Khóa luận: Thực trạng PL cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng PL cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Nội dung pháp luật cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

Quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã tiến hành được 30 năm. Trong thời gian đó, hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật đã ra đời để quy định, hướng dẫn việc tiến hành cổ phần hóa. Văn bản có giá trị pháp lý cao nhất là các nghị định do chính phủ ban hành. Từ năm 1990- thời điểm cổ phần hóa chính thức được tiến hành đến nay, chính phủ đã ban hành 10 nghị định quy định trực tiếp về cổ phần hóa và hàng loạt các thông tư, văn bản hướng dẫn liên quan. Mỗi nghị định được ban hành đều gắn với một giai đoạn cổ phần hóa nhất định, phù hợp với bối cảnh kinh tế, xã hội lúc bấy giờ. Nhìn chung, nghị định sau đều có xu hướng khắc phục những hạn chế, thiếu sót của nghị định trước đó nhằm hướng đến việc hoàn thiện các quy định về cổ phần hóa, góp phần thúc đẩy quá trình cổ phần hóa đạt hiệu quả hơn.

Thời điểm hiện nay, Nghị định 59/2011/NĐ-CP ngày 18/07/2011 về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần (gọi tắt là Nghị định 59/2011/NĐ-CP), Nghị định 189/2013/NĐ-CP ngày 20/11/2013 về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 59/2011/NĐ-CP ngày 18/07/2011 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần (gọi tắt là Nghị định 189/2013/NĐ-CP) và Nghị định 116/2015/NĐ-CP ngày 11/11/2015 về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 59/2011/NĐ-CP ngày 18/07/2011 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần (gọi tắt là Nghị định 116/2015/NĐ-CP) là 3 văn bản pháp lý cao nhất quy định vấn đề cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam. Ba văn bản này đã đề cập đến những nội dung quan trọng nhất về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Giai đạn 2011- 2015, Chính phủ, thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều nghị định, quyết định quan trọng phục vụ cho công tác cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước như: tiêu chí danh mục phân loại doanh nghiệp nhà nước, quy định về tập đoàn kinh tế nhà nước và tổng công ty nhà nước, giám sát, kiểm tra, thanh tra, đối với doanh nghiệp nhà nước trong việc chấp hành pháp luật và tuân thủ các quyết định của chủ sở hữu, quy chế công bố thông tin cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, … Năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ra quyết đinh số 51/2014/QĐ-TTg về một số giải pháp đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp và hướng dẫn thực hiện. Bên cạnh đó, Chính phủ đã ban hành nghị định về điều lệ tổ chức và hoạt động của 13/14 tập đoàn, tổng công ty nhà nước (Dầu khí, Dệt may, Hóa chất, Điện lực, Công nghiệp than khoáng sản, Công nghiệp cao su, Đường sắt, Hàng không, Hàng hải, Lương thực miền bắc, Lương thực miền nam, Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước, Viễn thông quân đội). Thủ tướng Chính phủ cũng đã phê duyệt đề án tái cơ cấu 20/20 tập đoàn, tổng công ty nhà nước thuộc thẩm quyền.

Nghị định số 59/2011/NĐ-CP tiếp tục hoàn thiện cơ chế cổ phần hóa gắn với thị trường, ngăn ngừa thất thoát tài sản nhà nước, nâng cao tính công khai, minh bạch, tăng cường sự giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước đối với công tác cổ phần hóa. Để triển khai Nghị định 59/2011/NĐ-CP, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 202/2011/TT-BTC hướng dẫn xử lý tài chính và xác định giá trị doanh nghiệp khi thực hiện cổ phần hóa và Thông tư số 196/2011/TT-BTC hướng dẫn bán cổ phần lần đầu và quản lý, sử dụng tiền thu từ cổ phần hóa của các doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thực hiện chuyển đổi thành công ty cổ phần. Nghị định 59/2011/NĐ-CP và các Thông tư hướng dẫn đã cơ bản đáp ứng được yêu cầu đặt ra đối với công tác cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, khắc phục những vướng mắc chủ yếu của Nghị định số 109/2007/NĐ-CP trước đây. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện có những vướng mắc xuất phát từ quy định của Nghị định 59/2013/ NĐ-CP về xác định giá trị doanh nghiệp và xử lý công nợ khiến cho số lượng doanh nghiệp cổ phần hóa còn ít, tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước còn chậm trễ. Do đó, cần có giải pháp khắc phục kịp thời để nâng cao hiệu quả công tác cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước. Vì vậy, nghị định 189/2011/NĐ-CP và nghị định 116/2015/NĐ-CP đã được Chính phủ thông qua để hoàn thiện các quy định về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Khóa luận: Thực trạng PL cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

Các nội dung chính về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã được đề cập trong 3 nghị định trên sẽ được phân tích cụ thể trong chương 2 của khóa luận này.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

2.1. Mục tiêu, yêu cầu của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Điều 1 nghị định 59/2011/NĐ-CP đã khẳng định mục tiêu cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước hiện nay là:

Chuyển đổi những doanh nghiệp mà nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn sang loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu. Tất cả các doanh nghiệp nhà nước không thuộc diện nhà nước phải nắm giữ 100% vốn đều có thể tiến hành cổ phần hóa.

Quá trình cổ phần hóa sẽ chuyển đổi doanh nghiệp từ một chủ sang đa chủ sở hữu mà hình thức phổ biến nhất là loại hình công ty cổ phần. Vấn đề quan trọng là xác định doanh nghiệp mà nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn nhà nước là những doanh nghiệp nào?

Huy động vốn của các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài để nâng cao năng lực tài chính, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Bên ạnh nhiệm vụ cơ cấu lại nguồn vốn trong doanh nghiệp thì nhiệm vụ huy động mở rộng nguồn lực vốn của doanh nghiệp là nhiệm vụ quan trọng. Huy động nguồn vốn nhàn rỗi của mọi cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước sẽ nâng cao tiềm lực tài chính của doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả của nền kinh tế.

Mục tiêu này được Đảng và nhà nước nhấn mạnh thống nhất từ nghị định 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần (gọi tắt là nghị định 187/2004/NĐ-CP) đến nay.

Hai mục tiêu lớn của cổ phần hóa là chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước từ một chủ thành đa chủ và huy động vốn. Ngoài ra còn có những mục tiêu liên quan được đề cập ở các văn bản pháp lý trước đó như nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của doanh nghiệp; tạo động lực mạnh mẽ và cơ chế quản lý năng động cho doanh nghiệp để sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản của nhà nước, doanh nghiệp; phát huy vai trò làm chủ thực sự của người lao động, của các cổ đông, tăng cường sự giám sát của nhà đầu tư đối với doanh nghiệp, phát triển thị trường chứng khoán ….. Những mục tiêu đó mang tính bản chất tất yếu dù không được đề cập trong nghị định 59/2011/NĐ-CP.

Cùng với nghị định 59/2011/NĐ-CP, ngày 17/07/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định 929/QĐ-TTg phê duyệt đề án “Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2011- 2015” (Gọi tắt là quyết định 929/QĐ-TTg). Cổ phần hóa là một phương thức phổ biến trong tiến trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước. Vì vậy, Quyết định 929/QĐ-TTg cũng là một văn bản pháp lý quan trọng trong tiến trình cổ phần hóa giai đoạn 2011- 2015. Văn bản này khẳng định:

Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước nhằm:

  • Doanh nghiệp nhà nước có cơ cấu hợp lý, tập trung vào ngành, lĩnh vực then chốt, cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội và quốc phòng, an ninh, làm nòng cốt để kinh tế nhà nước thực hiện được vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để nhà nước định hướng, điều tiết nền kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô.
  • Nâng cao sức cạnh tranh, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu đối với doanh nghiệp kinh doanh, hoàn thành nhiệm vụ sản xuất, cung ứng các sản phẩm dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội, quốc phòng, an ninh đối với doanh nghiệp hoạt động công ích. Khóa luận: Thực trạng PL cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

Cổ phần hóa là một nhiệm vụ quan trọng được nhấn mạnh tại quyết định 929/QĐ-TTg. Đó là đẩy mạnh cổ phần hóa, đa dạng hóa sở hữu các doanh nghiệp nhà nước mà nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn sở hữu. Đối với những tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, thực hiện cơ cấu lại danh mục đầu tư và ngành nghề kinh doanh, tập trung vào những ngành nghề kinh doanh chính. Đẩy nhanh thực hiện theo nguyên tắc thị trường việc thoái vốn nhà nước đã đầu tư vào các ngành không phải kinh doanh chính.

