Khóa luận: Pháp luật hiện hành về phân chia di sản thừa kế

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Pháp luật hiện hành về phân chia di sản thừa kế hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Quy định của pháp luật hiện hành về phân chia di sản thừa kế dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

2.1. Phân chia di sản thừa kế theo di chúc

Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển dịch tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Theo quy định này thì di chúc phải có các yếu tố sau:đó là sự thể hiện ý chí của cá nhân mà không phải là của bất cứ chủ thể nào khác; mục đích của việc lập di chúc là chuyển tài sản là di sản của mình cho người khác;chỉ có hiệu lực sau khi người đó chết.

Di chúc là hành vi pháp lý đơn phương của người lập di chúc, do đó di chúc phải tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự nói chung và điều kiện có hiệu lực của di chúc nói riêng.. Vì vậy, một người muốn định đoạt tài sản của mình bằng di chúc cần phải tuân theo các quy định của pháp luật về thừa kế theo di chúc. Bên cạnh đó, việc phân chia di sản thừa kế trong trường hợp có di chúc phải tuân theo nguyên tắc tôn trọng ý chí của người để lại di chúc. Tuy nhiên bên cạnh sự tôn trọng ý chí của người để lại di chúc thì pháp luật cũng có những quy định nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích của các chủ thể có liên quan khác như chủ thể mang quyền trong việc thanh toán nghĩa vụ nợ của người để lại di sản thừa kế, các chủ thể có quyền hưởng di sản thừa kế mà không phụ thuộc vào nội dung của di chúc …như quy định tại Điều 659 và Điều 644 của Bộ luật Dân sự năm 2015

2.1.1. Phân chia di sản thừa kế theo di chúc trong trường hợp đã thanh toán các nghĩa vụ

Trong trường hợp các nghĩa vụ đã được thanh toán trước khi chia di sản thừa kế cho những người thừa kế thì áp dụng các quy định tại Điều 659 Bộ luật Dân sự năm 2015 về phân chia di sản thừa kế theo di chúc như sau:

  1. Việc phân chia di sản được thực hiện theo ý chí của người để lại di chúc, nếu di chúc không xác định rõ phần của từng người thì kế thì di sản được chia đều cho những người được chỉ định trong di chúc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
  2. Trong trường hợp di chúc xác định phân chia di sản theo hiện vật thì người thừa kế được nhận hiện vật kèm theo hoa lợi, lợi tức thu được từ hiện vật đó hoặc phải chịu phần giá trị của hiện vật bị giảm sút tính đến thời điểm phân chia di sản; nếu hiện vật bị tiêu hủy do lỗi của người khác thì người thừa kế có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.
  3. Trong trường hợp di chúc chỉ xác định phân chia di sản theo tỷ lệ đối với tổng giá trị khối di sản, thì tỉ lệ này được tính trên giá trị khối di sản đang còn vào thời điểm phân chia di sản.”

Như vậy, Điều 659 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã dự liệu ba trường hợp có thể xảy ra khi chia di sản thừa kế theo di chúc:

Trường hợp thứ nhất: Nếu di chúc chỉ xác định người thừa kế mà không xác định rõ phần thừa kế thì chia đều cho những người thừa kế hoặc chia theo thỏa thuận của những người thừa kế. Khóa luận: Pháp luật hiện hành về phân chia di sản thừa kế.

Nhìn chung trường hợp này có những điểm giống như trường hợp chia di sản thừa kế theo pháp luật. Điểm giống nhau ở đây là những người thừa kế đều được chia đều hoặc có thể thỏa thuận nội dung chia di sản thừa kế. Tuy nhiên điểm khác là những người được hưởng di sản không phải do pháp luật quy định mà theo ý chí của người lập di chúc quyết định. Quy định tại Điều 659 Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng đặt ra hai cách chia trong trường hợp người để lại di chúc không xác định rõ phần di chúc đó là chia đều hoặc chia theo thỏa thuận của những người thừa kế. Theo cách hiểu tại Khoản 1 Điều 659 Bộ luật Dân sự năm 2015 cần hiểu là chia theo thỏa thuận sẽ được ưu tiên áp dụng (trừ trường hợp có thỏa thuận khác). Bởi lẽ, về bản chất thì quan hệ thừa kế cũng là một quan hệ của pháp luật dân sự và nguyên tắc tự do thỏa thuận của các chủ thể cũng cần được tôn trọng. Nếu những người thừa kế đã đạt được một sự thỏa thuận trong việc phân chia di sản thừa kế thì cần tôn trọng thỏa thuận này, nếu như không đạt được thỏa thuận thì mới chia đều cho những người thừa kế. Việc phân chia di sản thừa kế mục đích cuối cùng là đảm bảo được quyền lợi của những người hưởng thừa kế. Vì vậy việc chia di sản thừa kế theo thỏa thuận của họ thể hiện được sự thỏa mãn ý chí về quyền lợi của chính bản thân mình.: Ông A để lại số tài sản thừa kế là 1 tỷ đồng, sau khi đã thanh toán Ví dụ toàn bộ số nghĩa vụ nợ là 200 triệu đồng thì số tài sản còn lại chia thừa kế là 800 triệu đồng. Trong di chúc ông không nêu rõ phần hưởng di sản mà chỉ định quyền hưởng thừa kế cho vợ là bà B và hai con là C, D. Bà B đã cùng C và D thỏa thuận nội dung chia di sản thừa kế mà ông A để lại. Theo như thỏa thuận thì bà B sẽ được hưởng 400 triệu và C, D mỗi người hưởng 200 triệu đồng. Khác với việc chia đều của theo quy định của pháp luật thì những người hưởng thừa kế tự chia phần di sản thừa kế với nhau. Nếu như tự thỏa thuận được với nhau thì tình cảm giữa những người hưởng thừa kế cũng được đảm bảo đồng thời cũng đảm bảo được chính quyền lợi của họ.

Trong trường hợp chỉ có một người được chỉ định hưởng di sản thừa kế thì sau khi đã trích phần thừa kế cho những người quy định tại Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì phần di sản còn lại sẽ thuộc về người có tên trong di chúc. Nếu người duy nhất được chỉ định hưởng di sản thừa kế mà từ chối quyền hưởng thừa kế thì di sản sẽ được chia theo pháp luật.

