Khóa luận: Thực trạng triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

1. CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỂN.

Luật thuế thu nhập cá nhân được Quốc hội khóa 12 thông qua ngày 21/11/2007 và đã có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009. Đây là luật thuế mới áp dụng các quy định theo thông lệ quốc tế với diện điều chỉnh rộng và liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều đối tượng… nên có tính nhạy cảm cao, chính vì vậy mà công tác tuyên truyển nội dung luật được xem là mũi nhọn chủ yếu khi triển khai áp dụng Luật thuế thu nhập cá nhân vào cuộc sống.

1.1. Mục đích của công tác tuyên truyền.

Mục đích cao nhất của cơ quan thuế là thông qua công tác tuyên truyền làm cho cộng đồng dân cư nắm được sự cần thiết phải ban hành Luật Thuế thu nhập cá nhân; những nội dung cơ bản của luật; những nội dung mới so với chính sách thuế đang được áp dụng; những tiến bộ so với cách quản lý thuế hiện hành… từ đó giúp người dân nâng cao ý thức giác ngộ để thực hiện tốt nghĩa vụ với ngân sách nhà nước. ở một khía cạnh khác, công tác tuyên truyền cũng là kênh thông tin phản hồi để Cục Thuế thu nhận ý kiến từ phía những người chấp hành chính sách thuế để kịp thời có những sửa đổi bổ sung phù hợp với thực tiễn cuộc sống.

Trên cơ sở tổ chức điều tra nhu cầu của người nộp thuế, đồng thời thông qua việc theo dõi, phát hiện những hạn chế bất cập trong quá trình chấp hành pháp luật thuế, ngành thuế còn có thể nghiên cứu đổi mới, đa dạng hóa toàn bộ nội dung và phương pháp tuyên truyền, phân loại các đối tượng để chọn lựa cách thức tiếp cận hiệu quả, nhằm nâng cao sự đồng thuận, sự hiểu biết của người nộp thuế, sự đồng tình, chia sẻ trách nhiệm của các ngành, các cấp, các tổ chức và toàn thể người dân xã hội.

1.2. Phương thức tuyên truyền. Khóa luận: Thực trạng triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân.

Các cục Thuế tổ chức tuyển truyền: Đặc biệt coi trọng công tác tuyên truyền Luật thuế thu nhập cá nhân, thời gian qua các Cục thuế đã triển khai rất nhiều phương pháp linh hoạt. Ví dụ: Cục Thuế thành phố Hà Nội trong năm 2008 đã thực thi nhiều biện pháp với quyết tâm lớn là đảm bảo ít nhất 90% người dân trên địa bàn hiều biết và thực hiện hiệu quả Luật Thuế thu nhập cá nhân. Khó khăn hơn các luật thuế khác, Luật Thuế thu nhập cá nhân có diện điều chỉnh rộng và liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều đối tượng, vì vậy ngay từ đầu năm 2008, Cục Thuế thành phố Hà Nội đã chủ động xây dựng kế hoạch và triển khai công tác phổ biến, tuyên truyền, tập huấn nội dung luật trên toàn địa bàn. Kết thúc 9 tháng, Cục Thuế đã tổ chức 38 hội nghị với 11.500 lượt người tham dự; đã cấp phát miễn phí gần 100.000 tờ rơi, 22.000 tập tài liệu tuyên truyền Luật Thuế thu nhập cá nhân; đã phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng đăng tải 40 tin, bài phóng sự, ảnh… đặc biệt Cục Thuế đã phối hợp chặt chẽ với Ban Tuyên giáo Thành ủy, Mặt trận Tổ quốc, Báo Hà Nội mới để đăng tải nhiều bài viết về các vấn đề liên quan. Đây được xem là một kênh hữu hiệu để truyển tải rộng rãi nội dung Luật tới quảng đại quần chúng.

Tuyên truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng: Có các chương trình tìm hiểu về Luật thuế thu nhập cá nhân trên các kênh của đài Truyển hình Việt Nam. Đây quả thực là các chương trình vô cùng bổ ích và phần lớn mọi người có thể tham gia theo dõi. ở các chương trình này, các tình huống thuế thu nhập cá nhân mà mọi người thắc mắc được giải đáp rõ ràng giúp cho người dân nắm vững được Luật thuế thu nhập cá nhân cũng như giải tỏa những vướng mắc của họ trong quá trình tìm hiểu và áp dụng Luật thuế thu nhập cá nhân.

Công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế được đặt lên hàng đầu. Theo đó người nộp thuế được hưởng nhiều quyền lợi từ việc thực hiện cơ chế tự tính, tự khai, tự nộp thuế, được quyền yêu cầu cung cấp thông tin, dịch vụ hỗ trợ về thuế theo cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông”; được gia hạn nộp thuế; được đón tiếp trân trọng, thân thiện gần gũi khi giao dịch với cơ quan thuế, công chức thuế. Chính điều đó đã là động lực khiến ý thức chấp hành pháp luật thuế của doanh nghiệp, các hộ kinh doanh, và các cá nhân khi áp dụng Luật thuế thu nhập cá nhân ngày càng hoàn thiện.

Càng gần ngày Luật Thuế thu nhập cá nhân có hiệu lực công tác tuyên truyền càng được quan tâm chú trọng. Tổng cục Thuế đã phối hợp với các cơ quan thông tấn báo chí đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng nội dung chính sách thuế thu nhập cá nhân để đông đảo quần chúng nhân dân biết và tự giác thực hiện.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

2. ĐÀO TẠO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NGÀNH THUẾ. Khóa luận: Thực trạng triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân.

Năng lực của mỗi cán bộ thuế có ý nghĩa quyết định trong việc kiểm soát thu nhập cá nhân từ đó để thực thi Luật thuế thu nhập cá nhân. Hiện nay, để triển khai có hiệu quả Luật thuế thu nhập cá nhân, ngành thuế đã điều chỉnh lại chức năng nhiệm vụ của các bộ phận trong cơ quan thuế, đồng thời rà soát, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ theo hướng tăng cường những cán bộ có năng lực, phẩm chất chính trị tham gia quản lý thuế thu nhập cá nhân.

2.1. Sắp xếp, đánh giá lại đội ngũ cán bộ ngành thuế.

Việc Luật quản lý thuế chính thức có hiệu lực vào ngày 1/7/2007 đã tạo những bước tiền đề vô cùng thuận lợi khi triển khai áp dụng Luật thuế thu nhập cá nhân vào cuộc sống.

Luật quản lý thuế đã tạo điều kiện để thay đổi, kiện toàn lại bộ máy quản lý, theo đó tổ chức bộ máy của 19 Phòng thuộc Văn phòng Cục Thuế và 24 Chi cục thuế trực thuộc Cục Thuế thành phố Hồ Chí Minh được chuyển đổi, sắp xếp lại theo mô hình chức năng, đáp ứng yêu cầu quản lý trong thời kỳ mới.

Sau gần 2 năm thực hiện Luật quản lý thuế, công chức viên chức thuế được phân loại, đánh giá, sắp xếp, đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu, chuyên nghiệp theo chức năng quản lý. Đặc biệt, nhận thức cũng như trình độ chuyên môn của mỗi công chức, viên chức thuế được nâng cao hơn để đảm nhận tốt nhiệm vụ được giao đặc biệt là khi Luật Thuế thu nhập cá nhân được triển khai vào 1/1/2009 vừa qua.

Cũng trong năm 2009, Tổng cục Thuế sẽ có hướng dẫn chỉ đạo việc triển khai sắp xếp, chuyển ngạch thanh tra viên thuế cho cán bộ công chức làm công tác thanh tra, kiểm tra để đảm bảo thực hiện tốt Luật Quản lý thuế.

2.2. Tập huấn, đào tạo đội ngũ cán bộ. Khóa luận: Thực trạng triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân.

Ngành thuế đã triển khai tập huấn rất kỹ về nội dung và kỹ năng quản lý cho toàn thể đội ngũ cán bộ thuế trong cả nước, đặc biệt là những cán bộ liên quan trực tiếp đến quản lý thuế thu nhập cá nhân.

Ngoài đội ngũ là cán bộ ngành thuế, Tổng cục thuế cũng có chủ trương đào tạo, bồi dưỡng, tuyên truyền đối với đội ngũ có liên quan mật thiết đến công tác triển khai áp dụng Luật Thuế thu nhập cá nhân vào đời sống: ngoài đội ngũ là cán bộ công chức ngành thuế Thủ đô (3.535 người) đối tượng đầu tiên mà Cục Thuế Hà Nội tập trung tuyên truyền là hệ thống các báo cáo viên, tuyên truyền viên, thông tin viên thuộc Ban Tuyên giáo các cấp, cán bộ chủ chốt các cấp chính quyền, các ngành, các cơ sở Đảng, tiếp đến là các nhóm đối tượng nộp thuế. Theo kế hoạch, khi Bộ Tài chính ban hành Thông tư hướng dẫn chi tiết về thuế thu nhập cá nhân, Cục thuế sẽ triển khai tập huấn nội dung văn bản này đến các đối tượng là các cơ quan chi trả thu nhập; đại lý thuế, cá nhân kinh doanh. Hay Cục thuế Thanh Hóa đã tổ chức cho 100% cán bộ công chức được tập huấn về Luật Thuế thu nhập cá nhân, toàn thể cán bộ lãnh đạo từ tỉnh đến cấp huyện, thị xã, thành phố và toàn thể cán bộ công chức toàn ngành thuế. Thời điểm Luật thuế thu nhập cá nhân có hiệu lực càng đến gần thì công tác tập huấn nghiệp vụ, xây dựng tài liệu dùng cho báo cáo viên càng được đẩy mạnh.

Cùng với những nỗ lực đó, ngành thuế đang khẩn trương hoàn tất việc xây dựng các quy trình, biện pháp nghiệp vụ theo hướng vừa đề cao chức trách của cán bộ trong việc kiểm tra, kiểm soát vừa khơi dậy năng lực năng động, sáng tạo trong bản thân mỗi công chức. Ngành thuế tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, chức năng nhiệm vụ; điều chỉnh dần cơ cấu cán bộ công chức để phát huy hơn nữa hiệu quả quản lý; đồng thời tổ chức thi tuyển công chức vào ngành để bổ sung lực lượng cho các Cục thuế, Chi cụ Thuế còn thiếu.

Nâng cao nhận thức cho cán bộ ngành thuế: Bên cạnh việc tập trung đẩy nhanh đào tạo các kỹ năng chuyên sâu cho cán bộ thuế nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quản lý thuế theo mô hình chức năng, toàn ngành thuế tập trung đào tạo về văn hóa ứng xử và đạo đức nghề nghiệp đảm bảo đội ngũ cán bộ công chức có phẩm chất đạo đức tốt, có văn hóa ứng xử văn minh lịch sự. Ngoài ra, với những cán bộ có thành tích tốt, ngành thuế sẽ có hình thức biểu dương khen thưởng kịp thời, nhằm thúc đẩy họ vươn lên phần đầu quản lý thuế thu nhập cá nhân nói riêng và quản lý thuế nói chung ngày càng tốt hơn, góp phần đưa Luật Thuế thu nhập cá nhân sớm phát huy hiệu quả trong cuộc sống.

3. CÁC ĐIỀU KIỆN CƠ SỞ VẬT CHẤT.

3.1. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế.

Khi mà thời điểm Luật thuế thu nhập cá nhân có hiệu lực đã đến rất gần thì công tác chuẩn bị các điều kiện hạ tầng để triển khai Luật đang trở thành mối quan tâm hàng đầu, không chỉ đối với ngành thuế, mà còn đối với cộng đồng xã hội. Trong đó có việc triển khai hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào quản lý thuế thu nhập cá nhân.

Ngay từ thời điểm cuối năm 2006, đầu năm 2007 khi Bộ Tài chính mới bắt đầu nghiên cứu soạn thảo dự án Luật thuế thu nhập cá nhân thì Ban Tin học Tổng cục Thuế (nay là Cục ứng dụng công nghệ thông tin) đã triển khai các công việc nghiên cứu, nắm bắt các nội dung của dự án luật, nhằm xác định quy mô, phạm vi, đối tượng quản lý để phân tích, xây dựng quy trình quản lý thuế, theo đó đã lập dự án tin học hóa quản lý thuế thu nhập cá nhân. Trước mắt, để phục vụ cho yêu cầu quản lý thuế thu nhập cá nhân vào đầu năm 2009, ngành thuế đã tiến hành nâng cấp các ứng dụng hiện có. Dự kiến, đến hết quý II/2009 sẽ đưa các ứng dụng mới vào xử lý tờ khai và đến thời điểm đầu năm 2010, các quy trình nghiệp vụ quản lý thuế thu nhập cá nhân sẽ được hoàn chỉnh để tin học toàn bộ. Khóa luận: Thực trạng triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân.

