Khóa luận: Thực trạng tuân thủ pháp luật thuế các Doanh nghiệp

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng tuân thủ pháp luật thuế các Doanh nghiệp hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng tuân thủ pháp luật thuế của các Doanh nghiệp trên địa bàn huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

2.1. Khái quát về Chi cục thuế Huyện Quảng Ninh và tình hình phát triển của Doanh nghiệp trên địa bàn

2.1.1. Giới thiệu về Chi cục thuế Huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình

2.1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển

Ngày 01/7/1990 huyện Quảng Ninh trở về với địa danh cũ và tên gọi cũ. Cùng với thời điểm đó, ngày 21/8/1990 Bộ tài chính ra quyết định số 315TC/QĐ/TCCB về việc thành lập tổ chức bộ máy Chi cục thuế huyện Quảng Ninh, trên cơ sở hợp nhất ba bộ phận: Thuế Công thương nghiệp, Thu quốc d anh vè thuế Sử dụng đất công nghiệp.

Kể từ ngày 01/10/1990 hòa chung vớ toàn ngành thuế, Chi cục Thuế huyện Quảng Ninh cũng đi vào hoạt động trong một tổ chức thống nhất.

Ngày 5/8/2019 Chi cục thuế Quảng Ninh sát nhập với Chi cục Thuế Đồng Hới và đổi tên thành Chi cục thuế Khu vực Đồng Hới – Quảng Ninh.

2.1.1.2. Cơ cấu tổ chức Chi cục thuế huyện Quảng Ninh

Sơ đồ 2.1. Tổ chức bộ máy tại Chi cục thuế huyện Quảng Ninh

Chức năng nhiệm vụ của các đội thuộc Chi cục thuế Ban hành kèm theo Quyết định số: 245/QĐ-TCT ngày 25/3/2019 của Tổng cục trưởng Tổng cục thuế.

Đội tuyên truyền – Hỗ trợ người nộp thuế

Giúp Chi cục trưởng Chi cục thuế thực hiện công tác tuyên truyền về chính sách pháp luật thuế; hỗ trợ người nộp thuế trong phạm vi Chi cục thuế quản lý.

Đội trước bạ và thu khác

Giúp Chi cục trưởng Chi cục thuế quản lý thu lệ phí trước bạ, các khoản đấu giá về đất, tài sản, tiền thuê đất, tiền sử dụng đất, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp (thuế tài sản), phí, lệ phí và các khoản thu khác (bao gồm thuế thu nhập cá nhân của cá nhân hành nghề tự do, các khoản thu về đất bao gồm cả thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng bất động sản, nhận thừa kế, quà tặng, lệ phí trước bạ và thu khác) phát sinh trên địa bàn thuộc phạm vi Chi cục thuế quản lý; Thực hiện dự toán thu thuế đối với đối tượng được giao quản lý. Khóa luận: Thực trạng tuân thủ pháp luật thuế các Doanh nghiệp.

Đội kê khai, kế toán thuế – tin học và Thu nhập cá nhân

Giúp Chi cục trưởng Chi cục thuế thực hiện công tác đăng ký thuế, quản lý khai thuế, xử lý các hồ sơ hoàn thuế (trừ hoàn thuế thu nhập cá nhân và các khoản thu ừ đất), khấu trừ thuế, tính thuế và thông báo thuế, nộp thuế, hoàn trả tiền thuế, kế toán thuế, thống kê thuế theo phân cấp quản lý; quản lý và vận hành hệ thống trang thiết bị tin học; triển khai, cài đặt, hướng dẫn sử dụng các phần mềm ứng dụng tin học phục vụ công tác quản lý thuế, quản lý nội ngành cho công chức thuế và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ người nộp thuế.

Đội nghiệp vụ – dự toán

Giúp Chi Cục trưởng Chi cục thuế hướng dẫn về nghiệp vụ quản lý thuế, chính sách, pháp luật thuế cho công chức thuế trong Chi cục thuế; thực hiện công tác pháp chế về thuế thuộc phạm vi Chi cục thuế quản lý; xây dựng dự toán thu ngân sách nhà nước (đối với Chi cục thuế khu vực phải xây dựng dự toán thu ngân sách nhà nước cho từng địa bàn cấp huyện) và tổ chức thực hiện dự toán thu ngân sách nhà nước được giao của Chi cục thuế.

Đội kiểm tra, thu nợ thuế

Giúp Chi cục trưởng Chi cục thuế thực hiện công tác kiểm tra, giám sát kê khai thuế; giải quyết tố cáo liên quan đến người nộp thuế; thực hiện dự toán thu thuế đối với người nộp thuế thực hiện công tác quản lý nợ thuế, gia hạn thời hạn nộp thuế; khoanh nợ, xoá tiền nợ thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp thuế; nộp dần tiền thuế nợ; miễn tiền chậm nộp thuế; không tính tiền chậm nộp thuế và cưỡng chế thu tiền nợ thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp thuộc phạm vi quản lý của Chi cục thuế

Đội hành chính – nhân sự, ấn chỉ

Giúp Chi cục trưởng Chi cục thuế thực hiện công tác hành chính, văn thư, lưu trữ; công tác quản lý nhân sự; quản lý tài chính, quản trị; quản lý ấn chỉ trong phạm vi Chi cục thuế quản lý.

2.1.1.3. Tình hình nguồn nhân lực của Chi cục thuế huyện Quảng Ninh

Khi mới thành lập, Chi cục thuế huyện Quảng Ninh bắt đầu sự nghiệp với những khó khăn chồng chất về cơ sở vật chất, con người và trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Đến nay, cơ cấu tổ chức bộ máy được tinh gọn, không ngừng nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cán bộ công chức.

Thực hiện theo Nghi định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 về chính sách tinh giảm biên chế số lượng cán bộ công chức Chi cục thuế Quảng Ninh có xu hướng giảm qua từng năm. Từ năm 2014-2016 số cán bộ công chức đến tuổi về hưu ngày càng tăng trong khi việc tuyển dụng mới bổ sung rất ít do đó số lượng Cán bộ công chức của Chi cục thuế Quảng Ninh có sự giảm sút qua 3 năm.

Bảng 2.1. Tình hình Cán bộ công chức tại Chi cục thuế Quảng Ninh giai đoạn 2016-2018

Qua bảng 2.1 ở trên ta thấy rằng số lượng cán bộ, công chức năm 2018 đã giảm 1 người so với năm 2016, tức giảm 2,7%. Ta thấy số có sự biến động qua các năm, đặc biệt số Cán bộ công chức giảm chủ yếu ở trình độ sơ cấp và tăng ở trình độ đại học. Cụ thể so với năm 2016 thì năm 2018 đã giảm 3 người ở trình độ trung cấp và tăng 2 người ở trình độ đại học. Từ đó ta thấy trình độ Cán bộ công chức ở Chi cục thuế Quảng Ninh ngày càng được nâng cao. Có được kết quả này không chỉ do Chi cục thuế Quảng Ninh quan tâm công tác đào tạo bồi dưỡng cho Cán bộ công chức mà bản thân Cán bộ công chức luôn luôn ý thức được việc trau dồi kiến thức, nâng cao trình độ học vấn cho bản thân để phục vụ công việc nhằm nâng cao chất lượng cũng như hiệu quả trong quá trình công tác. Khóa luận: Thực trạng tuân thủ pháp luật thuế các Doanh nghiệp.

