Khóa luận: Lễ hội cày Tịch điền Đọi Sơn

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Lễ hội cày Tịch điền Đọi Sơn hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Lễ hội cày Tịch điền Đọi Sơn dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

PHẦN MỞ ĐẦU

1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI KHÓA LUẬN

Trong những năm gần đây, cũng như trên phạm vi cả nước, ở tỉnh Hà Nam, nhiều lễ hội truyền thống được khôi phục, trong đó có hội Tịch điền Đọi Sơn. Đây là một trong những hội điển hình, thể hiện tinh thần trọng nông, tôn vinh nền nông nghiệp, có mục đích cầu được mùa, cầu cho nhân khang vật thịnh. Trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân đang tích cực triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ bảy (khóa X) về nông nghiệp, nông thôn và nông dân, xác định nông nghiệp có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế – xã hội trong sự nghiệp CNH – HĐH đất nước, việc phục dựng thành công hội cày Tịch điền Đọi Sơn (từ năm 2009) có ý nghĩa to lớn cả về chính trị và văn hóa; một lần nữa nhắc nhở mọi người, các ngành các cấp cùng nhìn nhận đầy đủ hơn trong việc khai thác những nét tinh túy, đặc sắc của lễ hội để phục vụ cho phát triển du lịch, phát triển nông nghiệp bền vững gắn với sự phát triển CNH, HĐH đất nước.

Tuy nhiên, việc phục dựng lễ hội Tịch điền Đọi Sơn cũng đang đặt ra một số vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu, nhất là trong việc giáo dục, tuyên truyền cho thế hệ trẻ hiểu, trân trọng, giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của cha ông.

Từ những lý do trên, em chọn đề tài Lễ hội cày Tịch điền Đọi Sơn làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Nhận Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Du Lịch

2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Trên cơ sở khảo sát thực địa, thu thập tài liệu, Khóa luận góp phần làm sáng tỏ nguồn gốc, bản chất của lễ hội Tịch điền Đọi Sơn; từ đó giúp cho nhân dân địa phương cùng du khách thập phương có cái nhìn đúng đắn về bản chất, ý nghĩa của lễ hội, giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp mà lễ hội mang lại.

Bên cạnh đó, khóa luận góp phần đánh giá vị trí của lễ hội Tịch điền Đọi Sơn trong hệ thống lễ nghi nông nghiệp của người Việt ở vùng đồng bằng Bắc Bộ; đồng thời đề xuất, nêu một số kiến nghị đối với việc tổ chức hội này, từ đó phát huy và khai thác để phục vụ cho việc phát triển du lịch Hà Nam. Khóa luận: Lễ hội cày Tịch điền Đọi Sơn.

3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu chính của Khóa luận là toàn bộ các yếu tố, hiện tượng và mọi khía cạnh liên quan đến lễ hội Tịch điền Đọi Sơn thuộc xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.

Phạm vi nghiên cứu của Khóa luận về không gian địa lý hành chính và không gian văn hóa của xã Đọi Sơn. Luận văn tập trung nghiên cứu toàn bộ quy trình lễ hội Tịch điền Đọi Sơn thông qua các huyền thoại, huyền tích, nghi thức, trò diễn, trò chơi dân gian.

Về thời gian: Luận văn đề cập đến nguồn gốc của lễ hội Tịch điền Đọi Sơn và lễ hội Tịch điền Đọi Sơn được phục dựng năm 2009 và chính thức tổ chức vào 2 năm 2010, 2011.

4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nông nghiệp, nông thôn và về văn hóa.

Luận văn sử dụng phương pháp chính là phương pháp điền dã Dân tộc học để thu thập tư liệu; các phương pháp lịch sử, văn hóa học và logic để tiếp cận, giải mã các vấn đề có liên quan đến hội cày Tịch điền.

5. NGUỒN TƯ LIỆU CỦA KHÓA LUẬN

Nguồn tư liệu chính của khóa luận là tư liệu điền dã dân tộc học trong thời gian tác giả thực hiện khóa luận (từ tháng 4 đến tháng 5 – 2011), gồm tư liệu phỏng vấn các bậc cao niên, các cán bộ lãnh đạo xã Đọi Sơn, cán bộ, chuyên viên của Phòng VH – TT- DL huyện Duy Tiên và Sở VH – TT – DL tỉnh Hà Nam; các báo cáo tổng kết của xã Đọi Sơn và ngành VH- TT – DL huyện Duy Tiên trong những năm gần đây.

Khóa luận còn sử dụng các tư liệu trong chính sử, các kết quả nghiên cứu về lễ hội cày Tịch điền đã được công bố.

6. ĐÓNG GÓP CỦA KHÓA LUẬN

Khóa luận là công trình đầu tiên tập hợp một cách có hệ thống những khía cạnh liên quan đến lễ hội Tịch điền Đọi Sơn.

Khóa luận đề xuất một số kiến nghị cho việc tổ chức lễ hội Tịch điền Đọi Sơn và khai thác lễ hội phục vụ cho phát triển du lịch Hà Nam. Khóa luận: Lễ hội cày Tịch điền Đọi Sơn.

7. BỐ CỤC CỦA KHÓA LUẬN

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung của khóa luận chia làm 3 chương:

  • Chương 1: Nghi lễ cày Tịch điền trong hệ thống các lễ nghi nông nghiệp ở Việt Nam
  • Chương 2: Nghi lễ cày Tịch điền ở Đọi Sơn
  • Chương 3: Một số nhận xét, đánh giá về lễ hội Tịch điền Đọi Sơn.

CHƯƠNG 1 NGHI LỄ CÀY TỊCH ĐIỀN TRONG HỆ THỐNG CÁC LỄ NGHI NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM

1.1. NGUỒN GỐC VÀ CÁC DẠNG THỨC CỦA LỄ NGHI NÔNG NGHIỆP

1.1.1. Nguồn gốc của các lễ nghi nông nghiệp

Lễ Tịch điền là một trong các dạng của lễ nghi nông nghiệp, được các nhà Dân tộc học coi là một trong mười năm hình thái thờ cúng sơ khai. Các lễ nghi nông nghiệp thường gắn liền với sản xuất nông nghiệp và chế độ công xã nông thôn.

Trước hết, đó là cầu mong được mùa khi nền sản xuất nông nghiệp được tiến hành trong điều kiện lao động thủ công, kỹ thuật cơ bắp cùng tư duy kinh nghiệm được đúc kết trong quá trình sản xuất, không có khoa học kỹ thuật hỗ trợ; do vậy năng suất lao động thấp và phụ thuộc nặng nề vào thiên nhiên.

Lễ nghi nông nghiệp được thực hiện còn thể hiện những bất lực của con người trước những biến cố bất thường của thiên nhiên (như hạn hán, bão lụt, sâu bệnh,…) gây mất mùa, đói kém buộc con người phải cầu cúng, cầu mong sức mạnh siêu nhiên bảo vệ, che chở, mùa màng bội thu…Chẳng hạn, gặp hạn hán thì làm lễ đảo vũ, gặp sâu bệnh thì làm lễ tống trùng,…

1.1.2. Các dạng của lễ nghi nông nghiệp

Các dạng thức của lễ nghi nông nghiệp rất đa dạng. Theo các nhà Dân tộc học, dạng đơn giản nhất là vùi hòn đá có hình giống củ khoai vào gốc cây khoai sọ, khoai lang rồi cầu khấn với mục đích cây cho nhiều củ, quả; hoặc thờ sinh thực khí (nõ nường) ở ruộng, nương, với mục đích tăng cường “sinh khí” âm – dương tượng trưng cho cây, kích thích cây phát triển.

