếu điều lệ công ty quy định. Trong trường hợp này các giấy tờ giao dịch của công ty phải ghi rõ tư cách đại diện theo pháp luật cho công ty của chủ tịch hội đồng thành viên.Luận văn: Thực trạng Pháp luật về công ty luật ở Việt Nam

Chủ tịch hội đồng thành viên có các quyền và nhiệm vụ sau đây: Chuẩn bị hoặc tổ chức việc chuẩn bị chương trình, kế hoạch hoạt động của hội đồng thành viên; chuẩn bị hoặc tổ chức việc chuẩn bị chương trình, nội dung, tài liệu họp hội đồng thành viên hoặc để lấy ý kiến các thành viên; triệu tập và chủ trì cuộc họp hội đồng thành viên hoặc tổ chức việc lấy ý kiến các thành viên; giám sát hoặc tổ chức giám sát việc thực hiện các quyết định của hội đồng thành viên; thay mặt hội đồng thành viên ký các quyết định của hội đồng thành viên; các quyền và nhiệm vụ khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp và điều lệ công ty.

Giám đốc hoặc tổng giám đốc là người điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty do hội đồng thành viên bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước hội đồng thành viên về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ của mình; là người đại diện theo pháp luật của công ty trừ trường hợp điều lệ công ty quy định chủ tịch hội đồng thành viên là đại diện theo pháp luật của công ty. Giám đốc hoặc tổng giám đốc có các quyền và nhiệm vụ sau đây: Tổ chức thực hiện các quyết định của hội đồng thành viên; quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty; tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và phương án đầu tư của công ty; ban hành quy chế quản lý nội bộ công ty; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh quản lý trong công ty, trừ các chức danh thuộc thẩm quyền của hội đồng thành viên; ký kết hợp đồng nhân danh công ty, (trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của chủ tịch hội đồng thành viên); kiến nghị phương án cơ cấu tổ chức công ty; trình báo cáo quyết toán tài chính hằng năm lên hội đồng thành viên; kiến nghị phương án sử dụng lợi nhuận hoặc xử lý lỗ trong kinh doanh; tuyển dụng lao động; các quyền và nhiệm vụ khác được quy định tại điều lệ công ty, hợp đồng lao động mà giám đốc hoặc tổng giám đốc ký với công ty theo quyết định của hội đồng thành viên

Ban kiểm soát: Về mặt pháp lý, ban kiểm soát là cơ quan thay mặt các thành viên công ty kiểm soát các hoạt động của công ty. Pháp luật chỉ bắt buộc công ty trách nhiệm hữu hạn trên mười một thành viên phải có ban kiểm soát. Quyền, nghĩa vụ, tiêu chuẩn, điều kiện và chế độ làm việc của ban kiểm soát, trưởng ban kiểm soát do điều lệ công ty quy định.

  • Công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên

Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có chủ tịch công ty, giám đốc hoặc tổng giám đốc. Chủ sở hữu công ty đồng thời là chủ tịch công ty. Chủ tịch công ty hoặc giám đốc hoặc tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty theo quy định tại điều lệ công ty.

Chủ sở hữu công ty có các quyền sau đây: Quyết định nội dung điều lệ công ty, sửa đổi, bổ sung điều lệ công ty; quyết định đầu tư, kinh doanh và quản trị nội bộ công ty, trừ trường hợp điều lệ công ty có quy định khác; chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của công ty cho cá nhân khác; quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác của công ty; quyết định tổ chức lại, tạm ngừng hoạt động, chấm dứt hoạt động của công ty; thu hồi toàn bộ giá trị tài sản của công ty sau khi công ty chấm dứt hoạt động; các quyền khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp và điều lệ công ty.Luận văn: Thực trạng Pháp luật về công ty luật ở Việt Nam

Quyền, nghĩa vụ, nhiệm vụ cụ thể của giám đốc được quy định tại điều lệ công ty, hợp đồng lao động mà giám đốc hoặc tổng giám đốc ký với chủ tịch công ty.

2.1.3.2. Quy định về hoạt động công ty luật

Theo quy định của Luật Luật sư, công ty luật được hoạt động thực hiện các dịch vụ pháp lý: Tham gia tố tụng; thực hiện tư vấn pháp luật; đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng để thực hiện các công việc có liên quan đến pháp luật và thực hiện các dịch vụ pháp lý khác.

Trong hoạt động, công ty luật có quyền: Thực hiện dịch vụ pháp lý; nhận thù lao từ khách hàng; thuê luật sư Việt Nam, luật sư nước ngoài và nhân viên làm việc cho công ty; tham gia xây dựng chính sách, pháp luật của Nhà nước; tham gia tư vấn, giải quyết các vụ việc của cá nhân, cơ quan, tổ chức khi được yêu cầu; hợp tác với tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài; thành lập chi nhánh, văn phòng giao dịch trong nước; đặt cơ sở hành nghề ở nước ngoài; các quyền khác theo quy định của Luật Luật sư và quy định khác của pháp luật có liên quan.Luận văn: Thực trạng Pháp luật về công ty luật ở Việt Nam

Công ty luật có nghĩa vụ: Hoạt động theo đúng lĩnh vực hành nghề ghi trong giấy đăng ký hoạt động; thực hiện đúng những nội dung đã giao kết với khách hàng; cử luật sư của tổ chức mình tham gia tố tụng theo phân công của đoàn luật sư; tạo điều kiện cho luật sư của công ty mình thực hiện trợ giúp pháp lý và tham gia công tác đào tạo, bồi dưỡng cho luật sư; bồi thường thiệt hại do lỗi mà luật sư của công ty mình gây ra cho khách hàng; mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho luật sư của công ty mình theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm; chấp hành quy định của Luật Luật sư và pháp luật về lao động, thuế, tài chính, thống kê; chấp hành các yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc báo cáo, kiểm tra, thanh tra; nhận người tập sự hành nghề luật sư và cử luật sư có đủ điều kiện hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi cho người tập sự được tập sự, giám sát quá trình tập sự của người tập sự hành nghề luật sư; thực hiện việc quản lý và bảo đảm cho luật sư của công ty mình tuân thủ pháp luật, tuân theo Điều lệ của Liên đoàn Luật sư Việt Nam và Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam; thực hiện nghĩa vụ báo cáo về tổ chức và hoạt động của công ty mình theo quy định của pháp luật; các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật có liên quan.

