Luận văn: Khái quát về luật công chứng tại Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Khái quát về luật công chứng tại Việt Nam hay nhất năm 2022 cho các bạn học viên ngành đang làm Luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Luận văn thì với đề tài Luận văn: Quy chế công chứng viên theo pháp luật Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Quy định của pháp luật về công chứng viên trước khi có Luật Công chứng

2.1.1. Quy định của pháp luật về công chứng viên trong giai đoạn 1945 – 1975 Luận văn: Khái quát về luật công chứng tại Việt Nam

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Ngày 1/10/1945, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ký Nghị định bãi chức công chứng viên của ông DEROCHE là công chứng viên người Pháp tại văn phòng công chứng ở Hà Nội, đồng thời bổ nhiệm ông Vũ Quý Vỹ người mang Quốc tịch Việt Nam làm công chứng viên tại Hà Nội. Trong Nghị định này quy định: Các luật lệ cũ về công chứng vẫn được thi hành, trừ những điều khoản không phù hợp với nền độc lập và chính thể dân chủ cộng hòa Việt Nam. Tại Điều 5 nghị định nói trên quy định: “Ông Vũ Quý Vỹ phải ký quỹ một số tiền bảo đảm như viên công chứng cũ hoặc có thể lấy bất động sản bảo đảm thay vào số tiền đó…“. (Tức là ngay tại thời điểm đầu tiên của công chứng Việt Nam này, công chứng viên đã phải tự cam kết bảo đảm cho việc hành nghề công chứng của mình bằng chính tài sản của mình).

Như vậy có thể nói rằng, đây là công chứng viên và cũng là tổ chức công chứng đầu tiên của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Tổ chức công chứng lúc này mang đậm dấu ấn của công chứng Pháp. Các nguyên tắc, quy chế hoạt động công chứng vẫn như cũ, trừ những quy định trái với nền độc lập và chính thể dân chủ cộng hòa của nước ta lúc bấy giờ. Lần đầu tiên, bằng một văn bản pháp luật Nhà nước ta đã chính thức sử dụng thuật ngữ “công chứng viên” và tổ chức hoạt động với danh nghĩa là một tổ chức công chứng.

Nhưng do điều kiện hoàn cảnh của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lúc bấy giờ nên văn phòng công chứng nói trên hoạt động không có hiệu quả, hơn nữa nó chỉ có thể thực hiện trong phạm vi rất nhỏ là nội thành Hà Nội, trong khi đó cả nước lại vẫn đang trong thời kỳ kháng chiến toàn quốc. Luận văn: Khái quát về luật công chứng tại Việt Nam

Trước tình hình đó, ngày 15/11/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời ký ban hành Sắc lệnh số 59/SL ấn định “Thể lệ về thị thực các giấy tờ”. Nhưng xét cả về nội dung, thủ tục, thẩm quyền thì việc thị thực này chỉ là thủ tục hành chính, trong đó kể cả các khế ước chuyển dịch quyền sở hữu bất động sản. Cụ thể:

Điều thứ 1:

Trong các làng, quyền Thị thực các giấy tờ, trước do hương chức trong làng thi hành, nay thuộc Uỷ ban nhân dân của làng. Ở các Thành phố, quyền thị thực trước do Trưởng phố hay Hộ phố thi hành, nay cũng thuộc về Uỷ ban Nhân dân hàng phố. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân sẽ phụ trách việc thị thực này, và phải đề cử một hay là hai Uỷ viên để thay mình khi vắng mặt, hoặc khi chính mình là người đương sự có giấy cần đem thị thực, hoặc khi người đương sự đối với mình có thân thuộc về Trực hệ như cha mẹ, ông bà, vân v.v…hay bằng hệ bằng vai, chú bác, cô dì, anh em ruột và anh em thúc bá, hay là đối với mình là bố mẹ nuôi hay Con nuôi. Riêng ở các thành phố, chữ thị thực của Uỷ ban các phố phải có thêm Uỷ ban nhân dân Thị xã Chứng nhận. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thị xã sẽ phụ trách việc chứng nhận này, hoặc cử một uỷ viên phụ trách thay mình.

Điều thứ 2:

Các Uỷ ban có quyền thị thực tất cả các giấy mà trong địa phương mình, bất kỳ người đương sự làm giấy má ấy thuộc về Quốc tịch nào. Tuy nhiên, Uỷ ban thị thực phải là Uỷ ban ở Trú quán một bên đương sự lập ước, và việc Bất động sản phải là Uỷ ban ở nơi sở tại bất động sản. Nếu có nhiều bất động sản ở nhiều nơi khác nhau, thì giấy tờ làm ra về những bất động sản ấy phải do Uỷ ban mỗi nơi thị thực.”

Hơn nữa, tại Điều 3 Sắc lệnh 59/SL (15/11/1945) nêu rõ: “Các Ủy ban thị thực phải chịu trách nhiệm về việc thị thực và không đúng về căn cứ của đương sự, ngày tháng thị thực và quyền sở hữu trên bất động sản đem bán hay cầm cố.