Trường hợp thứ hai: Chia di sản theo hiện vật, khác với quy định tại khoản 1 thì quy định tại Khoản 2 Điều 659 Bộ luật Dân sự năm 2015 người để lại di chúc không chỉ xác định người hưởng di sản thừa kế mà còn phân định cụ thể về hiện vật thừa kế cho từng người thừa kế. Những hiện vật nào được xác định cụ thể cho những người thừa kế nào thì tại thời điểm phân chia di sản thừa kế họ sẽ được nhận đúng tình trạng thực tế của hiện vật đó. Điều này đồng nghĩa với việc nếu như hiện vật đó có phát sinh hoa lợi, lợi tức thì người hưởng thừa kế bằng hiện vật sẽ được hưởng luôn hoa lợi, lợi tức này và ngược lại nếu vật đó bị giảm sút giá trị hoặc bị tiêu hủy thì người này cũng phải chịu thiệt thòi. Tuy nhiên nếu vật đó bị tiêu hủy do lỗi của người khác thì người nhận hiện vật có quyền yêu cầu người có lỗi làm cho hiện vật đó bị tiêu hủy bối thường thiệt hại cho mình. Ví dụ: Bà A chết để lại tài sản bao gồm có căn nhà và một lô đất trồng cao su rộng 10 ha. Bà để lại di chúc phân chia di sản thừa kế cho hai người con là B và C. Trong di chúc xác định rõ B được hưởng căn nhà và C được hưởng lô đất trồng cao su. Vào thời điểm phân chia di sản thừa kế trùng với vụ thu hoạch mủ cao su. Lúc này, hiện vật mà C được hưởng toàn bộ số hoa lợi phát sinh (tiền bán mủ cao su). Khóa luận: Pháp luật hiện hành về phân chia di sản thừa kế.

Trường hợp thứ ba: Di sản được chia theo tỷ lệ xác định trong di chúc.

Người lập di chúc có thể phân chia di sản thừa kế bằng cách ấn định các tỷ lệ của những người thừa kế trên tổng giá trị khối di sản. Các tỷ lệ (1/2,1/3,1/4…) có thể ấn định cho tất cả những người thừa kế hoặc từng người thừa kế sẽ có những tỷ lệ khác nhau phụ thuộc vào ý chí của người để lại di sản thừa kế. Khi phân chia di sản thừa kế sẽ phân chia theo đúng tỷ lệ đã định trong di chúc trên tổng giá trị tài sản được xác định tại thời điểm phân chia di sản thừa kế. Tuy nhiên nếu có phần di sản không còn vào thời điểm phân chia di sản thừa kế do người thừa kế được hưởng đã sử dụng hết hoặc đã định đoạt thì vẫn tính vào tổng di sản vào thời điểm phân chia và người thừa kế nào đã sử dụng hết hoặc đã định đoạt thì khấu trừ vào phần di sản mà họ được nhận.

Ví dụ: Ông A chết để lại di sản là một căn nhà trị giá 200 triệu và số tiền mặt trị giá 600 triệu đồng. Di chúc ông A để lại xác định bà B được hưởng 1/2 số di sản, D và C mỗi người được hưởng 1/4 số di sản. Tuy nhiên bà B đã sử dụng hết số tiền mặt là 100 triệu đồng cho việc cá nhân. Khi phân chia di sản thừa kế số tiền 100 mà bà B đã sử dụng vẫn được tính vào tổng số di sản chia thừa kế. Theo đó số tài sản bà B được nhận là ½*(200 + 600) – 100 = 300 triệu đồng, C = D = ¼*(200 + 600) = 200 triệu đồng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

2.1.2. Phân chia di sản thừa kế theo tỷ lệ và các nghĩa vụ 

Theo nguyên tắc chung của việc chia di sản thừa kế dù là theo pháp luật hay theo di chúc thì trước khi chia thừa kế cần phải xác định nghĩa vụ thanh toán cho những chi phí hợp lý và các nghĩa vụ tài sản (Điều 658 BLDS năm 2015). Tuy nhiên không phải được xác định cho những người thừa kế là đồng nghĩa với việc nghĩa vụ thừa kế là di sản thừa kế. Những nghĩa vụ mà người chết để lại có thể được phát sinh từ các loại hợp đồng như: hợp đồng cho vay tài sản, hợp đồng mua bán tài sản (trong trường hợp mua nhưng chưa trả hết), … nghĩa vụ đối với nhà nước như thuế hay là xuất phát từ các hành vi vi phạm pháp luật của người đã chết… Việc thanh toán nghĩa vụ có thể được thực hiện bằng hai cách vào hai thời điểm đó là: thứ nhất là thanh toán các nghĩa vụ này trước khi chia di sản thừa kế, sau khi trừ hết các nghĩa vụ tài sản thì phần còn lại sẽ chia cho những người thừa kế hoặc cách thứ hai là chia luôn di sản thừa kế cho những người thừa kế và xác định nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ trên cơ sở tỷ lệ chia di sản.

Trường hợp khi di chúc không quy định rõ việc thực hiện nghĩa vụ. Khi di chúc không có quy định rõ ai là người thực hiện nghĩa vụ và tỷ lệ thực hiện nghĩa vụ là bao nhiêu thì lúc này việc thực hiện nghĩa vụ được xác định dựa trên số tài sản mà từng người thừa kế được hưởng. Ai được hưởng bao nhiêu phần thì sẽ thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi tài sản được hưởng thừa kế. Ví dụ: Ông A lập di chúc để lại khối tài tài sản là 200 triệu đồng. Trong di chúc ông chỉ ghi là chia đều cho bốn người con là: B, C, D, E. Lúc này nếu chia theo như di chúc ông để lại thì B=C=D=E= 50 triệu đồng. Tuy nhiên ông A khi chết vẫn còn số nợ là 80 triệu đồng. Hơn nữa trong di chúc ông không chỉ định ai sẽ là người trả số nợ này cho mình. Nếu sau khi chia di sản mà chưa thanh toán nghĩa vụ nợ thì số nợ này được xác định đều cho cả bốn người con của ông A. Theo đó B, C, D, E đều phải trả số nợ thay cho cha mình là 80/4= 20 triệu đồng. Khóa luận: Pháp luật hiện hành về phân chia di sản thừa kế.

Trường hợp trong di chúc có xác định rõ tỷ lệ nghĩa vụ mà từng người thừa kế phải thực hiện trong phạm vi tài sản mà mình được hưởng. Người để lại di sản thừa kế có thể chỉ định một hoặc tất cả những người thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ. Trong trường hợp người để lại di sản chỉ định một người thực hiện tất cả các nghĩa vụ thì có thể xảy ra các khả năng: Chỉ giao nghĩa vụ nhưng không chỉ định hưởng di sản thì không bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ đó, tuy nhiên người được giao nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ thì dùng một phần tài sản để thanh toán. Giao nghĩa vụ và được chỉ định hưởng tài sản thì người đươc giao nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi di sản được hưởng. Giao nghĩa vụ nhưng di sản không còn thì nghĩa vụ chấm dứt, nếu người được giao nghĩa vụ vẫn muốn thực hiện nghĩa vụ thì thực hiện bằng chính tài sản của mình. Trong trường hợp phần nghĩa vụ vượt quá số di sản mà họ được nhận thì được chia đều cho những người khác. Ví dụ: Như trường hợp của ông A đã nêu ở phần trên thì nếu ông A có chỉ định B sẽ phải trả thay cho ông A là 30 triệu, số tiền còn lại C, D, E mỗi người sẽ trả là 20 triệu đồng. Nếu như đã phân định rõ như vậy thì số tiền B sẽ phải thực hiện nghĩa vụ là 30 triệu đồng và C, D, E mỗi người là 20 triệu đồng. Tuy nhiên việc thực hiện nghĩa vụ sẽ phức tạp hơn khi ông A giao toàn bộ nghĩa vụ cho B phải trả số tiền nợ 80 triệu. Lúc này số tài sản mà B được hưởng thừa kế (50 triệu) sẽ không đủ để thanh toán nghĩa vụ nợ cho ông A là 80 triệu. Tài sản hưởng thừa kế của B tuy không đủ thanh toán nhưng C, D, E vẫn có khả năng thanh toán số nợ này. Vì vậy căn cứ vào tỉ lệ số tiền nợ và số di sản được hưởng của cả ba người này thì mỗi người sẽ phải thực hiện nghĩa vụ C=B=E= 30/3= 10 triệu đồng.