2.1.4. Quy định về quản trị công ty luật

  • nước ta, hệ thống các quy định của pháp luật về quản trị công ty luật được đề cập tại nhiều văn bản quy phạm pháp luật, bao gồm các luật và các văn bản dưới luật. Trong đó, Luật Doanh nghiệp năm 2005 có vai trò trung tâm, chi phối vấn đề quản trị công ty luật đang hoạt động tại Việt Nam. Luật Luật sư quy định dẫn chiếu để áp dụng khung pháp lý về quản trị công ty luật theo quy định của Luật Doanh nghiệp, đồng thời có những quy định riêng về vấn đề này. Chẳng hạn, Luật Luật sư quy định công ty luật TNHH hai thành viên trở lên phải có ít nhất hai thành viên góp vốn là luật sư… Những quy định bổ sung của Luật Luật sư về quản trị công ty luật chủ yếu về loại hình pháp lý mà công ty được phép lựa chọn, tiêu chuẩn của một số chức danh quản lý công ty, yêu cầu về chế độ báo cáo, kiểm toán; còn đối với vấn đề quyền, nghĩa vụ trong nội bộ công ty luật cơ bản thực hiện theo quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2005. Luật Doanh nghiệp là một bước tiến lớn, tạo ra sự thay đổi căn bản trong quá trình hoàn thiện khung quản trị công ty, quy định khá đầy đủ và cụ thể các yếu tố cấu thành của khung quản trị đối với các loại hình công ty luật. Xét về mặt nội dung, Luật Doanh nghiệp đã giải quyết những vấn đề cơ bản của quản trị công ty luật trên cơ sở áp dụng thông lệ quốc tế và có sự điều chỉnh cho phù hợp thực tiễn của Việt Nam. Theo đó, Luật Doanh nghiệp đã thiết lập khung quản trị công ty luật hướng tới các nguyên tắc quản trị hiệu quả theo khuyến nghị của OECD năm 2004.Luận văn: Thực trạng Pháp luật về công ty luật ở Việt Nam

So với Luật Doanh nghiệp năm 1999, khung quản trị công ty luật quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2005 có một số nội dung thay đổi cơ bản như: Bổ sung mô hình công ty TNHH một thành viên do cá nhân làm chủ sở hữu; nâng tỷ lệ biểu quyết thông qua quyết định trong công ty TNHH; bổ sung các quy định nhằm nâng cao tính công khai hóa, minh bạch hóa thông tin của công ty luật… Tuy nhiên, hiện nay, một số nội dung quản trị công ty luật của Luật Doanh nghiệp đang bộc lộ những điểm chưa phù hợp, cần nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung như: Tỷ lệ tối thiểu để thông qua quyết định của công ty đối với hình thức xin ý kiến bằng văn bản cao hơn tỷ lệ biểu quyết tại cuộc họp hội đồng thành viên…

Theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật Luật sư, tổ chức quản trị công ty luật được khái quát như sau:

Đối với công ty luật hợp danh: Công ty luật hợp danh gồm các bộ máy quản trị như sau: Hội đồng thành viên, chủ tịch hội đồng thành viên, giám đốc hoặc tổng giám đốc. Hội đồng thành viên gồm tất cả các thành viên trong công ty có quyền quyết định tất cả công việc kinh doanh của công ty. Hội đồng thành viên bầu một thành viên hợp danh làm chủ tịch hội đồng thành viên, đồng thời kiêm giám đốc hoặc tổng giám đốc công ty nếu điều lệ công ty không có quy định khác. Thành viên hợp danh có quyền yêu cầu triệu tập họp hội đồng thành viên để thảo luận và quyết định công việc hàng ngày của công ty. Chủ tịch hội đồng thành viên, giám đốc hoặc tổng giám đốc trong công ty hợp danh là một thành viên hợp danh và không có quyền cao hơn các thành viên hợp danh còn lại, không có quyền tự quyết định một vấn đề gì nếu không có sự thông qua của hội đồng thành viên. Các thành viên hợp danh có quyền đại diện theo pháp luật và tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty. Mọi hạn chế đối với thành viên hợp danh trong thực hiện công việc kinh doanh hàng ngày của công ty chỉ có hiệu lực đối với bên thứ ba khi người đó được biết về hạn chế đó. Trong điều hành hoạt động kinh doanh của công ty, thành viên hợp danh phân công nhau đảm nhiệm các chức danh quản lý và kiểm soát công ty.Luận văn: Thực trạng Pháp luật về công ty luật ở Việt Nam

Đối với công ty luật TNHH hai thành viên trở lên: Bộ máy quản trị công ty gồm: Hội đồng thành viên, chủ tịch hội đồng thành viên, giám đốc hoặc tổng giám đôc, ban kiểm soát (nếu công ty có trên mười một thành viên). Hội đồng thành viên là cơ quan có quyền quyết định cao nhất của công ty, bao gồm tất cả các thành viên công ty. Hội đồng thành viên bầu một thành viên làm chủ tịch. Chủ tịch hội đồng thành viên có thể kiêm giám đốc hoặc tổng giám đốc công ty. Giám đốc hoặc tổng giám đốc là người điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty do hội đồng thành viên bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước hội đồng thành viên về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ của mình. Giám đốc hoặc tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty trừ trường hợp điều lệ công ty quy định chủ tịch hội đồng thành viên là đại diện theo pháp luật của công ty. Ban kiểm soát do hội đồng thành viên bầu ra, ban kiểm soát là cơ quan thay mặt các thành viên công ty kiểm soát các hoạt động của công ty. Pháp luật chỉ bắt buộc công ty trách nhiệm hữu hạn trên mười một thành viên phải có ban kiểm soát.

Đối với công ty luật trách nhiệm hữu hạnh một thành viên: Bộ máy quản trị gồm chủ tịch công ty, giám đốc hoặc tổng giám đốc. Chủ sở hữu công ty đồng thời là chủ tịch công ty. Chủ tịch công ty hoặc giám đốc hoặc tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty theo quy định tại điều lệ công ty. Chủ tịch công ty có quyền quyết định tất cả các vấn đề liên quan đến hoạt đông của công ty. Quản trị công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên chủ yếu tập trung vào chủ sở hữu công ty. Trong mối liên hệ giữa chủ sở hữu công ty với thành viên công ty, trách nhiệm của luật sư thành viên phụ thuộc vào hợp đồng lao động ký giữa luật sư thành viên với chủ sở hữu công ty.

2.1.5. Quy định về hợp nhất, sáp nhập và chuyển đổi công ty luật Luận văn: Thực trạng Pháp luật về công ty luật ở Việt Nam

Theo quy định của pháp luật hiện hành, hợp nhất, sáp nhập và chuyển đổi công ty luật được thực hiện theo quy định của Luật luật sư, Luật Doanh nghiệp và các văn bản dưới luật.

