Khóa luận: Thực trạng kế hoạch Marketing cho sản phẩm Gas

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng kế hoạch Marketing cho sản phẩm Gas hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng kế hoạch Marketing cho sản phẩm gas công nghiệp của Công ty cổ phần Gas Petrolimex dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

I. Giới thiệu khái quát về công ty cổ phần Gas Petrolimex

1.1. Quá trình hình thành và phát triển

Giai đoạn từ năm 1998 trở về trước, các công ty xăng dầu của Bộ Thương mại đều có các xí nghiệp kinh doanh gas trực thuộc.

Trong giai đoạn từ năm 1999 đến năm 2019, nền kinh tế đất nước bắt đầu phát triển mạnh, đời sống nhân dân được cải thiện, nhu cầu sử dụng gas tăng mạnh, trên thị trường đã hình thành ngành kinh doanh gas độc lập với tốc độ tăng trưởng của thị trường khá cao. Trước tình hình đó, Tổng công ty xăng dầu Việt Nam đã quyết định tách các bộ phận kinh doanh gas thành đơn vị kinh doanh độc lập để chuyên doanh mặt hàng này, nâng cao hiệu quả hoạt động chung. Ngày 25/12/1998, Bộ trưởng Bộ Thương mại đã ký quyết định thành lập Công ty Gas trực thuộc Tổng công ty xăng dầu Việt Nam. Công ty Gas là doanh nghiệp Nhà nước có tư cách pháp nhân, thực hiện hạch toán kinh tế độc lập, có con dấu riêng, được mở tài khoản tiền Việt và ngoại tệ tại ngân hàng. Khóa luận: Thực trạng kế hoạch Marketing cho sản phẩm Gas.

Thực hiện chủ trương cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước của Chính phủ, Tổng công ty xăng dầu Việt Nam đã xây dựng phương án cổ phần hoá một số doanh nghiệp trực thuộc, trong đó có công ty Gas. Ngày 3/12/2019, Bộ trưởng Bộ Thương mại đã ký quyết định số 1669/2019/QĐ-BTM chuyển công ty Gas thành Công ty cổ phần Gas Petrolimex (PGC). Cùng với PV Gas (Công ty chế biến và kinh doanh các sản phẩm khí thuộc Petro Việt Nam), công ty Petro Sài Gòn, PGC là một trong 3 đơn vị có sản lượng bán lớn nhất trên thị trường Việt Nam với tổng thị phần của cả 3 đơn vị đạt xấp xỉ 50% và cũng là một trong 3 đơn vị kinh doanh gas có hệ thống kho chứa cấp 1 đồng bộ với sức chứa lớn.

Công ty cổ phần Gas Petrolimex có chức năng xuất nhập khẩu và kinh doanh khí hóa lỏng (LPG); kinh doanh kho bãi; vận tải;vật tư thiết bị; phụ kiện dùng gas; tư vấn đầu tư; chuyển giao công nghệ; bảo dưỡng; sửa chữa, lắp đặt các dịch vụ thương mại, và các dịch vụ có liên quan đến kinh doanh gas theo quy định.

PGC được đánh giá là một trong những thương hiệu uy tín nhất trên thị trường Việt Nam với thị phần 20% và là một trong 3 công ty dẫn đầu về sản lượng bán trên tổng số 20 thương hiệu đã được xác lập trên thị trường. Mạng lưới phân phối của công ty rộng khắp trên 64 tỉnh thành cả nước, bao gồm trên 40 công ty, chi nhánh xăng dầu thuộc Tổng Công ty Xăng dầu Việt Nam và các Tổng đại lý, đại lý ngoài ngành xăng dầu.

Cùng với sự lớn mạnh của đất nước, Công ty cổ phần Gas Petrolimex cũng không ngừng lớn mạnh, đầu tư và đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng dịch vụ bán hàng và sau bàn hàng, để đáng ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Trụ sở chính của công ty đặt tại 775 Đường Giải phóng, Hà Nội, các Công ty thành viên đặt tại các thành phố lớn là: Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ và TP Hồ Chí Minh. Hiện nay, công ty là một trong những đơn vị có hệ thống kho dầu mới có sức chứa lớn, công nghệ đóng nạp và tồn trữ hiện đại ngang tầm các nước trong khu .

Hệ thống kho tồn trữ và dây truyền đóng nạp hiện đại được bố trí tại các thị trường trọng điểm đã tạo cho công ty có được lợi thế cạnh tranh so với nhiều công ty cùng kinh doanh ngành hàng trên thị trường.

Bên cạnh ngành hàng kinh doanh chính, công ty đã thực hiện đa dạng hóa ngành hàng và đa dạng hoá sở hữu, công ty đã tham gia thành lập Công ty TNHH Taxi Gas và Nhà máy sản xuất vỏ bình gas dân dụng.

1.2. Ngành nghề kinh doanh Khóa luận: Thực trạng kế hoạch Marketing cho sản phẩm Gas.

Ngành nghề kinh doanh chính của Công ty cổ phần Gas Petrolimex là xuất nhập khẩu và kinh doanh khí đốt hóa lỏng (gas). Đi kèm với các mặt hàng này, công ty cung cấp các trang thiết bị, phụ kiện chuyên dùng. Đó là các mặt hàng van an toàn, van điều lượng, đồng hồ đo mức gas, đồng hồ đo áp suất, hệ thống cảnh rò rỉ gas…cùng các loại bình chứa, bồn bể đạt tiêu chuẩn chất lượng cao. Bên cạnh đó, công ty còn nhận tư vấn đầu tư, chuyển giao công nghệ, bảo dưỡng, sửa chữa, lắp đặt các thiết bị và cung cấp các dịch vụ có liên quan đến phục vụ kinh doanh gas theo quy định của pháp luật. Các dịch vụ mà công ty thường cung cấp cho khách hàng là dịch vụ kho bãi, dịch vụ vận tải, giám định và kiểm tra chất lượng hàng hóa… Thêm vào đó, công ty cũng đầu tư kinh doanh địa ốc và bất động sản (không bao gồm hoạt động tư vấn về giá).