2.1.1.4. Kết quả hoạt động của Chi cục thuế huyện Quảng Ninh giai đoạn 2016 – 2018

Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế tương đối cao đã tạo ra sự tăng trưởng của nguồn thu Ngân sách nhà nước. Tuy nhiên cùng với sự tăng quy mô thu NS thì số thuế nợ đọng qua các năm có chiều hướng gia tăng và gia tăng sự không tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế. Bảng sau cho chúng ta thấy điều đó.

Bảng 2.2. Kết quả thu thuế và nợ thuế Chi cục thuế huyện Quảng Ninh giai đoạn 2016 – 2018

Qua kết quả phân tích thấy rằng bên cạnh số thu ngân sách liên tục tăng lên qua các năm thì số thuế ợ đọng của toàn Chi cục thuế ngày càng tăng và năm sau luôn cao hơn năm trước về số tuyệt đối. So với năm 2016, số thuế thu được trên địa bàn năm 2018 đã tăng lên 45 tỷ đồng, tức tăng 87,5%. Tỷ trọng nợ thuế trên tổng thu Ngân sách nhà nước hàng năm tương đối cao và tăng qua các năm. Nợ thuế tăng nhanh về số tuyệt đối. Đây là những vấn đề đặt ra trong công tác quản lý nợ thuế của Chi cục thuế.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

2.1.2. Tình hình phát triển của Doanh nghiệp trên địa bàn huyện Quảng Ninh

Thực hiện Luật Doanh nghiệp với cơ chế thành lập Doanh nghiệp thông thoáng, thuận lợi, chính sách khuyến khích và ưu đãi trong đầu tư thời gian gần đây của Nhà nước nói chung và của huyện Quảng Ninh nói riêng đã tạo điều kiện cho sự ra đời của nhiều Doanh nghiệp với nhiều loại hình khác nhau. Đây cũng là động lực quan trọng thúc đẩy KT-XH của huyện phát triển mạnh mẽ trong những năm qua. Với thủ tục thành lập Doanh nghiệp đơn giản, thuận lợi, nhanh chóng. Nhiều loại hình Doanh nghiệp được thành lập và đi vào hoạt động, từ đó đã làm tăng số lượng Doanh nghiệp cũng như quy mô ngành nghề, vốn đầu tư tăng, ngành nghề kinh doanh đa dạng, phong phú. Từ đó đã góp phần đóng góp cho Ngân sách nhà nước ngày càng tăng.

Hình 2.1. Biểu đồ thể hiện tình hình Doanh nghiệp trên địa bàn huyện Quảng Ninh giai đoạn 2016 – 2018

Các Doanh nghiệp ở huyện Quảng Ninh có số lượng không nhiều, sản xuất thì nhỏ lẻ, phân tán, máy móc sản xuất lạc hậu, vốn ít; phần lớn là các Doanh nghiệp thuộc ngành xây dựng, thương nghiệp, các Doanh nghiệp thuộc ngành sản xuất còn rất ít, sản phẩm sản xuất ra chủ yếu là sản phẩm tiêu dùng, sản phẩm dùng để cho phục vụ sản xuất và xuất khẩu chưa nhiều, chưa có sản phẩm mũi nhọn để chiếm lĩnh thị trường trong địa bàn và cạnh tranh với vùng khác. Trên thực tế nhiều Doanh nghiệp đăng ký nhưng thực chất không kinh doanh hoặc kinh doanh không liên tục.

Tuy nhiên, phần lớn Doanh nghiệp có số vốn lớn tương đối ít, chủ yếu số vốn kinh doanh của các Doanh nghiệp ở mức vừa và nhỏ. Các Doanh nghiệp có xu hướng đầu tư vào những lĩnh vực kinh doanh đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu thấp, tỷ suất lợi nhuận cao, thu hồi vốn nhanh. Phần lớn các Doanh nghiệp được thành lập và đăng ký hoạt động ở thị trấn Quán Hàu.

2.2. Hoạt động tăng cường tính tuân thủ pháp luật thuế cho Doanh nghiệp tại Chi cục thuế huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình

2.2.1. Hoạt động tuyên truyền hỗ trợ

Những năm về trước, công tác tuyên truyền, hỗ trợ Người nộp thuế chưa được ngành thuế quan tâm đúng mức vì thế việc hiểu biết về chính sách thuế của người dân nói chung và của Người nộp thuế nói riêng còn hạn chế dẫn đến tình trạng nợ đọng thuế, trốn thuế và các sai phạm về thuế còn khá phổ biến.

Thực hiện Luật Quản lý thuế, bộ máy tổ chức ngành thuế chuyển từ mô hình Quản lý thuế theo đối tượng sang quản lý theo chức năng, lãnh đạo Chi cụ thuế huyện Quảng Ninh đã đặc biệt chú trọng công tác tuyên truyền, hỗ trợ Người nộp thuế là yếu tố đầu vào quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác Quản lý thuế.

Ngành thuế nói chung và Chi cục thuế huyện Quảng Ninh nói riêng đặc biệt quan tâm đến công tác tuyên truyền hỗ trợ cho Người nộp thuế. Giải đáp qua điện thoại, trả lời bằng văn bản cho Người nộp thuế, đồng thời tổ chức tôn vinh các Doanh nghiệp và hộ kinh doanh chấp hành tốt chính sách thuế, không để nợ đọng thuế. Phối hợp với các cơ quan báo chí Trung ương và địa phương tuyên truyền về công tác thuế. Khóa luận: Thực trạng tuân thủ pháp luật thuế các Doanh nghiệp.

Bảng 2.3. Công tác tuyên truyền, hỗ trợ Người nộp thuế của Chi cục thuế giai đoạn 2016-2018

Công tác tuyên truyền của Chi cục thuế đã có sự chuyển biến rõ rệt, số lượng bài phát sóng, đăng, biển quảng cáo hàng năm đều tăng; công tác hỗ trợ Doanh nghiệp cũng được cải thiện đáng kể, các cuộc trả lời trực tiếp, qua điện thoại tăng. Qua công tác tuyên truyền đã dần nâng cao ý thức tự giác tuân thủ pháp luật thuế, góp phần giảm thiểu nợ đọng thuế và các vi phạm về thuế do thiếu hiểu biết của người nợ thuế gây ra. Tuy nhiên công tác tuyên truyền – hỗ trợ chưa dựa trên mức độ tuân thủ của Người nộp thuế để phân nhóm và có hình thức, nội dung và mức độ TT-HT phù hợp. Việc đưa tin, phản ánh công khai Người nộp thuế có hành vi vi phạm pháp luật thuế như trốn thuế, nợ thuế, sử dụng hóa đơn bất hợp chưa được thực hiện nên chưa có tác dụng trong việc phê phán các hành vi vi phạm pháp luật thuế.

