Khóa luận: Pháp luật về phân chia di sản thừa kế

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Pháp luật về phân chia di sản thừa kế hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Phân chia di sản thừa kế – Những vấn đề lý luận và thực tiễn dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài:

Chế định thừa kế là một chế định được ghi nhận từ rất sớm trong pháp luật Việt Nam. Trải qua các chế độ xã hội khác nhau chế định thừa kế được ghi nhận trong pháp luật ở mỗi thời kì cũng có sự khác biệt. Chế định thừa kế được ghi nhận trong Bộ luật Hồng Đức ( năm 1483), Bộ luật Gia Long ( 1815), trong thời kì pháp thuộc có Bộ Dân luật Bắc kì( năm 1931) và bộ Dân luật Trung kì (năm 1936). Đặc biệt là sự ra đời của Bộ luật Dân sự 1995 và Bộ luật Dân sự 2005 đã đánh dấu một bước phát triển của pháp luật Việt Nam về thừa kế.

Cùng với sự phát triển của các quan hệ xã hội, sự phát triển của nền kinh tế thị trường, Bộ luật dân sự 1995 và Bộ luật dân sự 2005, Bộ luật dân sự 2015 đã phản ánh và ghi nhận sự phát triển của các mối quan hệ dân sự qua từng điều luật. Tuy nhiên các mối quan hệ xã hội ngày càng phức tạp và có nhiều sự khác biệt vì vậy pháp luật vẫn chưa thể dự liệu được tất cả các tình huống có thể xảy ra trong thực tế. Pháp luật đôi khi còn tồn tại một cách “lạc hậu” so với những gì mà cuộc sống đang diễn ra. Vấn đề phân chia di sản thừa kế được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự 2015 còn có nhiều điểm chưa rõ ràng, cụ thể, chưa giải quyết được hết những tranh chấp đặt ra đôi khi còn có những điểm chưa hợp lý. Thực tiễn những năm gần đây những tranh chấp về thừa kế đặc biệt là những tranh chấp về phân chia di sản thừa kế đang có sự gia tăng đáng kể về số lượng và tính chất cũng phức tạp hơn.

Với thực trạng đó, tác giả chọn đề tài: “Phân chia di sản thừa kế – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” để làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình. Khóa luận: Pháp luật về phân chia di sản thừa kế.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

2. Tình hình nghiên cứu đề tài:

Thừa kế là một vấn đề không phải là mới tuy nhiên nó là một vấn đề phức tạp và có tính chất rộng. Nhiều công trình nghiên cứu về thừa kế như:

Pháp luật thừa kế của Việt Nam những vấn đề lý luận và thực tiễn của tác giả PGS. TS Nguyễn Minh Tuấn; Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Phạm Văn Tuyết với đề tài “Thừa kế theo di chúc theo quy định của Bộ luật Dân sự Việt Nam”; Luận án tiến sĩ Luật học của tác giả Phùng Trung Tập với đề tài: “Thừa kế theo pháp luật Việt Nam từ năm 1945 đến nay”; Luận án tiến sĩ luật học của TS. Trần Thị Huệ; “Di sản thừa kế trong pháp luật dân sự Việt Nam”; Luận văn thạc sĩ luật học “Di sản thừa kế –  những vẫn đề lý luận và thực tiễn”; Luận văn thạc sĩ Luật học “Điều kiện của người thừa kế là cá nhân theo quy định của pháp luật Việt Nam và thực tiễn thực hiện”; Luận văn thạc sĩ Luật học “Phân chia di sản thừa kế” của tác giả Nguyễn Đào Tơ; Luận văn Thạc sĩ Luật học của tác giả Nguyễn Nhật Huy về “Phân chia di sản thừa kế thao Bộ Luật dân sự 2015”; Khoá luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Lê Thu Trang về: “Thanh toán và phân chia di sản thừa kế”; Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Mai Linh về “Người hưởng di sản thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”; cùng rất nhiều luận văn, luận án khác nghiên cứu về nội dung này.

Bên cạnh đó, các tài liệu khác như công trình nghiên cứu khoa học, các bài báo cũng như bài nghiên cứu về nội dung thừa kế cũng rất nhiều, có thể kể đến một vài công trình như: Bài viết “Bàn về đối tượng được thừa kế thế vị theo quy định của Bộ luật dân sự 2015” của tác giả Nguyễn Viết Giang đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân tối cao (2020); Bài viết “Áp dụng thời hiệu thừa kế đối với tài sản là bất động sản từ ngày 01/01/2017” của tác giả Phan Thị Vân Hương và Đặng Thị Phượng trên Tạp chí Tòa án nhân dân (2017); Bài viết “Áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp về thừa kế” của tác giả Phan Thị Hồng trong Tạp chí Nghề Luật – Học viện Tư pháp (2018)…. cùng rất nhiều bài báo và bài nghiên cứu khác.

Vấn đề thừa kế là rất rộng vì vậy mỗi công trình nghiên cứu trên các tác giả chỉ phản án được một khía cạnh nào đó của thừa kế. Vấn đề về phân chia di sản thừa kế không phải là một vấn đề mới tuy nhiên theo sự phát triển của xã hội thì đề tài này luôn dành được sự quan tâm của những nhà nghiên cứu pháp luật. Tiếp cận đề tài về “Phân chia di sản thừa kế – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” mang đến một cách tiếp cận mới và phản ánh được thực trạng phát triển của đề tài này trong thực tiễn.

3. Mục đích nghiên cứu đề tài: Khóa luận: Pháp luật về phân chia di sản thừa kế.

Mục đích của tác giả khoá luận là làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn về phân chia di sản thừa kế. Qua việc phân tích các quy định của pháp luật về vấn đề phân chia di sản thừa kế từ đó thấy được những hạn chế của quy định pháp luật so với thực tiễn của đời sống xã hội. Từ đó đưa ra những kiến nghị của bản thân để khắc phục những hạn chế này.

4. Phạm vi nghiên cứu:

Trong phạm vi nghiên cứu của khoá luận tốt nghiệp, tác giả tập trung nghiên cứu khía cạnh liên quan đến các quy định về phân chia di sản thừa kế theo pháp luật Việt Nam.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu :

5.1 Cơ sở lý luận:

Cơ sở lý luận của luận văn tốt nghiệp dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về thừa kế và sở hữu tài sản.

5.2 Phương pháp nghiên cứu:

Trong luận văn tốt nghiệp này tác giả kêt hợp nhiều phương pháp nghiên cứu trong đó có phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lê- Nin. Ngoài ra còn kết hợp các phương pháp so sánh, phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp lô gic …

6. Ý nghĩa của khoá luận:

Khoá luận nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn của đề tài phân chia di sản thừa kế. Qua việc phân tích các quy định của pháp luật tác giả làm rõ hơn những vấn đề lý luận và chỉ ra những hạn chế trong việc áp dụng những quy định của pháp luật trong thực tiễn. Đưa ra kiến nghị đối với những quy định của pháp luật tạo ra phương hướng để những quy định này được áp dụng tốt hơn trong đời sống.

7. Kết cấu của khoá luận:

Kết cấu của khoá luận gồm ba phần :

  • Chương I. Những vấn đề lý luận chung về phân chia di sản thừa kế
  • Chương II. Quy định của pháp luật hiện hành về phân chia di sản thừa kế.
  • Chương III. Thực tiễn áp dụng và phương hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật về phân chia di sản thừa kế.

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ. Khóa luận: Pháp luật về phân chia di sản thừa kế.

