Khóa luận: Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam: Trường hợp của Doanh nghiệp xã hội KOTO dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Cùng với những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới kinh tế ở nước ta trong 30 năm qua, nhiều vấn đề xã hội và môi trường mới nổi lên cả về số lượng và quy mô, trở thành một mối lo ngại lớn với toàn Đảng và xã hội. Có thể kể đến các vấn đề nổi cộm như: tình trạng thất nghiệp; tội phạm thanh, thiếu niên; bất bình đẳng giới; HIV/AIDS; người cao tuổi; trẻ em đường phố; người khuyết tật; nạn buôn người… Cơ hội tiếp cận với các dịch vụ xã hội của những người có hoàn cảnh khó khăn vẫn còn thấp do đại đa số các doanh nghiệp nhà nước hoạt động chưa đủ để đáp ứng, mang lại ích lợi cho tất cả những người khó khăn và yếu thế trong xã hội. Đặc biệt, do sự hạn chế về nguồn lực, Nhà nước cũng không thể tự giải quyết tất cả những vấn đề này. Trong bối cảnh ấy, Doanh nghiệp xã hội (DNXH) xuất hiện như một giải pháp bổ sung và ngày càng hiệu quả cho Nhà nước trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường một cách hiệu quả và bền vững. Có thể nói mô hình doanh nghiệp xã hội chứa đựng sự linh hoạt, sáng tạo và phù hợp với cộng đồng; góp phần chia sẻ trách nhiệm và gánh nặng xã hội với Nhà nước bằng các con đường riêng đầy sáng tạo, tiết kiệm, thiết thực và hiệu quả, đồng thời giúp bù đắp được một khiếm khuyết khó khắc phục của cơ chế thị trường là vận hành bởi động cơ lợi nhuận.

Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về việc tiếp tục cải thiện môi trường pháp lý cho hoạt động kinh doanh để nâng cao hiệu quả hoạt động của nền kinh tế, Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 được Quốc Hội thông qua ngày 26/11/2014 và có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2015. Đây là đạo luật có nhiều quy định mới mang tính đột phá, khuyến khích doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế phát huy tính sáng tạo, bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh, và phát triển bền vững. Một trong những điểm mới nổi bật của Luật Doanh nghiệp năm 2014 là lần đầu tiên ghi nhận khái niệm doanh nghiệp xã hội trong hệ thống pháp lý. Theo đó, doanh nghiệp xã hội được định nghĩa là doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trường với triết lý kinh doanh gắn liền với xây dựng cuộc sống bền vững, giải quyết các vấn đề xã hội thay vì lợi nhuận thuần túy. Việc luật hóa doanh nghiệp xã hội trong Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã tạo tiền đề quan trọng cho việc hình thành môi trường pháp lý và những chính sách phù hợp khuyến khích cho sự phát triển của doanh nghiệp xã hội. Khóa luận: Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam.

Ở Việt Nam, mặc dù chưa bao giờ được công nhận chính thức, nhưng các hoạt động sử dụng kinh doanh như một công cụ để phục vụ cho lợi ích cộng đồng, đặc biệt là các cộng đồng yếu thế đã xuất hiện từ khá lâu. Hiện nay, doanh nghiệp xã hội ở nước ta đang trong giai đoạn phát triển sơ khai với các cơ sở pháp lý ban đầu đã có và đang tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện. Đặc biệt, có một số doanh nghiệp xã hội đã tạo dựng được thương hiệu, điển hình như: Trường đào tạo nghề nhân đạo Koto với chuỗi nhà hàng ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Trong hơn một thập kỷ phát triển, Koto đã nhận đào tạo nghề nấu ăn, dịch vụ khách sạn, nhà hàng cho rất nhiều trẻ em lang thang, có hoàn cảnh khó khăn. Năm 2016, KOTO trở thành doanh nghiệp xã hội được công nhận đầu tiên tại Việt Nam, theo tinh thần của Điều 10 Luật Doanh nghiệp và Nghị định 96 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Sự kiện KOTO chính thức được cấp giấy phép công nhận là doanh nghiệp xã hội đầu tiên theo Luật Doanh nghiệp 2014 không chỉ đối với KOTO mà còn đánh dấu một chặng đường mới trong lịch sử phát triển của phong trào doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam. Sự phát triển của những doanh nghiệp xã hội như KOTO sẽ thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội theo hướng văn minh, tiến bộ, phù hợp với định hướng XHCN ở nước ta, vì vậy đây không chỉ là xu thế chung của thế giới mà còn rất cần thiết ở Việt Nam.

Mặc dù có những điều kiện thuận lợi nhất định, nhưng vẫn còn không ít khó khăn, rào cản cho sự phát triển doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam như: thiếu một khung khổ pháp lý thống nhất cho doanh nghiệp xã hội, các chính sách về hỗ trợ, ưu đãi của Nhà nước còn hạn chế, các vấn đề về nguồn nhân lực, sức ép từ cạnh tranh thị trường với các doanh nghiệp truyền thống,…

Trước tình hình đó, việc tìm kiếm những giải pháp để hỗ trợ doanh nghiệp xã hội phát triển là một việc làm cần thiết. Kinh nghiệm thế giới chỉ ra rằng vai trò của Nhà nước với hệ thống pháp luật và chính sách là những điều kiện thiết yếu để các doanh nghiệp xã hội phát triển. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là cần sớm hoàn thiện pháp luật và chính sách để gia tăng tác động xã hội của các doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.

Với những lý do trên, sinh viên quyết định lựa chọn đề tài “Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam: Trường hợp của Doanh nghiệp xã hội KOTO” làm đề tài khóa luận cử nhân Luật kinh doanh.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

2. Tình hình nghiên cứu Khóa luận: Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam.

Doanh nghiệp xã hội là mô hình doanh nghiệp đã được hình thành từ lâu, và cũng đã phát triển ở Việt Nam trong một thời gian nhất định. Những đóng góp cho xã hội của doanh nghiệp xã hội là không thể phủ nhận, chính vì vậy nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp xã hội đã được rất nhiều người đề cập đến. Có thể kể đến các công trình nghiên cứu sau:

  • Trung tâm hỗ trợ sáng kiến cộng đồng (CSIP) với nghiên cứu về “Khái niệm Doanh nghiệp xã hội”;
  • Khảo sát về doanh nghiệp xã hội đăng trong “Báo cáo kết quả khảo sát doanh nghiệp xã hội Việt Nam” năm 2011 của Trung tâm hỗ trợ sáng kiến cộng đồng (CSIP) và Hội đồng Anh Việt Nam; 
  • Công trình “Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam: Khái niệm, Bối cảnh và Chính sách” năm 2012 của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Hội đồng Anh tại Việt Nam và Trung tâm hỗ trợ sáng kiến cộng đồng (CSIP);
  • Công trình “Điển hình Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam” năm 2016 của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Hội đồng Anh tại Việt Nam và Trung tâm hỗ trợ sáng kiến cộng đồng (CSIP).

Nghiên cứu về khía cạnh pháp lý của doanh nghiệp xã hội, đặc biệt là pháp luật về tổ chức, hoạt động của doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam hiện nay còn rất hạn chế, mới chỉ có một số ít công trình nghiên cứu các vấn đề pháp lý về doanh nghiệp xã hội. Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu đầu tiên như:

  • Phan Thị Thanh Thủy với bài viết “Những vấn đề pháp lý về Doanh nghiệp xã hội theo Luật Doanh nghiệp 2014” đăng trên tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 6/2015 và bài viết “Hình thức pháp lý của Doanh nghiệp xã hội: Kinh nghiệm nước Anh và một số gợi mở cho Việt Nam” đăng trên tạp chí Luật học, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN số 4 năm 2015.
  • Vũ Thị Hòa Như với bài viết “Hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về Doanh nghiệp xã hội” đăng trên Tạp chí Luật học, số 3/2015.

Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến một số khía cạnh nhất định của mô hình phát triển doanh nghiệp xã hội dưới góc độ pháp lý. Tuy nhiên, cho đến hiện nay chưa có một công trình nghiên cứu ở cấp độ luận văn cử nhân Luật kinh doanh nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ về vấn đề pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam hiện nay. Chính vì vậy, việc tác giả chọn đề tài “Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam: Trường hợp của Doanh nghiệp xã hội KOTO” với mong muốn làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam thông qua việc phân tích trường hợp thành công của KOTO và đóng góp những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp xã hội.

3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu Khóa luận: Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam.

Đề tài có mục đích nghiên cứu các vấn đề lý luận, thực tiễn của pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam hiện nay cùng với việc phân tích trường hợp của doanh nghiệp xã hội KOTO. Từ đó đề xuất các kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động của mô hình doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam hiện nay.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu như sau:

  • Nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm của mô hình doanh nghiệp xã hội, về lịch sử hình thành và phát triển của doanh nghiệp xã hội trên thế giới và đặc biệt ở Việt Nam từ trước tới nay. Nghiên cứu về sự cần thiết của việc ban hành khung pháp luật về doanh nghiệp xã hội, khái niệm của pháp luật về doanh nghiệp xã hội.
  • Nghiên cứu về các nội dung chủ yếu của pháp luật về doanh nghiệp xã hội, thực trạng doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam hiện nay. Từ đó rút ra được những ưu điểm và những tồn tại, hạn chế của pháp luật về doanh nghiệp xã hội, chỉ ra được những nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế đó.
  • Nghiên cứu về quá trình hình thành và phát triển, bộ máy quản lý, cơ cấu tổ chức và các vấn đề liên quan đến tài chính, nguồn vốn, tác động đối với xã hội… của DNXH KOTO để từ đó có thể lí giải thích được sự phát triển mạnh mẽ của KOTO trong suốt thời gian qua.
  • Nghiên cứu đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp xã hội và giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam hiện nay.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đề tài có đối tượng nghiên cứu là các quy phạm pháp luật quy định về tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp xã hội được quy định trong Luật Doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành. Về thực tiễn đề tài nghiên cứu về thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam hiện nay, cụ thể là trường hợp của doanh nghiệp xã hội KOTO.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề là các quy định của pháp luật về doanh nghiệp xã hội được quy định trong Luật Doanh nghiệp năm 2014, về địa bàn nghiên cứu đề tài nghiên cứu trên địa bàn cả nước, thời gian nghiên cứu từ năm tháng 2 năm 2017 đến nay.

5. Phương pháp nghiên cứu Khóa luận: Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam.

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp hệ thống, lịch sử, logic, phân tích, so sánh, tổng hợp. Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, tác giả tham khảo ý kiến chuyên gia liên quan đến đề tài.

6. Tính mới và những đóng góp của khóa luận

Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên ở cấp độ một khóa luận cử nhân Luật kinh doanh về các vấn đề liên quan đến pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam hiện nay. Đề tài giải quyết những nội dung cơ bản thuộc về lý luận và thực tiễn của pháp luật về doanh nghiệp xã hội là: các định nghĩa, đặc điểm của doanh nghiệp xã hội và pháp luật về doanh nghiệp xã hội và thực trạng pháp luật về doanh nghiệp xã hội Việt Nam theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Bên cạnh đó, thông qua việc phân tích trường hợp cụ thể của doanh nghiệp xã hội KOTO, đề tài cũng đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp xã hội và nâng cao hiệu quả tổ chức và hoạt động đối với loại hình doanh nghiệp này.

Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu nghiên cứu và học tập của các nhà nghiên cứu, giảng dạy luật học, việc học tập của sinh viên, học viên chuyên ngành luật kinh tế…

7. Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được kết cấu gồm 3 chương như sau:

  • Chương 1: Tổng quan về Doanh nghiệp xã hội
  • Chương 2: Thực trạng pháp luật về Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam và trường hợp của Doanh nghiệp xã hội KOTO
  • Chương 3: Một số kiến nghị, giải pháp để nâng cao hoạt động của Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP XÃ HỘI

1.1. Vài nét về lịch sử ra đời và phát triển của Doanh nghiệp xã hội trên thế giới

Doanh nghiệp xã hội đã trải qua một quá trình hình thành và phát triển từ rất lâu đời. Theo nghiên cứu của MacDonald M. & Howarth C. (2008), mô hình doanh nghiệp xã hội đầu tiên xuất hiện tại London vào năm 1665, khi Đại dịch (Great Plague) hoành hành đã khiến nhiều gia đình giàu có, vốn là các chủ xưởng công nghiệp và cơ sở thương mại rút khỏi thành phố, để lại tình trạng thất nghiệp tăng nhanh trong nhóm dân nghèo lao động. Trong bối cảnh đó, Thomas Firmin đã đứng ra thành lập một xí nghiệp sản xuất và sử dụng nguồn tài chính cá nhân cung cấp nguyên liệu cho nhà máy để tạo và duy trì việc làm cho 1.700 công nhân. Ngay từ khi thành lập, ông tuyên bố xí nghiệp không theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và số lợi nhuận sẽ được chuyển cho các quỹ từ thiện [7, tr.1]. Khóa luận: Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam.

Như vậy, doanh nghiệp xã hội lần đầu tiên xuất hiện tại Anh do những nhu cầu nhất định về thực hiện chính sách an sinh xã hội và phúc lợi xã hội đối với người nghèo, người khuyết tật. Đến cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, các doanh nghiệp xã hội ở Anh đã phát triển một cách tương đối và có thể phân thành hai nhóm như sau [7, tr.1]:

Nhóm thứ nhất, là một số người giàu có thay đổi quan điểm của họ trong hoạt động từ thiện. Theo quan điểm của họ, việc đóng góp, hỗ trợ một khoản vật chất nhất định cho tầng lớp dân nghèo có thể gây ra tâm lý ỷ lại, lười biếng và “nhàn cư vi bất thiện” ở họ. Chính vì vậy, họ xây dựng các chương trình cung cấp việc làm để nhóm này học việc và có thể duy trì công việc cũng như thu nhập của mình, trở thành “những thành viên hữu ích của quốc gia”. Với quan điểm và phương pháp tiếp cận như vậy, một số mô hình doanh nghiệp hỗ trợ hoạt động của các quỹ, các chương trình dành cho người nghèo, người khuyết tật đã được ra đời, có thể kể đến như: Quỹ tín dụng vi mô (chủ yếu là cho vay công cụ sản xuất) ở Bath; trường dạy xe sợi, dệt vải và tạo việc làm cho những người mù nghèo khổ ở Liverpool năm 1790; trường giáo dưỡng, tái hòa nhập trẻ phạm tội của tư nhân… Những chương trình hỗ trợ như vậy, được sự ủng hộ của các nhà hảo tâm, của các nhà tư sản lớn. Từ đó tạo nên những doanh nghiệp xã hội đầu tiên trên thế giới.