1.3. Cơ cấu tổ chức

Hình 1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Công ty cổ phần Gas Petrolimex

Công ty cổ phần Gas Petrolimex được tổ chức và hoạt động theo Luật doanh nghiệp, các Luật khác có liên quan và Điều lệ công ty được Đại hội cổ đông nhất trí thông qua. Cơ cấu tổ chức của công ty hiện tại gồm: văn phòng công ty, các công ty con, công ty liên kết, hệ thống các cửa hàng bán lẻ trực thuộc tại Hà Nội, các trạm sang chiết nạp gas, kho Đức Giang.

Văn phòng công ty: Nơi đặt trụ sở chính của Công ty, có văn phòng làm việc của Ban Tổng Giám đốc Công ty và các phòng, ban nghiệp vụ gồm: Phòng Tổ chức – Hành chính, Phòng Kinh doanh, Phòng Xuất nhập khẩu, Phòng Kế toán tài chính, Phòng Công nghệ đầu tư, Phòng Quản lý kỹ thuật, kho gas Đức Giang và 22 cửa hàng bán lẻ trực thuộc khối kinh doanh trực tiếp Văn phòng công ty.

Các công ty con: Công ty TNHH Gas Petrolimex Hải Phòng, Công ty TNHH Gas Petrolimex Đà Nẵng, Công ty TNHH Gas Petrolimex Cần Thơ, Công ty TNHH Gas Petrolimex Sài Gòn, Công ty TNHH Cơ khí Gas P.M.G.

Các công ty liên kết: Công ty TNHH Taxi Gas Petrolimex Sài Gòn.

Đại hội đồng cổ đông: gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan có thẩm quyền cao nhất của công ty. Đại hội đồng cổ đông quyết định những vấn đề được luật pháp và điều lệ công ty quy định. Đặc biệt các cổ đông sẽ thông qua các báo cáo tài chính hàng năm của công ty và ngân sách tài chính cho năm tiếp.

Hội đồng quản trị: là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông. Hội đồng quản trị có trách nhiệm giám sát Tổng giám đốc điều hành và những người quản lý khác. Quyền và nghĩa vụ của Hội đồng quản trị do luật pháp và điều lệ công ty, các quy chế nội bộ của công ty và Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông quy định.

Ban kiểm soát: là cơ quan trực thuộc Đại hội đồng cổ đông, do Đại hội đồng cổ đông bầu ra. Ban kiểm soát có nhiệm vụ kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp trong điều hành hoạt động kinh doanh, báo cáo tài chính của công Ban kiểm soát hoạt động độc lập với Hội đồng quản trị và Ban Tổng Giám đốc. Khóa luận: Thực trạng kế hoạch Marketing cho sản phẩm Gas.

Ban Tổng Giám đốc: Tổng Giám đốc điều hành là người đại diện theo pháp luật của công ty, quyết định tất cả các vấn đề liên quan đến hoạt động hàng ngày của công ty và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao. Các Phó tổng giám đốc là người giúp việc cho Tổng giám đốc và chịu trách nhiệm trước Tổng Giám đốc về phần việc được phân công, chủ động giải quyết những công việc đã được Tổng giám đốc uỷ quyền và phân công theo đúng chế độ chính sách của Nhà nước và Điều lệ của công ty.

Các phòng ban nghiệp vụ: Các phòng, ban nghiệp vụ có chức năng tham mưu và giúp việc cho Ban Tổng giám đốc, trực tiếp điều hành theo chức năng chuyên môn và chỉ đạo của Ban giám đốc. Công ty hiện có 5 phòng nghiệp vụ với chức năng được quy định như sau:

Phòng Tổ chức – Hành chính: có chức năng xây dựng phương án kiện toàn bộ máy tổ chức trong công ty, quản lý nhân sự, thực hiện công tác hành chính quản trị.

Phòng Kinh doanh: có chức năng kinh doanh và thực hiện các mục tiêu, phương hướng hoạt động sản xuất kinh doanh để đạt hiệu quả cao nhất.

Phòng Xuất nhập khẩu tổng hợp: có chức năng kinh doanh, thực hiện các công tác xuất nhập khẩu các mặt hàng gas và phụ kiện có liên quan.

Phòng Kế toán – Tài chính: có chức năng trong việc lập kế hoạch sử dụng và quản lý nguồn tài chính của công ty, phân tích các hoạt động kinh tế, tổ chức công tác hạch toán kế toán theo đúng chế độ kế toán thống kê và chế độ quản lý tài chính của Nhà nước.

Phòng Công nghệ đầu tư: có chức năng hoạch định chiến lược phát triển khoa học công nghệ, ứng dụng khoa học công nghệ mới, nâng cấp hoặc thay thế máy móc thiết bị hiện đại có tính kinh tế cao, tham gia giám sát các hoạt động đầu tư về máy móc, thiết bị của công ty và các công trình đầu tư xây dựng cơ bản.

Phòng Quản lý kỹ thuật : có chức năng tổ chức thực hiện lập kế hoạch, quản lý kỹ thuật trong các lĩnh vực chuyên môn.

1.4. Phân tích môi trường bên trong Khóa luận: Thực trạng kế hoạch Marketing cho sản phẩm Gas.

1.4.1. Tình hình sản phẩm

Hoạt động kinh doanh khí hóa lỏng (LPG – Liquefied Petroleum Gas) là hoạt động chủ yếu của công ty. Doanh thu từ hoạt động này chiếm trên 90% doanh thu của công ty. Công ty cũng cung cấp ra thị trường các thiết bị và phụ kiện được sử dụng với khí hóa lỏng như bình gas, van bình, bồn chứa gas…

Khí hóa lỏng hay còn gọi là gas, là hỗn hợp hydrocarbon nhẹ, ở thể khí. LPG tồn tại trong thiên nhiên ở các giếng dầu hoặc giếng gas và cũng có thể sản xuất ở các nhà máy lọc dầu. Thành phần chính của gas là Propane và Butane không màu, không mùi, không vị và không có độc tố.