2.1.3 Phân chia di sản thừa kế theo di chúc trong trường hợp người chết để lại di sản thờ cúng và di tặng Khóa luận: Pháp luật hiện hành về phân chia di sản thừa kế.

Di sản dùng trong việc thờ cúng và di tặng là hai nội dung được quy định tùy theo ý chí của người lập di chúc. Bởi lẽ không phải trường hợp nào khi phân chia di sản thừa kế cũng xuất hiện hai nội dung này, đây là hai phần tùy thuộc vào ý chí của người lập di chúc. Vì vậy hai nội dung này có thể có hoặc không có trong việc phân chia di sản thừa kế và chỉ xuất hiện trong trường hợp phân chia di sản thừa kế theo di chúc.

2.1.3. 1. Phân chia di sản thừa kế trong trường hợp có di tặng

Di tặng là việc thể hiện ý chí đơn phương của chủ thể để lại di sản thừa kế dành di tặng cho một tổ chức hoặc cá nhân bất kì nhằm thể hiện tình cảm của mình đối với những cá nhân và tổ chức đó. Khoản 1 Điều 646 quy định: “Di tặng là việc lập di chúc dành một phần di sản để tặng cho người khác…”. Đối tượng được hưởng di tặng là bất kì tổ chức, cá nhân nào được người chết chỉ định trong di chúc. Tuy nhiên, “Người được di tặng là cá nhân phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người được di tặng không phải là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế”.

Nếu di chúc không ghi rõ là di tặng thì được hiểu là di sản thừa kế theo di chúc. Cũng giống như những người thừa kế thì những người được hưởng di tặng có thể từ chối nhận di tặng. Bởi lẽ việc di tặng chỉ thể hiện ý chí đơn phương của bên để lại di sản di tặng còn nhận di sản di tặng hay không còn phụ thuộc và ý chí của người nhận di tặng.

Điểm khác nhau cơ bản giữa những người được hưởng di tặng và những người thừa kế là ở chỗ người được hưởng di tặng sẽ không phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại. Trong trường hợp số di sản của người chết để lại không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản thì phần di tặng sẽ được dùng để thanh toán nốt phần nghĩa vụ còn thiếu. Nếu tài sản di tặng là hiện vật mà khi phân chia di sản thừa kế mà vật đó không còn tồn tại thì người hưởng di tặng không có quyền đòi bồi hoàn từ những người hưởng thừa kế. Di sản phân chia di sản thừa kế cho những người hưởng thừa kế được xác định sau khi đã trừ đi phần di sản thuộc về người hưởng di tặng.

Ví dụ: Ông A chết để lại khối di sản là 900 triệu đồng. Trong di chúc để lại ghi rõ: Ông A dành một phần tài sản là 100 triệu đồng cho ông B (bạn thân của ông A) và số di sản còn lại chia đều cho C (vợ ông A), D (là con của ông A). Tuy nhiên khi chết ông còn để lại số nợ là 300 triệu đồng. Khi phân chia di sản thừa kế thì không thanh toán đồng thời nghĩa vụ nợ của ông A mà những người thừa kế đồng ý sẽ thực hiện thanh toán sau khi chia di sản. Lúc này số di sản mà C = D = (900 – 100)/ 2 = 400 triệu đồng. Tuy nhiên C và D cũng phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ trong phần di sản được nhận. Khi chết ông A không xác định ai là người trả nợ vì vậy số nợ được xác định theo tỉ lệ chia di sản. Theo đó bà C và D thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay ông A là 300/2 = 150 triệu. Vậy số di sản mà C và D nhận được cuối cùng chỉ là 400- 150 = 250 triệu đồng. Đối với ông B được xác định là người hưởng di tặng vì vậy ông không phải thực hiện bất cứ nghĩa vụ nào và số di sản nhận được là 100 triệu đồng như di chúc đã ghi.

2.1.3.2. Phân chia di sản thừa kế trong trường hợp có di sản thờ cúng Khóa luận: Pháp luật hiện hành về phân chia di sản thừa kế.

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là tín ngưỡng đã tồn tại ở nước ta từ rất lâu đời. Thờ cúng ông bà tổ tiên là một việc làm không thể thiếu trong đời sống tâm linh của người Việt. Đạo làm con thì phải chăm sóc cha mẹ khi cha mẹ già ốm và khi cha mẹ mất đi phải thờ cúng cha mẹ. Đây là một nét đẹp trong văn hóa con người Việt Nam thê hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”. Đã là đạo hiếu thì không cần người đã chết để lại di sản thì con cái mới có nghĩa vụ thờ cúng mà cả khi người đó không để lại tài sản thì đã làm con vẫn phải thực hiện nghĩa vụ thờ cúng. Tuy nhiên khi về cái tuổi đã gần đất xa trời ngoài việc lo cho cuộc sống của con cái mình sau này họ còn nghĩ về việc thờ cúng của chính mình và ông bà tổ tiên khi họ chết. Dùng tài sản của chính mình để thực hiện việc thờ cúng của mình và ông bà, tổ tiên là một quyền hoàn toàn chính đáng. Khoản 1 Điều 670 BLDS năm 2015 quy định: “ Trong trường hợp người lập di chúc có để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho một người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận của những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng”.  Theo đó, di sản thờ cúng không chỉ do người để lại di sản quyết định mà những người thừa kế cũng có quyền thỏa thuận phần di sản dùng trong việc thờ cúng. Những người thừa kế có thể thỏa thuận các nội dung chia thừa kế cũng như quyết định việc dành một phần di sản thừa kế để thờ cúng. Khi trích ra một phần tài sản dùng trong việc thờ cúng và giao cho một người chịu trách nhiệm quản lý và thực hiện việc thờ cúng thì việc thờ cúng sẽ được thực hiện tốt hơn. Theo quy định, toàn bộ tài sản của người chết là một khối di sản, một phần của một khối di sản đó sẽ là: nếu chia di sản ra làm hai hay nhiều phần thì người lập di chúc không được dành lại quá một phần của khối di sản đó. Do vậy, nếu người lập di chúc định đoạt vượt quá 1/2 di sản, khi mở thừa kế sẽ để lại 1/2 di sản để thờ cúng, phần còn lại chia theo di chúc hoặc chia theo pháp luật. Vấn đề này cần phải có văn bản hướng dẫn cụ thể để tránh việc áp dụng tùy tiện.