2.1.5.1. Hợp nhất công ty luật

Theo quy định tại Điều 12 Nghị định số 123/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật luật sư, thì điều kiện và thủ tục hợp nhất công ty luật như sau:

Về điều kiện hợp nhất công ty luật: Dựa vào đặc thù của nghề luật sư, nên pháp luật quy định về điều kiện và thủ tục hợp nhất công ty luật riêng không giống như Luật Doanh nghiệp, theo đó: Hai hoặc nhiều công ty luật trách nhiệm hữu hạn có thể thỏa thuận hợp nhất thành một công ty luật trách nhiệm hữu hạn mới. Hai hoặc nhiều công ty luật hợp danh có thể thỏa thuận hợp nhất thành một công ty luật hợp danh mới.Luận văn: Thực trạng Pháp luật về công ty luật ở Việt Nam

Về thủ tục hợp nhất: Hồ sơ đề nghị hợp nhất gồm: (i) Giấy đề nghị hợp nhất công ty luật; (ii) Hợp đồng hợp nhất bao gồm các nội dung: Tên, địa chỉ trụ sở chính của các công ty luật bị hợp nhất; tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty luật hợp nhất; thủ tục và điều kiện hợp nhất; phương án sử dụng lao động; trách nhiệm thực hiện các hợp đồng dịch vụ pháp lý đã ký với khách hàng; thời hạn, thủ tục và điều kiện chuyển đổi tài sản, chuyển đổi phần vốn góp của công ty luật bị hợp nhất thành phần vốn góp của công ty luật hợp nhất; thời hạn thực hiện hợp nhất; (iii) Dự thảo điều lệ công ty luật hợp nhất. Điều lệ công ty luật gồm những nội dung chính sau đây: Tên, địa chỉ trụ sở; loại hình công ty luật; lĩnh vực hành nghề; họ, tên, địa chỉ thường trú của luật sư chủ sở hữu (đối với công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên) hoặc các luật sư thành viên (đối với công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty luật hợp danh); quyền và nghĩa vụ của luật sư chủ sở hữu hoặc các luật sư thành viên; phần vốn góp của luật sư thành viên (đối với công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên); điều kiện và thủ tục tham gia hoặc rút tên khỏi danh sách luật sư thành viên (đối với công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty luật hợp danh); cơ cấu tổ chức, quản lý, điều hành; thể thức thông qua quyết định, nghị quyết; nguyên tắc giải quyết tranh chấp nội bộ; nguyên tắc phân chia lợi nhuận và trách nhiệm của các luật sư thành viên đối với nghĩa vụ của công ty (đối với công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty luật hợp danh); các trường hợp tạm ngừng, chấm dứt hoạt động và thủ tục thanh lý tài sản; thể thức sửa đổi, bổ sung điều lệ công ty luật. điều lệ công ty luật phải có chữ ký của luật sư chủ sở hữu hoặc của tất cả luật sư thành viên; (iv) Biên bản họp thành viên về việc thông qua hợp đồng hợp nhất, dự thảo điều lệ công ty luật hợp nhất; (v) Giấy đăng ký hoạt động của các công ty luật bị hợp nhất;

Bản sao chứng chỉ hành nghề luật sư, thẻ luật sư của các thành viên (bản sao có chứng thực, hoặc bản sao kèm bản chính để đối chiếu); (vii) Giấy tờ chứng minh trụ sở.

Trình tự đăng ký hợp nhất: Hồ sơ hợp nhất công ty luật được gửi 01 bộ đến Sở Tư pháp nơi công ty luật hợp nhất đăng ký hoạt động. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp cấp giấy đăng ký hoạt động cho công ty luật hợp nhất; trường hợp từ chối phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do. Thủ tục công bố nội dung đăng ký hoạt động của công ty luật hợp nhất được thực hiện theo quy định như khi mới thành lập công ty luật. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày cấp giấy đăng ký hoạt động cho công ty luật hợp nhất, Sở Tư pháp thông báo cho Sở Tư pháp nơi đăng ký hoạt động của công ty luật bị hợp nhất về việc hợp nhất và gửi kèm theo bản sao giấy đăng ký hoạt động của công ty luật hợp nhất để thực hiện việc xóa tên công ty luật bị hợp nhất khỏi danh sách đăng ký hoạt động. Sau khi công ty luật hợp nhất được cấp giấy đăng ký hoạt động, các công ty luật bị hợp nhất chấm dứt hoạt động. Công ty luật hợp nhất được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm về toàn bộ các khoản nợ chưa thanh toán, các hợp đồng dịch vụ pháp lý đang thực hiện, hợp đồng lao động đã ký với luật sư, người lao động khác và các nghĩa vụ tài sản khác của các công ty luật bị hợp nhất.

2.1.5.2. Sáp nhập công ty luật Luận văn: Thực trạng Pháp luật về công ty luật ở Việt Nam

Theo quy định tại Điều 13 Nghị định số 123/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật luật sư, thì điều kiện và thủ tục sáp nhập công ty luật như sau:

Điều kiện để sáp nhập: Một hoặc nhiều công ty luật trách nhiệm hữu hạn có thể sáp nhập vào một công ty luật trách nhiệm hữu hạn khác. Một hoặc nhiều công ty luật hợp danh có thể sáp nhập vào một công ty luật hợp danh khác.

Thủ tục sáp nhập công ty luật: Hồ sơ đề nghị sáp nhập gồm: (i) Giấy đề nghị sáp nhập công ty luật; (ii) Hợp đồng sáp nhập bao gồm các nội dung: Tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty luật nhận sáp nhập; tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty luật bị sáp nhập; thủ tục và điều kiện sáp nhập; phương án sử dụng lao động; trách nhiệm thực hiện các hợp đồng dịch vụ pháp lý đã ký với khách hàng; thủ tục, thời hạn và điều kiện chuyển đổi tài sản, chuyển đổi phần vốn góp của công ty luật bị sáp nhập thành phần vốn góp, của công ty luật nhận sáp nhập; thời hạn thực hiện sáp nhập; (iii) Dự thảo điều lệ công ty nhận sáp nhập. Điều lệ gồm những nội dung chính sau đây: Tên, địa chỉ trụ sở; loại hình công ty luật; lĩnh vực hành nghề; họ, tên, địa chỉ thường trú của luật sư chủ sở hữu (đối với công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên) hoặc các luật sư thành viên (đối với công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty luật hợp danh); quyền và nghĩa vụ của luật sư chủ sở hữu hoặc các luật sư thành viên; Phần vốn góp của luật sư thành viên (đối với công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên); điều kiện và thủ tục tham gia hoặc rút tên khỏi danh sách luật sư thành viên (đối với công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty luật hợp danh); cơ cấu tổ chức, quản lý, điều hành; thể thức thông qua quyết định, nghị quyết; nguyên tắc giải quyết tranh chấp nội bộ; nguyên tắc phân chia lợi nhuận và trách nhiệm của các luật sư thành viên đối với nghĩa vụ của công ty (đối với công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty luật hợp danh); các trường hợp tạm ngừng, chấm dứt hoạt động và thủ tục thanh lý tài sản; thể thức sửa đổi, bổ sung điều lệ công ty luật. Điều lệ công ty luật phải có chữ ký của luật sư chủ sở hữu hoặc của tất cả luật sư thành viên; (iv) Biên bản họp thành viên về việc thông qua hợp đồng sáp nhập, điều lệ công ty luật nhận sáp nhập; (v) Giấy đăng ký hoạt động của các công ty luật bị sáp nhập;

Bản sao chứng chỉ hành nghề luật sư, thẻ luật sư của các thành viên (bản sao có chứng thực, hoặc bản sao kèm bản chính để đối chiếu); (vii) Giấy tờ chứng minh trụ sở.