Nhóm thứ hai, đối với một số đối tượng khác có quan điểm khác về phúc lợi xã hội và hỗ trợ cộng đồng. Theo đó, trong giai đoạn này ở Anh, xuất hiện các mô hình cho phép người lao động có nhiều quyền hơn trong ký kết hợp đồng lao động và lần đầu tiên họ có khả năng làm chủ kế hoạch kinh doanh cũng như phân phối lợi nhuận. Sự phát triển của mô hình này dẫn đến việc ra đời của các Hợp tác xã (Co-op), hội ái hữu (Provident Society), làng nghề (Industrial Society) đã thực hiện phân phối lợi nhuận và cung cấp phúc lợi cho toàn bộ cộng đồng, cũng như trao quyền biểu quyết về quản lý tổ chức và kinh doanh cho tất cả thành viên.

Sang thế kỷ 20, hoạt động của các doanh nghiệp xã hội có phần giảm sút khi chủ thuyết kinh tế Keynes lên ngôi từ sau cuộc Đại suy thoái (1929-1933), cổ vũ cho vai trò can thiệp của Nhà nước đối với nền kinh tế; và cũng nhờ đó, một loạt mô hình Nhà nước phúc lợi đã ra đời ở Tây Âu và Bắc Mỹ sau Thế chiến II [7, tr.2].

Bước vào thời kỳ hiện đại, trong bối cảnh nền kinh tế thế giới phục hồi và phát triển mạnh mẽ kể từ sau Chiến tranh thế giới, cùng với sự tác động của Chiến tranh lạnh và đối đầu Đông – Tây, ở các quốc gia Phương Tây, chính sách xã hội đặc biệt được quan tâm và được coi là mũi nhọn trong việc đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa phát triển kinh tế và phát triển xã hội. Trong giai đoạn này, các doanh nghiệp xã hội chỉ thực sự phát triển mạnh để hình thành nên một phong trào rộng khắp có diện mạo như ngày nay sau những chính sách kinh tế của nước Anh vào thập kỷ 80 của thế kỷ XX. Cụ thể là chủ trương thu hẹp lại vai trò của Nhà nước và cho rằng Nhà nước không nên trực tiếp tham gia cung cấp phúc lợi xã hội. Nhà nước tư sản phương Tây trong giai đoạn này đã rút dần ảnh hưởng trong lĩnh vực công, xã hội hóa nhiều hoạt động phúc lợi, từ thiện. Từ đó dẫn đến sự phát triển của các doanh nghiệp xã hội trong giai đoạn này. Khóa luận: Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam.

Về cơ bản có thể thấy, các vấn đề về dịch vụ công và phúc lợi xã hội vốn luôn được thừa nhận rộng rãi như một trong các chức năng cơ bản của Nhà nước, Nhà nước khi được ra đời cần phải thực hiện hai chức năng cơ bản là bảo vệ và quản lý xã hội, trong đó quản lý xã hội bao gồm thực hiện cả những yếu tố phúc lợi xã hội và dịch vụ công như hỗ trợ người nghèo, người khuyết tật, người yếu thế trong xã hội khác. Tuy nhiên, trong giai đoạn từ sau thập niên 80 của thế kỷ XX Chính phủ của nhiều nước Phương Tây đều thực hiện chức năng này thông qua các tổ chức dân sự và tư nhân bằng hình thức đấu thầu và thuê ngoài. Hoạt động xã hội hóa các hình thức dịch vụ công và phúc lợi xã hội khác cho thấy hiệu quả cao hơn hẳn so với việc nhà nước trực tiếp thực hiện hoạt động này.

Trong ba thập niên trở lại đây, phong trào doanh nghiệp xã hội đã phát triển mạnh ra khỏi biên giới các quốc gia và trở thành một vận động xã hội có quy mô và tầm ảnh hưởng toàn cầu. Hiện tại không có số liệu chính xác bao nhiêu doanh nghiệp xã hội đang hoạt động tại bao nhiêu quốc gia bởi mô hình khái quát về doanh nghiệp xã hội tuy đã được công nhận thức một cách rộng rãi, nhưng đi vào nội dung, tiêu chí cụ thể để định nghĩa, phân loại doanh nghiệp xã hội lại có nhiều quan điểm khác nhau, phụ thuộc vào trình độ phát triển, đặc điểm kinh tế-xã hội của từng nước, và thậm chí là mục tiêu chính sách của từng chính phủ. Mặc dù vậy, qua các tài liệu nghiên cứu, có thể nói doanh nghiệp xã hội đang hoạt động mạnh mẽ ở tất cả các khu vực trên thế giới từ Tây Âu, Bắc Mỹ, Úc đến Mỹ La-tinh, Trung Đông, châu Phi, Nam Á, Đông Nam Á. Không ít quốc gia đã ban hành văn bản pháp lý riêng về doanh nghiệp xã hội và tạo lập được các mạng lưới có tổ chức để tập hợp, chia sẻ và kết nối lên tới hàng nghìn doanh nghiệp xã hội ở phạm vi trong nước cũng như quốc tế [7, tr.2].

1.2. Khái niệm và đặc điểm của Doanh nghiệp xã hội

Mặc dù DHXH có lịch sử hình thành và phát triển khá lâu đời, tuy nhiên, cho đến nay, khái niệm doanh nghiệp xã hội vẫn chưa có sự thống nhất, dẫn đến việc hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm doanh nghiệp xã hội.

Trong Chiến lược phát triển doanh nghiệp xã hội năm 2002, Chính phủ Anh định nghĩa: “DNXH là một mô hình kinh doanh được thành lập nhằm thực hiện các mục tiêu xã hội, và sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư cho mục tiêu đó hoặc cho cộng đồng, thay vì tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông hoặc chủ sở hữu” [7]

Đây có thể được là một định nghĩa toàn diện, nêu bật lên được những đặc điểm cơ bản của doanh nghiệp xã hội. Đó là doanh nghiệp xã hội cần được hiểu như là một mô hình, phương án, giải pháp thông qua hoạt động kinh doanh hơn là ràng buộc doanh nghiệp xã hội vào một hình thức công ty nhất định. Bên cạnh đó, mục tiêu xã hội được xem là ưu tiên hàng đầu và cốt lõi của doanh nghiệp xã hội. Khóa luận: Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam.

Và cuối cùng, lợi nhuận được tái phân phối lại cho tổ chức hoặc cộng đồng, không phải cho cá nhân.

Ngoài ra, Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD cũng đưa ra định nghĩa:

“DNXH là những tổ chức hoạt động dưới nhiều hình thức pháp lý khác nhau vận dụng tinh thần doanh nhân nhằm theo đuổi cùng lúc cả hai mục tiêu xã hội và kinh tế. doanh nghiệp xã hội thường cung cấp các dịch vụ xã hội và việc làm cho các nhóm yếu thế ở cả thành thị và nông thôn. Ngòai ra, doanh nghiệp xã hội còn cung cấp các dịch vụ cộng đồng, trên các lĩnh vực giáo dục, văn hóa, môi trường.” [33]

Ngoài hai định nghĩa nêu trên là những định nghĩa được nhiều nghiên cứu và tổ chức tham khảo, trích dẫn, còn có một số định nghĩa khác về doanh nghiệp xã hội. Ví dụ như Tổ chức hỗ trợ sáng kiến vì cộng đồng – CSIP của Việt Nam đưa ra quan điểm:

“DNXH là một khái niệm dùng để chỉ hoạt động của các doanh nhân xã hội dưới nhiều hình thức khác nhau tùy thuộc vào mục đích và điều kiện hoạt động cụ thể. doanh nghiệp xã hội lấy lợi ích xã hội làm mục tiêu chủ đạo, được dẫn dắt bởi tinh thần doanh nhân nhằm đạt được cả mục tiêu xã hội/ môi trường và mục tiêu kinh tế.” [25]

Như được đề cập ở trên, cách định nghĩa về doanh nghiệp xã hội rất phong phú, tùy thuộc trình độ phát triển của mỗi nước và khu vực, cũng như đặc thù và ưu tiên của từng tổ chức.