Nhằm bảo vệ quyền lợi của chủ thể mang quyền trong việc thanh toán các nghĩa vụ Khoản 2 Điều 645 BLDS năm 2015 quy định: “Trong trường hợp toàn bộ di sản của người chết để lại không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng.” Theo quy định này thì khi nghĩa vụ tài sản của người chết để lại lớn hơn tổng giá trị tài sản chia thừa kế thì phần còn thiếu sẽ được lấy ra từ phần di sản được dùng trong việc thờ cúng. Nếu nghĩa vụ tài sản lớn hơn tổng khối di sản thừa kế thì không tồn tại phần di sản dùng trong việc thờ cúng. Quy định này sẽ tránh được trường hợp lạm dụng quy định về quyền để lại di sản thờ cúng để trốn tránh các nghĩa vụ mà người chết để lại.

Ví dụ: Bà A chết có để lại di chúc chia di sản thừa kế gồm số tiền mặt trị giá 200 triệu đồng và một căn nhà trị giá 500 triệu đồng. Do bà chỉ có một người con đó là chị B nên bà đã để lại toàn bộ số tiền mặt là 200 triệu cho C (là cháu trai) để thực hiện việc quản lý và thực hiện việc thờ cúng bà sau này. Khóa luận: Pháp luật hiện hành về phân chia di sản thừa kế.

Chị B được hưởng căn nhà trị giá 500 triệu đồng. Tuy nhiên bà A còn nợ ngân hàng số tiền là 600 triệu đồng. Vì vậy số di sản chia thừa kế co chị B không đủ để thực hiện nghĩa vụ của bà A và số nợ còn lại là 600 – 500= 100 triệu sẽ được lấy ra từ di sản dùng trong vệc thờ cúng. Số di sản dùng trong việc thờ cúng sau khi được lấy ra để thanh toán nghĩa vụ sẽ còn lại 200 – 100 = 100 triệu đồng.

Di sản dùng trong việc thờ cúng là một loại di sản mang ý nghĩa tâm linh đặc biệt. Tài sản chia thừa kế được xác định sau khi đã trừ đi phần di sản dùng trong việc thờ cúng. So với những quy định trước đây thì quy định về di sản dùng trong việc thờ cúng đã được hoàn thiện hơn tuy nhiên việc quy định về giá trị và số lượng tài sản vẫn chưa được quy định rõ ràng. Vì vậy dễ dẫn đến tình trạng hiểu sai các quy định và thực hiện không đúng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của những người thừa kế. Bởi vậy cần có những quy định cụ thể hơn về phần di sản thừa kế này.

2.1.4. Phân chia di sản thừa kế theo di chúc trong trường hợp có người thừa kế theo Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015 

Người lập di chúc có quyền định đoạt số tài sản để lại thừa kế, họ có thể chỉ định người hưởng thừa kế cũng như số tài sản mà những người này được hưởng là bao nhiêu. Pháp luật tôn trọng và bảo vệ quyền về tài sản này của họ. Tuy nhiên ngoài việc đảm bảo thực hiện các quyền thì pháp luật cũng thể hiện tính công bằng trong việc đảm bảo quyền và lợi ích của một số người thừa kế theo pháp luật. Những đối tượng được quy định tại Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 là những đối tượng nếu như phân chia di sản thừa kế theo pháp luật thì họ là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Nhưng họ không được người để lại di sản cho hưởng hoặc chỉ hưởng nhưng ít hơn 2/3 suất thừa kế mà theo pháp luật thì họ đáng được hưởng. Nếu như không tồn tại di chúc thì họ sẽ được hưởng nhiều hơn 2/3 suất thừa kế, họ bình đẳng với những người thừa kế khác. Tuy nhiên không phải người thừa kế nào ở hàng thừa kế thứ nhất cũng được hưởng thừa kế theo quy định tại Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo quy định tại Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì chỉ có những người là: con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ chồng; con đã thành niên không có khả năng lao động. Nếu họ từ chối hưởng di sản hoặc không có quyền hưởng di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc Khoản 1 Điều 621 BLDS năm 2015. Khóa luận: Pháp luật hiện hành về phân chia di sản thừa kế.

Công thức tính = 2/3 x (Tổng di sản thừa kế: nhân suất)

Lưu ý: Nhân suất không bao gồm 3 nhóm người sau đây:

Người TK chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản thừa kế mà không có người thừa kế thế vị (Nếu họ có người thế vị thì vẫn tính như bình thường)

  • Người từ chối không nhận di sản thừa kế;
  • Người không được hưởng di sản thừa kế theo Điều 621 (người bị tước)

Phần di sản dành cho người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc là phần di sản được trích ra từ khối di sản thừa kế sau khi đã thanh toán các nghĩa vụ về tài sản. Sau khi đã thanh toán các nghĩa vụ thì có thể xác định phần thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc trong hai trường hợp:

Sau khi thanh toán xong các nghĩa vụ thì xác định luôn suất thừa kế 2/3 của người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc. Theo đó tài sản chia cho những người thừa kế sẽ được xác định sau khi đã trừ đi số di sản của những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc. Số tài sản mà những người thừa kế được chia sẽ hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của họ.

Nếu việc phân chia thừa kế được chia khi chưa thanh toán các nghĩa vụ tài sản thì mỗi người thừa kế phải thực hiện các nghĩa vụ tài sản trong phạm vi tài sản của mình. Sau khi đã thanh toán xong các nghĩa vụ tài sản thay cho người chết thì di sản thừa kế còn lại sẽ thực hiện tiếp việc trả lại số di sản thừa kế cho người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc theo tỉ lệ tài sản đã được hưởng.

Di sản chia cho những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc được xác định bằng tổng số di sản thừa kế sau khi đã thanh toán các nghĩa vụ. Điều này đồng nghĩa với việc sẽ ảnh hưởng đến những phần đã được định đoạt trong di chúc không chỉ có di sản phân chia thừa kế mà còn bao gồm cả di sản dùng để di tặng và di sản thờ cúng. Bởi lẽ đây là phần phân chia di sản thừa kế nằm ngoài nội dung của di chúc, không phụ thuộc vào nội dung của di chúc. Vì vậy phần dành cho thờ cúng hay di tặng sẽ bị ảnh hưởng nếu như không đủ 2/3 suất thừa kế theo quy định của pháp luật.

