Khóa luận: Giải pháp PL cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Giải pháp PL cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng thi hành và giải pháp hoàn thiện pháp luật cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

3.1. Thành tựu đạt được và những hạn chế trong thi hành pháp luật cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam qua các giai đoạn

Năm 1986, Việt Nam bước vào giai đoạn đổi mới. Trước năm 1990, doanh nghiệp bước đầu được chủ động trong tổ chức sản xuất, kinh doanh, thoát dần khỏi chế độ tập trung bao cấp với các quyết định số 217/1988/QĐ-HĐBT ngày 14/11/1987, Quyết định số 50/1988/QĐ-HĐBT ngày 22/3/1988 và sau đó là Quyết định 195/HĐBT ngày 2/12/1988 bổ sung quyết định số 217/HĐBT. Tuy nhiên, trên thực tế, quyền tự chủ của doanh nghiệp quốc doanh vẫn bị hạn chế, cơ chế bao cấp xin cho vẫn chi phối các hoạt động của doanh nghiệp quốc doanh. Đến cuối năm 1989, cả nước có khoảng trên 12.000 doanh nghiệp quốc doanh với quy mô chủ yếu là vừa, nhỏ, vốn ít, công nghệ lạc hậu, hiệu quả hoạt động thấp.

3.1.1. Giai đoạn 1990- 2001

Chính sách cổ phần hóa chính thức bắt đầu tư năm 1990. Giai đoạn này, nước  ta đẩy mạnh cải cách doanh nghiệp nhà nước theo hai hướng: Một là giao khoán, bán, cho thuê, cho phá sản; hai là cổ phần hóa các doanh nghiệp quốc doanh làm ăn không hiệu quả, doanh nghiệp nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn và xây dựng, củng cố các doanh nghiệp nhà nước làm ăn hiệu quả, tạo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Quyết định số 143/1990/HĐBT ngày 10/3/1990 về việc thí điểm cổ phần hóa một vài doanh nghiệp quốc quanh, Quyết định số 315/HĐBT ngày 1/9/1990, Nghị định số 388/HĐBT ngày 10/11/1991 về quy chế thành lập và giải thể doanh nghiệp quốc doanh, Quyết định số 90/1994/QĐ-TTg ngày 7/3/1994 và Quyết định số 91/1994/QĐ-TTg ngày 7/3/1994-TTg về việc thí điểm thành lập các tập đoàn kinh doanh, Nghị định số 28/1996/NĐ-CP này 7/5/1996 và Nghị định số 44/1998/NĐ-CP ngày 29/6/1998 về chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần đã thể hiện quyết tâm đẩy mạnh đánh giá, tổ chức, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước. Khóa luận: Giải pháp PL cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

Ngày 10/5/1990, Hội đồng bộ trưởng ban hành Quyết định số 143/HĐBT lựa chọn một số doanh nghiệp nhỏ và vừa để thử nghiệm chuyển đổi thành mô hình công ty cổ phần. Quyết đinh 143/HĐBT xác định rõ doanh nghiệp tiến hành cổ phần hóa là doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp lớn và quan trọng thì chưa áp dụng cổ phần hóa. Quyết định hướng dẫn trình tự, cách thức tiến hành cổ phần hóa, hướng dẫn cơ cấu tổ chức, cách thức hoạt động của bộ máy công ty cổ phần. Có thể nói quyết định 143/HĐBT đã xác định được mục tiêu, đối tượng, hình thức, trình tự tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Những doanh nghiệp được chọn cổ phần hóa là những doanh nghiệp kinh doanh có lãi, tự nguyện đăng ký chuyển sang công ty cổ phần theo Quyết định 202/CT ngày 8/6/1992 và Chỉ thị số 84 ngày 4/8/1993.

Kết quả trong 2 năm 1990- 1991, có 2 doanh nghiệp được cổ phần hóa. Đến đầu năm 1996 có 5 doanh nghiệp gồm 3 doanh nghiệp trung ương và 2 doanh nghiệp địa phương cổ phần hóa. Đó là:

  1. Công ty Đại lý liên hiệp vận chuyển thuộc Công ty phát triển hàng hải thuộc Bộ Giao thông, cổ phần hóa xong vào tháng 7/1993
  2. Công ty cơ điện lạnh thuộc Sở Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh, cổ phần hóa xong vào tháng 10/1993
  3. Nhà máy giày Hiệp An thuộc Bộ Công nghiệp nhẹ- 10/1994
  4. Xí nghiệp thức ăn chăn nuôi thuộc Bộ Công nghiệp- 7/1995
  5. Xí nghiệp chế biến hàng xuất khẩu Long An thuộc tỉnh Long An- 7/1995

Đánh giá chung về giai đoạn này cho thấy: “Các văn pháp luật được ban hành nhìn chung chưa hoàn chỉnh: trình tự, thủ tục tiến hành cổ phần hóa quy định chưa cụ thể, pháp luật không dự liệu hết tình hình có thể xảy ra, bị ràng buộc bởi cơ chế xin cho. Khi tiến hành, doanh nghiệp gặp nhiều lúng túng, mất nhiều thời gian xin ý kiến chỉ đạo, hiệu quả không cao, người lao động chưa được tạo điều kiện mua cổ phần, hướng dẫn hoạt động doanh nghiệp sau cổ phần hóa không rõ ràng. Chính sách cổ phần hóa không được phổ biến rộng rãi nên việc hiểu rõ mục tiêu, lợi ích của cổ phần hóa bị hạn chế nên hiệu quả cổ phần hóa không cao” [17, 84].

Năm 1996, Chính phủ quyết định tiến hành thử cổ phần hóa ở quy mô rộng với Nghị định 28/CP ngày 7/5/1996. Nghị định 28/CP chỉ rõ: Tất cả doanh nghiệp nhà nước nằm trong diện nhà nước không cần tiếp tục nắm giữ 100% vốn đầu tư đều được phép cổ phần hóa để chuyển thành công ty cổ phần. Doanh nghiệp nhà nước được chọn cổ phần hóa phải là doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ, có phương án kinh doanh có hiệu quả. Với Nghị định 28/CP lần đầu tiên có quy định một cách có hệ thống từ mục đích, yêu cầu, đối tượng đến phương thức tiến hành, chế độ ưu đãi đối với doanh nghiệp và người lao động trong doanh nghiệp cổ phần hóa. Tốc độ cổ phần hóa diễn ra nhanh hơn. Trong 2 năm 1996- 1997, có 25 doanh nghiệp nhà nước được chuyển thành công ty cổ phần. Diện doanh nghiệp cổ phần hóa đã mở rộng ra 3 bộ và 9 tỉnh, quy mô doanh nghiệp cổ phần hóa lớn hơn.

Số lượng doanh nghiêp nhà nước đã giảm mạnh, từ 12.000 đơn vị năm 1990 xuống còn 7.000 đơn vị năm 1995. Trong giai đoạn này đã có 548 doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa. Tuy nhiên, tỷ trọng GDP của doanh nghiệp nhà nước đã tăng từ 32,5% năm 1990 lên 42,2% năm 1995 thể hiện sự lấn át của doanh nghiệp nhà nước đối với các doanh nghiệp của các thành phần kinh tế khác trong nền kinh tế. Tiến độ cổ phần hóa chậm, do trước khi có luật doanh nghiệp, cổ phần hóa diễn ra còn dè dặt, lạ lẫm. Cổ phần hóa giai đoạn này cũng không tránh khỏi những hạn chế nhất định. Đối tượng doanh nghiệp nhà nước tiến hành cổ phần hóa chỉ là doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ trọng vốn khá nhỏ trong tổng vốn nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp. Đối tượng được mua cổ phần cũng bị giới hạn là tổ chức, cá nhân trong nước mà không mở rộng ra nhà đầu tư nước ngoài. Thủ tục tiến hành cổ phần hóa còn rườm rà, mất nhiều thời gian. Việc xác định giá trị doanh nghiệp cứng nhắc với sự tham gia bắt buộc của cơ quan kiểm toán gây tốn kém. Ưu đãi dành cho người lao động còn hạn chế.

Để đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa, ngày 29/06/1998, Chính phủ ban hành nghị định số 44/1998/NĐ-CP về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Nghị định này đã khắc phục những tồn tại của các giai đoạn trước, thay đổi cơ bản chính sách cổ phần hóa. Giai đoạn 1998- 2001 tăng tốc với 548 doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

3.1.2. Giai đoạn 2002- 2010 Khóa luận: Giải pháp PL cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

Đây là giai đoạn Chính phủ tiếp tục đẩy mạnh sắp xếp, tổ chức lại và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Trong giai đoạn này, Chính phủ đã ban hành nhiều nghị định như Nghị định số 64/2002/NĐ-CP ngày 19/6/2002, Nghị định 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004, nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 về việc chuyển doanh nghiệp nhà nước 100% vốn chủ sở hữu thành công ty cổ phần đã mở ra giai đoạn mới của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước so với giai đoạn trước chỉ làm thí điểm. Nghị quyết trung ương 3 khóa IX năm 2001 coi việc đẩy mạnh cổ phần hóa  những doanh nghiệp không cần nắm giữ 100% vốn nhà nước là khâu quan trọng để tạo bước chuyển cơ bản trong việc nâng cao hiệu quả cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Giai đoạn này đã cổ phần hóa 3.944 doanh nghiệp nhà nước, tăng gấp 6 lần so với giai đoạn 1990- 2000. Tỷ trọng khu vực kinh tế nhà nước trong GDP đã giảm mạnh. Năm 2010, kinh tế nhà nước chỉ còn chiếm 33,74% GDP.

Giai đoạn 2001- 2007 cổ phần hóa được 3.273 doanh nghiệp, năm 2002, số lượng doanh nghiệp cổ phần hóa giảm nhẹ là 164 doanh nghiệp. Đặc biệt giai đoạn 2003- 2006 cổ phần hóa được 2.649 doanh nghiệp (trong đó năm 2003 là 621 doanh nghiệp, năm 2004 là 856 doanh nghiệp, năm 2005 là 813 doanh  nghiệp và năm 2006 là 359 doanh nghiệp) được coi là thời kỳ bùng nổ cổ phần hóa với mức bình quân 1 năm rất cao phản ánh xu hướng kinh tế thị trường tương đối rõ nét sau khi có luật doanh nghiệp năm 2000 và chuẩn bị cho mở cửa, hội nhập sâu rộng khi Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Kết quả đạt được là nhờ vào các động lực cổ phần hóa từ chủ trương của Nghị quyết đại hội Đảng VIII, IX, Nghị quyết hội nghị trung ương 3 khóa IX về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả của doanh  nghiệp nhà nước ban hành cuối năm 2001. Đặc biệt, các cơ chế chính sách trong các nghị định ban hành giai đoạn này thiên về khuyến khích, động viên doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa như xác định giá trị doanh nghiệp, xác định giá trị đất đai, vị trí địa lý, uy tín, thương hiệu,… gắn với giá trị doanh nghiệp được đơn giản hóa, dựa chủ yếu vào giá trị sổ sách, chưa gắn với thị trường đã tạo động lực mạnh thúc đẩy mạnh mẽ cổ phần hóa ở những năm đầu giai đoạn này.

Nhìn chung, nhiều doanh nghiệp đã kinh doanh có hiệu quả sau khi cổ phần hóa trên cả 3 phương diện tài chính, mức độ thỏa mãn của khách hàng và mức độ thỏa mãn của người lao động. Tuy nhiên, thực tế cổ phần hóa vẫn còn nhiều vẫn đề hạn chế. Đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp hậu cổ phần hóa hầu như rất ít thay đổi so với thời điểm trước cổ phần hóa và do đó, không giúp tăng đáng kể chất lượng của các quyết định tài chính, sản xuất kinh doanh và nhân sự. Xuất hiện tình trạng lựa chọn ngược: các nhà đầu tư của khu vực tư nhân chỉ quan tâm đến các doanh nghiệp hoặc bộ phận doanh nghiệp có tiềm năng phát triển hậu cổ phần hóa hoặc được định giá quá thấp so với giá tị thực.