Gas là loại nhiên liệu thông dụng về tính đa năng và thân thiện với môi trường. Nó có thể dễ dàng được chuyển đổi sang thể lỏng bằng việc tăng áp suất thích hợp hoặc giảm nhiệt độ để dễ tồn trữ và vận chuyển được. Nó có thể chuyển động như chất lỏng như lại được đốt cháy ở thể khí. Việc sản sinh ra chất NOx, khí độc và tạp chất trong quá trình cháy thấp một cách khác thường đã làm cho gas trở thành một trong những nguồn nhiên liệu thân thiện nhất với môi trường trên thế giới. Gas có các ưu điểm như sau:

  • Vì có tương đối ít thành phần hơn nên gas dễ đạt được đúng tỷ lệ pha trộn nhiên liệu, cho phép sản phẩm cháy hoàn toàn. Việc này đã làm cho gas có các đặc tính của một nguồn nhiên liệu đốt sạch.
  • Cả Propane và Butane đều dễ hóa lỏng và có thể chứa được trong các bình áp lực. Những đặc tính này làm cho loại nhiên liệu này dễ vận chuyển, và vì thế có thể chuyên chở trong các bình hay bồn gas đến người tiêu dùng cuối cùng.
  • Gas là loại nhiên liệu thay thế rất tốt cho xăng trong các động cơ đánh lửa. Trong một động cơ được điều chỉnh hợp lý, đặc tính cháy sạch giúp giảm lượng chất thải thoát ra, kéo dài tuổi thọ buji. Gas lỏng chứa rất nhiều năng lượng trong một không gian nhỏ và nó có thể hóa hơi được nên cháy rất tốt. Mỗi kilogram gas cung cấp khoảng 12.000 kcal năng lượng.
  • Như một chất thay thế cho chất nổ đẩy aerosol và chất làm đông, gas được chọn để thay cho fluorocarbon vốn được biết đến như một nhân tố làm thủng tầng

Với các đặc tính là nguồn nhiên liệu sạch và dễ vận chuyển, gas cung cấp một nguồn năng lượng thay thế cho các nhiên liệu truyền thống như: củi, than, và các chất hữu cơ khác. Việc này cung cấp giải pháp hạn chế việc phá rừng và giảm được bụi trong không khí gây ra bởi việc đốt các nhiên liệu truyền thống. Khóa luận: Thực trạng kế hoạch Marketing cho sản phẩm Gas.

Tại Việt Nam, gas được sử dụng trong nhiều lĩnh vực: sản xuất công nghiệp, thương mại và tiêu dùng của xã hội. Trong sản xuất công nghiệp phục vụ cho ngành hàng sản xuất vật liệu xây dựng như các nhà máy: Creamic, Granit, nhà máy thuỷ tinh, chế tạo cơ khí, công nghiệp đóng tàu… Có thể kể tên các nhà máy đang sử dụng gas trong sẩn xuất như: Vật liệu xây dựng Việt trì, Gạch ốp lát Thăng Long, Creamic Thanh Hoá, Xây dựng Trung Đô, Gạch Đồng Tâm, Gốm sứ Giang Tây, Gạch Hoàng Gia, Bóng đèn Điện Quang, Thuỷ tinh San-Miguel Hải Phòng…Trong ngành Công nghiệp thực phẩm, các công ty sử dụng nhiên liệu gas gồm có Công ty Sữa Việt Nam, Công ty Bia Sài Gòn, Cà phê Trung Nguyên, và các nhà máy chế biến thuỷ hải sản miền Trung và Nam Bộ… Trong ngành thương mại, hiện cũng có nhiều nhà hàng, khách sạn trên toàn quốc sử dụng các hệ thống cung cấp gas phục vụ thay cho điện năng hoặc các nhiên liệu khác. Trong ứng dụng dân dụng được sử dụng qua hình thức: gas bình, hệ thống gas trung tâm trong các khu chung cư cao tầng. Ý thức được trách nhiệm của doanh nghiệp đối với môi trường, công ty đã được thử nghiệm thành công chuyển đổi xe chạy xăng sang nhiên liệu gas. Hiện đã triển khai ứng dụng phương tiện giao thông chạy nhiên liệu gas (Taxi Gas, xe máy lắp bộ chuyển đổi nhiên liệu) tại thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, đồng thời công ty đang triển khai hệ thống trạm cấp gas cho ô tô tại các thành phố nói trên.

1.4.2. Cung ứng đầu vào

Là doanh nghiệp hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực thương mại, công ty hầu như không có nguyên liệu đầu vào mà chủ yếu là mua các sản phẩm đầu vào rồi bán cho người tiêu dùng.

Trước tháng 6/1999, toàn bộ lượng gas trên thị trường Việt Nam đều có nguồn gốc nhập khẩu, phần lớn từ Thái Lan, Singapore và Đài Loan. Do đó, Công ty cổ phần Gas Petrolimex cũng phải nhập khẩu gas từ nước ngoài. Từ tháng 6/1999 đến tháng 3/2017, phần lớn lượng hàng trên thị trường là hàng nội địa, mua tại nhà máy tách khí tại Dinh Cố thuộc PV Gas. Giai đoạn tiếp theo từ 03/2017 tới nay, tổng nhu cầu nội địa vượt xa khả năng sản xuất của Nhà máy tách khí Dinh Cố nên Việt Nam phải nhập khẩu với khối lượng lớn. Như vậy, sản phẩm đầu vào của công ty có nguồn gốc từ nhà máy tách khí Dinh Cố và nhập khẩu.