Nếu xảy ra thiệt hại đến tư nhân vì sự thực không đúng, công quỹ của làng hay của hàng phố phải bồi thường” [28]. Việc thị thực được thu một khoản lệ phí theo tỷ lệ 0,1% đến 1% theo giá bất động sản ghi trong khế ước hoặc 1 đồng đối với nhất loạt các khế ước khác. Việc thị thực theo Sắc lệnh 59/SL càng về sau này càng mang tính hình thức, chủ yếu là xác nhận thời gian, địa điểm, chữ ký của đương sự [28]. Ngày 29/2/1952 Chính phủ ban hành Sắc lệnh 85/SL về “các việc mua bán cho, đổi nhà cửa, ruộng đất” [29], (trong đó có “thể lệ trước bạ về việc mua, bán, cho, đổi nhà cửa, ruộng đất”). Theo thể lệ này Ủy ban kháng chiến hành chính (cấp xã) có thẩm quyền nhận thực vào văn tự theo hai nội dung: Chữ ký của các bên mua bán cho đổi, người đứng ra bán, cho đổi là chủ những nhà cửa ruộng đất đem bán cho hay đổi. Cụ thể là:

Điều 3:

Trước khi đem trước bạ, văn tự phải đưa Ủy ban kháng chiến hành chính xã hay thị xã nhận thực chữ ký của các người mua, bán, cho, nhận đổi và nhận thực những người bán, cho hay đổi là chủ những nhà cửa, ruộng đất đem bán, cho hay đổi.

Việc nhận thực này không nộp một khoản tiền nào”.

Tuy thể lệ này chỉ được áp dụng ở vùng tự do hoặc ở những nơi vẫn duy trì được Ủy ban kháng chiến hành chính đến tận cấp xã. Còn ở thủ đô Hà Nội và các vùng tạm chiếm, thực dân Pháp đã dựng lên chính quyền tay sai và áp dụng luật lệ của chúng. Chính vì vậy mà tổ chức và hoạt động công chứng trong giai đoạn này không được chú trọng và trong suốt 37 năm (từ 1945 – 1981) cũng không có một văn bản pháp quy nào quy định về tổ chức và hoạt động công chứng của Nhà nước.

Như vậy, hai Sắc lệnh nói trên là cơ sở pháp lý chủ yếu cho hoạt động thị thực của Ủy ban hành chính kháng chiến và sau này là Ủy ban nhân dân trong gần nửa thế kỷ. Và có thể hình dung, trong thời gian đó, mọi công việc có tính chất công chứng đều do Ủy ban nhân dân cấp cơ sở thực hiện theo hình thức thị thực, chứng thực. Trong đó, những người thực hiện việc thị thực, chứng thực các giấy tờ là các Uỷ viên uỷ ban, nhưng ít nhiều chúng ta cũng đã thấy bóng dáng phần nào quy chế quy định về việc công chứng và những người thực hiện việc công chứng trong giai đoạn này (ví dụ: phải là uỷ viên uỷ ban hành chính, uỷ viên thư ký, hoặc không được chứng thực (công chứng) cho những người “thân thuộc về trực hệ như cha mẹ, ông bà, vân v.v…hay bằng hệ bằng vai, chú bác, cô dì, anh em ruột và anh em thúc bá, hay là đối với mình là bố mẹ nuôi hay con nuôi”…, hay “phải chịu trách nhiệm về việc thị thực và không đúng về căn cứ của đương sự, ngày tháng thị thực và quyền sở hữu trên bất động sản đem bán hay cầm cố. Nếu xảy ra thiệt hại đến tư nhân vì sự thực không đúng, công quỹ của làng hay của hàng phố phải bồi thường”… (dù phải chịu trách nhiệm tập thể: là Uỷ ban)… Luận văn: Khái quát về luật công chứng tại Việt Nam

Nguyên nhân của tổ chức và hoạt động công chứng không được phát triển trong giai đoạn này là: Một mặt là do điều kiện kinh tế, xã hội, cũng như hoàn cảnh chiến tranh của nước ta trong thời kỳ này; mặt khác chúng ta không chấp nhận chế độ sở hữu của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và tập thể. Vì vậy tổ chức công chứng không được thành lập, giai đoạn này hoạt động công chứng rất đơn giản là ít phải chứng thực các quan hệ thuộc sở hữu tư nhân. Mọi giao lưu kinh tế dân sự đều dựa trên quan hệ hành chính, sản phẩm xã hội mang tính hàng hóa, các giao lưu dân sự thương mại hầu như không phát triển. Do đó trong xã hội không có nhu cầu phải thiết lập một thể chế công chứng.

Như vậy, theo Sắc lệnh 59/SL (15/11/1945) thì hoạt động công chứng trong thời gian này do các uỷ viên của Ủy ban nhân dân cấp xã, cấp huyện thực hiện và Ủy ban nhân dân cấp xã, cấp huyện phải chịu trách nhiệm tập thể về việc thị thực không đúng. Vấn đề hết sức quan trọng về mặt lý luận cần thấy rằng, do điều kiện lịch sử của nước ta trong thời điểm này, việc giao cho các uỷ viên Ủy ban nhân dân cấp huyện, xã thực hiện các việc công chứng là một nhu cầu tất yếu, khách quan. Cùng với việc xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, xác lập lại các quan hệ sở hữu, nhất là việc quốc hữu hóa đất đai, tịch thu tài sản của địa chủ phong kiến chia cho dân nghèo, thực hiện các chính sách về ruộng đất.