Quy trình quản lý thuế thu nhập cá nhân bắt đầu bằng việc đăng ký cấp mã số thuế và các ứng dụng công nghệ thông tin được xây dựng ngay từ khâu này. Đối với cá nhân có phát sinh thu nhập độc lập mà tự kê khai với cơ quan thuế thì ngay thời điểm Luật thuế thu nhập cá nhân có hiệu lực ngành thuế sẽ ban hành tờ khai thu nhập tạm nộp để người nộp thuế kê khai số ước thu nhập hàng tháng, hàng quý và nộp lại cho cơ quan thuế. Tờ khai đó sẽ được xử lý bằng công nghệ thông tin để xác định nghĩa vụ thuế ban đầu của người nộp thuế. Đối với cá nhân làm công ăn lương, sau khi được cơ quan chi trả thu nhập khấu trừ thuế, tờ khai được chuyển đến cơ quan thuế và được nhập vào hệ thống ứng dụng để phân định nghĩa vụ nộp thuế của từng cá nhân. Dự kiến vào cuối năm 2009 hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin của ngành thuế sẽ được phát triển mở rộng, nâng cấp thêm phần xử lý tờ khai quyết toán thuế của từng cá nhân. Đến đầu năm 2010, cá nhân có thu nhập chịu thuế sẽ phải lập từng bản quyết toán thuế riêng (gọi là tờ khai quyết toán thuế năm) để nộp cho cơ quan thuế, sau đó sẽ được xử lý bằng các ứng dụng tin học trong quản lý. Ước tính đến năm 2010, số tờ khai quyết toán thuế năm nộp cho cơ quan thuế sẽ lên tới khoảng 3 – 4 triệu tờ khai.

Ngoài ra cần tiếp tục đẩy mạnh triển khai áp dụng công nghệ mã vạch hai chiều để đọc và phân tích tờ khai, nhằm khắc phục triệt để các lỗi sai sót và tình trạng nộp tờ khai không đúng hạn, chuẩn bị điều kiên tốt nhất để triển khai kê khai thuế qua mạng.

Những khó khăn gặp phải: 

Thuế thu nhập cá nhân là sắc thuế đặc thù, người nộp thuế thu nhập cá nhân có thu nhập tại nhiều địa bàn khác nhau trong khi đó việc thiết lập cơ sở dữ liệu để quản lý mới ở giai đoạn manh nha, nên chắc chắn việc triển khai các ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý sẽ không dễ. Hơn thế nữa, hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin hiện hành của ngành thuế đang bị phân tán theo chức năng quản lý của từng đơn vị. Cấp Chi cục Thuế quản lý các hộ, các doanh nghiệp nhỏ và tự quản lý toàn bộ dữ liệu, xử lý thông tin hàng ngày. Còn cấp Cục Thuế quản lý các doanh nghiệp vừa, lớn và dữ liệu, thông tin cũng được Cục Thuế lưu, xử lý phục vụ các tác nghiệp hàng ngày. Cấp Tổng cục Thuế không quản lý dữ liệu các đối tượng nộp thuế mà khi cần cơ quan cấp dưới sẽ chuyển thông tin tổng hợp mang tính chất thống kê, phục vụ cho công tác phân tích chỉ đạo.

Với thuế thu nhập cá nhân, do đặc thù một cá nhân có thể có thu nhập tại nhiều địa bàn khác nhau, nên việc phân cấp tổ chức cơ sở dữ liệu và ứng dụng công nghệ thông tin như hiện nay sẽ không phù hợp. Do đó, ngành thuế cũng đang có kế hoạch thay đổi tổng thể mô hình kiến trúc ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển dần từ mô hình xử lý phân tán sang mô hình xử lý tập trung, theo đó, sẽ tập trung toàn bộ dữ liệu tại cấp trung ương, còn các cấp dưới sẽ thực hiện vai trò nhập dữ liệu.

Với một khối lượng công việc lớn như vậy gây khá nhiều khó khăn cho ngành thuế nhất là trước thời điểm 1/1/2009 khi Luật Thuế thu nhập cá nhân có hiệu lực. Đối với lĩnh vực tin học cần phải có thông tư hướng dẫn cụ thể từng mẫu, biểu và các quy trình nghiệp vụ, nhưng hiện tại vẫn chưa có thông tư nào hướng dẫn về thuế thu nhập cá nhân. Ngoài ra, nguồn nhân lực đáp ứng việc vận hành, quản lý và sử dụng thành thạo các ứng dụng tin học trong quản lý thuế hiện nay cũng là cả một vấn đề lớn, người giỏi về tin học lại hạn chế trong các nghiệp vụ kế toán, thống kê và ngược lại. Hơn thế nữa, việc giữ chân và thu hút được nhân lực giỏi về công nghệ thông tin làm việc trong ngành cũng đang là bài toán khó.

Biện pháp khắc phục: Khóa luận: Thực trạng triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân.

Trước những khó khăn đó, ngành thuế đang gấp rút cùng với các đơn vị có liên quan nghiên cứu, hoàn thành các văn bản hướng dẫn theo các trình tự, quy trình nghiệp vụ cụ thể, từ đó sẽ nâng cấp các phần mềm ứng dụng tin học phục vụ quản lý, nhằm đáp ứng tốt nhất khi triển khai áp dụng Luật thuế thu nhập cá nhân. Song hành với việc gấp rút hoàn thiện các văn bản qui phạm pháp luật, Tổng cục Thuế đang kiện toàn và nâng cấp hệ thống phần mềm máy tính hiện có, đầu tư bổ sung đầy đủ trang thiết bị tin học cho những nơi còn thiếu để đáp ứng được nhu cầu quản lý thuế trong giai đoạn đầu, đảm bảo sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ thông tin trong toàn hệ thống thuế.

Với vấn đề nguồn nhân lực, Cục ứng dụng công nghệ thông tin cũng đã kiến nghị với Tổng cục Thuế có một cơ chế hợp lý để “thu dụng nhân tài”, đồng thời Cục cũng chủ động bồi dưỡng, đào tạo những kỹ năng cần thiết cho cán bộ công chức, đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn, đồng thời đảm bảo sử dụng và khai thác tốt các chương trình ứng dụng, vừa nâng cao hiệu suất, hiệu quả quản lý thuế vừa tránh lãng phí số máy móc thiết bị đã trang bị.

Đây không còn là hình thức vận động, khuyến khích nữa mà là yêu cầu bắt buộc, có cơ chế kiểm tra giám sát cụ thể, phấn đấu trong năm 2009, toàn ngành sẽ thực hiện quản lý điều hành qua mạng điện tử, xóa bỏ chế độ báo cáo qua hình thức công văn thư từ, vừa lãng phí, vừa không kịp thời.

3.2. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật phục vụ cho quá trình triển khai Luật thuế thu nhập cá nhân. Khóa luận: Thực trạng triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân.

 Theo chỉ đạo của Bộ Tài chính, ngành thuế đã khẩn trương hoàn tất những công việc chuẩn bị để triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân từ ngày 01/01/2009. Theo đó, ngày 08/09/2008 Thủ tướng Chính phủ đã thành lập Ban chỉ đạo triển khai thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân từ trung ương đến địa phương. Chính phủ đã ban hành Nghị định 100/2008/NĐ – CP quy định chi tiết thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân. Trước khi ban hành, dự thảo thông tư hướng dẫn thi hành về thuế thu nhập cá nhân đã được gửi đi lấy ý kiến rộng rãi của các bộ, ngành, các đoàn thể, các hiệp hội và nhân dân; đăng tải trên website ngành thuế. Tiếp đó đã nghiên cứu xây dựng Thông tư liên tịch giữa Bộ Tài chính với Bộ Quốc phòng và Bộ Công an hướng dẫn thu nộp thuế thu nhập cá nhân đối với cán bộ chiến sĩ các lực lượng vũ trang. Các văn bản hướng dẫn thi hành đã được hoàn thiện và ban hành trong tháng 9/2008 theo đúng chỉ đạo của Chính phủ.

Thông tư 84: Ngày 30/9/2008, thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Công Nghiệp ký ban hành Thông tư số 84/2008/TT-BTC hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân cùng với các rất nhiều mẫu đăng ký liên quan như mẫu tờ khai đăng ký thuế thu nhập cá nhân, mẫu tờ khai khấu trừ thuế thu nhập cá nhân, tờ khai quyết toán thuế, tờ khai giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc…

Thông tư 62: Ngày 27/3/2009, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư mới số 62/2009/TT-BTC hướng dẫn bổ sung và chi tiết hơn cho việc áp dụng Thông tư 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2009 (Thông tư 84), có hiệu lực thi hành sau 45 ngày kể từ ngày ký và áp dụng cho các khoản thu nhập phát sinh từ ngày 01/01/09. Thông tư 62 mới ban hành bao gồm những điểm chinh sau:

Mở rộng phạm vi các khoản thu nhập không chịu thuế.

Ví dụ như đối với người nước ngoài thông tư 62 có quy định một số khoản thu nhập không chịu thuế như: Khoản trợ cấp chuyển vùng một lần đối với người nước ngoài đến cư trú tại Việt Nam (mức trưoj cấp xác định căn cứ trên hợp đồng lao động); khoản tiền học phí bậc phổ thông cho con của người nước ngoài học tại Việt Nam; tiền vé máy bay khứ hồi một lần một năm cho người nước ngoài về phép… Tiền thuê nhà do đơn vị sử dụng lao động chi trả hộ sẽ chịu thuế thu nhập cá nhân theo số thực tế chi trả hộ nhưng không vượt quá 15% tổng thu nhập chịu thuế.

Và các khoản thu nhập không chịu thuế khác: Đối với các khoản chi về phương tiện phục vụ đưa đón tập thể người lao động; các khoản lơi ích như chi phí hội viên, dịch vụ giải trí…; các khoản chi để đào tạo nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động… Khóa luận: Thực trạng triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân.

Hướng dẫn bổ sung về người phụ thuộc và giảm trừ gia cảnh.

Thông tư 62 hướng dẫn những điều kiện bắt buộc để xác định người phụ thuộc trong độ tuổi lao động và ngoài độ tuổi lao động. Theo những điều khoản hướng dẫn này, người phụ thuộc trong độ tuổi lao động phải thỏa mãn hai điều kiện: (i) bị tàn tật không có khả năng lao động và (ii) không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng thấp hơn 500.000VND. Đối với người phụ thuộc ngoài độ tuổi lao động thì chỉ cần thỏa mãn điều kiện thứ hai. Ngoài ra có quy định một số điểm khác.

Thông tư 62 cũng hướng dẫn chi tiết các chứng từ chứng minh người phụ thuộc, thủ tục kê khai cho nhiều trường hợp khác nhau; xác định rõ các khoản bảo hiểm bắt buộc được giảm trừ khi tính thu nhập chịu thuế, bao gồm cả bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp.

Hướng dẫn khấu trừ và kê khai thuế thu nhập cá nhân đối với các khoản thu nhập ngoài tiền lương, tiền công.

Thông tư 62 hướng dẫn cụ thể hơn về việc khấu trừ và kê khai các khoản thu nhập ngoài tiền lương, tiền công.

Ví dụ:  Đối với chứng khoán chưa niêm yết và chưa đăng ký tại trung tâm giao dịch, giá chuyển nhượng chứng khoán là giá ghi trên hợp đồng chuyển nhượng. Trường hợp trên hợp đồng không ghi giá thì căn cứ để khấu trừ thuế là giá chuyển nhượng do người chuyển nhượng tự khai và tự chịu trách nhiệm về tính chính xác của nội dung kê khai.

Cá nhân nhận cổ tức bằng cổ phiếu hoặc nhận cổ phiếu thưởng chưa phải nộp thuế thu nhập cá nhân khi nhận cổ phiếu, nhưng khi chuyển nhượng số cổ phiếu này, cá nhân phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng chứng khoán và thu nhập từ đầu tư vốn. Số thuế thu nhập cá nhân phải nộp đối với thu nhập từ chuyển nhượng cổ phiếu sẽ căn cứ vào giá thực tế tại thời điểm chuyển nhượng và người nộp thuế sẽ lựa chọn phương pháp tính thuế khoán hoặc áp dụng thuế suất 20% trên thu nhập ròng là phần chênh lệch giữa giá thực tế chuyển nhượng và mệnh giá.

 Đối với khoản chi trả tiền hoa hồng đại lý bán hàng hóa; tiền lương, tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân thực hiện các dịch vụ có tổng mức chi trả thu nhập từ 500.000 đồng trở lên thì các tổ chức, cá nhân chi trả phải áp dụng thống nhất mức khấu trừ thuế 10% trên thu nhập chi trả (bất kể cá nhân nhận thu nhập có mã số thuế hay không); trừ những trường hợp có hướng dẫn cụ thể của Bộ Tài chính (ví dụ: phí đại lý bảo hiểm, đại lý vé số).

3.3. Thành lập Bạn chỉ đạo nhằm triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân.

Thủ tướng chính phủ cũng quyết định thành lập Ban chỉ đạo Trung ương triển khai thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân. Theo đó, ban chỉ đạo có nhiệm vụ xây dựng chương trình, kế hoạch, tiến độ và các biện pháp triển khai thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân; hướng dẫn, đôn đốc các bộ, cơ quan và các địa phương thực hiện chương trình, kế hoạch và các biện pháp triển khai thực hiện luật, phải tổng hợp, đánh giá tình hình thực hiện của các bộ, ngành và các địa phương để báo cáo Thủ tướng mỗi quý một lần. Khóa luận: Thực trạng triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân.

Bên cạnh đó, Ban chỉ đạo cũng phải đề xuất, đôn đốc các bộ, cơ quan sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật có liên quan; chỉ đạo, hướng dẫn Ban chỉ đạo triển khai Luật thuế thu nhập cá nhân ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện đúng các chương trình, kế hoạch và biện pháp của Ban chỉ đạo Trung ương đề ra.