2.2.2. Hoạt động kiểm tra người nộp thuế

Kiểm tra thuế được coi là khâu quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát thuế tại Chi cục thuế huyện Quảng Ninh. Hàng năm, sau khi có sự chỉ đạo thống nhất của lãnh đạo Tổng cục thuế, đội kiểm tra đã chủ động xây dựng kế hoạch kiểm tra chấp hành pháp luật thuế thông qua công tác phân tích đánh giá rủi ro. Mục đích cơ bản của kiểm tra là nhằm xử lý, khắc phục các sai phạm để người nộp thuế chấp hành tốt các chính sách pháp luật về thuế, qua đó tăng thu cho ngân sách.

Đội kiểm tra thuế tập trung lực lượng rà soát, đối chiếu, kiểm tra giám sát đưa toàn bộ Doanh nghiệp vào diện quản lý của Cơ quan thuế. Kiểm tra giám sát chặt chẽ tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp; tăng cường công tác kiểm tra tờ khai thuế, kiểm tra lại trụ sở Cơ quan thuế, đẩy nhanh tiến độ kiểm tra tại Doanh nghiệp. Chú trọng vào các Doanh nghiệp lớn, có dấu hiệu rủi ro; các Doanh nghiệp có những biểu hiện vi phạm trong kê khai nộp thuế, các Doanh nghiệp thường xuyên lỗ nhưng vẫn tiếp tục đầu tư mở rộng; các Doanh nghiệp chưa được kiểm tra từ 2 năm trở lên; kiểm tra thuế kết hợp với kiểm tra giá theo chỉ đạo của Bộ Tài chính và Tổng cục thuế. Tập trung vào những lĩnh vực có dấu hiệu thất thu nhiều như: Khai thác khoáng sản, kinh doanh gỗ, kinh doanh vật liệu xây dựng…

Bảng 2.4. Thống kê các Doanh nghiệp đã thực hiện kiểm tra thuế từ 2016-2018

Nhận xét: Qua bảng thống kê ta thấy, công tác kiểm tra có xu hướng tăng lên về số lượng Doanh nghiệp. Tuy hiên tỷ trọng các đơn vị kiểm tra trong tổng Doanh nghiệp lại có xu hướng giảm về tỷ trọng. Điều này cho thấy lực lượng cán bộ thực hiện kiểm tra chưa đáp ứng được với sự phát triển về số lượng Doanh nghiệp. Số Doanh nghiệp trong kế hoạch kiểm tra và số lượng Doanh nghiệp mà Chi cục thuế Quảng Bình đã tiến hành kiểm tra liên tục tăng trong 3 năm qua. Chi cục thuế luôn hoàn thành kiểm tra vượt kế hoạch đề ra. Công kiểm tra các Doanh nghiệp được tiến hành khẩn trương, đột xuất để kịp thời phát hiện những lỗ hổng, sai phạm trong hoạt động nộp thuế của các Doanh nghiệp trên địa bàn.

2.2.3. Hoạt động đôn đốc người nộp thuế Khóa luận: Thực trạng tuân thủ pháp luật thuế các Doanh nghiệp.

Có thể khẳng định, công tác đôn đốc thu nộp là nhân tố quan trọng nhất đối với hiệu quả của công tác quản lý nợ thuế. Đôn đốc thu nộp là việc Cơ quan thuế thực hiện các biện pháp để Người nộp thuế nộp số tiền thuế nợ vào Ngân sách nhà nước. Có nhiều biện pháp đôn đốc hu nộp mà Cơ quan thuế có thể áp dụng: nhắn tin, gọi điện thoại nhắc nhở, thông báo yêu cầu nộp thuế, gửi thư điện tử cho Người nộp thuế, thông báo nợ và phạt chậm nộp thuế, gửi giấy mời lên Cơ quan thuế làm việc và biện pháp cao nhất đó là cưỡng chế thuế.

Trong số các biện pháp đôn đốc thu nợ thì gọi điện thoại nhắc nhở, ra thông báo nợ thuế, phạt chậm nộp tiền thuế là các biện pháp được thực hiện nhiều nhất. Đặc biệt, trong năm 2017, 2018 số lượng các biện pháp đôn đốc thu nợ tăng lên đáng kể. Những biện pháp đó đã góp phần quan trọng vào việc giảm nợ thuế. Tuy vậy, những biện pháp này chỉ thực sự phát huy hiệu quả đối với những đơn vị có ý thức về nghĩa vụ nộp thuế của mình với Ngân sách nhà nước. Còn trên thực tế, có rất nhiều đơn vị chây ỳ, không có ý thức hoặc do điều kiện tài chính khó khăn t ì những biện pháp này thực sự không phát huy hiệu quả. Theo quy định hiện hành, Người nộp thuế bị tính phạt chậm nộp 0,05%/ngày trên số tiền chậm nộp, đến nay chỉ là 0,03%/ngày. Nhiều đơn vị có số nợ đọng lớn, số phạt hàng tháng lên đến vài chục triệu đồng. Tuy nhiên, việc gọi điện thoại nhắc nhở, ra thông báo nợ và phạt chậm nộp không hiệu quả với những đơn vị này và Cơ quan thuế phải áp dụng những biện pháp mạnh hơn để cưỡng chế đối với các đơn vị này.

Hàng tháng, sau khi Cơ quan thuế gửi thông báo nợ và phạt chậm nộp cho đơn vị thì rất nhiều đơn vị đối chiếu và giải trình. Nhưng những đơn vị này hầu hết lại là những đơn vị có số nợ không nhiều hoặc nợ sai. Các đơn vị nợ lớn thì gần như không có phản hồi gì về số tiền phạt. Nguyên nhân chủ yếu là do các đơn vị nợ lớn hầu hết đều là các đơn vị chây ỳ hoặc thực sự có tài chính khó khăn. Và từ thực tế này đã khiến chúng ta phải xem xét lại. Phải chăng chế tài của Cơ quan thuế chưa đủ mạnh, quy định về phạt chậm nộp, cưỡng chế đối với các đơn vị nợ lớn chưa thực sự chặt chẽ, nghiêm ngặt và có tính răn đe.