Việc giao cho các văn phòng công chứng tổ chức theo mô hình của Pháp là một điều không tưởng trong thời khắc lịch sử này. Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 59/SL (15/11/1945) là một giải pháp hợp lý đối với việc mua bán, cho, đổi ruộng đất, thị thực, cầm cố bất động sản. Còn nguyên nhân về tổ chức và hoạt động công chứng không phát triển như vừa nêu trên cũng là một thực tế khách quan của điều kiện kinh tế, xã hội và từ đó đã xuất hiện một giải pháp đúng đắn về việc xác thực các hoạt động giao dịch trong điều kiện lịch sử của một nhà nước nhất định. Tổ chức và hoạt động công chứng chuyên trách lúc này đã được chuyển sang hoạt động kiêm nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp huyện, xã và vẫn hoạt động để đáp ứng được nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước ta là xác lập lại quan hệ sở hữu. Tuy nhiên, việc chúng ta áp dụng mô hình tổ chức và thực hiện công chứng theo Sắc lệnh SL/59 trong một thời kỳ quá dài của nền quản lý kinh tế theo cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp và vẫn còn tồn tại cho đến hôm nay cũng là một vấn đề cần phải được giải quyết. các nước xã hội chủ nghĩa trước đây nói chung và ở nước ta nói riêng, đã chịu ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng duy ý chí, nhất là việc chuyển giao nhiều chức năng quản lý kinh tế của nhà nước cho các thiết chế xã hội và tập thể một cách thiếu tính toán. Vì vậy, hậu quả là rất nghèo các đòn bẩy và cơ chế quản lý hành chính, rất thiếu các thủ tục thể hiện vai trò kiểm soát kinh tế có hiệu quả của nhà nước, không đủ các thủ tục tài phán hành chính để điều hòa đúng đắn mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, chúng ta phải trả giá cho việc chủ quan duy ý chí, bảo thủ trì trệ. Chúng ta đã không nhìn nhận và đánh giá khách quan, kìm hãm sự phát triển của các thành phần kinh tế phi nhà nước, từ đó dẫn tới một loạt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không phù hợp với thực tế cuộc sống. Cơ chế quản lý tập trung bao cấp ở miền Bắc trong thời kỳ chiến tranh vẫn được duy trì trong một thời gian quá dài đã làm suy giảm nghiêm trọng hiệu lực và hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước, nhất là trong lĩnh vực quản lý kinh tế. Từ sau năm 1954 kéo dài đến cuối những năm 70, Nhà nước ta thiết lập một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, bằng cách phát triển và cải tạo nền kinh tế quốc dân theo chủ nghĩa xã hội, biến nền kinh tế nhiều thành phần thành nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Điểm nổi bật của thời kỳ này tuy vẫn thừa nhận tồn tại bốn loại hình sở hữu chủ yếu về tư liệu sản xuất: sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu của người lao động riêng lẻ và sở hữu của nhà tư sản dân tộc. Nhà nước chủ trương đẩy mạnh cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa với mục tiêu nhanh chóng xóa bỏ các hình thức phi sở hữu xã hội chủ nghĩa. Thời kỳ này các hoạt động sản xuất kinh doanh thực hiện theo kế hoạch của Nhà nước, các giao lưu dân sự không có điều kiện phát triển – đây chính là lý do làm cho hoạt động công chứng không có cơ sở tồn tại.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Dịch Vụ Viết Luận Văn Thạc Sĩ Luật Học

2.1.2. Quy định của pháp luật về công chứng viên sau năm 1976 (của nước CHXHCN Việt Nam)

2.1.2.1. Công chứng viên theo hoạt động công chứng Nhà nước từ 1976 – 1991 Luận văn: Khái quát về luật công chứng tại Việt Nam

Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, hai miền Bắc, Nam chung về một mối, đổi tên nước thành CHXHCN Việt Nam, toàn bộ đất nước chỉ có chung một hệ thống pháp luật sau kỳ họp quốc hội thống nhất năm 1976. Tuy nhiên do hoàn cảnh đặc thù của đất nước mới thống nhất, toàn bộ hệ thống pháp luật lúc đó chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực nhằm thống nhất và ổn định về hệ thống chính trị, bộ máy quản lý nhà nước, quản lý và phát triển nền kinh tế sau một thời gian dài chiến tranh. Do vậy, những năm đầu thống nhất các quy định về công chứng viên và chế định về công chứng vẫn áp dụng theo những quy định trước đó. Cho mãi đến năm 1981, để đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới toàn diện, căn cứ vào các quy định tại nghị định số 143/HĐBT ngày 22/11/1981 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là chính phủ) quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức tư pháp, ngay sau khi bắt đầu công cuộc đổi mới, hoạt động công chứng ở Việt Nam đã được triển khai, ngày 10/10/1987 Bộ Tư pháp đã ra thông tư số 574/QLTPK về công chứng Nhà nước. Công tác công chứng của ủy ban nhân dân các địa phương (do các Uỷ viên thư ký được uỷ quyền thực hiện) được cải tiến và nâng cao chất lượng, đồng thời thành lập phòng công chứng Nhà nước tại thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh, thành phố khác có nhu cầu lớn về công chứng và có đủ điều kiện cần thiết. Cụ thể, tại Mục II của

Thông tư nói trên thì:

“Mục: II.

Thành lập Phòng Công chứng nhà nước chuyên trách ở thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh, thành phố khác có nhu cầu lớn về công chứng và có đủ điều kiện cần thiết.

Phòng Công chứng nhà nước là cơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương, có tư cách pháp nhân,có con dấu riêng in hình quốc huy. Công chứng viên và cán bộ khác của Phòng Công chứng nhà nước là người trong biên chế nhà nước. Công chứng viên phải là công dân

Việt Nam có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có năng lực và tinh thần trách nhiệm cao, công minh, liêm khiết, có trình độ đại học pháp lý và tương đương, đã được bồi dưỡng về nghiệp vụ công chứng. Sở Tư pháp chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết và dự thảo kế hoạch thành lập Phòng Công chứng nhà nước báo cáo Bộ Tư pháp. Sau khi có ý kiến chỉ đạo của Bộ, Sở Tư pháp trình Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương ra quyết định thành lập Phòng Công chứng nhà nước và công nhận danh sách công chứng viên. Mỗi Phòng Công chứng nhà nước bước đầu có từ 5 đến 7 người (kể cả công chứng viên và nhân viên phục vụ). Biên chế của Phòng này nằm trong tổng biên chế đã được quy định của tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương”.

