Khóa luận: Kiến nghị PL về quản lý chất lượng sản phẩm hàng hóa

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Kiến nghị PL về quản lý chất lượng sản phẩm hàng hóa hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

3.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa ở Việt Nam

Trong xu thế phát triển và hội nhập của nền kinh tế, kinh tế Việt Nam đang hòa cùng với nền kinh tế thế giới điều đó đòi hỏi ngày càng cao của thị trường trong nước và ngoài nước. Để cạnh tranh được các doanh nghiệp cần quan tâm đến chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Vì vấn đề chất lượng là một trong những yếu tố quyết định sự tồn tại phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.

Pháp luật về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa là vấn đề được quan tâm hàng đầu, là khuôn khổ pháp lý cần thiết để đảm bảo hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp và bảo vệ lợi ích người tiêu dùng. Tuy nhiên, về vấn đề này, pháp luật Việt Nam còn nhiều hạn chế, việc thiếu cũng như chồng chéo trong các quy định gây khó khăn cho hoạt động thực thi, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và lợi ích của người tiêu dùng. Vì vậy, hệ thống pháp luật về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa cần được bổ sung, hoàn thiện.

Những phương hướng để hoàn thiện pháp luật về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa:

Một là, đảm bảo thực hiện theo đúng nguyên tắc xây dựng pháp luật về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa, đó là đảm bảo quản lý nhà nước, vừa tạo thuận lợi cho thương mại, bảo vệ người tiêu dùng, nghiêm cấm lợi dụng hoạt động quản lý chuyên ngành để cản trở bất hợp pháp, gây phiền hà, sách nhiễu đối với hoạt động sản xuất kinh doanh.

Hai là, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn và quy định kỹ thuật của Việt Nam hài hòa với các tiêu chuẩn của quốc tế ở mức độ hợp lý. Khóa luận: Kiến nghị PL về quản lý chất lượng sản phẩm hàng hóa.

Trong xu hướng hội nhập và hợp tác hiện nay, pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa cần phải phù hợp với các công ước, điều ước và thông lệ quốc tế mà quốc gia đã ký kết hoặc tham gia. Pháp luật quốc gia phải được xây dựng phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của các điều ước và thông lệ quốc tế, tiếp thu và sử dụng có hiệu quả lý luận, kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật của các nước khác trên thế giới.

Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật là cơ sở để quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa, vì vậy, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam là yêu cầu cần thiết. TCVN cần được sử dụng làm căn cứ kỹ thuật cho việc xây dựng QCVN. Các TCVN quy định nội dung kỹ thuật đo lường và thử nghiệm có thể được sử dụng trong quá trình đánh giá sự phù hợp so với yêu cầu của quy chuẩn kỹ thuật.

Ba là, bảo đảm tính toàn diện, đồng bộ giữa các quy định của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật, Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan.

Điều này thể hiện sự thống nhất ở hai cấp độ. Ở cấp độ chung, sự đồng bộ giữa các ngành luật với nhau. Ở cấp độ cụ thể đó là thể hiện sự thống nhất, không mâu thuẫn, không trùng lặp, chồng chéo trong mỗi ngành Luật.

Hơn nữa, tính toàn diện, đồng bộ còn thể hiện ở việc ban hành đầy đủ các văn bản quy định chi tiết các văn bản, quy định pháp luật về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa trong những trường hợp cần có sự quy định chi tiết, để khi văn bản pháp luật có hiệu lực thì nó cũng đã có đủ các điều kiện để có thể được tổ chức thực hiện ngay trên thực tế. Bảo đảm có đầy đủ các quy định cần thiết, rõ ràng và chặt chẽ về quản quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa, tổ chức đánh giá sự phù hợp được chỉ định và giải thưởng chất lượng quốc gia…

Bốn là, bảo đảm hệ thống pháp luật về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa luôn thống nhất.

Sự thống nhất của pháp luật là điều kiện cần thiết bảo đảm cho tính thống nhất về mục đích của pháp luật và sự triệt để trong việc thực hiện pháp luật. Tính thống nhất của pháp luật được thể hiện giữa các ngành luật trong hệ thống pháp luật; giữa các chế định pháp luật trong cùng một ngành luật; giữa các quy phạm pháp luật trong một chế định pháp luật cũng phải thống nhất. Không có các hiện tượng trùng lặp, chồng chéo, mâu thuẫn lẫn nhau của các quy phạm pháp luật trong mỗi ngành và trong các ngành khác nhau. Điều này đòi hỏi các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành không chỉ bảo đảm sự thống nhất, hài hoà về nội dung mà còn phải bảo đảm tính thứ bậc của mỗi văn bản về giá trị pháp lý của chúng.