Thực hiện động tác tính giao tượng trưng trong thời kỳ gieo cấy hoặc thời kỳ lúa, hoa màu phát dục hoặc tại lễ hội (hội trò Trám ở Phú Thọ, trò bắt chạch trong chum…). Một số tộc người Châu Phi thời xa xưa trong mùa lúa, hoa màu kết trái thường giết một cặp nam nữ vùi xác vào cánh đồng, mục đích nhằm truyền sinh lực của đôi nam nữ đó vào cây cối để chúng tăng trưởng nhanh.

Đối với các cư dân trồng lúa nước, các lễ nghi nông nghiệp thể hiện ở việc thờ vỏ trấu, thờ vỏ lúa, cúng hồn lúa khi được gặt, làm lễ cơm mới ( lễ Thường tân người Việt ), bước cao hơn là thờ Thần Nông (người Việt) ; thờ các hiện tượng tự nhiên (Tứ pháp : Pháp Vân, Pháp Vũ , Pháp Điện, Pháp Lôi), dẫn đến cầu mưa, cầu sấm, cầu tạnh, cầu nắng ;

Tổ chức lễ Xuống đồng (như hội Lồng Tồng của các tộc Tày Nùng ở Đông Bắc; lễ Hạ điền ở người Việt). Lễ hội nông nghiệp thường gắn với các nghi lễ, các trò chơi thờ các hiện tượng thiên nhiên như đập nồi đập niêu, ném còn, bơi chải, chọi trâu, vật cầu … Khóa luận: Lễ hội cày Tịch điền Đọi Sơn.

Gắn với lễ nghi nông nghiệp là các kiêng kỵ, ở nhiều tộc người thiểu số ngày đi gieo hạt đầu tiên kiêng rửa bát, nồi xoong, kiêng ăn hết cơm trong nồi, bát, kiêng nói to khi gặt lúa, kiêng cho quả bói đầu tiên.

Nghi lễ Tịch điền nằm trong hệ thống nghi lễ nông nghiệp của người Việt, không chỉ vì mục đích cầu mùa mà còn mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện sự quan tâm của các vị vua đối với nông nghiệp; tuyên truyền, giáo dục các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ lòng biết ơn tiền nhân, tích cực phát triển sản xuất nông nghiệp.

1.1. 3. Một số lễ nghi và lễ hội nông nghiệp tiêu biểu

1.1.3.1 Lễ hội Hạ điền ở Đồng Lú xã Minh Nông (Việt Trì, Phú Thọ)

Đây là lễ hội được tổ chức để cầu mong sự phù trợ cho mùa màng và tạ ơn Thần Nông đã dạy dân làm ruộng, gắn với truyền thuyết Vua Hùng dạy dân cấy lúa trên ruộng Lạc. Hội gồm 2 nghi thức: tế Thần nông và làm hèm xuống đồng.

Tế Thần Nông: nghi thức giống như tế thành hoàng làng, có chủ tế đông tây xướng, đọc chúc, bồi tế, có chiêng trống, nhạc bát âm phụ họa. Các chức sắc, phụ lão trong làng và 14 trưởng giáp vào làm lễ.

Làm hèm xuống đồng: được tổ chức tại Đồng Lú ( tiếng Mường nghĩa là Lúa), diễn lại cảnh Vua Hùng dạy dân cấy lúa. Người đóng giả vua là ông chủ tế, vẫn lễ phục ấy ông đi từ đàn ra ruộng cấy mấy con mạ, có lọng che, nhạc bát âm tấu theo.

Lễ hội có tính chất lưỡng hợp, vừa cầu Thần Nông hộ mệnh cho cây lúa, vừa cầu người có công dạy dân làm ruộng, cấy hái. Kỹ thuật cấy lúa gồm hai công đoạn chính: Gieo mạ ở trên cạn, khi đủ chiều cao thì đem cấy xuống đồng nước, phải nắm vững quy luật thời tiết và thủy chế các dòng sông để định ra lịch canh tác.

Thông qua lễ hội Xuống đồng từ thời các Vua Hùng đã khẳng định vai trò của nông nghiệp trong đời sống của người Việt. Qua đó để nhắc nhở con cháu phải biết coi trọng nông nghiệp, lấy nông nghiệp là nền tảng vững chắc để phát triển kinh tế đất nước.

1.1.3.2. Lễ hội Lồng tồng của người Tày, Nùng

Hàng năm, vào ngày Tốt trong tháng Giêng (Chú thích 1), người dân các dân tộc Tày, Nùng ở các làng bản thuộc các tỉnh vùng Đông Bắc thường tổ chức hội Lồng Tồng (Xuống đồng), để cầu cho năm mới mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu; cũng là dịp vui chơi, giao lưu văn hóa, văn nghệ. Khóa luận: Lễ hội cày Tịch điền Đọi Sơn.

Vào ngày hội, từ sáng sớm, già trẻ, trai gái xúng xính trong bộ trang phục truyền thống tiến về cánh đồng cho thu hoạch tốt nhất trong năm, ở gần làng để khai hội. Hội bắt đầu bằng phần cúng thần và cầu mùa. Lễ vật dâng lên trời đất gồm: một con gà trống, mâm lễ ngũ quả, hoa, 5 chén gạo, 9 chén rượu…Chủ lễ (thầy cúng) đọc bài cúng, đọc lời khấn vái với nội dung: “Cầu cho mưa thuận gió hòa, nước vào ruộng đầy, mọi vật sinh sôi nảy nở, cầu cho mọi người sức khỏe, xóm làng bình an no ấm, mùa màng bội thu”…

Sau phần lễ trang nghiêm, mọi người bắt đầu vào phần hội. Mở đầu bằng phần văn nghệ mừng hội; sau đó là các trò chơi dân gian đặc sắc: ném còn, đánh đu, đi cầu kiều, bịt mắt đánh trống… Đến với lễ hội Lồng Tồng còn có sự tham gia các món ăn ẩm thực truyền thống của dân tộc Tày, Nùng. Đó là các loại bánh đặc trưng mang nét truyền thống của dân tộc Tày, Nùng trong các dịp lễ tết như: Bánh dày, vắt vai, sừng bò…

Lễ hội đã trở thành một điểm nhấn về nét văn hóa đặc sắc của người Tày, Nùng ở vùng Đông Bắc. Sau này, một bộ phận người Tày, Nùng di chuyển vào Tây Nguyên cũng đem lễ hội này vào vùng đất mới, góp phần làm đa dạng bức tranh văn hóa ở vùng cao nguyên..

1.1.3.3. Lễ hội Khai hạ ở Mường Bi Hòa Bình

Đây là lễ hội dân gian gắn liền với nền nông nghiệp lúa nước, mang nhiều dấu ấn của nền văn minh Việt cổ, là hoạt động văn hóa – tín ngưỡng không thể thiếu của đồng bào Mường Bi xã Phong Phú, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình; thể hiện ước mơ mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Hội Khai hạ tổ chức ngày mồng 7 tháng Giêng, mở đầu cho năm mới. Sau nghi lễ này người dân mới được ra đồng làm việc và vào rừng lấy măng, củi, săn bắn… nên còn gọi là lễ xuống đồng và mở cửa rừng.

Đối tượng thờ cúng trong lễ hội là thành hoàng Quốc Mẫu Hoàng Bà – thân mẫu của Thánh Tản. Hoàng Bà vi hành từ núi Tản, sông Đà đến vùng Mường Bi thăm dân gian được dân đón tiếp chu đáo. Cảm kích trước tấm lòng ấy, bà đã chỉ dạy cho người dân cách làm ruộng hai vụ, bảo dân làng cách ăn ở … Sau đó, bà ra bờ suối xóm Lồ bay về trời.