Tiến hành cổ phần hóa phải đảm bảo những yêu cầu nhất định, đó là: nhà nước, doanh nghiệp nhà nước phải bảo đảm hài hòa lợi ích của nhà nước, doanh  nghiệp, nhà đầu tư và người lao động trong doanh nghiệp; thực hiện cổ phần hóa công khai, minh bạch, theo nguyên tắc thị trường, khắc phục tình trạng cổ phần hóa khép kín nội bộ doanh nghiệp, gắn với phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán.

Doanh nghiệp cổ phần hóa phải thực hiện công khai, minh bạch các thông tin về doanh nghiệp, về phương án cổ phần hóa, tình hình quản lý và sử dụng đất đai, lao động. Doanh nghiệp cổ phần hóa có tình hình tài chính đáp ứng đủ điều kiện niêm yết phải xây dựng phương án, lộ trình niêm yết theo quy định của luật chứng khoán. Thông tin phải được công bố công khai đến các nhà đầu tư.

Điều 10 nghị định 59/2011/NĐ-CP quy định nguyên tắc kế thừa quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp sau cổ phần hóa. Doanh  nghiệp cổ phần hóa phải sắp xếp, sử dụng tối đa số lao động tại thời điểm quyết định cổ phần hóa và giải quyết chế độ cho người lao động nghỉ việc, thôi việc. Công ty cổ phần có nghĩa vụ kế thừa mọi trách nhiệm đối với người lao động từ doanh nghiệp cổ phần hóa chuyển sang, có quyền tuyển chọn, bố trí sử dụng lao động và phối hợp với cơ quan liên quan giải quyết chế độ cho người lao động. Doanh nghiệp cổ phần hóa phối hợp với cơ quan có liên quan kiểm tra, xử lý những vấn đề tài chính để xác định giá trị phần vốn nhà nước tại thời điểm chính thức chuyển thành công ty cổ phần. Công ty cổ phần được sử dụng toàn bộ tài sản, nguồn vốn đã nhận bàn giao để tổ chức sản xuất kinh doanh, kế thừa mọi quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của doanh nghiệp cổ phần hóa đã bàn giao. Trường hợp sau khi bàn giao sang công ty cổ phần mới phát sinh khoản truy thu, xử phạt các hành vi vi phạm pháp luật của doanh nghiệp trong thời gian là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thì phải làm rõ trách nhiệm cá nhân, tập thể để thực hiện việc bồi thường, nộp phạt, xử lý kỷ luật. Đây là vướng mắc rất lớn, khó giải quyết trên thực tế tiến hành.

Những mục tiêu, yêu cầu của cổ phần hóa được đề cập rõ ràng đã giúp quá trình cổ phần hóa được nhận thức thống nhất, đảm bảo cổ phần hóa hiệu quả, tránh tình trạng lạm dụng, đi lệch với đường lối, chủ trương của Đảng và nhà nước, góp phần vào sự thành công của tiến trình cổ phần hóa từ giai đoạn đầu đến nay.

2.2. Đối tượng, điều kiện cổ phần hóa Khóa luận: Thực trạng PL cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

Việc xác định đối tượng cổ phần hóa là một yêu cầu bắt buộc khi tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Điều 2 nghị định 59/2011/NĐ-CP chỉ ra 3 đối tượng thuộc diện cổ phần hóa.

Một là, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là công ty mẹ của Tập đoàn kinh tế, Tổng công nhà nước (kể cả ngân hàng thương mại nhà nước). Giai đoạn từ năm 2011, cổ phần hóa tập trung vào các tổng công ty, tập đoàn kinh tế- những đối tượng phức tạp đòi hỏi phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng từ trước. Các công ty con, công ty thành viên của các tập đoàn kinh tế, tổng công ty đã tiến hành cổ phần hóa giai đoạn trước đó chính là tiền đề, cơ sở để tiến hành cổ phần hóa công ty mẹ tiến tới hoàn thành cổ phần hóa toàn diện.

Hai là, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là doanh nghiệp thuộc các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính Phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Đây là một số lượng lớn các doanh nghiệp nhà nước đang tồn tại hiện nay. Mỗi bộ, ngành, địa phương đều nắm giữ trong tay số lượng lớn doanh nghiệp. Với cơ chế quản lý hành chính, việc đảm bảo hoạt động hiệu quả cho các doanh nghiệp này là khó có thể thực hiện. Cổ phần hóa các doanh nghiệp nêu trên sẽ giải phóng một lượng lớn nguồn lực cho nhà nước, góp phần gia tăng ngân sách nhà nước, đồng thời tạo tính tự chủ cho doanh nghiệp, đem lại hiệu quả trong hoạt động của doanh nghiệp.

Ba là, Doanh nghiệp 100% vốn nhà nước chưa chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Số lượng doanh nghiệp tồn tại dưới hình thức này còn lại rất ít nhưng cũng không thể loại trừ nó ra khỏi đối tượng cổ phần hóa vì bản thân doanh nghiệp đang nắm giữ số lượng lớn vốn và tài sản của nhà nước.

Đối tượng cổ phần hóa giai đoạn 2011 đến nay có sự thay đổi đáng kể so với các nghị định trước. Đối tượng cổ phần hóa đã được thu hẹp lại. Điều đó hoàn toàn phù hợp với thực tế khi mà năm 2010 là năm hoàn thành cơ bản cổ phần hóa theo mục tiêu đề ra. Từ năm 2011 đến nay, cổ phần hóa là giai đoạn giải quyết các vấn đề chưa kịp tiến hành trong giai đoạn trước mà tập trung là việc chưa cổ phần hóa các tập đoàn kinh tế, tổng công ty và các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước khác. Đây đều là những doanh nghiệp nhà nước quan trọng có quy mô vốn lớn, đòi hỏi quá trình cổ phần hóa thận trọng. Các giai đoạn trước năm 2011 là quá trình cổ phần hóa mở rộng và cơ bản nằm trong tiến trình cổ phần hóa được đặt ra vì vậy, đối tượng cổ phần hóa có diện rộng với số lượng và hình thức đa dạng.

Việc xác định doanh nghiệp mà nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn là vấn đề hết sức quan trọng. Vấn đề đó đã được xác định trong quyết định mới nhất, Quyết định số 37/2014/QĐ-TTg ngày 18/06/2014 về ban hành tiêu chí, danh mục phân loại doanh nghiệp nhà nước (Gọi tắt là quyết định 37/2014/QĐ-TTg). Theo đó, nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ đối với những doanh nghiệp hoạt động trong 16 lĩnh vực quan trọng sau:

  • Trực tiếp thực hiện nhiệm vụ phục vụ quốc phòng, an ninh.
  • Sản xuất, cung ứng vật liệu nổ công nghiệp.
  • Sản xuất, cung ứng hóa chất độc.
  • Truyền tải, điều độ hệ thống điện quốc gia, thủy điện đa mục tiêu và điện hạt nhân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về kinh tế gắn với quốc phòng, an ninh. Khóa luận: Thực trạng PL cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.
  • Quản lý, khai thác hệ thống kết cấu hạ tầng đường sắt quốc gia, đô thị, điều hành giao thông vận tải đường sắt quốc gia, đô thị.
  • Quản lý, khai thác các cảng hàng không, sân bay có vai trò, vị trí quan trọng đối với quốc phòng, an ninh; dịch vụ bảo đảm hoạt động bay.
  • Bảo đảm hàng hải.
  • Cung ứng dịch vụ bưu chính công ích.
  • Xổ số kiến thiết.
  • Xuất bản.
  • In, đúc tiền.
  • Đo đạc bản đồ phục vụ quốc phòng, an ninh.
  • Quản lý, khai thác hệ thống công trình thủy lợi, thủ nông liên tỉnh, liên huyện, kè đá lấn biển.
  • Trồng và bảo vệ rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng.
  • Tín dụng chính sách phục vụ phát triển kinh tế- xã hội.
  • Những doanh nghiệp thành viên có vai trò chủ yếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh, chiến lược phát triển, nắm giữ các bí quyết kinh doanh, công nghệ mà tập đoàn, tổng công ty nhà nước cần thiết nắm giữ 100% vốn đề thực hiện các nhiệm vụ ngành nghề kinh doanh chính được giao.