Bảng 2.5. Tình hình thực hiện các biện pháp đôn đốc tuân thủ luật thuế của Người nộp thuế

2.2.4. Hoạt động quản lý, cưỡng chế nợ thuế

Trong thời gian vừa qua, các công tác cưỡng chế nợ thuế đã được Cơ quan thuế đặc biệt quan tâm để đáp ứng được nguồn thu cho Ngân sách nhà nước, và còn để chấn chỉnh và làm chuyển biến nhận thức về việc chấp hành chế độ c ính sách luật thuế của Người nộp thuế trên địa bàn. Để đảm bảo thực hiện các biện pháp cưỡng chế nợ thuế đạt hiệu quả cao và có tính thuyết phục đối với Người nộp thuế, hàng năm cán bộ Chi cục thuế thường xuyên chỉ đạo, thực hiện rà soát, đối chiếu các khoản nợ để phân loại, phân tích và cứng rắn áp dụng các biện pháp xử phạt do chậm nộp tiền thuế và tăng cường triển khai cưỡng chế thu hồi nợ thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế.

Đối với các khoản nợ sau khi phân loại thuộc nhóm nợ và có khả năng thu mà quá 90 ngày thuộc đối tượng phải cưỡng chế nợ thuế thì Cơ quan thuế sẽ phối hợp với ngân hàng và các tổ chức tín dụng thu thập thông tin số dư tài khoản tiền gửi của người nợ thuế tại ngân hàng để thực hiện cưỡng chế nợ thuế bằng biện pháp trích tiền từ tài khoản tiền gửi của Người nộp thuế để nộp thuế vào Ngân sách nhà nước. Khóa luận: Thực trạng tuân thủ pháp luật thuế các Doanh nghiệp.

Bảng 2.6. Tình hình thực hiện cưỡng chế các đối tượng nợ thuế trên địa bàn huyện Quảng Ninh giai đoạn 2016-2018.

Từ bảng số liệu trên, ta thấy biện pháp cưỡng chế tuy đã có mang lạ kết quả nhưng thực sự chưa cao, tỷ trọng trong tổng nợ thuế thu được trong năm rất thấp. Năm 2016 có 18 đơn vị bị cưỡng chế, số tiền thu được là 62,8 triệu đồng, năm 2017 có 26 vị bị cưỡng chế, số tiền thu được là 74,5 triệu đồng, năm 2018 có 32 đơn vị bị cưỡng chế, số tiền thu được là 87,6 triệu đồng.

Và ta thấy, vấn đề được đặt ra ở đây là các biện pháp cưỡng chế được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật khá chặt chẽ nhưng trên thực tế triển khai lại rất khó khăn do phải thực hiện trình tự theo các bước mà không được áp dụng một cách linh hoạt từ đó dẫn đến mất khá nhiều nhân lực và thời gian nhưng đem lại hiệu quả không cao và chính vì thế trong thực tế nhiều trường hợp người nợ thuế vẫn cố tình không chấp hành luật thuế, chậm nộp, dây dưa, thậm chí là tìm cách kê khai sai, tẩu tán tài sản để trốn nợ thuế.

Hiện nay, việc thực hiện cưỡng chế thuế phần lớn chỉ dừng lại ở việc phong toả tài khoản thông qua nắm bắt thông tin từ ngân hàng, thực tế chỉ thu được một số ít trường hợp do số dư tài khoản của Doanh nghiệp chỉ tồn tại trong một thời gian rất ngắn; Việc nắm bắt thông tin về tài khoản của Người nộp thuế mất rất nhiều thời gian và nhân lực nguyên nhân do Người nộp thuế mở tài khoản ở nhiều ngân hàng khác nhau nên rất khó kiểm soát. Có một vài trường hợp ngân hàng chậm cung cấp thông tin cho Cơ quan thuế dẫn đến người nợ thuế đã tẩu tán tiền gửi.

2.3. Thực trạng tuân thủ pháp luật thuế của các Doanh nghiệp trên địa bàn huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình

2.3.1. Tình hình tuân thủ quy định nộp tờ khai thuế của Doanh nghiệp

Bảng dưới đây cho ta thấy được qua 3 năm 2016-2018 số tờ khai thuế phải nộp trên địa bàn huyện có sự biến động khá lớn, năm 2018 tăng 19,4% so năm 2017. Qua đó số lượng tờ khai thuế các cơ sở SXKD trên địa bàn đã nộp, số tờ khai t uế đã nộp đúng hạn cũng có sự biến động lớn.

Với việc quản lý thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp thuế đã làm tăng tính chủ động, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về thuế của Doanh nghiệp. Tuy nhiên Doanh nghiệp kinh doanh trước hết vì mục tiêu lợi nhuận nên tối thiểu hoá số thuế phải nộp luôn là việc mà không một Doanh nghiệp nào không muốn. Vì vậy trốn thuế, khai thiếu thuế luôn luôn tồn tại ở một số Doanh nghiệp.

Bảng 2.7. Tình hình nộp tờ kê khai thuế của các Doanh nghiệp trên địa bàn huyện Quảng Ninh giai đoạn 2016 -2018

Bảng trên cho ta thấy tình hình tuân thủ nộp tờ khai thuế của các Doanh nghiệp trên địa huyện Quảng Ninh ngày càng tăng. Tỷ lệ số tờ khai thuế đã nộp năm 2018 tăng 46% so với năm 2016. Từ đó cho thấy Chi cục thuế huyện Quảng Ninh đã thực hiện tốt trong công tác kê khai. Tỷ lệ số tờ khai không nộp cũng giảm mạnh, năm 2018 giảm 50% so với năm 2016.

Bảng 2.8. Tỷ lệ tờ khai thuế nộp đúng hạn trên địa bàn huyện Quảng Ninh giai đoạn 2016-2018

Bảng 2.8 cho thấy qua 3 năm 2016-2018, tỷ lệ tờ khai thuế đã nộp so với số lượng tờ khai phải nộp hàng năm đạt trên 98%. Đặc biệt tỷ lệ số tờ khai thuế đã nộp đúng hạn so với số tờ khai thuế đã nộp còn thấp hàng năm chiếm 91%. Tỷ lệ số tờ khai thuế chưa nộp qua các năm chiếm dưới 2% so với số phải nộp và có xu hướng giảm, số lượng tờ khai thuế nộp trễ hạn so với số đã nộp lên đến xấp xỉ 8% năm 2016 và có xu hướng giảm mạnh ở năm 2018. Khóa luận: Thực trạng tuân thủ pháp luật thuế các Doanh nghiệp.