Xã được chọn đăng cai sẽ chịu trách nhiệm chuẩn bị một con trâu tơ dành vào việc tế thần. Sau lễ tế, trâu này được xả thịt để tiếp đãi những người dân trong vùng đến dự hội. Đồ tế gồm có thịt trâu, xôi trắng và đặc biệt là một con hoẵng săn được trong thời gian chuẩn bị lễ hội. Thầy cúng làm chủ tế xướng lên những lời vấn khấn cổ, cầu cho mùa màng tốt tươi, mưa thuận gió hòa, nhân dân an thái.

Phần hội với những trò chơi dân gian như: bắn nỏ, kéo co, đánh cù, đánh mảng… các hoạt động văn nghệ: thi xắc bùa, hát đối… và ẩm thực dân tộc độc đáo. Khóa luận: Lễ hội cày Tịch điền Đọi Sơn.

Thông qua lễ hội này, người dân bày tỏ lòng kính trọng tới các vị thần, cầu một năm mưa thuận gió hòa, cuộc sống ấm no, hạnh phúc, quê hương giàu đẹp. Đây cũng là dịp gặp gỡ, giao lưu, thắt chặt tình đoàn kết, tinh thần cộng đồng, bảo tồn văn hóa dân tộc.

1.2. KHÁI QUÁT VỀ NỀN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

1.2.1. Nền nông nghiệp Việt Nam xưa và nay

1.2.1.1. Nền nông nghiệp xưa

Nông nghiệp là ngành sản xuất có lịch sử phát triển lâu đời, từ vài ngàn năm nay, kể từ khi con người chuyển từ hái lượm và săn bắn sang trồng trọt.

Ở người Việt, nền nông nghiệp (trong đó, trồng trọt ruộng nước giữ vai trò chủ đạo) hình thành và phát triển cùng với lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước của dân tộc; gắn liền với quá trình khai hoang lập làng, từ những công xã nông thôn đến các làng tiểu nông trong thời kỳ phong kiến. Nông nghiệp là hoạt động căn bản nhất và luôn được xem là “nghề gốc” của cư dân các làng; bao trùm và chi phối đến tất cả các hoạt động kinh tế khác. Điều này được quy định trước hết bởi các điều kiện tự nhiên và tập quán của người dân. Lấy nông nghiệp làm cốt lõi sinh tồn đã trở thành tập quán sinh sống, thành tư tưởng, ý thức và tình cảm ngấm sâu trong tiềm thức của người nông dân. Nông nghiệp vừa là tất yếu sinh tồn, nhưng cũng là ước mơ, khát vọng về sự giàu có, sung túc, thịnh vượng của người dân. Đất đai, ruộng vườn, lúa gạo hay trâu bò luôn được coi là thước đo sự giàu có trong xã hội nông nghiệp. Và từ đó, tư tưởng “dĩ nông vi bản” đã trở thành ý thức hệ phổ biến, hầu như bất di bất dịch, không chỉ với người dân mà cả với vua quan và các thành phần dân cư khác.

Hoạt động sản xuất của người nông dân chủ yếu dựa vào lao động thủ công và kỹ thuật cơ bắp, những tri thức truyền thống, vào tập quán, kinh nghiệm và thói quen sản xuất của mỗi làng, mỗi cộng đồng hay hộ gia đình, không có khoa học kỹ thuật hỗ trợ nên năng suất thấp, bấp bênh, phụ thuộc nặng nề vào thiên nhiên. Những tri thức, kinh nghiệm sản xuất tương thích với nền sản xuất nhỏ, dựa vào tự nhiên, nhất là những tri thức, kinh nghiệm về chọn giống, về thời vụ và kỹ thuật sản xuất, sự thay đổi của thời tiết ứng với sinh sinh trưởng của cây trồng… được đúc kết, lưu truyền và trở thành “kế mưu sinh” bền chặt của họ từ đời này sang đời sau.

Do trình độ sản xuất lạc hậu nên phần lớn các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của dân cư lệ thuộc rất nhiều vào các yếu tố và điều kiện tự nhiên. Trong triết lý về quan hệ giữa tự nhiên và con người (Thiên – Địa – Nhân), “thiên” (trời) và “địa” (đất) luôn được coi là yếu tố chi phối đến “nhân” (con người). Song, con người lại được coi là tinh hoa của đất, là một bộ phận của tự nhiên, không tách khỏi tự nhiên, mà gắn bó mật thiết với tự nhiên. Vì vậy, trong nền kinh tế xã hội nông nghiệp truyền thống, các yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” luôn được coi là những yếu tố quan trọng hàng đầu trong phát triển sản xuất và đời sống.

Ngay từ xa xưa, các cộng đồng dân cư cũng luôn phải tìm cách cải tạo các yếu tố tự nhiên, thích ứng và ứng phó với những tác động bất lợi của tự nhiên (gió bão, tố, lốc, lũ lụt, hạn hán, hỏa hoạn, dịch bệnh,…) để bảo vệ sản xuất và cuộc sống. Ở những vùng đồng bằng, hầu như các làng đều phải đắp đê để bảo vệ khu đất cư trú và đất trồng trọt trước những cơn lũ của các dòng sông và xây dựng những hệ thống thủy lợi nhỏ để tưới tiêu cho đồng ruộng. Sản xuất càng phát triển thì việc cải tạo đất đai, tưới tiêu nước, bảo vệ rừng, phòng chống thiên tai,… càng trở nên quan trọng và cần thiết.

Trong quá trình lao động bền bỉ để cải tạo tự nhiên và ứng phó với những bất lợi của tự nhiên, các cộng đồng cư dân nông nghiệp ngày càng có những hiểu biết và tri thức về tự nhiên, tích lũy kinh nghiệm để chung sống hài hòa với tự nhiên và lợi dụng tốt hơn các điều kiện tự nhiên. Kinh nghiệm và sự hiểu biết về thời tiết, khí hậu, về đất đai, thủy triều hay mùa vụ phát triển của các loại cây trồng,vật nuôi đã được đúc kết và được áp dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản, săn bắn và khai thác sản vật tự nhiên… Khóa luận: Lễ hội cày Tịch điền Đọi Sơn.

Chính mối quan hệ mật thiết, hài hòa với tự nhiên trong sản xuất cũng như trong đời sống đã tạo ra cho con người, các cộng đồng dân cư nông nghiệp những tình cảm sâu đậm với thiên nhiên, những giá trị văn hóa, tinh thần hết sức phong phú, sáng tạo. Thiên nhiên trở thành một phần trong đời sống văn hóa, tinh thần, tín ngưỡng, tình cảm của con người. Nhiều yếu tố và hiện tượng tự nhiên được “sùng bái” và trở thành tín ngưỡng như “thần sấm”, “thần mưa”, “thần sông”, “thần núi”,… cùng với những lễ hội truyền thống, mang đậm sắc thái văn hóa của các cộng đồng, các vùng quê như các lễ hội: cầu mưa, rước nước, xuống đồng, tịch điền, hạ ngư,…

1.2.1.2. Nền nông nghiệp hiện nay

Ngày nay, nhờ công cuộc thủy lợi hóa và áp dụng rộng rãi các tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ, con người hạn chế được những tác hại của tự nhiên, chủ động hơn trong sản xuất nông nghiệp, nâng cao năng suất và sản lượng lúa, hoa màu.