Sau đó, chi tiết hơn, để hướng dẫn thực hiện một số việc theo thông tư 574/QLTPK nói trên, Bộ Tư pháp đã ban hành tiếp Thông tư số 858/QLTPK vào ngày 15-10-1987 với một số nội dung có liên quan như sau:

“I. Những yêu cầu cơ bản đối với việc làm công chứng:

Bảo đảm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa: Khi thực hiện các việc làm công chứng, công chứng viên và những người được Uỷ ban nhân dân giao nhiệm vụ thực hiện các việc làm công chứng (dưới đây gọi chung là công chứng viên) phải nghiêm chỉnh tuân theo pháp luật hiện hành, phải kiểm tra xem những yêu cầu của đương sự có phù hợp với những quy định chung của

Nhà nước hay không. Công chứng viên không chứng nhận các hợp đồng, các văn bản hoặc chứng thực các bản sao trái với pháp luật; không nhận giữ giấy tờ, tài liệu mà nội dung tiết lộ bí mật quốc gia, làm mất danh dự, nhân phẩm của công dân. Trong trường hợp nghi ngờ các giấy tờ, tài liệu là giả mạo, thì công chứng viên có quyền yêu cầu giám định các loại giấy tờ, tài liệu nghi ngờ đó, từ chối thực hiện việc làm công chứng có liên quan đến các giấy tờ, tài liệu đó và thông báo cho các cơ quan có trách nhiệm để xác minh, xử lý. Công chứng viên chỉ tuân theo pháp luật, không ai có quyền buộc công chứng viên thực hiện các việc làm công chứng không phù hợp với pháp luật.

2.Giúp đỡ công dân, các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội trong việc thực hiện và bảo vệ lợi ích hợp pháp của họ. Để tránh trường hợp do không hiểu pháp luật, đương sự tự gây tổn hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình, khi thực hiện các việc làm công chứng, công chứng viên phải giải thích cho đương sự hiểu quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của họ, đồng thời phân tích cho họ hiểu hậu quả pháp lý của những việc làm công chứng không thích hợp đó.

Giữ bí mật việc làm công chứng Công chứng viên và cán bộ của cơ quan công chứng phải giữ bí mật nội dung và việc đương sự đến yêu cầu thực hiện các việc làm công chứng; những thông tin về các việc làm công chứng chỉ cấp cho chính đương sự hay người đại diện hợp pháp của đương sự. Các cơ quan điều tra truy tố, xét xử khi đang thụ lý, giải quyết những vụ việc có liên quan đến những việc làm công chứng đó.

Địa điểm thực hiện các việc làm công chứng.

Nói chung, các việc làm công chứng phải được làm tại trụ sở của các cơ quan công chứng. Song, nếu có lý do chính đáng, đương sự không thể đến công chứng được, thì công chứng viên có thể đến tại nơi đương sự yêu cầu, trong trường hợp này đương sự phải chịu mọi phí tổn đi lại theo quy định của Nhà nước và phải trả lệ phí gấp hai lần so với lệ phí đã quy định.

Đảm bảo thời hạn thực hiện các việc làm công chứng”

Và cũng từ đây, khi quyết định thành lập các phòng công chứng Nhà nước, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có Phòng công chứng quyết định bổ nhiệm mới hoặc bổ nhiệm bổ sung các công chứng viên làm việc gắn liền với các phòng công chứng nào đó của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đó (Ví dụ: Quyết định: “Bổ nhiệm ông Nguyễn Văn A làm công chứng viên Phòng Công chứng Nhà nước số 1 T.P. Hồ Chí Minh”…). Và tất nhiên, cùng với tên gọi là các “Phòng công chứng nhà nước” thì các công chứng viên này đương nhiên là phải được lựa chọn trong số các cán bộ, công chức của địa phương tỉnh, thành phố đó để bổ nhiệm.. Sau mấy chục năm (khoảng nửa thế kỷ) không tổ chức hoạt động công chứng, thì đây là bước cần thiết để rút những kinh nghiệm tiếp tục từng bước xây dựng tổ chức và hoạt động công chứng (mà đầu tiên là công chứng nhà nước) ở nước ta. [15], [41].

2.1.1.2. Công chứng viên theo hoạt động công chứng nhà nước từ 1991 đến nay Luận văn: Khái quát về luật công chứng tại Việt Nam

Từ giữa những năm 1980, Đảng và Nhà nước ta sau. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đã mở ra một giai đoạn đổi mới quản lý kinh tế, xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VII (1991), đặc biệt là cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã vạch ra những định hướng lớn về kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo đó là một cuộc chuyển đổi sâu sắc, từng bước xóa bỏ cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp, hình thành cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước và đã thu được những kết quả rất quan trọng. Nền kinh tế thị trường đã tạo ra những quan hệ mới trong lĩnh vực phát triển và quản lý nền kinh tế, các giao lưu dân sự, kinh tế, thương mại phát triển rất sôi động.