Từ năm 2015 Chi cục thuế đã triển khai cho Người nộp thuế trên địa bàn kê khai nộp thuế qua mạng. Nhờ việc thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin vào khai thuế qua mạng Intenet cho các Doanh nghiệp, đã tạo ra lợi ích cho cả 2 bên: Người nộp thuế và Cơ quan thuế. Lợi ích của hình thức thuế kê khai thuế qua mạng là rất nhanh gọn, đơn giản và có hiệu quả cao, giúp cho tiết kiệm được thời gian, chi phí in ấn và chi phí cho việc nộp hồ sơ khai thuế; không giới hạn về vấn đề không gian cả thời gian, Doanh nghiệp có thể nộp tờ khai 24/24 giờ trong ngày, 7 ngày trong tuần và ở bất cứ đâu có kết nối mạng Internet. Đến cuối năm 2016, 100% Doanh nghiệp thực hiện nộp hồ sơ khai thuế qua mạng, hầu hết số thuế phát sinh đều được Doanh nghiệp nộp qua mạng.

Tuy nhiên, bên cạnh rất nhiều những lợi ích của việc kê khai thuế qua mạng thì ta vẫn phải thấy rằng, hệ thống mạng, cơ sở dữ liệu của Cơ quan thuế hiện nay chưa thực sự đáp ứng tốt được cho việc kê khai thuế qua mạng. Tình trạng sai sót, nghẽn mạng, trong quá trình kê khai còn xảy ra khá nhiều. Nhiều đơn vị bị thất lạc tờ khai mặc dù vẫn nhận được thông báo thành công khi gửi tờ khai qua mạng và nhiều trường hợp Cơ quan thuế vẫn phải nhập tay tờ khai vào hệ thống. Trong quá trình nhập tờ khai bằng tay vào hệ thống, rất nhiều trường hợp số thuế phát sinh của đơn vị bị nhập sai, dẫn đến số thuế nợ lên rất lớn. Nhiều trường hợp nhập nhầm giữa số phát sinh giữa các sắc thuế khác nhau nhầm lẫn giữa doanh thu tính thuế và số thuế phải nộp

2.3.2. Tình hình vi phạm pháp luật thuế của Doanh nghiệp theo kết quả kiểm tra thuế

Công tác, kiểm tra đối tượng nộp thuế đã góp phần hoàn thiện cơ chế chính sách pháp luật về thuế, là phương tiện phòng ngừa hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm nảy trong hoạt động quản lý thu thuế, có vai trò quan trọng trong việc cải cách thủ tục hành chính cả về quy chế và tổ chức thực hiện, giảm đến mức tối đa các thủ tục, quy chế không cần thiết gây phiền hà đến người dân và Doanh nghiệp.

Bảng 2.9. Tình hình tuân thủ luật thuế của các Doanh nghiệp trên địa bàn huyện Quảng Ninh giai đoạn 2016 – 2018 theo kết quả kiểm tra Người nộp thuế

Trong thời gian vừa qua, công tác kiểm tra của Chi cục thuế Quảng Ninh rất được Cơ quan thuế đặc biệt quan tâm chú trọng. Chi cục thuế đã chỉ đạo các Đội kiểm tra thuế trên c sở phân tích thông tin về Doanh nghiệp để xây dựng kế hoạch kiểm tra trong năm và tập t ung chủ yếu kiểm tra đối với những đối tượng nợ đọng thuế. Qua công tác kiểm tra, Chi cục thuế đã tiến hành xử lý truy thu thuế và phạt hành chính, đồng thời yêu cầu đơn vị nộp ngay số tiền thuế còn nợ vào Ngân sách nhà nước, góp phần làm giảm thiểu nợ đọng thuế. Qua bảng 2.9 ta có thể thấy, kết quả kiểm tra thuế hằng năm có sự biến động, đa số các Doanh nghiệp kiểm tra đều vi phạm luật thuế. Năm 2016 kiểm tra giám sát phát hiện 26 đơn vị Doanh nghiệp vi phạm thì đến năm 2018 Chi cục thuế Quảng Ninh đã kiểm tra, giám sát và phát hiện 28 Doanh nghiệp vi phạm. Nếu như số tiền thuế, tiền phạt thu vào Ngân sách nhà nước qua công tác kiểm tra năm 2016 là 530 triệu đồng thì con số này năm 2016 tương ứng là 432 triệu đồng. Kết quả kiểm tra cho thấy tình hình vi phạm pháp luật thuế của các Doanh nghiệp vẫn còn phức tạp. Số Doanh nghiệp vi phạm vẫn còn nhiều trong tổng số các Doanh nghiệp kiểm tra. Tổng số thuế truy thu tăng qua các năm, đặc biệt số thuế truy thu bình quân một Doanh nghiệp tăng đáng kể qua ba năm. Việc số các Doanh nghiệp kiểm tra và vi phạm nhiều như thế cho thấy các Doanh nghiệp vẫn còn ý thức rất kém trong việc kê khai thuế. Cơ quan thuế cần phải chú trọng tăng cường quan tâm về công tác kiểm tra và cách xử phạt nặng hơn nữa đối với các Doanh nghiệp vi phạm.

Bảng 2.10. Kết quả kiểm tra Doanh nghiệp tuân thủ luật thuế của Doanh nghiệp trên địa bàn huyện Quảng Ninh giai đoạn 2016-2018 Khóa luận: Thực trạng tuân thủ pháp luật thuế các Doanh nghiệp.

2.3.3. Tình hình tuân thủ nộp thuế của Doanh nghiệp

Kết quả sự tuân thủ nộp thuế của các Doanh nghiệp trên địa bàn huyện Quảng Ninh giai đoạn 2016-2018 được thể hiện qua các bảng dưới đây.

Từ số liệu các bảng cho thấy, số Doanh nghiệp nộp thuế đúng hạn còn chưa cao, dẫn đến tình trạng nợ đọng thuế nhiều. Năm 2016 có 168 Doanh nghiệp phải nộp thuế nhưng chỉ có 129 Doanh nghiệp nộp thuế đúng hạn, chiếm tỷ lệ khá thấp 77,79%. Đến năm 2018 tỷ lệ Doanh nghiệp nộp thuế đúng hạn là 80,67% có sự tăng vượt bậc so với năm 2016.

Tuy nhiên, nhìn chung thì sự tuân thủ luật thuế của các Doanh nghiệp chưa cao. Chính vì thế trong thời gian tới Chi cục thuế Quảng Ninh cần có nhiều biện pháp hiệu quả hơn nữa nhằm nâng cao tính tuân thủ luật thuế của các Doanh nghiệp, đảm bảo Doanh nghiệp tuân thủ luật pháp, tiến tới SXKD và làm ăn công bằng, hợp lý và hiệu quả cao.

Bảng 2.11. Kết quả tuân thủ thời hạn nộp thuế của các Doanh nghiệp trên địa bàn huyện Quảng Ninh năm 2016 – 2018.

Bảng 2.12. Kết quả tuân thủ nộp thuế trên địa bàn huyện Quảng Ninh giai đoạn 2016-2018.