Trong bối cảnh bị chi phối về tình hình kinh tế thế giới vừa ra khỏi tình trạng khủng hoảng, bước đầu phục hồi nhưng vẫn còn nhiều tiềm ẩn, sản xuất nông nghiệp nước ta trải qua những khó khăn do tác động của biến đổi khí hậu, thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh… nhưng sản xuất nông nghiệp vẫn đạt được những thành tựu đáng mừng, có đóng góp thiết thực trong việc cân đối cung cầu lương thực, thực phẩm.

Quá trình đưa Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 7 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn vào cuộc sống đã đạt được những thành tựu rất đáng kể, đóng góp thiết thực cho đất nước. GDP cả năm của cả nước là 6,7% thì khu vực nông nghiệp đóng góp 2,6%; tạo ra được gần 40 triệu tấn lương thực, thực phẩm, trong đó hơn 30 triệu tấn dành cho việc nuôi sống mình và phục vụ cho tiêu dùng trong nước. Chính nhờ an ninh lương thực, thực phẩm trên toàn quốc được giữ vững đã góp phần quan trọng vào việc bảo đảm an ninh chính trị, ổn định xã hội.

Việc tạo ra một lượng lớn lương thực, thực phẩm không chỉ bảo đảm an ninh lương thực mà còn xuất khẩu trên 6, 2 triệu tấn gạo (sau Thái Lan), góp phần giải quyết thiếu đói cho một số nước trong khu vực và thế giới có nguy cơ bất ổn về lương thực. Nông nghiệp còn đóng góp quan trọng cho việc tăng kim ngạch xuất khẩu, giảm nhập siêu. Ngoài gạo, các mặt hàng nông lâm thủy sản đều có số lượng tăng khá trong đó tăng mạnh nhất là cao su 92,8%; nhân điều 32,5%; hạt tiêu 23%; tiếp đến là các mặt hàng thủy sản 16,3%.

Lịch sử phát triển xã hội đã khẳng định, nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất chủ yếu của xã hội. Xã hội loài người muốn tồn tại và phát triển được thì nhu cầu lương thực, thực phẩm không thể thiếu mà nông nghiệp chính là ngành cung cấp. Khóa luận: Lễ hội cày Tịch điền Đọi Sơn.

Đặc biệt, nông nghiệp đã liên tiếp 2 lần “cứu” nền kinh tế thoát khỏi bờ vực khủng hoảng. Năm 1989, công nghiệp tăng trưởng âm, nhưng nông nghiệp phát triển mạnh nên cứu được khủng hoảng.

Nông nghiệp còn cung cấp các nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến, qua đó sẽ nâng cao giá trị của nông sản trên thị trường.

Ngày nay, dù cơ cấu kinh tế đã có nhiều thay đổi, nhưng vị trí của nông nghiệp không hề bị coi nhẹ mà còn có nhiều nét mới, đặc sắc hơn, từng bước cải thiện cơ cấu kinh tế, nâng cao đời sống mọi mặt của người nông dân nông thôn. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X xác định: Tăng đầu tư phát triển cho khu vực nông nghiệp, nông thôn tăng mạnh đầu tư ngân sách Nhà nước ngay từ năm 2009 và bảo đảm 5 năm sau cao gấp hai lần năm năm trước.

1.2.3. Hình ảnh con trâu gắn liền với nông nghiệp Việt Nam

Nông nghiệp của người Việt là nền nông nghiệp ruộng nước, dùng cày, lấy con trâu làm sức kéo. Trâu là biểu hiện của sức mạnh dẻo dai, bền bỉ, là hình ảnh của sự nhẫn nai, cần cù.

Trâu là con vật thân thương, gắn liền với hình ảnh với hình ảnh đồng quê, với bờ tre ruộng lúa. Với người nông dân xưa, con trâu được coi như một sản nghiệp nên tục ngữ có câu : “Ruộng sâu, trâu nái”; hay “ Con trâu là đầu cơ nghiệp”, nên nhà nông không nói mua trâu mà nói “ tậu trâu” và việc tậu trâu là một trong ba việc hệ trọng của đời người.

Hình ảnh con trâu đi trước cái cày đi sau cùng với người nông dân đã trở lên quen thuộc, phổ biến trong xã hội Việt Nam xưa. Tuy vất vả nhưng người nông dân luôn yêu đời, lạc quan, tin tưởng vào tương lai. Họ coi công việc cày cấy là niềm vui, giữa trâu và người cùng hòa bài ca niềm hăng say lao động. Cảnh trâu và người đồng hành trong công việc nhà nông, trâu như một thành viên trong gia đình đầm ấm, hạnh phúc :

“Rủ nhau đi cấy đi cày

Bây giờ khó nhọc có ngày phong lưu

Trên đồng cạn dưới đồng sâu

Chồng cày vợ cấy, con trâu đi bừa”.

Hình ảnh con trâu cùng với lũy tre xanh nền nã, những đồng lúa thẳng cánh cò bay, tiếng sáo diều vi vu đã dệt nên một bản hòa âm tuyệt sắc của thiên nhiên. Con trâu là một hình ảnh vừa hiền lại vừa hùng, cái hiền hòa và hùng mạnh của dân tộc Việt.

Ngày nay, với sự phát triển của khoa học công nghệ, các loại máy móc hiện đại ra đời thay thế cho lao động cơ bắp. Vì vậy hình ảnh con trâu đi trước cái cày theo sau cùng với người nông dân một nắng hai sương ít còn xuất hiện ở làng quê Việt. Tuy vậy, con trâu đã đi vào lĩnh vực tâm linh, tinh thần của người Việt Nam từ bao đời nay. Con trâu gắn bó thân thiết cả về đời sống vật chất và tinh thần của người Việt. Trải qua nhiều thế hệ, ông cha ta đã đúc kết và nhắc nhở thế hệ các con cháu phải luôn coi trọng nông nghiệp : “ Dĩ nông vi bản”, phải biết trân trọng, quý mến con vật đã gắn bó với đời sống nông nghiệp Việt Nam. Con trâu sẽ mãi được lưu truyền, ghi nhớ trong tâm thức của mỗi người nhờ hệ thống những câu ca dao tục ngữ cùng với những lễ hội độc đáo, hấp dẫn các vùng miền đất nước ta (hội Chọi trâu Đồ Sơn, lễ hội Xuống đồng, lễ hội Lổng tồng, lễ hội Tịch điền Đọi Sơn …). Thông qua đó để khuyên răn cho các thế hệ sau phải biết quý trọng nông nghiệp, nông nghiệp trở thành nền tảng vững chắc cho mọi sự phát triển.

1.3. NGHI LỄ CÀY TỊCH ĐIỀN VÀ CÁC LỄ NGHI NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM. Khóa luận: Lễ hội cày Tịch điền Đọi Sơn.

1.3.1. Nghi lễ cày Tịch điền

1.3.1.1. Giải thích ý nghĩa của Tịch điền

Hạ điền hay tịch điền đều chỉ lễ cày ruộng đầu năm nói chung nhưng tùy cách tiến hành lễ mà có tên gọi khác nhau.

Theo Hán – Việt Từ điển của Đào Duy Anh, Hạ điền là “lễ cúng Thần Nông ngày đầu năm để bắt đầu công việc nhà nông” – dân gian thường gọi là lễ Xuống đồng, lễ Ra đồng (do chữ Hạ điền nghĩa là xuống ruộng); Tịch điền là “ ruộng của vua tự mình ra cày” (Tịch nghĩa là giẫm, xéo).