Để khuyến khích và tạo điều kiện cho sự phát triển đó, đòi hỏi phải có thể chế pháp luật phù hợp. Về lĩnh vực công chứng cũng vậy, đã đặt một tình hình và nhiệm vụ mới: Cần phải có một tổ chức hoạt động chuyên nghiệp với nguyên tắc tổ chức và hoạt động đặc thù chứ không để cho Ủy ban nhân dân kiêm nhiệm các công việc về công chứng như trước đây. Để giải quyêt yêu cầu nhiệm vụ này, ngày 27/2/1991 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định số 45/HĐBT về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước. Đây là văn bản pháp luật đầu tiên của Nhà nước ta quy định cơ sở pháp lý có thể nói là toàn diện đầy đủ về tổ chức và hoạt động công chứng ở nước ta, trong đó có quy định khá chi tiết về công chứng viên. Luận văn: Khái quát về luật công chứng tại Việt Nam

Nghị định 45/HĐBT (27/2/1991) quy định về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước; trình tự thủ tục thực hiện các việc công chứng; quản lý tổ chức và hoạt động công chứng; giá trị pháp của văn bản công chứng; đặc biệt là quy định đối với công chứng viên. Cùng với những quy định trong các văn bản pháp luật khác về công chứng Nghị định 45/HĐBT (27/2/1991) như là một bản văn tuyên bố về tổ chức và hoạt động công chứng Việt Nam, đánh dấu một sự tiến triển của những mối liên hệ giữa hoạt động phòng ngừa tranh chấp và hoạt động tài phán. Công chứng viên lần đầu tiên có những quy định riêng, chặt chẽ và lãnh hội một sứ mạng to lớn của một nhà thực hành về pháp luật, khác hẳn với nhiệm vụ của luật sư trong các hoạt động tố tụng, công chứng viên là người hướng dẫn, tuyên truyền và thực thi áp dụng luật pháp trong một số lĩnh vực dân sự. (Tuy vẫn cho phép Ủy ban nhân dân được tiếp tục thực hiện một số việc công chứng ở nơi chưa thành lập Phòng công chứng). Những điểm nổi bật trong quy chế về công chứng viên trong Nghị định này được quy định khá cụ thể như: tiêu chuẩn bổ nhiệm, những việc không được làm của công chứng viên. Cụ thể:

“Điều 14. Những người có đủ các điều kiện sau đây có thể được bổ nhiệm làm công chứng viên:

  • Là công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
  • Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt;
  • Tốt nghiệp đại học pháp lý;
  • Đã làm công tác pháp luật từ 5 năm trở lên và được huấn luyện nghiệp vụ công chứng.

Công chứng viên được cấp và sử dụng thẻ công chứng viên trong khi làm nhiệm vụ”. hay:

“Điều 18. Công chứng viên không được thực hiện công chứng trong các trường hợp sau đây:

  • Những việc không thuộc phạm vi công chứng;
  • Những yêu cầu công chứng trái pháp luật;
  • Những việc liên quan đến bản thân mình, vợ hoặc chồng; anh chị em ruột (kể cả anh chị em vợ hoặc chồng, anh chị em nuôi), cha, mẹ (kể cả cha, mẹ vợ hoặc cha, mẹ chồng, cha, mẹ nuôi), ông bà nội, ông bà ngoại; con (kể cả con nuôi, con dâu, con rể); cháu (các con của con trai, con gái, con nuôi);
  • Những việc mà đương sự chưa nộp hoặc xuất trình đầy đủ các giấy tờ, tài liệu hợp pháp cần thiết để thực hiện công chứng”.

Như vậy chỉ cần thông qua nội dung Điều 14 nói trên chúng ta đã có thể thấy rõ ngay một trong các nguyên tắc cơ bản nhất để xây dựng nên quy chế công chứng viên ở Việt Nam đã được hình thành và xác định tương đối rõ ràng trong giai đoạn này. Đó chính là điều kiện – là yếu tố đầu tiên – để một người có thể được trở thành một công chứng viên.

Còn trước đó, tại các Điểu 12 và Điều 13 thì đã quy định thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, chế độ lương của công chứng viên: Điều 12. Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh ra quyết định thành lập phòng công chứng Nhà nước; bổ nhiệm và miễm nhiệm các công chứng viên, Trưởng phòng công chứng Nhà nước sau khi đã thống nhất với Bộ trưởng Bộ Tư pháp”, “Điều 13. … Trưởng phòng công chứng Nhà nước phải được chọn trong số các công chứng viên. … Công chứng viên được hưởng lương theo chế độ chuyên viên”.

Ngoài ra, chi tiết hơn, Nghị định còn quy định cụ thể trước những việc công chứng viên có nhiệm vụ phải làm, các quyền khi thực hiện việc công chứng và các trường hợp (về đối tượng, chủ thể) mà công chứng viên không được thực hiện việc công chứng:

“Điều 16. Khi thực hiện công chứng, công chứng viên có nhiệm vụ:

  • Tiếp nhận, kiểm tra các giấy tờ, tài liệu do đương sự nộp, xuất trình; trường hợp cần thiết phải tiến hành xác minh. Trực tiếp soạn thảo hoặc hướng dẫn cho đương sự soạn thảo hợp đồng và giấy tờ nếu họ đề nghị.
  • Trực tiếp thực hiện công chứng, ký văn bản công chứng, đóng dấu phòng công chứng Nhà nước và chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật về việc công chứng do mình thực hiện;
  • Ghi việc công chứng đã thực hiện vào sổ công chứng;
  • Lưu giữ các văn bản công chứng;
  • Trường hợp cần thiết giải thích cho người yêu cầu công chứng hiểu rõ quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của họ, ý nghĩa pháp lý của việc công chứng.

Điều 17. Khi thực hiện công chứng, công chứng viên có quyền:

  • Yêu cầu đương sự nộp hoặc xuất trình đầy đủ các giấy tờ, tài liệu cần thiết cho việc thực hiện công chứng.
  • Yêu cầu các cơ quan Nhà nước, tổ chức khác cung cấp giấy tờ, tài liệu cần thiết để thực hiện công chứng.
  • Yêu cầu cơ quan chuyên môn giám định hoặc làm tư vấn khi thấy cần thiết.
  • Từ chối thực hiện công chứng đối với các trường hợp quy định tại điều 18 của Nghị định này.