Những lĩnh vực hoạt động trên nhà nước phải nắm giữ 100% vốn trong các doanh nghiệp vì đó là những lĩnh vực quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến trật tự xã hội, quốc phòng an ninh. Nhưng quy định này một phần đã tạo nên tình trạng độc quyền của doanh nghiệp nhà nước, ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế thị trường hiện nay. Trong thời gian tới, liệu số lượng ngành, lĩnh vực đòi hỏi nhà nước nắm giữ 100% vốn có nên tiếp tục thu hẹp lại để phát huy vai trò của các thành phần kinh tế khác?

Ngoài các doanh nghiệp hoạt động trong 16 lĩnh vực trên, các doanh nghiệp nhà nước còn lại đều thuộc diện tiến hành cổ phần hóa. Quyết định 37/2014/QĐ-TTg cũng phân loại rõ những doanh nghiệp thực hiện sắp xếp, cổ phần hóa, nhà nước nắm giữ từ 75% tổng số cổ phần trở lên, từ 65% đến dưới 75% tổng số cổ phần, trên 50% đến dưới 65% tổng số cổ phần. Đây là căn cứ để xác định vai trò chi phối của nhà nước trong doanh nghiệp sau cổ phần hóa, là cơ sở để các doanh nghiệp nhà nước xác định phương thức cổ phần hóa phù hợp.

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đặt mục tiêu hoàn thành vào năm 2010. Tuy nhiên, mục tiêu đó không thể hoàn thành và cổ phần hóa phải tiếp tục vào giai đoạn tiếp theo. Từ năm 2011, tiến trình cổ phần hóa tập trung vào các tập đoàn lớn, các tổng công ty vẫn đang tồn tại dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn. Giai đoạn này nhằm hoàn thiện quá trình cổ phần hóa, giải quyết những vẫn đề chưa kịp giải quyết trong giai đoạn trước đó. Vì vậy, đối tượng cổ phần hóa được xác định rất cụ thể. Quyết định 929/QĐ-TTg cũng đã nhấn mạnh lại đối tượng tiến hành cổ phần hóa nói riêng và đối tượng tái cơ cấu nói chung trong giai đoạn 2011- 2015 là các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước.

Các doanh nghiệp thuộc đối tượng cổ phần hóa quy đinh trong khoản 1 điều 1 nghị định 59/2011/NĐ-CP đều có thể tiến hành cổ phần hóa. Thuộc đối tượng cổ phần hóa là điều kiện cần để doanh nghiệp cổ phần hóa. Tuy nhiên để tiến hành cổ phần hóa, doanh nghiệp phải đảm bảo điều kiện nhất định. Đây là điều kiện đủ để doanh nghiệp nhà nước tiến hành cổ phần hóa. Doanh nghiệp nhà nước phải đảm bảo không thuộc diện nhà nước cần nằm giữ 100% vốn điều lệ. Đây là điều kiện cơ bản nhất đã được nhấn mạnh ở mục tiêu cũng như nguyên tắc tiến hành cổ phần hóa. Đồng thời, Doanh nghiệp phải còn vốn nhà nước sau khi đã được xử lý tài chính và đánh giá lại giá trị doanh nghiệp. Nếu không đáp ứng được điều kiện này, doanh nghiệp nhà nước buộc phải cơ cấu theo phương thức khác như cho hợp nhất, sáp nhập, thậm chí tiến hành cho doanh nghiệp phá sản.

2.3. Các hình thức cổ phần hóa

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước có thể tiến hành theo nhiều hình thức:

Thứ nhất, Giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ. Hình thức này áp dụng cho các doanh nghiệp mà nhà nước giữ một tỷ lệ cổ phần nhất định trong doanh nghiệp thường là cổ phần chi phối và doanh nghiệp đang có hoạt động hiệu quả, có nhu cầu về vốn để mở rộng sản xuất nhằm thu hút vốn ngoài xã hội đầu tư, phát triển, tăng vốn hoạt động cho doanh nghiệp. Khóa luận: Thực trạng PL cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

Thứ hai, Bán một phần vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừa bán bớt một phần vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phần để tăng vốn điều lệ. Hình thức này được áp dụng cho những doanh nghiệp vừa cần huy động thêm vốn vừa cơ cấu lại quyền sở hữu về vốn và phương thức quản lý doanh nghiệp. Tỷ lệ nắm giữ cổ phần bị thay đổi, nhà nước có thể nắm giữ cổ phần chi phối hoặc không.

Thứ ba, Bán toàn bộ vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừa bán toàn bộ vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ để chuyển thành công ty cổ phần, nhà nước không còn nắm giữ cổ phần tại công ty.

Các phương thức này được quy định tại điều 4 nghị định 59/2011/NĐ-CP. Về bản chất các phương thức cổ phần hóa này được quy định ổn định trong các nghị định về cổ phần hóa ở các giai đoạn khác nhau. Mục đích tăng vốn được nhấn mạnh trong cả 3 phương thức cổ phần hóa. Đây là mục tiêu quan trọng đi đôi với mục tiêu cơ cấu lại nguồn vốn trong doanh nghiệp cổ phần hóa. Mục tiêu này đã được nhấn mạnh hơn so với các giai đoạn trước.

Mỗi hình thức cổ phần hóa đều có những ưu, nhược điểm riêng. Nhưng sự đa dạng trong hình thức sẽ tạo thêm cho doanh nghiệp nhiều sự lựa chọn phù hợp với ngành nghề kinh doanh, loại hình doanh nghiệp nhà nước đang tồn tại, mục đích chủ sở hữu để tiến hành cổ phần hóa. Nó cũng quyết định đến vai trò của nhà nước trong doanh nghiệp sau cổ phần hóa. Nhà nước có thể nắm giữ cổ phần thậm chí cổ phần chi phối hoặc không còn cổ phần trong doanh nghiệp.

2.4. Đối tượng mua cổ phần

Bán cổ phần lần đầu là một bước quan trọng khi tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Việc bán cổ phần lần đầu được thực hiện theo các phương thức khác nhau như: đấu giá công khai, bảo lãnh phát hành hay thỏa thuận trực tiếp [10, 83].

Đối tượng mua cổ phần là một nội dung quan trọng cần được xác định khi tiến hành cổ phần hóa. Điều 6 nghị định 59/2011/NĐ-CP đã quy định chi tiết vấn đề này.

Các đối tượng có quyền mua cổ phần phải đáp ứng những điều kiện nhất định.

Đối tượng đầu tiên là các nhà đầu tư trong nước. Đó có thể là cá nhân người Việt Nam hoặc các tổ chức được thành lập và hoạt động theo luật pháp Việt Nam.

Trường hợp này loại trừ khả năng tổ chức, cá nhân là nhà đầu tư chiến lược được quy đinh thành một đối tượng riêng. Nhà đầu tư trong nước được quyền mua cổ phần của doanh nghiệp cổ phần hóa với số lượng không hạn chế. Đối với trường hợp doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa tiến hành niêm yết ngay tại sở giao dịch chứng khoán thì trong số lượng cổ phần bán ra công chúng phải quy định số cổ phần tối đa và tối thiểu đặt mua để đảm bảo điều kiện niêm yết cho doanh nghiệp sau cổ phần hóa. Thành viên ban chỉ đạo cổ phần hóa doanh nghiệp, các tổ chức tài chính trung gian, các nhân viên thực hiện tư vấn, định giá, kiểm toán đấu giá bán cổ phần của doanh nghiệp cổ phần hóa không được mua cổ phần để đảm bảo sự công bằng, minh bạch trong thông tin cổ phần hóa, tránh tình trạng lợi dụng thông tin nội bộ để đầu cơ. Các công ty con, công ty liên kết trong cùng tập đoàn, tổng công ty và tổ hợp công ty mẹ- công ty con của doanh nghiệp cổ phần hóa cũng thuộc đối tượng không được mua cổ phần để hạn chế tình trạng cổ phần hóa mang tính nội bộ, sở hữu chéo trong các tập đoàn, tổng công ty.