Ban chỉ đạo Trung ương hoạt động theo quy chế do Trưởng ban quyết định. Trưởng ban chịu trách nhiệm trước Thủ tướng về hoạt động của Ban; quyết định về quy chế hoạt động và việc phối hợp giữa các thành viên của Ban chỉ đạo; thay mặt Thủ tướng quyết định những chủ trương, biện pháp thuộc thẩm quyền của Thủ tướng để triển khai thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân và các nhiệm vụ đề ra. Ban Chỉ đạo Trung ương có Tổ thường trực giúp việc đặt tại Bộ Tài chính. Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng làm Trưởng ban. Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh làm Phó trưởng ban.

Các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội cũng chủ động thành lập các Ban chỉ đạo triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân tại địa phương để tập trung sự chỉ đạo theo một kế hoạch thống nhất: Thực hiện chỉ thị số 22/2008/CT-TT ngày 15/7/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân, ngày 29/8/2008 ủy ban nhân dân TP. Hà Nôi đã có Quyết định số 462/QĐ-UBND thành lập Ban chỉ đạo triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn, theo đó đích thân Phó Chủ tịch ủy ban nhân dân thành phố Hoàng Mạnh Hiến, trực tiếp làm Trưởng ban chỉ đạo, để cùng với các phó Ban và thành viên là đại diện lãnh đạo Cục Thuế, Sở Tài chính, Sở Công Thương, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Thông tin Truyền thông, Sở Lao động thương binh xã hội… Hiện tại Cục thuế TP Hà Nội đã ủy nhiệm cho Sở Công Thương thu thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao của các đơn vị, văn phòng đại diện của nước ngoài tại Việt Nam, các đại sứ quán, tổ chức phi Chính phủ, các cơ quan báo chí nước ngoài. Sự vào cuộc của chính quyền địa phương các cấp, các ngành sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của công tác triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân.

Ngày 15/9/2008, ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã ban hành quyết định thành lập Ban chỉ đạo triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân cấp tỉnh do ông Chu Phạm Ngọc Hiến – Phó chủ tịch thường trực  ủy ban nhân dân tỉnh làm thường trực và các phó trưởng ban là Cục trưởng Cục Thuế, phó giám đốc Sở Tài chính… Ở cấp huyện giao cho chủ tịch ủy ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố ban hành quyết định thành lập ban chỉ đạo và chịu trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức thực hiện tốt kế hoạch triển khai Luật thuế. Ban chỉ đạo có trách nhiệm tham mưu, đề xuất cho Tỉnh ủy, ủy ban nhân dân tỉnh lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân; triển khai thực hiện nghiêm các chương trình, kế hoạch và hướng dẫn của Ban chỉ đạo Trung ương, bảo đảm đúng tiến độ nội dung yêu cầu đề ra. Đồng thời phân công các thành viên trong ban chỉ đạo phụ trách theo dõi, kiểm tra việc triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân của các huyện, thị xã, thành phố; tổng hợp, đánh giá tình hình trên địa bàn để báo cáo Ban chỉ đạo Trung ương vào tháng cuối mỗi quý, đồng thời ngay trong năm 2008 phải tập trung chỉ đạo hoàn thành việc đăng ký thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn toàn tỉnh.

4. CHUẨN BỊ TRIỂN KHAI CÔNG TÁC ĐĂNG KÝ THUẾ, KHAI THUẾ, NỘP THUẾ. Khóa luận: Thực trạng triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân.

4.1. Những điểm mới trong thủ tục đăng ký thuế, khai thuế, nộp và quyết toán thuế.

Có rất nhiều điểm đổi mới đã được thể hiện trong Thông tư 84/2008/TT-BTC mà nay là Thông tư 62 thể hiện là:

Về đăng ký thuế: Theo tờ khai đăng ký thuế đối với người có thu nhập cao trước đây, các đơn vị chi trả phải thực hiện kê khai trên 20 chỉ tiêu, ngoài ra còn cần ảnh, tên đơn vị chi trả… trên cơ sở giản lược tối đa phần việc của người thực hiện, mẫu tờ khai đăng ký thuế thu nhập cá nhân đã được thiết kế chỉ còn 11 chỉ tiêu phải kê khai, không cần có ảnh và không cần khai đơn vị chi trả thu nhập, để tiết kiệm thời gian và chi phí cho cả đơn vị chi trả thu nhập và cá nhân nộp thuế. Thông tư 84 cũng hướng dẫn rõ, tổ chức chi trả thu nhập và cá nhân nộp thuế đã có mã số thuế được sử dụng luôn mã số đã có mà không cần phải đăng ký lại, cá nhân có nhiều khoản thu nhập chịu thuế chỉ phải đăng ký một lần tạ nơi mà cá nhân thấy thuận tiện nhất.

Về khai thuế, nộp thuế: Theo luật thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn hiện hành thì cá nhân kinh doanh đã thực hiện chế độ kế toán, nộp thuế kê khai sẽ phải kê khai và nộp thuế hàng tháng, khi chuyển sang nộp thuế thu nhập cá nhân, những cá nhân này sẽ chỉ phải tạm khai thuế theo quý, tương tự, cá nhân nộp thuế khoán ổn định, đang nộp thuế theo tháng cũng chuyển sang nộp thuế theo quý, tức là thay vì phải khai thuế, nộp thuế 12 lần trong năm như trước kia nay chỉ phải khai thuế, nộp thuế 4 lần/năm. Khi thời gian và công sức cho việc kê khai, nộp thuế giảm 8 lần/năm cũng đồng nghĩa với việc giảm đáng kể thời gian và chi phí cho việc khai thuế, nộp thuế của cả xã hội.

Kế thừa quy định của thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, Thông tư 84 cũng hướng dẫn về cơ bản cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công, không phải kê khai thuế tháng. Trách nhiệm khai thuế, khấu trừ thuế thuộc về đơn vị chi trả thu nhập. Các đơn vị chi trả thu nhập cũng chỉ phải khai số thuế đã khấu trừ hàng tháng nếu số thuế đã khấu trừ trong tháng lớn hơn 5 triệu đồng, trường hợp dưới 5 triệu đồng/tháng thì đơn vị chi trả được khai theo quý.

Về quyết toán thuế: Để giảm thiểu cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công phải quyết toán thuế, Thông tư 84 quy định, chỉ những cá nhân có thu nhập trên 4 triệu đồng/tháng, cá nhân có số thuế trong năm phải nộp trong năm lớn hơn số thuế đã khấu trừ hoặc tạm nộp, cá nhân yêu cầu hoàn thuế hoặc bù trừ số thuế nộp thừa mới phải thực hiện quyết toán thuế. Đặc biệt, những cá nhân nộp thuế khoán sẽ không phải thực hiện quyết toán thuế mà số thuế này sẽ được xác định ngay từ đầu năm trên cơ sở sự phối hợp trao đổi thông tin giữa cơ quan thuế và hội đồng tư vấn thuế xã, phường. Với quy định này thì theo tính toán của các cơ quan quản lý, trong tổng số 1,7 triệu cá nhân kinh doanh trong cả nước thì dự kiến vào năm 2010 chỉ có 200 – 250 nghìn cá nhân phả thực hiện quyết toán thuế thu nhập cá nhân. Tương tự trong khoảng 10 triệu cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công thì cũng chỉ khoảng 250 – 300 nghìn cá nhân phải quyết toán thuế.

Một điểm mới nữa trong các thủ tục kê khai nộp thuế là việc cấp chứng từ thu nộp thuế. Hiện tại tương ứng với mỗi sắc thuế có một loại chứng từ nộp thuế. Riêng thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao sử dụng 2 loại chứng từ nhưng cả 2 loại này đều do cơ quan chi trả thu nhập cấp (gồm chứng từ cho các khoản thu nhập phải khấu trừ 10% và biên lai cho các khoản thu nhập phải nộp thuế) nên rất phức tạp. Khắc phục nhược điểm này, Bộ Tài chính đã hướng dẫn đơn vị chi trả sử dụng một loại chứng từ là chứng từ khấu trừ thuế để cấp cho các cá nhân có thu nhập đã bị khấu trừ thuế; còn biên lai thuế chỉ sử dụng để cấp cho cá nhân trưc tiếp nộp thuế tại cơ quan thuế. Khóa luận: Thực trạng triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân.

Những điểm cần lưu ý khi kê khai thuế thu nhập cá nhân:

Về cơ bản hệ thống tờ khai thuế thu nhập cá nhân được thiết kế đơn giản và khoa học với các nội dung rõ ràng, rành mạch. Để hỗ trợ, cơ quan thuế đã ban hành hướng dẫn cách thức kê khai cụ thể đối với từng nội dung trên từng mẫu tờ khai, nên chắc chắn người nộp thuế sẽ dễ dàng và thuận lợi khi kê khai. Điều cần lưu ý các đơn vị chi trả thu nhập và các cá nhân nộp thuế, trong quá trình kê khai, nếu có nội dung nào chưa rõ thì cần liên hệ với cơ quan thuế để được giải đáp cụ thể. Bắt đầu từ tháng 12/2008 hệ thống cơ quan thuế từ TW đến địa phương đã thiết lập hệ thống đường dây nóng, nhằm giải đáp kịp thời những khó khăn vướng mắc về thuế thu nhập cá nhân nói chung và việc kê khai thuế thu nhập cá nhân nói riêng để đảm bảo việc thực thi luật được thuận lợi.

Cũng theo quy định của Luật quản lý thuế, người nộp thuế có trách nhiệm kê khai chính xác, trung thực, đầy đủ các nội dung trong tờ khai thuế theo mẫu do Bộ Tài chính quy định và nộp đầy đủ các loại chứng từ, tài liệu quy định trong hồ sơ khai thuế với cơ quan quản lý thuế. Trong trường hợp người nộp thuế không đáp ứng đủ các điều kiện tự kê khai thuế thì cơ quan quản lý sẽ thực hiện ấn định thuế. Quy định này hoàn toàn phù hợp với Điều 10 của Luật Thuế thu nhập cá nhân, theo đó “… Đối với cá nhân kinh doanh chưa tuân thủ đúng chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ, dẫn đến không xác định được doanh thu, chi phí và thu nhập chịu thuế, thì cơ quan thuế có thẩm quyền ấn định doanh thu, tỷ lệ thu nhập chịu thuế để xác định thu nhập chịu thuế phù hợp với từng ngành, nghề sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.”

4.2. Chuẩn bị cấp mã số thuế cho người nộp thuế.

Vai trò của việc cấp mã số thuế

Một kinh nghiệm được xem là “chìa khóa” thành công của việc triển khai Luật thuế thu nhập cá nhân là việc cấp mã số thuế thu nhập cá nhân. Từ ngày 1/1/2009 Luật thuế thu nhập cá nhân chính thức được áp dụng. Luật quy định tất cả các cá nhân nằm trong diện nộp thuế thu nhập cá nhân cùng với những người thuộc diện giảm trừ gia cảnh (vợ, chồng, con cái, bố mẹ…) đều phải có mã số thuế riêng, mã số này sẽ gắn với mỗi cá nhân suốt đời . Cũng theo Thông tư hướng dẫn thì cá nhân muốn được tính giảm trừ cho người phụ thuộc phải đăng ký và có mã số thuế. Bởi vì, chỉ khi có mã số thuế, cơ quan thuế mới kiểm soát được thu nhập của đối tượng nộp thuế; khi có mã số thuế, cơ quan thuế mới có thể đối chiếu được việc khai báo có chân thực hay không. Khóa luận: Thực trạng triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân.

Do đó ngay sau khi Luật thuế thu nhập cá nhân được thông qua, Tổng cục Thuế đã xây dựng và trình Bộ Tài chính duyệt kế hoạch cấp mã số thuế cho tất cả các đối tượng có thu nhập thuộc diện chịu thuế. Căn cứ vào kế hoạch đó, Tổng cục Thuế đã có công văn chỉ đạo Cục Thuế các tỉnh, thành phố tiến hành rà soát các đối tượng cần cấp mã số thuế; đồng thời thực hiện cấp ngay mã số thuế cho các đơn vị, cơ quan chi trả thu nhập và các cá nhân đang thuộc diện nộp thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao. Với các tổ chức cá nhân khác sẽ thực hiện kê khai, cấp dần mã số thuế trong năm 2009.

Nếu có mã số thuế đối tượng nộp thuế sẽ được hưởng các quyền lợi sau: được giảm thuế nếu bị thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ hoặc bị bệnh hiểm nghèo; được lựa chọn cách tính thuế thu nhập cá nhân theo mức thuế suất có lợi nhất; được hoàn thuế thu nhập cá nhân nếu nộp thừa; được cung cấp các dịch vụ về thuế nhanh chóng, thuận tiện.

Triển khai công tác cấp mã số thuế:

Thuế thu nhập cá nhân là sắc thuế có độ bao quát rộng, đối tượng chịu thuế lớn, ước tính sẽ có tới khoảng 15 triệu người được đăng ký để cấp mã số thuế. Trong đó, lớn nhất là người làm công ăn lương từ 11 – 11,5 triệu người; sau đó là cá nhân kinh doanh khoảng 2 triệu người; tiếp đến là nhà đầu tư vốn, chứng khoán khoảng 1 triệu người; còn lại là các trường hợp khác khoảng 500 ngàn người. Nhưng thời gian đầu, sẽ tập trung hoàn thành việc đăng ký thuế và cấp mã số thuế đối với 3 nhóm đối tượng là các tổ chức chi trả thu nhập, cá nhân có thu nhập từ kinh doanh dịch vụ và những cá nhân đang thuộc diện nộp thuế thu nhập cao, ước tính đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân được đưa vào diện quản lý thuế khoảng 3 triệu người.