Điều 18. Công chứng viên không được thực hiện công chứng trong các trường hợp sau đây:

  • Những việc không thuộc phạm vi công chứng;
  • Những yêu cầu công chứng trái pháp luật;
  • Những việc liên quan đến bản thân mình, vợ hoặc chồng; anh chị em ruột (kể cả anh chị em vợ hoặc chồng, anh chị em nuôi), cha, mẹ (kể cả cha, mẹ vợ hoặc cha, mẹ chồng, cha, mẹ nuôi), ông bà nội, ông bà ngoại; con (kể cả con nuôi, con dâu, con rể); cháu (các con của con trai, con gái, con nuôi);
  • Những việc mà đương sự chưa nộp hoặc xuất trình đầy đủ các giấy tờ, tài liệu hợp pháp cần thiết để thực hiện công chứng”.

Vì là văn bản pháp luật đầu tiên về công chứng và công chứng viên nên việc quy định như trên thực sự vẫn mang tính liệt kê, tính chỉ đạo hành chính cụ thể của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mà vẫn chưa thể hiện được tính phổ quát, tính khoa học pháp lý về chế định công chứng viên và quy chế công chứng viên.

Tuy vậy, thông qua các quy định về riêng công chứng viên trong Nghị định này chúng ta thấy Nhà được đã bắt đầu rất coi trọng chức danh công chứng viên trong hệ thống pháp luật, đã dành nhiều điều để quy định về công chứng viên. Tuy nhiên, vì chế định công chứng thời điểm đó là chế định công chứng Nhà nước, nên ngoài các quy định về nguyên tắc, tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm … có tính chất pháp lý (có bằng đại học pháp lý, có thâm niên pháp luật tối thiểu 5 năm lại phải qua đào tạo nghiệm vụ công chứng, …) thì nghị định còn quy định thêm điều kiện về mặt địa vị hành chính của ông chứng viên, đó là: công chứng viên phải là chuyên viên (công chức Nhà nước). Vào thời điểm khó khăn về hệ thống pháp luật nói riêng và về mặt kinh tế xã hội, tổ chức bộ máy nhà nước nói chung như những năm 1990- 1991 thì đây là một yêu cầu đã khá cao vể số lượng chất lượng của công chứng viên, do vậy số lượng công chứng viên trên toàn quốc chỉ vỏn vẹn dưới một trăm người. (cụ thể cho đến năm 1991 chỉ có 97 công chứng viên). Còn các quy định, quy chế về mặt chất lượng của công chứng viên thì nghị định cũng chưa đề cập đến.

Sau hơn 5 năm triển khai thực hiện nghị định này, công tác công chứng đã có được kết quả bước đầu đáng phấn khởi; trên toàn quốc đã hình thành hệ thống các Phòng công chứng nhà nước ở tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đều đã thành lập ít nhất một Phòng công chứng nhà nước. Công tác công chứng đã đáp ứng được một phần yêu cầu công chứng của công dân và tổ chức [9].

Tuy nhiên, sự phát triển của các quan hệ gia đình đặc biệt là trong điều kiện nền kinh tế thị trường bắt đầu phát triển sôi động ở nước ta đã làm cho bản thân Nghị định 45/HĐBT (27/2/1991) trở thành không đầy đủ. Ngày 18/5/1996 Chính phủ đã ban hành Nghị định 31/CP (18/5/1996) về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước thay thế cho Nghị định 45/HĐBT (27/2/1991). Đặc biệt trong Nghị định này đã có riêng hẳn một chương (Chương IV) quy định về riêng công chứng viên và những đối tượng người khác được làm các công việc tương đương với công chứng viên. Và cũng trong nghị định này, ngoài việc quy định thêm phẩm chất “công minh, trung thực, liêm khiết, khách quan” thì lần đầu tiên pháp luật quy định công chứng viên phải là người làm việc chuyên trách, không kiêm nhiệm và không được làm nghề tự do. Đây cũng là một quy định mới, tiến bộ hơn so với Nghị định 45/HĐBT nhằm chuyên trách hoá (không kiêm nhiệm) nghiệp vụ của công chứng viên, giúp tăng cường chất lượng công việc của công chứng viên:

“Điều 17. Công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam có đủ các tiêu chuẩn sau đây được xem xét tuyển chọn và bổ nhiệm làm công chứng viên:

  • Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, công minh, trung thực, liêm khiết, khách quan.
  • Tốt nghiệp Đại học Luật;
  • Có thời gian công tác pháp luật từ 5 năm trở lên;
  • Đã qua lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng.

Công chứng viên phải hoạt động chuyên trách, không được kiêm nhiệm công việc khác tại các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, và không được hành nghề tự do”… Luận văn: Khái quát về luật công chứng tại Việt Nam

Ngoài ra, các quy định cụ thể các nhiệm vụ (Điều 21), các quyền (Điều 22) và các việc công chứng viên không được làm (Điều 23), …, thì nhìn chung vẫn gần như được giữ nguyên như những quy định trong Nghị định 45/HĐBT ngày 27/02/1991.

Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của cá nhân, tổ chức về công chứng, chứng thực, góp phần phục vụ sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, đồng thời tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động công chứng, chứng thực, tiếp tục thực hiện cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực công chứng, chứng thực. Ngày 08/12/2000 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 75/2000/NĐ-CP (8/12/2000) về công chứng, chứng thực. Nghị định này quy định về phạm vi công chứng, chứng thực, tổ chức Phòng công chứng, nguyên tắc hoạt động, thủ tục, trình tự thực hiện việc công chứng, chứng thực, công tác chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn.