Người lao động là một trong các đối tượng thuộc nhóm 1 được mua cổ phần của doanh nghiệp cổ phần hóa. Đã có nhiều quy định về việc ưu đãi cho người lao động mua cổ phần của doanh nghiệp cổ phần hóa. Nghị định 64/2002/NĐ-CP quy định: người lao động được mua tối đa 10 cổ phiếu cho mỗi năm làm việc với giá giảm 30% so với mệnh giá (mệnh giá 10.000 đồng/cổ phiếu) và phải nắm giữ trong 3 năm. Khóa luận: Thực trạng PL cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

Như vậy, sau 3 năm, người lao động có thể bán cổ phiếu của mình, tức là bán đi quyền làm chủ, để trở lại thân phận làm thuê. Rõ ràng, chủ trương bán cổ phiếu cho người lao động sau 3 năm nắm giữ không đạt được mục đích đảm bảo lợi ích lâu dài cho người lao động. Nghị định 187/2007/NĐ-CP quy định: người lao động được mua 100 cổ phiếu cho mỗi năm làm việc với giá ưu đãi giảm 40% so với giá đấu thầu thành công bình quân bán cho nhà đầu tư khác. Lấy giá đấu thầu thành công làm chuẩn là chưa bảo vệ lợi ích của người lao động vì nếu họ mua vào lúc giá thị trường chứng khoán lên cao thì giảm 40% so với giá đấu thầu thành công bình quân, họ vẫn phải trả với giá cao hơn mệnh giá cổ phiếu. Một điểm bất cập của nghị định này là không quy định người lao động  phải giữ cổ phiếu trong 3 năm, có nghĩa là cho phép họ bán ngay cổ phiếu của mình. Quy định như vậy liệu là không thuận lợi cho người lao động, khi người lao động dễ để mất cơ hội làm chủ của mình khi cổ phiếu được giá?

Điều 48 nghị định 59/2011/NĐ- CP đề ra chính sách ưu đãi cho người lao động trong doanh nghiệp cổ phần hóa có tiến bộ hơn nhiều so với trước: “Người lao động có tên trong danh sách thường xuyên của doanh nghiệp tại thời điểm công bố giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa được mua tối đa 100 cổ phần cho mỗi năm thực tế làm việc tại khu vực nhà nước với giá bán bằng 60% giá đấu thành công thấp nhất (Trường hợp đấu giá công khai trước) hoặc bằng 60% giá bán thành công thấp nhất cho các nhà đầu tư chiến lược (Đối với trường hợp bán cho nhà đầu tư chiến lược trước). Người lao động cam kết làm việc lâu dài cho doanh nghiệp trong thời hạn ít nhất 3 năm (kể từ ngày doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu) sẽ được mua thêm cổ phần ưu đãi theo quy định: Mua thêm theo mức 200 cổ phần/1 năm cam kết làm việc tiếp trong doanh nghiệp nhưng tối đa không quá 2.000 cổ phần cho một người lao động. Riêng người lao động là các chuyên gia giỏi, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao làm việc tại doanh nghiệp được mua thêm theo mức 500 cổ phần/1 năm cam kết làm việc tiếp trong doanh nghiệp nhưng tối đa không quá 5.000 cổ phần cho một người lao động [10, 83]. Các quy định ưu đã cho người lao động vẫn tập trung tính theo số năm làm việc tại doanh nghiệp nhà nước. Điều này là không phù hợp với trình độ, chuyên môn, năng lực của người lao động.

Nghị định 116/2015/NĐ- CP đã bổ sung chính sách ưu đãi cho người lao động trong doanh nghiệp cổ phần hóa.  Theo đó, những doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa đã tiến hành các thủ tục cần thiết theo phương án cổ phần hóa đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt nhưng chưa thực hiện được IPO trong thời gian 90 ngày kể từ ngày có quyết định phê duyệt phương án cổ phần hóa thì doanh nghiệp được bán trước cổ phần cho người lao động, tổ chức công đoàn trong doanh nghiệp với giá bán cổ phiếu bằng 60% giá khởi điểm trong phương án cổ phần hóa đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Người lao động còn được hưởng các ưu đãi khác đối với giá mua cổ phần ưu đãi, được hưởng các quyền lợi về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và các chế độ khác. Điều 48 của nghị định cũng có hướng giải quyết cụ thể đối với các cổ phần mà người lao động mua của doanh nghiệp khi doanh nghiệp thực hiện tái cơ cấu dẫn đến chấm dứt hợp đồng lao động, thôi việc, mất việc, trường hợp người lao động chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn. Chênh lệch giữa giá bán cho người lao động, cho tổ chức công đoàn (nếu có) so với mệnh giá cổ phần được trừ vào giá trị phần vốn nhà nước khi quyết toán tại thời điểm doanh nghiệp chính thức chuyển thành công ty cổ phần. Những quy định mới về ưu đãi dành cho người lao động đã tạo điều kiện cho người lao động được thực sự thực hiện quyền làm chủ của mình trong doanh nghiệp, góp phần phát huy vai trò, hiệu quả trong lao động sản xuất.

Đối tượng thứ 2 được mua cổ phần là nhà đầu tư nước ngoài. Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài. Nhà đầu tư nước ngoài có nhu cầu mua cổ phần của doanh nghiệp cổ phần hóa phải mở tài khoản tiền gửi tại một tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán theo quy định của pháp luật Việt Nam về ngoại hối. Các quy định cho người nước ngoài mua cổ phần đã có thay đổi tích cực. Các nghị định trước đó luôn có những hạn chế về tỷ lệ nắm giữ cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, thậm chí, trong giai đoạn đầu cổ phần hóa, nhà đầu tư nước ngoài không được mua cổ phần, họ bị loại ra khỏi doanh sách đối tượng được nắm giữ cổ phần. Những quy định đó đã hạn chế sự đầu tư của thành phần đầu tư nước ngoài trong khi đây là một nguồn lực lớn có quy mô về vốn, tài chính và tiềm lực lớn hơn rất nhiều so với nguồn lực trong nước. Sự mở rộng đối tượng mua cổ phần tại thời điểm hiện nay đã làm tăng tính hiệu quả của cổ phần hóa, tạo động lực phát triển cổ phần hóa.

Đối tượng thứ 3 được mua cổ phần là nhà đầu tư chiến lược. Nhà đầu tư chiến lược là nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài có năng lực tài chính và có cam kết bằng văn bản của người có thẩm quyền trong việc gắn bó lợi ích lâu dài với doanh nghiệp và hỗ trợ doanh nghiệp sau cổ phần hóa về chuyển giao công nghệ mới, đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao năng lực tài chính, quản trị doanh nghiệp, cung ứng nguyên vật liệu, phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm. Việc lựa chọn nhà đầu tư chiến lược phải được xây dựng thành phương án xác định tiêu chí của nhà đầu tư chiến lược, phương thức bán và số lượng cổ phần bán cho nhà đầu tư chiến lược để cơ quan có thẩm quyền quyết định. Nhà đầu tư chiến lược tại mỗi doanh nghiệp cổ phần hóa tối đa là 3. Tùy thuộc vào từng phương thức bán cổ phần mà giá bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược sẽ bị thay đổi. Nhà đầu tư chiến lược không được chuyển nhượng số cổ phần mua trong thời hạn tối thiểu 5 năm kể từ ngày công ty cổ phần được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Trường hợp đặc biệt phải chuyển nhượng số cổ phần này trước thời hạn trên thì phải được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận. Đây là một quy định cần thiết đảm bảo sự ổn định trong cơ cấu vốn, cơ cấu hoạt động của doanh nghiệp sau cổ phần hóa.

Nghị định 116/2015/NĐ-CP đã có quy định mới về cơ cấu vốn cổ phần lần đầu. Cụ thể, Nghị định mới chỉ quy định chung về cổ phần bán cho nhà đầu tư chiến lược và nhà đầu tư khác, thay cho quy định cụ thể cổ phần bán cho nhà đầu tư chiến lược và nhà đầu tư khác không thấp hơn 25% vốn điều lệ (trừ trường hợp quy định), số cổ phần bán cho các nhà đầu tư khác không thấp hơn 50% số cổ phần nêu trên. Đây là một quy định tích cực, không còn sự hạn chế trong tỷ lệ nắm giữ cổ phần, doanh nghiệp hoàn toàn tự do trong quá trình huy động vốn. Các nguồn lực vốn được tự do phát huy vai trò của mình.