Năm là, pháp luật phải phù hợp với kinh tế, chính trị, xã hội đất nước. Khóa luận: Kiến nghị PL về quản lý chất lượng sản phẩm hàng hóa.

Trước hết các quy định pháp luật phải phản ánh được những quy luật kinh tế của đất nước, đảm bảo phù hợp với nhu cầu của thị trường. Nó phải tạo ra được những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nhanh, bền vững của kinh tế đất nước.

Tiếp đến là sự phù hợp của pháp luật với điều kiện chính trị của đất nước, mà quan trọng nhất là phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng. Pháp luật về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa của Việt Nam phải thể chế hoá cương lĩnh chiến lược ổn định và phát triển kinh tế- xã hội của Đảng trong điều kiện đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, mở cửa, hội nhập quốc tế. Hơn nữa, xã hội Việt Nam hiện nay tồn tại nhiều giai tầng khác nhau và lợi ích của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, giai tầng cũng có sự khác nhau. Để bảo đảm cho xã hội phát triển ổn định thì đòi hỏi pháp luật phải quy định đảm bảo sự hài hoà về lợi ích cơ bản của tất cả các tầng lớp chủ yếu trong xã hội sao cho có thể chấp nhận được.

Trong xã hội ngoài pháp luật còn có những công cụ khác như đạo đức, phong tục tập quán, tín điều tôn giáo…, những công cụ này cùng với pháp luật luôn có tác động rất lớn lên các quan hệ xã hội và có quan hệ qua lại lẫn nhau. Để phát huy vai trò của mình một cách tốt nhất, pháp luật phải phù hợp với các quy phạm xã hội này. Do vậy, pháp luật về quản lý chất lượng, sản phẩm cũng phải phù hợp với phong tục, tập quán, những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, phù hợp với các giá trị đạo đức, văn hoá của nhân dân các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước.

Sáu là, các quy định của pháp luật về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa phải đáp ứng những nhu cầu cuộc sống và phù hợp với cơ chế thực hiện và áp dụng pháp luật hiện hành.

 Pháp luật phải có khả năng thực hiện được trong điều kiện kinh tế, chính trị – xã hội hiện tại, tức là quy định pháp luật phải phù hợp với trình độ phát triển của đất nước. Các quy định pháp luật phải được ban hành đúng lúc, kịp thời đáp ứng những nhu cầu mà cuộc sống đang đặt ra, đồng thời phải phù hợp với cơ chế thực hiện và áp dụng pháp luật hiện hành. Khi ban hành pháp luật phải xem xét tới điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước có cho phép thực hiện được quy định không, đồng thời phải tính đến các điều kiện khác như tổ chức bộ máy nhà nước, trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức có cho phép thực hiện được không, dư luận xã hội trong việc tiếp nhận quy định hoặc văn bản pháp luật đó…

Bảy là, nâng cao hệ thống kiểm tra chất lượng và kiểm soát.

Việc hợp lý hóa, nâng cao và phát triển hệ thống kiểm tra chất lượng quốc gia là một nhu cầu tất yếu và cấp thiết, các cơ quan đo lường, kiểm tra chất lượng luôn giữ vị trí then chốt trong hoạt động quản lý chất lượng, thực hiện các quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Khóa luận: Kiến nghị PL về quản lý chất lượng sản phẩm hàng hóa.

Tám là, nâng cao năng lực cán bộ và năng lực kỹ thuật.

Con người luôn là nhân tố quan trọng trong mọi hoạt động. Một hệ thống dù được thiết kế tốt và xây dựng công phu nhưng cán bộ, nhân viên không quan tâm và thực hiện nghiêm túc sẽ không mang lại kết quả như mong muốn. Hơn nữa, việc xây dựng, áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, …đòi hỏi người phải có trách nhiệm cao, có trình độ, chuyên môn cao, phong cách làm việc chuyên nghiệp, trình độ ngoại ngữ tốt, do đó, năng lực của cán bộ, nhân viên cần được nâng cao.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

3.2. Kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa ở Việt Nam

3.2.1. Về các quy định pháp luật

Một là, tiếp tục rà soát, hoàn thiện quy định pháp luật về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ các quy định pháp luật còn chồng chéo, mâu thuẫn, không đồng nhất.