Tuy nhiên, trong nghị định 75/2000/NĐ-CP chỉ quy định chủ yếu về khía cạnh quản lý và phạm vi công việc mà công chứng viên được làm hay không được làm, không có điều khoản riêng nào quy định thêm về công chứng viên. Nhưng nẳm rải rác trong những điều khoản chung khác thì công chứng viên theo nghị định này đã có thêm một số quyền so với quyền quy định tại Nghị định 31/CP – đó là thêm một số quyền chứng thực như thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân cấp phường, xã hoặc cấp quận, huyện. Còn về mặt quy chế, theo nghị định này quy định về công chứng viên vẫn là công chức (hay viên chức) Nhà nước và chưa có gì thay đổi đặc biệt so với quy định đối với công chứng viên theo Nghị định 31/CP.

Cũng cần chú ý thêm, các Nghị định này không phải là văn bản pháp luật về công chứng đầy đủ nhất, tập trung nhất. Ngoài các Nghị định đã nêu, các quy định có liên quan đến hoạt động công chứng còn nằm rải rác trong các văn bản pháp luật khác mà công chứng viên buộc phải biết để thực hiện, đặc biệt là trong các luật về dân sự (ví dụ: đặc biệt Bộ Luật Dân sự năm 1995 có tới 29 điều nói đến công chứng, đó là các điều : 133, 139,316, 322, 330, 347, 367, 400, 403, 417, 443, 455, 459, 463, 477, 489, 506, 563, 586, 645, 653,655, 660, 661,662, 663, 664, 668 và 675. Rồi tiếp theo là các văn bản về Luật đất đai, luật thương mại, luật hôn nhân gia đình, … trong thời kỳ tương ứng). Những quy định trong các văn bản có liên quan này tất nhiên không quy định trực tiếp về công chứng viên, nhưng cũng thể hiện được một phần quy chế công chứng viên khi quy định về những công việc mà công chứng viên phải làm hoặc có thể được làm.

Như vậy, xét về thể chế, quy chế công chứng viên cho đến thời điểm này có một số đặc điểm chính được rút ra như sau:

Các công chứng viên trực tiếp thực hiện các việc công chứng tại các Phòng công chứng Nhà nước (tuy từ Nghị định 75/2000/NĐ-CP (8/12/2000) chỉ gọi là Phòng công chứng). Các Phòng công chứng đó là một tổ chức có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng, công chứng viên được sử dụng con dấu của các Phòng công chứng trong văn bản công chứng của mình, tuy nhiên tính độc lập của các công chứng viên đã khá cao: “công chứng viên chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật về việc công chứng do mình thực hiện” [21].

Ngoài công chứng viên, một số chuyên viên của cơ quan chuyên trách theo quy định của Nghị định 75/2000/NĐ-CP (8/12/2000) và Bộ luật dân sự như các cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự của nước ta ở nước ngoài cũng có thẩm quyền công chứng một số việc, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã có thẩm quyền chứng thực.

Tuy nhiên, các chuyên viên cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có thẩm quyền công chứng (đúng nghĩa chỉ là chứng nhận) các việc theo quy định của pháp lệnh lãnh sự và Nghị định 75/2000/NĐ-CP (8/12/2000) trừ các việc mua, bán, tặng, cho, trao đổi bất động sản tại Việt Nam. Nhưng nghị định này cũng kèm theo quy định: Ở các nước hoặc địa bàn có nhiều yêu cầu công chứng. Bộ Ngoại giao có trách nhiệm cử viên chức lãnh sự có bằng cử nhân luật đã qua bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng để chuyên trách thực hiện công chứng tại cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, văn bản công chứng do cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài thực hiện có giá trị như văn bản công chứng, văn bản chứng thực ở trong nước [22].

Theo số liệu thống kê năm năm 2000, số công chứng viên trong cả nước cho đến năm 1991 là 97 công chứng viên, đến năm 1992 có 101 công chứng viên; năm 1993 có 126 công chứng viên; năm 1996 có 202 công chứng viên; năm 1997 có 237 công chứng viên; và đến năm 2000 đã có 244 công chứng viên (làm việc trong 95 Phòng công chứng nhà nước, trong đó có 61 phòng số 1; 23 phòng số 2, 9 phòng số 3; 2 phòng số 4, trong tổng số biên chế là nhà nước là 664 người). Ngoài hệ thống các Phòng công chứng nhà nước chuyên trách, còn có hơn 600 Ủy ban nhân dân cấp huyện, 13.000 Ủy ban nhân dân cấp xã và các cơ quan sứ quán, lãnh sự của nước ta ở nước ngoài cũng có chuyên viên thực hiện một số việc công chứng [12].

Công chứng viên nước ta cho đến thời điểm này, xét về mặt địa vị pháp lý thì vẫn là người thuộc biên chế nhà nước (do thể chế công chứng nhà nước), Phòng công chứng là cơ quan Nhà nước, công chứng viên là viên chức nhà nước, công chứng viên đi theo Phòng công chứng được lập ra theo từng khu vực cụ thể. Công chứng viên tuy nằm trong khối cơ quan có chức năng quản lý nhà nước nhưng chỉ là những người có chức năng chính là chứng nhận tính xác thực các loại công việc theo quy định của pháp luật [115]. Do vậy tính chất hoạt động của công chứng viên đã bắt đầu mang đậm tính hỗ trợ cho hoạt động tư pháp. Trong giai đoạn này, vể mặt quy định của pháp luật, hoạt động của công chứng viên với tư cách là một chủ thể hoạt động độc lập không bị chi phối bởi bất kỳ một yếu tố nào (thể hiện vị trí của cơ quan công chứng trong lĩnh vực hỗ trợ tư pháp). Tuy nhiên, trên thực tế, vì vẫn là viên chức Nhà nước nên các hoạt động của công chứng viên giai đoạn này vẫn còn mang nặng cách thức và tư tưởng của một “viên chức nhà nước”, chưa hoàn toàn mang tính chuyên nghiệp và đương nhiên còn phải chịu cả sự chi phối của Luật cán bộ, công chức hoặc Luật về viên chức.