1.1. Khái quát chung về di sản 

1.1.1. Khái niệm di sản 

Theo Đại từ điển tiếng việt của Nguyễn Như Ý chủ biên – NXB Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh thì di sản được hiểu: 1.Tài sản thuộc sở hữu của người đã chết để lại: thừa kế di sản bố mẹ. 2.Giá trị tinh thần và vật chất văn hoá thế giới hay một quốc gia một dân tộc để lại. Với một phạm vi khác nhau được hiểu theo một ý nghĩa khác nhau về di sản. Tuy nhiên cả hai nghĩa đều hướng đến việc để lại cho đời sau tài sản hoặc giá trị tinh thần.

Di sản là một thuật ngữ được dùng phổ biến trong nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống. Trong khoa học pháp lý thuật ngữ này được các nhà làm luật dùng để chỉ di sản thừa kế trong pháp luật dân sự. Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 tại Điều 612 thì “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.”

Trong bất kì một quốc gia nào hoặc một hệ thống pháp luật nào cũng đều xác định di sản thừa kế là tài sản của người để lại di sản cho người thừa kế. Bởi lẽ chỉ khi nào một người là chủ sở hữu của một tài sản nhất định thì mới có quyền định đoạt tài sản đó và khi người đó chết thì trên cơ sở quyền sở hữu của người để lại di sản những người thừa kế dịch chuyển quyền sở hữu này sang cho mình. Việc xác định quyền sở hữu tài sản của người để lại di sản cũng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc xác định số tài sản được chia thừa kế. Nếu người chết không để lại di sản hoặc không xác định được tài sản đó do họ sở hữu thì không thể có việc phân chia di sản thừa kế.

1.1.1.1. Các quan niệm về di sản thừa kế

Hiện nay ở nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới chưa đưa ra được một khái niệm khái quát nhất về di sản. Chính vì vậy đã làm phát sinh các quan niệm khác nhau về di sản. Khóa luận: Pháp luật về phân chia di sản thừa kế.

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Di sản bao gồm tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết, các quyền tài sản và các nghĩa vụ tài sản không gắn liền với nhân thân của người chết được phát sinh từ các giao dịch, các hành vi gây thiệt hại. Theo quan điểm này thì di sản thừa kế của người chết bao gồm có hai phần đó là phần tài sản và phần nghĩa vụ tài sản. Người được quyền nhận di sản có thể nhận di sản thừa kế hoặc không nhận di sản thừa kế, vậy nếu di sản là nghĩa vụ thì người thừa kế không bắt buộc phải nhận. Nhưng nếu người thừa kế tự nguyện thực hiện thay các nghĩa vụ tài sản của người chết thì pháp luật cũng không cấm điều này. Tuy nhiên thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết chỉ nằm trong phạm vi tài sản mà người đó để lại, nếu nghĩa vụ của người chết lớn hơn phần di sản thì không bắt buộc người thừa kế phải thực hiện phần vượt quá đó. Người thừa kế chỉ thực hiện nghĩa vụ tài sản tương ứng với phần di sản được nhận và trong phạm vi di sản được hưởng. Quan điểm này được thể hiện trong thông tư 81/TANDTC ngày 24/7/1981 hay điều 1112 Bộ Luật Dân sự Liên Bang Nga quy định: “Kế từ ngày mở thừa kế, tất cả các vật và các tài sản khác, trong đó có các quyền tài sản và nghĩa vụ tài sản thuộc về người thừa kế”. Theo đó, trường hợp nghĩa vụ về tài sản lớn hơn di sản thì bắt buộc người thừa kế thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi di sản được hưởng. Việc thực hiện phần nghĩa vụ vượt quá giá trị di sản được hưởng là không bắt buộc nhưng theo đạo lý của con người Việt Nam đối với những bậc sinh thành thì đây là một việc nên làm.

Quan điểm thứ hai: Theo quan điểm này cho rằng di sản gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác, quyền về tài sản do người chết để lại. Khác với quan điểm thứ nhất quan niệm này không coi nghĩa vụ tài sản là di sản, tuy nhiên khi mở thừa kế, người thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ của người chết để lại trong phạm vi di sản được hưởng. Nếu người chết không để lại tài sản hoặc để lại nhưng không đủ để thanh toán các nghĩa vụ thì những người thừa kế không bắt buộc phải thực hiện hết tất cả các nghĩa vụ đó, chỉ thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi di sản thừa kế để lại. Quan niệm này hoàn toàn phù hợp với lý luận và thực tiễn hơn. Bởi lẽ không thể bắt những người không có trách nhiệm phải thực hiện để thực hiện phần nghĩa vụ của người để lại thừa kế. Quyền nhận thừa kế chỉ phát sinh khi còn di sản chia thừa kế, trong trường hợp không còn di sản thừa kế thì quyền nhận thừa kế cũng không tồn tại. Nếu quyền đi đôi với nghĩa vụ thì người thừa kế không có quyền nhận thừa kế thì cũng không có nghĩa vụ phát sinh. Vì vậy nếu người chết để lại tài sản thì dùng tài sản đó thanh toán nghĩa vụ còn nếu không thì nghĩa vụ cũng chấm dứt.

1.1.1.2: Quy định về di sản thừa kế trong pháp luật Việt Nam 

Pháp luật mang bản chất giai cấp và vì vậy mỗi một giai đoạn lịch sử khác nhau thì pháp luật đại diện cho lợi ích của một giai cấp nhất định. Các quy phạm pháp luật đều hướng đến một lợi ích cho một giai cấp thống trị. Quy định về di sản thừa kế cũng không ngoại lệ.

  • Giai đoạn trước năm 1945 Khóa luận: Pháp luật về phân chia di sản thừa kế.

Giai đoạn này không có quy định cụ thể về di sản thừa kế gồm những loại tài sản nào. Di sản thừa kế được xác định một cách gián tiếp thông qua việc xác định tài sản của cá nhân, xác định tài sản của vợ chồng khi một người chết trước. Tại điều 113 Bộ dân luật Bắc kỳ và điều 111 Bộ dân luật Trung kỳ có quy định: “Khi người chồng chết…thì người vợ thay quyền chồng mà quản tài sản chung. Khi người vợ chết trước thì một mình người chồng trở thành chủ sở hữu tất cả tài sản chung kể cả kỷ phần của vợ nữa”. Điều luật này thể hiện rất rõ tư tưởng trọng nam khinh nữ đang còn tồn tại rất nặng nề trong thời kì này. Khi người chồng chết thì người vợ chỉ có quyền quản lý tài sản chung trong gia đình nhưng khi người vợ chết trước thì người chồng lại có quyền sở hữu tất cả khối tài sản ở trong gia đình. Trong thời kì này ở nước ta còn tồn tại một tục lệ đã truyền từ đời trước để lại mang đậm nét phong kiến đó là “phụ trái tử hoàn”. Theo đó, khi cha mẹ chết, các con có nghĩa vụ thanh toán tất cả mọi nghĩa vụ tài sản mà cha mẹ để lại ngay cả khi số tài sản để lại không đủ để thanh toán nghĩa vụ. Vậy thế nên không ít những người khi sinh ra đã mang món nợ cho những người đời trước để lại mà có khi trả cả cuộc đời mình cũng không trả được hết. Những món nợ được truyền từ đời này sang đời khác như một “di sản” thừa kế và cách thức để làm tròn chữ “hiếu” đối với ông bà cha mẹ. Cùng với sự bóc lột và cho vay nặng lãi của cường hào địa chủ phong kiến thì tục lệ “phụ trái tử hoàn” nhằm bảo vệ sự bóc lột và lợi ích của giai cấp này.

  • Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng 8 đến năm 1975

Ở nước ta trong thời kì này nền pháp lý của nước ta có nhiều thay đổi lớn và có sự khác biệt giữa các chế độ chính trị khác nhau tồn tại ở hai miền của đất nước. Sau cách mạng tháng tám đã mở ra một kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc. Tuy nhiên sau đó nước ta lại bị chia cắt thành hai miền với hai chế độ chính trị – xã hội và hai nền pháp lý khác nhau. Sự quy định về di sản thừa kế cũng có những điểm khác biệt.