Ví dụ:

Những khoản thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán bao gồm thu nhập từ việc chuyển nhượng cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ và các loại chứng khoán khác theo quy định của Luật Chứng khoán thì phải chịu thuế thu nhập cá nhân.

Để nộp thuế phải thực hiện một vài thủ tục, trong đó  bước đầu tiên và quan trọng nhất là đăng ký thuế. Nếu là người thường xuyên có thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán hoặc bạn đăng ký thuế thu nhập cá nhân theo thuế suất 20% trên thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán thì cần phải đăng ký thuế để được cấp mã số thuế.

Bắt đầu bằng việc điền đầy đủ thông tin cá nhân vào Mẫu đăng ký số 01-ĐK-TNCN ban hành kèm theo Thông tư số 84/2008/TT-BTC. Sau đó, nộp mẫu đăng ký đó và bản sao chứng minh thư nhân dân hoặc hộ chiếu cho Chi cục nơi đối tượng cư trú (Có thể lấy mẫu tờ khai tại công ty chứng khoán). Thời gian được nhận mã số thuế thu nhập cá nhân và thẻ mã số thuế cá nhân trong vòng 5 đến 10 ngày kể từ khi nộp hồ sơ đăng ký thuế đến cơ quan thuế. Trong trường hợp đã có mã số thuế, bạn có thể tiếp tục sử dụng mã số đó để thực hiện nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân.

Nhìn chung thực hiện theo các bước trên thì quy trình đăng kí thuế và đăng kí cấp mã số thuế như trên thì có vẻ dễ dàng. Nhưng thực tế triển khai các công tác trên thực sự gặp phải nhiều vướng mắc phát sinh.

Những vướng mắc khi triển khai đăng ký cấp mã số thuế:

Thực tế là số lượng người đến cơ quan thuế làm thủ tục đăng ký mã số thuế quá tải khiến công tác này gặp rất nhiều khó khăn. Đây là vấn đề mà Cục thuế Hà Nội và một số Cục thuế khác gặp phải trong quá trình triển khai đăng ký và cấp mã số thuế cho các đối tượng nộp thuế trên địa bàn mình. Khóa luận: Thực trạng triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân.

Trước thời điểm 31/12/2008 khoảng một, hai tuần do lo ngại việc đăng ký mã số thuế sau ngày 31/12/2008 sẽ bị phạt, hàng trăm người dân tới xếp hàng từ 4h sáng trước cổng Cục Thuế Hà Nội chờ đăng ký, trong khi cơ quan này chỉ có 2 cửa tiếp nhận, tương đương với khả năng phục vụ chỉ 40 – 50 người/ngày. Để đáp ứng nhu cầu của người dân, Cục Thuế Hà Nội đã tăng lên 11 cửa tiếp nhận nhưng vẫn quá tải. Trước tình trạng trên, Cục Thuế Hà Nội quyết định áp dụng phương án giãn thời hạn đăng ký mã số thuế đến hết tháng 1/2009, những trường hợp chưa kịp hạn ngày 31/12/2008 sẽ tiếp tục đăng ký và không bị phạt.

Ngay khi việc giãn thời hạn nói trên được công bố cùng các giải pháp mà Cục Thuế Hà Nội đưa ra, lượng người tới đăng ký cấp mã số thuế đã giảm hẳn. Ghi nhận chiều 31/12/2008 chỉ có khoảng 20 trường hợp đến đăng ký, thay vì hàng trăm người như những ngày trước đó. Sau khi có quyết định giãn, số người tới đăng ký đã giảm trên 50%, trở vể mức bình thường.

Ngoài quyết định giãn thời hạn đăng kí mã số thuế, Cục Thuế Hà Nội còn gửi công văn cho các doanh nghiệp, các cơ quan chi trả thu nhập về lộ trình cấp mã số thuế. Cục Thuế Hà Nội cũng báo cáo Bộ Tài Chính và Tổng cục Thuế về việc khấu trừ 10% hoặc 20% đối với các khoản thu nhập từ 500.000 trở lên, hiện Bộ Tài Chính và Tổng cục Thuế đã đồng ý thống nhất phương án dù có mã số thuế hoặc chưa có mã số thuế đều khấu trừ 10%. Do vậy việc có mã số hoặc chưa có mã số thuế cũng không ảnh hưởng đến tình hình nộp thuế của tổ chức cá nhân trong diện phải đóng thuế. Vấn đề này cũng được giải thích rõ cho các doanh nghiệp, cho nên việc cấp mã số thuế tại Cục Thuế Hà Nội đã được thực hiện quy củ và đúng theo yêu cầu mà cơ quan thuế đã thông báo.

Kiến nghị chung của nhiều tổ chức, cá nhân là nên kéo dài hạn đăng ký thuế bởi lẽ ngành thuế đang quá tải, có nhiều vướng mắc và để tổ chức, cá nhân có thời gian hoàn thiện hồ sơ. Hơn thế nữa, hiện ngành thuế mới tập trung hoàn tất hồ sơ cho tổ chức, cá nhân làm công ăn lương tuy nhiên lại vẫn sẽ áp thuế với đối tượng không cư trú. Đây là điều không phù hợp. Vì vậy cần kéo dài thời hạn để cho những đối tượng này khai và có mã số thuế.

Theo ước tính của Cục Thuế Hà Nội tổng số đối tượng cần cấp mã số thuế trên địa bàn Hà Nội khoảng 1,5 triệu người và sẽ được cấp dần trong năm 2009. Trong đó trên 70.000 các doanh nghiệp, cơ quan chi trả thu nhập đã đăng ký mã số thuế thì tiếp tục được dùng mã số thuế đó. Đối với tổ chức phải thực hiện đăng ký mã số thuế mà chưa có mã thì tại Hà Nội thống kê được khoảng 8.000, đến ngày 31/12 Cục Thuế Hà Nội đã nhận được khoảng 6.000 hồ sơ đăng ký. Còn trong đợt cấp mã số thuế này sẽ có khoảng 800.000 mã số thuế thu nhập cá nhân được cấp. Nhưng tới thời điểm này Cục mới nhận được khoảng 18.000 hồ sơ, trong đó có gần 10.000 hồ sơ đã được giải quyết. Theo đó, hầu hết hồ sơ đăng ký cấp mã số thuế thu nhập cá nhân phải lùi sang năm 2009. Khóa luận: Thực trạng triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân.

Sở dĩ số lượng người đăng ký quá đông là do chưa hiểu hết thủ tục vì 31/12/2008 chỉ là hạn để những tổ chức, cơ quan chi trả thu nhập (hội, sở, ban ngành không kinh doanh), các cá nhân hành nghề độc lập hoặc cá nhân có thu nhập khác, đăng ký trực tiếp nộp thuế tại cơ quan thuế mà chưa có mã số thuế phải  hộp hồ sơ đăng ký mã số thuế. Các cơ quan chi trả đã có mã số thuế rồi thì sử dụng luôn mã số đó để nộp thuế không phải đăng ký lại. Hiện tượng như trên là do những đối tượng khác chưa đến hạn nhưng lo ngại bị phạt cũng đã đổ xô đến đăng ký, dẫn đến tình trạng quá tải. Theo Cục Thuế Hà Nội các cá nhân làm công ăn lương sẽ nộp hồ sơ đăng ký mã số thuế cho các doanh nghiệp, các tổ chức, cơ quan chi trả thu nhập để các đơn vị này nộp hồ sơ đăng ký cho cơ quan thuế trong quý I/2009. Các trường hợp còn lại sẽ được cấp mã số thuế trong tháng 4/2009.

Tuy nhiên cũng phải nói rằng việc người dân đổ xô đến đăng ký cho kịp thời điểm trước 31/12/2008 cũng là hợp lý. Bởi vào thời điểm đó nếu sau ngày 01/01/2009 – thời điểm Luật Thuế thu nhập cá nhân có hiệu lực, không hề có thông tư hay thông báo gì về việc nếu cá nhân không có mã số thuế thì sẽ không bị khấu trừ ở mức cao nhất như quy định (như thuế thu nhập đối với thu nhập từ tiền công, tiền lương là 20%) hay sẽ không bị phạt do đi đăng ký mã số thuế chem…. khiến người dân hết sức lo lắng. Hơn thế nữa, việc đi đăng ký mã số thuế là việc sớm muộn đều phải thực hiện nên tâm lý của đối tượng nộp thuế muốn đăng ký trước thời hạn là cũng dễ hiểu, bởi họ cũng phải chủ động đi đăng ký mã số thuế sớm để lo các thủ tục khác liên quan. Và thực tế quá trình cấp mã số thuế cá nhân cho các đối tượng chịu thuế thu nhập cá nhân tại địa bàn Hà Nội và một số tỉnh thành khác cũng khá chậm, liệu có hoàn thành theo đúng kế hoạch của Tổng cục Thuế hay không?

Hơn thế nữa cũng có nhiệm vụ như nhau, số lượng đơn vị chi trả nhiều, số đối tượng nộp hồ sơ đăng ký thuế lớn không hề kém Cục Thuế Hà Nội nhưng không hề xảy ra hiện tượng ùn tắc trên địa bàn TP Hồ Chí Minh. Để giảm thiểu thời gian tiếp nhận và tiết kiệm chi phí cho xã hội, Cục Thuế TP HCM đã chủ động thiết kế mẫu tờ khai để các đơn vị chi trả thu nhập thông tin cho người lao động rồi copy vào đĩa mềm gửi cho cơ quan thuế. Đây là một hình thức vô cùng sáng tạo đáng học tập của Cục Thuế TP HCM và cũng là bài học kinh nghiệm cho Cục Thuế Hà Nội cũng như cục thuế các địa phương khác học hỏi và suy ngẫm.

Tính đến hết tháng 1, cơ quan thuế đã tiếp nhận trên 2 triệu hồ sơ đăng ký thuế thu nhập cá nhân của những người làm công ăn lương và cấp mã số thuế cho khoảng 150.000 người. Trong đó, Cục Thuế Hà Nội tiếp nhận khoảng 125.000 hồ sơ đăng ký từ hơn 1.800 đơn vị chi trả lương cho người lao động, tính đến hết tháng 1 đã có khoảng 1.400 mã số thuế được cấp cho tổ chức và 30.000 mã số cấp cho các cá nhân. Tại TP HCM, cơ quan thuế đã nhận hồ sơ đăng ký thuế của khoảng 1,5 triệu người lao động và đã cấp mã số thuế cho khoảng 70.000 đối tượng.

4.3. Triển khai đăng ký giảm trừ gia cảnh. Khóa luận: Thực trạng triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân.  

4.3.1. Nội dung giảm trừ gia cảnh.

Giảm trừ gia cảnh là nội dung rất mới, thể hiện tính nhân văn của Luật Thuế thu nhập cá nhân, đảm bảo tính công bằng, bình đẳng về nghĩa vụ thuế đối với ngân sách nhà nước của mọi công dân. Thủ tục giảm trừ gia cảnh là nội dung quan trọng khi chuẩn bị triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân. Theo đó các cá nhân có thu nhập từ kinh doanh và thu nhập từ tiền lương tiền công sẽ được tính giảm trừ gia cảnh khi tính thuế thu nhập cá nhân. Trên thực tế, người phụ thuộc bao gồm rất nhiều đối tượng nên việc tính giảm trừ gia cảnh phải tuân thủ những nguyên tắc sau:

  • Một là, cá nhân nộp thuế chỉ được tính giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc nếu đã đăng ký thuế và được cấp mã số thuế. Riêng năm 2009 trường hợp chưa đăng ký thuế thì vẫn tạm giảm trừ gia cảnh nếu thực hiện đăng ký giảm trừ gia cảnh và có đủ hồ sơ chứng minh người phụ thuộc theo quy định.
  • Hai là, mỗi người phụ thuộc chỉ được tính giảm trừ một lần vào đối tượng nộp thuế trong năm tính thuế. Người phụ thuộc mà đối tượng nộp thuế có trách nhiệm nuôi dưỡng phát sinh tháng nào thì được tính giảm trừ tháng đó. Trường hợp có chung một người phụ thuộc thì các đối tượng nộp thuế phải tự thỏa thuận với nhau để có đăng ký giảm trừ vào một đối tượng nộp thuế. Mức giảm trừ gia cảnh cho mỗi người phụ thuộc là 1,6 triệu đồng/tháng.
  • Ba là, đối tượng nộp thuế có trách nhiệm kê khai số người phụ thuộc được giảm trừ và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực trong việc kê khai này. Luật Thuế thu nhập cá nhân và các văn bản hướng dẫn không cho phép thay đổi việc kê khai người phụ thuộc vào giữa năm tính thuế, cũng như không cho phép chia đôi khoản giảm trừ gia cảnh 1,6 triệu đồng cho hai người nộp thuế.