Và như thế, lễ cày – đường cày đầu tiên diễn ra ở nhiều nơi gọi là Hạ điền; nếu diễn ra ở ruộng do chính nhà vua đích thân xuống cày để làm gương và lấy may đầu năm cho dân chúng thì gọi là Tịch điền. Cánh đồng dưới chân núi Đọi (xã Đọi Sơn) thuộc trường hợp thứ hai. Đây chính là nơi, Vua Lê Đại Hành đích thân xuống ruộng cày và khai sinh ra lễ Tịch điền đầu tiên ở nước ta.

Lễ Tịch điền thường được tổ chức vào mùa xuân. Bộ Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ gồm 262 quyển có quyển số 81 dành viết riêng về cày ruộng Tịch điền gồm có các chương: Điền lệ cày ruộng Tịch điền, công việc cày ruộng Tịch điền, lời chúc cho lúa tốt…

Theo Việt Sử lược – cuốn sử có niên đại sớm nhất của nước ta, năm Đinh Hợi, niên hiệu Thiên Trù năm thứ 7 (987), Vua Lê Đại Hành cày ruộng Tịch điền ở Đọi Sơn, được một lọ vàng, cày ở núi Bà Hối được một lọ nữa, vua đặt tên đất đó là ruộng Kim Ngân” [Việt sử lược, tr.57]. Đại Việt sử ký Toàn thư do Ngô Sĩ Liên biên soạn vào thế kỷ XV chép về sự kiện này cụ thể hơn : “Đinh Hợi, năm thứ 8 (niên hiệu Thiên Phúc) năm 987, mùa xuân vua cày ruộng ở núi Đọi, được một chĩnh nhỏ vàng, lại cày ở núi Bàn Hải được một chĩnh bạc, vì thế đặt tên là ruộng Kim Ngân” [ĐVSK Toàn thư, tr.229]. Đại Nam nhất thống chí – bộ quốc chí của nhà Nguyễn chỉ ghi nhận Lê Đại Hành cày tịch điền ở núi Long Đọi bắt được một lọ vàng cốm nên được gọi là Kim Điền, chứ không nói đến cày ở núi Bà Hối hay Bàn Hải [ĐNNTC, tr.310].

Như vậy các cuốn sử cũ đều ghi chép Lê Đại Hành là ông vua đầu tiên dưới chế độ phong kiến Việt Nam tiến hành lễ cày Tịch điền nhằm mục đích khuyến khích sản xuất nông nghiệp. Từ đó, hàng năm vào đầu xuân nhà vua đích thân ra đồng cày ruộng, cầu được mùa và các triều đại sau đó đều duy trì nghi lễ cày Tịch điền với các hình thức khác nhau.

1.3.1.2 Lễ Tịch điền qua các triều đại Việt Nam Khóa luận: Lễ hội cày Tịch điền Đọi Sơn.

Sử cũ ghi lại, sau lễ Tịch điền đầu tiên vào năm 987, năm sau – năm 988 Lê Đại Hành cùng văn võ bá quan cày ruộng ở Đọi Sơn, ở Bàn Hải bắt được chum bạc; vì thế những thửa ruộng này được gọi là Kim Ngân điền.

Thời Lý, lễ Tịch điền được tổ chức long trọng hơn và là một trong những ngày hội chính của đất nước; các ông vua nhiều lần đích thân xuống khởi cày Tịch điền. Đầu tiên là Vua Lý Thái Tông. Đã hai lần đi cày ruộng Tịch điền :

  • Lần một, tháng Tư, năm Nhâm Thân, niên hiệu Thiên Thành thứ năm (năm 1032), Vua ngự đến Tín Hương ở Đỗ Động Giang, cày ruộng Tịch điền. Xuống chiếu đổi ruộng ấy làm ruộng Ứng Thiên [ĐVSK Toàn thư, tr.287 – 288].
  • Tháng Hai, năm Thông Thụy thứ năm (Mậu Dần, 1038), Vua cày ruộng ở Bố Hải, sai quan lại chọn đất xây đàn cúng tế. Vua làm lễ tế Thần Nông cầu cho được mùa lúa tốt, không bị thiên tai làm hư hại, rồi tự cầm cày cày ruộng. Các quan tả hữu có người can rằng : “Đó là việc của nông phu, bệ hạ cần gì làm thế” ? Vua nói : “Trẫm không tự cày thì lấy gì làm xôi cúng, lấy gì cho thiên hạ noi theo ?”. Nói xong vua đẩy cày 3 lần rồi thôi. Sử gia Ngô Sĩ Liên đã bàn về sự kiện này : “Lý Thái Tông khôi phục lễ cổ, tự mình cày ruộng Tịch điền để nêu gương cho thiên hạ, trên thì để cúng tôn miếu, dưới thì để nuôi muôn dân, công hiệu trị nước dẫn đến của giàu dân đông, nên thay !” [ĐVSK Toàn thư, tr. 294].

Không chỉ cày Tịch điền, vào tháng Tư năm Canh Ngọ (năm 1030), Vua ngự ra ruộng ở xứ Ô Lộ (nay chưa rõ ở đâu) xem nhân dân gặt, nhân đó đổi tên ruộng ấy là Vĩnh Hưng [ĐVSK Toàn thư, tr. 287].

Đến đời Trần, do bận việc giữ nước chống ngoại bang nên lễ cày Tịch điền không duy trì theo lệ của triều Lý, nhà vua không thân hành ra làm lễ Tịch diền, mà sai quan lại đắp đàn Xã tắc để cúng tế.

Thời Lê Sơ, các vua vẫn chú trọng nghi lễ cày tịch điền và khác với thời Lý – Trần, các ông vua thường phải ra các địa phương cách Thăng Long rất xa để cày tịch điền thì thời Lê, nghi lễ này được tổ chức ngay sát Kinh thành. Tại xã Hồng Mai, huyện Thanh Đàm (nay là phường Bạch Mai, quận Hai Bà Trưng), vào mùa Đông năm Giáp Thìn niên hiệu Hồng Đức (năm 1484) đã xây dựng một khu để mỗi năm nhà vua cùng triều thần đến tế Thần Nông, sau đó cày Tịch điền. Khu Tịch điền này gồm ba bộ phận:

  • Hành điện (điện vua ở) gồm 5 gian 2 chái và một dãy 3 gian nhà bếp.
  • Đài Quan canh (để vua xem việc cày ruộng) ở giữa, cao 5 thước, rộng 36 thước;
  • Đàn Tiên nông cao 7 thước, rộng 36 thước.

Bốn mặt của khu tịch điền đều đắp tường đất, có cửa để đi ngựa vào [ĐVSKTT, tập 2, tr.395].

Hằng năm vào tháng trọng xuân, vua và các quan ra cúng tế Thần Nông và làm lễ Tịch điền. Nhà vua đích thân cầm cày cày ruộng. Khóa luận: Lễ hội cày Tịch điền Đọi Sơn.

Thời Lê – Trịnh, chúa Trịnh ra tế thay vua rồi sai quan cày ruộng.

Đến triều Nguyễn, lễ Tịch điền được quy định cụ thể, tổ chức quy mô hơn. Minh Mạng được mệnh danh là vị hoàng đế của nhà nông. Năm Minh Mạng thứ 9, dự lễ Tịch điền, sau khi đích thân cày 3 đường, nhà vua xúc động nói rằng: “Việc cày cấy khó khăn hơn các nghề khác sao…Nên giáng ân chỉ trù chọn năm Minh Mạng thứ 10 trừ bớt 3 phần 10 thuế lúa má…”. Rồi Vua xuống Chiếu dụ : “ …Từ khi Trẫm lên ngôi, luôn luôn nghĩ đến an dân, nên quan tâm đến việc chính này (cày ruộng Tịch điền)…Vua định ngày lễ Tịch điền tháng Hai…Và phải xây tại ruộng Tịch điền các dinh thự Quan Canh (nhìn cày), Cụ Phục (mặc áo), đàn Tiên Nông, kho lúa dự trữ để cúng thờ (thần Thương)…”. Giống lúa cấy trên ruộng Tịch điền được chọn để cho loại gạo ngon dùng vào việc tế lễ, đặc biệt là tế Thần Nông và Thần Xã Tắc.