Quy định của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa: Cách mạng tháng tám thành công làm thay đổi diện mạo của đất nước cùng với sự thay đổi của chế độ chính trị thì một chế độ pháp lý mới ra đời mang tính tiến bộ hơn. Các quy định về di sản trong thời kì này cũng có nhiều thay đổi đáng kể. Có thể kể đến sự ghi nhận của Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/5/1950 về một sự thay đổi mới, phá vỡ các luật tục cổ hủ trong đó có  luật lệ “ phụ trái tử hoàn” đã tồn tại hàng thế kỉ ở nước ta. Mặc dù các quy định của sắc lệnh này không nhiều và chưa có quy định trực tiếp về di sản nhưng cũng đã gián tiếp khẳng định di sản thừa kế của một người chỉ bao gồm tài sản mà không bao gồm các nghĩa cụ tài sản do người đó để lại. Đây là một quy định mang tính đột phá xóa bỏ tư tưởng lạc hậu của nền pháp lý phong kiến đặt nền móng cho sự pháp triển chế định thừa kế trong luật dân sự sau này.

Khác với nền tảng quy định của sắc lệnh số 97/SL thì thông tư số 594/NCPL của Tòa án nhân dân tối cao ngay 27/08/1968 quy định như sau : “ Di sản thừa kế bao gồm không những quyền sở hữu cá nhân về những tài sản mà người chết đó để lại, mà còn gồm cả những quyền tài sản phát sinh do quan hệ hợp đồng hặc do việc thiệt hại mà người chết để lại”. Di sản thừa kế được quy định trong thông tư số 594/NCPL được xác định không chỉ bao gồm là tài sản, quyền tài sản thuộc sở hữu của người chết mà còn gồm cả nghĩa vụ người chết để lại. Khóa luận: Pháp luật về phân chia di sản thừa kế.

Thời kì lịch sử này là thời kì lịch sử mang nhiều biến động lớn, đất nước ta  bị chia cắt thành hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau và hai nền pháp lý cũng khác nhau. Ở miền Nam chế độ Sài Gòn vẫn áp dụng những quy định của Bộ luật Dân sự trung kì 1936 để giải quyết các tranh chấp dân sự. Đến năm 1972 Bộ Dân luật của chế độ Việt Nam cộng hòa được ban hành. Tuy là bộ luật mới nhưng Bộ dân Luật Sài Gòn về nội dung gần như giống với Dân luật Bắc kì và Hoàng Việt trung kì hộ luật. Bộ luật này không quy định rõ ràng về di sản thừa kế, những quy định chỉ mang tính chất chung chung và gián tiếp xác định di sản thừa kế thông qua các quy định về sở hữu, xác định tài sản của vợ chồng. Di sản thừa kế đươc xác định bao gồm: nhà cửa, ruộng đất, hào rãnh, súc vật, dụng cụ canh nông, các cổ phần, phần hùn, phần lãi trong một hội thương sự hay dân sự, các sản nghiệp thương mại, tàu thuyền, quyền sở hữu văn chương mỹ thuật hay kĩ nghệ … thuộc quyền sở hữu của người đó.

  • Giai đoạn từ 1975 đến nay

Năm 1975 đất nước hoàn toàn thống nhất, chế độ thực dân hoàn toàn bị xóa bỏ, Đảng và Nhà nước ta đã bắt tay vào việc tổ chức lại bộ máy và kiện toàn hệ thống chính trị. Hệ thống pháp luật cũng được đổi mới để phù hợp với tình hình phát triển mới của đất nước. Năm 1980 Hiến pháp mới được ban hành, bên cạnh việc quy định nội dung mới về đất đai và các tư liệu sản xuất thì cũng ghi nhận về các quyền thừa kế của công dân: Công dân có quyền sở hữu về nhà ở, thu nhập hợp pháp, của cải để dành và có quyền để lại thừa kế những tài sản đó (điều 27). Trên cơ sở quy định của Hiến Pháp và văn bản pháp luật khác ngày 24/7/1981 TANDTC ban hành thông tư số 81 hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế. Ngoài các quy định về nguyên tắc và cách giải quyết các tranh chấp về thừa kế thông tư dành một chương quy định về di sản thừa kế. Theo quy định tại phần thứ hai thì di sản thừa kế gồm: Các tài sản thuộc quyền sở hữu của người để lại thừa kế, các quyền tài sả mà người để lại thừa kế dược hưởng theo quan hệ hợp đồng hoặc bồi thường thiệt hại. Những quyền và nghĩa vụ tài sản gắn liền với nhân thân của người để lại thừa kế không là di sản. Vậy theo thông tư này thì di sản được xác định là tài sản chứ không bao gồm cả nghĩa vụ tài sản. Hơn nữa thông tư cũng ghi nhận: “ Người thừa kế có quyền nhận hay không nhận thừa kế, người nhận thừa kế được hưởng tài sản, các quyền tài sản mà người chết để lại, đồng thời gánh chịu trách nhiệm thi hành các nghĩa vụ về tài sản mà người chết để lại, trong phạm vi giá tri tài sản đã nhận.”. Quyền luôn đi đôi với nghĩa vụ, những người thừa kế cũng vậy nghĩa vụ trả nợ hộ những người đã khuất phát sinh trên quyền nhận thừa kế của họ. Tuy nhiên việc thực hiện những nghĩa vụ này chỉ giới hạn trong phạm vi di sản được hưởng, nếu vượt quá phạm vi này thì không bắt buộc phải thực hiện. Việc thực hiện nghĩa vụ khi vượt quá số di sản được hưởng là không bắt buộc nhưng nếu những người thừa kế vẫn thực hiện nghĩa vụ thì nhà nước khuyến khích.

Năm 1992 Hiến pháp mới được ban hành nhằm đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế- xã hội trong thời kì mới, thời kì của kinh tế thị trường. Cùng với sự ra đời của Hiến Pháp mới Bộ luật dân sự được ban hành năm 1995 quy định một cách thống nhất các quan hệ dân sự. Điều 637 BLDS 1995 quy định về di sản thừa kế: Khóa luận: Pháp luật về phân chia di sản thừa kế.

“1- Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.

2- Quyền sử dụng đất cũng thuộc di sản thừa kế và được để lại thừa kế theo quy định tại Phần thứ năm của Bộ luật này.” Theo đó, di sản thừa kế được xác định bao gồm có tài sản riêng của người chết, phần tài sản riêng trong khối tài sản chung với người khác và xác định quyền sử dụng đất cũng là di sản thừa kế.

Nền kinh tế xã hội không ngừng phát triển và cùng với đó là những biến đổi trong các mối quan hệ dân sự cũng phức tạp hơn. Này 14/6/2005 tại kì họp thứ 7 Quốc hội khóa XI sửa đổi, bổ sung BLDS 1995. Di sản thừa kế cũng có sự thay đổi về cách nhìn nhận về di sản. BLDS 2005 đã bỏ quy định tại khoản 2 điều 637 quy định về quyền sử dụng đất là di sản. Nếu định nghĩa di sản thừa kế là tài sản của người để lại di sản thì tài sản. Vì vậy điều 634 BLDS 2005 đã quy định di sản thừa kế bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác. Đây là một quy định mang tính phù hợp hơn với thực tiễn và lý luận chung về di sản thừa kế. Từ những phân tích trên có thể khái quát về di sản thừa kế như sau: Di sản là tài sản thuộc quyền sở hữu của người đã chết và hoa lợi, lợi tức phát sinh từ di sản, các tài sản và các lợi ích khác do pháp luật quy định. Theo đó, ngoài các tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết, các tài sản khác phát sinh sau khi mở thừa kế đều là di sản. Một trong những cách “để dành” và tích lũy tài sản của người dể lại di sản là mua bảo hiểm tính mạng. Loại bảo hiểm này trở thành di sản của người để lại di sản khi có sự kiện chết phát sinh. Ngoài ra, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ di sản mà người chết để lại như tiền lãi gửi ngân hàng …là di sản.