Hình 2: Biểu đồ biến động giá nhập khẩu gas

Tháng 2 năm 2025, nhà máy lọc dầu Dung Quất đã chính thức đi vào hoạt và theo kế hoạch đến tháng 8 năm 2025 sẽ đưa toàn bộ các phân xưởng, các hạng mục của nhà máy vào hoạt động đạt 100% công suất thiết kế, cung cấp có hiệu quả tất cả các sản phẩm của nhà máy cho nền kinh tế như: dầu DO, xăng, dầu FO, gas, Propylen… bảo đảm 30% nhiêu liệu cho đất nước. Công ty sẽ có thuận lợi lớn bởi nguồn hàng trong nước sẽ góp phần giảm chi phí bán hàng do hiện tại doanh nghiệp phải nhập phần lớn sản phẩm từ nước ngoài.

Giá bán sản phẩm của công ty căn cứ vào giá nhập khẩu và giá mua từ Nhà máy Dinh Cố. Do đó, doanh thu và lợi nhuận của công ty chịu ảnh hưởng khá lớn từ giá mua đầu vào. Khi giá đầu vào tăng sẽ làm lợi nhuận trên biến phí giảm, ảnh hưởng đến lợi nhuận chung toàn công ty. Mặt khác, giá xăng dầu trên thế giới liên tục biến động sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu, khí đốt.

1.4.3. Sản xuất Khóa luận: Thực trạng kế hoạch Marketing cho sản phẩm Gas.

Công ty thực hiện kiểm soát các chi phí bằng việc xây dựng các định mức chung cho toàn công ty như: quy định về tiêu hao nguyên vật liệu, quy định về sử dụng và trang bị phương tiện phòng hộ… Công ty cũng liên tục thực hiện các biện pháp cải tiến trong quản lý và sử dụng vật tư, vật liệu hợp lý để giảm chi phí và tăng hiệu quả trong kinh doanh. Các biện pháp cải tiến của công ty đã phát huy hiệu quả, thể hiện ở tỷ trọng chi phí bán hàng và chi phí quản lý giảm dần qua các năm.

Là doanh nghiệp kinh doanh thương mại nên giá vốn hàng bán chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí của công ty. Cơ cấu các khoản mục chi phí chủ yếu của công ty trong các năm gần đây được thể hiện trong bảng sau:

Bảng 1: Cơ cấu các khoản mục chi phí chủ yếu của Công ty

STT Yếu tố chi phí 2022 2023 2024
Giá trị (tr.đ) % Doanh thu Giá trị (tr.đ) % Doanh thu Giá trị (tr.đ) % Doanh thu
1 Giá vốn hàng bán 1.112.323 88,06 1.287.218 87,69 1.500.090 88,86
2 Chi phí bán hàng và QLDN 121.932 9,65 141.937 9,67 143.432 8,5
3 Lãi vay Ngân hàng 7.192 0,57 4.164 0,28 5.521 0,33
Tổng 1.241.447 98,28 1.433.319 97,65 1.649.043 97.68

(Nguồn: Phòng Kế toán – Tài chính, Công ty cổ phần Gas Petrolimex)

Mức chi phí sản xuất của Công ty Cổ phần Gas Petrolimex so với các doanh nghiệp cùng ngành là nằm ở mức trung bình thấp vì các lý do sau đây: Khóa luận: Thực trạng kế hoạch Marketing cho sản phẩm Gas.

Thứ nhất, đó là do công ty tạo được các mối quan hệ tốt với các doanh nghiệp cùng ngành nên được mua với khối lượng lớn từ nhà máy Dinh Cố, giá mua ở đây thấp hơn giá nhập khẩu. Đây là một lợi thế đáng kể đối với công ty giảm chi phí giá vốn hàng bán.

Ngoài ra, sau khi cổ phần hoá, công ty đã trình điều chỉnh bộ máy quản lý nhằm phát huy năng lực của mỗi cán bộ công nhân viên cũng như năng lực hiệu quả hoạt động của công ty, giảm thiểu chi phí, tối đa hoá lợi nhuận. Do đó chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp của công ty trong 2 năm giai đoạn 2021-2023 xu hướng gia tăng chậm hơn so với mức tăng trưởng của doanh thu. Tuy nhiên, năm 2024 do biến động bất thường của giá dầu và việc tăng lãi suất cho vay của các ngân hàng, công ty đã gặp nhiều khó khăn trong việc điều chỉnh chi phí sản xuất. Công ty đã cắt giảm chi phí quản lý doanh nghiệp năm 2024 xuống còn 17.499 triệu đồng. Cách giải quyết này không cho thấy hiệu quả bởi với quy mô hiện nay của công ty, cần một sự đầu tư hợp lý mới có thể duy trì hiệu quả của bộ máy vận hành.

Là công ty trực thuộc Tổng công ty xăng dầu Việt Nam, công ty các được những ưu đãi lớn về tài chính. Đặc biệt, công ty nhận được những khoản cho vay ưu đãi từ Ngân hàng thương mại cổ phần Xăng dầu Petrolimex – PGBank.

1.4.3. Cung ứng đầu ra

So với các doanh nghiệp khác trong ngành, Gas Petrolimex đạt được trình độ công nghệ khá hiện đại trong quá trình lưu trữ, sang chiết, xử lý các sản phẩm cũng như cung cấp cho khách hàng các thiết bị theo công nghệ tiên tiến đảm bảo độ an toàn cao. Công ty đã lựa chọn cung cấp cho khách hàng bộ sản phẩm Gas Petrolimex với độ an toàn cao nhất (các sản phẩm này được Công ty nhập khẩu trực tiếp từ hãng có uy tín trên thế giới như: Comap-Pháp, Cavagn – Italy, SRG – Đức, Rego – Mỹ, Fisher – Mỹ). Bên cạnh đó, công ty đã xây dựng dự án đầu tư các dây chuyền bảo dưỡng vỏ bình gas (sơn sửa, kiểm định) nhằm nâng cao tính chất an toàn và tính hấp dẫn đối với sản phẩm Gas Petrolimex. Năm 2017, xưởng bảo dưỡng vỏ bình đầu tiên của công ty tại kho gas Đức Giang – Hà Nội và cũng là xưởng bảo dưỡng đầu tiên trên phạm vi toàn quốc được đưa vào sử dụng với số vốn đầu tư là 7,184 tỷ đồng. Khóa luận: Thực trạng kế hoạch Marketing cho sản phẩm Gas.