Qua bảng số liệu trên ta thấy số thuế Doanh nghiệp nợ tăng qua các năm. Năm 2016 số thuế Doanh nghiệp nợ là 2,3 tỷ, đến năm 2018 số nợ tăng lên 4,5 tỷ. Hằng năm số Doanh nghiệp tăng nhanh thì số thuế Doanh nghiệp nợ cũng tăng theo. Điều này cho thấy các Doanh nghiệp không tuân thủ luật thuế ngày càng nhiều. Nguyên nhân một phần là do các Doanh nghiệp mới thành lập có tình hình tài chính khó khăn nên thường chây ỳ, không có ý thức tuân thủ luật thuế.

2.4. Đánh giá của đối tượng khảo sát về sự tuân thủ pháp luật thuế của Doanh nghiệp

Để đánh giá sự tuân thủ pháp luật thuế của các Doanh nghiệp trên địa bàn huyện Quảng Ninh, chúng tôi tiến hành điều tra khảo sát Cán bộ công chức thuế đang công tác tại các vị trí khác nhau ở một số đội thuộc chi cục thuế Quảng Ninh và một số Doanh nghiệp liên quan đang hoạt động do Chi cục thuế huyện Quảng Ninh quản lý thuế. Tổng số phiếu khảo sát được phát ra là 10 phiếu đối với Cán bộ công chức và 100 người đại diện cho các Doanh nghiệp nộp thuế. Phiếu điều tra gồm 30 câu hỏi, các câu hỏi sử dụng thang đo với 5 mức điểm, trong đó mức điểm 1 là Hoàn toàn không đồng ý và mức điểm 5 là Hoàn toàn đồng ý đối với vấn đề được nêu ra.

Cách thức tiến hành điều tra là phát phiếu điều tra và phỏng vấn trực tiếp đối tượng điều tra, sau đó thu hồi phiếu và tổng hợp kết quả.

2.4.1. Mô tả thông tin đối tượng điều tra Khóa luận: Thực trạng tuân thủ pháp luật thuế các Doanh nghiệp.

DN: Trong 110 đối tượng điều tra thì chủ yếu vẫn tập trung ở nhóm tuổi từ 35 đến 45 tuổi chiếm 40%, nhóm tuổi từ 45 đến 55 tuổi chiếm 30%. Đây là hóm đối tượng có kinh nghiệm, linh hoạt trong việc nắm bắt và áp dụng các chính sách thuế tại đơn vị công tác. Nhóm tuổi dưới 35 chiếm tỷ lệ 20%, đây là nhóm tuổi có kinh nghiệm công tác chưa nhiều, nhưng việc tiếp cận và áp dụng các chính sá h thuế tốt hơn so với các nhóm tuổi khác. Nhóm tuổi trên 55 tuổi trở lên chiếm tỷ lệ là 10 %, đây là những đối tượng có kinh nghiệm nhưng sự nhạy bén còn thiếu khi tiếp cận các chính sách thuế. Xét về trình độ của đối tượng điều tra là Doanh nghiệp: Trình độ Đại học, Cao đẳng: 50 người chiếm 50%; trình độ Trung cấp: 46 người 46%; Chưa qua đào tạo chuyên môn 4 người chiếm 4%;

2.4.2. Đánh giá của đối tượng điều tra về các nhân tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ thuế của Doanh nghiệp

2.4.2.1. Đánh giá về Hệ thống pháp luật thuế

Bảng 2.13. Kết quả đánh giá về hệ thống pháp luật thuế

Theo kết quả khảo sát về hệ thống pháp luật thuế, giá trị trung bình tính được cao nhất là 3,83 và thấp nhất là 3,69. Các nội dung trong hệ thống pháp luật thuế được đánh giá tương đối tốt. Cụ thể, nội dung pháp luật đầy đủ, rõ ràng là 3,69; pháp luật về thuế và các quy định có hiệu lực mạnh là 3,75, pháp luật về thuế đảm bảo công bằng có giá trị trung bình 3,71. Như vậy, theo như đánh giá tính đầy đủ, rõ ràng; tính công bằng của hệ thống pháp luật thuế được đánh giá ở mức trung bình.

Nội dung pháp luật về thuế khuyến khích tự giác tuân thủ pháp luật thuế được đánh giá tương đối tốt có giá trị trung bình 3,84. Điều này tạo ra sự chủ động trong hoạt động kế toán, hạch toán trong đơn vị, hạn chế bị động như trước đây. Bên cạnh đó, những đổi mới trong chính sách thuế cũng đã phần nào tạo điều kiện cho Doanh nghiệp chủ động chấp hành pháp luật thuế dựa trên nguyên tắc tự khai, tự nộp, tự chịu trách nhiệm, gắn trách nhiệm nộp thuế với nghĩa vụ.

Nội dung pháp luật thuế được tuyên truyền, phổ biến rộng rãi, theo đánh giá công tác tuyên truyền hiện nay được đánh giá là 3,81 thực hiện trên mức trung bình, chưa có sự cải tiến trong các hoạt động tuyên truyền. Hiện nay, những chính sách mới trong hệ thống pháp luật thuế được các Doanh nghiệp cập nhật chủ yếu thông qua các website tư vấn, các hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ từ phía Cơ quan thuế vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu từ phía Doanh nghiệp. Chính vì vậy, trong thời gian tới, những hoạt động này cần được chú trọng hơn nữa để Doanh nghiệp kịp thời nắm bắt, vận dụng những thay đổi trong quá trình nâng cao tính tuân thủ pháp luật thuế.

2.4.2.2. Đánh giá về công tác tuyên truyền, hỗ trợ Doanh nghiệp

Bảng 2.14. Kết quả đánh giá về công tác tuyên truyền, hỗ trợ Doanh nghiệp

Theo như kết quả khảo sát, ta có thể thấy các nội dung về công tác tuyên truyền, hỗ trợ Người nộp thuế được đánh giá tương đối tốt. Các nội dung sau khi tính giá trị trung bình đều có giá trị trên 3,8.

Nhìn chung, đánh giá về các nội dung trong công tác tuyên truyền, hỗ trợ đa số ở mức trên trung bình và mức tốt. Cụ thể, sau khi tiến hành kiểm định giá trị trung bình và giá trị kiểm định ta thấy nội dung tổ chức tập huấn, cung cấp tài liệu đầy đủ, hiệu quả được đánh giá là 3,82, các nội dung về tính đa dạng, phương pháp thực hiện và thời gian thực hiện được đánh giá ở mức trên 3,86. Như vậy theo đánh giá, hiệu quả của công tác tuyên truyền, hỗ trợ Người nộp thuế đến việc nâng cao mức độ tuân thủ pháp luật thuế tương đối tốt, nếu có sự quan tâm đầu tư và thực hiện tốt hơn nữa và sẽ đạt được hiệu quả cao hơn sau này.

Như vậy, có thể thấy việc thực hiện tốt công tác tuyên truyền, hỗ trợ góp phần nâng cao nhận thức của Người nộp thuế từ đó hình thành ý thức và tính tự giác chấp hành pháp luật thuế, nâng cao tính tuân thủ pháp luật thuế.