Nhưng nhìn chung, doanh nghiệp xã hội đều có những đặc điểm nổi bật sau đây:

Sử dụng hoạt động kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng như một công cụ để thực hiện được mục tiêu xã hội đề ra ngay từ khi thành lập doanh nghiệp

Trước hết, so với những tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, các quỹ từ thiện chỉ đơn thuần nhận tài trợ từ các tổ chức, nhà hảo tâm để thực hiện các dự án hoặc chương trình xã hội thì doanh nghiệp xã hội có thể thực hiện hoạt động kinh doanh riêng của mình. Đây cũng là một nét đặc thù của doanh nghiệp xã hội và nó cũng tạo ra thế mạnh cho loại hình doanh nghiệp này. Bởi lẽ nếu như mối quan hệ giữa các tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, tổ chức từ thiện với những nhà tài trợ khác thường là quan hệ một chiều (cho đi) và mang tính thụ động thì doanh nghiệp xã hội có thể có vị thế độc lập, chủ động hơn thông qua việc tự mình thực hiện các hoạt động kinh doanh, tạo ra những nguồn lực nhất định để vừa đảm bảo việc giải quyết các vấn đề xã hội đang tồn tại, vừa có thể vận hành doanh nghiệp một cách hiệu quả. Nói cách khác, doanh nghiệp xã hội phải là người trực tiếp cung cấp các sản phẩm hàng hóa dịch vụ với chất lượng tốt ở mức giá cạnh tranh so với thị trường [7, tr.6]. Song đây cũng là một thách thức đối với các doanh nghiệp xã hội bởi nguồn lực về tài chính và nhân lực của họ còn có hạn trong khi thị trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp rất phức tạp. Chính điều này phần nào lý giải tại sao doanh nghiệp xã hội luôn gắn liền với các sáng kiến xã hội, bởi giải pháp kinh doanh của DNXH phải có tính mới lạ thì mới có thể đem đến mục tiêu xã hội dưới hình thức kinh doanh [14]. Khóa luận: Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam.

Hơn nữa, doanh nghiệp xã hội còn phải trực tiếp cạnh tranh với các doanh nghiệp truyền thống trong cùng một lĩnh vực. Việc cạnh tranh bình đẳng và công bằng, tuy là một thách thức lớn, nhưng nó có thể đem lại cho doanh nghiệp xã hội vị thể độc lập và tự chủ trong tổ chức và hoạt động của mình mà không phải phụ thuộc vào bất kỳ một tổ chức hoặc cá nhân khác. Doanh thu từ hoạt động kinh doanh có thể không bù đắp tất cả chi phí cho mục tiêu xã hội, nhưng ít nhất việc bù đắp một phần, thường là từ 50-70% nguồn vốn (phần còn lại các doanh nghiệp xã hội vẫn có thể dựa vào nguồn tài trợ), sẽ giúp doanh nghiệp xã hội độc lập hơn trong quan hệ với các nhà tài trợ để theo đuổi sứ mệnh xã hội của riêng mình và quan trọng hơn là tạo điều kiện để doanh nghiệp xã hội mở rộng được quy mô các hoạt động xã hội của họ [7, tr.6]

Do vậy, xây dựng một chiến lược kinh doanh tốt, có lợi nhuận, bền vững là một yêu cầu thiết yếu để đảm bảo doanh nghiệp xã hội thực hiện hiệu quả mục tiêu giải quyết các vấn đề xã hội. Thực tế đã cho thấy có rất nhiều doanh nghiệp xã hội hiện đang phát huy được thế mạnh của mình và có những sản phẩm, dịch vụ có thể cạnh tranh binh đẳng với các doanh nghiệp truyền thống trên thị trường. Ví dụ như Nhà hàng KOTO có chất lượng tốt cả về đồ ăn và phục vụ, được giới thiệu trên Lonely Planet, Time-Out; sản phẩm của Mai Handicrafts và Mekong Quilts đều được thiết kế rất độc đáo và bán chạy với giá cao…[7, tr.6]

Đặt mục tiêu vì xã hội và cộng đồng lên hàng đầu kể từ khi thành lập doanh nghiệp

Một trong những điểm tạo ra sự khác biệt giữa doanh nghiệp xã hội và doanh nghiệp truyền thống chính là mục tiêu được đề ra khi thành lập doanh nghiệp.

Cụ thể, ở doanh nghiệp thông thường, các nhà đầu tư dựa vào thị trường để tìm ra nhu cầu của khách hàng, từ đó lên kế hoạch, chiến lược đầu tư, sản xuất, kinh doanh hàng hóa, cung ứng dịch vụ và thông qua hàng loạt các hoạt động kinh doanh được điều tiết bởi các quy luật của nền kinh tế thị trường để đạt được mục đích cuối cùng là lợi nhuận. Nói cách khác, chính lợi nhuận trở thành động lực để nhà đầu tư quyết định tìm giải pháp kinh doanh, đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng và tối đa hóa lợi nhuận cho mình, có được lợi nhuận, tức nhà đầu tư đã thành công [11]. Mặc dù ngày càng có nhiều doanh nghiệp chú trọng đến việc đảm bảo thực hiện các trách nhiệm với xã hội như bảo vệ môi trường hoặc các vấn đề liên quan đến người lao động…, nhưng xét cho cùng, đây vẫn không phải là ưu tiên hàng đầu của họ khi thành lập doanh nghiệp. Nói cách khác, nó chỉ thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp đối với cộng đồng và góp phần nâng cao vị thế của doanh nghiệp trong xã hội.

Trong khi đó, đối với doanh nghiệp xã hội thì yếu tố lợi nhuận không phải là yếu tố quyết định đến sự ra đời của doanh nghiệp, mà chính từ các vấn đề đang tồn tại trong xã hội. Các vấn đề xã hội trở thành động lực để doanh nhân xã hội tìm kiếm và quyết định mô hình kinh doanh phù hợp, suy cho cùng thì doanh nhân xã hội sử dụng phương thức kinh doanh để giải quyết vấn đề xã hội mà họ đã phát hiện ra. Khi vấn đề xã hội được giải quyết thì mục đích của doanh nghiệp xã hội đã đạt được, dù có thể chính doanh nghiệp xã hội không thu về được lợi nhuận, thậm chí bị thua lỗ [11; 14].

Như vậy, doanh nghiệp xã hội phải lấy mục tiêu xã hội làm sứ mệnh hoạt động tối thượng ngay từ khi thành lập, và điều này phải được tuyên bố một cách công khai, rõ ràng, minh bạch. Mỗi doanh nghiệp xã hội được thành lập đều vì một mục tiêu xã hội cụ thể, hoạt động vì cộng đồng chứ không phải vì một cá nhân đơn lẻ [7, tr.7].