Gas Petrolimex là một trong 3 công ty (cùng với PV Gas và Sài Gòn Petro) có hệ thống kho bể đầu mối có sức chứa lớn nhất với công nghệ tồn trữ, đóng nạp hiện đại tương đương với các nước trong khu vực. Hệ thống kho bể đầu mối này được đặt tại các thị trường trọng điểm với sức tiêu thụ lớn đã tạo ra lợi thế cạnh tranh đáng kể cho công ty. Các thông số cơ bản phản ánh khả năng tiếp nhận và cung cấp của công ty được thể hiện trong bảng dưới đây:

Bảng 2: Hệ thống kho bể đầu mối

Kho Nhà Bè Thượng Lý Đà Nẵng Cần Thơ Đình Vũ
Sức chứa 2.000 tấn 1000 tấn 500 tấn 500 tấn 3000 tấn
Giá trị đầu tư (triệu đồng) 81.000 29.409 18.040 19.388 115.000
Thời gian đi vào hoạt động 05/2018 11/1996 02/1998 01/2016 10/2024
Công suất đóng bình 8,4 tấn/h 5,2 tấn/h 5,2 tấn/h 5,2 tấn/h
Công suất xuất gas rời 30 tấn/h 24 tấn/h 24 tấn/h 12 tấn/h
Mớn nước 6 mét 4,2 mét 4,2 mét 5,5 mét 9,7 mét
Khả năng đón tàu trọng tải 24.000 tấn 3.000 tấn 3.000 tấn 3.600 tấn 20.000 tấn

(Nguồn: Phòng Quản lý kỹ thuật, Công ty cổ phần Gas Petrolimex)

Kho chứa gas tại Khu công nghiệp Đình Vũ (Hải Phòng), mới được khánh thành giai đoạn 1 vào tháng 10/2024. Đây là hệ thống kho tiếp nhận, tồn chứa và phân phối gas với sức chứa 6.000 tấn; trong đó giai đoạn 1 là 3.000 tấn với hệ thống công nghệ hiện đại, tạo cơ sở hậu cần vững chắc cho chiến lược mở rộng thị phần của ngành hàng đặc thù gas nâng cao năng lực cạnh tranh của thương hiệu Gas Petrolimex.

Hiện tại, kho chứa gas này bao gồm 2 bồn chứa hình cầu được sản xuất tại Nhật Bản có sức chứa 1.500 tấn/bồn cùng các thiết bị đi kèm đồng bộ. Sau khi đi vào hoạt động, kho chứa 3.000 tấn sẽ khắc phục được những bất ổn do thiếu nguồn hàng dự trữ vào những thời điểm tàu vào cảng trễ hoặc những biến động bất thường của thị trường dầu mỏ thế giới.

Ngoài hệ thống kho bể trên đây, công ty còn quản lý một kho cấp hai tại Gia Lâm – Hà Nội với sức chứa 120 tấn và công suất đóng nạp 6 tấn/giờ tương đương 48-50 tấn/ngày (8 tiếng) đảm bảo đáp ứng nhu cầu tại khu vực Hà Nội và một số tỉnh lân cận. Kho được xây dựng và đưa vào hoạt động từ tháng 7/1999 với tổng chi phí đầu tư là 12,259 tỷ đồng. Kho gas Hà Nội đi vào hoạt động với nguồn hàng từ Hải Phòng được chuyên chở bằng toa P đường sắt là kết quả của nỗ lực cắt giảm chi phí vận chuyển, tăng lợi thế cạnh tranh cho công ty.

1.4.4. Tình hình phân phối Khóa luận: Thực trạng kế hoạch Marketing cho sản phẩm Gas.

Trải qua các giai đoạn hình thành và phát triển, đến nay Công ty Cổ phần Gas Petrolimex là một trong ba đơn vị thuộc ngành hàng khí hoá lỏng triển khai kinh doanh trên phạm vi toàn quốc. Công ty có các công ty con đặt tại các thị trường trọng điểm: Công ty TNHH Gas Sài Gòn, Công ty TNHH Gas Cần Thơ, Công ty TNHH Gas Đà Nẵng, Công ty TNHH Gas Hải Phòng. Sản phẩm của Công ty đang được phân phối qua 4 kênh chủ yếu:

  • Qua các công ty thành viên thuộc Tổng Công ty Xăng dầu Việt
  • Qua các Tổng đại lý ngoài ngành.
  • Bán hàng trực tiếp tới khách hàng.
  • Bán qua các cửa hàng trực thuộc.

Với hệ thống này, sản phẩm mang thương hiệu Gas Petrolimex đã có mặt tại hầu hết các địa bàn và thị trường trong cả nước. Trên địa bàn Hà Nội hiên nay Công ty cổ phần Gas Petrolimex đã triển khai Hệ thống cửa hàng bán lẻ trực thuộc bao gồm 22 cửa hàng, đảm bảo cung cấp cho khách hàng dân dụng sản phẩm gas chính hãng với giá cả hợp lý và chất lượng cao nhất.