Rồi Vua đề thơ rằng :

Ta cày ba đường thì chưa thấy mệt

Quan cày chín đường thì mồ hôi đầm đìa

Mới biết người nông phu nhọc nhằn thế nào khi cày hàng ngàn mẫu.

Minh Mạng đã ban dụ chỉnh đốn lại các nghi lễ cổ truyền. Lễ Tịch điền được giao cho bộ Lễ phụ trách. Ruộng Tịch điền gồm 12 mẫu (60.000m2), nằm ở trong Kinh thành, ở bờ bắc Ngự Hà. Ở đây có đàn Thần Nông, có đài Quan Canh – để nhà vua ngự xem cày, có hệ thống nhà làm việc, nhà kho. Trước lễ Tịch điền quan Phủ doãn Thừa Thiên chịu trách nhiệm chuẩn bị đầy đủ cày, bừa, thóc giống và lễ vật. Trước đó vài ngày, các quan mời vua ra tập cày trước. Sáng sớm ngày hành lễ, đám rước vua đi hành lễ đầy đủ nghi thức của hoàng đế xuất cung. Phường bát âm luôn cử khúc nghinh xuân, tiếp giá. Mở đầu lễ Tịch điền là nghi thức quán tẩy (rửa tay). Tiếp theo là nghi thức hiến tửu (dâng rượu). Lễ tất, nhạc nổi lên. Quan bộ Lễ dẫn vua sang nhà Cụ phục thay áo, đổi khăn, rồi ra ruộng cày.

Vua cày xong ba luống thì trao cày cho quan Phủ doãn và quan thượng thư bộ Hộ. Sau đó nhà vua ngự đến đài Quan Canh chứng kiến các quan chức hoàng thân cày tiếp. Các hoàng thân, hoàng tử cày mười luống, quan văn võ đại thần gồm chình người cày 18 luống. Phần còn lại dành cho các chức sắc, bô lão sở tại. Mọi người cày xong, vua lên kiệu về cung ban yến cho các quan. Mùa lúa chín, quan Phủ doãn Thừa Thiên trông coi việc gặt hái cùng với một quan thuộc bộ Hộ. Lúa gặt về được lựa giống để gieo vào lễ Tịch điền mùa sau. Số còn lại được sử dụng cho tế lễ trong Đại Nội, tế giao, tế thần linh và lăng miếu. Ý nghĩa của lễ hội Tịch điền được vua Thiêụ Trị thể hiện trong bài “Thượng Mậu quan cảnh” nhân một lần đến Quan canh xem các quan cày ruộng: Khóa luận: Lễ hội cày Tịch điền Đọi Sơn.

“ Chót vót lầu cao giữa khoảng không Nhin xa quang cảnh chốn nương đồng

Ba đường dẫn lối khuyên cày cấy

Năm tháng thương người trọng việc nông”.

Trong đó lời chúc cho “Người coi việc làm ruộng bưng thúng vàng đựng thóc đồng thóc lục…

Ngày nay, một số địa phương ở tỉnh Thừa Thiên – Huế vẫn còn duy trì ngày hội ra đồng đầu năm dưới nhiều hình thức, trong đó có những cuộc “ hội nghị đầu bờ” do chính quyền tổ chức, được xem như là một dấu ấn để lại của lễ Tịch điền ngày xưa.

Đất nước thuần nông nghiệp, từ thời dựng nước đến thời kỳ độc lập, các bậc đế vương đều biết chăm lo đến nghề nông, là hạnh phúc của muôn dân. Vì thế, lễ hội Tịch điền còn thể hiện một chính sách khuyến nông, trọng nông, có ảnh hưởng tích cực đến nông nghiệp và nông thôn, đáp ứng nhu cầu tâm linh của con người. Lễ Tịch điền từ khi du nhập vào Việt Nam đã trở thành một truyền thống tốt đẹp từ thời Lê kéo dài đến thời Nguyễn.

1.4. GIỚI THIỆU VỀ ĐỌI SƠN VÀ CHÙA LONG ĐỌI SƠN

1.4.1. Giới thiệu về Đọi Sơn

Xã Đọi Sơn cách thành phố Phủ Lý 10 km về hướng Bắc. Du khách từ Hà Nội đến ga Đồng Văn rẽ trái đi Hòa Mạc chừng 16km là đến xã.

Xã Đọi Sơn gồm có 7 thôn (làng cũ): Đọi Nhất, Đọi Nhì, Đọi Tam, Đọi Trung, Đọi Lĩnh, Đọi Tín và Ngân Hà, gồm 1048 hộ với 4.356 nhân khẩu.

Đọi Sơn – một vùng nông trang trù phú, có dòng sông Châu chảy qua phía Đông xã, cùng với núi Đọi đã trở thành biểu tượng thiên nhiên vượt trội tiêu biểu của Hà Nam. Từ trên đỉnh núi Đọi, phóng tầm mắt ra bốn phía thấy phong cảnh thật nên thơ: đồng lúa, bãi ngô, ruộng khoai mượt mà, tươi xanh, xa xa dòng sông Châu Giang quanh co, lượn khúc như dải lụa uốn éo chảy xuyên giữa. Các thế hệ người Đọi Sơn cần cù lao động, xây dựng quê hương.

Nói đến Đọi Sơn là nói đến làng trống ngàn năm tuổi, đặc biệt làng trống Đọi Tam ở phía Tây Bắc chân núi Đọi. Với bàn tay khéo léo, người Đọi Tam đã tạo ra được những chiếc trống với âm thanh rền vang, trầm bổng mà không kém phần oai hùng, linh thiêng.

Giữa làng Đọi Tam có ngôi đình cổ, đình thờ Thành hoàng làng là hai ông tổ nghề. Theo truyền thuyết, một ngày cách nay hơn 1000 năm, có hai anh em là Nguyễn Đức Năng và Nguyễn Đức Bản khi đi qua làng Đọi Tam thấy vùng này có nhiều gỗ mít chín thơm lừng, gỗ mít vàng ươm lại không bị mọt, hai anh em liền chọn nơi này làm chốn định cư để hành nghề”.

Truyền thuyết cũng kể lại rằng, năm 986, được tin Vua Lê Đại Hành sửa soạn về làng cày ruộng khuyến nông, hai anh em cụ Năng và cụ Bản đã tự tay làm lên một cái trống to để đón vua. Tiếng trống vang như sấm rền nên về sau hai ông được dân làng tôn là trạng Sấm. Trước khi Thái hậu Ỷ Lan và vua Lý Nhân Tông về đây xây dựng chùa Long Đọi Sơn (1118), làng trống Đọi Tam dưới chân núi đã có trên 200 năm. Khóa luận: Lễ hội cày Tịch điền Đọi Sơn.

Nghề làm trống Đọi Tam nổi tiếng khắp nơi. Thợ của làng có mặt ở mọi miền đất nước. Theo quy định, kỹ thuật làm trống chỉ được truyền cho con trai, không truyền cho con gái, con rể hay người ngoài làng. Nhà nào vi phạm quy định này sẽ bị đuổi khỏi làng hoặc là chịu lời nguyền sẽ không làm ăn, buôn bán được nữa. Chính vì lẽ đó, con trai trong làng biết làm trống từ hồi 12, 13 tuổi.