Từ năm 2008, tiến độ cổ phần hóa bị chậm lại. Từ năm 2008 đến năm 2011 chỉ có 117 doanh nghiệp được cổ phần hóa, chỉ tương đương với số doanh nghiệp được cổ phần hóa trong năm 2007. Đến năm 2011, tổng số có 3.976 doanh nghiệp nhà nước và bộ phận doanh nghiệp nhà nước đã hoàn thành cổ phần hóa, chuyển sang hoạt động theo hình thức công ty cổ phần, trong đó, doanh nghiệp địa phương chiếm 58%, doanh nghiệp thuộc các bộ, ngành chiếm 30%, các tập đoàn, tổng công ty chiếm 12%. Số doanh nghiệp 100% vốn nhà nước còn lại đến năm 2011 là 1.309 doanh nghiệp, trong đó, doanh nghiệp của địa phương chiếm 54%, doanh nghiệp thuộc các bộ, ngành chiếm 27%, các tập đoàn, tổng công ty chiếm 19%.

3.1.3. Giai đoạn 2011 đến nay

Giai đoạn 2011 đến nay thực hiện cổ phần hóa nhằm thúc đẩy tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước. Giai đoạn này, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 26 nghị định, 11 quyết định, chỉ thị có liên quan đến cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Đây là giai đoạn triển khai thực hiện một trong ba nội dung quan trọng của nghị quyết trung ương ba khóa XI là tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước. Khóa luận: Giải pháp PL cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

Với quyết tâm đẩy mạnh tái cấu trúc nền kinh tế với 3 trụ cột là tái cơ cấu đầu tư công, tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín dụng, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, Thủ tướng Chính phủ đã thông qua Quyết định 929/QĐ-TTg phê duyệt “Đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2011-2015 với 3 mục tiêu: tái cơ cấu về tổ chức, tái cơ cấu về tài chính, tái cơ cấu về quản trị.

Quá trình cổ phần hóa giai đoạn này tập trung vào các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty. Vì vậy quá trình cổ phần hóa đối diện với nhiều vấn đề cả những vấn đề chung của doanh nghiệp cổ phần hóa và cả  những vấn đề riêng của loại hình doanh nghiệp có quy mô lớn.

Các vấn đề chung về cổ phần hóa tiếp tục phải giải quyết như: tình trạng doanh nghiệp sau cổ phần hóa vẫn chưa thoát ra khỏi phương thức hoạt động của doanh nghiệp nhà nước cũ, chưa đột phá mạnh về tư duy, hành động trong quản trị, điều hành, năng lực quản lý, khả năng cạnh tranh, tính công khai, minh bạch, khó tìm được cổ đông chiến lược, cách lựa chọn nhà đầu tư chiến lược, vai trò cổ đông nhà nước bị quá lạm dụng,…

Các vấn đề đặc thù khi cổ phần hóa tập đoàn kinh tế và tổng công ty là:

Tập đoàn kinh tế, tổng công ty là những doanh nghiệp có quy mô lớn, có tài sản lớn, nhiều vốn nhà nước, nắm giữ các ngành, lĩnh vực kinh doanh quan trọng, nhạy cảm, liên quan đến vị trí, vai trò của kinh tế nhà nước, an ninh, quốc phòng, công ích. Tập đoàn kinh tế và tổng công ty có cấu trúc đa dạng, nhiều tầng nấc, gồm nhiều doanh nghiệp thành viên, lợi ích không đồng nhất, thậm chí đối lập nhau. Tập đoàn kinh tế và tổng công ty đều được coi là nòng cốt, xương sống của doanh nghiệp nhà nước và kinh tế nhà nước.

Cổ phần hóa tập đoàn kinh tế, tổng công ty có thể tiến hành theo 2 hình thức. Một là cổ phần hóa toàn bộ tập đoàn kinh tế, tổng công ty. Hai là chỉ cổ phần hóa các doanh nghiệp thành viên để chuyển sang mô hình công ty mẹ- công ty con. Hiện nay, hình thức thứ 2 được áp dụng phổ biến để cổ phần hóa tổng công ty. Trước hết, cổ phần hóa các doanh nghiệp thành viên, sau đó mới cổ phần hóa công ty mẹ. Hình thức này chỉ thay đổi ở bên dưới, các công ty con, cháu, công ty liên kết, chưa tiến hành đối với doanh nghiệp phía trên là công ty mẹ. Vì vậy, nhiều tập đoàn kinh tế, tổng công ty không có chuyển biến mạnh mẽ, sức ỳ vẫn lớn. Hình thức cổ phần hóa này chỉ phù hợp với giai đoạn trước năm 2011 khi tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước chưa được tập trung. Giai đoạn hiện nay, hình thức cổ phần hóa thứ nhất được áp dụng nhiều hơn với cả tổng công ty và tập đoàn kinh tế như Tập đoàn Tài chính Bảo hiểm Bảo Việt và Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam. Khóa luận: Giải pháp PL cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

Nhà nước can thiệp quá sâu vào quyền của công ty mẹ khi cổ phần hóa các doanh nghiệp thành viên sẽ làm khó cho công ty mẹ thực hiện các kế hoạch chiến lược, sử dụng quyền của mình tại các công ty con, công ty liên kết.

Theo số liệu thống kê trong giai đoạn 2011- 2013, cả nước đã sắp xếp được 180 doanh nghiệp. Trong đó có 99 doanh nghiệp được cổ phần hóa trong đó năm 2011 được 12 doanh nghiệp, năm 2012 được 13 doanh nghiệp, riêng năm 2013 cổ phần hóa 74 doanh  nghiệp. Đây hầu hết là các doanh nghiệp có quy mô lớn, phạm vi hoạt động rộng, kinh doanh đa ngành, tài chính phức tạp. Quá trình cổ phần hóa giai đoạn này diễn ra chậm. Trong 2 năm 2014- 2015 theo đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước phải thực hiện cổ phần hóa 432 doanh nghiệp trong đó đã có 348 doanh nghiệp thành lập ban chỉ đạo cổ phần hóa, 274 doanh nghiệp đang xác định giá trị doanh nghiệp, đã công bố 123 doanh nghiệp. Năm 2014, 143 doanh nghiệp đã hoàn thành cổ phần hóa. Số doanh nghiệp cần hoàn thành cổ phần hóa trong năm 2015 là 289 doanh nghiệp. Việc phải tiến hành cổ phần hóa 289 doanh nghiệp nhà nước trong năm 2015 đã làm nảy sinh nhiều thách thức: vừa phải hoàn thành tiến độ và kế hoạch cổ phần hóa, vừa phải đảm bảo chất lượng cổ phần hóa, trong đó nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng cổ phần hóa là tạo ra động lực mới nhờ đổi mới quản trị doanh nghiệp và sự đột phá do có sự tham gia của nhân tố nhà đầu tư chiến lược. Quý I/2015 đã hoàn thành cổ phần hóa 27 doanh nghiệp.

Vốn của doanh nghiệp nhà nước tiếp tục được bảo toàn, năng lực tài chính được đảm bảo. Vốn chủ sở hữu của các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước năm 2013 là 959.796 tỷ đồng, tăng 4,1% so với năm 2012. Giá trị tổng tài sản của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước năm 2013 đạt 218.95 tỷ đồng, tăng 9% so với năm 2012. Tỷ trọng đóng góp vào GDP của khối doanh nghiệp nhà nước đạt mức 32,4% năm 2013. Hoạt động sản xuất kinh doanh của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước tương đối ổn định, doanh thu năm 2013 đạt 1.471.018 tỷ đồng, tạo việc làm cho khoảng trên 1,2 triệu lao động. Nhìn chung, tổng lợi nhuận của toàn khối doanh nghiệp nhà nước có xu hướng tăng lên mặc dù số lượng doanh nghiệp nhà nước giảm xuống, cơ cấu tài sản và vốn chủ sở hữu tiếp tục tăng lên. Tuy nhiên, quy mô nợ của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước vẫn rất cao, quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước diễn ra chậm chạp, các vấn đề đối với quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2000- 2010 vẫn chưa được giải quyết trong giai đoạn này.

Năm 2014- 2015 gắn với tiến trình cổ phần hóa tiềm năng của 3 công ty lớn là công ty Dịch vụ Viễn thông di động Việt Nam (MobiFone), Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines) và Tập đoàn Công nghiệp Than- khoáng sản Việt Nam (Vinacomin).

Với giá trị sở hữu khoảng 3,4 tỷ USD, MobiFone hiện nắm giữ 21% thị phần thị trường điện thoại di động của Việt Nam. MobiFone và Vinaphone là 2 công ty con chiếm 19% thị phần của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT).

MobiFone cổ phần hóa cuối năm 2015. Sau cổ phần hóa, nhà nước chỉ còn nắm giữ 20% cổ phần. Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines) hiện là công ty hàng hải quốc doanh của Việt Nam. Vinalines đã gặp nhiều khó khăn tài chính sau sự kiện tham nhũng và khoản nợ lên tới 4 tỷ USD do tình trạng quản lý tài chính yếu kém. Để trả nợ, Vinalines đã bán cổ phần tại nhiều đơn vị của mình, bao gồm cảng biển. Khóa luận: Giải pháp PL cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

Vinacomin đã hoàn thành thoái vốn trong lĩnh vực tài chính, cụ thể là thoái vốn tại công ty bảo hiểm SHB, ngân hàng SHB, công ty Bảo hiểm Hàng không, công ty chứng khoán SHB và công ty tài chính Vinacomin. Các đơn vị tiến hành cổ phần hóa là Tổng công ty Khoáng sản- Vinacomin, Tổng công ty điện lực- than khoáng sản, Tổng công ty Công nghiệp mỏ Việt Bắc- Vinacomin, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Cơ khí Đóng tàu- Vinacomin và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Môi trường- Vinacomin.

Các bộ, ngành, địa phương đã có những báo cáo cụ thể về kết quả đạt được trong quá trình cổ phần hóa giai đoạn này. Cụ thể

Bộ xây dựng

Tháng 10/2012, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 1428/QĐ- TTg về việc kết thúc thí điểm Tập đoàn Sông Đà, Tập đoàn Phát triển nhà và đô thị, theo đó đã chuyển 7 Tổng công ty là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và 2 Tổng công ty cổ phần về trực thuộc Bộ Xây dựng. Do việc ổn định lại công tác tổ chức, hoạt động sản xuất kinh doanh của các Tổng công ty nên tiến độ cổ phần hóa còn chậm so với kế hoạch cổ phần hóa đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Tính đến hết năm 2012, Bộ Xây dựng chỉ hoàn thành cổ phần hóa 1 doanh nghiệp thuộc Tổng công ty Lắp máy Việt Nam.

Tính đến đầu năm 2013, Bộ Xây dựng còn 14 Công ty mẹ – Tổng công ty và 17 công ty con trực thuộc các Tổng công ty phải cổ phần hóa. Trong năm 2013, Bộ Xây dựng đã thực hiện cổ phần hóa được 12 doanh nghiệp gồm: 5 Công ty mẹ- Tổng công ty (Viglacera, Viwaseen, Xây dựng Hà Nội, Xây dựng Bạch Đằng và Tổng công ty xây dựng và phát triển hạ tầng) và 7 Công ty con (3 doanh nghiệp thuộc Tổng công ty Xây dựng và Phát triển Hạ tầng, 2 doanh nghiệp thuộc tổng công ty Đầu tư Phát triên Nhà và Đô thị và 2 doanh nghiệp thuộc Tổng công ty VNCC).

Trong 9 tháng đầu năm 2014, Bộ Xây dựng đã rà soát, đẩy mạnh công tác cổ phần hóa, đồng loạt triển khai tại 19 doanh nghiệp gồm 9 công ty mẹ- Tổng công ty và 10 công ty con cổ phần hóa cùng công ty mẹ. Bộ xây dựng đã thành lập ban chỉ đạo và phê duyệt kế hoạch cổ phần hóa của 9/9 tổng công ty, hoàn thành phê duyệt giá trị doanh nghiệp và đang thẩm định phương án cổ phần hóa của 1 tổng công ty và 2 công ty con, đang xác định giá trị doanh nghiệp tại 5 tổng công ty và tiến hành xử lý tài chính trước khi xác định giá trị doanh nghiệp tại 4 tổng công ty.

Nhìn chung giai đoạn 2011-2015, “số lượng doanh nghiệp của Bộ Xây dựng phải thực hiện cổ phần hóa không nhiều nhưng đều có qui mô lớn với giá trị doanh nghiệp từ 1.000 tỷ đồng đến gần 20.000 tỷ đồng, trong đó có 14 Công ty mẹ – Tổng công ty. Dự kiến đến cuối năm 2015, về cơ bản Bộ Xây dựng sẽ hoàn thành công tác cổ phần hóa và không còn doanh nghiệp nhà nước” [3, 83].