1.4.5. Nghiên cứu và phát triển

Trên cơ sở phát hành cổ phần tăng vốn điều lệ, công ty có cơ hội huy động thêm nguồn vốn để mở rộng chức năng, lĩnh vực hoạt động của mình. Ngành hàng khí hóa lỏng vẫn là trọng điểm để công ty phát triển sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, công ty sẽ đầu tư vào các ngành hàng kinh doanh taxi gas, hình thành đội xe vận chuyển gas rời, tiếp tục phát triển mạng lưới kinh doanh cung cấp gas cho các xe ô tô, xe máy chuyển đổi tại thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng. Kinh doanh taxi gas phù hợp với định hướng phát triển ngành hàng Autogas và tận dụng được ưu thế cạnh tranh về giá cho tiết kiệm được nhiên liệu so với các loại sử dụng nhiên liệu là xăng. Mặt khác, xu hướng sử dụng xe ô tô chạy bằng gas là xu hướng chung trên thế giới và đã bắt đầu hình thành ở Việt Nam. Do đó, chắc chắn định hướng kinh doanh cung cấp gas cho các xe ô tô sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao. Thực hiện giai đoạn 2 của dự án xây dựng kho đầu mối Đình Vũ – Hải Phòng nâng sức chứa lên 6000 tấn. Bên cạnh đó Tiếp tục triển khai các thủ tục về lập dự án, thiết kế… để đầu tư xây dựng Cao ốc văn phòng trên diện tích đất của công ty tại 775 đường Giải Phóng, Quận Hoàng Mai, Hà Nội. Tiếp tục triển khai xây dựng dự án mở rộng hệ thống phân phối khi LPG tại Đà Nẵng với mức vốn đầu tư dự kiến 85 tỷ đồng.

1.4.6. Quản trị nguồn nhân lực Khóa luận: Thực trạng kế hoạch Marketing cho sản phẩm Gas.

Bảng 3: Cơ cầu nguồn nhân lực năm 2023 – 2024

Trình độ

Năm 2023 Năm 2024
Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ %
Trên đại học 10 1,25% 10 1,24%
Đại học 327 40,87% 327 40,47%
Trung cấp 101 12,63% 109 13,49%
Sơ cấp và công nhân kỹ thuật 350 43,75% 350 43,31%
Phổ thông 12 1,5% 12 1,49%
Tổng 800 808

(Nguồn: Phòng Tổ chức – Hành chính, Công ty cổ phần Gas Petrolimex)

Hình 3: Biểu đồ cơ cấu nguồn nhân lực năm 2024

Tổng số lao động của công ty đến thời điểm 31/12/2023 là 800 lao động đến 31/12/2024 tổng số lao động của công ty là 808 trong đó nhân viên có trình độ trung cấp tăng 8 người chiếm 13,49% đội ngũ cán bộ toàn công ty. Như vậy, số cán bộ có trình độ đại học, sơ cấp và công nhân kỹ thuật vẫn chiếm đa số trong nguồn nhân lực. Công ty hiện đang có chính sách khuyến khích các cán bộ có bằng đại học tham gia các khoá học thạc sĩ nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ quản lý.

1.4.6.1. Chính sách đào tạo

Công ty chú trọng việc đẩy mạnh các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, đặc biệt là về kỹ năng nghiệp vụ chuyên môn đối với nhân viên nghiệp vụ tại các đơn vị. Việc đào tạo tại công ty được thực hiện theo hướng sau:

Đối với lao động trực tiếp, công ty thường xuyên mở các lớp bồi dưỡng tại chỗ để nâng cao trình độ tay nghề và sự hiểu biết của người lao động về ngành hàng. Công ty tiến hành đào tạo và đào tạo lại nhằm nâng cao hiệu quả lao động của các lao động hiện có. Người lao động cũng luôn được khuyến khích và tạo điều kiện tham gia các lớp đào tạo nâng cao trình độ về chuyên môn, ngoại ngữ, tin học. Khóa luận: Thực trạng kế hoạch Marketing cho sản phẩm Gas.

Còn đối với lao động tại các phòng chuyên môn nghiệp vụ, công ty tạo điều kiện cho tham gia học cả trong và ngoài nước về các ngành nghề chuyên môn phù hợp với yêu cầu công việc, tham gia các lớp học bồi dưỡng nghiệp vụ ngắn hạn về các chế độ, chính sách của nhà nước… Những cán bộ công nhân viên do công ty cử đi học được thanh toán chi phí học tập và được hưởng lương theo kết quả học tập.

1.4.6.2. Chính sách lương, thưởng

Công ty xây dựng quy chế về quản lý và phân phối tiền lương áp dụng thống nhất trong toàn công ty. Đơn giá tiền lương được xác định dựa vào tổng quỹ lương (theo quy định của nhà nước về thang bảng lương, số lượng lao động, mức tối thiểu, hệ số điều chỉnh theo vùng), sản lượng bán hàng số và hiệu quả kinh doanh. Tiền lương được phân phối theo nguyên tắc phân phối theo lao động và sử dụng tiền lương như đòn bẩy kinh tế quan trọng nhất để kích thích người lao động tích cực tham gia sản xuất kinh doanh. Việc phân phối lương được thực hiện công khai và dân chủ, đảm bảo sự công bằng và hợp lý giữa các chức danh trong công ty.

Sau khi cổ phần hoá, công ty đã xây dựng chính sách lương riêng phù hợp với đặc trưng ngành nghề hoạt động và bảo đảm cho người lao động được hưởng đầy đủ các chế độ theo quy định của Nhà nước. Kết quả, cho thấy chính sách lương mới phù hợp với trình độ, năng lực và công việc của từng người tạo được sự khuyến khích cán bộ công nhân viên của công ty làm việc, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh của công ty.

Nhằm khuyến khích động viên cán bộ công nhân viên trong công ty gia tăng hiệu quả đóng góp, tăng năng suất chất lượng hoàn thành công việc, công ty đưa ra chính sách thưởng hàng kỳ, thưởng đột xuất cho cá nhân và tập thể. Việc xét thưởng căn cứ vào thành tích của cá nhân hoặc tập thể trong việc thực hiện tiết kiệm, sáng kiến cải tiến về kỹ thuật, về phương pháp tổ chức kinh doanh, tìm kiếm được khách hàng mới, thị trường mới, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, đạt được hiệu quả cao trong kinh doanh, có thành tích chống tiêu cực, lãng phí.