2.5. Xử lý tài chính khi cổ phần hóa Khóa luận: Thực trạng PL cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

Đây là bước thực hiện trước khi xác định giá trị doanh nghiệp. Khi có quyết định cổ phần hóa, doanh nghiệp tiến hành kiểm kê, phân loại tài sản, các nguồn vốn và quỹ mà doanh nghiệp đang quản lý, sử dụng. Doanh nghiệp tiến hành lập báo cáo tài chính, phối hợp với cơ quan quản lý thuế và các cơ quan có thẩm quyền liên quan để kiểm tra, quyết toán, xử lý các vấn đề tài chính tồn tại.

Nội dung này đã được quy đinh chi tiết tại chương 2 trong nghị định 59/2011/NĐ-CP về xử lý tài chính khi cổ phần hóa. Các tài sản được phân loại cụ thể để xác định tài sản đó có được tính vào giá trị doanh nghiệp hay không để có các hướng xử lý riêng cho từng loại. Cụ thể:

Tài sản cho thuê, mượn, nhận góp vốn liên doanh, liên kết, tài sản không phải của doanh nghiệp thì không tính vào giá trị doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải tiến hành kế thừa hoặc thanh lý các hợp đồng liên quan đến các tài sản đó. Đối với tài sản không cần dùng, ứ đọng, chờ thành lý, doanh nghiệp tiến hành thanh lý, nhượng bán. Những tài sản này không được tính vào giá trị doanh nghiệp và phải tiến hành chuyển giao cho các cơ quan theo quy định. Tuy nhiên, cũng có những tài sản không được loại trừ khỏi giá trị doanh nghiệp như nhà cửa, vật kiến trúc, ….

Các khoản nợ phải thu: Doanh nghiệp tiến hành đối chiếu, xác nhận các khoản nợ phải thu, tiến hành thu hồi các khoản nợ đến hạn. Đối với các khoản nợ khó đòi, tiến hành xử lý theo quy định. Những khoản nợ không có đủ hồ sơ pháp lý chứng minh khách nợ còn nợ hoặc không có khả năng thu hồi theo quy định thì không được loại trừ ra ngoài giá trị doanh nghiệp, doanh nghiệp phải làm rõ nguyên nhân để xử lý theo nguyên tắc sau: Xác định trách nhiệm xử lý bồi thường của tập thể, cá nhân có liên quan đến khoản nợ phải thu không xác định được khách nợ, phần tổn thất còn lại được xử lý theo quy định hiện hành của Nhà nước về xử lý nợ tồn đọng. Hoàn thiện hồ sơ, tiếp tục theo dõi để xử lý thu hồi đối với những khoản nợ không chứng minh được là không có khả năng thu hồi.

Các khoản nợ phải trả: Theo điều 16, nghị định 59/2011/NĐ-CP, Doanh nghiệp cũng tiến hành đối chiếu, xác nhận các khoản nợ phải trả, phải thanh toán các khoản nợ đến hạn. Các khoản nợ phải được xử lý theo thỏa thuận hoặc chuyển thành vốn góp cổ phần. Riêng đối với nợ thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước, doanh nghiệp phải thanh toán trước khi cổ phần hóa hoặc doanh nghiệp sau cổ phần hóa phải kể thừa. Khóa luận: Thực trạng PL cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

Các khoản dự phòng, lỗ, lãi được xử lý theo điều 17 nghị định 59/2011/NĐCP. Nghị định 116/2015/NĐ-CP đã có những điều chỉnh trong nội dung này. Các khoản dự phòng được dùng để bù đắp các tổn thất, số còn lại tính vào giá trị phần vốn nhà nước. Quỹ dự phòng rủi ro ngân hàng, bảo hiểm được để lại doanh nghiệp và tính vào giá trị phần vốn nhà nước. Quỹ dự phòng tài chính để bù lỗ, bù đắp thổn thất, số còn lại tính vào giá trị phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Các khoản lãi để bù lỗ, bù đắp tổn thất, số còn lại được phân phối theo quy định.

Vốn đầu tư dài hạn vào các doanh nghiệp như vốn góp liên doanh, liên kết, góp vốn cổ phần, góp vốn thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn hay các hình thức đầu tư dài hạn khác. Các khoản đầu tư dài hạn của doanh nghiệp tại doanh nghiệp khác, doanh nghiệp có thể kế thừa, chuyển giao cho doanh nghiệp khác hoặc bán phần vốn góp đó trước khi xác định giá trị doanh nghiệp.

Quỹ phúc lợi, Quỹ khen thưởng. Số dư trong các quỹ này sau khi bù đắp các khoản chi vượt quá chế độ cho người lao động thì được chia cho người lao động đang làm việc tại doanh nghiệp.

Số dư quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp được hạch toán tăng vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Tại thời điểm doanh nghiệp chính thức chuyển thành công ty cổ phần, doanh  nghiệp tiếp tục thực hiện điều chỉnh số liệu trong sổ kế toán, xử lý các khoản nợ, tài sản không tính vào giá trị doanh nghiệp, tiếp tục xử lý các tồn tại tài chính, định giá lại các khoản đầu tư chứng khoán. Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, doanh nghiệp hoàn thành lập báo cáo tài chính, kiểm toán báo cáo tài chính, đề nghị cơ quan thuế kiểm tra, quyết toán thuế,… Thời hạn này, nghị định 116/2015/NĐ-CP đã kéo dài thêm 30 ngày thay vì chỉ có 30 ngày như nghị định 59/2011/NĐ để đảm bảo tính thực hiện được trên thực tế. Nếu phát sinh khoản chênh lệch tăng, giảm thì tiến hành xử lý theo điều 21 nghị định 59/2011/NĐ-CP.

2.6. Xác định giá trị doanh nghiệp

Xác định giá trị doanh nghiệp là vấn đề quan trọng bậc nhất khi tiến hành cổ phần hóa. Trên thực tế, nó đã gặp phải nhiều vấn đề, vướng mắc. Các nghị định liên tục thay đổi phần lớn đều nhằm hoàn thiện tối đa vấn đề này.

Bước đầu, doanh nghiệp xác định vấn đề liên quan đến tổ chức tư vấn định giá xác định giá trị doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể thuê hoặc tự mình thực hiện. Doanh nghiệp tự xác định giá trị doanh nghiệp phải báo cáo với cơ quan có thẩm quyền quyết định giá trị doanh nghiệp. Khóa luận: Thực trạng PL cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

Những trường hợp bắt buộc phải thuê tổ chức tư vấn định giá xác định giá trị doanh nghiệp là doanh nghiệp có tổng giá trị tài sản theo sổ kế toán từ 30 tỷ đồng trở lên hoặc giá trị vốn nhà nước theo sổ kế toán từ 10 tỷ đồng trở lên theo quy định tại khoản 1 điều 22 nghị định 59/2011/NĐ-CP.

Khi có trên 2 tổ chức tư vấn định giá thì lựa chọn theo phương thức đấu thầu. Quy định này theo phản ánh của nhiều doanh nghiệp là nguyên nhân làm chậm quá trình cổ phần hóa của doanh nghiệp. Phần lớn các hợp đồng tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp có giá trị không lớn, nhưng phải tổ chức đấu thầu đang làm hạn chế quá trình cổ phần hóa của doanh nghiệp. Đến nay, đối tượng thực hiện cổ phần hoá chủ yếu là các doanh nghiệp quy mô lớn, trong đó có các công ty mẹ, các tập đoàn kinh tế, tổng công ty Nhà nước, nên để đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa các doanh nghiệp này trong thời gian tới, Chính phủ đã quyết định điều chỉnh quy định về lựa chọn tổ chức tư vấn định giá tại nghị định 116/2015/NĐ-CP. Theo đó, đối với các gói thầu tư vấn định giá có giá trị không quá 3 tỷ đồng, thì cơ quan có thẩm quyền quyết định phương án cổ phần hóa có thể lựa chọn hình thức chỉ định thầu để lựa chọn tổ chức tư vấn định giá trong danh sách do Bộ Tài chính công bố; trường hợp xét thấy cần phải tổ chức đấu thầu, thì thực hiện đấu thầu theo quy định của pháp luật về đấu thầu. Đối với các gói thầu tư vấn không thuộc quy định này, cơ quan có thẩm quyền quyết định phương án cổ phần hóa quyết định tổ chức đấu thầu lựa chọn đơn vị thực hiện tư vấn định giá theo quy định. Đây là một nguyên tắc quan trọng để lựa chọn tổ chức tư vấn định giá. Nội dung sửa đổi này đã tạo điều kiện để việc lựa chọn đơn vị tư vấn được thuận lợi hơn, tránh kéo dài thời gian cổ phần hóa.