Còn theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 thì “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.

Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.

Ngoài ra di sản được quy định bao gồm cả các quyền tài sản như: quyền đòi bồi thường thiệt hại, quyền đòi nợ, quyền thừa kế giá trị, quyền sử dụng nhà thuê của nhà nước. Bên cạnh đó, di sản thừa kế không bao gồm nghĩa vụ của người chết. Do vậy, trong trường hợp người có tài sản để lại còn có cả nghĩa vụ về tài sản, thì phần nghĩa vụ này sẽ được thanh toán bằng tài sản của người chết. Phần còn lại sẽ được xác định là di sản thừa kế và được chia theo di chúc hay quy định của pháp luật. Trong trường hợp di sản chưa được chia, thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo đúng thỏa thuận của những người thừa kế.

Trong trường hợp Nhà nước, cơ quan, tổ chức hưởng di sản theo di chúc, thì cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân.

1.1.2. Phân loại di sản  Khóa luận: Pháp luật về phân chia di sản thừa kế.

Di sản là tài sản thuộc sở hữu của người để lại di sản khi còn sống. Tuy nhiên di sản lại không đồng nhất với di sản thừa kế mà bao gồm hai phần đó là phần thực hiện nghĩa vụ (tài sản nợ) và phần di sản thừa kế (tài sản có).

1.1.2.1. Phần di sản được dùng để thực hiện nghĩa vụ của người chết

Nghĩa vụ tài sản chưa được thực hiện hết khi còn sống của người để lại di sản sẽ được tiếp tục thực hiện trên cơ sở di sản dùng để thực hiện nghĩa vụ khi người này chết. Theo thứ tự ưu tiên thanh toán tại Điều 683 BLDS 2005 thì nghĩa vụ tài sản của người chết được chia làm hai loại:

Thứ nhất: Chi phí mai tang cho người chết và những chi phí bảo quản, trông coi di sản…

Thứ hai: Các khoản “nợ” của người chết để lại. Đây là những nghĩa vụ mà khi còn sống người để lại di sản chưa thực hiện hoặc chưa thực hiện hết thì chết. Các nghĩa vụ này phát sinh từ những hành vi nhằm thực hiện nhu cầu của bản thân hoặc do hành vi vi phạm pháp luật như: nghĩa vụ trả nợ, nghĩa vụ bồi thường thiệt, nghĩa vụ cấp dưỡng còn thiếu…

Còn theo quy định tại Bộ luật dân sự 2015 thì Điều 658 về Thứ tự ưu tiên thanh toán đã quy định một cách rất cụ thể và rõ ràng về các nghĩa vụ về tài sản và các khoản chi phí có liên quan đến việc thừa kế được thanh toán theo thứ tự cụ thế như sau:

  1. Chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng.
  2. Tiền cấp dưỡng còn thiếu.
  3. Chi phí cho việc bảo quản di sản.
  4. Tiền trợ cấp cho người sống nương nhờ.
  5. Tiền công lao động.
  6. Tiền bồi thường thiệt hại.
  7. Thuế và các khoản phải nộp khác vào ngân sách nhà nước.
  8. Các khoản nợ khác đối với cá nhân, pháp nhân.
  9. Tiền phạt.
  10. Các chi phí khác.”

Điều này giúp cho những người thực hiện pháp luật có một hình dung rõ ràng về các nghĩa vụ phải thanh toán cũng như thứ tự thực hiện nghĩa vụ và có tác dụng lớn trong đời sống áp dụng pháp luật hiện nay.

1.1.2.2. Di sản thừa kế Khóa luận: Pháp luật về phân chia di sản thừa kế.

Di sản thừa kế là một bộ phận của di sản mà người chết để lại sau khi đã thanh toán toàn bộ nghĩa vụ tài sản và các chi phí khác liên quan đến di sản. Điều này cũng đồng nghĩa với việc nếu di sản mà người chết để lại không đủ hoặc vừa đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản thì không có phần di sản thừa kế và không có việc nhận thừa kế.

Phần di sản thừa kế bao gồm các phần: Phần di tặng, di sản thờ cúng, phần di sản dành cho người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc, di sản chia thừa kế. Tuy nhiên không phải trong trường hợp nào cũng có cả bốn thành phần trên, phần di tặng, di sản thờ cúng, phần di sản dành cho người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc sẽ tuỳ thuộc vào nội dung của di chúc. Nếu trong di chúc không quy định phần di tặng và di sản thờ cúng đồng thời không xuất hiện người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc thì phần di sản thừa kế chính là di sản chia thừa kế.

Phần di sản thừa kế dành cho di tặng: Theo quy định tại điều 646 BLDS 2015 thì: Di tặng là việc người lập di chúc dành một phần dành một phần di sản để tặng cho người khác. Việc di tặng phải được ghi rõ trong di chúc. Người được di tặng là cá nhân phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người được di tặng không phải là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Người được di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với phần được di tặng, trừ trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc thì phần di tặng cũng được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ còn lại của người này. Khoản 2 Điều 646 BLDS năm 2015 đã dự liệu đầy đủ trường hợp chủ thể được di tặng không những là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế, mà còn là người được sinh ra sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di tặng chết. Chủ thể được di tặng không phải là cá nhân thì phải còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Quy định này nhằm tạo điều kiện cho người lập di chúc để lại phần di sản di tặng cho cá nhân, pháp nhân với ý nghĩa để kỷ niệm hoặc hàm ơn, thỏa mãn ý nguyện của người để lại di tặng. Khóa luận: Pháp luật về phân chia di sản thừa kế.

Di tặng là một phần tài sản trong khối di sản của người chết để lại; việc xác định giá trị của di tặng không thể vượt ra ngoài phạm vi giá trị khối di sản của người chết. Trước hết, phải thanh toán các nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại từ khối di sản của người đó và tuân theo thứ tự ưu tiên đã được quy định tại Điều 658 BLDS năm 2015, phần di tặng được trừ từ di sản còn lại đó.

Người được di tặng không phải là người được thừa kế di sản mà được hiểu là người có quyền tài sản từ khối di sản của người để lại di tặng. Như vậy, di tặng chỉ phát sinh từ căn cứ duy nhất – từ di chúc. Thực chất, phần di tặng đã được xác định theo sự định đoạt của người lập di chúc vẫn thuộc về người được di tặng; theo đó, phần di sản sau khi đã trừ đi phần di tặng còn lại là di sản được chia thừa kế. Nhưng trong trường hợp toàn bộ di sản của người chết để lại không đủ để thanh toán nghĩa vụ về tài sản của người di tặng thì phần di tặng khi đó cũng được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ còn lại của người này. Người được di tặng là ai cần phải được đặt ra, vì lợi ích của người được di tặng có sự liên quan trực tiếp đến lợi ích của những người được thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc, theo quy định tại Điều 644 BLDS năm 2015. Nếu người được di tặng là người không thuộc diện thừa kế theo pháp luật thì phần người này được di tặng được khấu trừ để bảo đảm lợi ích của những người được thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc, nếu phần di tặng đó chiếm phần lớn giá trị di sản của người lập di chúc. Phương thức trên cũng được áp dụng đối với người được di tặng khác đồng thời là người thuộc diện thừa kế theo pháp luật của người để lại di tặng. Trong trường hợp người được di tặng đồng thời là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc mà giá trị phần di tặng đó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của những người khác – người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc thì giá trị di tặng do người này được hưởng cũng bị khấu trừ để bảo đảm lợi ích của những người nói trên (Điều 644 BLDS năm 2015).

