Khóa luận: Giải pháp văn bản quy phạm PL trong lĩnh vực đất đai

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Giải pháp văn bản quy phạm PL trong lĩnh vực đất đai hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: một số giải pháp hoàn thiện hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước trong lĩnh vực đất đai dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

3.1. Xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục và thống nhất, đồng bộ

Hệ thống pháp luật đất đai nước ta hiện nay vẫn còn bộc lộ những hạn chế khiến cho hoạt động quản lý nhà nước về đất đai chưa thực sự hiệu quả. Vì vậy, trong thời gian tới cần tiến hành một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về đất đai theo hướng ban hành đầy đủ, đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục và đồng bộ, thống nhất.

Hoàn thiện về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai. Theo đó, cần xây dựng quy định pháp luật về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai, trong đó quy định cụ thể chủ thể có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai, loại văn bản quy phạm pháp luật được ban hành cũng như quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai của từng chủ thể đối với từng lĩnh vực đất đai cụ thể. Ngoài ra, cần ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai đúng thẩm quyền. Để thực hiện tốt hoạt động này, trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai, các chủ thể có thẩm quyền cần nắm rõ các văn bản pháp luật quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật nói chung cũng như thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai nói riêng như : Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008, Luật Đất đai và các văn bản pháp luật khác; nắm rõ các loại văn bản mà chủ thể đó được phép ban hành cũng như lĩnh vực cụ thể mà chủ thể đó có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Khóa luận: Giải pháp văn bản quy phạm PL trong lĩnh vực đất đai.

Bên cạnh đó, cần hoàn thiện về trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai. Để thực hiện tốt hoạt động này, các chủ thể có thẩm quyền ban hành cần tuân thủ chặt chẽ trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã được quy định cụ thể tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008. Ngoài ra, cần tăng cường hoạt động khảo sát thực tế, tổng kết thực tiễn, lấy ý kiến các đối tượng có liên quan để xây dựng tốt dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; thực hiện tốt hoạt động lấy ý kiến đóng góp của các cá nhân, tổ chức có liên quan trong quá trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai; thực hiện tốt hoạt động thẩm định, thẩm tra trong quá trình xây dựng và ban hành  văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai.

Để xây dựng được hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai thống nhất và đồng bộ, pháp luật cần quy định rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cho các cơ quan nhà nước. Khắc phục tình trạng các quy định về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau với giá trị pháp lý khác nhau, nội dung mâu thuẫn chồng chéo nhau để hoạt động quản lý nhà nước đạt hiệu quả cao.

Cần quy định cụ thể các hình thức xử lý đối với văn bản quy phạm pháp luật đất đai có sai phạm và hậu quả pháp lý của việc áp dụng các hình thức đó đồng thời quy định trách nhiệm pháp lý đối với các chủ thể xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật đất đai nêu trên nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm của các chủ thể có thẩm quyền, vì vậy cần quy định rõ ràng, cụ thể để xác định mức độ thiệt hại về vật chất do văn bản đó gây ra, từ đó xác định việc bồi thường thiệt hại và xử lý trách nhiệm đối với cơ quan, người có thẩm quyền xây dựng và ban hành văn bản đó.

Cần quy định cụ thể và rõ ràng hơn nữa về từng trường hợp sử dụng đối với loại văn bản quy phạm pháp luật nhất định, đặc biệt là những văn bản có vai trò quan trọng và được sử dụng phổ biến trong hoạt động quản lý của Nhà nước, để hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai phù hợp với những vấn đề cần điều chỉnh trong lĩnh vực đất đai, với nội dung công việc cần giải quyết. Khóa luận: Giải pháp văn bản quy phạm PL trong lĩnh vực đất đai.

Cần khắc phục những mâu thuẫn, chồng chéo giữa Luật Đất đai với các văn bản luật khác. Cụ thể là:

Về thuật ngữ pháp lý quy định về vấn đề sở hữu đất đai quy định khác nhau giữa Hiến pháp 1992, Luật Đất đai năm 2003 và Bộ luật Dân sự nên quy định thống nhất theo quy định của Luật Đất đai năm 2003: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu”.