Tổ chức có chức năng định giá có thể là công ty kiểm toán, công ty chứng khoán, doanh nghiệp thẩm định giá trong nước và nước ngoài. Vấn đề xác định quyền, nghĩa vụ và điều kiện của tổ chức tư vấn định giá được quy định chi tiết tại điều 22 nghị đinh 59/2011/NĐ-CP. Cơ quan có thẩm quyền quyết định phương án cổ phần hóa lựa chọn tổ chức tư vấn cổ phần hóa theo quy định của pháp luật. Đối với các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước và một số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đặc biệt (như bảo hiểm, ngân hàng, viễn thông, hàng không, khai thác than, dầu khí, khai thác mỏ quý hiếm khác), khi thực hiện cổ phần hóa mà phương án cổ phần hóa thuộc thẩm quyền phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ thì Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương lựa chọn tổ chức tư vấn cổ phần hóa (lựa chọn tổ chức tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp, lựa chọn tư vấn xây dựng phương án cổ phần hóa).

Căn cứ Hồ sơ xác định giá trị doanh nghiệp do tổ chức tư vấn định giá xây dựng (hoặc do doanh nghiệp cổ phần hóa tự xây dựng), Ban Chỉ đạo cổ phần hóa doanh nghiệp có trách nhiệm thẩm tra về trình tự, thủ tục, tuân thủ các quy định của pháp luật về xác định giá trị doanh nghiệp, trình cơ quan có thẩm quyền quyết định giá trị doanh nghiệp quyết định. Cơ quan này có trách nhiệm xem xét, quyết định đồng thời gửi hồ sơ xác định giá trị doanh nghiệp cho tổ chức kiểm toán trong trường hợp bắt buộc.

Kiểm toán là một khâu quan trọng khi tiến hành xem xét kết quả xác định giá trị doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có quy mô lớn vốn nhà nước trên 500 tỷ đồng, hoạt động trong lĩnh vực, ngành nghề đặc thù như bảo hiểm, ngân hàng, bưu chính viễn thông, hàng không, khai thác than, dầu khí, khai thác mỏ quý hiếm khác; các công ty mẹ thuộc tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước và các doanh nghiệp khác theo yêu cầu của Thủ tướng chính phủ. Khi nhận được kết quả xác định giá trị doanh nghiệp, cơ quan có thẩm quyền quyết định giá trị doanh nghiệp phải gửi văn bản và hồ sơ đề nghị cơ quan kiểm toán nhà nước thực hiện kiểm toán kết quả tư vấn định giá và xử lý các vấn đề tài chính trước khi chính thức công bố giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa. Đó là quy định tại nghị định 59/2011/NĐ-CP. Thực tế, số lượng doanh nghiệp có vốn Nhà nước trên 500 tỷ đồng khá nhiều, nên trường hợp các doanh nghiệp này cùng thực hiện cổ phần hóa, thì việc kiểm toán sẽ không đảm bảo theo đúng thời hạn quy định, dẫn tới kéo dài thời gian. Để tháo gỡ vấn đề này, Nghị định 189/2013/NĐ-CP đã điều chỉnh quy định theo hướng, Kiểm toán Nhà nước thực hiện kiểm toán các đối tượng: công ty mẹ thuộc tập đoàn kinh tế nhà nước; công ty mẹ thuộc tổng công ty nhà nước và các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên khác khi có yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ…

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, xem xét và kết quả kiểm toán (nếu có), cơ quan có thẩm quyền công bố giá trị doanh nghiệp. Doanh nghiệp cổ phần hóa cũng được điều chỉnh giá trị doanh nghiệp đã công bố khi có những nguyên nhân khách quan làm ảnh hưởng đến giá trị những tài sản của doanh nghiệp hoặc sau 18 tháng kể từ thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp mà doanh nghiệp chưa thực hiện việc bán cổ phần theo nghị định 189/2013/NĐ-CP thay vì 12 tháng theo nghị định 59/2011/NĐCP, ngoại trừ các trường hợp đặc thù theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ do các doanh nghiệp cổ phần hóa giai đoạn này có quy mô lớn và phải xử lý các vấn đề tài chính, đất đai nên việc đảm bảo thời gian 12 tháng là khó thực hiện.

Kết quả công bố giá trị doanh nghiệp là cơ sở để xác định quy mô vốn điều lệ, cơ cấu cổ phần phát hành lần đầu và giá khởi điểm để thực hiện đấu giá bán cổ phần. Khóa luận: Thực trạng PL cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

Xác định giá trị doanh nghiệp gồm 2 phương pháp chính là phương pháp tài sản và phương pháp dòng tiền chiết khấu. Ngoài ra, doanh nghiệp có thể lựa chọn các phương pháp xác định khác.

Xác định giá trị doanh nghiệp theo phương pháp tài sản.

Trong phương pháp định giá này, việc xác định giá trị thực  tế của doanh nghiệp là yếu tố cơ bản. Giá trị thực tế của doanh nghiệp cổ phần hóa là giá trị toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm cổ phần hóa có tính tính đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp mà người mua, người bán cổ phần đều chấp nhận được [10, 79].

Giá trị thực tế vốn nhà nước tại doanh nghiệp cổ phần hóa là giá trị thực tế của doanh nghiệp sau khi trừ các khỏan nợ phải trả, số dư quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi và số dư nguồn kinh phí sự nghiệp.

Khoản 3 điều 28 nghị định 59/2011/NĐ-CP quy định: Đối với các tổ chức tài chính, tín dụng khi xác định giá trị doanh nghiệp theo phương pháp tài sản được sử dụng kết quả kiểm toán báo cáo tài chính để xác định tài sản vốn bằng tiền, các khoản công nợ nhưng phải thực hiện kiểm kê, đánh giá đối với tài sản cố định, các khoản đầu tư dài hạn, chi phí dở dang liên quan đến chi phí đền bù, giải tỏa, san lấp mặt bằng và giá trị quyền sử dụng đất theo chế độ Nhà nước quy định. Với quy định này, doanh nghiệp khi tiến hành cổ phần hóa phải đối chiếu toàn bộ công nợ. Tuy nhiên, việc đối chiếu toàn bộ công nợ là khó khăn. Trên thực tế, các doanh nghiệp hiện nay chỉ đối chiếu được 60%- 70%, việc đối chiếu toàn bộ công nợ mất nhiều thời gian nên làm chậm tiến độ cổ phần hóa của doanh nghiệp. Nghị định 189/2013/NĐ-CP đã có quy định linh hoạt hơn. Theo đó, trong một số trường hợp như thời điểm cổ phần hóa không trùng với thời điểm kiểm kê khóa sổ kế toán lập báo cáo tài chính, doanh nghiệp quy mô lớn, đối tượng công nợ nhiều thì đến thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp mà vẫn còn một số khoản công nợ (phải thu, phải trả) có đầy đủ hồ sơ nhưng chưa được đối chiếu, xác nhận theo quy định tại Nghị định này thì phải giải trình rõ các khoản nợ, xác định rõ trách nhiệm tập thể, cá nhân liên quan. Đồng thời, phải hoàn tất việc đối chiếu công nợ trước thời điểm doanh nghiệp cổ phần hóa được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu và báo cáo cơ quan có thẩm quyền quyết định giá trị doanh nghiệp xem xét, quyết định theo giá trị đang theo dõi trên sổ sách kế toán. Ngoài ra, phải công bố công khai trong quyết định phê duyệt giá trị doanh nghiệp cũng như phương án cổ phần hóa làm cơ sở bán đấu giá cổ phần. Tại thời điểm doanh nghiệp cổ phần hóa được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu, khi lập báo cáo tài chính để bàn giao từ doanh nghiệp 100% vốn nhà nước sang công ty cổ phần, nếu các khoản công nợ này vẫn chưa được đối chiếu, xác nhận thì xem xét, xử lý theo các hướng:

Đối với nợ phải trả doanh nghiệp đã làm đủ thủ tục đối chiếu nợ nhưng không xác nhận được chủ nợ thì được hạch toán ghi tăng vốn nhà nước tương ứng và công ty cổ phần mới có trách nhiệm lưu trữ hồ sơ, tiếp tục kế thừa, theo dõi để thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi chủ nợ yêu cầu. Căn cứ hồ sơ tài liệu hợp pháp liên quan và yêu cầu của chủ nợ, công ty cổ phần mới thực hiện trả nợ và hạch toán vào chi phí trong kỳ; Khóa luận: Thực trạng PL cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

Đối với nợ phải thu doanh nghiệp đã làm thủ tục đối chiếu nhưng vẫn chưa đối chiếu được thì phải xem xét, xử lý trách nhiệm bồi thường đối với tập thể, cá nhân có liên quan. Giá trị khoản nợ còn lại (sau khi bù trừ khoản bồi thường của các cá nhân, tập thể, quỹ dự phòng nợ phải thu khó đòi) được hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cổ phần hóa. Công ty cổ phần mới có trách nhiệm lưu trữ hồ sơ, tiếp tục kế thừa, theo dõi để đôn đốc thực hiện thu nợ.