1.4.6.3. Chính sách trợ cấp

Khi người lao động trong công ty, bố, mẹ, vợ, chồng, con của các cán bộ công nhân viên trong công ty ốm đau, nằm viện hoặc không may qua đời đều được đơn vị xem xét trợ cấp khó khăn đột xuất. Mức trợ cấp được Ban Tổng giám đốc chỉ định tuỳ từng trường hợp cụ thể.

1.4.6.4. Các chế độ chính sách khách đối với người lao động

Công ty thực hiện các chế độ bảo đảm xã hội cho người lao động theo Luật lao động, Nội quy lao động và Thoả ước lao động tập thể. Công ty luôn quan tâm đến đời sống và cải thiện điều kiện cho cán bộ công nhân viên. Công ty có chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật đối với các lao động làm việc trong điều kiện nắng nóng, nặng nhọc; quan tâm tới cán bộ công nhân viên trong các ngày lễ tết, cụ thể: Khóa luận: Thực trạng kế hoạch Marketing cho sản phẩm Gas.

  • Chế độ bồi dưỡng hiện vật tại chỗ cho lao động trực tiếp với mức 5.000 đồng/ngày/người.
  • Chế độ bồi dưỡng hiện vật chống nắng trong thời gian từ tháng 5 đến hết tháng 8 đối với công nhân lao động tại kho gas.
  • Tổ chức bữa ăn giữa ca cho người lao động với mức chi 350.000 đồng/người/tháng.
  • Tặng quà cho các cán bộ công nhân viên vào dịp sinh nhật; nhân ngày quốc tế phụ nữ 8/3; ngày phụ nữ Việt Nam 20/10; cưới hỏi; ngày lễ tết (tết Dương lịch, tết Nguyên đán, 30/4, ngày Quốc tế lao động 1/5, quốc khánh 2/9).
  • Tặng quà cho các cán bộ công nhân viên trong Công ty tham gia lực lượng vũ trang nhân ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22/12.
  • Tặng quà cho cán bộ là con thương binh liệt sỹ nhân ngày Thương binh liệt sỹ 27/7 hàng năm.
  • Tổ chức cho các cán bộ công nhân viên đi nghỉ mát, du lịch hàng năm.
  • Tổ chức vui chơi và tặng quà cho các cháu là con của cán bộ công nhân viên trong Công ty nhân ngày Quốc tế thiếu nhi 1/6, rằm trung thu.
  • Tặng quà cho các cháu đạt thành tích cao trong học tập.

1.4.7. Sản lượng sản phẩm

Bảng 4: Sản lượng sản phẩm gas dân dụng và gas công nghiệp

Năm Tổng sản lượng (tấn) Gas dân dụng Gas công nghiệp
Sản lượng Tỷ trọng Sản lượng Tỷ trọng
2020 114.000 34.936 30,65% 79.064 69,35%
2021 121.522 35.476 29,19% 86.046 71,55%
2022 119.938 36.137 30,13% 83.801 69,87%
2023 112.600 33.634 29,87% 78.966 70,13%
2024 102.300 38.870 38% 63.430 62%

(Nguồn: Phòng Kinh doanh, Công ty cổ phần Gas Petrolimex) Khóa luận: Thực trạng kế hoạch Marketing cho sản phẩm Gas.

Từ năm 2020 đến năm 2023, sản lượng tiêu thụ sản phẩm của công ty tương đối ổn định với mức tiêu thụ chia theo gas bình và gas rời có những thay đổi không đáng kể. Tuy nhiên, năm 2024 sản lượng tiêu thụ đã tụt xuống mức 102.300 tấn, mức thấp nhất trong vòng 5 năm. Cán cân giữa lượng tiêu thụ gas bình và gas rời cũng có sự thay đổi lớn khi tỷ trọng gas bình chiếm 38% trong khi sản phẩm gas rời (chủ yếu cung cấp cho các khách hàng công nghiệp) lại giảm xuống chỉ còn 62%. Nguyên nhân chủ yếu là do thị trường gas dân dụng đã tương đối ổn định nên việc phát triển thêm các khách hàng mới là các hộ gia đình, nhà hàng, khách sạn… là tương đối khó. Sản lượng gas bình cung cấp cho lĩnh vực dân dụng ít có thay đổi và tăng trưởng chậm. Trong khi đó do ảnh hưởng của suy thoái toàn cầu và biến động của lãi suất cho vay, trong năm 2024 nhiều doanh nghiệp đã phải thu hẹp sản xuất kinh doanh hoặc thậm chí tuyên bố phá sản do làm ăn thua lỗ. Điều này lí giải được lý do sụt giảm của sản lượng tiêu thụ gas công nghiệp là do các việc cắt giảm sản xuất của các khách hàng công nghiệp.

1.4.8. Kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2020-2024

Từ năm 2020 đến năm 2024 doanh thu đều tăng qua các năm với tốc độ tăng trưởng khá cao 25,09% năm 2020-2021 và trung bình xấp xỉ mức 15% trong các năm từ 2021 đến 2024.

Năm 2020, 100 đồng doanh thu thu về có 14,47 đồng là lợi nhuận gộp. Tỷ lệ LNG/DTT này liên tục giảm trong 2 năm tiếp theo và tăng nhẹ trở lại vào năm 2023

Năm 2024, 100 đồng doanh thu chỉ có 10,1 đồng lợi nhuận gộp bởi mức giá vốn hàng bán vào năm này đã có xu hướng tăng trở lại sau 2 năm liên tiếp giảm trước đó. Tỷ lệ này cho thấy kết quả kinh doanh của công ty trên cơ sở giá vốn hàng bán cũng như việc điều chỉnh giá và quản lý giá vốn hàng bán của doanh nghiệp là kém linh hoạt và đều không đem lại hiệu quả.