Cần thống nhất Luật Đất đai năm 2003 và Luật Kinh doanh Bất động sản 2006 trong vấn đề chuyển nhượng các dự án đầu tư theo hướng cho phép một số trường hợp chủ đầu tư có thể chuyển nhượng dự án đầu tư, mặc dù dự án đó chưa được thực hiện nhằm khuyến khích đầu tư.

Đối với vấn đề công chứng, chứng thực hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất quy định không thống nhất giữa Luật Đất đai với Luật Công chứng, nên quy định thống nhất theo Luật Đất đai 2003: các chủ thể khi thế chấp quyền sử dụng đất có thể lựa chọn thủ tục chứng thực tại Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công chứng tại cơ quan công chứng.

Khắc phục mâu thuẫn giữa Luật Đất đai với Luật Khiếu nại, tố cáo theo hướng: quy định thống nhất về hành vi hành chính, quyết định hành chính bị khiếu nại; quy định chung về thời hiệu khiếu nại cũng như vấn đề khiếu kiện tiếp.

Ngoài ra cần khắc phục tình trạng ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai của các cơ quan nhà nước cấp dưới có nội dung trái với văn bản do cơ quan nhà nước cấp trên ban hành.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

3.2. Hoàn thiện pháp luật đất đai đáp ứng nhu cầu thực tiễn

Thứ nhất, đối với vấn đề quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Cần sửa đổi quy định về kỳ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quy định tại Điều 24 Luật Đất đai năm 2003, theo đó, thời hạn của kỳ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải đủ dài và phù hợp tương đối so với thời hạn của các dự án đầu tư đối với các doanh nghiệp và các nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài.

Tổ chức thực hiện tốt vấn đề công khai hoá quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại các địa phương, công khai hoá các quy hoạch sử dụng đất tổng thể và chi tiết trên địa bàn cả nước và triển khai đến từng khu vực, từng địa bàn cụ thể, pháp luật cần quy định các hình thức trách nhiệm pháp lý cụ thể, rõ ràng đối với các cấp chính quyền địa phương không tuân thủ triệt để quy định này, cố tình không công khai và cung cấp quy hoạch sử dụng đất chi tiết khi nhà đầu tư có nhu cầu tìm hiểu để đầu tư.  

Ngoài ra, cần phải có quy định cụ thể và nghiêm khắc đối với trình trạng quy hoạch treo; tình trạng bổ sung, điều chỉnh quy hoạch chi tiết mà không tuân thủ quy định tại Điều 27 Luật Đất đai năm 2003. Khóa luận: Giải pháp văn bản quy phạm PL trong lĩnh vực đất đai.

Thứ hai, cần áp dụng cơ chế một giá trong các quan hệ đất đai. Theo đó, tất cả các quan hệ đất đai trong nền kinh tế thị trường đều được Nhà nước điều tiết bằng giá thị trường. Vì vậy, cần bỏ Điều 56 Luật Đất đai 2003.[5]

Thứ ba, bỏ quy định về việc phải thực hiện nghĩa vụ tài chính trả nợ trước khi thực hiện các giao dịch chuyển quyền sử dụng đất đối với các trường hợp ghi nhận nợ nghĩa vụ tài chính khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quy định tại Nghị định số 17/2006/NĐ – CP của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai.