Khi đến 14,15 tuổi, người con trai làng Đọi đã vai đeo bọc da trâu và chão, theo cha rong ruổi đi khắp các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, lên miền núi vào cả miền Trung làm trống. Họ đến các làng để bưng lại mặt trống, làm trống mới. Thợ làng Đọi Tam làm đủ các loại trống: trống đại, trống tiểu, trống dùng trong cung đình, trống dùng trong trường học, trống trung thu…, trong đó trống sấm chỉ dành cho cánh đàn ông khỏe mạnh, có kinh nghiệm và kỹ thuật điêu luyện.

Để làm một chiếc trống phải qua ba bước: làm da, làm tang và bưng trống. Da được chọn làm trống là da trâu cái, đem bào hết lớp màng, ngâm nước, chống thối rồi phơi khô. Lớp da ngoài được dùng làm trống to, lớp da dưới dùng làm trống cho trẻ em. Gỗ làm tang trống chủ yếu là gỗ mít – loại gỗ dẻo, mềm, không bị cong vênh, hơn nữa “ Gỗ mít đánh ít kêu nhiều”. Gỗ được cắt thành nhiều khúc sau đó pha thành từng “dăm”. Tùy theo kích cỡ của trống mới định ra bao nhiêu “dăm”, cũng như độ cong và độ dẻo của dăm để khi ghép với thân trống vừa khít, không có kẽ hở. Ngoài ra, để cho trống thật kín, người ta còn dùng sơn miết vào các khe, cứ một lớp sơn lại có một lớp vải màn. Cuối cùng là bưng trống. Da trâu được quay tròn căng hết cỡ trên mặt trống, đóng đinh cố định vào thân trống bằng đinh chết. Đinh chốt được làm từ vầu hoặc tre già.

Vẫn là những bước làm trống cơ bản nhưng trống Đọi Tam nổi tiếng nhờ độ bền, đẹp, nhờ bí quyết riêng cũng như tinh thần trách nhiệm của người thợ. Ngay cả thời kỳ khó khăn, Đọi Tam vẫn duy trì được nghề nhờ truyền thống của cha ông. Trên địa bàn có 550 hộ thì có tới gần 600 thợ làm trống với gần 40 cơ sở làm các công đoạn về trống: 14 cơ sở sản xuất khung trống, 13 cơ sở sản xuất da trâu. Trên 10 cơ sở làm hoàn chỉnh trống.

Làng trống Đọi Tam đã được cấp bằng công nhận làng nghề truyền thống Tiểu thủ công Hà Nam tháng 10 – 2004. Tháng 11 – 2007, làng trống Đọi Sơn được Hiệp hội Làng nghề Việt Nam trao Bằng khen “Làng nghề tiêu biểu Việt Nam”. Đây là sự cố gắng nỗ lực của chính quyền cơ sở và người dân làng nghề. Làng Đọi Tam thành lập một đội trống gồm 60 người để đi phục vụ các lễ hội, các chương trình lớn ở các tỉnh. Đội trống gồm có 12 cụ già khỏe mạnh, có kinh nghiệm; 48 cô gái đã có chồng. Mỗi người phụ trách một quả trống, trống cái to nhất đứng giữa gọi là trống sấm, hai cánh gà có hai trống nhỡ, và các trống con đứng xung quanh. Âm thanh của mỗi quả trống như một nốt nhạc trong cả dàn nhạc.

Đời sống tâm linh của người Đọi Sơn khá phong phú. Ngoài tín ngưỡng thờ gia tiên, người dân còn thờ Phật, thờ thần, thờ Mẫu, thờ Thành hoàng làng tại các đình, chùa, đền, miếu. Nét nổi bật trong thế giới tâm linh người dân Đọi Sơn là thờ đa thần, trong đó tôn giáo và tín ngưỡng đan xen vào nhau đến mức khó phân biệt rạch ròi.

Đến với Đọi Sơn nhất là vào dịp đầu xuân, du khách bắt gặp cái hư thực của cùng đồng chiêm trũng trong tiếng chuông như thức tỉnh lòng người cõi sắc sắc không không của ngôi chùa cổ kính – Diên Linh tự. Chùa tọa lạc trên núi Long Đọi, nhìn hướng Nam. Chùa do Lý Thánh Tông và Vương phi Ỷ Lan cho xây dựng từ năm 1054, Tể tướng Dương Đại Gia và Thiền sư Đàm Cứu Chỉ đến trụ trì và tham gia xây dựng. Đến mùa hạ tháng Năm niên hiệu Hội Tường Đại Khánh thứ chín (năm 1118), Vua Lý Nhân Tông cho xây dựng chùa và tháp Sùng Thiện Diên Linh, đến năm Thiên Phù Duệ Vũ thứ hai (năm 1121) hoàn thành. Nhân đó vua đặt tên cho núi là Long Đọi Sơn. Khóa luận: Lễ hội cày Tịch điền Đọi Sơn.

Tương truyền chùa Long Đọi Sơn nằm trên thế đất Cửu Long, bởi toàn cảnh núi Đọi trông xa giống như một con rồng đất lớn nằm giữa một dải đất rộng, bằng phẳng của vùng chiêm trũng, đầu núi Đọi hơi nhô cao về hướng Thăng Long. Đứng trên đỉnh núi có thể nhìn thấy 9 con đường, sông chạy về giống như 9 con rồng. Mắt rồng là 9 cái giếng hiện nằm xung quanh dãy núi Đọi trong các khu dân cư dưới chân núi.

Đầu thế kỷ XV, khi giặc Minh xâm lược nước ta, chùa bị phá hủy nhiều. Mãi tới cuối thế kỷ XVI, năm 1591 đời Mạc Mậu Hợp, tức là gần 170 năm sau, nhân dân địa phương mới “dựng lại bia đổ, bắc lại nhà xà và những chỗ tường hư hỏng, làm cửa xây tường khiến cho sau hơn 500 năm, một nơi thắng cảnh trong chốn tùng lâm lại được mới mẻ” (Bài văn khắc mặt sau bia Sùng Thiện Diên Linh).

Hai bên chùa là 18 gian hành lang thờ thập bát La Hán. Ngay ngõ vào là hai dãy nhà đắp cảnh thập điện. Ngoài ra, chùa còn có nhà tổ, nhà khách, tăng phòng…tất cả có tới 125 gian.

Trong kháng chiến chống Pháp, chùa bị bỏ hoang, các sư sãi tản cư đi nơi khác. Sau ngày hòa bình lập lại, năm 1957 các sư sãi cùng các tín đồ phật tử và nhân dân địa phương cho sửa chữa, tôn tạo lại chùa.

Chùa Long Đọi Sơn là một trong số ít chùa còn lưu giữ được nhiều hiện vật mỹ thuật thời Lý có giá trị. Nổi bật trong đó như bia Sùng Thiện Diên Linh cao hơn 2,5m, rộng hơn 1,65m, dày 0,3m. Bệ kia là khối đá hình chữ nhật dài 2,4m tạc hình hai con rồng, uốn khúc. Mặt bia được chia làm hai nửa, tạc hình hai con rồng, đuôi ở đoạn sau, xoắn thành 4 khúc. Đây là một trong số ít những bia thời Lý còn đến tận bây giờ.