Trình tự đăng ký sáp nhập: Hồ sơ sáp nhập công ty luật được gửi 01 bộ đến Sở Tư pháp nơi công ty luật nhận sáp nhập đăng ký hoạt động. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp cấp giấy đăng ký hoạt động cho công ty luật nhận sáp nhập; trường hợp từ chối phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do. Thủ tục công bố nội dung đăng ký hoạt động của công ty luật nhận sáp nhập được thực hiện như khi mới thành lập. Sau khi công ty luật nhận sáp nhập được cấp giấy đăng ký hoạt động, các công ty luật bị sáp nhập chấm dứt hoạt động. Công ty luật nhận sáp nhập được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm về toàn bộ các khoản nợ chưa thanh toán, các hợp đồng dịch vụ pháp lý đang thực hiện, hợp đồng lao động đã ký với luật sư, người lao động khác và các nghĩa vụ tài sản khác của các công ty luật bị sáp nhập. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày cấp giấy đăng ký hoạt động cho công ty luật nhận sáp nhập, Sở Tư pháp thông báo cho Sở Tư pháp nơi đăng ký hoạt động của công ty luật bị sáp nhập về việc sáp nhập và gửi kèm theo bản sao giấy đăng ký hoạt động của công ty luật nhận sáp nhập để thực hiện việc xóa tên công ty luật bị sáp nhập khỏi danh sách đăng ký hoạt động.

2.1.5.3. Chuyển đổi công ty luật trách nhiệm hữu hạn và công ty luật hợp danh Luận văn: Thực trạng Pháp luật về công ty luật ở Việt Nam

Theo quy định tại Điều 14 Nghị định 123/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật luật sư, thì điều kiện và thủ tục chuyển đổi công ty luật trách nhiệm hữu hạn và công ty luật hợp danh như sau:

Điều kiện và hình thức chuyển đổi: Công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên có thể chuyển đổi sang hình thức công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên. Công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có thể chuyển đổi sang hình thức công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Công ty luật trách nhiệm hữu hạn có thể chuyển đổi sang hình thức công ty luật hợp danh. Công ty luật hợp danh có thể chuyển đổi sang hình thức công ty luật trách nhiệm hữu hạn.

Thủ tục chuyển đổi: Hồ sơ đề nghị chuyển đổi gồm: (i) Giấy đề nghị chuyển đổi trong đó nêu rõ mục đích, lý do chuyển đổi và cam kết về việc kế thừa toàn bộ quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của các công ty luật được chuyển đổi; (ii) Dự thảo điều lệ công ty luật. Điều lệ công ty luật gồm những nội dung chính sau đây: Tên, địa chỉ trụ sở; loại hình công ty luật; lĩnh vực hành nghề; họ, tên, địa chỉ thường trú của luật sư chủ sở hữu (đối với công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên) hoặc các luật sư thành viên (đối với công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty luật hợp danh); quyền và nghĩa vụ của luật sư chủ sở hữu hoặc các luật sư thành viên; phần vốn góp của luật sư thành viên (đối với công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên); điều kiện và thủ tục tham gia hoặc rút tên khỏi danh sách luật sư thành viên (đối với công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty luật hợp danh); cơ cấu tổ chức, quản lý, điều hành; thể thức thông qua quyết định, nghị quyết; nguyên tắc giải quyết tranh chấp nội bộ; nguyên tắc phân chia lợi nhuận và trách nhiệm của các luật sư thành viên đối với nghĩa vụ của công ty (đối với công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty luật hợp danh); các trường hợp tạm ngừng, chấm dứt hoạt động và thủ tục thanh lý tài sản; thể thức sửa đổi, bổ sung điều lệ công ty luật phải có chữ ký của luật sư chủ sở hữu hoặc của tất cả luật sư thành viên; (iii) Giấy đăng ký hoạt động của công ty luật được chuyển đổi;

Danh sách thành viên hoặc luật sư chủ sở hữu; bản sao thẻ luật sư của các luật sư thành viên hoặc luật sư chủ sở hữu của công ty luật chuyển đổi; (v)

Bản sao giấy tờ chứng minh về trụ sở trong trường hợp có thay đổi về trụ sở. Về thủ tục chuyển đổi: Hồ sơ chuyển đổi công ty luật được gửi 01 bộ đến Sở Tư pháp nơi công ty luật chuyển đổi đăng ký hoạt động. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp cấp giấy đăng ký hoạt động cho công ty luật chuyển đổi; trường hợp từ chối phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do. Thủ tục công bố nội dung đăng ký hoạt động của công ty luật chuyển đổi được thực hiện như khi mới thành lập.

2.1.6. Quy định về tạm ngừng hoạt động, chấm dứt hoạt động công ty luật Luận văn: Thực trạng Pháp luật về công ty luật ở Việt Nam

2.1.6.1. Tạm ngừng hoạt động

Theo quy định của pháp luật hiện hành, công ty luật có quyền tự chủ trong hoạt động của mình, công ty có quyền đề nghị tạm ngừng hoạt động nếu thấy hoạt động không hiệu quả. Thời gian được tạm ngừng hoạt động là hai năm. Công ty luật có quyền tạm ngừng hoạt động nhưng phải báo cáo bằng văn bản về việc tạm ngừng và tiếp tục hoạt động với Sở Tư pháp, cơ quan thuế, cơ quan thống kê, đoàn luật sư ở địa phương nơi đăng ký hoạt động và nơi có trụ sở của chi nhánh, chậm nhất là mười ngày làm việc trước ngày tạm ngừng hoặc tiếp tục hoạt động. Sở Tư pháp có quyền yêu cầu tổ chức hành nghề luật sư tạm ngừng hoạt động khi phát hiện tổ chức hành nghề luật sư đó không có đủ điều kiện hành nghề theo quy định của pháp luật.