Thứ tư, Luật Đất đai năm 2003 cần phải ghi nhận quyền được thực hiện các giao dịch về chuyển quyền sử dụng đất đất thuê bao gồm: chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn, tặng cho của chủ thể thuê đất trả tiền hàng năm. Theo đó, các chủ thể thuê đất với phương thức thuê đất trả tiền hàng năm hay thuê đất trả tiền một lần cho toàn bộ thời gian thuê đều được thực hiện các giao dịch về chuyển quyền sử dụng đất nếu đất đó đã tiến hành đầu tư, khai thác trên đất sau khi thuê. Còn việc xác định giá trị của quyền sử dụng đất cùng với tài sản đã đầu tư trên đất thuê như thế nào pháp luật cần tôn trọng sự thoả thuận và quyết định của các bên theo nguyên tắc tự quyết định và tự chịu trách nhiệm. Theo đó, các quy định từ các Điều 109 đến Điều 117 Luật Đất đai năm 2003 cần phải được sửa đổi, bổ sung theo hướng này.

Thứ năm, cần phải ghi nhận và bổ sung quy định về quyền được thực hiện các giao dịch chuyển quyền sử dụng đất của các tổ chức kinh tế sử dụng đất mà đất đó có nguồn gốc từ việc Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất, chứ không chỉ là tổ chức kinh tế sử dụng đất có nguồn gốc từ hình thức giao, cho thuê, nhận chuyển nhượng hoặc chuyển mục đích sử dụng đất như hiện nay. Cùng với ghi nhận này, pháp luật đất đai cũng cần phải ghi nhận và cho phép các tổ chức trong nước mà không phải là tổ chức kinh tế cũng được quyền thực hiện các giao dịch chuyển quyền sử dụng đất nếu đất đó có nguồn gốc là được tặng cho hợp pháp từ các tổ chức, cá nhân khác. Đương nhiên, pháp luật đất đai cần phải có quy định ràng buộc rằng, việc thực hiện quyền chuyển quyền sử dụng đất có nguồn gốc được tặng cho là để phục vụ cho mục đích công cộng chung mà không nhằm mục đích kinh doanh kiếm lời.

Thứ sáu, cần sửa đổi quy định về điều kiện thế chấp đối với hộ gia đình, cá nhân khi vay vốn chỉ với mục đích để “sản xuất kinh doanh” theo quy định tại Khoản 7 Điều 113 Luật Đất đai năm 2003, mà thay vào đó là quyền được thế chấp quyền sử dụng đất để vay vốn nhằm phục vụ cho các nhu cầu khác nhau của hộ gia đình, cá nhân. Cụ thể, khoản 7 Điều 113 Luật đất đai 2003 cần sửa đổi lại theo hướng sau: “Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất không phải là đất thuê có quyền thế chấp quyền sử dụng đất tại các tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam, các tổ chức kinh tế hoặc cá nhân để vay vốn sản xuất, kinh doanh và phục vụ đời sống”. Sự thay đổi này sẽ trở nên linh hoạt hơn, phù hợp hơn bởi chúng phản ánh đúng với những nhu cầu và nguyện vọng chính đáng của các hộ gia đình, cá nhân trong thực tế khi vay vốn. Mặt khác, sự thay đổi này cũng nhằm thống nhất và đảm bảo sự phù hợp giữa Luật đất đai 2003 với Luật các tổ chức tín dụng (Điều 50) quy định về quyền được cho vay của các tổ chức tín dụng đối với tất cả các mục đích và nhu cầu khác nhau của đời sống. Khóa luận: Giải pháp văn bản quy phạm PL trong lĩnh vực đất đai.

3.3. Nâng cao trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác nghiên cứu và xây dựng, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai.

Để có những văn bản quy phạm pháp luật có chất lượng không chỉ phụ thuộc vào quy định của pháp luật có đúng đắn, khoa học mà còn phụ thuộc rất nhiều vào đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng và ban hành văn bản. Một thực tế hiện nay là đội ngũ làm công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta chưa đáp ứng được các yêu cầu mà công việc này đặt ra. Vì vậy, cần thiết phải có những biện pháp cụ thể và hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong thời gian tới. Cụ thể:

Thứ nhất, Cần tăng cường đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai thông qua việc tuyển chọn những cán bộ ưu tú, có năng lực và trình độ chuyên môn. Đồng thời tiến hành xây dựng đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và tiến hành với nhiều hình thức như: tổ chức các lớp tập huấn, tiến hành các hoạt động trao đổi, hướng dẫn nghiệp vụ đất đai…

Thứ hai, nâng cao nhận thức của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền về ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật đất đai; đồng thời nâng cao trình độ hiểu biết về các quy định của pháp luật đất đai cũng như năng lực phân tích chính sách của đội ngũ cán bộ, công chức tham gia xây dựng và ban hành văn bản pháp luật.