Việc kê khai phụ thuộc hoàn toàn phụ thuộc vào ý thức tự giác của mỗi người. Đơn vị chi trả không phải chịu trách nhiệm gì về việc kiểm tra kê khai người phụ thuộc của người làm công ăn lương mà việc kiểm tra sẽ hoàn toàn do cơ quan thuế chịu trách nhiệm. Căn cứ vào bản kê khai của cá nhân đã nộp cho cơ quan thuế sẽ kiểm tra đối chiếu. Trường hợp phát hiện hồ sơ chứng minh người phụ thuộc không đúng hoặc không đủ hoặc không phù hợp với tờ khai đăng ký người phụ thuộc, cơ quan thuế sẽ thông báo cho người nộp thuế điều chỉnh hoặc bổ sung. Trường hợp không điều chỉnh hoặc bổ sung sẽ thông báo lại cho đơn vị chi trả thu nhập để đơn vị chi trả thu nhập điều chỉnh lại số người phụ thuộc được giảm trừ. Tuy nhiên, để đảm bảo phát hiện kịp thời các trường hợp cá nhân nộp thuế cố tình khai gian, khai trùng, khai không đúng về người phụ thuộc, cơ quan thuế sẽ phối hợp với đơn vị chi trả thu nhập và hội đồng tư vấn thuế phường, xã để kiểm soát và quản lý. Bên cạnh đó, toàn bộ hồ sơ chứng minh về người phụ thuộc gửi tới cơ quan thuế sẽ được nhập vào hệ thống cơ sở dữ liệu. Trên cơ sở đó, hệ thống công nghệ thông tin tại cơ quan thuế sẽ xác lập mã nhận diện về người phụ thuộc và chính mã nhận diện này sẽ cho phép cơ quan thuế loại trừ những trường hợp gian lận nhằm mục đích tránh thuế, lách thuế.

4.3.2. Triển khai đăng ký và chứng minh giảm trừ gia cảnh.

Để được hưởng quyền lợi tính giảm trừ cho người phụ thuộc thì bắt buộc người nộp thuế phải có thu nhập từ tiền lương tiền công, hay thu nhập từ kinh doanh; đồng thời phải đăng ký hoặc kê khai và nộp hồ sơ chứng minh về người phụ thuộc cho đơn vị trực tiếp quản lý và cơ quan thuế. Khóa luận: Thực trạng triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân.

Công tác quản lý kê khai người phụ thuộc đã được hướng dẫn khá chi tiết trong thông tư 84/2008/TT-BTC nay là TT 62 có kèm theo các mẫu tờ khai thực hiện đăng ký và kê khai thuế thu nhập cá nhân. Bộ Tài chính đã chỉ đạo, thủ tục kê khai người phụ thuộc phải rất đơn giản thuận tiện, thể hiện quan điểm cải cách hành chính theo chiến lược hiện đại hóa ngành thuế đến năm 2010.

Ví dụ:  Thủ tục đăng ký giảm trừ gia cảnh đối với cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công thì ngay từ đầu năm phải tiến hành việc đăng ký người phụ thuộc và nộp hồ sơ cho đơn vị mình đang làm việc để được tính tạm trừ vào tiền lương, tiền công trước khi khấu trừ thuế.

Đầu năm, chậm nhất là ngày 30/1 đối tượng nộp thuế lập 02 bản đăng ký người phụ thuộc được giảm trừ gia cảnh thông mẫu số 16/ĐK-TNCN gửi cho cơ quan trả thu nhập. Trong năm nếu có sự thay đổi về người phụ thuộc so với đăng ký đầu năm thì chậm nhất là sau 30 ngày kể từ ngày có thay đổi (tăng, giảm) đối tượng nộp thuế cần khai 02 bản đăng ký điều chỉnh người phụ thuộc theo mẫu số 16/ĐK-TNCN (ban hành kèm theo Thông tư 84/2008) gửi cho cơ quan trả thu nhập.

Trường hợp đối tượng nộp thuế ký hợp đồng lao động (hoặc có quyết định tuyển dụng) sau ngày 30/1 thì thời hạn đăng ký người phụ thuộc chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng ký hợp đồng lao động hoặc quyết định tuyển dụng.

Nếu trong năm có thay đổi về người phụ thuộc hoặc mức thu nhập, người nộp thuế phải làm gì? Hồ sơ chứng minh người phụ thuộc người nộp thuế chỉ nộp một lần cho cơ quan thuế mà không phải năm nào cũng nộp, khi có thay đổi về tuổi tác của người phụ thuộc, chẳng hạn con cái hết tuổi vị thành nhiên, máy tính sẽ tự động loại bỏ đối tượng phụ thuộc. Ngoài ra, đối với những thay đổi về tăng thêm giảm đi, người nộp thuế phải khai điều chỉnh bổ sung ngay trong năm. Căn cứ vào tờ khai điều chỉnh cơ quan chi trả thu nhập sẽ áp dụng ngay.

4.3.3. Những vấn đề vướng mắc khi triển khai đăng ký giảm trừ gia cảnh.

 Một số khái niệm liên quan đến người phụ thuộc chưa được quy định rõ ràng: Bộ Tài chính không hướng dẫn rõ khái niệm “không nơi nương tựa” và để chứng minh thuộc diện “không nơi nương tựa”, cá nhân người nộp thuế phải có các loại giấy tờ gì? Phương án được đưa ra là nên quy hiểu “không nơi nương tựa” là người sống cùng đối tượng nộp thuế, cách làm này sẽ giúp cho ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đối tượng nộp thuế cư trú có thể xác nhận trách nhiệm nuôi dưỡng. Các cục thuế đề nghị cần bổ sung quy định về hồ sơ chứng minh cho đối tượng này, cụ thể như quyết định của tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền quy định trách nhiệm nuôi dưỡng của đối tượng nộp thuế đối với đối tượng này.

Thủ tục xác nhận giấy tờ chứng minh người phụ thuộc cũng rất phức tạp:  Quá nhiều loại giấy tờ cần kê khai, xác nhận; song người nộp thuế lại chỉ được khuyến cáo là nên “kê khai trung thực”. Do không có mẫu đơn xác nhận chung nên người dân tự lập ra đơn xác nhận. Điều này đã khiến người dân phải đi tới đi lui nhiều lần để được xác nhận. Ví dụ một cá nhân cần làm đơn xác nhận đã hết tuổi lao động, không có lương hưu, kinh doanh. Tuy nhiên khi nộp đơn, ủy ban nhân dân phường từ chối xác nhận điều này, mà chỉ xác nhận là hiện thường trú tại địa chỉ của cá nhân đó. Điều này hóa ra thành thừa, bởi nếu như thế, người dân chỉ cần photocopy, công chứng hộ khẩu là đã có thể chứng minh được nơi ở rồi.

Hiện nay, ngành thuế đang quá tải khi số lượng người đăng ký quá đông, tiến độ thực hiện đăng ký người phụ thuộc giảm trừ gia cảnh có xu hướng khẩn trương và tăng nhanh hơn. Tuy nhiên, đây lại là vấn đề quá khó bởi có không ít vướng mắc khiến đối tượng nộp thuế lẫn ủy ban nhân dân các địa phương khó xử. Theo ủy ban nhân dân các phường, xã tại Hà Nội và TPHCM, gần đây xuất hiện nhiều đơn đề nghị ủy ban nhân dân địa phương xác nhận gia cảnh. Tuy nhiên ủy ban nhân dân phường, xã khó có thể xác nhận chính xác. Ví dụ: Hiện nay ủy ban nhân dân các phường xã đã nhận được một số đơn đề nghị xác nhận đối tượng cư trú có trách nhiệm nuôi dưỡng cháu ở quê. Điều này là quá khó. ủy ban nhân dân xã phường không thể nào xác định được mối quan hệ của người phụ thuộc đang sống ở tỉnh khác và người dân đang cư trú trên địa bàn, càng không thể nào biết được có đúng là người dân đang cư trú trên địa bàn có trách nhiệm nuôi dưỡng cháu đang sống ở tỉnh khác hay không và cũng không thể biết hết được thu nhập của người dân để xác nhận. Thực tế là hệ thống ủy ban nhân dân xã, phường không thể xác nhận thông tin kê khai trên. Khóa luận: Thực trạng triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân.

Điều này xảy ra tương tự đối với việc xác nhận tỉ lệ tàn tật. Thông tư 84/2008/TT_BTC có hướng dẫn cần có bản sao xác nhận của cơ quan y tế từ cấp huyện trở lên, hoặc bản khai có xác nhận của ủy ban nhân dân cấp xã về mức độ tàn tật, không có khả năng lao động. Tuy nhiên, hầu hết việc xác nhận mức độ tàn tật, không có khả năng lao động đều đẩy cho cơ quan y tế. Đa số ủy ban nhân dân phường, xã đều không thể biết; vì thế cũng không thể xác nhận được điều này, và hầu hết ủy ban nhân dân phường xã luôn từ chối xác nhận thông tin liên quan. Nhưng Thông tư 62 ra đời đã quy định kĩ hơn trách nhiệm của ủy ban nhân dân phường, xã với từng trường hợp xác nhận tỉ lệ tàn tật nhất định.

Một vấn đề khác là không ít cơ sở y tế, bệnh viện cũng cho rằng, hiện nay chưa có sự thống nhất phối hợp giữa cơ quan y tế và cơ quan thuế. Không ít nơi cho rằng, việc lập nên một hội đồng giám định tỉ lệ tàn tật, không có khả năng lao động là rất phức tạp và tốn kém. Thế nhưng, nếu không có hội đồng này thì các cơ sở y tế chỉ có thể dừng lại ở việc khám sức khỏe. Tuy nhiên, nếu như chỉ dựa vào việc khám sức khỏe như trên, để mà xác nhận là có hay không có khả năng lao động là rất khó. Đồng thời, đây cũng có thể là kẽ hở lớn để phát sinh tiêu cực và lách thuế.

5. ĐỐI TƯỢNG NỘP THUẾ.

Điểm mới của Luật Thuế thu nhập cá nhân hiện hành là bổ sung đối tượng là các cá nhân kinh doanh vào diện chịu thuế thu nhập cá nhân thay vì thuế thu nhập doanh nghiệp như trước đây. Đây cũng là vấn đề gặp nhiều vướng mắc cũng như ý kiến phản hồi từ phía người dân từ trước cũng như sau thời điểm Luật có hiệu lực. Trong phạm vi bài khóa luận chỉ trình bày đối tượng nộp thuế là cá nhân kinh doanh.

Hộ kinh doanh được lợi khi đóng thuế thu nhập cá nhân

Thay vì phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp với mức cao, cá nhân kinh doanh hiện nay chỉ chịu mức thuế thu nhập cá nhân từ kinh doanh, và trong nhiều trường hợp, khi tính giảm trừ gia cảnh, cá nhân được “hời” hơn khi đóng theo thuế thu nhập cá nhân.

Với hộ có đăng ký kinh doanh, mức thuế thu nhập áp dụng theo biểu thuế thu nhập cá nhân mới sẽ thấp hơn nhiều so với mức thuế suất 28%  trước đây và mức thuế suất 25% hiện nay, đặc biệt trong những trường hợp có nhiều người chịu giảm trừ gia cảnh. Giả sử một hộ kinh doanh có thu nhập từ kinh doanh là 20 triệu đồng/tháng, đang nuôi 2 con nhỏ và 1 mẹ già, mức giảm trừ là 4,8 triệu đồng, như vậy, thu nhập tính thuế là 15,2 triệu đồng, mức thuế phải đóng là 2,28 triệu đồng/tháng, thấp hơn mức thuế khoán đang áp dụng theo Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.

Như vậy, với những hộ kinh doanh có thu nhập thấp và số người phụ thuộc đối với người đăng ký kinh doanh càng nhiều thì mức thuế phải nộp sẽ càng ít đi. Đây là một điểm rất có lợi cho các cá nhân kinh doanh trong so sánh với mức thuế họ đang phải chịu. Khóa luận: Thực trạng triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân.

Số thu ngân sách từ các cá nhân kinh doanh có thể giảm, nhưng đây là một biện pháp động viên, khuyến khích để các hộ kinh doanh nhỏ vươn lên thành những doanh nghiệp lớn, từ đó sẽ có đóng góp nhiều hơn, ổn định và vững chắc hơn cho ngân sách nhà nước. Đây chính là một trong những chính sách thể hiện quan điểm khoan sức dân của Đảng và Nhà nước, được cụ thể hóa trong chính sách động viên thuế thu nhập cá nhân. Hơn nữa, việc chuyển các cá nhân kinh doanh sang nộp thuế thu nhập cá nhân cũng hoàn toàn phù hợp với thông lệ quốc tế khi Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới WTO.

Những thuận lợi khi triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân với đối tượng cá nhân kinh doanh.

Thứ nhất, từ nhiều năm nay, các cá nhân kinh doanh đã thực hiện nộp thuế theo quy định của pháp luật nên nhận thức của họ về nghĩa vụ thuế đã trở thành thói quen, nền nếp, do đó việc chuyển sang nộp thuế thu nhập cá nhân với họ chỉ đơn giản là việc thay đổi tên gọi của loại thuế chứ không xáo trộn nhiều. Đây chính là thuận lợi nền tảng và cơ bản nhất.

Thứ hai, quá trình quản lý thuế, nhất là quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, ngành thuế thường xuyên nhận được sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan quản lý nhà nước, các cấp chính quyền địa phương, các tổ chức, đoàn thể; đặc biệt là sự hỗ trợ nhiệt tình và trách nhiệm của hội đồng tư vấn thuế xã phường, đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho cơ quan thuế trong việc xác định doanh số, chi phí, thu nhập, quản lý thu nộp thuế, đôn đốc và cưỡng chế thu hồi nợ đọng thuế.