Tái phân phối lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh lại cho tổ chức, cộng đồng và mục tiêu xã hội

Một trong những yêu cầu của mô hình doanh nghiệp xã hội chính là doanh nghiệp xã hội khi thực hiện hoạt động kinh doanh phát sinh lợi nhuận không phân phối như các doanh nghiệp thông thường. Lợi nhuận mà doanh nghiệp có được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh được dùng để tái đầu tư vào doanh nghiệp với mục tiêu giải quyết các vấn đề xã hội mà doanh nghiệp xã hội đang theo đuổi [12]. Thực chất, hai đặc điểm ở trên về hoạt động kinh doanh và mục tiêu xã hội là những nét cơ bản nhất về doanh nghiệp xã hội. Còn tiêu chí sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư phục vụ các mục tiêu xã hội là tiêu chí để giúp phân định rõ đặc điểm ‘vì- lợi nhuận’ hay ‘vì- xã hội’ mà thôi. Khóa luận: Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam.

Ngoài những đặc điểm nổi bật nêu trên, hầu hết các doanh nghiệp xã hội còn có những đặc điểm khác như sau:

  • Cơ cấu sở hữu mang tính xã hội

Một đặc điểm khác tuy không phổ biến nhưng được một số cách định nghĩa doanh nghiệp xã hội đề cập là cấu trúc sở hữu và quản lý của doanh nghiệp xã hội có sự tham gia của cộng đồng hoặc các bên liên quan, các bên hưởng lợi… Điều này cho phép doanh nghiệp xã hội có tính tự chủ cao. Đây là trường hợp của các Hợp tác xã hoạt động theo mô hình doanh nghiệp xã hội rất hiệu quả ở một số nước [7, tr.8].

Trên thực tế, hầu hết các doanh nghiệp xã hội đều có cấu trúc quản lý cởi mở và dân chủ. Yêu cầu gắn kết với cộng đồng, các bên hưởng lợi và một số lượng đối tác đông đảo, trong khi mục đích xã hội được đặt ở vị trí tối cao, khiến các doanh nghiệp xã hội sẵn sàng chia sẻ ‘quyền lực’ của mình với tất cả các bên liên quan. Đáng chú ý, ở nhiều doanh nghiệp xã hội khái niệm đối nhân – đối vốn không được áp dụng như tại các công ty cổ phần hay TNHH truyền thống. Tại không ít doanh nghiệp xã hội, Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng sáng lập viên đã áp dụng nguyên tắc ‘mỗi thành viên – một phiếu bầu/ quyền biểu quyết như nhau’ trong mọi quyết định của tổ chức, mà không dựa vào tỷ lệ góp vốn của họ [7, tr.8].

  • Phục vụ nhu cầu của Nhóm đáy tháp xã hội

Một trong những sứ mệnh đặc thù của doanh nghiệp xã hội là phục vụ nhu cầu của Nhóm đáy tháp xã hội. Đây là đối tượng những người nghèo và yếu thế nhất trong xã hội, họ tạo nên một nhóm gồm 2 tỷ người với thu nhập dưới 2 USD/ngày [31]. Và vì chiếm số đông nhất nhưng ở dưới đáy cùng của xã hội nên được gọi là ‘Nhóm đáy’ của Kim tự tháp (Bottom of Pyramid- BoP). Đáng chú ý, nhóm đối tượng bị lề hóa, bao gồm người dân ở vùng sâu vùng xa, người khuyết tật, người bị nhiễm HIV/AIDS, trẻ em đường phố, thất học, phạm nhân mãn hạn tù… tuy không hoàn toàn nằm trong Nhóm đáy nhưng có tỷ lệ và nguy cơ cao rơi vào Nhóm đáy, do đó cũng là một địa bàn trọng yếu của các doanh nghiệp xã hội [7, tr.9].

Trong khi khu vực nhà nước thường không có đủ nguồn lực để có thể giải quyết gánh nặng phúc lợi xã hội của Nhóm đáy, khu vực doanh nghiệp tư nhân lại bỏ qua nhóm này, thay vào đó họ thường lấy các nhóm có khả năng chi trả cao hơn làm khách hàng mục tiêu. Chính vì vậy, doanh nghiệp xã hội xuất hiện như một giải pháp bổ sung, hỗ trợ Nhà nước trong việc cung cấp những sản phẩm, dịch vụ cho đối tượng Nhóm đáy ở mức giá rẻ [7, tr.9].

  • Sáng kiến kinh doanh từ cơ sở Khóa luận: Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam.

Hầu hết các doanh nghiệp xã hội đều được khởi sự từ khi doanh nhân xã hội phát hiện ra vấn đề xã hội và tìm được mô hình kinh doanh phù hợp để giải quyết các vấn đề đó [32, tr.52]. Nói cách khác, doanh nghiệp xã hội được hình thành từ những nhu cầu của cuộc sống. Bản thân các doanh nhân xã hội thường là những người sống gắn bó với cộng đồng nhóm người yếu thế, hoặc thậm chí chính họ cũng thuộc nhóm đối tượng này. Do vậy, trong hoàn cảnh đó, họ có thể phát hiện và thấu hiểu một vấn đề xã hội cụ thể.

Ví dụ như chị Dương Phương Hạnh là người khiếm thính nên sáng lập Trung tâm nghiên cứu giáo dục, đào tạo ngôn ngữ ký hiệu cho người khiếm thính; anh Nguyễn Công Hùng là người khuyết tật vận động nhưng tự học thành thạo các kỹ năng tin học nên sáng lập Trung tâm Nghị lực sống đào tạo tin học cho người khuyết tật theo cách tiếp cận hòa nhập toàn diện (từ đào tạo đến tìm việc làm); anh Tạ Minh Tuấn xuất phát từ bệnh tình của bố để thành lập Help Corporation thực hiện mô hình bác sĩ gia đình, điều chỉnh lối sống [7, tr.10].

Đó là những con người thực tế, năng động và linh hoạt. Do có mối quan hệ gắn bó và khăng khít với cộng đồng nhóm người yếu thế nên họ có thể phát hiện ra những vấn đề cần giải quyết, để từ đó có hướng tiếp cận nhằm tìm ra những giải pháp phù hợp [32, tr.54]. Và chính cách tiếp cận từ dưới lên xuất phát trên nền tảng cộng đồng và cơ sở, đã đem lại tính bền vững cho giải pháp xã hội của các doanh nghiệp xã hội. Không ai có thể hiểu rõ vấn đề bằng các doanh nhân xã hội và do đó không có giải pháp nào phù hợp với cộng đồng và được cộng đồng chấp nhận khi được phát triển từ chính cộng đồng đồng đó [7, tr.10].

  • Tính cởi mở và liên kết

Trong môi trường hoạt động xã hội, các doanh nghiệp xã hội đều rất cởi mở và luôn sẵn sàng cho các khả năng liên kết. Nguồn lực hạn chế và sự thôi thúc đưa ra những sáng kiến xã hội có tính khả thi hình thành nếp tư duy cởi mở trước những thay đổi, ý kiến phản biện và đặc biệt cơ hội tiếp cận vốn tài trợ, chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm cũng như hợp tác giữa các doanh nghiệp xã hội với nhau và giữa doanh nghiệp xã hội với các đối tác liên quan [7, tr.10].

  • Vai trò của doanh nhân xã hội đối với doanh nghiệp xã hội

Có thể nói sự phát triển của hầu như tất cả doanh nghiệp xã hội đều gắn chặt với vai trò của người sáng lập là doanh nhân xã hội. doanh nhân xã hội được hiểu là những người tạo nên đột phá, hoặc có những ý tưởng giải quyết các vấn đề của xã hội và tạo nên những thay đổi làm cho xã hội tốt hơn, vốn lâu nay vẫn được cho là thuộc trách nhiệm của nhà nước, hoặc các doanh nghiệp thương mại “có tâm” [7, tr.10]. Khóa luận: Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam.