3.4. Tăng cường hoạt động thẩm định, thẩm tra dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai. Khóa luận: Giải pháp văn bản quy phạm PL trong lĩnh vực đất đai.

Trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai cũng như các lĩnh vực khác thì thẩm định, thẩm tra văn bản quy phạm pháp luật là một hoạt động vô cùng quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật ngay trong quá trình xây dựng văn bản. Hoạt động này nhằm tham mưu, tư vấn cho cơ quan, tổ chức soản thảo, hoàn thiện dự án, dự thảo. Mặt khác, nó nhằm hạn chế khả năng cơ quan, tổ chức soạn thảo đưa ra các quy định chủ quan, phiến diện, đồng thời tham mưu, tư vấn cho cơ quan ban hành văn bản trong việc quyết định thông qua văn bản. [16, tr.5]

Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều quy định pháp luật về vấn đề này còn chưa hợp lý, sự phối hợp giữa các cơ quan soạn thảo văn bản và cơ quan thẩm định, thẩm tra còn hạn chế, đội ngũ thực hiện công tác này còn vừa thiếu, vừa yếu, cũng như nguồn kinh phí duy trì hoạt động này còn hạn chế nên hiệu quả chưa cao. Vì vậy, trước mắt cần hoàn thiện quy định pháp luật về hoạt động thẩm định của cơ quan tư pháp đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật nói chung và dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai nói riêng. Cụ thể là :

Nêu rõ phạm vi ban hành, chương trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai của từng cơ quan cụ thể, sửa đổi các quy định về đối tượng thẩm định, cũng cần phải khẳng định việc thẩm định tính khả thi của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai là bắt buộc, thay đổi quy định về thời gian thẩm định sao cho phù hợp, bổ sung trách nhiệm của các chủ thể tham gia vào quá trình thẩm định, nghiên cứu tiến đến thống nhất Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của trung ương và địa phương.

Bên cạnh đó cần nâng cao nhận thức và tăng cường kỷ luật trong công tác thẩm định. Trước hết cần nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của cán bộ làm công tác thẩm định, thẩm tra văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai cũng như nâng cao nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương đối với công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật tại địa phương. Ngoài ra ,cần đổi mới phương pháp và cách thức tổ chức thẩm định bằng cách sắp xếp lại tổ chức theo hướng chuyên môn hóa và tập trung đầu mối chuyên ngành, đồng thời, tăng cường hiệu quả  phối hợp giữa các đơn vị trong cùng cơ quan cũng như với các cơ quan khác để huy động nguồn nhân lực.

Đầu tư, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức đảm nhiệm công tác thẩm định văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai theo hướng đầu tư có hiệu quả, vừa có tính cấp bách, vừa có tính lâu dài.

Đồng thời, cần chú trọng tới điều kiện vật chất phục vụ cho công tác thẩm định, thẩm tra văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai như phương tiện làm việc, các nguồn cung cấp thông tin, bổ sung mức kinh phí và huy động thêm các nguồn kinh phí hỗ trợ công tác thẩm định các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, ngoài nguồn kinh phí từ ngân sách cần đảm bảo tiền lương cho cán bộ, công chức làm công tác thẩm định để đội ngũ này chuyên tâm công tác nhằm nâng cao chất lượng thẩm định đối với các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Khóa luận: Giải pháp văn bản quy phạm PL trong lĩnh vực đất đai.