Thứ ba, thực tế quá trình quản lý thuế đã cho đội ngũ cán bộ công chức trực tiếp quản lý các hộ kinh doanh những thuận lợi để thấu hiểu từng đặc điểm riêng có của đối tượng này, đề từ đây, rất nhiều địa phương đã có sáng kiến, biện pháp quản lý hiệu quả, được nhân rộng và đúc kết thành kinh nghiệm chung của toàn ngành thuế.

Thứ tư, ngành thuế đã và đang đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào quản lý thuế nói chung và quản lý thuế đối với cá nhân kinh doanh nói riêng. Những ứng dụng này đã giúp cơ quan thuế kiểm soát tốt hơn về đối tượng nộp thuế, các căn cứ tính thuế và theo dõi tiến độ thu nộp thuế. Đặc biệt, để triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân ngành thuế đã xây dựng nhiều đề án ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý nên chắc chắn hiệu quả sẽ được đảm bảo.

Những vướng mắc khi triển khai Luật thuế thu nhập cá nhân với đối tượng cá nhân kinh doanh.

Như một đặc điểm mang tính cố hữu, đại bộ phận những cá nhân kinh doanh đều không thực hiện chế độ kế toán hóa đơn chứng từ, mà nếu có thực hiện cũng không đúng quy định, nên việc xác định chính xác doanh số kinh doanh của đối tượng này là thách thức lớn. Khóa luận: Thực trạng triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân.

Theo quy định tại quy trình quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể (hiện nay là cá nhân kinh doanh – đối tượng nộp thuế mới của Luật thuế thu nhập cá nhân) ban hành theo Quyết định 1201 QĐ/TCT-TCCB ngày 26/7/2004 của Tổng cục Thuế tại tiết b, điểm 1, mục I, phần B đối với hộ ổn định thuế về điều tra doanh thu thực tế: “Đội thuế chọn một số hộ kinh doanh đại diện cho các ngành nghề, qui mô kinh doanh để điều tra điển hình làm căn cứ đánh giá tình hình chính xác của các tờ khai do hộ kinh doanh tự kê khai và làm căn cứ để hiệp thương với hộ kinh doanh kê khai doanh thu không đúng hoặc ấn định thuế đối với những hộ kinh doanh không kê khai, không nộp tờ khai”.

Hầu hết mức doanh thu tính thuế ổn định cho các hộ kinh doanh đều không điều chỉnh theo kịp mức độ tăng của giá cả thị trường. Cơ quan thuế hiểu rõ điều đó nhưng muốn điều chỉnh kịp thời phải trải qua bước điều tra, khảo sát lại doanh thu thực tế của hộ kinh doanh. Có một thực tế là, các hộ kinh doanh khi lập tờ khai doanh thu thường đối phó bằng cách kê khai thấp hơn mức doanh thu thực tế, thậm chí kê khai thấp hơn cả doanh thu đã được ổn định thuế kỳ trước. Bởi vậy việc điều tra khảo sát doanh thu tính thuế trong quá trình quản lý thuế đối với hộ sản xuất kinh doanh cá thể là một trong những công việc không đơn giản.

Trong thực tiễn công tác, cán bộ quản lý phải thực hiện những nghiệp vụ của mình trong khoảng thời gian nhất định và theo quy định trong mỗi đợt điều tra, khảo sát điều chỉnh lại mức thuế cho phù hợp với thực tế kinh doanh. Vì thế, tác nghiệp điều tra khảo sát doanh thu thực tế trở thành một công việc không đơn giản, nhất là đối với các hộ kinh doanh hoạt động ở các đường phố. Thông thường, cơ quan thuế nhận được một số tờ khai doanh thu của các hộ kinh doanh và trong số đó, không ít những tờ khai doanh thu kê khai quá thấp so với thực tế sản xuất. Một số hộ kinh doanh không lập và nộp tờ khai cho biết, khi nhận được tờ khai từ cơ quan thuế, họ đều biết là sắp có đợt điều chỉnh lại mức thuế phải nộp nên nghe ngóng chưa vội kê khai. Vả lại, thường thì hộ kinh doanh chỉ chú trọng vào mức thuế phải nộp, ít lưu tâm đến doanh thu tính thuế, vì vậy khi phải kê khai mức doanh thu các hộ đều lo ngại và tìm cách khai không đúng doanh thu đạt được trong kinh doanh.

Quá trình thực hiện công tác này đã cho thấy một số kinh nghiệm: Đối với một số ngành nghề có thể tính toán được cụ thể như ăn uống, giải khát, dịch vụ… thì cán bộ quản lý có thể tiến hành tác nghiệp điều tra doanh số một cách nhanh gọn. Đối với một số ngành nghề dịch vụ có sử dụng nguồn điện lưới, cán bộ quản lý cần nắm doanh thu tương ứng trên số kw/giờ điện như xay sát, gia công cơ khí, sản xuất các mặt hàng tiêu dùng… Đối với loại hình kinh doanh dịch vụ giải trí như karaoke, bi-a, internet, trò chơi điện tử… cần căn cứ số giờ hoạt động bình quân để khảo sát doanh thu. Còn đối với các hộ kinh doanh ngành thương nghiệp, cán bộ quản lý phải nắm vững hình thức kinh doanh là bán buôn, bán lẻ; nguồn cung cấp hàng hóa; những khách hàng đến mua hàng thường xuyên, điều kiện kinh doanh và sức mua bán thực tế của từng nhóm hàng hóa qua điều tra các hộ cùng ngành nghề, qua ý kiến người tiêu dùng… để có mức điều chỉnh doanh thu phù hợp.

 Mặt khác, các đội thuế phải tăng cường sự phối hợp với bộ phận tổng hợp cung cấp thông tin kinh tế được cung cấp chứng từ xuất nhập hàng hóa của các doanh nghiệp, hộ kinh doanh có sử dụng hóa đơn, chứng từ, từ đó có thể tiên lượng doanh thu thực tế của các hộ kinh doanh. Một công việc cần thiết và không kém phần quan trọng hỗ trợ đắc lực cho công tác điều tra doanh thu thực tế đó là, niêm yết công khai doanh thu dự kiến của hộ kinh doanh tại các địa điểm thích hợp, sau đó thông báo công khai địa điểm niêm yết để các hộ kinh doanh biết và tham gia ý kiến, giúp cho cơ quan thuế có thêm cơ sở xác định doanh thu của các hộ chưa hợp lý, chưa đúng thực tế sản xuất kinh doanh để điều chỉnh lại.

Công tác điều tra khảo sát doanh thu thực tế để tính thuế là một trong những công việc không đơn giản của cán bộ quản lý các hộ kinh doanh cá thể. Công tác này nếu không được chú trọng đầu tư đúng mức, thực hiện đúng quy trình và thủ tục pháp lý sẽ gặp rất nhiều khó khăn, nhất là khi phải tính toán lại mức thuế để chuẩn bị kỳ ổn định thuế mới cho các hộ kinh doanh. Vì vậy, để làm tốt công tác này, cán bộ quản lý phải không ngừng rèn luyện tư tưởng, đạo đức, lối sống, lòng tâm huyết với nghề và có tinh thần trau dồi học hỏi chuyên môn nghiệp vụ, đảm bảo sâu sát với cơ sở, nhằm ổn định nguồn thu và thiết lập công bằng xã hội.

Trong điều kiện thanh toán tiền mặt vẫn là phương thức giao dịch kinh tế chủ yếu ở nước ta, đối với hộ kinh doanh càng phổ biến hơn, thì việc kiểm soát các khoản thu phát sinh chẳng mấy dễ dàng. 

Bên cạnh đó, việc quản lý gia cảnh đối với cá nhân kinh doanh cũng phức tạp hơn so với người làm công ăn lương. Bởi trong khi quyền lợi về chính trị và kinh tế của người làm công ăn lương gắn chặt tương đối với đơn vị sử dụng lao động thì cá nhân kinh doanh, mọi quyền lợi có khả năng phát sinh đều không gắn với tổ chức nào, nếu có gắn kết thì cũng rất lỏng lẻo, nên những trường hợp khai gia cảnh và người phụ thuộc không trung thực có thể sẽ không ít. Ngoài ra, trên thực tế có một bộ phận không nhỏ các hộ kinh doanh không có đăng ký kinh doanh nên các căn cứ pháp lý để xác định đối tượng và quản lý thuế cũng rất khó mà tìm được.

 Nhiều hộ kinh doanh cá thể sử dụng người thân như cha mẹ, con… để cùng phụ kinh doanh theo kiểu lấy công làm lời nhưng lại không được giảm trừ gia cảnh trừ trường hợp con chưa thành niên. Những trường hợp còn lại tuy không được tính là người phụ thuộc nhưng lại được tính chi phí tiền lương, tiền công vào chi phí kinh doanh để trừ đi khi xác định thu nhập chịu thuế. Nếu hộ kinh doanh thực hiện chế độ kế toán hóa đơn chứng từ và có hợp đồng lao động thì việc xác định chi phí được căn cứ vào sổ sách kế toán và hợp đồng lao động. Nếu không thực hiện kế toán và hợp đồng lao động sẽ thực hiện theo tỉ lệ khoán do cơ quan thuế quy định.

6. THỜI HẠN NỘP THUẾ Khóa luận: Thực trạng triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân.

Ngày 6/2/2009 Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 27/2009/TT-BTC, hướng dẫn thực hiện việc giãn thời hạn nộp thuế thu nhập cá nhân đến hết tháng 5/2009 sau khi có quá nhiều vướng mắc, chưa chuẩn bị kịp để triển khai luật thuế cũng như các yếu tố khách quan như cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới tác động. Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 45 ngày kể từ ngày ký là ngày 06/2/2009 và áp dụng cho các khoản thu nhập phát sinh từ ngày 01/01/02009 tức những khoản thu nhập của năm 2008 vẫn phải nộp thuế thu nhập cá nhân như bình thường.

Theo đó, đối tượng được giãn nộp thuế thu nhập cá nhân là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế từ kinh doanh; thu nhập từ tiền lương, tiền công; thu nhập từ đầu tư vốn; thu nhập từ chuyển nhượng vốn (bao gồm cả chuyển nhượng chứng khoán); thu nhập từ bản quyền; thu nhập từ nhượng quyền thương mại — những khoản thu nhập này liên quan trực tiếp đến sản xuất kinh doanh; ngoài ra còn có thu nhập từ nhận thừa kế; thu nhập từ nhận quà tặng. Cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế từ đầu tư vốn, chuyển nhượng vốn (bao gồm cả chuyển nhượng chứng khoán); thu nhập từ bản quyền; thu nhập từ nhượng quyền thương mại cũng thuộc diện giãn nộp thuế thu nhập cá nhân.

Các đối tượng không được giãn nộp thuế gồm cá nhân cư trú có thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản; trúng thưởng (chơi xổ số, đánh bạc); nhận thừa kế; quà biếu, tặng; và đối với cá nhân không cư trú (kể cả trường hợp không hiện diện tại Việt Nam hoặc rời Việt Nam trước ngày 30/6/2009) có thu nhập chịu thuế là thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công, từ chuyển nhượng bất động sản, trúng thưởng, nhận thừa kế, nhận quà tặng. Nếu phải nộp thì đóng góp của các khoản thu này chỉ chiếm 20% so với tổng nguồn thu từ thuế thu nhập cá nhân vào ngân sách.

Thời gian được giãn nộp thuế là từ ngày 01/01/2009 đến hết ngày 31/05/2009. Sau đó việc tiếp tục hoãn hay phải nộp thuế thu nhập cá nhân sau thời điểm trên sẽ được Quốc hội xem xét tại kỳ họp thứ 5 diễn ra vào tháng 5/2009. Tuy nhiên trước mắt các đối tượng nộp thuế vẫn phải thực hiện kê khai, tính và nộp thuế nhưng phần thuế đó sẽ được hoàn trả cho người có thu nhập.

Trung tuần tháng 4/2009, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ phương án miễn, giảm thuế thu nhập cá nhân năm 2009. Phương án cụ thể chưa được tiết lộ song các mức miễn giảm được xây dựng theo hướng có lợi cho đại bộ phận dân chúng (nghĩa là khoản thu nhập chịu thuế có thể có thể được miễn tới 6 tháng hoặc 7 tháng đầu năm, còn lại xét giảm. Ngoài ra, các mức miễn giảm cũng được căn cứ vào thu nhập thực tế của người dân, trong đó người có thu nhập thấp được miễn, giảm nhiều; người có thu nhập cao có thể chỉ được giảm chứ không miễn) Khóa luận: Thực trạng triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân.

Trước đó, cơ quan Thuế đã đưa ra 2 phương án miễn, giảm thuế thu nhập cá nhân:

  • Phương án 1: Miễn thuế 5 tháng đầu năm đối với tất cả các loại thu nhập nằm trong diện được xét giãn. 7 tháng cuối năm thực hiện giảm thuế 100.000 đồng mỗi tháng cho các đối tượng có thu nhập từ tiền lương, tiền công, thu nhập từ các hoạt động kinh doanh.
  • Phương án 2: Miễn thuế 6 tháng đầu năm đối với tất cả các loại thu nhập nằm trong diện được giãn 6 tháng còn lại của năm tiếp tục miễn thuế đối với thu nhập từ bản quyền, nhượng quyền thương mại, thu nhập từ thừa kế, quà tặng chứng khoán Đối với các cá nhân cư trú thuộc đối tượng chịu thuế có thu nhập từ tiền lương, tiền công, thu nhập từ kinh doanh sẽ được giảm 200.000 đồng một tháng.