Cũng như doanh nhân thương mại, để thành công, một doanh nhân xã hội là người kiên định với ý tưởng của mình, cam kết dành cả cuộc đời để tạo nên sự thay đổi. Họ vừa là những người có tầm nhìn xa trông rộng lại vừa là những người rất thực tế, và luôn suy nghĩ về cách thức thực hiện tầm nhìn của mình một cách rất thực tế. Họ cần phải đưa ra những ý tưởng dễ áp dụng, dễ hiểu, có đạo đức, và kêu gọi sự ủng hộ của nhiều người để có thể tối đa hóa số lượng những người dân địa phương cùng đứng lên, nắm bắt ý tưởng, và thực hiện. Đây là điểm rất khác biệt giữa doanh nhân xã hội và doanh nhân thương mại. Nếu như doanh nhân thương mại chỉ tập trung phát triển doanh nghiệp, lấy mục tiêu lợi nhuận làm trọng, thì mục tiêu của doanh nhân xã hội là làm thế nào để giải quyết triệt để một vấn đề xã hội cụ thể; hơn nữa, họ không làm một mình, mà tính hiệu quả của doanh nghiệp được tính bằng số người hưởng lợi từ các hoạt động đó. Tốt hơn nữa là giúp chính những người dân địa phương có được nguồn tài chính và kĩ năng để tự họ làm cải thiện môi trường sống của mình tốt hơn.

Ví dụ như trường hợp của Jimmy Phạm, sinh ra tại Việt Nam và lớn lên ở Sydney, Australia. Năm 1996, trong chuyến trở về Sài Gòn, một cơ duyên đã dẫn anh đến với sứ mệnh giúp đỡ trẻ em. doanh nghiệp xã hội KOTO được thành lập từ năm 1999, bắt đầu từ một tiệm bánh mì kẹp với mục đích tạo công ăn việc làm cho chín trẻ em lang thang cơ nhỡ. Từ đó, KOTO lớn mạnh dần, trở thành một doanh nghiệp xã hội phi lợi nhuận được trao tặng nhiều giải thưởng, cung cấp cho trẻ khuyết tật, trẻ em đường phố từ độ tuổi 16 đến 22 một chương trình đào tạo dạy nghề liên tục kéo dài trong 24 tháng trong lĩnh vực nhà hàng, khách sạn, các kỹ năng sống cơ bản và Tiếng Anh [8, tr.28].

Nếu chúng ta thấy các doanh nhân truyền thống đã gặp nhiều khó khăn từ môi trường bên ngòai để có thể tồn tại và phát triển, thì các doanh nhân xã hội còn gặp nhiều thử thách hơn nữa, bởi họ thường phải cạnh tranh bình đẳng trong điều kiện thiếu thốn về vốn, cơ sở vật chất, nhân lực, trình độ, sức khỏe, nhận thức của xã hội, quan hệ với chính quyền [25, tr.9].

Mặt khác, sự phụ thuộc quá nhiều vào doanh nhân xã hội cũng có thể được coi là một trong những điểm yếu của doanh nghiệp xã hội. Vấn đề kế thừa của doanh nghiệp xã hội là một trong những vấn đề nan giải mà doanh nhân xã hội phải tính đến. Liệu cơ cấu tổ chức, văn hóa làm việc, tâm huyết của đội ngũ nhân sự có đủ sức mạnh, sự cố kết để giữ vững được sứ mệnh xã hội, tinh thần doanh nhân xã hội mà doanh nghiệp xã hội có được từ buổi ban đầu? [7, tr.10].

1.3. Doanh nghiệp xã hội trong mối tương quan với các tổ chức và phong trào xã hội khác Khóa luận: Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam.

Doanh nghiệp xã hội là một mô hình có sự kết hợp hài hòa giữa hai yếu tố xã hội và yếu tố kinh tế, trong đó yếu tố xã hội được ưu tiên hàng đầu. Trên thực tế, doanh nghiệp xã hội thường hay bị nhầm lần với các tổ chức lợi nhuận, phi lợi nhuận và các trào lưu xã hội khác. Do đó, quá trình nâng cao nhận thức cũng như làm chính sách liên quan đến doanh nghiệp xã hội đều đòi hỏi phải phân biệt rõ ràng mô hình này với các tổ chức và phong trào xã hội khác.

1.3.1. Doanh nghiệp xã hội trong mối tương quan với Doanh nghiệp truyền thống và NGO  

Như trên đã trình bày, do doanh nghiệp xã hội là mô hình kết hợp hài hòa giữa hai yếu tố xã hội và yếu tố kinh tế. Như vậy, có thể xem doanh nghiệp xã hội mang đặc tính “lai” giữa doanh nghiệp thông thường và tổ chức NGO truyền thống [7, tr.11]. Nếu ở một cực là các doanh nghiệp truyền thống, hoạt động vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, thì ở cực còn lại là các NGO được thành lập nhằm theo đuổi lợi ích xã hội thuần túy. Tuy nhiên trên thực tế, ngày càng có nhiều doanh nghiệp và tổ chức NGO thực hiện nhiều hoạt động đa dạng và vượt ra khỏi ranh giới hay quan niệm truyền thống. Chẳng hạn như hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp cam kết thực hiện CSR (Chú trọng các nguyên tắc đạo đức kinh doanh, bảo vệ môi trường đóng góp cho cộng đồng là các nhiệm vụ đi kèm với hoạt động kinh doanh) nhưng thực tế mục tiêu hàng đầu của họ vẫn là tìm kiếm cơ hội kinh doanh và tối đa hóa lợi nhuận. Đối với trường hợp của một số NGO, họ cũng triển khai nhiều dự án cụ thể nhằm thực hiện hoạt động kinh doanh nhằm giảm sự thụ động vào mối quan hệ với các nhà tài trợ, nâng cao vị thế của mình và có thể dùng lợi nhuận thu được đó để phục vụ cho các chương trình mà họ muốn hướng đến [7, tr.11].

Bên cạnh đó, để đánh giá mức độ thành công của một doanh nghiệp truyền thống trong một năm thường căn cứ vào các thước đo kinh tế. Cụ thể là ở số lượng lợi nhuận luôn được tiền tệ hóa chính xác ở dòng cuối cùng của bản Cân đối tài chính cuối năm đó. Khóa luận: Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam.

Ngược lại, thước đo hiệu quả đối với một tổ chức NGO lại thường dựa vào những tác động và giá trị xã hội mà tổ chức đo cam kết thực hiện và mang lại. Ví dụ như số lượng học sinh nghèo được đến trường, số làng bản ở vùng sâu vùng xa được tiếp cận nước sạch hay số lượng người được tuyên truyền về biến đổi khí hậu… Tuy nhiên việc đánh giá tính hiệu quả của một doanh nghiệp xã hội lại phải dựa trên cả hai hệ tiêu chí về giá trị xã hội và kinh tế [14]. Nếu đánh giá một doanh nghiệp xã hội đào tạo nghề cho trẻ em có hòan cảnh đặc biệt như KOTO, dạy vi tính cho người khuyết tật như TT Nghị lực sống, tạo sân chơi cho trẻ tự kỷ như Tò he, hoặc một doanh nghiệp xã hội nào đó tạo việc làm cho người nhiễm HIV/AIDS và người mãn hạn tù… mà chỉ nhìn nhận trên khía cạnh kinh tế (cụ thể là nhìn ở doanh thu và loại nhuận) thì hẳn sẽ là một thiếu sót lớn [7, tr.12]. Những doanh nghiệp xã hội như Bloom Microventures, Ecolife, Marine Gifts, PT Tây Bắc, Mai Handicrafts và Mekong Quilt… có thể không đem lại hiệu quả tài chính như các doanh nghiệp khác trên thị trường, nhưng hiệu quả xã hội mà các doanh nghiệp xã hội này mang lại (chẳng hạn như giúp hàng trăm hộ nông dân thoát nghèo với các sinh kế bền vững) thì không dễ lượng hóa đơn thuần bằng tiền tệ [7, tr.12]. Đây là điều mà hơn ai hết, các doanh nhân xã hội sáng lập và nhà đầu tư xã hội luôn thấu hiểu đối với doanh nghiệp xã hội của mình, tuy nhiên lại là đặc điểm mà công chúng và người làm chính sách cần nâng cao nhận thức về mô hình mới này.