Trường hợp người lập di chúc đã định đoạt hết tài sản của mình để di tặng thì việc xác định kỷ phần bắt buộc cho những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc được quy định tại Điều 644 BLDS năm 2015, cũng được giải quyết tương tự như trong trường hợp người lập di chúc định đoạt tài sản đối với các trường hợp khác không phải là di tặng. Phần còn lại sau khi đã trừ đi tổng số kỷ phần bắt buộc cho từng người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc là phần di tặng được chuyển giao cho người được di tặng.

Phần tài sản dùng cho việc thờ cúng: Pháp luật không quy định loại tài sản nào được dùng vào việc thờ cúng mà Điều 645 BLDS năm 2015 quy định người lập di chúc có để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng. Như vậy, tài sản theo quy định tại Điều 105 BLDS năm 2015 đều là đối tượng dùng vào việc thờ cúng. Về ngữ nghĩa của hai nhóm từ được dùng trong điều luật và nhóm từ thường dùng trong cuộc sống cần phải được hiểu đúng. Di sản dùng vào việc thờ cúng và di sản dùng để thờ cúng được hiểu rất khác nhau. Khóa luận: Pháp luật về phân chia di sản thừa kế.

Di sản dùng vào việc thờ cúng được hiểu là tài sản được dùng vào mục đích thờ cúng. Tài sản này không nên hiểu theo nghĩa cơ học của chính nó mà phải hiểu bản chất tài sản, có chứa đựng bản chất giá trị tài sản dùng vào việc thờ cúng. Như vậy, di sản dùng vào việc thờ cúng trước hết là tài sản, tài sản này xét về giá trị là để nhằm phục vụ cho mục đích thờ cúng. Loại tài sản dùng vào việc thờ cúng không đồng nhất về cơ cấu hoá, lý, sinh nhưng đồng nhất về mặt tài sản được dùng với mục đích thờ cúng.

Cần phải xác định di sản dùng vào việc thờ cúng được quy định tại Điều 644 BLDS năm 2015 nên được hiểu như thế nào cho phù hợp với bản chất pháp luật quy định về loại di sản này. Phần di sản dùng vào việc thờ cúng được hiểu là phạm vi giá trị di sản đó và di sản đó chỉ được dùng với mục đích duy nhất là dùng vào việc thờ cúng. Quyền định đoạt của người lập di chúc định đoạt mục đích sử dụng của di sản này chỉ bị hạn chế trong hai trường hợp như cách hiểu thứ hai trên đây. Ngoài ra, quyền định đoạt của người lập di chúc định đoạt tài sản dùng vào việc thờ cúng không bị ràng buộc bởi bất kỳ quy định nào khác, trừ trường hợp di sản đó bị tiêu huỷ do có sự biến pháp lý tuyệt đối (bão lụt, động đất, hiện tượng thiên tai khác… và chiến tranh). Với những lập luận này, về di sản dùng vào việc thờ cúng, có thể nhận định: Người lập di chúc có quyền để lại toàn bộ tài sản của mình để dùng vào việc thờ cúng. Quyền của người định đoạt di sản này chỉ bị hạn chế theo quy định tại Điều 644 và khoản 2 Điều 645 BLDS năm 2015.

Phần di sản dành cho người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc: Đây là phần di sản nằm ngoài dự định của người để lại di sản. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc sẽ được hưởng 2/3 suất của một người thừa kế. Quy định này nhằm đảm bảo quyền lợi cho những người quy định tại điều 669 BLDS bao gồm: cha, mẹ, vợ, chồng, con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động. Có thể thấy rằng đây đều là những đối tượng có quan hệ huyết thống và hôn nhân mà khi còn sống thì người để lại di sản phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho họ. Vì vậy họ đáng được hưởng phần di sản mà người chết để lại bất chấp ý chí của người lập di chúc và “ chống lại” những người thừa kế khác.

Phần di sản chia thừa kế: Là phần di sản được dùng để chia cho những người thừa kế của người để lại di sản sau khi đã thực hiện các nghĩa vụ về tài sản, thanh toán các chi phí liên quan, dành phần di sản cho người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc, di tặng và di sản dành cho thờ cúng. Đây là số tài sản trực tiếp chia cho những người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật.

1.2. Khái niệm phân chia di sản thừa kế và hậu quả pháp lý Khóa luận: Pháp luật về phân chia di sản thừa kế.

1.2.1. Khái niệm phân chia di sản thừa kế

Hiện nay trong điều kiện nền kinh tế ngày càng phát triển và tài sản xã hội ngày càng được tích lũy nhiều hơn. Những tài sản này không chỉ đủ để đáp ứng nhu cầu của chính bản thân và gia đình khi họ còn sống mà còn có của cải “ để dành” cho con cái khi họ chết. Tuy nhiên không phải tất cả các vụ việc thừa kế đều được giải quyết đơn giản mà còn nhiều vụ việc mang tính chất phức tạp liên quan đến việc phân chia tài sản thừa kế. Xét đến cùng thì mục đích của các tranh chấp thừa kế hướng đến là phân chia tài sản thừa kế một cách hợp lý, dung hòa được lợi ích của những người thừa kế và quan trọng hơn hết là đúng pháp luật.

Trong quan hệ thừa kế không phải lúc nào cũng phát sinh việc phân chia di sản thừa kế. Việc phân chia di sản thừa kế chỉ đặt ra khi có từ hai người có quyền thừa kế trở lên. Bởi lẽ nếu chỉ có một người thừa kế thì toàn bộ di sản chia thừa kế sẽ thuộc về họ và cũng chính là người thực hiện các nghĩa vụ tài sản.

Từ những phân tích ở trên có thể thấy phân chia di sản thừa kế là tập hợp các hoạt động pháp lý nhằm xác lập quyền sở hữu của người được hưởng thừa kế đối với di sản thừa kế trong khối di sản chung sau khi đã thực hiện nghĩa vụ tài sản từ khối di sản đó.

1.2.2. Hậu quả pháp lý phân chia di sản thừa kế

Quan hệ thừa kế là quan hệ trải qua nhiều giai đoạn. Nếu như việc xác định di sản thừa kế là bước đầu tiên để thực hiện nội dung của quan hệ thừa kế thì phân chia di sản thừa kế là giai đoạn cuối cùng và thể hiện kết quả của quan hệ thừa kế trong việc xác định và thỏa thuận giữa những người thừa kế. Khi những người thừa kế cùng nhau thỏa thuận hoặc tòa án xác định được tỉ lệ phân chia di sản thì quá trình phân chia di sản sẽ bắt đầu.

Việc phân chia di sản thừa kế làm phát sinh nhiều quan hệ dân sự mới. Tài sản thừa kế sẽ được dịch chuyển từ người để lại di sản thừa kế cho người thừa kế, phát sinh quyền sở hữu tài sản của người thừa kế. Những người thừa kế sau khi nhận phần tài sản thừa kế của mình có quyền sở hữu đối với những tài sản đó. Theo khái niệm phân chia di sản thừa kế thì sau khi phân chia di sản thừa kế sẽ chấm dứt tình trạng nhiều người được quyền thừa kế nhiều hoặc một tài sản. Khi chưa chia di sản thì sự sở hữu của những người thừa kế vẫn chưa rõ ràng vì vậy họ chưa có quyền sở hữu hoàn toàn đối với những tài sản thừa kế đó. Đặc biệt là trong trường hợp di sản để lại là một tài sản duy nhất thì những người thừa kế hoàn toàn khó có thể xác định được phần thừa kế của mình và quyền sở hữu của mình đối với tài sản thừa kế. Khi đã có quyền sở hữu tài sản thừa kế những người thừa kế hoàn toàn có thể thực hiện các quyền sở hữu tài sản thừa kế (chiếm hữu, sử dụng, định đoạt) đối với tài sản thừa kế mà không cần thông qua ý kiến của những người thừa kế khác.