Thủ tục đề nghị tạm ngừng hoạt động: Công ty luật tạm ngừng hoạt động phải báo cáo bằng văn bản về việc tạm ngừng hoạt động và tiếp tục hoạt động chậm nhất là 10 ngày làm việc trước ngày tạm ngừng hoặc tiếp tục hoạt động tới Sở Tư pháp nơi đăng ký hoạt động, nơi có trụ sở chi nhánh. Hồ sơ đề nghị tạm ngừng hoạt động gửi Sở Tư pháp gồm: (i) Giấy đề nghị tạm ngừng hoạt động; (ii) Báo cáo tạm ngừng hoạt động, bao gồm những nội dung chính (tên công ty luật; số, ngày, tháng, năm cấp giấy đăng ký hoạt động; địa chỉ trụ sở; thời gian tạm ngừng hoạt động, ngày bắt đầu và ngày kết thúc thời hạn tạm ngừng hoạt động; lý do tạm ngừng hoạt động; báo cáo về việc thanh toán nợ, giải quyết các hợp đồng dịch vụ pháp lý đã ký với khách hàng và hợp đồng lao động đã ký với luật sư, nhân viên của công ty luật); (iii) Biên bản họp thành viên (đối với công ty luật hợp danh/công ty luật TNHH hai thành viên trở lên).Luận văn: Thực trạng Pháp luật về công ty luật ở Việt Nam

Nghĩa vụ của công ty luật trong thời gian tạm ngừng hoạt động: Trong thời gian tạm ngừng hoạt động, công ty luật phải nộp đủ số thuế còn nợ, tiếp tục thanh toán các khoản nợ khác, hoàn thành việc thực hiện hợp đồng đã ký với người lao động, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Đối với hợp đồng dịch vụ pháp lý đã ký với khách hàng nhưng chưa thực hiện xong, thì phải thoả thuận với khách hàng về việc thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý đó. Trong trường hợp công ty luật tạm ngừng hoạt động thì các chi nhánh, văn phòng giao dịch công ty luật đó cũng phải tạm ngừng hoạt động.

2.1.6.2. Chấm dứt hoạt động công ty luật

Theo quy định của pháp luật hiện hành, thì công ty luật chấm dứt trong các trường hợp sau đây: Tự chấm dứt hoạt động; bị thu hồi giấy đăng ký hoạt động; giám đốc công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc tất cả các thành viên của công ty luật hợp danh, thành viên của công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên bị thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư; công ty luật bị hợp nhất, bị sáp nhập; giám đốc công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên chết.

Trường hợp tự chấm dứt hoạt động và bị hợp nhất, bị sáp nhập: Chậm nhất là ba mươi ngày, trước thời điểm dự kiến chấm dứt hoạt động, công ty luật phải thông báo bằng văn bản cho Sở Tư pháp, đoàn luật sư ở địa phương nơi đăng ký hoạt động và nơi có trụ sở của chi nhánh. Trước thời điểm chấm dứt hoạt động, công ty luật phải nộp đủ số thuế còn nợ; thanh toán xong các khoản nợ khác; làm xong thủ tục chấm dứt hợp đồng lao động đã ký với luật sư, nhân viên công ty luật; thực hiện xong các hợp đồng dịch vụ pháp lý đã ký với khách hàng. Trong trường hợp không thể thực hiện xong hợp đồng dịch vụ pháp lý đã ký với khách hàng thì phải thoả thuận với khách hàng về việc thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý đó.Luận văn: Thực trạng Pháp luật về công ty luật ở Việt Nam

Trường hợp chấm dứt hoạt động do bị thu hồi giấy đăng ký hoạt động và giám đốc công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc tất cả các thành viên của công ty luật hợp danh, thành viên của công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên bị thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư: Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày thu hồi giấy đăng ký hoạt động, chứng chỉ hành nghề luật sư, Sở Tư pháp có trách nhiệm thông báo bằng văn bản với đoàn luật sư, cơ quan thuế ở địa phương nơi đăng ký hoạt động và nơi có trụ sở của chi nhánh về việc thu hồi giấy đăng ký hoạt động của công ty luật, chứng chỉ hành nghề luật sư. Trong thời hạn sáu mươi ngày, kể từ ngày bị thu hồi giấy đăng ký hoạt động, chứng chỉ hành nghề luật sư, công ty luật phải nộp đủ số thuế còn nợ; thanh toán xong các khoản nợ khác; làm xong thủ tục chấm dứt hợp đồng lao động đã ký với luật sư, nhân viên của công ty luật; đối với hợp đồng dịch vụ pháp lý đã ký với khách hàng nhưng chưa thực hiện xong thì phải thoả thuận với khách hàng về việc thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý đó.

Trường hợp chấm dứt hoạt động do giám đốc công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên chết: Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày, giám đốc công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên chết, Sở Tư pháp ra quyết định thu hồi giấy đăng ký hoạt động. Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày thu hồi giấy đăng ký hoạt động, Sở Tư pháp có trách nhiệm thông báo bằng văn bản với đoàn luật sư, cơ quan thuế ở địa phương nơi công ty luật đăng ký hoạt động và nơi có trụ sở của chi nhánh về việc thu hồi giấy đăng ký hoạt động. Việc giải quyết quyền, nghĩa vụ về tài sản được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự.

2.2. THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI CÔNG TY LUẬT Luận văn: Thực trạng Pháp luật về công ty luật ở Việt Nam

Nếu như nói Pháp lệnh Luật sư năm 2001 là bước tiến quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện thể chế luật sư ở nước ta, đưa chế định luật sư của nước ta xích gần với thông lệ quốc tế, thì Luật Luật sư được Quốc hội khoá XI thông qua ngày 29/6/2006 tiếp tục hoàn thiện chế định luật sư. Luật Luật sư ra đời với hiệu lực pháp lý cao hơn sẽ góp phần nâng cao vị trí của luật sư và nghề luật sư trong xã hội, tạo thuận lợi lớn cho hoạt động hành nghề của các luật sư nhằm góp phần đắc lực hơn nữa trong sự nghiệp bảo vệ công lý, hội nhập và phát triển kinh tế, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ,văn minh. Luật Luật sư không chỉ nâng cao vị thế của luật sư trong xã hội, mà còn nhằm đưa luật sư của nước ta từng bước lên ngang tầm với luật sư của các nước trên thế giới và trong khu vực.