Đến năm 2015, Bộ Xây dựng sẽ hoàn thành công tác cổ phần hóa toàn bộ các doanh nghiệp nhà nước trực thuộc. Đề thực hiện được mục tiêu trên, Bộ xây dựng đã đề ra các giải pháp như:

  • Tiếp tục đổi mới tư duy, nhận thức của cán bộ lãnh đạo, người lao động trong doanh nghiệp trong công tác cổ phần hóa thông qua các hình thức chỉ đạo bằng văn bản, tổ chức hội thảo, cuộc họp phổ biến,…, quy định việc thực hiện kế hoạch cổ phần hóa là một trong những tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của lãnh đạo doanh nghiệp
  • Thực hiện cổ phần hoá các công ty con đồng thời với các công ty mẹ để rút ngắn thời gian, tiết kiệm chi phí và lựa chọn được phương án cổ phần hóa phù hợp hơn. Khóa luận: Giải pháp PL cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.
  • Phê duyệt kế hoạch, tiến độ cổ phần hóa cụ thể, bao gồm mốc thời gian cho từng bước công việc, thường xuyên chỉ đạo, đôn đốc, đánh giá mức độ hoàn thành tiến độ cổ phần hóa theo kế hoạch đề ra.
  • Chỉ đạo các doanh nghiệp chủ động chuẩn bị hồ sơ, tài liệu pháp lý để cổ phần hóa, áp dụng các biện pháp xử lý linh hoạt, hiện hữu, dứt điểm đối với các doanh nghiệp đang gặp khó khăn lớn về tài chính, lao động.
  • Thường xuyên chỉ đạo, phối hợp với doanh nghiệp cổ phần hóa giải quyết các khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình cổ phần hóa, nhất là đối với doanh nghiệp có nhiều tài sản là đất đai, nhà cửa, máy móc, thiết bị, … khi xác định giá trị doanh nghiệp.
  • Chủ động phối hợp với các cơ quan liên quan như bộ Tài chính, Bộ kế hoạch và đầu tư, Ủy ban nhân dân các tỉnh,… để giải quyết các vấn đề vướng mắc khi cổ phần hóa như việc xác định giá trị doanh nghiệp, phương án sử dụng đất, phương án cổ phần hóa.
  • Tăng cường quan tâm, hướng dẫn, chỉ đạo, giám sát đối với các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp sau cổ phần hóa.
  • Chỉ đạo các đơn vị chủ động rà soát và lập kế hoạch, lộ trình bán tiếp phần vốn nhà nước tại các công ty cổ phần xét thấy không cần thiết nắm giữ.

Bộ xây dựng đã đưa ra các kiến nghị để giải quyết những khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp trong quá trình thực hiện: Sửa đổi một số quy định tại nghị định số 59/2011/NĐ-CP theo hướng doanh nghiệp cổ phần hóa được giữ lại quỹ dự phòng giảm giá các khoản nợ phải thu khi xác định giá trị doanh nghiệp, có phương pháp xác định giá đối với các khoản đầu tư vào doanh nghiệp chưa niêm yết, doanh nghiệp bị sàn giao dịch hủy niêm yết phù hợp với thị trường, sử dụng lợi nhuận bình quân của 10 năm trước khi cổ phần hóa để tính lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp, không định giá lại các khoản đầu tư tài chính khi thực hiện bàn giao vốn nhà nước sang công ty cổ phần.

Bộ xây dựng đã đưa ra các kiến nghị để giải quyết những khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp trong quá trình thực hiện: Sửa đổi một số quy định tại nghị định số 59/2011/NĐ-CP theo hướng doanh nghiệp cổ phần hóa được giữ lại quỹ dự phòng giảm giá các khoản nợ phải thu khi xác định giá trị doanh nghiệp, có phương pháp xác định giá đối với các khoản đầu tư vào doanh nghiệp chưa niêm yết, doanh nghiệp bị sàn giao dịch hủy niêm yết phù hợp với thị trường, sử dụng lợi nhuận bình quân của 10 năm trước khi cổ phần hóa để tính lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp, không định giá lại các khoản đầu tư tài chính khi thực hiện bàn giao vốn nhà nước sang công ty cổ phần.

Bộ xây dựng đã đưa ra các kiến nghị để giải quyết những khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp trong quá trình thực hiện: Sửa đổi một số quy định tại nghị định số 59/2011/NĐ-CP theo hướng doanh nghiệp cổ phần hóa được giữ lại quỹ dự phòng giảm giá các khoản nợ phải thu khi xác định giá trị doanh nghiệp, có phương pháp xác định giá đối với các khoản đầu tư vào doanh nghiệp chưa niêm yết, doanh nghiệp bị sàn giao dịch hủy niêm yết phù hợp với thị trường, sử dụng lợi nhuận bình quân của 10 năm trước khi cổ phần hóa để tính lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp, không định giá lại các khoản đầu tư tài chính khi thực hiện bàn giao vốn nhà nước sang công ty cổ phần.

Bộ công thương Khóa luận: Giải pháp PL cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

Trong năm 2015, Bộ Công Thương thực hiện cổ phần hóa 7 doanh nghiệp trong đó có 3 Tổng công ty: Công ty Máy động lực và Máy nông nghiệp Việt Nam; Công ty Giấy Việt Nam; Công ty Máy và Thiết bị công nghiệp và 4 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Điện máy và Đầu tư; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Xây lắp và Vật liệu xây dựng V; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Thực phẩm và Đầu tư công nghệ Fococev, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Vật liệu xây dựng và Xây lắp thương mại BMC. Đối với 3 Công ty, sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phương án cổ phần hóa, Bộ Công Thương chỉ đạo thực hiện bán cổ phần lần đầu trong Quý I năm 2016. Còn đối với 4 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, chỉ duy nhất Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Vật liệu xây dựng và Xây lắp thương mại BMC, Bộ đang chỉ đạo Công ty xác định giá trị doanh nghiệp và hoàn thành cổ phần hóa trong Quý 1 năm 2016. Còn 3 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên đã triển khai bán cổ phần lần đầu và hoàn thành cổ phần hóa trong năm 2015 hoặc tháng 1 năm 2016. Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) là tập đoàn kinh tế nhà nước đầu tiên thực hiện cổ phần hóa cũng đã hoàn thành thoái vốn ở 7 đơn vị với tổng số tiền 204,1 tỷ đồng. Hiện nay, Vinatex đang chỉ đạo thoái vốn tiếp tại một số lĩnh vực như chứng khoán, ngân hàng, tài chính để lành mạnh hóa và minh bạch tài sản khi chuyển sang hoạt động theo mô hình công ty cổ phần.

Như vậy, trong giai đoạn 2011 – 2015, Bộ Công Thương hoàn thành công tác sắp xếp, cổ phần hóa 15 doanh nghiệp theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Trong đó có 5 doanh nghiệp có nhà đầu tư chiến lược là các Tập đoàn và các Tổng công ty. Các nhà đầu tư chiến lược này thì phần lớn là nhà đầu tư trong nước, chưa thu hút được các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài tham gia mua cổ phần của các doanh nghiệp thuộc Bộ. Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng cho biết: “đến năm 2015, đã có 287 trên tổng số 299 doanh nghiệp Nhà nước của ngành Công Thương được cổ phần hóa xong. Riêng trong giai đoạn 2011-2015, Bộ hoàn thành công tác xắp xếp, cổ phần hóa 15 doanh nghiệp theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ” [2, 83].

Tuy nhiên, trong thời gian qua, mặc dù Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công Thương đã có những chỉ đạo quyết liệt trong công tác tái cơ cấu, sắp xếp doanh nghiệp Nhà nước, lãnh đạo các Tập đoàn, Tổng công ty đã có nhiều nỗ lực, cố gắng nhưng nhìn chung, công tác cổ phần hóa, thoái vốn Nhà nước tại doanh nghiệp chưa đạt kết quả cao. Trong bối cảnh thị trường chứng khoán vẫn còn ảm đạm, một số doanh nghiệp thuộc diện cổ phần hóa còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc về tài chính, công nợ, đất đai, tài sản. Bộ trưởng khẳng định: “Tái cơ cấu không chỉ là nhiệm vụ trọng tâm mà còn là sự sống còn của doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập kinh tế sâu, rộng của Việt Nam” [2, 83].

Giai đoạn 2016 – 2020, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục đẩy mạnh hoạt động tái cơ cấu, cổ phần hóa, thoái vốn của doanh nghiệp nhà nước. Trong đó, đáng chú ý nhất là sẽ tập trung cổ phần hóa, thoái vốn của các tập đoàn, Tổng công ty “đầu tàu” trong nền kinh tế gồm Dầu khí, Điện lực, Than Khoáng sản, Hóa chất, Thuốc lá….

Giai đoạn 2014- 2015, quá trình cổ phần hóa được đề cập với tinh thần quyết liệt với nhiều giải pháp đồng bộ, đột phá từ nhận thức đến cơ chế, chính sách, đối tượng, lộ trình, trách nhiệm và tổ chức thực hiện.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu chuyển thành công ty cổ phần tất cả doanh nghiệp thuộc diện cổ phần hóa. Những doanh nghiệp có điều kiện thì thực hiện phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) theo quy định hiện hành. Những doanh nghiệp chưa có điều kiện IPO ngay thì chuyển thành công ty cổ phần với các cổ đông là Nhà nước.

Để hỗ trợ quá trình cổ phần hóa, nhiều chính sách tài chính mới được triển khai, như: xóa nợ cho 4 nhóm đối tượng doanh nghiệp nhà nước; cho phép thoái vốn dưới mệnh giá hoặc dưới giá trị sổ sách và cố gắng bảo toàn vốn ở mức cao nhất, không thoái bằng mọi giá, phân loại lĩnh vực đang đầu tư có lãi, lĩnh vực đang lỗ để có từng biện pháp thích hợp, lĩnh vực càng để càng mất thì bán nhanh; Nới “room” cho nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần tại doanh nghiệp và hạ mức trần cổ phần do nhà nước nắm giữ trong doanh nghiệp cổ phần hóa; phân định rõ nhiệm vụ công ích, nhiệm vụ chính trị và kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước; nghiên cứu đề xuất mức lương hợp lý cũng như kiểm soát chặt chẽ tuyển chọn lao động trong doanh nghiệp nhà nước. Hoàn thiện cơ chế thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước và đại diện chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp.

Trường hợp không thực hiện được tiến độ cổ phần hóa và thoái vốn Nhà nước theo kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì Hội đồng thành viên các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước, Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty các doanh nghiệp Nhà nước và Ban lãnh đạo doanh nghiệp phải làm rõ nguyên nhân khách quan, chủ quan, xác định trách nhiệm của tập thể, cá nhân có liên quan xử lý chậm quá trình cổ phần hóa và thoái vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, xử lý theo quy định. Đồng thời, Bộ trưởng các bộ quản lý ngành, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong việc chậm hoàn thành kế hoạch đã được phê duyệt theo quy định. Khóa luận: Giải pháp PL cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

Năm 2014, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 15/NQ-CP ngày 6/3/2014 về một số giải pháp đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn các doanh nghiệp nhà nước (Gọi tắt là nghị quyết số 15). Nghị quyết quy định:

  • Kiên quyết truy xét trách nhiệm đối với các lãnh đạo bộ, ngành, địa phương, đơn vị, thực hiện không đúng tiến độ cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp
  • Cho phép các doanh nghiệp nhà nước được thoái vốn với giá thấp hơn mệnh giá hoặc bán cổ phần dưới giá trị sổ sách.

Nghị quyết số 15/NQ-CP đã thể hiện quyết tâm đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước của chính phủ, các bộ, ngành và địa phương. Từ đầu năm 2014, Bộ giao thông vận tải đã liên tiếp tiến hành IPO các tổng công ty thuộc ngành, Bộ xây dựng cũng đẩy mạnh IPO các doanh nghiệp do bộ quản lý. Các địa phương cũng đẩy mạnh quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Cụ thể, tại thành phố Hồ Chí Minh đã xây dựng kế hoạch cổ phần hóa 29 doanh nghiệp lớn. Vào ngày 13/3/2014, lãnh đạo 29 doanh nghiệp đã ký cam kết hoàn thành cổ phần hóa trước tháng 12/2015. Thành phố Hà Nội cũng đã đặt mục tiêu sắp xếp cổ phần hóa 27 doanh nghiệp thuộc thành phố quản lý trong năm 2014. Trong đó, cổ phần hóa 11 doanh nghiệp, 9 bộ phần doanh nghiệp.