Để xác định giá trị thực tế, doanh nghiệp căn cứ vào số liệu theo sổ kế toán, tài liệu kiểm kê, phân loại và đánh giá chất lượng tài sản, giá trị trường của tài sản, giá trị quyền sử dụng đất được giao, giá trị tiền thuê đất, giá trị lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp.

Giá trị lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp cổ phần hóa gồm giá trị thương hiệu, tiềm năng phát triển. Đây là  một điểm mới của nghị định 59/2011/NĐ-CP khi loại bỏ giá trị lợi thế về vị trí địa lý ra khỏi giá trị lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp.

Trong thời gian trước đây, việc xác định giá trị lợi thế về vị trí địa lý đã gây ra nhiều bất cập và vướng mắc trong quá trình cổ phần hóa.

Điều 33 nghị định 59/2011/NĐ-CP quy định về việc xác định giá trị vốn đầu tư dài hạn. Theo đó, giá trị vốn đầu tư dài hạn được xác định trên cơ sở tỷ lệ vốn đầu tư của doanh nghiệp trên vốn điều lệ hoặc tổng vốn thực góp, giá trị vốn chủ sở hữu  tại các doanh nghiệp khác theo báo cáo tài chính. Đặc biệt, nếu giá trị vốn đầu tư dài hạn của doanh nghiệp thấp hơn giá trị ghi trên sổ kế toán thì xác định theo giá trị ghi trên sổ kế toán. Nghị định 116/2015/NĐ-CP đã có quy định mới về vấn đề này. Nếu giá trị vốn đầu tư dài hạn của doanh nghiệp tại doanh nghiệp khác thấp hơn giá trị ghi trên sổ kế toán, thay vì tính theo giá ghi trên sổ sách như trước, hiện nay, giá trị ấy được xác định theo giá trị thực tế xác định lại. Với sự thay đổi này, việc xác định theo giá trị thực tế sẽ thuận lợi và hiệu quả hơn.

Giá trị vốn góp của doanh nghiệp cổ phần hóa vào công ty cổ phần đã niêm yết, đăng ký giao dịch trên thị trường chứng khoán được xác định theo giá đóng cửa của cổ phiếu giao dịch trên thị trường chứng khoán tại thời điểm gần nhất với thời điểm thực hiện xác định giá trị doanh nghiệp. Trường hợp cổ phiếu của công ty cổ phần đã niêm yết trên thị trường Upcom mà không có giao dịch trong vòng 30 ngày trước thời điểm tổ chức xác định giá trị doanh nghiệp thì được xác định theo quy định tại điểm a, điểm b, điểm c khoản 1, Điều 33 Nghị định số 59/2011/NĐ-CP và khoản 5, Điều 1 Nghị định này. Đối với giá trị vốn góp vào công ty cổ phần chưa niêm yết, chưa đăng ký giao dịch trên thị trường chứng khoán thì căn cứ kết quả xác định của cơ quan tư vấn, Ban Chỉ đạo cổ phần hóa doanh nghiệp xem xét trình cơ quan có thẩm quyền quyết định giá trị doanh nghiệp quyết định.

Xác định giá đất là một vấn đề lớn và gặp phải rất nhiều vấn đề.

Trên thực tế, chính sách xác định giá đất nói chung và xác định giá đất để tính vào giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hóa nói riêng đã nhiều lần thay đổi. Năm 2004, theo điều 63, Nghị định 181/2004/NĐ-CP về thi hành luật đất đai không cho phép doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa lựa chọn hình thức nhà nước giao đất hay cho thuê đất, trước đây là hình thức nào thì theo đó mà xử lý, nhưng giá trị đất phải tính theo giá đất phù hợp giá thị trường. Khóa luận: Thực trạng PL cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

Chỉ 18 ngày sau, Nghị định 187/2004/NĐ-CP lại quy định doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa được lựa chọn hình thức được nhà nước giao đất hay cho thuê đất, khi lựa chọn hình thức thuê đất của nhà nước thì không tính giá trị quyền sử dụng đất vào tài sản doanh nghiệp. Khi lựa chọn hình thức được nhà nước giao đất thì phải tính giá trị đất vào tài sản doanh nghiệp và giá trị đất được tính theo bảng giá đất của nhà nước (Điều 19). Đây là, một cách tiếp cận khác hẳn so với Nghị định 181/2004/NĐ-CP.

Sau đó, năm 2006, Nghị định 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 sửa đổi lại cả hai nghị định trên theo một phương án dung hòa: điều 6 quy định doanh nghiệp cổ phần hóa được lựa chọn hình thức sử dụng đất nhưng “giá trị đất phải phù hợp thị trường”…

Xác định theo bảng giá thì tạo lợi ích cho doanh nghiệp, tạo đà cho doanh nghiệp sau cổ phần hóa có vốn mà phát triển. Nhưng cách nhìn khác là cổ phần hóa phải sòng phẳng, đưa giá trị đất về đúng giá trị thật trên thị trường để tránh tiêu cực từ chuyện lợi dụng sự chênh lệch giá đất, làm lệch lạc mục tiêu phát triển doanh nghiệp. Tính sát giá thị trường thì hiệu quả sản xuất kinh doanh sau khi cổ phần hóa phải do chính hoạt động sản xuất kinh doanh tự tạo ra chứ không thể trông cậy vào đất.

Hiện nay, Luật Đất đai 2013 đã quy định rõ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là một trong những trường hợp phải quyết định giá đất cụ thể theo giá thị trường. Luật này cũng đã đưa ra quy trình chung tiến bộ hơn cho việc quyết định giá.

Nghị định 189/2013/NĐ-CP đã khắc phục bất cập trong công tác quản lý, sử dụng đất đai tại các doanh nghiệp nhà nước trong thời gian qua, góp phần đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng của công tác cổ phần hóa. Nghị định 189/2013/NĐ- CP quy định: Đối với diện tích đất doanh nghiệp cổ phần hóa đã được giao đất và nộp tiền sử dụng đất cho ngân sách nhà nước hoặc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp để sử dụng vào mục đích xây dựng nhà để bán, xây dựng kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê thì phải xác định lại giá trị quyền sử dụng đất tính vào giá trị doanh nghiệp…

Đối với diện tích đất sử dụng cho các công trình công cộng có hành lang bảo vệ an toàn theo quy định của pháp luật về đất đai cũng được xem xét, loại trừ theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

Đối với diện tích đất đã giao cho doanh nghiệp và doanh nghiệp đã sử dụng để góp vốn thành lập pháp nhân mới thì cơ quan có thẩm quyền quyết định phê duyệt phương án cổ phần hóa xem xét xử lý theo nguyên tắc: Chuyển giao cho doanh nghiệp 100% vốn nhà nước khác làm đối tác nếu được các đối tác góp vốn trong pháp nhân mới chấp thuận và doanh nghiệp tiếp tục kế thừa tính vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa theo nguyên tắc quy định tại Điều 33 Nghị định này. Đối với diện tích đất còn lại (sau khi loại trừ diện tích đất quy định tại khoản 2, khoản 3, khoản 4 và khoản 5 Điều này) doanh nghiệp cổ phần hóa thực hiện hình thức thuê đất có thời hạn theo quy định của pháp luật về đất đai và không phải tính bổ sung giá trị lợi thế vị trí địa lý khi xác định giá trị doanh nghiệp. Giá đất để xác định giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa là giá đất sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất có mục đích sử dụng tương tự thực tế trên thị trường do ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xác định. Trường hợp doanh nghiệp thực hiện chuyển mục đích sử dụng đất đã được giao thì phải nộp thêm khoản tiền chênh lệch giá trị quyền sử dụng đất theo mục đích chuyển đổi.