Việc đảm bảo quyền hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc được quy định tại Điều 644 Bộ luật dân sự 2015 nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi của những người mà khi còn sống thì người để lại di sản có nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng cho họ. Pháp luật không phải không tôn trọng ý nguyện của người đã khuất mà pháp luật đang giúp họ thực hiện hết những nghĩa vụ và món nợ không chỉ là về vật chất mà còn về mặt tình cảm. Không phải cứ chết là chấm dứt hết mọi mối liên quan giữa con người với con người, khi chết chưa thực hiện hết được những nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc những người mình có trách nhiệm thì khi chết đi sẽ dùng một phần tài sản của mình để thực hiện một phần nghĩa vụ đó. Như đã phân tích ở trên không phải đối tượng nào cũng thuộc đối tượng hưởng thừa kế theo Điều 644 Bộ luật dân sự 2015 mà đây là những đối tượng “đặc biệt” và có quan hệ gần gũi nhất đối với người để lại di sản.  Chăm sóc cha, mẹ là bổn phận của con cái phải thực hiện suốt cuộc đời mình vì vậy cho dù họ không chỉ định cha, mẹ là người thừa kế theo di chúc thì họ vẫn được hưởng 2/3 suất thừa kế mà họ đáng ra phải được hưởng. Người hưởng 2/3 suất thừa kế là con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động cũng là một trong các đối tượng cần được bảo vệ và đảm bảo lợi ích của mình. Những người này trên thực tế họ không thể tự lo cho cuộc sống của chính bản thân mình, người để lại di sản khi còn sống hoặc thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng họ. Khóa luận: Pháp luật hiện hành về phân chia di sản thừa kế.

Người được hưởng thừa kế theo quy định tại Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015 không chỉ bao gồm những người xuất hiện vào thời điểm chia di sản thừa kế mà trong trường hợp ngưởi hưởng thừa kế là thai nhi, người thừa kế mới… cũng có tư cách hưởng thừa kế giống như những người thừa kế khác.

2.2. Phân chia di sản thừa kế theo pháp luật

Phân chia di sản thừa kế theo pháp luật là cách thức phân chia di sản dựa trên các nguyên tắc, thủ tục và phương thức do pháp luật quy định. Nếu chia di sản theo di chúc thể hiện được ý chí của người để lại di sản thì phân chia di sản theo pháp luật dựa trên các mối quan hệ về huyết thống, hôn nhân và nuôi dưỡng đối với người để lại di sản. Theo quy định tại Điều 660 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “1. Khi phân chia di sản nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa được sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng, để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra thì được hưởng; nếu chết trước khi sinh ra thì những người người thừa kế khác được hưởng. 2: Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều cho bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thỏa thuận cho việc định giá hiện vật và thỏa thuận về người nhận hiện vật; nếu không thỏa thuận được thì hiện vật được bán để chia.”

Tuy nhiên để phân chia di sản theo pháp luật thì không chỉ căn cứ vào Điều 660 Bộ luật Dân sự năm 2015 mà còn phải căn cứ vào các quy định khác về thừa kế của BLDS để xác định người thừa kế, cách chia thừa kế…

2.2.1. Xác định những người hưởng thừa kế và suất thừa kế theo pháp luật Khóa luận: Pháp luật hiện hành về phân chia di sản thừa kế.

Muốn chia thừa kế trước tiên phải xác định được những người hưởng thừa kế là những ai.

Theo quy định tại Điều 651 BLDS năm 2015 thì những người hưởng thừa kế sẽ được chia làm ba hàng tương ứng với thứ tự hưởng thừa kế khác nhau. Ba hàng thừa kế theo pháp luật bao gồm:

  • Hàng thứ nhất gồm vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
  • Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
  • Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Thứ tự thừa kế cũng sắp xếp theo thứ tự của ba hàng. Người thừa kế ở hàng sau chỉ được hưởng thừa kế nếu không còn người thừa kế ở hàng thừa kế trước đó. Không có người thừa kế ở hai hàng khác nhau cùng được hưởng di sản theo pháp luật.

Những người ở hàng thừa kế thứ nhất sẽ được ưu tiên hàng đầu bởi giữa họ có mối quan hệ thân thuộc, thiêng liêng và gần gũi nhất. Hàng thừa kế thứa nhất được xác định trên cả ba mối quan hệ: quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân, quan hệ nuôi dưỡng. Tuy nhiên những người này sẽ không được hưởng di sản nếu như vi phạm Khoản 1 Điều 644 BLDS năm 2015 hoặc bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản. Lúc này, ngoài những người trên, không còn ai ở hàng thừa kế thứ nhất thì những người ở hàng thừa kế thứ hai sẽ được ưu tiên hưởng di sản. Hàng thừa kế thứ ba cũng vậy, sẽ được nhận di sản nếu không ai ở hàng thừa kế thứ hai.

Về nguyên tắc, những cá nhân thuộc hàng thừa kế được hưởng phần di sản ngang nhau (Khoản 2 Điều 651 BLDS năm 2015). Theo đó thì nếu được hưởng thừa kế thì những người thừa kế ở một hàng sẽ được hưởng theo tỷ lệ là bằng nhau không phân biệt về tuổi tác, giới tính, huyết thống. Một suất thừa kế được tính trong một hàng thừa kế là: Tổng số di sản chia thừa kế/tổng số người hưởng thừa kế. Ví dụ: Bà A chết để lại khối di sản là 150 triệu đồng. Bà chết không để lại di chúc và cũng không nghĩa vụ tài sản nào cần thanh toán. Trong gia đình bà gồm có: hai người con trai là C, D (đã lập gia đình và có một người cháu nội) và chồng của bà là ông B. Vì bà A không để lại di chúc nên theo Khoản 1 Điều 651 BLDS năm 2015 thì những người được hưởng di sản thừa kế của bà A bao gồm: ông B, C và D. Theo đó số di sản mà mỗi người được hưởng sẽ là: B=C=D=150/3 = 50 triệu đồng.

2.2.2.  Phương thức phân chia di sản thừa kế Khóa luận: Pháp luật hiện hành về phân chia di sản thừa kế.

Dù là phân chia di sản thừa kế theo di chúc hay theo pháp luật thì đều phải áp dụng hai phương thức đó là chia di sản theo hiện vật hoặc theo giá trị. Thừa kế theo di chúc thì không có quy định cụ thể về vấn đề này nhưng xét trong từng quy định về các cách chia di sản thừa kế được quy định tại Điều 659 Bộ Luật dân sự năm 2015 (nếu người để lại di sản chia theo tỷ lệ trên tổng khối tài sản tại khoản 3 điều 659 Bộ Luật dân sự 2015 thì được xác định là chia theo giá trị…). Tuy nhiên khi chia thừa kế theo pháp luật thì hai phương thức này được quy định rõ và cụ thể tại Khoản 2 Điều 659 BLDS năm 2015. Theo đó phương thức phân chia di sản thừa kế bao gồm:

Chia di sản thừa kế theo hiện vật: Chia di sản theo hiện vật được hiểu là một phương thức chia di sản bằng cách dùng trực tiếp các hiện vật tồn tại như nhà cửa, vườn bãi, xe cộ…để chia cho những người thừa kế. Nếu như trong thừa kế theo di chúc thì các hiện vật được người để lại di sản định đoạt cụ thể cho từng người nhưng đối với chia di sản theo pháp luật thì có thể do sự thỏa thuận của những người thừa kế hoặc do Tòa án chỉ định hưởng thừa kế. khi phân chia di sản theo hiện vật thì có thể xảy ra các trường hợp:

Di sản bao gồm nhiều hiện vật và giá trị tài sản mỗi hiện vật là không bằng nhau. Lúc này trên cơ sở thỏa thuận hoặc thuê người định giá xác định giá trị của từng hiện vật sau đó xác định một suất thừa kế theo pháp luật là bao nhiêu để chia di sản. Người nào nhận hiện vật mà có giá trị lớn hơn một suất thừa kế thì phải trả lại giá trị phần vượt quá đó, ngược lại nếu nhận được hiện vật có giá trị thấp hơn thì được bù phần đã bị thiếu. Ví dụ: ông A chết để lại số di sản là một ngôi nhà và một chiếc xe ô tô. Ông chết không để lại di chúc. Ông có hai con là B và C. Sau khi định giá xác định giá trị của ngôi nhà là 600 triệu đồng và chiếc ô tô là 200 triệu đồng. B và C là những người hưởng thừa kế theo pháp luật của ông A vì vậy số giá trị tài sản hai người được hưởng là Theo thỏa thuận thì B nhận ngôi nhà và C nhận chiếc (600+200)/2 = 400 triệu.