Giai đoạn 2011- 2015, tiến trình cổ phần hóa diễn ra còn chậm do nhiều nguyên nhân như:

Tư duy về cổ phần hóa không thay đổi khi vẫn cho rằng doanh nghiệp nhà nước phải nắm giữ vai trò chủ đạo, nếu giảm số lượng doanh nghiệp nhà nước sẽ làm giảm vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước nói riêng và khu vực kinh tế nhà nước nói chung. Mặt khác, một số lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước vẫn giữ tư duy lo ngại sẽ mất hoặc giảm quyền kiểm soát doanh nghiệp khi chuyển thành công ty cổ phần nên chưa tập trung cho cổ phần hóa, chủ động làm chậm lại quá trình cổ phần hóa. Người đứng đầu doanh nghiệp là những người có quyền quyết định đến quyết tâm cổ phần hóa hay làm chậm lại quá trình cổ phần hóa. Giai đoạn này, họ có nhiều lý do hơn có thể nêu ra về khó khăn, trở ngại, vấn đề cần cân nhắc để kéo lùi thời gian cổ phần hóa như kinh tế suy giảm, thị trường chứng khoán chưa khởi sắc, vấn đề định giá doanh nghiệp,… Tâm lý của những người đứng đầu doanh nghiệp là vấn đề không mới và không chỉ riêng Việt Nam mới xuất hiện vấn đề này.

Cơ chế, chính sách chưa ban hành kịp thời. Doanh nghiệp cổ phần hóa trong giai đoạn này đa phần là các doanh nghiệp có quy mô vừa, lớn và rất lớn. Quy mô này làm cho hoạt động cổ phần hóa trở nên phức tạp, đặc biệt trong việc định giá doanh nghiệp. Các tập đoàn kinh tế và tổng công ty buộc phải tái cơ cấu trước khi tiến hành cổ phần hóa như phải sắp xếp lại sản xuất, tái cơ cấu lại ngành nghề kinh doanh, thoái vốn đầu tư ngoài ngành kinh doanh chính, cơ cấu lại tổ chức, bộ máy, cán bộ, lao động, … Tuy nhiên, các văn bản pháp lý không được ban hành kịp thời khiến các doanh nghiệp bối rối trong việc tiến hành. Từ đó là chậm lại quá trình cổ phần hóa.

Tình hình kinh tế vĩ mô biến động mạnh, thị trường chứng khoán không thuận lợi, bong bóng chứng khoán vỡ năm 2008 ảnh hưởng đến giai đoạn này. Kinh tế vĩ mô không thuận lợi, kinh tế suy giảm ảnh hưởng lớn đến cầu của thị trường, từ đó ảnh hưởng đến IPO các doanh nghiệp cổ phần hóa. Mặt khác, giai đoạn này, Chính phủ và các bộ ngành tập trung nhiều nỗ lực vào điều hành ổn định kinh tế vĩ mô vì thế cũng ảnh hưởng đến các nỗ lực thực hiện cổ phần hóa và tiến độ cổ phần hóa.

3.1.4. Đánh giá toàn bộ quá trình cổ phần hóa đến nay Khóa luận: Giải pháp PL cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

Nhìn chung, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước từ năm 1990 đến nay đã đạt được một số kết quả nhất định: Tổng số doanh  nghiêp cổ phần hóa tính đến hết năm 2013 là 4.065, tính đến tháng 9/2014 là 4.136 doanh nghiệp, trong đó bao gồm 3.650 doanh nghiệp và 415 bộ phận doanh nghiệp. Số doanh nghiệp 100% vốn nhà nước tính đến hết năm 2013 là 949 doanh nghiệp. Qua đó, doanh nghiệp nhà nước đã tập trung hơn nữa vào những ngành, lĩnh vực then chốt, quan trọng mà nhà nước nắm giữ.

Các cơ chế, chính sách về cổ phần hóa tiếp tục được hoàn thiện theo hướng tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp thực hiện. Quá trình cổ phần hóa đã tạo nhiều tác động tích cực đối với doanh nghiệp cổ phần hóa và toàn bộ khu vực doanh nghiệp nhà nước.

Đối với doanh nghiệp, cổ phần hóa đem lại tính năng động, tích cực hơn trong quản trị, điều hành, nâng cao năng suất, hiệu quả hoạt động.

Đối với khu vực doanh nghiệp nhà nước, cổ phần hóa đã làm giảm đáng kể số lượng doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, từ 12.000 doanh nghiệp nhà nước năm 1990 xuống còn 909 doanh nghiệp cuối năm 2013. Nhờ đó thu hẹp ảnh hưởng của khu vực doanh nghiệp nhà nước, phân bổ lại nguồn của nền kinh tế, chuyển dịch một số nguồn lực từ khu vực doanh nghiệp nhà nước như tài chính, tín dụng, nhân lực, đất đai, … sang khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước và khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để sử dụng có hiệu suất, hiệu quả hơn. Thông qua đó tạo điều kiện thúc đẩy sự tham gia của 2 khu vực kinh tế tư nhân trong nước và nước ngoài vào phát triển kinh tế đất nước. Có thể thấy, tuy tỷ trọng của khu vực kinh tế nhà nước trong GDP giảm từ 40% xuống còn 28% nhưng với sự tăng trưởng mạnh hơn của khu vực kinh tế tư nhân trong nước và đầu tư nước ngoài nên nền kinh tế vẫn đảm bảo tốc độ tăng trưởng khá cao.

Tuy nhiên, nếu so sánh với kế hoạch đặt ra thì tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp  nhà nước nhìn chung vẫn diễn ra chậm. Giai đoạn 2002- 2010, số lượng doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa chỉ bằng 1/3 so với kế hoạch đặt ra. Giai đoạn 2011- 2015, theo kế hoạch phải cổ phần hóa được 531 doanh nghiệp. Nhưng giai đoạn 20112013 mới cổ phần hóa được 99 doanh  nghiệp, chiếm 18,6% kế hoạch. Vậy năm 2014- 2015 phải cổ phần hóa 432 doanh nghiệp còn lại. Như vậy, từ năm 2011 đến hết tháng 9/2014, cổ phần hóa được 170 doanh nghiệp chỉ đạt 32% kế hoạch giai đoạn 2011- 2015. Đánh giá về 432 doanh nghiệp nhà nước phải cổ phần hóa từ năm 2014 đến hết năm 2015, ông Trần Văn Dũng- Chủ tịch Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội cho rằng “Đó là một mục tiêu lớn, cần nhiều sự nỗ lực và sáng tạo để thực thi. Theo đó, cùng với việc có chính sách phù hợp về định giá doanh nghiệp nhà nước, xử lý chế độ của người lao động thì theo tôi, cần đa dạng hình thức bán vốn của doanh nghiệp nhà nước và xây dựng lộ trình bán hợp lý, phù hợp với nhu cầu của thị trường. Một điểm quan trọng khác cũng cần được lưu ý trong cổ phần hóa là mục tiêu đại chúng hóa doanh nghiệp nhà nước có tầm quan trọng số 1, vì thế, không nên đặt nặng việc bán theo giá nào, mà cần tôn trọng quy luật cung cầu và hãy để thị trường xác định giá mua – bán”.

Mục tiêu đặt ra giai đoạn này không thể hoàn thành khi những doanh nghiệp phải tiến hành cổ phần hóa đều là những doanh nghiệp lớn, việc định giá, xử lý lao động dôi dư, xử lý nợ thuế,… rất phức tạp. Tình hình kinh tế khó khăn, thị trường chứng khoán chưa phục hồi ảnh hưởng tiêu cực đến việc bán cổ phần ra bên ngoài. Bên cạnh đó, chính bản thân doanh nghiệp nhà nước chưa thực sự minh bạch hóa mọi quy trình cổ phần hóa nên nhà đầu tư còn e ngại khi quyết định đầu tư. Mặt khác, tuy đã cổ phần hóa nhưng doanh nghiệp nhà nước vẫn muốn giữ vị trí chi phối của mình trong nền kinh tế.

Một bộ phận doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa vẫn chưa thoát khỏi cơ chế tập trung quan liêu về tài chính, tổ chức bộ máy và cơ chế quản lý, tức là, doanh nghiệp chưa thực sự hoạt động tuân theo quy luật khách quan của kinh tế thị trường.

Các cổ đông thiểu số trong Công ty cổ phần chưa thực sự phát huy vai trò làm chủ của mình. Cổ đông thiểu số như người lao động còn có tư tưởng “làm công, ăn lương” là chính; còn cổ đông thiểu số bên ngoài chỉ quan tâm đến cổ tức và giá cả cổ phiếu trên thị trường. Vì vậy, chưa phát huy được tác động tích cực của những nhân tố mới đối với hoạt động quản trị doanh nghiệp.

Các hạn chế lớn trong quá trình cổ phần hóa là: Khóa luận: Giải pháp PL cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

Thứ nhất, chính sách và quy trình cổ phần hóa vẫn dựa trên tư duy cũ.

Từ khâu định giá tài sản doanh nghiệp, cho đến tổ chức quản lý sau khi doanh nghiệp đã cổ phần hóa đều tồn tại nhiều vấn đề. Việc xử lý các vấn đề tài chính trước, trong và sau cổ phần hóa còn nhiều bất cập như: Xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa chưa đúng, gây thất thoát và lãng phí tài sản nhà nước trong và sau quá trình cổ phần hóa. Giá trị doanh nghiệp bị xác định thấp, phần lớn cổ phần rơi vào tay một nhóm người. Bên cạnh đó là tình trạng liên kết, gian lận trong đấu thầu. Việc xử lý các khoản nợ tồn đọng gặp nhiều khó khăn, mất thời gian do thiếu sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các ngân hàng, thuế, tài chính. Chất lượng định giá doanh nghiệp của nhiều tổ chức cung ứng dịch vụ thẩm định giá trị có độ tin cậy thấp,. Quy chế lựa chọn, giám sát hoạt động tư vấn và xác định giá trị doanh nghiệp chưa được quy định rõ, chưa gắn trách nhiệm của tổ chức tư vấn, định giá với việc bán cổ phần. Quy trình cổ phần hóa từ xây dựng đến thực hiện đề án chưa sát thực tế, còn rườm rà, phức tạp nên kéo dài thời gian cổ phần hóa. Trung bình thời gian cổ phần hóa một doanh nghiệp mất 437 ngày, tổng công ty là 554 ngày. Sau khi cổ phần hóa, nhiều doanh nghiệp vẫn hoạt động như cũ, quản lý nhà nước vẫn chi phối mọi hoạt động kể cả với doanh nghiệp mà vốn nhà nước chưa tới 30% vốn điều lệ. Bộ máy quản lý cũ trong nhiều doanh nghiệp vẫn chiếm giữ 80%.

Thứ hai, tốc độ cổ phần hóa chậm

Quá trình cổ phần hóa diễn ra chậm hơn so với yêu cầu đặt ra do cả nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan như tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới và những khó khăn của kinh tế trong nước đã ảnh hưởng đến thị trường tài chính, chứng khoán và kế hoạch bán cổ phần ra công chúng của các doanh nghiệp cổ phần hóa cũng như thoái vốn đầu tư. Một số bộ ngành, địa phương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước chưa chỉ đạo quyết liệt và tích cực tổ chức triển khai phương án sắp xếp, cổ phần hóa và thoái vốn. Đối tượng sắp xếp, cổ phần hóa hiện nay hầu hết là các doanh nghiệp có quy mô lớn, phạm vi hoạt động rộng, kinh doanh đa ngành nghề, tài chính phức tạp nên cần có nhiều thời gian chuẩn bị, xử lý. Việc thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp có quy mô lớn cần sự tham gia của nhiều nhà đầu tư lớn, có tiềm lực tài chính và năng lực quản trị, đầu tư tốt. Cùng với đó, chưa có những chuyển biến rõ nét về việc giảm đầu mối quản lý các doanh nghiệp nhà nước. Tình trạng minh bạch thông tin các doanh nghiệp nhà nước vẫn dậm chân tại chỗ. Các thông tin về hoạt động của doanh nghiệp nhà nước chỉ được biết đến rất chậm qua các báo cáo tổng hợp của Chính phủ thay vì các bản báo cáo tài chính chi tiết như các doanh nghiệp niêm yết. Một số bộ, ngành, địa phương chưa vào cuộc thực hiện tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước một cách quyết liệt nên vẫn còn tình trạng chậm trễ.