1.3. Các căn cứ phân chia di sản thừa kế Khóa luận: Pháp luật về phân chia di sản thừa kế.

1.3.1. Phân chia di sản thừa kế theo sự thỏa thuận của tất cả những người thừa kế

Việc phân chia thừa kế suy cho cùng là để đáp ứng được quyền lợi của những người thừa kế. Tuy nhiên việc phân chia di sản thừa kế tại tòa án hoặc các cơ quan khác thì gặp không ít khó khăn về mặt thủ tục và thời gian. Vì vậy nếu những người thừa kế đều có thiện chí muốn tự thỏa thuận phân chia di sản thừa kế thì thỏa thuận phân chia thừa kế là một giải pháp thích hợp nhất trong trường hợp này. Hơn nữa việc thỏa thuận phân chia tài sản thừa kế vừa giữ được tình đoàn kết, tránh gây sứt mẻ tình cảm gia đình vừa thỏa mãn được nguyện vọng của mình đối với việc chia tài sản thừa kế. Pháp luật dân sự tôn trọng quyền tự định đoạt thỏa thuận này. Khi những người thừa kế đã đạt được sự thỏa thuận thống nhất về cách chia, phương thức chia thì đây sẽ là căn cứ để chia di sản thừa kế.

Theo quy định tại khoản 2 điều 656 BLDS 2015 thì “Mọi thỏa thuận của những người thừa kế phải được lập thành văn bản” và Khoản 1 điều 57  Luật Công chứng  2014 quy định “ Những người thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc mà trong di chúc không xác định rõ phần di sản được hưởng của từng người thì họ có quyền yêu cầu công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản”.

Tuy nhiên về mặt hình thức của thỏa thuận thì có sự khác nhau giữa các loại di sản tùy thuộc vào quy định luật điều chỉnh. Hiện nay pháp luật không có quy định về nghĩa vụ phải công chứng, chứng thực thỏa thuận này của những người thừa kế. Hình thức của thỏa thuận này cần căn cứ vào quy định cụ thể của từng loại tài sản mà người chết để lại.

Bản chất của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế giống với một hợp đồng dân sự bình thường. Vì vậy những người thừa kế có thể thỏa thuận bằng hình thức bằng miệng hoặc bằng văn bản. Trong trường hợp tài sản phân chia thừa kế là động sản thì việc phân chia mang tính chất đơn giản hơn so với bất động sản vì vậy trong trường hợp này có thể áp dụng hình thức bằng miệng. Hơn nữa pháp luật cũng không quy định hình thức văn bản có công chứng, chứng thực là hình thức bắt buộc vì vậy nếu như tài sản phân chia là động sản thì có thể lập thỏa thuận miệng.

Đối với tài sản phân chia là bất động sản thì tính chất tài sản phức tạp hơn vì đối tượng phân chia ở đây không phải là đất đai mà là phân chia quyền sử dụng đất. Quyền sử dụng đất là một quyền dân sự mang tình chất đặc thù, được pháp luật quy định một cách riêng biệt, khác hẳn so với các quyền tài sản khác. Việc phân chia di sản là quyền sử dụng đất phải công chứng hoặc chứng thực. Đây là căn cứ để những người thừa kế đăng ký quyền sử dụng đất. Từ những quy định này thì trường hợp thỏa thuận phân chia di sản thừa kế sẽ xảy ra khi: thừa kế theo pháp luật hoặc thừa kế theo di chúc mà trong di chúc không xác định rõ phần di sản được hưởng của từng người. Vì vậy những người thưa kế sẽ thỏa thuận về cách phân chia theo tỉ lệ hoặc phân chia theo hiện vật…..

1.3.2 .Phân chia di sản thừa kế theo pháp luật Khóa luận: Pháp luật về phân chia di sản thừa kế.

Nguyên tắc phân chia

Trong bất cứ một nghành luật nào cũng cần có những tư tưởng, định hướng xuyên suốt ngày luật đó và tạo thành một hệ thống các nguyên tắc. Các nguyên tắc này giúp cho các quy định được thực hiện một cách nhất quán, xuyên suốt trong toàn bộ tư tưởng của các điều luật. Tuy nhiên trong cái chung thì tồn tại trong mỗi sự vật sự việc đều tồn tại những cái riêng của mình.

Ưu tiên chia và chia hết cho những người ở hàng thừa kế trước: Người có quyền thừa kế tài sản của người chết dựa trên các cơ sở về huyết thống, thân thích gần gũi. Tuy nhiên nếu liệt kê tất cả những người này để cùng chia tài sản thì rất nhiều và khó có thể đảm bảo được tính công bằng trong pháp luật. Bởi vì thế mà Khoản 3 điều 651 BLDS 2015 đã quy định các hàng thừa kế theo mức độ gần gũi của những người này đối với người để lại di sản. cũng theo khoản 3 của điều này thì : “ Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản”.

Mỗi người khi còn sống luôn cố gắng vun đắp và tích lũy cho tài sản của gia đình mình, Vì vậy khi chết đi thì mong mỏi lớn nhất của người chết là dùng khối tài sản mà mình để lại để lo cho những người mà mình thương yêu  và gần gũi nhất đó là con, cháu, cha, mẹ. Những người thân thích khác như: Cô, dì, chú, bác, anh, chị, em… tuy cũng có huyết thống và tình cảm gần gũi nhưng đến khi lập gia đình riêng cho mình thì mỗi người có một cuộc sống riêng và quan tâm đến trước nhất chính là gia đình nhỏ của mình. Vì vậy việc phân chia ra các hàng thừa kế và ưu tiên chia cho hàng thứ nhất là rất hợp lý và đúng với ý nguyện của người để lại di sản.

Chia đều bằng nhau cho những người thừa kế cùng hàng: Đây là một nguyên tắc mang tính kế thừa của Hiến Pháp cũng như các bộ Luật Dân sự. Các chủ thể trong quan hệ dân sự có sự bình đẳng trong việc xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ. Trong quan hệ thừa kế đặc biệt là trong phân chia di sản thừa kế thì bình đẳng là một trong các nguyên tắc quan trọng và có ý nghĩa rất lớn. Bởi lẽ cùng một hàng thừa kế thì mỗi người đều có một địa vị pháp lý ngang nhau và đòi hỏi phần di sản được chia cũng phải ngang bằng nhau, không được phân biệt bởi bất kì yếu tố nào về mặt nhân thân hay tuổi tác. Khoản 2 điều 651 BLDS 2015 quy định “những người cùng thược hàng thừa kế thì được hưởng phần di sản như nhau”. Quy định tại hàng thừa kế thừa nhất bao gồm có cha, mẹ, vợ, chồng, con của người để lại di sản. Trong cùng một hàng này tuy có sự khác nhau về tuổi tác, vị trí trong gia đình, huyết thống nhưng khi chia di sản thừa kế những người này phải được chia một cách bình đẳng và bằng nhau.

Xác định di sản thừa kế theo pháp luật Khóa luận: Pháp luật về phân chia di sản thừa kế.