Các Bộ, ban, ngành khi ban hành văn bản cần tránh sự chồng chéo, thiếu rõ ràng; thường xuyên rà soát và hệ thống hoá để công bố tính hiệu lực của các văn bản thuộc lĩnh vực, ngành mình quản lý. Để nâng cao chất lượng ban hành văn bản quy phạm pháp luật của địa phương, các cơ quan trung ương khi ban hành văn bản phải chú trọng hơn đến tính khả thi, tính đồng bộ trong các quy định, nhất là các văn bản giữa các bộ, ngành với nhau để cho địa phương thuận lợi hơn trong việc triển khai thực hiện. Đồng thời loại bỏ các điều khoản quy định bị chồng chéo với quy định của pháp luật khác, trừ các những quy định cơ bản, cần thiết, buộc phải có đối với quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

Hai là, cần tiến hành rà soát, xây dựng hệ thống tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật và quy trình đánh giá sự phù hợp, hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế và đáp ứng yêu cầu của Hiệp định TBT. Nhà nước cần thiết lập mối quan hệ giữa quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn. Việc ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn phải đảm bảo tính công khai, minh bạch và có tính khả thi. Phải đảm bảo tính thống nhất giữa các cơ quan trung ương và địa phương trong việc soạn thảo, ban hành và áp dụng các văn bản pháp quy kỹ thuật và thủ tục đánh giá sự phù hợp. Khi ban hành cần chú trọng đến tính khả thi, khả năng áp dụng của chúng.

3.2.2. Về tổ chức thực hiện Khóa luận: Kiến nghị PL về quản lý chất lượng sản phẩm hàng hóa.

Một là, cần nghiên cứu và thực hiện công cụ quản lý sản phẩm, kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu, lập phương án kiểm soát tại cửa khẩu và ngăn ngừa hàng hóa kém chất lượng thâm nhập vào thị trường Việt Nam, vừa bảo vệ lợi ích các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trong nước, bảo vệ người tiêu dùng vừa tạo điều kiện thuận lợi cho nhập khẩu hàng hóa phục vụ sản xuất và tiêu dùng trong nước.

Hai là, các bộ, ngành và địa phương cần triển khai các phương án huy động các nguồn lực, đầu tư tăng cường năng lực vật chất, kỹ thuật phục vụ hoạt động đánh giá sự phù hợp ở nước ta. Đặc biệt, các Bộ, ngành, địa phương cần quan tâm đầu tư các phòng thí nghiệm đủ năng lực thử nghiệm, đánh giá chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa, nhất là khi các thử nghiệm đối chứng hiện nay, có nhiều chủng loại sản phẩm, hàng hóa nhóm 2 đã được các Bộ ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tuy nhiên các tổ chức đánh giá sự phù hợp được chỉ định để thử nghiệm còn ít. Nhiều hàng hóa ở miền bắc mới có 01 đơn vị được chỉ định như thiết bị điện, xăng dầu.

Ngoài việc đáp ứng các tiêu chuẩn trong nước, các tổ chức đánh giá sự phù hợp cần nâng cao năng lực đánh giá, làm cơ sở để thực hiện hoạt động công nhận kết quả đánh giá sự phù hợp lẫn nhau. Vì vậy, Nhà nước cần xem xét đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho hoạt động tiêu chuẩn và đánh giá sự phù hợp ngang tầm khu vực và thế giới, thông qua các nguồn ngân sách cũng như các chương trình hỗ trợ kỹ thuật hậu WTO.

Ba là, để nâng cao chất lượng quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa cần phải xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên có đủ năng lực, trình độ chuyên môn và có phẩm chất đạo đức.Theo đó, cần tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ liên quan đến lĩnh vực chất lượng sản phẩm, hàng hóa, đặc biệt quan tâm đến các thỏa thuận quốc tế về hàng rào kỹ thuật như Hiệp định TBT. Đồng thời thực hiện tuyên truyền, đào tạo nghiên cứu tác động, rà soát văn bản, tìm hiểu văn bản pháp quy kỹ thuật.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 Khóa luận: Kiến nghị PL về quản lý chất lượng sản phẩm hàng hóa.

Trên cơ sở lý luận về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa, thực trạng pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa ở Việt Nam, khóa luận đưa ra phương hướng hoàn thiện pháp luật về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa và đề xuất một số kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về quản lý chất lượng sản phẩm hàng hóa.

Phương hướng hoàn thiện pháp luật về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa ở Việt Nam bao gồm: đảm bảo thực hiện đúng nguyên tắc xây dựng pháp luật về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa; hoàn thiện hệ thống TCVN và QCVN hài hòa với các tiêu chuẩn của quốc tế ở mức độ hợp lý; bảo đảm tính toàn diện, đồng bộ giữa các văn bản quy phạm pháp luật; bảo đảm thống nhất hệ thống pháp luật về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa; đảm bảo sự phù hợp với kinh tế, chính trị, xã hội đất nước; các quy định phải đáp ứng những nhu cầu cuộc sống và cơ chế thực hiện và áp dụng pháp luật hiện hành; nâng cao hệ thống kiểm tra chất lượng và kiểm soát; nâng cao năng lực cán bộ và năng lực kỹ thuật.