Nếu nhận tài sản là ngôi nhà thì B đã vượt quá số tài sản là 600-400= 200 chuyển cho triệu. Số tiền này được

Di sản là hiện vật có thể chia được thì lúc này việc chia thừa kế sẽ đơn giản hơn so với trường hợp trên. Sau khi xác định suất thừa kế thì tiến hành chia trực tiếp các hiện vật cho những người thừa kế. Ví như di sản của người để lại di sản là 3 con bà và có 3 người thuộc diện được hưởng di sản của kế thì trong trường hợp này 3 con bò sẽ được chia đều cho những người được hưởng di sản.

Chia di sản theo giá trị: Đây là một phương thức được sử dụng khi không thể phân chia di sản theo hiện vật hoặc theo thỏa thuận của những người thừa kế. Phương thức này được hiểu là phương thức định giá của di sản thừa kế thành tiền để chia cho những người thừa kế. Người nhận hiện vật phải thanh toán cho người thừa kế không nhận hiện vật giá trị một suất thừa kế. Trường hợp không có người thừa kế nhận hiện vật thì hiện vật đó sẽ bán lấy tiền chia thừa kế. Phương thức này thể hiện sự linh động trong cách chia di sản theo quy định của pháp luật. Nếu như những người thừa kế không muốn nhận hiện vật, không có khả năng nhận hiện vật hoặc nhận hiện vật nhưng hiện vật không chia được thì đây là một giải pháp tốt để chia di sản thừa kế.

2.2.3. Phân chia di sản thừa kế trong trường hợp có người thừa kế thế vị Khóa luận: Pháp luật hiện hành về phân chia di sản thừa kế.

Về nguyên tắc thì khi chia di sản thừa kế theo pháp luật thì hàng thừa kế thứ nhất được ưu tiên chia trước và chia hết. Tuy nhiên những người là cháu, chắt (thuộc hàng thừa kế thứ hai hoặc thứ ba) vẫn được hưởng thừa kế nếu như thuộc trường hợp quy định tại Điều 652 BLDS năm 2015 và được gọi là thừa kế thế vị. Thừa kế thế vị được quy định: “Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha mẹ của chắt được hưởng khi còn sống”. sẽ không còn hiệu lực. Phần di sản này được chia

Thừa kế thế vị chỉ xuất hiện trong trường hợp chia di sản thừa kế theo pháp luật. Bởi lẽ khi thừa kế theo di chúc mà người được chỉ định thừa kế trong di chúc chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì phần di chúc có liên quan chết trước cho những người thừa kế thế vị giống như trường hợp chia thừa kế theo quy định chung về chia di sản thừa kế theo pháp luật. Quy định này nhằm đảm bảo quyền lợi và lợi ích của các cháu, các chắt khi mà cha, mẹ họ đã c ông bà. Họ hưởng tài sản bính đẳng với những người thuộc hàng thừa kế với bố mẹ họ hay những người thừa kế khác trong di chúc.

2.2.4. Chia di sản thừa kế trong trường hợp vợ chồng đã chia tài sản chung, đang xin ly hôn, kết hôn với người khác

Quan hệ thừa kế trong trường hợp này dựa trên cơ sở của quan hệ hôn nhân vì vậy khi một bên chết nhưng trên phương diện pháp lý thì quan hệ này vẫn còn tồn tại thì họ vẫn có quyền hưởng di sản của nhau. Điều 655 BLDS năm 2015 quy định về việc thừa kế trong trường hợp vợ chồng đã chia tài sản chung; vợ chồng đang xin ly hôn hoặc đã kết hôn với người khác như sau: Trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung khi hôn nhân của họ còn tồn tại mà sau đó một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản. Vì vậy hôn nhân vẫn tồn tại và

Trường hợp vợ, chồng xin ly hôn mà chưa được hoặc đã được tòa án cho ly hôn bằng bản án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp luật, nếu một người sống thì người kia vẫn được hưởng di sản. Trường hợp này thì xét trên phương diện pháp lý quan hệ hôn nhân vẫn còn tồn tại. Hôn nhân chỉ kết thúc khi có bản án hoặc quyết định có hiệu lực của Tòa án. họ vẫn có quyền hưởng di sản thừa kế của người kia.

Trường hợp người đang là vợ hoặc chồng của một người tại thời điểm người đó chết thì dù sau đó kết hôn với người khác vẫn được hưởng di sản. Thời điểm người để lại di sản thừa kế chết chính là thời điểm mở thừa kế theo Điều 611 BLDS năm 2015:Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết…..Vậy người đang là vợ hoặc chồng của một người tại thời điểm người đó chết thì dù sau đó (tức là thời điểm chia di sản thừa kế) họ có kết hôn với người khác thì vẫn được hưởng di sản thừa kế.