3.5. Thực hiện tốt việc lấy ý kiến đóng góp của nhân dân trong hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai

Lấy ý kiến đóng góp của nhân dân vào quá trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật là một hoạt động quan trọng, thể hiện quyền làm chủ của nhân dân, là nguyên tắc lập pháp và là điều kiện tiên quyết để nâng cao chất lượng hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Vì vậy, trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai cũng cần thực hiện tốt hoạt động này. Tuy nhiên, trên thực tế việc thực hiện lấy ý kiến đóng góp của nhân dân vẫn còn nhiều hạn chế.

Để nâng cao chất lượng hoạt động lấy ý kiến đóng góp trong xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai, trước hết, cần phải nâng cao nhận thức về vai trò và ý nghĩa của việc lấy ý kiến đóng góp cũng như trách nhiệm của chủ thể tổ chức thực hiện việc lấy ý kiến và chủ thể tham gia ý kiến. Chỉ khi nào các chủ thể nhận thức được đầy đủ tầm quan trọng của việc lấy ý kiến thì khi đó việc thực hiện hoạt động này mới được thi hành một cách nghiêm minh.

Bên cạnh đó, cần hoàn thiện những quy định của pháp luật theo hướng quy định chi tiết và chặt chẽ quy trình lấy ý kiến đóng góp của nhân dân. Ngoài ra, cần quy định cụ thể về chế tài đối với việc không thực hiện đúng các quy định pháp luật về vấn đề này.

Bên cạnh việc hoàn thiện các quy định của pháp luật, cơ quan tổ chức lấy ý kiến còn cần làm tốt công tác tuyên truyền phổ biến, cung cấp đầy đủ, chi tiết và đa chiều thông tin về dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, tổ chức các điểm cung cấp thông tin, sử dụng các phương tiện truyền thông phù hợp; tổ chức các điểm và các kênh thu thập ý kiến phản hồi của người dân. Ý kiến đóng góp phải được tập hợp và xử lý, phân loại một cách đầy đủ.

3.6. Xây dựng báo cáo đánh giá tác động của văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai. Khóa luận: Giải pháp văn bản quy phạm PL trong lĩnh vực đất đai.

Để ban hành các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai có chất lượng, đáp ứng yêu cầu điều chỉnh các quan hệ đất đai trên thực tế, trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai cần tiến hành xây dựng báo cáo đánh giá tác động của văn bản. Để xây dựng báo cáo đánh giá tác động của văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai cần tiến hành các hoạt động sau:

Thứ nhất, nêu lý do cần ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai cụ thể, tính toán, phân tích những lợi ích và chi phí khi ban hành văn bản để từ đó đưa ra các biện pháp thực hiện để đạt được mục tiêu. Cụ thể như: phân tích hệ thống pháp luật đất đai hiện hành, tình hình thực tế và đưa ra các vấn đề cần giải quyết của văn bản quy phạm pháp luật về đất đai dự định ban hành (cụ thể là các đối tượng, lĩnh vực mà văn bản điều chỉnh), những lợi ích khi văn bản giải quyết được các vấn đề đó; chứng minh được mục tiêu chỉ có thể đạt được khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật đất đai và đưa ra các số liệu về những lợi ích đạt được thông qua việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật đất đai đó trừ các chi phí có thể phát sinh để khắc phục hậu quả không mong muốn; đánh giá những tác động (thuận lợi và khó khăn) đến quan hệ quốc tế nhất là trong điều kiện Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế; tính toán tương quan giữa lợi ích và chi phí khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật đất đai.

Thứ hai, đánh giá tác động (trực tiếp, gián tiếp) đến tình hình kinh tế, xã hội như sự thay đổi của thị trường bất động sản, các quan hệ về chuyển quyền sử dụng đất, cuộc sống của các cá nhân, hộ gia đình, tổ chức…; đánh giá tác động đến hệ thống pháp luật hiện hành như: có mâu thuẫn với các văn bản luật đất đai hiện hành cũng như các văn bản luật khác có liên quan hay không? Các văn bản sẽ bị bãi bỏ hoặc sửa đổi, bổ sung khi văn bản quy phạm pháp luật đất đai có hiệu lực.