Quy định này nhằm khắc phục bất cập trong việc xác định giá trị quyền sử dụng đất trong thời gian qua để đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa. Theo phương án này, đối với các diện tích đất doanh nghiệp đã được giao, nay chuyển sang cho thuê thì giá trị quyền sử dụng đất giao còn lại tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp được xác định là số tiền doanh nghiệp đã trả trước tiền thuê đất cho một khoảng thời gian nhất định theo mặt bằng giá thuê đất khi doanh nghiệp hoàn tất thủ tục thuê đất với cơ quan quản lý tại địa phương, không ảnh hưởng đến ngân sách nhà nước và lợi ích kinh tế của doanh nghiệp. Đối với diện tích đất doanh nghiệp thực hiện thuê đất thì thực hiện trả tiền thuê đất hàng năm theo cơ chế đã được quy định tại Nghị định số 121/2010/NĐ-CP và không phải tính bổ sung giá trị lợi thế vị trí địa lý vì giá thuê đất đã sát giá thị trường.

Đặc biệt, Nghị định 189/2013/NĐ-CP cũng quy định rõ: Đối với các doanh nghiệp đã hoàn thành cổ phần hóa hoặc đang thực hiện cổ phần hóa trước ngày Nghị định 189/2013/ NĐ-CP có hiệu lực thi hành thì tiếp tục thực hiện giao đất, thuê đất và tính giá trị quyền sử dụng đất theo phương án đã được phê duyệt, không thực hiện điều chỉnh. Đối với các doanh nghiệp đã xác định giá trị lợi thế vị trí địa lý đất thuê vào giá trị doanh nghiệp và hạch toán tăng phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp khi xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa được cấp có thẩm quyền công bố giá trị doanh nghiệp theo quy định trước ngày Nghị định 59/2011/NĐ-CP có hiệu lực thì được khấu trừ giá trị lợi thế vị trí địa lý vào tiền thuê đất phải nộp của doanh nghiệp cổ phần hóa. Đối với các doanh nghiệp cổ phần hóa theo Nghị định 109/2007/ NĐCP mà chưa tính giá trị lợi thế vị trí địa lý thì được áp dụng Nghị định số 59/2011/NĐCP không phải tính bổ sung giá trị lợi thế vị trí địa lý và điều chỉnh vốn Nhà nước tại doanh nghiệp.

Xác định giá trị doanh nghiệp theo phương pháp dòng tiền chiết khấu.

Theo điều 34, nghị định 59/2011/NĐ-CP, giá trị thực tế phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp xác định dựa vào khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong tương lai và việc đầu tư vốn vào doanh nghiệp khác.

Phương pháp này thường áp dụng với các doanh nghiệp có ngành nghề kinh doanh chủ yếu trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng, thương mại, tư vấn, thiết kế xây dựng,…, có tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn nhà nước bình quân 5 năm liền kề trước cổ phần hóa cao hơn lãi suất trả trước của trái phiếu chính phủ kỳ hạn từ 10 năm trở lên tại thời điểm gần nhất với thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp.

Căn cứ xác định giá trị doanh nghiêp là: Báo cáo tài chính của doanh nghiệp trong 5 năm liền kề trước thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp, phương án hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong 3 đến 5 năm sau khi cổ phần hóa, lãi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 5 năm ở thời điểm gần nhất.

2.7. Bán cổ phần lần đầu Khóa luận: Thực trạng PL cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

Sau khi hoàn tất xác định giá trị doanh nghiệp và có kết quả công bố giá trị doanh nghiệp, doanh nghiệp tiến hành bán cổ phần lần đầu. Cơ quan có thẩm quyền quyết định quy mô, cơ cấu vốn điều lệ của doanh nghiệp sau cổ phần hóa.

Trường hợp giá trị thực tế phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp lớn hơn mức vốn điều lệ cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp mà doanh nghiệp không thuộc diện Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối thì cơ quan có thẩm quyền quyết định phê duyệt phương án cổ phần hóa xác định điều chỉnh vốn điều lệ theo nhu cầu thực tế.

Trường hợp phát hành thêm cổ phiếu, vốn điều lệ được xác định bằng giá trị thực tế phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp và giá trị cổ phần phát hành thêm tính theo mệnh giá cổ phiếu.

Trên cơ sở vốn điều lệ đã được xác định, cơ quan có thẩm quyền sẽ quyết định cơ cấu vốn cổ phần lần đầu. Cụ thể về cổ phần nhà nước nắm giữ, cổ phần bán cho nhà đầu tư chiến lược và nhà đầu tư khác, cổ phần bán ưu đãi cho tổ chức công đoàn, cho người lao động. Các doanh nghiệp quy mô lớn có vốn nhà nước trên 500 tỷ đồng hoạt động kinh doanh trong những lĩnh vực, ngành nghề đặc thù (Bảo hiểm, ngân hàng, bưu chính viễn thông, hàng không, khai thác than, dầu khí, khai thác mỏ quý hiếm khác) và các công ty mẹ thuộc các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước thì tỷ lệ cổ phần đấu giá bán cho các nhà đầu tư do Thủ tướng Chính phủ hoặc cơ quan được Thủ tướng Chính phủ ủy quyền xem xét, quyết định cụ thể.

Bán cổ phần lần đầu được thực hiện với nhiều phương thức như:

  • Phương thức đấu giá công khai khi không có sự phân biệt nhà đầu tư tổ chức, nhà đầu tư cá nhân, nhà đầu tư trong nước và nước ngoài;
  • Phương thức bảo lãnh phát hành với sự cam kết đảm bảo của tổ chức có chức năng bảo lãnh về việc thực hiện phân phối hết số lượng cổ phần bán ra ngoài. Nếu không bán hết, tổ chức bảo lãnh có trách nhiệm mua hết số cổ phần còn lại theo giá bảo lãnh đã cam kết. Khóa luận: Thực trạng PL cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.
  • Phương thức thỏa thuận trực tiếp theo kết quả thương thảo giữa ban chỉ đại cổ phần hóa hoặc tổ chức được ban chỉ đạo cổ phần hóa ủy quyền với từng nhà đầu tư. Giá bán ở đây là giá bán thương thảo trực tiếp không thấp hơn giá khởi điểm hoặc giá đầu thầu thành công thấp nhất.

Đối với số lượng cổ phần không bán hết, ban chỉ đại cổ phần hóa tiến hành tiếp tục chào bán công khai hoặc điều chỉnh cơ cấu vốn điều lệ của doanh nghiệp theo quy định tại điều 59/2011/NĐ-CP.

Việc bán cổ phần phải hoàn thành trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày quyết định phê duyệt phương án cổ phần hóa. Số tiền thu được từ cổ phần hóa được sử dụng để thanh toán chi phí cổ phần hóa, chi phí giải quyết chính sách đối với lao động dôi dư, số còn lại để lại cho công ty cổ phần theo tỷ lệ tương ứng theo điều 42, nghị định 59/2011/NĐ-CP.

Kể từ ngày hoàn thành bán cổ phần, doanh nghiệp tiến hành đại hội đồng cổ đông, thông qua điều lệ công ty, đăng ký doanh nghiệp lần đầu. Đối với doanh nghiệp nhà nước vẫn nắm giữ cổ phần, cơ quan được phân công thực hiện quyền sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp cử người làm đại diện phần vốn tại doanh nghiệp.

2.8. Chính sách đối với doanh nghiệp sau cổ phần hóa

Theo điều 47, nghị định 59/2011/NĐ-CP, Doanh nghiệp khi tiến hành cổ phần hóa được hưởng các ưu đãi nhất định như:

  • Được miễn lệ phí trước bạ đối với việc chuyển những tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh nghiệp cổ phần hóa thành sở hữu của công ty cổ phần.
  • Được miễn lệ phí cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp khi chuyển từ doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần Khóa luận: Thực trạng PL cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.
  • Được ưu tiên kế thừa các quyền và lợi ích hợp pháp về sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
  • Được duy trì và phát triển quỹ phúc lợi dưới dạng hiện vật như các công trình văn hóa, câu lạc bộ, bệnh xá, nhà điều dưỡng, nhà trẻ để đảm bảo phúc lợi cho người lao động trong công ty cổ phần.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Giải pháp PL cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x