Thứ ba, Quản trị doanh nghiệp sau cổ phần hóa không hiệu quả

Cổ phần hóa làm đa dạng hóa sở hữu, giảm tính ưu thế của sở hữu nhà nước. Cổ phần hóa chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần với cấu trúc quản trị hiện đại. Sau cổ phần hóa, quản trị doanh nghiệp tiếp tục được cải thiện theo hướng hiện đại. Tuy nhiên, trên thực tế, quản trị doanh nghiệp tại các doanh nghiệp sau cổ phần hóa nhìn chung chưa có nhiều chuyển biến, thay đổi rõ rệt. Nhiều doanh nghiệp vẫn áp dụng các phương thức, biện pháp quản trị của doanh nghiệp nhà nước trước đây. Bản thân doanh nghiệp dù đã tiến hành xong cổ phần hóa nhưng không nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề thay đổi mô hình quản trị cũng như tâm lý “ngại thay đổi” và “dựa dẫm” nên vẫn rập khuôn áp dụng mô hình quản trị cũ. Điều này được lý giải là do phần lớn các chức danh quản lý như giám đốc, phó giám đốc và kế toán trưởng vẫn do những người cũ nắm giữ. Phần lớn cổ phần của các vị trí quan trong khác cũng do người trong nội bộ doanh nghiệp nắm giữ. Những “con người cũ” với “tâm lý cũ” nên còn chậm thay đổi là không thể tránh khỏi. Khóa luận: Giải pháp PL cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

Mặc dù có những doanh nghiệp đã thực hiện và áp dụng các quy trình, cách thức quản trị mới nhưng cách làm còn mang nặng tính hình thức, chưa chú trọng vào chất lượng thực sự. Không phải doanh nghiệp nào cũng áp dụng đầy đủ quy trình của việc hoạch định chiến lược như nghiên cứu thị trường, đánh giá các yếu tố kinh tế, phân tích điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp, lập dự thảo các phương án chiến lược,…  hay không phải doanh nghiệp nào cũng thực hiện đầy đủ quy trình trong hoạt động tuyển dụng nhân sự, đảm bảo thực hiện đầy đủ lợi ích cho người lao động…. Nguyên nhân thứ nhất là do các doanh nghiệp chỉ làm cho có hình thức, làm đẹp cho hình ảnh của doanh nghiệp nhằm thu hút các cổ đông đầu tư chứ không phải mục đích nâng cao chất lượng quản lý thực sự cho doanh nghiệp. Nguyên nhân thứ hai là do các quy trình, yêu cầu của hoạt động quản trị chặt chẽ và phức tạp, đòi hỏi đầu tư nhiều thời gian và công sức để thực hiện khiến cho một số công ty phải lược bỏ bớt một vài nội dung để đơn giản hóa quy trình dẫn đến tính hình thức. Thêm vào đó, yếu tố tài chính cũng là một trở ngại lớn cho các doanh nghiệp. Không còn được Nhà nước trợ giúp, không còn những khoản ưu đãi về tài chính nên không phải doanh nghiệp nào cũng sẵn sàng bỏ ra một khoản kinh phí lớn (điều tra, lên kế hoạch, thực hiện, kiểm soát…) để đảm bảo cho chất lượng của hoạt động quản trị. Ngoài ra, kinh nghiệm quản trị còn non yếu cũng là nguyên nhân khiến hoạt động quản trị tại doanh nghiệp mới chỉ ở mức “bề nổi” chứ chưa thực sự đi vào “chiều sâu”.

Hoạt động quản trị chưa cho thấy tính mới, sáng tạo và khoa học. Nguyên nhân là do bộ máy quản lý của doanh nghiệp phần lớn vẫn là các cá nhân cũ với tư tưởng cũ. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp chưa có thói quen thuê chuyên gia tư vấn quản trị, thuê những người quản lý có tài năng nên đã phần nào làm giảm sức sáng tạo, tính tư duy và khách quan trong hoạt động điều hành doanh nghiệp nhất là đối với các hoạt động quản trị cơ bản như quản trị chiến lược, quản trị tài chính và quản trị nhân sự.

Hoạt động quản trị còn nhiều hạn chế một phần là do các doanh nghiệp trước đây nhận được quá nhiều sự hỗ trợ từ phía Nhà nước nên sau cổ phần hóa, việc thay đổi các chức danh lãnh đạo, xóa bỏ các đặc quyền về mặt pháp lý và tài chính cũng khiến năng lực quản trị của doanh nghiệp giảm sút. Cụ thể, do không còn nằm trong khu vực kinh tế Nhà nước nữa, các doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc vay vốn để đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh do vấp phải sự lo ngại từ các ngân hàng Thương mại. Nhà nước không thể đứng ra bảo lãnh nợ cho các doanh nghiệp này được nữa cũng như khi các doanh nghiệp này gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh, rất khó để nhận được các gói cứu trợ cũng như các biện pháp bổ sung vốn từ Nhà nước. Do xuất phát điểm là thành phần kinh tế Nhà nước nên tính chủ động, sáng tạo và hiệu quả làm việc của một số doanh nghiệp chưa cao dẫn đến khó cạnh tranh với các doanh nghiệp cổ phần hóa khác mà nền tảng là các doanh nghiệp tư nhân. Do vậy, nhiều doanh nghiệp đang phải vật lộn trong cuộc cạnh tranh khốc liệt hiện nay.

Vẫn tồn tại các vấn đề khó khăn cần giải quyết như lao động dôi dư, lao động giỏi nhảy việc, lao động lâu năm làm việc còn kém hiệu quả. Nguyên nhân của vấn đề này là do chính sách tiền lương và khen thưởng vẫn còn hạn chế, chưa tạo ra sự kích thích và hấp dẫn đối với người lao động, chưa chặt chẽ sử dụng yếu tố năng lực, hiệu quả công việc thực tế của người lao động.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này như:

Nhận thức chưa đúng, thậm chí sai lệch về quản trị doanh nghiệp, coi cải thiện quản trị doanh nghiệp là cải thiện quản lý điều hành sản xuất kinh doanh như cải thiện về quản lý tài chính, nhân sự, tiền lương, sản xuất thương mại,… Trong khi đó, cải thiện quản trị doanh nghiệp là áp dụng các nguyên tắc quản trị doanh nghiệp hiện đại theo thông lệ kinh tế thị trường. Ví dụ theo quy tắc của OECD đó là tạo điều kiện để cổ đông thực hiện quyền cổ đông và bảo vệ quyền của cổ đông; đối xử bình đẳng với mọi cổ đông, trong đó có cổ đông thiểu số; các bên liên quan được tiếp cận các thông tin phù hợp, đầy đủ, tin cậy, kịp thời và thường xuyên, tăng cường minh bạch hóa và công bố thông tin quan trọng của doanh nghiệp, tăng cường trách nhiệm và tính giải trình của Hội đồng quản trị, đảm bảo để Hội đồng quản trị hoạt động vì lợi ích cao nhất của doanh nghiệp và của cổ đông.

Cách sử dụng quyền của cơ quan quản lý nhà nước đối với phần vốn của mình tại doanh nghiệp không đúng với bản chất của người đại diện phần vốn góp. Tư duy cũ về quản lý hành chính đối với phần vốn nhà nước vẫn chưa thoát ra khi  tại doanh nghiệp nhà nước, nhà nước vẫn nắm giữ cổ phần chi phối. Người đại diện phần vốn nhà nước thường là các cơ quan hành chính nên họ có xu hướng áp dụng biện pháp quản lý hành chính vào doanh nghiệp mà họ quản lý. Điều đó ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vì tư duy quản lý hành chính khác biệt với quy luật kinh tế thị trường.

Nhà nước chưa quan tâm đúng mức đến các doanh nghiệp sau cổ phần hóa và quản trị doanh nghiệp của các doanh nghiệp này. Nhà nước chỉ tập trung vào doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và thông qua giải pháp cổ phần hóa. Có rất nhiều văn bản được ban hành để thực hiện cổ phần hóa. Ngược lại, có rất ít văn bản hướng dẫn và chỉ đạo triển khai thực hiện nhằm cải thiện quản trị doanh nghiệp tại các doanh nghiệp có cổ phần chi phối hay kiểm soát của nhà nước ở giai đoạn sau cổ phần hóa. Nhiệm vụ đổi mới quản trị doanh nghiệp theo thông lệ kinh tế thị trường đã trở thành vấn đề cấp thiết sau khi Việt Nam gia nhập WTO năm 2007. Tuy nhiên, không có việc ban hành các văn bản hướng dẫn và việc triển khai thực hiện cũng rất chậm.

Các biện pháp tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước còn thiên về khu vực doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước, chưa chú trọng các biện pháp cải cách các doanh nghiệp sau cổ phần hóa, nhất là các doanh nghiệp nhà nước còn nắm giữ cổ phần chi phối. Các bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân các cấp và các cơ quan đổi mới doanh nghiệp nhà nước mới chỉ quan tâm đến kế hoạch sắp xếp, cổ phần hóa, giao, bán, khoán, cho thuê mà chưa quan tâm đến quản trị doanh nghiệp sau cổ phần hóa, quản lý phần vốn nhà nước đặc biệt là doanh nghiệp có cổ phần chi phối của nhà nước.

Thứ tư, thiếu cổ đông chiến lược Khóa luận: Giải pháp PL cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

Khi tiến hành cổ phần hóa, việc tìm kiếm cổ đông chiến lược là một bước cần thiết. Đó là những nhà đầu tư có khả năng khỏa lấp một số tồn tại của doanh nghiệp nhà nước trước cổ phần hóa như yếu kém năng lực quản trị, điều hành hoặc đem lại những đột phá cho doanh nghiệp về công nghệ, thị trường, … Doanh nghiệp thiếu cổ đông chiến lược do:

Doanh nghiệp cổ phần hóa theo cơ chế nội bộ, cổ phần phân tán, thiếu tập trung, thiếu cổ đông lớn. Tình trạng này xảy ra ở giai đoạn đầu cổ phần hóa với những doanh nghiệp có quy mô nhỏ. Đến nay, hình thức cổ phần hóa này đã dần được khắc phục.

Nhà nước giữ cổ phần chi phối nên sự chi phối, quyền lực và đặc điểm chi phối của cổ đông nhà nước đã ngăn cản sự tham gia của cổ đông chiến lược. Khi nhà đầu tư nhận thấy họ không có vị trí, không có tiếng nói trong doanh nghiệp họ đầu tư thì họ khó có thể tham gia để chia sẻ ý tưởng, phương pháp quản trị, hoạt động đầu tư, công nghệ,… để tạo ra sự thay đổi tầm chiến lược đối với doanh nghiệp. Trường hợp bán cổ phần lần đầu ra công chúng của Tập đoàn Công nghiệp than và Khoáng sản Việt Nam với 3 Tổng công ty có vốn điều lệ trên 1.000 tỷ đồng là một ví dụ, khi không thu hút được nhà đầu tư chiến lược và nhà đầu tư mua số lượng lớn, do tỷ lệ nắm giữ của nhà nước tại các đơn vị này đều ở mức 98%- 99%.

Thiếu cơ chế tìm kiếm, thu hút cổ đông chiến lược đối với doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa. Chủ sở hữu phần vốn nhà nước chưa chủ động và năng động tìm kiếm cổ đông chiến lược để thay thế vai trò thụ động của cổ đông nhà nước.

Việc bán vốn nhà nước với tỷ lệ % quá thấp so với vốn điều lệ và bán theo phương thức đấu giá lẻ tẻ thay vì bán đấu giá cả lô cổ phần nên khó thu hút những nhà đầu tư lớn trong thời gian qua.