2.3. Phân chia di sản thừa kế trong các trường hợp đặc biệt Khóa luận: Pháp luật hiện hành về phân chia di sản thừa kế.

2.3.1. Phân chia di sản thừa kế trong trường hợp người hưởng di sản thừa kế là thai nhi

Thai nhi được pháp luật bảo vệ quyền hưởng di sản thừa kế và là một “người” hưởng thừa kế đặc biệt. Đây là một quy định được thừa kế của những quy định trong các bộ dân luật Bắc Kì (Điều 313), Bộ dân Luật Trung kì (Điều 305) và Bộ dân luật Sài Gòn (Điều 501). Khoản 1 Điều 613 BLDS năm 2015 quy định: “Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thời kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết.” Đây o quyền hưởng thừa kế mà tại thời điểm chia thừa kế chưa được sinh ra. Để được hưởng quyền thừa kế thì thai nhi cũng cần có những điều kiện nhất định. Thai nhi chỉ được hưởng thừa kế khi đã thành thai vào thời điểm mở thừa kế hoặc trước thời điểm mở thừa kế, sinh ra và còn sống vào thời điểm mở thừa kế. Xét về điều kiện sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế theo quy định tại Khoản 1 Điều 613 BLDS năm 2015 thì còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này. Tuy nhiên một đứa trẻ sinh ra và được xã hội công nhận sự tồn tại của nó khi nó được khai sinh. Hiện nay chưa có văn bản nào giải thích rõ hiểu như thế nào là “trẻ sinh ra và còn sống”. Tại Điều 15 của Luật Hộ tịch năm 2014 quy định: “Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh con, cha hoặc mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho con; trường hợp cha, mẹ không thể đăng ký khai sinh cho con thì ông hoặc bà hoặc người thân thích khác hoặc cá nhân, tổ chức đang nuôi dưỡng trẻ em có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em” Căn cứ theo quy định tại Điều 23 của Nghị định 158/2005 NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về quản lý hộ tịch thì : “ Trẻ em sinh ra và sống được từ 24 giờ trở lên rồi mới chết cũng phải đăng kì khai sinh và đăng kí khai tử. Nếu cha tử thì cán bộ hộ tịch tư pháp tự xác định nội dung để ghi vào Sổ khai sinh và Sổ khai tử. Trong cột ghi chú của Sổ đăng kí khai sinh và sổ đăng kí khai tử phải ghi rõ “Trẻ chết sơ sinh”. Vì vậy, có thể xác định sống ở đây là sống được từ 24 giờ trở lên. Điều đó đồng nghĩa với việc nếu đừa trẻ đó sinh ra nhưng chỉ sống được một thời gian (24h+) thì phần di sản đó được chia cho chính những người thừa kế của đứa trẻ đó, còn được sinh ra nhưng sống được dưới 24h hoặc chết trước khi sinh ra thì di sản thừa kế sẽ được chia cho những người thừa kế khác. Khóa luận: Pháp luật hiện hành về phân chia di sản thừa kế.

Một điều kiện khác cũng được những người thừa kế khác quan tâm nữa đó là huyết thống của thai nhi. Liệu nếu thai nhi đó không phải là con của người để lại di sản thì có được hưởng di sản thừa kế hay không? Để trả lời cho câu hỏi này thì phải

a kế theo pháp luật thì bắt buộc thai nhi phải là con của người để lại di sản thừa kế mới được hưởng thừa kế. Bởi lẽ chỉ khi là con ruột của người để lại di sản thì thai nhi đó mới có tư cách.

c hàng thừa kế thứ nhất. Nếu chứng minh được đứa trẻ sinh ra không phải là con của người để lại di sản thừa kế thì đứa nhiên khi phân chia di sản theo di chúc thì người lập di chúc có thể chỉ định quyền hưởng thừa kế cho bất kì ai, do đó, người đã thành thai, sinh ra và còn sống sau khi người để lại di sản chết là con của bất kì ai mà người lập di chúc muốn cho hưởng. Có thể xảy ra hai trường hợp:

Nếu người lập di chúc chỉ rõ người lập di chúc muốn để lại di sản cho người đã thành thai và nói rõ là con của cha, mẹ nào, thì phải xác định người đó đã thành mẹ đã được nêu trong di chúc.

Trong trường hợp người để lại di sản không nói rõ là con của cha, mẹ nào, thì chỉ cần xác định người đó đã thành thai vào thời điểm mở thừa kế, sinh ra và hưởng di sản theo di chúc mà không cần xác định cha là ai.

Trường hợp sinh đôi trở lên thì việc thừa kế có thể phải chia lại để đảm bảo nguyên tắc hưởng di sản bằng nhau của những người thừa kế. Tuy nhiên khi di sản thừa kế khi đã được chia rồi thì việc tiến hành chia lại sẽ gặp nhiều phức tạp. Vì vậy với công nghệ ngày càng hiện đại thì trước khi chia thừa kế cần chuẩn đoán và việc chia thừa kế.

2.2.2. Phân chia di sản thừa kế trong trường hợp có người thừa kế mới

Sự vật không ngừng biến đổi và sự biến đổi nào cũng kéo theo một sự biến đổi khác nữa trong mối quan hệ giữa chúng và thế giới quan. Sự xuất hiện người thừa kế mới cũng vậy, nó làm thay đổi quan hệ thừa kế với sự xuất hiện của một một người mang tư cách thừa kế và bình đẳng với những người thừa kế khác. Những người thừa kế mới có thể là :

  • Con của người để lại di sản chết sinh ra và còn sống sau thời điểm đã phân chia di sản thừa kế (trong trường hợp thai hai, ba … nhưng tại thời điểm chia thừa kế được xác định là thai một.
  • Người được Tòa án xác nhận là con của người để di sản nhưng quyết định hoặc bản án của tòa án có hiệu lực sau thời điểm chia di sản thừa kế. Người được Tòa án xác nhận là cha mẹ của người để lại di sản nhưng quyết định hoặc bản án của Tòa án có hiệu lực sau thời điểm chia di sản thừa kế. – Con của người để lại di sản bị Tòa án tuyên bố là đã chết trước thời điểm người để lại di sản chết nhưng có tin tức xác thực là đang còn sống hoặc trở về sau thời điểm chia di sản thừa kế.
  • Cha, mẹ người để lại di sản bị Tòa án tuyên bố là đã chết trước thời điểm người dể lại di sản chết nhưng có tin tức xác thực là đang còn sống hoặc trở về sau thời điểm chia di sản thừa kế.

Nếu xuất hiện người thừa kế mới thì theo quy định tại Khoản 1 Điều 662 BLDS 2015 : “Trong trường hợp đã phân chia di sản mà xuất hiện người thừa kế mới thì không thực hiện việc phân chia lại di sản bằng hiện vật, nhưng những người thừa kế đã nhận di sản phải thanh toán cho người thừa kế mới một khoản tiền tương ứng với phần di sản của người đó tại thời điểm chia thừa kế theo tỷ lệ tương ứng với phần di sản đã nhận, trừ trường hợp có thoả thuận khác.” Như vậy để đảm bảo được lợi ích của những người thừa kế mới pháp luật đã quy định trách nhiệm thanh toán phần còn thiếu cho những người thừa kế. Khác với phân chia di sản thừa kế lúc đầu khi chia thừa kế lại những người thừa kế không phân chia bằng hiện vật mà để thuận lợi hơn cho việc nhận di sản lúc này người thừa kế mới sẽ nhận phần di sản bằng giá trị. Việc chia di sản bằng hiện vật là phương thức chia di sản một cách rõ ràng nhất tuy nhiên nhiều hiện vật sẽ không có tác dụng khi bị chia nhỏ hoặc hiện vật đã bị giảm sút giá trị sau thời điểm chia di sản thừa kế. Chia bằng giá trị là phương thức chia thích hợp nhất trong trường hợp này. Tuy nhiên theo nguyên tắc do thỏa thuận trong luật Dân sự thì những người thừa kế (bao gồm cả người thừa kế mới) có thể thỏa thuận phương thức chia di sản Khóa luận: Pháp luật hiện hành về phân chia di sản thừa kế.