Như vậy, ở vị trí ‘trung tâm’, doanh nghiệp xã hội là mô hình kết hợp hài hòa cả hình thức và nội dung của hai loại hình tổ chức để lấy kinh doanh làm lĩnh vực hoạt động chính, nhưng không vì mục tiêu lợi nhuận mà nhằm giải quyết các vấn đề xã hội cụ thể.

Dưới đây là bảng so sánh giữa mô hình doanh nghiệp xã hội và hai loại hình tổ chức thiện nguyện (NGO) và các doanh nghiệp truyền thống, xét trên những phương diện quan trọng nhất về cả hình thức và nội dung của một tổ chức kinh tế- xã hội [7, tr.11].

Ưu thế của doanh nghiệp xã hội so với NGO Ở Việt Nam, doanh nghiệp xã hội thường được so sánh với tổ chức NGO do loại hình tổ chức này được sử dụng phổ biến trong cả văn bản pháp lý và chính sách của nhà nước, đại diện cho toàn bộ khu vực xã hội dân sự và phi lợi nhuận. So sánh doanh nghiệp xã hội trong mối tương quan với tổ chức NGO, dễ dàng nhận thấy doanh nghiệp xã hội có nhiều ưu thế hơn loại hình tổ chức này.

Dưới đây là những phân tích cụ thể: Khóa luận: Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam.

Đầu tiên, xét ở khía cạnh tính độc lập và tự chủ, hầu hết các tổ chức NGO đều phụ thuộc rất lớn vào nhà tài trợ (cá nhân và tổ chức) về cả sứ mệnh, phương hướng và địa bàn hoạt động bởi bản thân các NGO là những tổ chức hoạt động vì mục tiêu xã hội là chủ yếu; do vậy, họ cần một nguồn lực nhất định để giúp họ triển khai và thực hiện những hoạt động đó. Tuy nhiên, cũng có nhiều tổ chức NGO đã xây dựng được “thương hiệu” của riêng mình (chẳng hạn như những đặc trưng về mục tiêu và cách tiếp cận riêng của tổ chức mình), nhưng sự độc lập đó đòi hỏi NGO phải có quy mô hoạt động rộng lớn và số lượng các nhà tài trợ phong phú (ví dụ như World Vision, WWF, Plan International, Oxfam…) [7, tr.13]. Khi đó, việc đóng góp của các nhà tài trợ đồng nghĩa với việc chấp thuận lý tưởng và hướng đi đặc thù của mỗi tổ chức NGO này. Ngược lại, đa số các tổ chức NGO ở quy mô nhỏ phụ thuộc mọi mặt vào nhà tài trợ, từ mục tiêu, cách thức hoạt động đến lựa chọn dự án, đối tương hưởng lợi… Thiếu tính tự chủ, các NGO trở nên bị động và gò bó trong các hoạt động cũng như sáng kiến của mình. Việc mở rộng quy mô dự án không thể thực hiện được nếu nguồn tài trợ không cho phép.

So với NGO, mô hình doanh nghiệp xã hội lại có thể bù đắp điểm yếu nói trên. doanh nghiệp xã hội giúp cải thiện một cách căn bản sự độc lập, tự chủ và tính bền vững cho tổ chức cũng như giải pháp xã hội mà tổ chức đưa ra. Do doanh nghiệp xã hội không chỉ đơn thuần thực hiện việc giải quyết các vấn đề xã hội, mà họ còn phải tìm kiếm những giải pháp kinh doanh hiệu quả, bền vững để có thể đảm bảo thực hiện mục tiêu xã hội đã đề ra. Nguồn thu nhập từ hoạt động kinh doanh không những giúp doanh nghiệp xã hội có thể tái đầu tư, góp phần hỗ trợ những dự án mình đang thực hiện, mà còn cho phép doanh nghiệp xã hội có vị thế tốt hơn trong quan hệ với các nhà tài trợ. Các doanh nghiệp xã hội có thể theo đuổi các mục tiêu riêng của mình, thực hiện các sáng kiến theo cách của mình. Và quan trọng hơn cả, họ có thể mở rộng quy mô đối tượng hưởng lợi, tạo ra nhiều tác động và giá trị xã hội hơn nữa [7, tr.15]

Thứ hai, xét ở khía cạnh tính bền vững, các dự án của NGO thường thiếu tính bền vững ngay trong cách tiếp cận cũng như khả năng có hạn của nguồn lực tài trợ. Do các dự án đều được xây dựng trên một số lượng nguồn lực nhất định, cho một số mục tiêu nhất định và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định nên  hiệu quả xã hội mà các giải pháp xã hội của NGO đem lại thường không vượt quá phạm vi và thời hạn của dự án. Chẳng hạn như khi dự án LMPA của Đan Mạch hỗ trợ dân nghèo trong khu bảo tồn biển ở Vịnh Nha Trang hết thời hạn (2006-2011), các đối tượng hưởng lợi đứng trước nguy cơ bị bỏ lại mà không có trong tay một sinh kế bền vững [7, tr.13]. Quan trọng hơn, cách tiếp cận của các NGO thường mang tính “một chiều”, tức là chỉ hỗ trợ đơn thuần chứ không mang đến những công cụ hay phương tiện lao động để khuyến khích sự độc lập, tạo ra sinh kế lâu dài cho những đối tượng hưởng lợi. Chính vì vậy, điều này về lâu dài có thể tạo ra thói quen và tâm lý ỷ lại và phụ thuộc vào sự hỗ trợ của nhóm người này [7, tr.13].

Ngược lại, cách tiếp cận của doanh nghiệp xã hội là luôn hướng đến một giải pháp xã hội bền vững. Đối tượng hưởng lợi được đào tạo thành nghề, có được việc làm và một sinh kế bền vững để có thể tự lập [7, tr.15]. Các học viên của KOTO nếu tốt nghiệp sau hai năm đào tạo, sẽ được tổ chức Box Hill của Úc cấp bằng, vốn là một chứng chỉ có giá trị đối với các khách sạn, nhà hàng 5 sao trên toàn thế giới (bởi Box Hill là một trong 40 trường dạy nghề TAFE hàng đầu của Úc). Sau khi được đào tạo trong một môi trường nghiêm túc, họ được trang bị những bị những kỹ năng cần thiết để sau này có thể vận dụng những kỹ năng đó vào thực tiễn, tìm kiếm việc làm ổn định [8, tr. 28] Khóa luận: Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam.