Di sản thừa kế được xác định trong hai trường hợp là chia thừa kế theo pháp luật và chia thừa kế theo di chúc là không giống nhau. Chia thừa kế theo di chúc thì pháp luật dự trù các trường hợp có thể quy định trong di chúc còn di sản thừa kế theo pháp luật được xác định ít phức tạp hơn. Theo quy định hiện hành thì phần di sản được phân chia cho những người thừa kế được tính như sau:

Di sản phân chia = Tổng khối di sản – (Nghĩa vụ tài sản người chết để lại + Các chi phí khác).

Khi thanh toán các nghĩa vụ tài sản thì có thể xảy ra ba trường hợp sau:

Trường hợp thứ nhất: Tổng khối di sản của người chết để lại lớn hơn tổng của nghĩa vụ tài sản và các chi phí khác. Lúc này tài sản còn lại sẽ được chia thừa kế theo pháp luật cho những người thừa kế.

Trường hợp thứ hai: Tổng khối di sản của người chết để lại bằng với tổng các nghĩa vụ và chi phí khác. Lúc này không xảy ra sự kiện phân chia di sản thừa kế di sản thừa kế chỉ đủ để thanh toán các khoản nợ và không có di sản để chia thừa kế.

Trường hợp thứ ba: Tổng khối di sản mà người chết để lại nhỏ hơn tổng các nghĩa vụ người đó để lại. Lúc này cũng không có sự kiện phân chia di sản thừa kế xảy ra.

Trong công thức trên thì nghĩa vụ mà người chết để lại ở đây là tất cả các nghĩa vụ về tài sản (nợ) phát sinh khi người đó còn sống mà chưa được thực hiện hoặc đang thực hiện. Những chủ thể có quyền đều có thể yêu cầu thanh toán, tuy nhiên nếu xảy ra trường hợp thứ ba thì sẽ có những nghĩa vụ tài sản của những chủ thể này không được thanh toán. Pháp luật căn cứ vào lợi ích của các chủ thể, mức độ cần thiết đối với tài sản của người được thanh toán quy định thứ tự ưu tiên thanh toán (điều 658 BLDS 2015).

Nếu người để lại di sản thừa kế đồng thời để lại nghĩa vụ về tài sản mà sản lại được phân chia ngay thời điểm mở thừa kế thì những người được hưởng thừa kế phải cùng nhau thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi di sản mình được hưởng.

Các chi phí khác được nhắc đến trong công thức trên là tiền mai táng cho người chết, tiền trả thù lao cho người quản lý di sản, các chi phí để quản lý, bảo quản di sản thừa kế…Tất cả những chi phí này không được coi là nghĩa vụ tài sản do người chết để lại. Khóa luận: Pháp luật về phân chia di sản thừa kế.

Căn cứ phân chia 

Nếu như căn cứ phân chia theo thỏa thuận phân chia của những người thừa kế là sự thỏa thuận của họ thì phân chia di sản theo pháp luật căn cứ vào các quy định của pháp luật. Pháp luật quy định các trường hợp phân chia, cách thức phân chia, hàng thừa kế, trình tự phân chia di sản theo pháp luật.

Quan hệ thừa kế theo quy định của pháp luật được quy định dựa trên các quan hệ về huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng, quan hệ hôn nhân với người để lại di sản. Căn cứ phân chia thừa kế cũng là sự khác nhau cơ bản giữa phân chia di sản theo di chúc và theo pháp luật. Di sản thừa kế là tài sản thuộc sở hữu của người để lại di sản vì vậy phân chia di sản thừa kế chỉ xảy ra khi: người để lại di sản không lập di chúc hoặc có lập di chúc nhưng di chúc không có hiệu lực, người thừa kế từ chối không nhận di sản… Tuy nhiên không phải lúc nào có di chúc thì chỉ chia theo di chúc, nếu trong trường hợp di chúc chỉ quy định một phần di sản thì số di sản còn lại sẽ được chia theo pháp luật, việc có chia di sản thừa kế theo pháp luật hay theo di chúc còn phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể, có thể đồng thời áp dụng cả chia theo pháp luật và chia theo di chúc trong cùng một vụ việc cụ thể. Điều này thể hiện được rõ sự linh hoạt trong việc áp dụng pháp luật vừa thể hiện được ý chí của người để lại di sản, vừa chia di sản một cách hợp lý nhất.

1.3.3. Phân chia di sản thừa kế theo di chúc

Nguyên tắc phân chia di sản theo di chúc         

Không phải chỉ có phân chia theo pháp luật thì mới có các nguyên tắc mà cả khi phân chia theo di chúc thì việc phân chia di sản cũng cần có những nguyên tắc nhất định. Những nguyên tắc này đảm bảo cho pháp luật được áp dụng thống nhất và đảm bảo được quyền để lại di sản của người đã chết và quyền hưởng di sản của những người sống.

Nguyên tắc đầu tiên và quan trọng nhất đối với phân chia di sản theo di chúc là tôn trọng ý chí của người lập di chúc. Di chúc hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ chính là bảo vệ quyền sự định đoạt của người để lại di sản đối với những tài sản mà họ sở hữu. Nếu di chúc hợp pháp thì việc phân chia di sản sẽ được chia theo ý chí của người lập di chúc. Bởi lẽ nếu họ là người tạo ra những tài sản nào đó thì họ hoàn toàn có thể quyết định tài sản đó dùng để làm gì và cho ai. Nếu như chết là sự kiện pháp lý chấm dứt năng lực pháp luật của chủ thể thì việc để lại di chúc khi đang sống và được pháp luật công nhận là việc mà pháp luật “ bảo lưu” quyền định đoạt tài sản sau khi người đó chết đi.

Nguyên tắc tài sản thừa kế có thể bị cắt giảm nếu xuất hiện những người thừa: Khi định đoạt tài sản của mình thì người để lại di sản có thể phân chia theo một tỉ lệ bất kì và cho một cá nhân, tổ chức bất kì nào đó hoặc cũng có thể đồng thời truất luôn quyền hưởng thừa kế của một người thừa kế nào đó. Khóa luận: Pháp luật về phân chia di sản thừa kế.

Pháp luật hoàn toàn tôn trọng ý nguyện của người để lại di sản tuy nhiên pháp luật cũng cần phải bảo vệ những người yếu thế. Điều 644 của BLDS 2015 quy định các đối tượng được hưởng di sản thừa kế không phụ thuộc vào di chúc.

Cũng cần nhấn mạnh rằng việc quy định ở đây không phải là việc pháp luật không tôn trọng ý chí của người đã chết mà pháp luật đang giúp họ thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng đối với những người đang còn sống.