2.2.1. Về tổ chức

Theo Báo cáo số 456/BC-CP của Chính phủ về một số hoạt động bổ trợ tư pháp năm 2013, “trong năm 2013 cả nước có thêm gần 200 tổ chức hành nghề luật sư so với năm 2012, nâng tổng số tổ chức hành nghề luật sư lên 3.231 tổ chức với 2.239 văn phòng luật sư và 992 công ty luật”[11]

Theo số liệu thông kê của Bộ Tư pháp về kết quả hoạt động của luật sư 6 tháng năm 2014 (từ 01/01/2014 đến 30/6/2014), thì trên cả nước có 3.408 tổ chức hành nghề luật sư với 2.322 văn phòng luật sư và 1.086 công ty luật. Như vậy, so với năm 2013 trong 6 tháng đầu năm 2014 cả nước đã tăng số lượng tổ chức hành nghề lên 177 tổ chức, trong đó số văn phòng luật sư tăng 83 văn phòng và số công ty luật tăng 94 công ty.[7] Luận văn: Thực trạng Pháp luật về công ty luật ở Việt Nam

Như vậy, hiện nay trên cả nước có 1.086 công ty luật. Các công ty luật tập trung chủ yếu tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Thành phố Hà Nội năm 2013 có 415 công ty, thì nay có 438 công ty. Thành phố Hồ Chí Minh năm 2013 có 435 công ty, thì nay có 488 công ty. 5 tỉnh thành có trên 10 công ty luật gồm: Bà Rịa – Vũng Tàu 12 công ty; Cần Thơ 14 công ty; Đà Nẵng 18 công ty; Đồng Nai 15 công ty; Hải Phòng 19 công ty. Còn 20 tỉnh thành chưa có công ty luật gồm: Bắc Kạn, Cao Bằng, Đắk Lắk, Gia Lai, Hà Giang, Hà Nam, Hà Tĩnh, Hòa Bình, Hưng Yên, Kon Tum, Lai Châu, Lạng Sơn, Ninh Bình, Phú Yên, Quảng Ngãi, Sơn La, Thái Nguyên, Tiền Giang, Trà Vinh, Yên Bái. Có 1 tỉnh chưa có tổ chức hành nghề luật sư là Hà Nam.

Trong tổng số 1.086 công ty luật trên cả nước có: 104 công ty luật hợp danh; 544 công ty luật TNHH một thành viên; 438 công ty luật TNHH hai thành viên trở lên. Các công ty luật chủ yếu tập trung ở TP Hà Nội và TP Hồ

Chí Minh: Thanh phố Hà Nội có 29 công ty luật hợp danh, 223 công ty luật TNHH một thành viên, 186 công ty luật TNHH hai thành viên. TP Hồ Chí Minh có 58 công ty luật hợp danh, 256 công ty luật TNHH một thành viên, 174 công ty luật TNHH hai thành viên. Các tỉnh còn lại có 17 công ty luật hợp danh, 65 công ty luật TNHH một thành viên, 78 công ty luật TNHH hai thành viên trở lên.

Trên cơ sở thể chế về luật sư được hoàn thiện, nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý tăng cao của cơ quan, tổ chức và cá nhân, các tổ chức hành nghề luật sư đã tiếp tục được thành lập mới, củng cố và phát triển. Một số công ty luật lớn đã hình thành, hoạt động chuyên nghiệp, có khả năng cạnh tranh với các công ty nước ngoài trong khu vực (như Công ty luật VILAF, YKVN, SMiC…).

Việc thành lập nhiều tổ chức hành nghề luật sư với phạm vi hành nghề là tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, thực hiện dịch vụ pháp lý khác và đại diện ngoài tố tụng đã tạo điều kiện cho cá nhân, tổ chức thuận lợi hơn trong việc tìm đến với dịch vụ pháp lý của luật sư.

2.2.2. Về hoạt động Luận văn: Thực trạng Pháp luật về công ty luật ở Việt Nam

Các công ty luật thường chọn một vài lĩnh vực mà mình có thế mạnh để hoạt động, chẳng hạn Invesmentconsult Group chọn lĩnh vực hoạt động chủ yếu là kinh tế, thương mại, đầu tư… Đa số công ty luật hoạt động trên tất cả các lĩnh vực như: Tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, các dịch vụ pháp lý khác và đại diện ngoài tố tụng.

Các công ty luật cung cấp dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực tố tụng hoạt động ngày càng hiệu quả. Các luật sư của công ty luật tham gia tố tụng án hình sự, tỉ lệ số việc bào chữa do công dân mời ngày càng tăng so với việc bào chữa do cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu. Việc bào chữa cho bị can, bị cáo theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng được các luật sư tích cực tham gia, đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ chính trị tại địa phương, đặc biệt là các tỉnh miền núi, vùng sâu vùng xa.

Một số công ty luật hàng đầu của Việt Nam đã tham gia tư vấn những hợp đồng thương mại, dự án đầu tư lớn mang tầm quốc gia như: “Công ty luật VILAF Hồng Đức tư vấn dự án lọc dầu Dung Quất, dự án lọc dầu Nghi Sơn, dự án điện Nghi Sơn, dự án điện Vĩnh Tân 1, Công ty luật YKVN tư vấn các hợp đồng mua máy bay Boeing, dự án điện hạt nhân Ninh Thuận… đạt kết quả tốt, tạo được tiếng vang trên thị trường dịch vụ pháp lý trong khu vực và quốc tế, có tên trong bảng xếp hạng các công ty luật đang hoạt động tại Việt Nam của những tạp chí chuyên ngành như International Financial Law Review và Asia- Pacific Legal.”[6]

Ngoài cung cấp dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực tham gia tố tụng và tư vấn pháp luật, thì đại diện ngoài tố tụng và các dịch vụ pháp lý khác mà phổ biến là giúp cá nhân, tổ chức thực hiện các thủ tục pháp lý như thủ tục thành lập doanh nghiệp, chuyển nhượng bất động sản, đăng ký nhạn hiệu, xuất nhập cảnh… cũng đã được các công ty luật quan tâm. Kết quả đạt được trong các lĩnh vực này là số lượng vụ việc mà cá nhân, tổ chức sử dụng dịch vụ của công ty luật ngày càng tăng, mở ra nhiều cơ hội, tạo nhiều việc làm cho luật sư.Luận văn: Thực trạng Pháp luật về công ty luật ở Việt Nam

Một số công ty luật đã cộng tác với các trung tâm trợ giúp pháp lý bằng cách cử đội ngũ luật sư tham gia tích cực, có hiệu quả vào việc thực hiện tư vấn pháp luật miễn phí cho người dân, trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách.

Ngoài thực hiện các dịch vụ pháp lý, các công ty luật còn tích cực tham gia công tác xây dựng pháp luật, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, tham gia tích cực các hoạt động xã hội, thực hiện rà soát các thủ tục hành chính theo Đề án 30 của Chính phủ về đơn giản hóa các thủ tục hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước và các hoạt động xã hội khác.