Theo tính toán của Bộ Tài chính, nếu thực hiện phương án 1, năm 2009 ngân sách nhà nước giảm thu thừ thuế thu nhập cá nhân khoảng 5.200 tỷ đồng. Còn thực hiện theo phương án 2, ngân sách nhà nước giảm thu khoảng 6.700 tỷ đồng. Như vậy nếu thực hiện phương án 2 số thu từ thuế thu nhập cá nhân năm 2009 sẽ giảm khoảng 46% so với số thu đã được Quốc Hội thông qua và số thu ngân sách giảm thêm 1.500 tỷ đồng so với phương án 1. Bộ Tài chính thiên về phương án 2 vì nó có vẻ hợp lý hơn trong bối cảnh kinh tế khủng hoảng, đời sống dân sinh gặp khó khăn. Theo một thống kế, trong số 4.773 ý kiến gửi về VnExpress.net thì có tới 74.1 % là đồng ý với phương án 2.

Tuy nhiên phương án cuối cùng vẫn phải chờ lấy ý kiến đại biểu Quốc hội trong phiên họp đầu tháng 10 và kỳ họp thứ 5 của Quốc hội khai mạc ngày 20/5 tới.

6.1 Mục đích của việc giãn nộp thuế thu nhập cá nhân.

Giãn thuế là để kích thích tiêu dùng 

Việc giãn nộp thuế cho tất cả đối tượng thì ngân sách mỗi tháng sẽ thất thu khoảng 1.000 tỷ đồng, ảnh hưởng không nhỏ đến nguồn thu ngân sách nhưng điều này sẽ kích thích tiêu dùng, hỗ trợ người dân có thêm chi tiêu để vượt qua tình hình khó khăn hiện nay. Ngay cả thu nhập của các ca sĩ thì cũng tạm thời chưa thu thuế thu nhập cá nhân bởi khi kinh tế suy giảm, các show diễn cũng giảm. Tóm lại mục đích của việc giãn nộp thuế là để bồi dưỡng nguồn thu.

Theo các chuyên gia kinh tế, quyết định giãn nộp thuế thu nhập cá nhân đồng hướng với các biện pháp mà hiện nay chúng ta đang thực hiện để kích cầu, đặc biệt là kích cầu tiêu dùng. Điều đáng nói là liệu giãn nộp thuế có thực sự kích thích tiêu dùng như mong muốn? Như trường hợp của Mĩ, tất nhiên không hoàn toàn đúng với tình hình của Việt Nam nhưng cũng là một kinh nghiệm để cân nhắc. Tổng thống đắc cử Obama quyết định sẽ dành 300 tỉ đô la Mỹ cho việc giảm thuế thu nhập cá nhân trong hai năm tới (trong khi ở Việt Nam mới chỉ là tạm giãn thời hạn nộp thuế thu nhập cá nhân). Một số nhà kinh tế cho rằng giảm thuế thu nhập cá nhân sẽ không có hiệu quả vì người tiêu dùng có xu hướng tiết kiệm một phần số tiền thuế được giảm, nhất là khi việc giảm thuế chỉ là tạm thời. Do vậy hiệu ứng lan tỏa của biện pháp này không cao. Một số nghiên cứu về lần hoàn thuế giữa năm 2008 tại Mỹ cho thấy một phần rất lớn (80%) số tiền hoàn thuế đã được người dân tiết kiệm thay vì chi tiêu, làm giảm đáng kể hiệu quả của chính sách kích thích tiêu dùng trong gói giải pháp kích thích nền kinh tế của chính quyền Bush.

 Vì thế Việt Nam cũng không nên trông chờ vào biện pháp kích cầu qua thuế vì đấy chỉ là biện pháp nhất thời và vẫn dựa trên cái “nền” cũ. Phải cải cách, thay đổi cái “nền”, tức là khắc phục những bất ổn của kinh tế vĩ mô đó mới là giải pháp căn cơ.Nhưng có thể khẳng định rằng biện pháp này chắc chắn sẽ hiệu quả hơn rất nhiều so với việc tăng lương.

6.2. Trình tự, thủ tục giãn nộp thuế thu nhập cá nhân. Khóa luận: Thực trạng triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân.

 Trình tự thủ tục mà đối tượng chịu thuế thu nhập cá nhân phải thực hiện để được giãn nộp thuế khá đơn giản:

  • Đối với cá khoản thu nhập phải khấu trừ thuế: tổ chức, cá nhân chi trả các khoản thu nhập phải khấu trừ thuế thu nhập cá nhân cho các đối tượng được giãn nộp thuế, khi trả thu nhập vẫn tính số thuế phải khấu trừ và thông báo cho cá nhân nhận thu nhập biết số thuế khấu trừ được tạm giãn nộp; hàng tháng vẫn phải lập tờ khai số thuế đã khấu trừ theo quy định hiện hành và nộp tờ khai cho cơ quan thuế để cơ quan thuế nắm được số thuế phát sinh nhưng được giãn nộp thuế.
  • Đối với các khoản thu nhập cá nhân nộp thuế phải trực tiếp kê khai với cơ quan thuế.
  • Cá nhân thuộc đối tượng được giãn nộp thuế có các khoản thu nhập theo quy định phải khai thuế trực tiếp với cơ quan thuế vẫn phải lập và nộp tờ khai thuế theo quy định hiện hành.

Số thuế được giãn nộp, cá nhân có thu nhập giữ lại trong thời gian được giãn. Đến tháng 5 năm 2009, Chính phủ sẽ trình Quốc hội quyết định việc xử lý số thuế được giãn nộp này, khi đó sẽ thực hiện theo quyết định của Quốc hội.

6.3. Những vấn đề vướng mắc khi thực hiện quá trình giãn nộp thuế thu nhập cá nhân.

Theo hướng dẫn của Bộ Tài chính tại Thông tư 27/2009 ban hành vào ngày 6/2/2009 trong thời gian giãn nộp thuế, cá nhân cá thu nhập sẽ được giữ lại số thuế thu nhập cá nhân được giãn nộp và sau đó có nộp lại hay miễn nộp luôn sẽ phải chờ Quốc hội quyết định vào tháng 5 tới. Còn nơi chi trả thu nhập, thay vì tạm khấu trừ thuế thu nhập cá nhân nay chỉ cần tính toán, thông báo số thuế được giãn nộp cho cá nhân đó biết và lập tờ khai thuế và nộp tờ khai cho cơ quan thuế. Chính sách giãn nộp thuế thu nhập cá nhân này tác động đến khá nhiều đối tượng nộp thuế, trong đó theo thống kế chỉ riêng tại TP Hồ Chí Minh, con số này đã lên tới 2 triệu người.

Tuy nhiên từ đầu tháng 1/2009 đến trước ngày nhận được hướng dẫn của Bộ Tài chính, các Cục thuế vẫn triển khai thực hiện khấu trừ, kê khai và nộp thuế thu nhập cá nhân vào ngân sách nhà nước đúng theo Luật Thuế thu nhập cá nhân. Như vậy, việc hướng dẫn chậm không những làm cho người được giãn thuế bị thiệt hại mà còn phát sinh rắc rối: sẽ giải quyết như thế nào với số thuế thu nhập cá nhân đã lỡ khấu trừ và nộp vào ngân sách nhà nước? Một vấn đề cũng khiến các đơn vị chi trả thu nhập hết sức lo lắng là trách nhiệm của họ khi thực hiện chính sách.

Một vài thắc mắc như là: “Nếu sau này Quốc hội bắt nộp lại mà người được giãn thuế bỏ việc xù luôn không tự giác nộp lại thì làm sao? Trách nhiệm của đơn vị chi trả thu nhập đến đâu?” Không chỉ đơn vị chi trả, ngay cả người được giãn thuế cũng có nỗi lo riêng. Mục tiêu của việc giãn thuế là để “kích cầu” nhưng nếu chi tiêu hết số thuế được giãn thì lấy đâu ra nếu sau này bắt nộp lại? Và nếu nộp lại thì nộp cho ai; đơn vị chi trả hay tại Kho bạc Nhà nước? Về vấn đề này, cơ quan thuế khẳng định nếu sau này Quốc hội quyết định phải nộp lại số thuế thu nhập cá nhân được giãn nộp, thì tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập sẽ không chịu trách nhiệm về số thuế không thể thu hồi được do cá nhân đã nghỉ việc… Tuy nhiên, quy định cụ thể và cuối cùng về số thuế được giãn nộp nói trên vẫn phải chờ quyết định của Quốc hội vào tháng 5 tới.

Hay có những điểm không ổn về mặt pháp lý trong văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính. Theo Thông tư 27/2009, cá nhân có thu nhập sẽ được giữ lại thuế thu nhập cá nhân trong thời gian giãn nộp trong khi điều 27 NĐ100/2008 của Chính phủ lại quy định thuế thu nhập cá nhân phải được thu trước khi chi trả thu nhập. Như vậy, việc hướng dẫn trên phải chăng trái luật và rủi ro về pháp lý nếu thực thi? Việc cho cá nhân giữ lại số thuế giãn nộp, chưa khấu trừ theo hướng dẫn tại Thông tư 27/2009 của Bộ Tài chính là không trái với NĐ100/2008 vì văn bản của Bộ Tài chính được ban hành dựa trên nghị quyết số 30/2008 của Chính phủ ngày 11/12/2008 về những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội. Trong đó về chính sách tài chính, tiền tệ có biện pháp về triển khai thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân theo hướng hỗ trợ khó khăn cho một số đối tượng nộp thuế. Khóa luận: Thực trạng triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân.

6.4. Hoàn trả khoản thuế thu nhập cá nhân đã tạm thu

Một trong những điểm đáng chú ý về các loại thu nhập được giãn nộp thuế cá nhân là diện giãn thuế đã bao gồm cả những thu nhập có nguồn gốc trong năm 2008 như tiền lương, tiền thưởng… nhưng chi trả vào năm 2009. Riêng đối với số thuế thu nhập của người có thu nhập cao phải nộp trong năm 2008 nhưng chưa nộp hoặc qua kiểm tra phát hiện, thực hiện truy thu không thuộc diện được giãn thời hạn nộp thuế.

Cụ thể, theo hướng dẫn tại Công văn số 1823/BTC – TCT cơ quan thuế phải hoàn thành các thủ tục để hoàn trả lại số thuế thu nhập cá nhân thuộc diện được giãn đã được đơn vị chi trả thu nhập khấu trừ hoặc nộp vào ngân sách Nhà nước.

Các đơn vị chi trả thu nhập đã tạm khấu trừ thuế nhưng chưa nộp vào ngân sách Nhà nước sẽ được hoàn trả theo trình tự: 

  • Bộ phận kế toán (tài vụ) lập bảng kê các trường hợp đã tạm khấu trừ thuế thu nhập cá nhân (trong đó nêu cụ thể thu nhập chịu thuế, số thuế đã tạm khấu trừ của từng cá nhân) và trình lãnh đạo đơn vị phê duyệt.
  • Căn cứ vào bảng kê đã được phê duyệt đơn vị chi trả thông báo cho các cá nhân tới nhận lại số thuế đơn vị đã tạm khấu trừ. Các cá nhân khi nhận lại số thuế đã tạm khấu trừ phải ký xác nhận vào bảng kê. Các trường hợp khấu trừ thuế đã cấp chứng từ khấu trừ cho người nộp thuế thì khi thoái trả số thuế đã tạm khấu trừ, đơn vị chi trả phải thu hồi chứng từ khấu trừ thuế đã cấp.

Thời điểm các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp có trách nhiệm hoàn trả số thuế đã khấu trừ chậm nhất là ngày làm việc cuối cùng của tháng 2 tức là 28/2/2009.

Đối với các cơ quan, đơn vị không giữ lại số thuế thu nhập cá nhân của đối tượng được giãn thuế mà phải hoàn trả cùng với số thu nhập chi trả của tháng cho những đối tượng được giãn nộp thuế cùng với thu nhập chi trả.

Trong trường hợp đơn vị chi trả thu nhập đã khấu trừ thuế vào ngân sách Nhà nước thì phải có văn bản đề nghị cơ quan thuế hoàn trả khoản tiền nằm trong diện được giãn nộp. Căn cứ vào hồ sơ đề nghị hoàn thuế hợp lệ của đơn vị chi trả, cá nhân nộp thuế, cơ quan thuế kiểm tra và ra quyết định hoàn thuế gửi cơ quan Kho bạc để hoàn trả.

 Thời gian hoàn trả chậm nhất là 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ. Đơn vị chi trả thu nhập nhận được số tiền thuế hoàn trả phải có trách nhiệm trả lại tiền thuế cho cá nhân có thu nhập trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày nhận được tiền hoàn thuế. Khóa luận: Thực trạng triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân.

7. NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI ÁP DỤNG LUẬT THUẾ thu nhập cá nhân

7.1. Những thuận lợi trong quá trình triển khai áp dụng Luật Thuế TNCN

7.1.1. Công tác chuần bị khá kỹ lưỡng trước thời điểm Luật thuế thu nhập cá nhân có hiệu lực.

Việc triển khai Luật thuế thu nhập cá nhân có được những thuận lợi hết sức to lớn đó là sự tập trung chỉ đạo của Chính phủ, sự phối hợp của các bộ, ngành, các địa phương. Để triển khai thành công, Chính phủ đã ban hành Chỉ thị về việc triển khai Luật thuế thu nhập cá nhân trong cả nước, đồng thời thành lập Ban chỉ đạo trung ương để xây dựng kế hoạch triển khai cụ thể trong phạm vi cả nước, phân công nhiệm vụ cho từng bộ, ngành phải đảm bảo các công việc để chuẩn bị cho việc triển khai chung.