Chùa Long Đọi Sơn đã trải qua nhiều lần trùng tu, bên cạnh những kiến trúc pho tượng cũ, các kiến trúc pho tượng mới cũng được sắp đặt kỳ công và giữ được nét cổ kính lâu đời của ngôi chùa. Đã gần 1000 năm qua, chùa Long Đọi Sơn cùng với đất nước, con người Việt Nam chứng kiến bao thăng trầm của lịch sử và vẫn đứng sừng sững giữa đất trời làm rung động lòng người, thu hút khách tham quan du lịch.

Ngày nay, chùa Long Đọi Sơn là một quần thể kiến trúc khang trang, với khuôn viên xây dựng rộng hơn 10.000m2, giữa diện tích rừng rộng hơn 1ha. Hệ thống đường lên từ cổng chùa dưới chân núi Đọi lên đến Tam quan được xây cấp bằng bê tông đá cứng với khoảng 317 bậc đá uốn lượn nhiều khúc tựa như con rồng đang nằm nghỉ bên sườn núi.

Hàng năm chùa tổ chức lễ hội thờ Phật vào từ ngày 19 đến ngày 21 tháng Ba. Hội có lễ dâng hương tưởng niệm Lý Nhân Tông, người có công mở mang xây dựng chùa.

Lễ hội là hoạt động phản ánh rõ nét nhất những sinh hoạt văn hoá của một cộng đồng cư dân trong một không gian cụ thể và là môi trường tốt nhất để lưu giữ những giá trị truyền thống qua thời gian. Mỗi làng quê Việt đều nằm trong dòng chảy văn hoá thống nhất nhưng vẫn mang nét riêng của con người nơi đó, tạo nên một bức tranh văn hoá lễ hội phong phú và đa dạng.

Nói đến lễ hội ở Hà Nam, không thể không nhắc đến lễ hội chùa Long Đọi Sơn như một trung tâm hội tụ văn hoá truyền thống của cư dân vùng chiêm trũng quanh năm ngập úng. Khóa luận: Lễ hội cày Tịch điền Đọi Sơn.

Lễ hội Tịch điền được phục dựng lại sau gần 100 năm “thất truyền”, là dịp để du khách chiêm ngưỡng vẻ uy nghiêm của chùa Long Đọi Sơn.

1.4.2. Đánh giá vị trí của Đọi Sơn

Đọi Sơn có nhiều điểm thuận lợi để các vua phong kiến Viêt Nam chọn cánh đồng dưới chân núi Đọi làm lễ cày Tịch điền. Nơi đây, có núi Đọi, sông Châu phong cảnh hữu tình, tuân theo nguyên tắc phong thủy cùng với chùa Long Đọi Sơn uy nghi, linh thiêng và làng trống Đọi Tam nổi tiếng khắp vùng. Chính những điều đó, mà Lê Hoàn đã chọn Đọi Sơn làm lễ cày đầu tiên để khuyến khích, nhắc nhở thần dân phải chịu khó chăm lo sản xuất mới có ngày bắt được vàng được bạc.

Dưới các triều đại phong kiến Việt Nam, ruộng tịch điền thuộc quyền quản lý trực tiếp của triều đình, giống lúa cấy trên ruộng được chọn để cho loại gạo ngon dùng vào việc tế lễ, đặc biệt là tế Thần Nông và thần Xã Tắc. Tùy theo quan niệm phong thủy và tâm linh mà mỗi triều đại chọn nơi đặt ruộng tịch điền. Dưới thời Lý, ruộng tịch điền đều ở đồng bằng sông Hồng, khá xa thành Thăng Long.Thời Trần, sử cũ chỉ cho biết một lần vua Trần Minh Tông sai tế thần. Thời Hậu Lê, vào thời vua Lê Thánh Tông, lễ tịch điền tiến hành ở làng Hoàng Mai, ngoại thành Thăng Long.Thời Nguyễn, dưới triều vua Gia Long, ruộng tịch điền ở phòng Hòa Thái, ngưỡng trị trong kinh thành, sau chuyển về hai phường Yên Trạch và Hậu Sinh.

Khác với thời Hậu Lê, Lê Hoàn không chọ ruộng tịch điền ở gần trong kinh thành mà giống thời Lý, Lê Hoàn lấy đất Trường Châu là quê quán để cày ruộng tịch điền.

Hơn nữa, ruộng tịch điền ở Đọi Sơn nằm trong vùng chịu sự quản lý trực tiếp của Vua. Sử chép, sau khi lên ngôi, Lê Hoàn lần lượt phong vương cho các con, kể cả con nuôi rồi cử đi trấn, trị ở các vùng đất thuộc đồng bằng Bắc Bộ và Thanh Hóa, trừ Trường Châu. Căn cứ vào bia Sùng Thiện Diên Linh có thể suy luận vào thời Lê Hoàn, núi có tên là núi Long Đĩnh, nghĩa là núi rồng, núi thiêng. Các phát hiện khảo cổ học quanh Đọi Sơn đã minh chứng từ mộ thuyền văn hóa Đông Sơn, mộ Hán, đến mộ thời Hậu Lê, người chết đều được chôn quay đầu về chùa Đọi. Từ lâu lưu truyền phương ngôn:

“Đầu gối núi Đọi

Chân dọi Tuần Vường

Phát tích đế Vương

Lưu truyền vạn đại”.

Núi Đọi thì đã rõ, còn Tuần Vường là khúc sông Hồng giáp với huyện Lý Nhân và huyện Mỹ Lộc (tỉnh Nam Định) sóng to, gió lớn gây hiểm họa, thuyền bè rất sợ phải qua nơi này “Mười hai cửa bể cũng nể Tuần Vường”. Phải chăng bốn câu phương ngôn này thể hiện triết lý âm dương: Núi Đọi (dương), Tuần Vường (âm), âm dương hài hòa chế áp lẫn nhau thì mọi sự thuận vượng, nó thể hiện một ước vọng, cầu nguyện hơn là một thực tế hiển nhiên, minh nhiên.

Từ Long Đĩnh thời Tiền Lê, đến thời Lý Nhân Tông núi có tên là Long Đội Sơn (hang rồng). Sách Đại Nam nhất thống chí chép: “Dưới chân núi có chín ngọn suối, lại có huyệt đã gọi là huyệt Hàm Rồng”. Theo thuyết âm dương ngũ hành của triết học phương Đông cổ đại, số chín là số thiêng, đó là con số cực dương, biểu tượng của sự sinh sôi, phát triển thuận lý [ĐNNTC, tr.421]. Khóa luận: Lễ hội cày Tịch điền Đọi Sơn.

Thời Hậu Lê núi đổi thành núi Đọi Sơn. Đọi là từ thuần Việt, nghĩa cổ là cái bát, có lẽ hình dáng núi Đọi giống cái bát lộn ngược nên mới có tên như thế. Các sách địa chí thời Nguyễn gọi núi là Long Đội, Long Đọi Sơn. Ngày nay, nhân dân quen gọi là núi Đọi, còn tên xã là Đọi Sơn. Truyền thuyết dân gian vẫn ghi nhớ sự kiện cách đây 1010 năm, cánh đồng vua Lê cày tịch diền nằm sát chân núi phía tây, trên cánh đồng còn lưu lại các địa danh: nhà hiến (nơi dân chúng dâng thức ăn lên nhà vua), dinh trong (nơi vua ở), dinh ngoài (nơi ở của các quan), sứ tàu ngựa (chuồng ngựa của vua và các quan).

Vì tính thiêng như trên, Đọi Sơn được chọn làm nơi cày Tịch điền. Khóa luận: Lễ hội cày Tịch điền Đọi Sơn.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Nghi lễ cày Tịch điền ở Đọi Sơn

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x