Cùng với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra một cách sâu rộng, nhiều công ty luật đã chủ động, có những bước chuẩn bị tốt cho hoạt động nghề nghiệp, dần thích nghi, có kinh nghiệm và chuyên nghiệp hơn trong hoạt động hành nghề luật sư có yếu tố nước ngoài. Theo đó, các công ty luật ngày càng phát huy thế mạnh, từng bước khẳng định năng lực hoạt động hành nghề luật sư ở các lĩnh vực dịch vụ pháp lý mới như thương mại, đầu tư, tài chính, bảo hiểm, sở hữu trí tuệ… các lĩnh vực mà trước đây vốn là thế mạnh của các tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài. Đáng ghi nhận là một số công ty luật như Công ty luật YKVN, Công ty luật VILAF Hồng Đức… bước đầu đã xây dựng được thương hiệu của mình trên thị trường trong nước và khu vực, trở thành đối tác cạnh tranh với các tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài. Đồng thời, một số công ty luật đã có sự đầu tư nghiêm túc trong hoạt động hành nghề, có chiến lược đào tạo nhân sự bài bản, tạo dựng được thương hiệu cho công ty mình, không ngừng nâng cao chất lượng cung cấp các dịch vụ pháp lý cho khách hàng theo hướng chuyên nghiệp và hiệu quả.

2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY LUẬT

2.3.1. Đánh giá thực trạng pháp luật về công ty luật Luận văn: Thực trạng Pháp luật về công ty luật ở Việt Nam

Pháp luật về công ty luật ở Việt Nam hình thành muộn hơn so với pháp luật về công ty luật ở các nước trên thế giới. Quá trình hình thành và pháp triển pháp luật về công ty luật ở Việt Nam gắn liện với sự hoàn thiện về chế định luật sư và hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp. Có thể thấy, pháp luật về công ty luật ở Việt Nam có những ưu điểm, nhược điểm sau đây:

2.3.1.1. Ưu điểm

Một là, hệ thống pháp luật về công ty luật ở Việt Nam được quy định tương đối đồng bộ, dễ áp dụng. Luật Doanh nghiệp quy định khung pháp luật chung cho các loại hình doanh nghiệp. Luật Luật luật sư quy định những vấn đề đặc thù của nghề luật sư, các văn bản quy phạm pháp luật khác quy định bổ sung cho những vấn đề liên quan đến pháp luật về công ty luật.

Hai là, pháp luật về công ty luật ở Việt Nam thừa nhận sự đa dạng các loại hình công ty luật. Theo đó, công ty luật có thể là công ty luật hợp danh, công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Do đó, tạo điều kiện cho các luật sư có sự linh hoạt trong việc lựu chọn loại hình công ty luật để hành nghề phù hợp với điều kiện của mình.

2.3.1.2. Nhược điểm Luận văn: Thực trạng Pháp luật về công ty luật ở Việt Nam

Tuy pháp luật về công ty luật ở Việt Nam hiện nay có những ưu điểm, nhưng trên thực áp dụng, còn tồn tại những nhược điểm sau:

Một là, pháp luật về công ty luật ở Việt Nam nhiều quy định còn thiếu tính cụ thể, một số văn bản hướng dưới luật có sự mâu thuẫn luật, dẫn đến nhiều vướng mắc khi áp dụng. Cụ thể, mâu thuận không thống nhất giữa Luật Luật sư, Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Luật sư và Luật Doanh nghiệp. Theo quy định tại Điều 14 Nghị định 123/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật luật sư thì cho phép chuyển đổi công ty hợp danh thành công ty TNHH và ngược lại, trong khi đó Luật Doanh nghiệp 2005 không cho phép chuyển đổi công ty hợp danh thành công ty trách nhiệm hữu hạn và ngược lại, đây là mâu thuận nghiêm trọng cần được sửa đổi.

Hai là, nhiều quy định của pháp luật về công ty luật ở Việt Nam chưa phù hợp với tính đặc thù của nghề luật sư, như thừa nhận công ty luật trách nhiệm hữu hạn là hình thức tổ chức hành nghề luật sư, điều này không phù hợp với chế độ chịu trách nhiệm vô hạn của nghề luật sư.

Ba là, pháp luật về công ty luật ở Việt Nam chưa phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế. Thực tế áp dụng cho thấy, nhiều quy định của pháp luật về công ty luật còn chưa phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế như: Chưa phù hợp với quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO); Luật Luật sư hiện hành chưa tạo điều kiện để công ty luật Việt Nam có thể cạnh tranh bình đẳng với công ty luật nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam…Luận văn: Thực trạng Pháp luật về công ty luật ở Việt Nam

Quan điểm cần xem xét tính hợp lý sửa đổi các quy định hiện hành.

Số lượng thành viên tối thiểu của công ty luật TNHH? Có cần thiết phải để hai loại hình công ty luật TNHH không? Căn cứ nào xác định tính chịu trách nhiệm hữu hạn của các thành viên ? Việc chuyển nhượng phần vốn góp…

Theo quy định của pháp luật hiện hành thành viên tối thiểu của công ty luật TNHH gồm: Công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên do ít nhất hai luật sư thành lập. Công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một luật sư thành lập và làm chủ sở hữu. Như vậy cần xem xét và nghiên cứu kỹ khi quy định thành viên tối thiểu của công ty luật TNHH như pháp luật hiện hành. Một vấn đề đặt ra là có nên quy định hai loại hình công ty luật TNHH như hiện tại. Xét về bản chất hai loại hình công ty luật TNHH chỉ khác nhau về thành viên góp vốn. Tuy nhiên, do đặc trưng của nghề luật sư nên vấn đề vốn của công ty luật không đặt ra. Do đó cần nghiên cứu kỹ, tham khảo kinh nghiệm của các nước để đưa ra mô hình công ty luật TNHH phù hợp với loại hình công ty luật. Mặt khác, là công ty luật TNHH nhưng căn cứ xác định tính chịu trách nhiệm hữu hạn của các thành viên là không rõ ràng, do vấn đề vốn góp của các thành viên của công ty luật TNHH không có tính chất quyết định.

2.3.2. Đánh giá việc áp dụng pháp luật về công ty luật

Về số lượng, chất lượng của các công ty luật. Có thể thấy, số lượng các công ty luật đã hoạt động ổn định, công tác quản trị, điều hành tổ chức, hoạt động được cải tiến theo hướng chuyên nghiệp. Một số công ty luật đã có quy mô khá với gần 100 luật sư. Tuy nhiên, mặc dù số lượng các công ty luật đã tăng mạnh, song có hiện tượng manh mún và chưa tập hợp lại với nhau thành các công ty luật lớn có quy mô và tính chuyên nghiệp cao.