Thứ ba, ở khía cạnh tính hiệu quả, như phân tích ở trên, không những đối tượng hưởng lợi không có động cơ để tự lập, mà ngay cả các NGO trong nhiều trường hợp cũng không có động lực để hướng tới những giải pháp xã hội bền vững. Không ít NGO trở thành công cụ giải ngân một cách bị động cho các nguồn tài trợ [7, tr.13]. Trên thực tế, các nhóm đối tượng hưởng lợi cũng hiếm khi có cơ hội phản ánh trực tiếp tâm tư nguyện vọng, lợi ích của mình với nhà tài trợ. Chính các NGO biến thành một rào cản vô hình giữa nhà tài trợ và đối tượng hưởng lợi. Trong những trường hợp này, việc giữ nhóm hay cộng đồng hưởng lợi ở vị trí nguyên trạng (nghèo, khó khăn, cần được hỗ trợ) lại song hành cùng lợi ích của NGO nhằm duy trì các chương trình tài trợ. Trong khi đó, không phải nhà tài trợ nào cũng quan tâm sâu sát tới đối tượng hưởng lợi. Áp lực giải ngân khiến hiệu quả xã hội nhiều khi bị đẩy xuống hàng thứ hai trong thứ tự ưu tiên của các nhà tài trợ và NGO [7, tr.13].

Xét về hiệu quả hoạt động, là một mô hình kinh doanh nên doanh nghiệp xã hội luôn tìm cách tối ưu hóa hiệu quả kinh tế ở mức có thể, như các doanh nghiệp truyền thống. Đối tượng hưởng lợi đồng thời là người lao động hoặc khách hàng của doanh nghiệp xã hội, do đó luôn có mối liên hệ trực tiếp và mật thiết giữa họ với sáng lập viên là doanh nhân xã hội. Ngoài ra, thông thường doanh nghiệp xã hội tự triển khai ý tưởng cũng như tự chịu trách nhiệm trong việc theo dõi và đánh giá do đó các chi phí trung gian đều được giảm thiểu [7, tr.15].

Cuối cùng, về xu hướng vốn tài trợ dành cho Việt Nam, khi nền kinh tế tăng trưởng tốt, đưa Việt Nam trở thành nước có mức thu nhập trung bình (năm 2010), cũng là lúc nguồn vốn tài trợ chính thức ODA và tư nhân đều bắt đầu xu hướng giảm [23]. Một số quốc gia và tổ chức đã công bố lộ trình rút dần các chương trình tài trợ ra khỏi Việt Nam để dành cho các khu vực khác có nhu cầu hơn.

Ngược lại, với những ưu thế kể trên, trong bối cảnh nguồn tài trợ ngày càng giảm đi, doanh nghiệp xã hội hoàn toàn có thể trở thành mô hình lựa chọn chuyển đổi cho các dự án NGO ở Việt Nam. Đáng chú ý, sự phát triển doanh nghiệp xã hội rất phù hợp với xu hướng dịch chuyển mối quan tâm hiện nay của các nhà tài trợ đối với Việt Nam theo hướng áp dụng nguyên tắc thị trường phục vụ phát triển bền vững: ADB với dự án thị trường cho người nghèo (M4P) và dự kiến quỹ đầu tư cùng người nghèo (IBIF), SNV với mô hình kinh doanh bền vững cùng người nghèo đối với các doanh nghiệp nông nghiệp (inclusive agrifood business), WB với Ngày sáng tạo Việt Nam (VID), một số nhà tài trợ khác với mô hình tài trợ một phần các sáng kiến/đề xuất dự án vì cộng đồng và có tiềm năng xuất khẩu v.v…[7, tr.15].

1.3.2. doanh nghiệp xã hội và Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) Khóa luận: Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam.

DNXH cũng hay bị nhầm lẫn với trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Coperate Social Responsibilities) [24, tr.26]. Trên thực tế, đây là hai khái niệm hoàn toàn khác biệt, một là mô hình hoạt động, một là trào lưu, vận động xã hội.

Bản chất của trách nhiệm xã hội là ghi nhận sự cam kết tự nguyện của doanh nghiệp thực hiện những chuẩn mực đạo đức và xã hội vì mục tiêu con người và phát triển bền vững, mang tính chất là hoạt động bổ sung của doanh nghiệp, doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội vẫn là các doanh nghiệp thông thường vẫn với mục tiêu và bản chất tìm kiếm lợi nhuận [33, tr.18]. Trong khi đó, tôn chỉ, mục đích và toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp xã hội là để giải quyết vấn đề xã hội hay môi trường đã xác định ngay từ khi thành lập và được duy trì trong suốt quá trình hoạt động, được thể hiện cụ thể, rõ ràng thông qua cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường, nếu doanh nghiệp xã hội có sự thay đổi hoặc chấm dứt mục tiêu xã hội thì doanh nghiệp xã hội phải thông báo đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Như vậy, có thể thấy CSR và doanh nghiệp xã hội là hai khái niệm hoàn toàn độc lập. Các doanh nghiệp cam kết CSR vẫn là các doanh nghiệp truyền thống, nói cách khác CSR chỉ làm cho các doanh nghiệp ‘tốt’ lên mà không thay đổi bản chất và mô hình của doanh nghiệp. Trong khi đó, doanh nghiệp xã hội lại là một mô hình hoạt động khác các doanh nghiệp truyền thống về bản chất [7, tr.16].

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Doanh nghiệp xã hội đã trải qua một quá trình hình thành và phát triển lâu dài. Ra đời sớm nhất tại Anh rồi lan rộng sang các quốc gia khác trên thế giới, doanh nghiệp xã hội đang chứng tỏ là một trong các phương thức giải quyết các vấn đề xã hội một cách bền vững, nhất là trong bối cảnh nguồn lực của Nhà nước để giải quyết các vấn đề xã hội hạn hẹp [23]. 

Xuất phát từ mục tiêu vì cộng đồng ngay từ khi thành lập doanh nghiệp, doanh nghiệp xã hội sử dụng hoạt động kinh doanh như một phương pháp, công cụ để thực hiện được mục tiêu đó. doanh nghiệp xã hội đồng thời cũng phải sử dụng phần lớn lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh để đầu tư trở lại tổ chức, cộng đồng và cho mục tiêu xã hội.

Từ những phân tích trên có thể thấy doanh nghiệp xã hội mang trên mình hai gánh nặng:

Một là phải thực hiện mục tiêu xã hội đã được đề ra; Khóa luận: Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam.

Hai là phải tạo ra lợi nhuận để góp phần hiện thực hóa mục tiêu đó và cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp truyền thống. Đây là một thách thức lớn đối với doanh nghiệp xã hội khi đồng thời phải cân bằng cả hai mục tiêu trên. Chính vì vậy, việc xác định rõ vấn đề xã hội cần giải quyết; xây dựng được một đội ngũ quản trị tốt và có được một chiến lược kinh doanh có lợi nhuận và bền vững là một yêu cầu thiết yếu để đảm bảo doanh nghiệp xã hội thực hiện hiệu quả mục tiêu giải quyết các vấn đề xã hội. Thực tế đã cho thấy có rất nhiều doanh nghiệp xã hội hiện không chỉ thực hiện tốt các mục tiêu vì cộng đồng, mà còn có sản phẩm hàng hóa, dịch vụ cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp truyền thống; và những doanh nghiệp xã hội này càng ngày chứng minh được vị thế độc lập của mình trên thị trường. Khóa luận: Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Thực trạng pháp luật về doanh nghiệp xã hội Việt Nam

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x