Thứ ba, phân tích rủi ro, các tác động gián tiếp không mong muốn khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật đất đai. Khi phân tích rủi ro phải xác định các mức độ của nó.

Thứ tư, dự trù kinh phí, tổ chức nhân sự để tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai khi văn bản được ban hành. Khóa luận: Giải pháp văn bản quy phạm PL trong lĩnh vực đất đai.

3.7. Tăng cường công tác rà soát, hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai.

Rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật là một hoạt động có ý nghĩa rất quan trọng trong xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tạo cơ sở về mặt pháp lý cho sự đổi mới về chất một số văn bản pháp luật, làm cho các văn bản được cải tiến so với quy định trước đó, đồng thời tạo ra sự thống nhất, hài h a giữa các văn bản sẽ được ban hành với hệ thống pháp luật hiện hành. Bên cạnh đó, công tác này còn giúp cho cơ quan thi hành pháp luật có điều kiện nắm bắt dễ dàng, nhanh chóng những quy định của pháp luật hiện hành. Vì vậy, cần tiến hành rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai nhằm hạn chế tình trạng mâu thuẫn , chồng chéo, không thống nhất giữa các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai hiện nay.

Để làm tốt công tác này cần tiến hành xem xét các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai được ban hành theo từng chuyên đề, lĩnh vực nhằm phát hiện những mâu thuẫn, chồng chéo để xử lý bằng những hình thức nhất định. Trước tiên, cần thu thập đầy đủ các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai theo chủ đề từng đợt rà soát, thành lập tổ công tác, tập hợp nghiên cứu văn bản và đề ra hướng giải quyết sau đó hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai này. Đề cao hơn nữa thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan liên quan để thông tin, phát hiện, thu thập và xử lý các văn bản quy phạm pháp luật, giúp giảm thiểu việc bỏ lọt văn bản trong quá trình rà soát, hệ thống hóa.

Hiện nay, hệ thống pháp luật đất đai còn tồn tại nhiều bất cập như: việc soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật kéo dài, không đáp ứng được yêu cầu đẩy nhanh tiến độ cũng như đòi hỏi ngày càng nhiều hơn số lượng các văn bản quy  phạm pháp luật cần được ban hành, sửa đổi đáp ứng yêu cầu thực tiễn; văn bản quy phạm pháp luật ban hành không phù hợp… Nguyên nhân của tình trạng trên là do các nhà làm luật chưa coi trong vai trò của hoạt động phân tích chính sách trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai. Đây phải được xác định là công đoạn đầu tiên của quy trình lập pháp và phải được tiến hành trước khi soạn thảo văn bản, bao gồm các bước: nhận biết vấn đề; tìm giải pháp (đưa ra chính sách) để xử lý vấn đề; nghiên cứu các vướng mắc về mặt pháp lý và nghiên cứu khả năng tài chính để đảm bảo triển khai các quy định của văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai.

Như vậy, trong việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai, việc lập chính sách bao giờ cũng phải quyết định trước, việc soạn thảo chỉ được bắt đầu khi chính sách đã được làm rõ.

KẾT LUẬN CHƯƠNG III:

Trên đây là những giải pháp nhằm khắc phục tình trạng ban hành văn bản pháp luật trong lĩnh vực đất đai sai trái về căn cứ pháp lý ban hành, ban hành không đúng thẩm quyền, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn, sai trái về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản cũng như trình tự ban hành. Hy vọng trong thời gian tới, công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai đạt được nhiều thành tựu, kịp thời đáp ứng nhu cầu thực tiễn trong điều kiện các quan hệ đất đai ngày càng thay đổi. Khóa luận: Giải pháp văn bản quy phạm PL trong lĩnh vực đất đai.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Ban hành văn bản quy phạm PL trong lĩnh vực đất đai

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x