Hơn thế nữa, công tác tuyên truyền phổ biến cho các đối tượng nộp thuế về nội dung cũng như các thủ tục để thực hiện kê khai thuế như đăng ký mã số thuế… những việc mà ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người nộp thuế cũng được thực hiện khá tốt, chu đáo và đầy đủ.

Tổng cục Thuế cũng thực hiện đào tạo đội ngũ cán bộ thuế sao cho đội ngũ này đủ khả năng và tinh thần để triển khai thực thi Luật thuế thu nhập cá nhân, biết ứng dụng công nghệ thông tin vào công việc và có ý thức phục vụ người nộp thuế một cách tốt nhất.

7.1.2. Nội dung tiến bộ của Luật Thuế thu nhập cá nhân khiến quá trình triển khai có những điểm thuận lợi.

Tính ưu việt của Luật Thuế thu nhập cá nhân là những người có gia cảnh khác nhau sẽ nộp thuế khác nhau, chứ không cào bằng và khi đưa vào thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân, số người nộp thuế tăng không nhiều và mức thuế phải nộp thì ít đi. Khác với thuế thu nhập cao trước đây bởi tính thuế trực tiếp trên số thu nhập thực chất, thuế thu nhập cá nhân có nhiều điểm mới như giảm trừ gia cảnh, người phụ thuộc, các tiêu chuẩn miễn trừ khác nhau trong các hoạt động kinh doanh về chứng khoán, bất động sản… Đây là những yếu tố mang tính kỹ thuật và nếu biết vận dụng, số thuế thu nhập sẽ giảm đi đáng kể. Hiểu được nội dung tiến bộ của Luật thuế cũng như tính toán được mức thuế thực tế phải nộp ít đi, rất nhiều đối tượng nộp thuế rất háo hức và ủng hộ khi Luật Thuế thu nhập cá nhân có hiệu lực. Họ chủ động tìm hiểu kĩ lưỡng các quy định mới của Luật thuế và chủ động khi thực hiện các thủ như đăng kí, kê khai thuế… vì thế việc triển khai áp dụng Luật Thuế thu nhập cá nhân vào thực tiễn cuộc sống cũng khá thuận lợi.

Ví dụ: Khóa luận: Thực trạng triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân.

Đối với người có thu nhập từ bất động sản hay chứng khoán, việc tính thu nhập chịu thuế đều đi kèm với nhiều quy định về kỹ thuật liên quan đến việc giảm trừ… Theo quy định của luật, việc bán căn nhà duy nhất không phải nộp thuế thì người có nhiều bất động sản có thể vận dụng các quy định liên quan để thực hiện việc cho, tặng nhà cho người thân và nhờ họ đứng tên bán thì không phải tính thuế. Bản thân mình chỉ đứng tên bán một căn nhà thì cũng không phải chịu thuế. Hơn nữa, nhà được xác định tính thuế và xác nhận chuyển nhượng là nhà đất đã hoàn thành giấy tờ và đứng tên. Vì thế, người có nhiều nhà có thể vận dụng là bán nhà đến đâu thì làm giấy tờ chính thức đến đó để luôn được xác định tình trạng chỉ có một bất động sản duy nhất và không phải nộp thuế.

Như vậy, có rất nhiều cách vận dụng Luật Thuế để quyền lợi của người dân không những không bị ảnh hưởng mà còn có lợi cho họ hơn. Do đó không có lý do gì mà phần lớn các đối tượng nộp thuế không ủng hộ việc thực thi Luật thuế thu nhập cá nhân.

Hơn thế nữa, việc cải cách Luật Thuế thu nhập cá nhân cho phù hợp hơn với các quy tắc của thuế thu nhập cá nhân trên thế giới là một thuận lợi rất lớn khi triển khai áp dụng Luật thuế này. Bởi Luật thuế không chỉ điều chỉnh đối tượng nộp thuế là người Việt Nam mà còn điều chỉnh đối tượng là người nước ngoài. Việc chỉnh sửa nội dung Luật phù hợp hơn với chuẩn chung thể hiện sự tiến bộ trong chính sách của Nhà nước Việt Nam và được đối tượng không cư trú ủng hộ.

7.2. Những khó khăn khi triển khai áp dụng Luật Thuế thu nhập cá nhân

Tuy có những điểm thuận lợi hết sức cơ bản nhưng những khó khăn gặp phải khi triển khai áp dụng Luật Thuế thu nhập cá nhân là vô cùng lớn. Nói chung là những khó khăn gặp phải nhiều hơn là thuận lợi.

7.2.1. Khó khăn trong khâu quản lý thu nhập.

Có thể khẳng định rằng, yếu tố tiền đề quyết định chất lượng, hiệu quả việc thực thi Luật thuế thu nhập cá nhân chính là công tác quản lý thu nhập dân cư. ở các nước phát triển, mọi giao dịch kinh tế phát sinh trong xã hội đều thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt thì vấn đề kiểm soát thu nhập dân cư khá thuận lợi, nhưng đối với Việt Nam, khi giao dịch tiền mặt còn phổ biến thì đây là một thách thức rất lớn. Do đó để giảm thiểu những rủi ro, thất thoát trong quản lý thuế, đảm bảo động viên đúng mức thu nhập, tạo sự công bằng và bình đẳng về nghĩa vụ nộp thuế giữa mọi cá nhân trong xã hội là một vấn đề rất khó khăn.

Một nghịch lý gần như hiển nhiên trên thực tế là những cá nhân có thu nhập hạn hẹp, chủ yếu là tiền công, tiền lương (hiện đang thực hiện trả lương qua tài khoản) thì bị kiểm soát chặt, hầu như không sót đồng nào, nhưng những người mà địa vị chính trị cho họ những đặc quyền đặc lợi từ việc nhận quà biếu, quà tặng bằng tiền thì việc kiểm soát thu nhập lại rất khó. Theo phân tích của cơ quan chức năng thì quà biếu quà tặng là một trong những khoản thu nhập phải chịu thuế thu nhập cá nhân nên đơn vị chi quà tặng phải có trách nhiệm cung cấp thông tin cho cơ quan thuế để tính vào thu nhập của cá nhân khi quyết toán. Nhưng với điều kiện hiện nay của Việt Nam, để kiểm soát được chính xác đầy đủ mọi khoản thu nhập của cá nhân trong nền kinh tế mà đặc biệt là những khoản quà biếu tặng là rất khó. Tuy nhiên cũng phải lưu ý rằng không phải tất cả các khoản quà tặng đều phải tính thuế mà chỉ có một số loại quà tặng nhất định là thuộc diện chịu thuế bao gồm cổ phiếu, bất động sản chuyển nhượng…

7.2.2. Khó khăn trong công tác triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân đối với đối tượng thuộc khu vực kinh tế phi chính thức. Khóa luận: Thực trạng triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân.

Không đăng ký kinh doanh, không thực hiện thống kế kế toán, không hợp đồng lao động… khu vực kinh tế phi chính thức (các hộ và cá nhân kinh doanh) có thể là rào cản lớn nhất đối với việc thực thi Luật Thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam.

Khu vực kinh tế phi chính thức được hiểu một cách đơn giản nhất là các đơn vị sản xuất, kinh doanh cá thể không có giấy phép kinh doanh, hoặc có đăng ký kinh doanh nhưng không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp. Nhận định về khối này, chuyên gia từ IDS Paris, ông Jean Pierre Cling (IDS Paris) cho rằng tuy chiếm tỷ lệ lớn về lao động và có đóng góp đáng kể cho GDP của Việt Nam, nhưng khối kinh tế phi chính thức đang nằm “ngoài lề” nền kinh tế.

Khó áp dụng Luật thuế thu nhập cá nhân đối với khu vực kinh tế phi chính thức bởi những lý do sau:

  • Quy mô nhỏ, không có địa điểm cố định nào là rào cản đầu tiên đối với việc xác định đối tượng nộp thuế từ khối kinh tế phi chính thức: Theo kết quả tổng hợp của IDS Paris, khối kinh tế phi chính thức chủ yếu là các đơn vị kinh tế quy mô nhỏ, số lao động bình quân chỉ 1,4 người. Đa số các đơn vị hoạt động dịch vụ, số đơn vị có hoạt động sản xuất, chế biến chỉ chiếm khoảng 20% nhưng phần lớn hoạt động bấp bênh. Trong số đó, chỉ có 20% có cơ sở sản xuất cố định.
  • Đối với lao động làm thuê trong khu vực này, nghiên cứu của IDS Paris cũng cho biết không có tới 2/3 số lao động không có hợp đồng lao động, vì vậy cũng không có bảo hiểm và các phúc lợi xã hội (ví dụ nghỉ Tết được trả lương), có rât nhiều lao động thuộc diện hợp đồng miệng.
  • Khoản 70% đơn vị thuộc khối kinh tế phi chính thức chỉ có một người, cũng đồng nghĩa với việc tối thiểu có 70% đơn vị không có hệ thống sổ sách kế toán, không có chứng từ, hóa đơn, không xác định được doanh thu, lợi nhuận…
  • Một khó khăn nữa là thông tin liên quan đến các hoạt động kinh tế của khu vực này rất hạn chế. Rất ít cơ sở thuộc khu vực kinh tế phi chính thức được tiếp cận với nguồn tài chính từ phía ngân hàng, các định chế tài chính, cũng như tiếp cận các hỗ trợ từ cả khu vực công và tư.

Trước câu hỏi điều tra về mong muốn của doanh nghiệp đối với việc chính thức hóa, đa số đơn vị kinh doanh thuộc khu vực kinh tế phi chính thức cho rằng quy mô hoạt động của đơn vị mình quá nhỏ, không bắt buộc phải đăng ký kinh doanh. Đồng quan điểm này, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho rằng, việc thiếu hỗ trợ đối với khu vực kinh tế phi này như hiện nay không tạo được động lực cho các doanh nghiệp phi chính thức phấn đấu để chính thức hóa. Chính vì những lí do trên mà việc áp dụng Luật Thuế thu nhập cá nhân đối với đối tượng thuộc khu vực phi kinh tế là vô cùng khó khăn

7.2.3. Khó khăn do công tác chuẩn bị triển khai Luật thuế thu nhập cá nhân chưa thật sự đầy đủ.

Theo cơ quan thuế thì việc chuẩn bị của cơ quan thuế để triển khai áp dụng Luật Thuế thu nhập cá nhân có rất nhiều điều bất cập, đặc biệt là số lượng công việc liên quan đến các chương trình về máy tính quản lý công nghệ thông tin, đưa tin học vào quản lý. Đối với cán bộ – công chức làm công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân còn rất thiếu. Trên toàn quốc chỉ có 500 người trong khi theo tính toán phải có chừng 2.000 người mới làm được.

Riêng việc dự luật đặt vấn đề đưa hộ kinh doanh vào diện đối tượng điều chỉnh của Luật Thuế thu nhập cá nhân, có không ít chuyên gia cho rằng, với hàng triệu hộ kinh doanh hiện có, chưa tính đến mức độ gia tăng theo cấp số nhân, thì nếu ngành thuế không có phương án chuẩn bị thì khi luật thuế có hiệu lực cũng khó có tính khả thi, bởi ngành thuế không thể “ôm” nổi khối lượng công việc khổng lồ này. Khóa luận: Thực trạng triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân.

Và quả đúng như vậy, thực tế khi triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân đã gặp phải những vấn đề trên. Gần như hệ thống máy tính hiện đại để quản lý hồ sơ, và các ứng dụng công nghệ thông tin như kế hoạch của Cục thuế, các ban ngành không hề xuất hiện. Đội ngũ cán bộ thiếu trầm trọng dẫn đến tình trạng ùn tắc tại các Cục thuế khi các đối tượng thuế đến thực hiện đăng ký thuế. Hơn thế nữa, sau khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký thuế, đăng ký mã số thuế cá nhân, các Cục thuế xử lý rất chậm và việc hoàn thành đúng thời hạn cấp trả mã số thuế cho các đối tượng nộp thuế chưa chắc đã thực hiện được.

7.2.4. Khó khăn khi triển khai áp dụng Luật Thuế thu nhập cá nhân trong bối cảnh nền kinh tế thế giới khủng hoảng.

Trong thời kỳ kinh tế khủng hoảng, nhiều người bị thất nghiệp thu nhập giảm sút. Thu nhập thấp dẫn đến chi tiêu ảnh hưởng, đời sống khó khăn, người dân thắt chặt chi tiêu và tâm lý bất bình khi bỗng dưng mất một khoản tiền (có thể là không quá lớn) cho đóng thuế thu nhập cá nhân – khoản tiền mà trước đây có thể họ không phải nộp thuế theo Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao là điều không phải hiếm thấy. Do đó công tác tuyên truyển để triển khai áp dụng hiệu quả Luật Thuế thu nhập cá nhân gặp rất nhiều khó khăn.

Chính vì thế Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 27/2009 giãn thời hạn nộp thuế đến tháng 5/2009 để tạo điều kiện cho đối tượng nộp thuế cũng như là một biện pháp để kích thích tiêu dùng. Quyết định này của Bộ Tài chính được sự ủng hộ của đông đảo các đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân. Khóa luận: Thực trạng triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Biện pháp triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x