2.4.2.3. Đánh giá về công tác hỗ trợ Doanh nghiệp tự kê khai, tự nộp thuế

Bảng 2.15. Kết quả đánh giá về công tác hỗ trợ Doanh nghiệp tự kê khai, tự nộp thuế

Hiện nay, công tác tự kê khai, tự nộp thuế là một trong những yếu tố để đánh giá tính chấp hành pháp luật thuế của Doanh nghiệp, những Doanh nghiệp thực hiện tốt hoạt động kê khai, nộp thuế thì đã thể hiện tinh thần chấp hành pháp luật thuế cao. Kết quả thực hiện có thể còn nhiều sai sót, bất cập nhưng nếu thực hiện đầy đủ, nghiêm chỉnh thì có thể đánh giá Doanh nghiệp chấp hành pháp luật thuế cho. Khóa luận: Thực trạng tuân thủ pháp luật thuế các Doanh nghiệp.

Theo kết quả đánh giá, các hoạt động hỗ trợ Doanh nghiệp của Chi cục thuế đối với công tác tự khai, tự nộp thuế thực hiện tốt. Các giá trị trung bình đều trên 3,8. Theo đó, đánh giá của đối tượng khảo sát về hiệu quả công tác tự kê khai, tự nộp thuế hiện nay khá tốt. Các Doanh nghiệp biết chủ động hơn trong việc tiếp cận và thực hiện cơ chế mới. Điều này cho thấy, các Doanh nghiệp sẵn sàng thích nghi đối với những điểm mới trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế, chấp hành pháp luật về thuế.

Về tính linh hoạt trong công tác nộp thuế, hiện nay theo đánh giá với sự phát triển của hệ thống ngân hàng, sự phát triển của ứng dụng nộp thuế điện tử đã tạo điều kiện cho Doanh nghiệp có nhiều sự lựa chọn cho việc nộp thuế của mình, thuận lợi về mặt thời gian, nhân lực, đảm bảo hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế theo quy định.

2.4.2.4. Đánh giá về công tác quản lý nợ thuế

Bảng 2.16. Kết quả đánh giá về công tác quản lý nợ thuế

Qua bảng kết quả, ta thấy đánh giá về công tác quản lý nợ đều trên 3,7 nhưng vẫn còn thấp so với các chỉ tiêu khác. Tỷ lệ đồng ý khá cao đối với thực hiện các biện pháp cưỡng chế nợ thuế hợp lý, đúng quy định, điều này cho thấy chi cục thuế luôn thực hiện nghiêm túc trong công tác quản lý nợ. Bên cạnh đó, có khá nhiều các ý kiến đồng một phần về nội dung Chi cục thuế tạo điều kiện cho Doanh nghiệp nợ nộp thuế, biện pháp cưỡng chế nợ thuế hợp lý, hiệu quả và sự phối hợp chặt chẽ giữa bộ phận quản lý nợ và các bộ phận liên quan khác. Trong quá trình khảo sát và thu thập thông tin, có nhiều ý kiến cho rằng, tuy Cơ quan thuế luôn nhắc nhở, đôn đốc Doanh nghiệp nộp nợ thuế nhưng tính hợp tác chưa cao, thêm vào đó các biện pháp cưỡng chế nợ thuế hiện nay còn rất nhiều bất cập, tạo ra nhiều khó khăn cho việc xử lý nợ thuế, chưa thúc đẩy được ý thức chấp hành của Doanh nghiệp. Bên cạnh đó, vì quy trình khá phức tạp nên sự phối hợp đồng bộ giữa bộ phận quản lý nợ và các bộ phận khác vẫn còn khá nhiều hạn chế, tuy nhiên nếu công tác tổ chức, phân công thực hiện tốt thì có khả năng khắc phục được.

2.4.2.5. Đánh giá về công tác kiểm tra

Bảng 2.17. Kết quả đánh giá về công tác kiểm tra

Nhìn vào bảng kết quả, ta thấy nội dung về công tác giám sát và công tác kiểm tra nâng cao tính tuân thủ pháp luật thuế được đánh giá với mức điểm trung bình trên 3,7. Công tác kiểm tra được thực hiện đúng quy trình, trình tự đảm bảo công bằng, minh bạch, đánh giá trên 3,6 điều này chứng tỏ chất lượng của công tác kiểm tra luôn được thực hiện đúng theo quy định và minh bạch. Đồng thời, công tác xử phạt được thực hiện theo quy định, tránh việc gian lận, bao che.

Nhìn tổng thể đánh iá về hiệu quả công tác kiểm tra đối với mức độ tuân thủ pháp luật thuế khá cao nhưng vẫn chưa cao hơn so với kết quả đánh giá của một số chỉ tiêu khác.

Vì vậy, chi cục thuế cần chú trọng hơn về công tác kiểm tra, để được thực hiện một cách hiệu quả hơn nhằm phát huy vai trò trong việc nâng cao tính tuân thủ pháp luật thuế của Người nộp thuế.

2.4.2.6. Đánh giá về sự tuân thủ pháp luật thuế của các Doanh nghiệp trên địa bàn huyện

Bảng 2.18. Kết quả đánh giá về sự tuân thủ pháp luật thuế của các Doanh nghiệp trên địa bàn huyện

Nhìn vào bảng kết quả, cho thấy rằng kết quả khảo sát đánh giá việc tuân thủ pháp luật thuế của các Doanh nghiệp chưa được đánh giá cao. Vấn đề tự kê khai thuế đúng, đủ số thuế và kịp thời đạt trị số trung bình thấp là 3,53. Điều này cho thấy các Doanh nghiệp vẫn còn trốn tránh trách nghiệm trong nghĩa vụ nộp thuế. Tuy các Doanh nghiệp có ý thức tuân thủ nộp thuế nhưng nộp đúng và nộp đủ thì được đánh giá rất thấp. Cơ quan thuế cần kiểm soát chặt chẽ hơn nữa trong việc nâng cao ý thức chấp hành nộp đúng và đủ thuế của các Doanh nghiệp.

2.5. Đánh giá về mức độ tuân thủ pháp luật thuế của Doanh nghiệp do Chi cục thuế Huyện Quảng Ninh quản lý Khóa luận: Thực trạng tuân thủ pháp luật thuế các Doanh nghiệp.

2.5.1. Kết quả đạt được

Qua quá trình nghiên cứu thực trạng Doanh nghiệp về mức độ tuân thủ pháp luật thuế tại Chi cục thuế huyện Quảng Ninh, ngành thuế đã vượt qua những hạn chế hiện tại để thực hiện tốt các nhiệm vụ đề ra. Ý thức chấp hành pháp luật của người nộp thuế từng bước được cải thiện. Người nộp thuế đã nhận thức rõ về quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hoạt động quản lý thuế; đề cao tính chủ động, tự chịu trách nhiệm theo cơ chế tự khai, tự tính, tự nộp thuế.