Thứ năm, giải quyết vấn đề người lao động sau cổ phần hóa

Giải quyết lao động dôi dư của doanh nghiệp sau cổ phần hóa là vấn đề không đơn giản, thậm chí ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp và không thể giải quyết một sớm một chiều mà cần có sự đầu tư nghiên cứu. Trước hết, căn cứ vào phương án cổ phần hoá về sắp xếp lao động, các doanh nghiệp cần đánh giá thực trạng của doanh nghiệp mình để có kế hoạch sắp xếp lại lao động, dự kiến số lao động tiếp tục làm việc tại công ty, số lao động tiếp tục tuyển dụng thêm hay giải quyết số lao động dôi dư, từ đó lập ra quỹ hỗ trợ kinh phí đào tạo lại theo quy định của Chính phủ.

Một trong số những vấn đề cần được quan tâm trong quá trình cổ phần hoá là số lao động dôi dư sau khi doanh nghiệp chuyển đổi được giải quyết chế độ chính sách, họ sẽ về đâu? Khi mất việc làm, dù được giải quyết đầy đủ chế độ theo quy định Nhà nước nhưng những lao động dôi dư không dễ kiếm việc làm trong một thời gian ngắn, vì hầu hết lực lượng này tay nghề yếu, trình độ năng lực hạn chế, không đáp ứng được nhu cầu sản xuất kinh doanh hiện tại của doanh nghiệp, đặc biệt, người lao động vẫn chịu ảnh hưởng của mô hình cũ, tư duy và tác phong cũ. Bên cạnh đó, có một số công ty sau cổ phần hoá lại hoạt động kém hiệu quả, dẫn đến phá sản, nên người lao động tại doanh nghiệp bị mất việc làm. Vì thế, giải quyết số lao động dôi dư sau cổ phần hoá là vấn đề nan giải đối với nhiều doanh nghiệp. Trước đây, số lao động dôi dư tại thời điểm cổ phần hoá được đào tạo, đào tạo lại để bố trí việc làm mới trong công ty do được Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí từ Quỹ hỗ trợ sắp xếp và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước theo hướng dẫn của Bộ Tài chính, đến nay, doanh nghiệp không còn được hỗ trợ nữa, khiến cho khả năng giải quyết vấn đề này trong hoạt động của doanh nghiệp sau cổ phần hóa bị hạn chế.

Trên thực tế, có nhiều doanh nghiệp sau khi chuyển đổi sở hữu, người sử dụng lao động muốn cơ cấu lại lao động đã gặp phải vướng mắc vì nhiều người lao động không muốn rời khỏi doanh nghiệp nên việc đàm phán lại hợp đồng lao động gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là đối với số lượng lao động cũ có hợp đồng không xác định thời hạn. Một khó khăn nữa đối với việc giải quyết lao động dôi dư sau cổ phần hoá là các cổ đông không muốn chi trả trợ cấp một lần cho những lao động này vì sợ giảm cổ tức của mình.

3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước Khóa luận: Giải pháp PL cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

3.2.1. Chủ trương, chính sách của nhà nước về cổ phần hóa giai đoạn 2016- 2020

Để khắc phục những hạn chế trong giai đoạn trước, đẩy mạnh quá trình cổ phần hóa giai đoạn 2016- 2020, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu các bộ, ngành, địa phương, các tập đoàn kinh tế, tổng công ty chỉ đạo đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, cùng với cổ phần hóa, tiến hành tái cơ cấu doanh nghiệp một cách toàn diện, từ mô hình tổ chức quản lý, ngành nghề sản xuất kinh doanh, chiến lược phát triển, đầu tư, nguồn nhân lực, thị trường, … Bên cạnh đó, tiếp tục quán triệt sâu rộng về quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, lộ trình cổ phần hóa, coi đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm cần khẩn trương và kiên quyết hoàn thành. Các bộ, ngành, địa phương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước có kết quả cổ phần hóa thấp cần nghiêm túc rút kinh nghiệm, xác định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân, có biện pháp phù hợp để khắc phục, góp phần hoàn thành mục tiêu chung. Các bộ, ngành, địa phương, các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước cần bám sát đề án cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, chỉ đạo quyết liệt, chặt chẽ và khẩn trương nhiệm vụ cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước. Đối với những doanh nghiệp chưa có kế hoạch cổ phần hóa, thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương, các tập đoàn kinh tế, tổng công ty căn cứ tiêu chí, danh mục phân loại doanh nghiệp nhà nước ban hành tại quyết định số 37/2014/QĐ-TTg ngày 18/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ, rà soát, bổ sung doanh nghiệp cần cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước và lộ trình triển khai, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt để thực hiện. Đối với một số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công ích như môi trường đô thị, cấp, thoát nước, nếu các nhà đầu tư có nhu cầu nắm giữ đa số vốn điều lệ thì khuyến khích, với điều kiện doanh nghiệp cam kết cung cấp tốt các dịch vụ công ích này.

Trên cơ sở ý kiến chủ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính đã đề ra một số giải pháp cần tập trung thực hiện:

Quán triệt sâu sắc các nghị quyết, kết luận của Đảng và các cơ chế, chính sách pháp luật có liên quan của nhà nước về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, tập trung triển khai nghị quyết số 15/NQCP ngày 6/3/2014 của Chính phủ, quyết định số 51/2014.QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số nội dung về thoái vốn, bán cổ phần và đăng ký giao dịch, niêm yết trên thị trường chứng khoán của doanh nghiệp nhà nước và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại thông báo số 334/TB-VPCP tại hội nghị giao ban về tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước tháng 8/2014.

Các bộ, ngành, địa phương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty nghiêm túc thực hiện đẩy mạnh sản xuất kinh doanh đề đạt, vượt mức kế hoạch năm 2014, đồng thời tái cơ cấu doanh nghiệp một cách toàn diện, từ mô hình tổ chức quản lý, ngành nghề sản xuất kinh doanh, chiến lược phát triển, đầu tư, nguồn nhân lực, thị trường,… Đặc biệt quan tâm việc tạo ra sản phẩm mới, tăng năng suất lao động, hạ giá thành để nâng cao sức cạnh tranh, tiếp tục quán triệt sâu rộng về quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và lộ trình cổ phần hóa. Khóa luận: Giải pháp PL cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

Hoàn thiện cơ chế chính sách để đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước như sửa đổi quy định về bán, giao doanh nghiệp, hoàn thiện chính sách đối với người lao động dôi dư trong doanh nghiệp sắp xếp, chuyển đổi.

Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát đối với hoạt động của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Gắn trách nhiệm của người đứng đầu với kết quả và tiến độ thực hiện đề án tái cơ cấu doanh nghiệp.

Thực hiện chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn tại một số doanh nghiệp lớn đã cổ phần hóa đang có vốn nhà nước về tổng công ty đầu tư kinh doanh vốn nhà nước theo quy định.

Thực hiện các giải pháp tái cấu trúc thị trường chứng khoán theo tinh thần quyết định số 1826/QĐ-TTg ngày 6/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ qua đó hỗ trợ thu hút và khuyến khích nhà đầu tư tham gia mua cổ phần của doanh nghiệp. Các đơn vị thực hiện tốt chế độ báo cáo về tình hình triển khai cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, kịp thời báo cáo các cấp có thẩm quyền xử lý những khó khăn, vướng mắc, phát sinh trong quá trình thực hiện, đảm bảo thực hiện đúng kế hoạch đề ra.

Các giải pháp cần được quan tâm đến như:

Cải cách cơ chế đại diện chủ sở hữu nhà nước theo hướng tập trung và chuyên nghiệp. Chuyển đổi mạnh mẽ việc quản lý các doanh nghiệp nhà nước dưới dạng quản lý vốn thay vì trực thuộc chính phủ, các bộ, hoặc Uỷ ban nhân dân tỉnh. Mỗi một công ty quản lý vốn sẽ phụ trách một lĩnh vực hàng hóa và dịch vụ công nào đó. Các quỹ quản lý vốn nên đặt dưới sự quản lý tạm thời của một ủy ban cải cách doanh nghiệp nhà nước có vai trò tương đương một bộ trong Chính phủ. Ủy ban này sẽ thực hiện việc tái cơ cấu các doanh nghiệp nhà nước để giảm quy mô và số lượng các doanh nghiệp nhà nước về một mức mục tiêu nào đó, chẳng hạn, tỷ trọng đóng góp vào GDP chỉ còn dưới 10% vào năm 2020.

Cải cách hệ thống trách nhiệm và khuyến khích trong việc quản trị doanh nghiệp nhà nước theo hướng người đại diện vốn chủ sở hữu là người giám sát của nhà nước, người điều hành doanh nghiệp nhà nước được hưởng lợi ích theo cơ chế thị trường. Người giám sát sẽ có trách nhiệm giám sát hoạt động của doanh nghiệp nhà nước hoặc được bổ nhiệm làm thành viên hội đồng quản trị của doanh nghiệp nhà nước. Để đảm bảo người được bổ nhiệm trong hội đồng quản tị của doanh nghiệp nhà nước làm việc vì lợi ích của nhà nước thì người được bổ nhiệm không được nhận lương hay tiền của doanh nghiệp. Trong khi đó, chế độ lương bổng cho giám đốc hoặc ban điều hành của doanh nghiệp nhà nước sẽ do hội đồng quản trị đề xuất thông qua hội nghị cổ đông hàng năm. Lương cho giám đốc, ban điều hành cần đảm bảo tính cạnh tranh trên thị trường.

Doanh nghiệp nhà nước phải là khu vực tiên phong về minh bạch thông tin. Cần áp dụng các chuẩn mực tài chính kế toán và công khai hóa thông tin của các thông tin của các công ty niêm yết đối với các doanh nghiệp nhà nước. Các doanh nghiệp nhà nước cũng cần công khai các mục tiêu chính sách, chỉ rõ các chi phí thực hiện để theo đuổi các mục tiêu phi thương mại cũng như các khoản nhận hỗ trợ từ Chính phủ. Bản thân Chính phủ hàng năm cũng cần làm một báo cáo hợp nhất về hoạt động của toàn bộ các công ty quản lý vốn và các doanh nghiệp nhà nước trực thuộc các công ty quản lý vốn.

3.2.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam Khóa luận: Giải pháp PL cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

Thứ nhất, Điều chỉnh mục tiêu, tiến độ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

Điều chỉnh phương hướng đầu tư từ ngân sách nhà nước nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này, khai thác những lợi thế của đất nước và các nguồn đầu tư bên ngoài để đưa đến mô hình kinh tế hợp lý. Quá trình cổ phần hóa phải dựa trên quan điểm tiết kiệm ngân sách nhà nước, đầu tư khôn ngoan, chứ không phải giải pháp cho những yếu kém trong nền kinh tế nhà nước.

Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước phải hướng tới sự thu hút và tập trung nguồn vốn xã hội vào phát triển kinh tế. Khi đó, các khâu trong quá trình cổ phần hóa sẽ thay đổi, từ việc định giá doanh nghiệp, cơ cấu vốn điều lệ doanh nghiệp cổ phần, cơ cấu cổ đông, tổ chức bộ máy, đến những vấn đề nhân sự khác,…  đảm bảo doanh nghiệp hoạt động tốt hơn, có lợi cho người lao động, nhà đầu tư và cho cả nền kinh tế.

Cổ phần hóa phải hướng tới nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhằm góp phần tăng cường chất lượng hàng hóa, dịch vụ cho nền kinh tế, qua đó thúc đẩy quá trình cải thiện năng lực cạnh tranh và tái cơ cấu nền kinh tế nói chung. Tuy nhiên, không nên chạy theo tiến độ cổ phần hóa bằng mọi giá. Tốc độ cổ phần hóa luôn bị ảnh hưởng bởi yếu tố kinh tế- xã hội bên ngoài. Ví dụ như giai đoạn 2011- 2015 là giai đoạn hậu suy thoái kinh tế, nền kinh tế mới bắt đầu phục hồi chậm từ đó ảnh hưởng đến lượng cổ phần IPO hay bán ra được từ các doanh nghiệp cổ phần hóa. Mặt khác, cổ phần hóa trong bối cảnh tái cơ cấu đòi hỏi phải tiến hành tái cơ cấu doanh nghiệp trước khi cổ phần hóa. Cần dành thời gian cho tái cơ cấu doanh nghiệp thay vì chạy theo tiến độ, hoàn thành cổ phần hóa ngay. Cuối cùng, điều quan trọng đối với doanh nghiệp cổ phần hóa không chỉ là hoàn thành cổ phần hóa, đăng ký doanh nghiệp thành công ty cổ phần, mà chủ yếu ở việc quản trị doanh nghiệp, hiện đại hóa doanh nghiệp để tăng sức cạnh tranh. Điều này cần nhiều thời gian hơn.