Mặc dù số lượng công ty luật nhiều nhưng chủ yếu tập trung tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh (926 công ty), chiếm tới 63,76% các công ty luật trên cả nước, trong khi đó cả khu vực miền núi phía Bắc, Tây Nguyên số công ty luật rất ít (khoảng 4% so với toàn quốc).Luận văn: Thực trạng Pháp luật về công ty luật ở Việt Nam

Quy mô của các công ty luật còn khiêm tốn, trung bình 1 công ty luật chỉ có khoảng 1 đến 3 luật sư, hoạt động nhỏ lẻ, ít có tính liên kết trong hành nghề, doanh thu còn rất hạn chế, thậm chí có rất nhiều công ty luật báo cáo không có doanh thu trong suốt thời gian dài.

Còn có công ty luật chưa tự giác, nghiêm túc chấp hành các quy định của Luật Luật sư và pháp luật liên quan trong quá trình hoạt động hành nghề, như: “Hoạt động không đúng trụ sở đã đăng ký; không ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý đúng quy định; chưa mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp luật sư; thực hiện không nghiêm túc các quy định về việc kê khai, đăng ký, nộp thuế; không thực hiện nghĩa vụ thông báo, đăng báo khi đăng ký thành lập, thay đổi; vi phạm quy định về treo bảng hiệu; không thực hiện việc niêm yết biểu phí, danh sách luật sư, đăng ký lao động; không thực hiện chế độ báo cáo về tổ chức và hoạt động cho cơ quan quản lý nhà nước,…”[27]

Về việc cấp phép, quản lý nhà nước đối với công ty luật. Trên thực tế cơ quan cấp phép – Sở Tư pháp hầu như không áp dụng Luật Doanh nghiệp khi thực hiện việc cấp phép đăng ký hoạt động, thay đổi nội dung đăng ký hoạt động… của công ty luật, mà chỉ áp dụng Luật Luật sư để xác định điều kiện. Đối với công ty luật TNHH, thực tế đăng ký hoạt động cơ quan đăng ký không ghi vốn điều lệ và cơ quan cấp phép cũng không quan tâm đến vấn đề này. Theo đó khó có thể xác định căn cứ pháp lý xác lập quyền sở hữu phần vốn góp. Như vậy có thể nhận thấy, nếu có tranh chấp phát sinh thì việc giải quyết là rất phức tạp. Việc quản lý nhà nước đối với các công ty luật chưa hiểu quả, tình trạng các công ty luật hoạt động không có trụ sở chưa được xử lý….

2.3.3. Nguyên nhân những bất cập pháp luật về công ty luật Luận văn: Thực trạng Pháp luật về công ty luật ở Việt Nam

Pháp luật về công ty luật ở Việt Nam còn một số nhược điểm xuất phát từ các nguyên nhân chủ yếu sau đây:

Một là, do pháp luật về công ty luật ở nước ta hình thành muộn, nên chưa có đủ thời gian để tổng kết thực tiễn.

Hai là, nhận thức của các cơ quan nhà nước, tổ chức, người dân, cộng đồng doanh nghiệp về vị trí, vai trò của công ty luật chưa đầy đủ, toàn diện, do đó chưa có sự quan tâm sâu sắc việc hoàn thiện pháp luật về công ty luật.

Ba là, có nhiều văn bản quy phạm pháp luật cùng điều chỉnh pháp luật về công ty luật, do đó có sự không thống nhất, đồng bộ giữa quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Luật sư và các văn bản hướng dẫn thi hành, một số quy định của Luật Luật sư, Luật Doanh nghiệp đã bộc lộ bất cập so với thực tiễn.

Bốn là, việc ban hành và sửa đổi luật và các văn bản hướng dẫn thi hành liên quan đến pháp luật về công ty luật còn chậm; quá trình triển khai thi hành Luật Doanh nghiệp, Luật Luật sư chưa kịp thời, chưa phát hiện những bất cập, chưa chủ động tháo gỡ một số vướng mắc, khó khăn trong quá trình thực thi pháp luật.Luận văn: Thực trạng Pháp luật về công ty luật ở Việt Nam

Tiểu kết Chương 2

Pháp luật về công ty luật ở Việt Nam tuy mới hình thành nhưng nhìn chung đã quy định tương đối đồng bộ và đầy đủ, phần lớn các quy định về tổ chức, hoạt động và quản trị của công ty luật được quy định trong Luật Doanh nghiệp. Luật Luật sư chỉ quy định những vấn đề chung mang tính đặc thù về hoạt động nghề nghiệp của luật sư như hình thức công ty, tổ chức lại công ty luật… Tuy nhiên, qua hoạt động thực tiễn có thể thấy, nhiều quy định của pháp luật về công ty luật còn nhiều bất cập, thiếu tính thống nhất giữa Luật Doanh nghiệp và Luật Luật sư, dẫn đến quá trình áp dụng pháp luật trong thực tiễn gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các công ty luật.

Mặc dù có một số bất cập, nhưng nhìn chung tổ chức và hoạt động của các công ty luật ở Việt Nam trong những năm gần đây và hiện nay đã có những bước phát triển không ngừng. Đa số các công ty luật Việt Nam đăng ký thành lập dưới hình thức công ty luật trách nhiệm hữu hạn, có rất ít công ty luật hợp danh được thành lập. Các công ty luật hoạt động chủ yếu vẫn tập trung vào các lĩnh vực tố tụng và dịch vụ pháp lý khác. Số lượng vụ việc, cũng như sự chuyển biến tích cực về chất lượng hoạt động hành nghề, tính chuyên nghiệp trong hoạt động của các công ty luật ngày càng cao. Theo đó, số lượng vụ việc và doanh thu của các công ty luật có chiều hướng tăng lên theo từng năm. Hoạt động của các công ty luật đã có những đóng góp quan trọng trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, đồng thời hỗ trợ hiệu quả cho các doanh nghiệp, góp phần tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi và tin cậy cho việc thu hút đầu tư, kinh doanh và thương mại. Ngoài lĩnh vực truyền thống như hình sự, dân sự, lao động, hôn nhân gia đình, các công ty luật đã mở rộng và phát triển tư vấn pháp luật trong các lĩnh vực kinh tế, đầu tư, thương mại quốc tế, đã tham gia tư vấn những hợp đồng thương mại, dự án đầu tư lớn đạt kết quả tốt. Qua đó, nhiều công ty luật đã phát triển nhanh chóng, được khách hàng trong nước và ngoài nước hài lòng và tin tưởng, tạo được sự tín nhiệm trên thị trường dịch vụ pháp lý trong khu vực và quốc tế.Luận văn: Thực trạng Pháp luật về công ty luật ở Việt Nam

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Luận văn: Giải pháp Pháp luật về công ty luật ở Việt Nam

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x