Công tác quản lý tình hình khai, nộp thuế được thực hiện hiệu quả. Chi cục thuế huyện Quảng Ninh đã đưa vào quản lý thuế đối với hầu hết các Doanh nghiệp có hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn huyện Quảng Ninh. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho Cơ quan thuế nắm bắt, rà soát, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình khai, nộp thuế của các Doanh nghiệp, làm cơ sở để khai thác tốt nguồn thu, góp phần cùng toàn ngành hoàn thành dự toán thu Ngân sách nhà nước.

Về công tác tuyên truyền, hỗ trợ Người nộp thuế: Chi cục thuế đã thường xuyên và kịp thời tổ chức tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật về thuế đặc biệt là các chính sách thuế mới. Tổ chức đối thoại với các Doanh nghiệp nhằm tháo gở những khó khăn, vướng mắc về thuế tạo điều kiện thuận lợi cho các Doanh nghiệp thực hiện tốt nghĩa vụ thuế. Giải đáp và trả lời kịp thời thông qua buổi đối thoại hoặc bằng văn bản tất cả những vướng mắc cho Doanh nghiệp; công khai hóa tất cả thông tin về chính sách thuế tại Cơ quan thuế, trên phương tiện thông tin đại chúng và qua các kênh khác. Ngoài ra, mỗi cán bộ thuế khi thực thi công vụ là một tuyên truyền viên, giải đáp và hướng dẫn kịp thời c o Doanh nghiệp, tập hợp những vướng mắc của Doanh nghiệp để có giải pháp thiết thực và hiệu quả hơn.

2.5.2. Các vấn đề còn tồn tại

Hạn chế trong công tác quản lý đối tượng nộp thuế. Chi cục thuế Quảng Ninh chưa quản lý chặt chẽ các Doanh nghiệp trên địa bàn. Chỉ mới nắm được số lượng Doanh nghiệp trên giấy tờ mà không nắm được tình hình hoạt động kinh doanh của từng Doanh nghiệp. Mặt khác, do đối tượng nộp thuế là các Doanh nghiệp có nhiều hình thức kinh doanh đa dạng, số lượng lớn, trải rộng khắp trên địa bàn. Do công tác quản lý chưa chặt chẽ nên hàng năm vẫn còn gây ra nhiều thất thu thuế từ Doanh nghiệp.

Hạn chế trong quản lý doanh thu tính thuế, chi phí được trừ. Thuế TN của Doanh nghiệp được tính trên số TN còn lại sau khi đã trừ đi tất cả các khoản chi phí hợp lý được trừ. Vì vậy, thuế TN của Doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các nhà đầu tư. Do đó, để giảm số thuế phải nộp, các Doanh nghiệp luôn tìm cách khai tăng chi phí, khai giảm doanh thu. Qua công tác kiểm tra của các đội kiểm tra thuế đã kiểm tra quyết toán thuế hầu hết các Doanh nghiệp, giảm thiểu việc kê khai sai. Tuy nhiên có những hiện tượng mà Chi cục thuế vẫn chưa quản lý được như: Kê khai thiếu các chỉ tiêu doanh thu, kê khai sai chi phí, nộp tờ khai không đúng hạn… Nhiều Doanh nghiệp kê khai lỗ, không có thu nhập chịu thuế để không phải tạm nộp thuế TN của Doanh nghiệp trong năm, nhằm trì hoãn nộp thuế, chiếm dụng vốn Ngân sách nhà nước. Một số Doanh nghiệp có biểu hiện tiêu cực như trốn thuế. Trong quá trình kê khai, hạch toán thì cố tình bỏ sót các khoản doanh thu, khai tăng chi phí làm giảm thu nhập chịu thuế, giảm bớt số thuế phải nộp

Hệ thống công nghiệm thông tin, ứng dụng quản lý còn bị lỗi và trục trặc trong quá trình thực hiện, nhiều khi chương trình bị treo, không chạy được, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý cũng như công tác báo cáo, khai thác. Kết xuất số liệu từ ứng dụng quản lý thu nợ còn bị lỗi, số liệu giữa biểu này và biểu khác còn chưa thống nhất hoặc không đúng với thực tế, chưa thực sự phát huy tối đa vai trò trong việc cung cấp thông tin, hỗ trợ Người nộp thuế trong quá trình giao dịch công việc.

2.5.3. Nguyên nhân của những hạn chế Khóa luận: Thực trạng tuân thủ pháp luật thuế các Doanh nghiệp.

Ý thức tuân thủ pháp luật thuế của các một bộ phận Người nộp thuế chưa cao, nhiều Doanh nghiệp thường tìm và lợi dụng kẽ hở của pháp luật, những sơ hở về chính sách, chế độ, sự thiếu quản lý chặt chẽ của cán bộ thuế để trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế cho Ngân sách nhà nước. Việc chấp hành nghĩa vụ nộp thuế ở một số Doanh nghiệp còn hạn chế dẫn đến số nợ ngày càng tăng.

Nhiều Doanh nghiệp còn lợi dụng tình trạng khó khăn chung của nền kinh tế, khó khăn trong việc vay vốn tại các ngân hàng thương mại đã cố tình chiếm dụng tiền thuế để bù đắp cho sự thiếu hụt về vốn kinh doanh.

Luật Doanh nghiệp quy định thủ tục thành lập Doanh nghiệp đơn giản, không có sự kiểm tra kịp thời sau khi Doanh nghiệp đăng ký kinh doanh, vì vậy nhiều Doanh nghiệp thành lập đã không đăng ký kê khai, nộp thuế nhưng các cơ quan chức năng chưa phát hiện và xử lý kịp thời theo quy định.

Sự phối hợp giữa của các cấp chính quyền, các cơ quan còn chưa thực sự đồng bộ, hiệu quả. Đối với Ngân hàng do việc phải đảm bảo bí mật về thông tin và quyền lợi của khách hàng nên phối hợp giữa Cơ quan thuế và ngân hàng trong việc thực hiện cưỡng chế nhằm đảm bảo thu đủ số tiền thuế, tiền phạt vào Ngân sách nhà nước còn gặp nhiều hạn chế.

Việc ban hành các chính sách còn thiếu thống nhất, rõ ràng dẫn đến sự hiểu khác nhau giữa Cơ quan thuế và Người nộp thuế. Một số văn bản hướng dẫn thực thi pháp luật thuế ban hành chậm, dẫn đến khó khăn cho Doanh nghiệp trong quá trình thực hiện. Khóa luận: Thực trạng tuân thủ pháp luật thuế các Doanh nghiệp.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Giải pháp tính tuân thủ thuế của Doanh nghiệp

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x