Thêm vào đó, quy định của pháp luật về công chứng cho đến giai đoạn này ở nước ta vẫn còn những nét khác biệt với quy định về công chứng của nhiều nước khác, ví dụ đó là: một số chuyên viên cơ quan khác không phải là công chứng viên cũng có nhiệm vụ thực hiện một phần chức năng của công chứng viên. Việc thực hiện các việc công chứng của các chuyên viên trong các cơ quan khác được Nhà nước giao thực hiện một phần chức năng công chứng nói trên đang có rất nhiều những bất cập cần phải được nghiên cứu để xác định lại cho phù hợp với chứng năng nhiệm vụ, chất lượng của các chuyên viên này.

2.1.3. Nhận xét tổng quát về các đặc điểm nổi bật của quy chế công chứng viên Việt Nam trong giai đoạn này (trước khi có Luật Công chứng 2006). Luận văn: Khái quát về luật công chứng tại Việt Nam

Qua những phân tích trên đây, ta thấy công chứng viên Việt Nam toàn trong toàn bộ thời kỳ trước khi có Luật Công chứng năm 2006 có một số điểm đặc trưng cơ bản như sau:

  • Về mặt thể chế, Nghị định 45/HĐBT ngày 27/2/1991 là văn bản pháp luật đầu tiên quy định một cách đầy đủ về Công chứng viên ở Việt Nam như một quy chế luật định.
  • Về khái niệm, đã quy định khá cụ thể: Công chứng viên là người làm việc tại các Phòng công chứng, có chức năng chứng nhận tính xác thực của hợp đồng được giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và quan hệ xã hội khác, và thực hiện các việc khác theo quy định của pháp luật công chứng.

Công chứng viên là công chức (hoặc viên chức) Nhà nước do thể chế công chứng ở nước ta là công chứng nhà nước (có thể tuy Nghị định 75/2000/NĐ-CP (8/12/2000) không dùng từ nhà nước, song cơ cấu tổ chức và kinh phí hoạt động công chứng vẫn do nhà nước thực hiện).

Ngoài các việc Công chứng viên có thẩm quyền công chứng các giao dịch, văn bản theo quy định của pháp luật nói chung, công chứng viên còn được quyền công chứng các giao dịch, văn bản do công dân, tổ chức yêu cầu (tất nhiên là chỉ được công chứng những giao dịch, văn bản không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội).

Giá trị pháp lý của văn bản do Công chứng viên thực hiện có giá trị pháp lý là chứng cứ. Hợp đồng, văn bản đã được công chứng, chứng thực bởi công chứng viên có giá trị thi hành đối với các bên giao kết.

Do sự hình thành và phát triển của hệ thống công chứng ở Việt Nam là một quá trình diễn biến khá phức tạp và không ít những khó khăn nhất là từ khi thiết lập hệ thống là công chứng nhà nước thống nhất trên phạm vi toàn quốc, do vậy các công việc của các tổ chức công chứng cũng như của các công chứng viên cũng chưa được xác định rõ ràng, còn chắp vá lẫn lộn với các hành vi quản lý hoặc bị chi phối, ảnh hưởng bởi các cơ quan hành chính nhà nước khác. Tổ chức và hoạt động công chứng cũng như bản thân các công chứng viên chưa được xác định đúng với tính chất, vị trí vai trò của và đáp ứng được nhu cầu thực tế xã hội trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường giai đoạn này.

Số lượng công chứng viên tuy vẫn có tăng lên hàng năm, nhưng số lượng tính theo đầu dân số còn thấp, theo số liệu thống kê năm cho đến năm 2000, số lượng công chứng viên trong toàn quốc cụ thể như sau: đến năm 1991 có 97 công chứng viên, đến năm 1992 có 101 công chứng viên; năm 1993 có 126 công chứng viên; năm 1996 có 202 công chứng viên; năm 1997 có 237 công chứng viên, đến năm 2000 có 244 công chứng viên; và cho đến ngày 10/02/2006 là 380 công chứng viên (làm việc trong 123 Phòng Công chứng).

Tóm lại, qua một thời gian hoạt động công chứng, đã bộc lộ nhiều vấn đề cần phải giải quyết cả về lý luận và thực tiễn. Ngoài việc cần nghiên cứu làm rõ về khái niệm, xác định chính xác vị trí, vai trò, đặc điểm, tính chất, mục đích, ý nghĩa, phạm vi hoạt động của công chứng viên thì việc đào tạo, quy định một quy chế hoàn chỉnh đối với công chứng viên Việt Nam là một trong những nội dung hết sức quan trọng, tạo cơ sở cho việc thiết lập một hệ thống công chứng viên phù hợp với tình hình thực tiễn của nước ta trong giai đoạn hiện nay. Luận văn: Khái quát về luật công chứng tại Việt Nam

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY   

===>>> Luận văn: Thực trạng quy chế công chứng viên ở Việt Nam

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x