Thứ hai, Thay đổi mô hình quản trị doanh nghiệp theo hướng hiện đại.

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước phải xác định rõ ai là chủ sở hữu thực tế của công ty cổ phần, chủ sở hữu phải gắn với trách nhiệm của công ty như thế nào? Ai đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước trong công ty cổ phần?

Cần vận dụng quy chế quản trị công ty nhằm tạo ra môi trường đầu tư minh bạch và lành mạnh. Cần lựa chọn giám đốc phù hợp với quy chế quản trị công ty, sớm đào tạo và bố trí các giám đốc tài chính công ty. Nhà nước cần hoàn chỉnh cơ chế quản lý doanh nghiệp sau cổ phần hóa. Cụ thể là cần xác định được chủ sở hữu Nhà nước một cách rõ ràng, tách bạch bộ máy quản lý nhà nước với bộ máy thực hiện quyền chủ sở hữu. Nhà nước chỉ tham gia với tư cách cổ đông. Định hướng phát triển doanh nghiệp phải do đại hội cổ đông quyết, nhằm tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tính sáng tạo trong kinh doanh của doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả kinh tế – xã hội. Điều này cũng sẽ hạn chế được tình trạng “bình cũ rượu mới” ở các doanh nghiệp sau cổ phần hóa như hiện nay. Bên cạnh việc trao quyền tự chủ cho doanh nghiệp, thì các doanh nghiệp sau cổ phần hóa cũng phải đặc biệt chú ý tới công tác quản trị nhân sự. Cần có chính sách tuyển dụng theo cơ chế thị trường, có chính sách đãi ngộ phù hợp để có thể tuyển dụng và giữ được các chuyên gia, những nhà quản lý giỏi. Đồng thời, doanh nghiệp cũng cần có chính sách đào tạo đội ngũ nhằm liên tục nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên đáp ứng kịp thời các yêu cầu đổi mới của nền kinh tế và thị trường. Khóa luận: Giải pháp PL cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

Cần nhanh chóng thay đổi cơ chế quản lý, giám sát, kiểm tra đối với doanh nghiệp nhà nước, xóa bỏ ngay cơ chế bộ chủ quản đối với doanh nghiệp nhà nước, nhanh chóng thành lập cơ quan ngang bộ, chuyên trách quản lý các doanh nghiệp nhà nước.

Cho phép các địa phương tiếp nhận vốn thu hồi được từ việc tiến hành cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước thuộc địa phương quản lý và thành lập để địa phương tăng cường nguồn thu ngân sách phục vụ sự nghiệp đầu tư phát triển địa phương mình. Hiện nay Chính phủ quy định các doanh nghiệp nhà nước ở địa phương khi cổ phần hóa đều phải chuyển phần vốn thu hồi do bán cổ phần cho SCIC quản lý, mặc dù vốn này trước đây do ngân sách địa phương đầu tư. Đây là một vướng mắc trong cơ chế quản lý vốn sau cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở địa phương mà các địa phương đều gặp phải khi tiến hành cổ phần hóa. Do đó, thời gian qua, nhiều địa phương không mặn mà với việc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước do địa phương mình quản lý và đầu tư. Hơn nữa, hiện tổng vốn chủ sở hữu hiện nay của khu vực doanh nghiệp nhà nước cả nước là hơn 1 triệu tỷ đồng, nhưng trong đó, riêng 32 doanh nghiệp của khối doanh nghiệp trung ương quản lý đã chiếm đến 94% vốn chủ sở hữu và chiếm đến 95% tổng doanh thu của cả khu vực doanh nghiệp nhà nước cả nước. Như vậy, vốn nhà nước ở các doanh nghiệp địa phương là rất nhỏ. Do đó, trong thời gian tới, chính phủ nên cho phép phần vốn thu hồi sau cổ phần hóa, thoái vốn của các doanh nghiệp nhà nước địa phương sẽ do địa phương quản lý.

Thứ ba, Đổi mới nhận thức về cổ phần hóa.

Cổ phần hóa không phải chỉ để chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần, kết thúc ở đăng ký doanh nghiệp thành công ty cổ phần mà là một quá trình. Sau cổ phần hóa phải tiếp tục tiến hành thoái vốn nhà nước, quản trị doanh nghiệp, hiện đại hóa công ty cổ phần. Vị trí, vai trò của doanh nghiệp nhà nước phải thay đổi theo từng giai đoạn. Khi có sự mở cửa, hội nhập, có sự cạnh tranh minh bạch giữa các khu vực kinh tế thì vai trò của kinh tế nhà nước hay doanh nghiệp nhà nước buộc phải xem xét lại, có thể trở thành không quan trọng. Việc bán cổ phần cho người lao động, nhà nước có nên chấp nhận thực tế là việc giữ lại hay bán đi cổ phần là quyền của người lao động? Ở giai đoạn sau cổ phần hóa, việc chuyển nhượng cổ phần là thuộc quyền của cổ đông, miễn là họ tuân thủ pháp luật, điều lệ và không vi phạm các quy định về cạnh tranh và chống độc quyền. Đối với những doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn như tập đoàn kinh tế, tổng công ty hoạt động trong những ngành, lĩnh vực quan trọng, việc cổ phần hóa cần phải có sự chọn lọc và bước đi phù hợp với điều kiện của đất nước cũng như định hướng phát triển kinh tế của Đảng. Việc cổ phần hóa không thể thực hiện ồ ạt mà phải được tiến hành theo nhiều giai đoạn phù hợp với kế hoạch và lộ trình giảm dần tỷ lệ vốn nhà nước. Phải có hướng dẫn cụ thể và các bước triển khai thận trọng khi cổ phần hóa. Khóa luận: Giải pháp PL cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

Thứ tư, Việc lựa chọn nhà đầu tư chiến lược phải được nhìn nhận từ 2 phía là nhà đầu tư và doanh nghiệp cổ phần hóa.

Từ phía nhà đầu tư, đó là những nhà đầu tư có tiềm lực tài chính, thực sự quan tâm đến sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp, họ có khả năng công nghệ, thị trường, có kinh nghiệm, đáp ứng những yêu cầu phát triển doanh nghiệp sau cổ phần hóa.

Từ phía doanh nghiệp cổ phần hóa, xem xét những doanh nghiệp nào cần nhà đầu tư chiến lược. Không phải mọi doanh nghiệp sau cổ phần hóa đều cần nhà đầu tư chiến lược. Cổ đông chiến lược cần cho những doanh nghiệp có vấn đề về chiến lược, thị trường, công nghệ, cần cải thiện quản trị doanh nghiệp, cần tạo ra động lực mới và mạnh hơn cho sự phát triển. Những doanh nghiệp đang hoạt động tốt, có hiệu quả nếu không tìm được ngay nhà đầu tư chiến lược thì cứ tiến hành cổ phần hóa, sau đó thoái vốn nhà nước tiếp hoặc phát hành thêm cổ phiếu để tìm nhà đầu tư chiến lược

Thứ năm, Hoàn thiện, cập nhật hệ thống văn bản pháp luật về cổ phần hóa.

Các bộ, ngành nhanh chóng ban hành các quyết định hướng dẫn triển khai nghị quyết số 15/NQ-CP để làm cơ sở triển khai đẩy mạnh tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước. Đồng thời, Chính phủ cần sớm ban hành các cơ chế, chính sách làm cơ sở pháp lý cho việc quản lý doanh nghiệp nhà nước như: quy chế quản trị công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên sở hữu nhà nước, quy chế về nhà quản trị tại doanh nghiệp nhà nước 100% vốn sở hữu, doanh nghiệp nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ, quy định về cổ phần hóa bộ phận các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa. Thiết nghĩ, nước ta có nên xây dựng luật về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước? Vì cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là vấn đề lớn, làm thay đổi sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước, thay đổi vị trí kinh tế nhà nước trong phạm vi ngành và nền kinh tế. Việc ban hành luật về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là cần thiết để tạo nền tảng pháp lý cao hơn, vững chắc hơn cho cổ phần hóa những doanh nghiệp có quy mô lớn, những doanh nghiệp quan trọng, doanh nghiệp trong các ngành đặc thù như an ninh, quốc phòng, …

Chính phủ ban hành quy định rõ nhiệm vụ của doanh nghiệp nhà nước: nhiệm vụ kinh tế- xã hội và nhiệm vụ kinh doanh. Doanh nghiệp chỉ nên hoạt động trong những lĩnh vực mà khu vực tư nhân không muốn làm. Ngay cả với các lĩnh vực này, chính phủ có thể cân nhắc mua các dịch vụ tương tự từ các nhà cung ứng của khu vực tư nhân. Từ đó xây dựng hai bộ tiêu chí để đánh giá kết quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước. Hiện nay do chưa phân biệt rõ hai chức năng này trong hạch toán dễ dẫn đến các tiêu cực, làm méo mó thị trường.

Thứ sáu, Hoàn thiện chính sách với người lao động.

Lập quỹ hỗ trợ người lao động vay mua cổ phiếu. Có thể khẳng định cổ phần hóa không phải là tư nhân hóa mà là tập thể hóa, liên hiệp hóa, hợp tác hóa. Vấn đề cốt lõi của quá trình cổ phần hóa là đem lại lợi ích cho người lao động trực tiếp của doanh nghiệp, cho nhà nước, cho nhà đầu tư trên cơ sở nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Khi thực hiện chủ trương cổ phần hóa, người lao động ở nước ta vẫn phải làm việc với những điều kiện lao động, sản xuất khó khăn và tiền công thấp, vì vật họ không có tiền dư để mua cổ phiếu? Vì vậy, nhà nước có nên lập một quỹ hỗ trợ cho công nhân vay mua cổ phiếu? Như vậy, câu hỏi “Cổ phần hóa để đem lại lợi ích cho ai?” sẽ được giải quyết. Trong các nghị định của chính phủ về chủ trương cổ phần hóa, không một nghị định nào về việc lập quỹ hỗ trợ cho  người lao động vay mua cổ phiếu mà chỉ có một vài ưu đãi. Quỹ hỗ trợ cho người lao động vay mua cổ phần được hình thành từ nhiều nguồn và nguồn quan trọng là lấy từ giá trị tư liệu sản xuất của chính doanh nghiệp được cổ phần hóa. Quỹ hỗ trợ cho người lao động vay mua cổ phiếu lấy từ một phần giá trị tư liệu sản xuất là việc nên làm, không những không ảnh hưởng đến sản xuất mà còn tạo ra niềm tin, sự phấn khởi cho người lao động. Từ đó, khiến họ quan tâm, nhiệt huyết hơn cho hoạt động của doanh nghiệp.

Thực hiện đồng bộ các chính sách đối với người lao động sau cổ phần hóa. Có thể nhận thấy rằng, các chế độ giải quyết lao động dôi dư tuy đã được Nhà nước quan tâm song chủ yếu mới tập trung vào mục tiêu giải quyết cho người lao động rời khỏi doanh nghiệp mà chưa chú ý đến việc tạo điều kiện và cơ hội cho lao động dôi dư tìm việc làm mới, để người lao động yên tâm khi rời khỏi doanh nghiệp. Vì vậy, để tháo gỡ những vướng mắc này, Nhà nước cần có chính sách để xử lý lao động dôi dư, có nguồn tài chính để thực hiện chính sách này trước khi cổ phần hoá theo hướng:

Chính sách đối với người lao động phải phù hợp với thực tế, quyền lợi cần được bảo đảm, nhất là đối tượng lao động không bố trí được việc làm được hưởng các quyền lợi như: được mua cổ phần ưu đãi, hưởng quỹ phúc lợi khen thưởng còn dư tại thời điểm cổ phần hoá công bằng như những người lao động tiếp tục được làm việc tại công ty cổ phần, chế độ bảo hiểm xã hội được hưởng theo thời gian đã đóng. Khóa luận: Giải pháp PL cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

Cần có chính sách kích cầu lao động như hỗ trợ vốn ban đầu cho những người kinh doanh nhỏ, cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, phát triển các chương trình tạo công ăn việc làm cho người lao động, xuất khẩu lao động, qua đó giảm sức ép về dư thừa lao động, chuyển dịch lao động dư thừa ở doanh nghiệp sau cổ phần hoá sang khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ. Bên cạnh đó, cần thực hiện tốt chính sách giảm cung về lao động, bao gồm các chính sách dân số kế hoạch hoá gia đình, chính sách di dân sang khu vực ít bị sức ép dư thừa lao động.