Căn cứ phân chia

Căn cứ để phân chia di sản thừa kế là di chúc mà người để lại di sản lập và được pháp luật công nhận. Khi xác lập quyền sở hữu của cá nhân đối với một tài sản bất kì thì một trong các nội dung cơ bản của quyền sở hữu là định đoạt tài sản. Di chúc là căn cứ mang tính rõ ràng và thể hiện được ý chí của người để lại di sản. Pháp luật bảo đảm quyền định đoạt tài sản này của người để lại di chúc cũng như việc thực hiện di chúc sau này. Nếu như chia di sản thừa kế theo pháp luật hoặc chia di sản theo thỏa thuận thì dễ dẫn đến xảy ra tranh chấp vì người thừa kế nào cũng muốn mình sẽ được chia nhiều hơn. Tuy nhiên nếu có di chúc thì việc “hưởng” thừa kế sẽ mang tính mặc định rõ ràng hơn, ý chí của người để lại di sản được thể hiện rõ hơn và vì thế việc phân chia di sản sẽ thuận lợi hơn rất nhiều. Người để lại di chúc chỉ có thể là cá nhân nhưng chủ thể hưởng thừa kế có thể là cá nhân, tổ chức hoặc nhà nước mà không phân hàng thừa kế, không phải xác định mối quan hệ giữa người để lại di chúc và người thừa kế. Di sản phân chia như thế nào, ai được hưởng bao nhiêu đều phụ thuộc vào ý chí riêng của người lập di chúc. Khác với chia theo pháp luật là chia đều và ưu tiên trước tiên cho hàng thừa kế thứa nhất thì phân chia thừa kế theo di chúc sẽ căn cứ vào số tài sản được chia trong di chúc, có người sẽ được nhiều nhưng cũng sẽ có người được ít, thậm chí là có người bị truất quyền hưởng di sản thừa kế. Điều này hoàn toàn phù hợp bởi khi họ tạo ra tài sản riêng của mình, xác định được quyền của chủ sở hữu, để lại tài sản đó cho người nào, để lại bao nhiêu họ phải là người quyết định. Nhà nước chỉ can thiệp khi người này không để lại di chúc (di chúc hợp pháp), nhà nước không quy định cụ thể phạm vi những người thừa kế, phạm vi tài sản chia thừa kế của mỗi người thừa kế, điều này phụ thuộc vào ý chí của người để lại di chúc. Di chúc được gọi là hợp pháp nếu như đáp ứng được các yêu cầu của pháp luật được quy định tại điều 630 BLDS 2015 bao gồm: người lập di chúc phải có năng lực chủ thể, người lập di chúc phải tự nguyện, nội dung của di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội, hình thức của di chúc phải phù hợp với quy định của pháp luật. Sau khi mở thừa kế, người được chỉ định trong di chúc có quyền yêu cầu chia di sản theo di chúc đã định đoạt, người được hưởng di sản theo di chúc được gọi là người thừa kế theo di chúc, đây là trường hợp thừa kế theo di chúc đơn giản. Trường hợp di chúc định đoạt một phần di sản làm di sản thờ cúng hoặc trong di chúc không chỉ định cho người thừa kế bắt buộc thì đây là trường hợp thừa kế theo di chúc phức tạp hơn.

Xác định di sản thừa kế

Di sản trong trường hợp có để lại di chúc còn những điểm khác biệt so với di sản trong trường hợp phân chia theo pháp luật. Ngoài nghĩa vụ tài sản thì người lập di chúc có thể tự quyết định thêm các khoản khác trong di chúc tùy thuộc vào ý chí của họ. Công thực tính di sản thừa kế để phân chia được xác định: Khóa luận: Pháp luật về phân chia di sản thừa kế.

Di sản phân chia thừa kế = Tổng khối di sản- (Thanh toán nghĩa vụ + di tặng+di sản dùng vào việc thờ cúng+ hưởng di sản)

Cũng như công thức xác định di sản thừa kế theo pháp luật thì tổng khối tài sản và nghĩa vụ thanh toán là hai phần mang tính chất cố định. Đối với thừa kế theo di chúc thì người để lại di sản theo ý chí của bản thân mình có thể ngoài phần di sản cho những người thừa kế thì có thể có thêm phần di sản dùng để di tặng và thờ cúng. Hơn nữa nếu có sự xuất hiện của các chủ thể được quy định tại Điều 644 BLDS năm 2015 thì công thức trên sẽ là công thức đầy đủ cho trường hợp này. Nhưng không phải trường hợp nào cũng đủ các yếu tố có trong công thức. Có trường hợp có một trong ba yếu tố là di tặng, thờ cúng, người thừa kế theo Điều 644 nhưng cũng có trường hợp cả ba đều không có.

Di tặng bản chất giống với hợp đồng tặng cho theo ý chí đơn phương của người đã chết. Chính vì yếu tố đơn phương trong ý chí của chủ thể tặng vì vậy chủ thể được di tặng có thể nhận di sản di tặng hoặc từ chối nhận di sản này.

Cùng là người hưởng di sản nhưng khác với những người thừa kế thì người nhận di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản với phần di tặng trừ trường hợp toàn bộ tài sản của người để lại di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ. Khi di tặng là vật đặc định mà không còn tồn tại do việc rủi ro cho đến khi người được hưởng di tặng biết được quyền của mình thì họ không được quyền đòi chia tỉ lệ phần di tặng từ những người thừa kế.

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là nét văn hóa lâu đời của người dân Việt Nam để tổ lòng biết ơn sinh thành và dưỡng dục của ông bà tổ tiên. Khi đang còn sống thì mỗi người đều tôn trọng và thực hiện một tín ngưỡng tốt đẹp này và khi đã “gần đất xa trời” thì không ít người sẽ nghĩ đến việc thờ cúng của mình sau này. Dẫu biết rằng việc thờ cúng tổ tiên là việc mà con cháu cần phải làm để báo đáp công ơn của cha mẹ, ông bà nhưng không phải ai cũng có điều kiện để để thực hiện và cũng không ít người không coi trọng việc thờ cúng này, chính vì vậy việc để lại một phần di sản dùng để thờ cúng là một việc làm thể hiện trách nhiệm của người để lại di sản đối với chính bản thân mình. Đây cũng là một quy định mang tính kế thừa, từ Quốc triều hình luật, Hoàng Việt luật lệ cho đến các Bộ Luật Dân sự Bắc kì, Dân sự Trung kì. Điều 388 Quốc triều hình luật quy định về việc lập di sản thờ cúng trong trường hợp không để lại di chúc là 1/20 toàn bộ giá trị điền sản làm hương hỏa. Bộ Dân luật Bắc kì và Dân luật Trung kì quy định: “ Phần gia tài lập thành hương hỏa trong mọi trường hợp, dù là số thừa kế bao nhiêu nữa cũng không thể quá 1/5 giá trị của cải của người lập hương hỏa”. Đồng thời quy định về di sản thờ cúng là việc quy định về giới hạn di sản dùng trong việc thờ cúng, số di sản dùng trong việc thờ cúng chỉ ở một mức độ nhất định không được lợi dụng quy định của pháp luật để trốn tránh việc thực hiện các khoản nghĩa vụ nợ. Khóa luận: Pháp luật về phân chia di sản thừa kế.

Theo nguyên tắc chung của luật dân sự, người lập di chúc có quyền quyết định tối cao đối với tài sản của mình. Tuy nhiên trong một số trường hợp pháp luật hạn chế quyền định đoạt của người lập di chúc nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của một số người nằm trong diện thừa kế có quan hệ hôn nhân, huyết thống như: vợ, chồng, bố, mẹ…

KẾT LUẬN CHƯƠNG I

Qúa trình phát triển của thừa kế gắn liền với sự phát triển của lịch sử loài người. Dù ở thời kỳ nào, dưới chế độ xã hội nào, chế định thừa kế cũng luôn đống vai trò quan trọng, tựa như một bức tranh sinh động phàn ánh các quan hệ xã hội, quan hệ tài sản qua từng giai đoạn phát triển, Ở chương mở đầu này, xuất phát từ việc tham khảo giải nghĩa các cuốn từ điển cũng như quy định của pháp luật hiện hành, tác giải đã xây dựng và đưa ra khai niệm về thừa kế theo pháp luật và chỉ ra các trường hợp hưởng thừa kế theo pháp luật. Qua sự phân tích ở chương I đã làm rõ được các vấn đề lý luận chung về di sản, di sản thừa kế, các trường hợp phân chia di sản thừa kế. Mang đến một cái nhìn chung nhất về các vấn đề này trên cơ sở đó tìm hiểu rõ hơn các quy định của pháp luật về phân chia di sản thừa kế – Vấn đề trọng tâm nhất của khoá luận tốt nghiệp. Khóa luận: Pháp luật về phân chia di sản thừa kế.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Pháp luật hiện hành về phân chia di sản thừa kế

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x