Dựa trên phương hướng trên, khóa luận đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa:

Về quy định pháp luật: Rà soát và hoàn thiện các quy định pháp luật về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa; xây dựng và hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn và quy định kỹ thuật của Việt Nam phù hợp và hài hòa với các tiêu chuẩn của quốc tế.

Về tổ chức thực hiện: Nâng cao hệ thống kiểm tra chất lượng và kiểm soát hàng nhập khẩu; đầu tư cơ sở kỹ thuật, nâng cao năng lực của các tổ chức đánh giá sự phù hợp; nâng cao năng lực cán bộ, nhân viên quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

KẾT LUẬN Khóa luận: Kiến nghị PL về quản lý chất lượng sản phẩm hàng hóa.

Đảm bảo chất lượng sản phẩm, hàng hóa có ý nghĩa rất quan trọng đối với người sản xuất, kinh doanh, người tiêu dùng, đối với phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo an ninh, lợi ích quốc gia. Việc đảm bảo chất lượng sản phẩm hàng hóa gắn liền với trách nhiệm của người sản xuất, kinh doanh và nhà nước, trong đó người sản xuất chịu trách nhiệm chủ yếu, nhà nước tuy có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng sản phẩm, hàng hóa nhưng không can thiệp trực tiếp quá nhiều vào hoạt động của doanh nghiệp. Nhà nước thông qua việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, các tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật để đảm bảo an toàn cho sản phẩm, hàng hóa đưa ra thị trường sử dụng.

Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hoá hiện nay, bên cạnh việc tạo điều kiện thuận lợi để phát triển thương mại, Việt Nam còn cần phải đảm bảo an toàn về mặt sản phẩm, hàng hóa, ngăn cản các loại hàng giả, hàng kém chất lượng để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, bảo vệ sản xuất trong nước và lợi ích quốc gia. Với yêu cầu này, trong những năm gần đây, Nhà nước đã ban hành và triển khai hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Các văn bản quy phạm pháp luật ban hành là hành lang pháp lý quan trọng, tạo sự thống nhất và đồng bộ cho việc triển khai hoạt động quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Tuy nhiên, các quy định pháp luật về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa còn nhiều hạn chế cần được bổ sung và giải quyết.

Trên cơ sở vận dụng các phương pháp hệ thống hóa; phương pháp phân tích, tổng hợp cùng với kết cấu 3 chương, khóa luận đã làm rõ được một số vấn đề như sau: Khóa luận: Kiến nghị PL về quản lý chất lượng sản phẩm hàng hóa.

  • Hệ thống hóa lý thuyết và các quy định về pháp luật về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa ở Việt Nam
  • Nghiên cứu và tìm ra thực trạng của pháp luật về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa ở Việt Nam: các quy định còn chồng chéo, mâu thuẫn, chưa rõ ràng; các quy chuẩn kỹ thuật còn thiếu; việc kiểm tra, giám sát thực hiện các quy định còn lỏng lẻo dẫn đến các sản phẩm kém chất lượng vẫn tràn lan trên thị trường, các sản phẩm nước ngoài không đủ tiêu chuẩn nhập khẩu vẫn có thể thâm nhập vào thị trường trong nước.
  • Tác giả đã đề xuất một số phương hướng và kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa của Việt Nam. Kiến nghị gồm các nội dung về hoàn thiện các quy định pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

Về các quy định pháp luật: Rà soát và hoàn thiện các quy định pháp luật về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa; xây dựng và hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn và quy định kỹ thuật của Việt Nam phù hợp và hài hòa với các tiêu chuẩn của quốc tế.

Về tổ chức thực hiện: Nâng cao hệ thống kiểm tra chất lượng và kiểm soát hàng nhập khẩu; đầu tư cơ sở kỹ thuật, nâng cao năng lực của các tổ chức đánh giá sự phù hợp; nâng cao năng lực cán bộ, nhân viên quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

Như vậy, quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa là quan trọng và cần thiết. Trong thời gian tới, nhà nước phải không ngừng hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa đáp ứng yêu cầu đặt ra./. Khóa luận: Kiến nghị PL về quản lý chất lượng sản phẩm hàng hóa.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Pháp luật về quản lý chất lượng sản phẩm hàng hóa

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x