Doanh nghiệp khi cổ phần hoá phải luôn kịp thời cập nhật các thông tin, văn bản pháp quy của Nhà nước quy định cho các doanh nghiệp cổ phần để thực hiện đúng quy định của pháp luật và điều hành công ty được tốt, đồng thời bảo đảm được quyền lợi của người lao động và các cổ đông. Cần thu thập thông tin, học hỏi kinh nghiệm tốt, các mô hình hay của các doanh nghiệp đã thực hiện cổ phần hoá về giải quyết lao động dôi dư để phổ biến cho người lao động hiểu rõ hơn các chế độ chính sách. Đồng thời, phải thường xuyên tổ chức các đoàn kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách đối với người lao động để kịp thời ngăn chặn tình trạng thực hiện không đúng theo quy định của pháp luật. Các doanh nghiệp cần chủ động tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc theo đặc thù riêng của mỗi doanh nghiệp.

Doanh nghiệp cần thực hiện các biện pháp tăng cường tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng cho người lao động và cán bộ quản lý công ty về quyền của cổ đông, của các cơ quan quản lý trong công ty, trình tự, thủ tục thông qua các quyết định quan trọng của công ty nhằm làm cho cổ đông nắm được các quy định pháp lý, tránh tình trạng xung đột trong nội bộ công ty hoặc tình trạng chỉ là “chủ hình thức” của các cổ đông nhỏ trong công ty sau chuyển đổi do không hiểu pháp luật để đảm bảo hiệu quả hoạt động của công ty sau cổ phần hóa.

Phát huy dân chủ, tinh thần chủ động, sáng tạo, đảm bảo quyền lợi, trách nhiệm của người lao động và cổ đông trong công ty. Người lao động nắm cổ phần của công ty với tư cách là người chủ doanh nghiệp nên hành vi của họ cần được khích lệ. Con đường căn bản để phát huy đầy đủ tính tích cực của người lao động là chủ động tạo điều kiện cho họ tham gia vào việc phân phối quyền sở hữu tài sản của công ty. Cụ thể là thông qua mối quan hệ giữa cống hiến lao động, thù lao lao động của người lao động với hiệu quả kinh doanh của công ty. Làm cho họ đồng thời trở thành người lao động và người chủ sở hữu của doanh nghiệp, thực hiện sự thống nhất hữu cơ giữa nhân lực và tài lực.

Phát huy vai trò của tổ chức công đoàn trong việc giải quyết lao động dôi dư, vì tổ chức công đoàn thực hiện những công việc như: tổ chức tuyên truyền cho người lao động, cổ đông về chủ trương của Đảng và Nhà nước về cổ phần hoá, các chế độ chính sách đối với công ty cổ phần để người lao động hiểu rõ mục đích, yêu cầu, quyền lợi, trách nhiệm của người lao động, nhằm tạo ra sự nhất trí cao trong công ty để thực hiện cổ phần hóa đạt kết quả tốt. Nghị định 59/2011/NĐ-CP của Chính phủ quy định công đoàn cơ sở tại doanh nghiệp được sử dụng nguồn quỹ công đoàn tại doanh nghiệp cổ phần hóa (theo quy định tại khoản 2 Điều 16 Luật Công đoàn; không huy động, vay vốn) để mua cổ phần ưu đãi nhưng không quá 3% vốn điều lệ. Số cổ phần ưu đãi này do tổ chức công đoàn nắm giữ nhưng không được chuyển nhượng. Công đoàn có thể sử dụng một phần cổ tức của cổ phần này hỗ trợ cho người lao động được đào tạo lại hoặc tìm việc làm mới.

Thứ bảy, Hoàn thiện các quy định pháp luật về cổ phần hóa

Các quy định liên quan đến cổ phần hóa hiện nay vẫn còn nhiều vướng mắc đòi hỏi cần có sự thay đổi và hoàn thiện hơn nữa.

Một là vấn đề xác định giá trị doanh nghiệp. Xác định giá trị doanh nghiệp là một vấn đề quan trọng với rất nhiều vướng mắc. Các nghị định hướng dẫn tiến hành cổ phần hóa đến nay đã cố gắng hoàn thiện các quy định về xác định giá trị doanh nghiệp nhưng trên thực tế, những bất cập vẫn phát sinh. Thiết nghĩ, trong thời gian tới, Chính phủ nên có những sửa đổi về vấn đề này để tiến trình cổ phần hóa đạt hiệu quả hơn. Khóa luận: Giải pháp PL cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

Theo nghị định 59/2011/NĐ- CP, các khoản đầu tư tài chính tại các doanh nghiệp chưa niêm yết được định giá theo phương pháp vốn chủ sở hữu. Phương pháp này hoàn toàn không phản ánh được tính thị trường của các khoản đầu tư nên việc định giá doanh nghiệp khó đảm bảo tính xác thực và minh bạch. Vậy, thay vì sử dụng phương pháp vốn chủ sở hữu như hiện nay, các khoản đầu tư vào doanh nghiệp chưa niêm yết, doanh nghiệp bị hủy niêm yết nên có phương pháp định giá khác hợp lý hơn.

Theo quy định hiện hành, với khoản vốn góp bằng ngoại tệ, khi xác định giá trị doanh nghiệp thì được định giá lại theo tỷ giá hiện thời, trong khi doanh nghiệp nhận góp vốn đã vốn hóa khoản vốn này theo tỷ giá tại thời điểm nhận vốn góp, dẫn đến khoản chênh lệch tăng do đánh giá lại giá trị ngoại tệ. Việc này không được đơn vị nhận góp vốn thừa nhận vì tạo nguồn vốn ảo cho doanh nghiệp sau cổ phần hóa.

Vậy, các khoản vốn góp bằng ngoại tệ nên được định giá lại theo cơ chế nào?

Bên cạnh đó,  khi xử lý tài chính, điều 15, nghị định 59/2011/NĐ-CP quy định, doanh nghiệp phải hoàn nhập dự phòng các khoản phải thu khó đòi không đủ điều kiện để loại trừ ra khỏi giá trị doanh nghiệp. Điều này dẫn tới sau khi cổ phần hóa, công ty cổ phần không có nguồn quỹ để bù đắp cho những tổn thất xảy ra đối với các khoản nợ phải thu khó đòi tồn tại từ giai đoạn là doanh nghiệp nhà nước. Hơn nữa, tại thời điểm bàn giao doanh nghiệp, trong khi các tài sản khác không định giá lại, thì chính sách hiện hành quy định doanh nghiệp phải định giá lại các khoản đầu tư tài chính là không phù hợp về tính chất tài chính. Bất hợp lý này có thể dẫn tới phải điều chỉnh lại quy mô vốn điều lệ của công ty cổ phần, trong khi xử lý việc này rất phức tạp. Để tránh việc điều chỉnh lại quy mô vốn điều lệ của công ty cổ phần, Bộ Tài chính nên xem xét và đề xuất Chính phủ ban hành cơ chế không định giá lại các khoản đầu tư tài chính khi thực hiện bàn giao vốn nhà nước sang công ty cổ phần.

Một vấn đề nữa trong xác định giá trị doanh nghiệp là việc tính lợi thế kinh doanh căn cứ vào lợi nhuận bình quân 3 năm gần nhất như quy định tại thông tư 2002/2011/TT- BTC hướng dẫn xử lý tài chính và xác định giá trị doanh nghiệp khi thực hiện chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần theo quy định tại Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/07/2011 của Chính phủ là không hợp lý vì chưa phản ánh đúng lợi thế kinh doanh do khoản thời gian quá ngắn, không phù hợp với doanh nghiệp kinh doanh những sản phẩm có tính chất chu kỳ. Vậy có nên sử dụng lợi nhuận bình quân của 10 năm trước khi cổ phần hóa để tính lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp? Điều này sẽ phản ánh hợp lý hơn giá trị doanh nghiệp.

Hai là xác định đối tượng mua cổ phần. Các văn bản pháp luật về cổ phần hóa nên tiếp tục hoàn thiện các quy định về đối tượng mua cổ phần, tạo điều kiện để nhà đầu tư chiến lược thực hiện một cách hiệu quả vai trò của mình trong doanh nghiệp sau cổ phần. Với những quy định hiện hành, các nhà đầu tư không quá mặn mà trong việc đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước khiến việc tìm kiếm nhà đầu tư chiến lược, bán cổ phần gặp nhiều khó khăn. Tiếp tục hoàn thiện chính sách ưu đãi mua cổ phần của người lao động để họ thực sự phát huy vai trò làm chủ của mình.

Ba là xử lý đối với các khoản nợ khó đòi. Theo nghị 59/2011/NĐ- CP, các khoản nợ khó đòi không được loại ra khỏi giá trị doanh nghiệp mà phải tiến hành xác định trách nhiệm của cá nhân, tổ chức. Quy định như vậy sẽ tạo ra giá trị ảo của doanh nghiệp khi việc xác định trách nhiệm và thu hồi khoản nợ đó là rất khó khăn. Vậy nên, quy định này nên được thay đổi cho phù hợp hơn.

Bốn là vấn đề giá trị thương hiệu. Các văn bản liên quan đến cổ phần hóa luôn xác định giá trị thương hiệu là một bộ phận trong giá trị doanh nghiệp- giá trị lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp. Sau đó, giá trị thương hiệu được giải thích bao gồm nhãn hiệu và tên thương mại. Trên thực tế, thương hiệu không phải là một loại tài sản được ghi nhận trong luật sở hữu trí tuệ. Các quy định pháp luật có nên loại bỏ khái niệm này, thay vào đó, trực tiếp quy định các vấn đề liên quan đến nhãn hiệu và tên thương mại hay không?

Cuối cùng là vấn đề sở hữu vốn nhà nước trong doanh nghiệp. Quyết định 37/2014/QĐ- TTg đã quy định 16 lĩnh vực mà nhà nước phải nắm giữ 100% vốn trong các doanh nghiệp. Xem xét lại các lĩnh vực đó, liệu có nên thu hẹp hơn nữa các lĩnh vực này để thúc đẩy quá trình giải phóng nguồn vốn nhà nước, huy động có hiệu quả các nguồn vốn từ bên ngoài?

KẾT LUẬN Khóa luận: Giải pháp PL cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là giải pháp cơ bản và quan trọng trong quá trình sắp xếp, đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước nói riêng và toàn nền kinh tế nói chung nhằm đa dạng loại hình doanh nghiệp, đa dạng nguồn vốn sở hữu, phát triển có hiệu quả sản xuất kinh doanh, tạo động lực và cơ chế quản lý năng động, có hiệu quả, phát huy vai trò làm chủ của người lao động và các nhà đầu tư, tăng cường sự giám sát của xã hội đối với doanh nghiệp. Do vậy, chủ trương cổ phần hóa cần được tiếp tục đẩy mạnh, phát triển, góp phần thúc đẩy sự phát triển của các thành phần kinh tế, thực hiện thắng lợi mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Khóa luận đã đề cập đến những vấn đề cơ bản như:

  • Khái quát chung về doanh nghiệp nhà nước, vị trí, vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế.
  • Khái quát chung về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, đặc điểm, vai trò của cổ phần hóa và sự tất yếu phải cổ phần hóa.
  • Phân tích những quy định hiện hành về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
  • Phân tích những thành tựu đạt được, những hạn chế gặp phải trong quá trình cổ phần hóa.
  • Đưa ra những kiến nghị, giải pháp hoàn thiện nhằm thúc đẩy quá trình cổ phần hóa.

Nghiên cứu, lựa chọn đề tài “Những vấn đề pháp lý về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam” làm khóa luận tốt nghiệp, em mong muốn đưa ra những ý kiến phân tích lý luận và thực tiễn trong quá trình cổ phần hóa, đưa ra những kiến nghị hoàn thiện về mặt pháp luật cũng như thực tiễn thi hành nhằm góp phần nâng cao hiệu quả quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước giai đoạn hiện nay.

Tuy nhiên, do hạn chế về kiến thức và thông tin trong khi cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là vấn đề lớn, phức tạp với phạm vi nghiên cứu rộng nên khóa luận không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Vì vậy, em mong nhận được những ý kiến đóng góp từ thầy cô để đề tài được hoàn thiện hơn. Khóa luận: Giải pháp PL cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Pháp lý về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x