2.3.3. Phân chia di sản trong trường hợp có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế

Cả hai trường hợp phân chia lại di sản thừa kế được quy định tại Điều 662 BLDS năm 2015 đều dẫn đến việc chia lại di sản thừa kế. Tuy nhiên chia di sản trong trường hợp có người thừa kế mới và có người bị bác bỏ quyền thừa kế hậu quả pháp lý là hoàn toàn trái ngược nhau. Cả hai trường hợp này đều xảy ra khi đã phân chia di sản thừa kế. Tuy nhiên nếu như trường hợp có người thừa kế mới thì làm xuất hiện một người bình đẳng về tư cách hưởng thừa kế với những người thừa kế khác thì trường hợp người bị bác bỏ quyền thừa kế lại mất đi tư cách của một người thừa kế. Điểm khác biệt này đã dẫn đến sự khác biệt của hậu quả pháp lý trong việc chia di sản thừa kế.

Người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế được hiểu là những người đã được nhận di sản thừa kế của người chết để lại nhưng họ lại không có quyền hưởng di sản thừa kế vì họ đã vi phạm Khoản 1 Điều 621 BLDS năm 2015. Những người thừa kế có quyền yêu cầu Tòa án và được Tòa án chấp thuận hoặc cũng có thể từ đầu họ đã không phải là người được hưởng quyền thừa kế. Ngoài ra người bị bác bỏ quyền hưởng di sản của người chết vì đã được tòa án xác nhận là con hoặc là cha, mẹ của người chết bằng một bản án hoặc quyết định lại bị mất hiệu lực do bị hủy. Khoản 2 Điều 662 BLDS năm 2015 quy định: “ Người bị bác bỏ quyền hưởng thừa kế thì phải trả lại di sản đã được nhận và di sản này được chia cho những người thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản. Nếu không thể trả lại di sản đã sử dụng hết, đã bị mất, hoặc đã chuyển quyền sở hữu hoặc quyền sửi thanh toán một khoản tiền tương đương với giá trị di sản được hưởng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

2.4. Hạn chế phân chia di sản thừa kế Khóa luận: Pháp luật hiện hành về phân chia di sản thừa kế.

Một trong những quyền cơ bản và quan trọng nhất của những người thừa kế là quyền yêu cầu chia di sản thừa kế. Tuy nhiên không phải lúc nào người thừa kế yêu cầu thì sẽ chia di sản thừa kế. Nhằm đảm bảo sự tôn trọng ý chí của người để lại di sản đồng thời nhằm đảm bảo sự ổn định cuộc sống của những người thừa kế trong một số trường hợp nhất định Điều 661 BLDS năm 2015 đã quy định các trường hợp bi hạn chế chia di sản thừa kế. Các trường hợp sau đây sẽ bị hạn chế chia di sản thừa kế:

Trường hợp thứ nhất: Bị hạn chế về mặt thời gian hoặc một sự kiện được người để lại di sản dự trù trong di chúc. Khi hết một thời hạn nhất định hoặc đã xảy ra một sự kiện mà được ghi nhận trong di chúc thì việc phân chia di sản thừa kế mới được diễn ra, Căn cứ theo Điều 661 Bộ luật Dân sự năm 2015 Ví dụ : Ông A chết để lại di chúc phân chia di sản cho vợ và các con của ông. Ngoài C và D là con chung của ông với vợ là bà B thì ông còn có một con riêng là E. Trong di chúc để lại xác định là di sản thừa kế chỉ được phân chia khi E lập gia đình. Sau khi ông A chết thì di chúc của ông có hiệu lực pháp luật nhưng những người thừa kế lại không được phân chia di chúc luôn mà phải đợi đến lúc E lập gia đình. Tuy nhiên cũng qua ví dụ này có thể thấy một bất cập đó là chưa có một quy định rõ ràng nào giới hạn về thời gian hạn chế phân chia di sản. Nếu xảy ra trường hợp E không lập gia đình hoặc lập gia đình sau khi hết thời hiệu thừa kế (10 năm) thì di sản thừa kế có được chia hay không. Về nguyên tắc, khi hết thời hiệu thừa kế thì người thừa kế mất quyền khởi kiện, cho nên không thể chia được. Vì thế, nếu người lập di chúc chỉ định thời hạn chia di sản thì thời hạn đó không được quá 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế.

Trường hợp thứ hai: Có người thừa kế yêu cầu chia di sản (mặc dù không có di chúc của người để lại di sản hoặc có nhưng người lập di chúc không thể hiện ý chí về thời hạn phân chia di sản) mà việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người vợ hoặc người chồng đang còn sống của người đẻ lại di sản và của gia đình thì vợ (hoặc chồng) của người để lại di sản có quyền yêu cầu tòa án xác định phần di sản mà những người thừa kế được hưởng nhưng chưa cho chia thừa kế trong một thời gian nhất định. Quy định này nhằm đảm bảo cho cuộc sống của người vợ hoặc chồng không bị ảnh hưởng nghiêm trọng, tạo thời gian để họ chuẩn bị cho một cuộc sống mới. Ví dụ: Anh A ( con trai bà B) chết có để lại di sản là ngôi nhà do bà B đã tặng anh khi anh cưới chị C. Anh A cũng để lại thừa kế ngôi nhà cho chị C. Do có mâu thuẫn từ trước khi anh A mất nên chị C yêu cầu tòa án phân chia di sản thừa kế và không muốn sống cùng với bà B. Do anh A là con trai duy nhất và ngôi nhà cũng là tài sản duy nhất của bà B nhưng bà đã tặng cho con. Nếu phân chia di sản thừa kế thì bà B không còn nơi ở (cho dù bà vẫn được hưởng suất thừa kế = 2/3 theo quy định tại Điều 644 Bộ luật dân sự 2015). Vì vậy nếu xét trong trường hợp này thì cần áp dụng quy định về hạn chế phân chia di sản thừa kế nhằm đảm bảo được chỗ ổ cho bà B và giúp bà có thời gian tìm nơi ở mới cho mình. Khóa luận: Pháp luật hiện hành về phân chia di sản thừa kế.

Việc phân chia thì kế sẽ diễn ra nếu hết thời hạn do Tòa án xác định hoặc bên còn sống đã kết hôn với người khác thì những người thừa kê khác có quyền yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế. Đây là một quy định phù hợp với đạo đức xã hội, nhằm đảm bảo sự ổn định trong cuộc sống của vợ hoặc chồng sau khi người kia mất. Quy định này cũng được ghi nhận trong Luật Hôn nhân và Gia đình 2014: “ Trong trường hợp việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ hoặc chồng còn sống, gia đình thì vợ, chồng còn sống có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế phân chia di sản theo quy định của Bộ luật dân sự.”( Khoản 3 Điều 66 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014).

Nhìn chung các quy định của pháp luật về phân chia di sản thừa kế đã được xây dựng một cách hoàn chỉnh hơn. Qua sự phân tích cụ thể những quy định của BLDS về phân chia di sản thừa kế không chỉ thấy được sự phù hợp của các quy định này mà còn thấy được những điểm còn hạn chế của các quy định này. Trên cơ sở đó đưa ra được những nhận xét và kiến nghị hoàn thiện tại chương 3. Khóa luận: Pháp luật hiện hành về phân chia di sản thừa kế.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Thực tiễn pháp luật về phân chia di sản thừa kế

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x