Hình 4: Biểu đồ biến động doanh thu từ bán hàng và cung cấp dịch vụ

Chi phí bán hàng trong giai đoạn 5 năm từ năm 2020 đến năm 2024 có nhiều biến động. Năm 2021 chi phí bán hàng giảm 5,58% trong khi 2 năm tiếp theo là năm 2022 và 2023 chi phí này lại tăng và đạt mức tăng 23,9% (2023). Đến năm 2024 vừa qua, chi phí bán hàng vẫn tăng nhưng chỉ ở mức 11,35%. Trong khi đó, chi phí quản lý doanh nghiệp lại có những biến động trái chiều: tăng mạnh vào năm 2021 và giảm vào các năm còn lại, năm 2024 giảm 39,32% so với năm 2023. Điều này là bởi năm 2021 công ty tiến hành cải tổ và hoàn thiện bộ máy quản lý triệt để từ các cấp phòng ban đến các hệ thống cửa hàng hàng bán lẻ đồng thời Tái cấu trúc các Chi nhánh Gas trực thuộc tại Hải Phòng, Đà Nẵng, Sài Gòn, Cần Thơ thành các Công ty TNHH một thành viên. Khóa luận: Thực trạng kế hoạch Marketing cho sản phẩm Gas.

Hình 5: Biểu đồ chi phí bán hàng và chi phí quản lý (2020-2024)

Trong 2 năm 2022 và 2023 việc chi phí quản lý giảm là vì sau đợt tiến hành cải tổ năm 2021 công tác quản lý của công ty đã có những chuyển biến đáng kể, công ty cắt giảm chi phí này để đầu tư vào các hoạt động khác. Tuy nhiên, năm 2024 doanh nghiệp đã mạnh tay cắt giảm chi phí này lại là nhằm giúp mức chi phí chung giảm nhiều nhất có thể. Trong khi sản xuất kinh doanh vẫn tăng trưởng, hoạt động quản lý không có 1 nguồn kinh phí đúng mức đã dẫn tới hiệu quả quản lý kém, góp phần làm giảm lợi nhuận của công ty. Bên cạnh đó, tỷ lệ LNT/GVĐĐ năm 2024 cũng giảm xuống chỉ còn 0,128% thấp hơn cả năm 2021 khi doanh nghiệp tăng mạnh đầu tư vào lĩnh vực quản lý. Năm 2023, 1 đồng chi phí bỏ ra thu được 2,99 đồng lợi nhuận thuần trong khi năm 2024, 1 đồng chi phí bỏ ra chỉ thu về được 0,128 đồng lợi nhuận thuần. Tỷ lệ trên cho thấy hoạt động sản suất kinh doanh nói chung cũng như khả năng kiểm soát của chủ doanh nghiệp đối với toàn bộ hoạt động này và hiệu quả sử dụng đồng vốn đều sụt giảm.

Hình 6: Biểu đồ biến động lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh từ giai đoạn 2020-2024

Trong khi doanh thu có mức tăng ổn định thì lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh lại biến đổi rất thất thường. Kết thúc năm 2021, lợi nhuận sụt giảm 70.09% nhưng 2 năm sau đó lại đạt mức tăng lớn 237,73% (năm 2022) và 42,9% (năm 2023). Năm 2024, dù chi phí quản lý đã giảm rất nhiều nhưng do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính thế giới tác động trực tiếp tới việc giảm đột biến giá dầu mỏ, khí đốt dẫn tới thiệt hại về chênh lệch giá hàng tồn kho gas đã khiến cho lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh của công ty năm 2024 chỉ còn 2.113 triệu đồng – mức lợi nhuận thấp nhất trong vòng 5 năm.

Bảng 5: Kết quả kinh doanh giai đoạn 2020 – 2024

II. Phân tích môi trường bên ngoài Khóa luận: Thực trạng kế hoạch Marketing cho sản phẩm Gas.

2.1. Môi trường vĩ mô

2.1.1. Kinh tế

Năm 2024, trên thế giới tình hình kinh tế có nhiều biến động phức tạp. Những tháng đầu năm giá dầu thô và nhiều loại vật tư, lương thực đột biến tăng cao; sự suy yếu của thị trường tài chính, đồng đô la Mỹ mất giá, kinh tế của Mỹ giảm sút đã ảnh hưởng lan rộng đến các nền kinh tế khác. Trong những tháng gần đây, cuộc khủng hoảng tài chính thế giới ngày càng lan rộng, diễn biến phức tạp, chưa có dấu hiệu ổn định. Mức độ trầm trọng của khủng hoảng tài chính toàn cầu và chiều hướng suy thoái của kinh tế thế giới tác động nhiều mặt đặc biệt về xuất khẩu, đầu tư trực tiếp và gián tiếp, du lịch… Điều đó gây xáo trộn lớn trong đời sống kinh tế xã hội các nước, nhất là các nước đang và kém phát triển phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu nguyên, nhiên vật liệu.

Trong nước nền kinh tế còn nhiều khó khăn thách thức. Ảnh hưởng lạm phát kéo dài đối với các doanh nghiệp, đời sống người lao động còn nhiều khó khăn. Tình hình rét đậm, rét hại kéo dài ở các tỉnh phía Bắc, ngập lụt gây ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, làm giảm sức mua của nông dân… Khủng hoảng tài chính thế giới đang tác động tiêu cực vào kinh tế Việt Nam, nhất là trong những tháng cuối năm 2024, thể hiện rõ nét nhất là suy giảm tốc độ tăng trưởng sản xuất công nghiệp, suy giảm tốc độ tăng trưởng xuất khẩu từ tháng 9/2024.

Kinh tế thế giới năm 2025 được dự báo khó khăn hơn năm 2024, khủng hoảng tài chính thế giới còn diễn biến phức tạp, chưa có dấu hiệu ổn định. Nhiều nước đã công bố tình trạng suy thoái kinh tế. Xuất khẩu khó khăn hơn, kinh tế thế giới suy giảm, sản xuất và tiêu dùng bị thu hẹp, chủ nghĩa bảo hộ có xu hướng tăng lên sẽ hạn chế nhu cầu nhập khẩu, làm giảm khả năng xuất khẩu của nước ta. Du lịch sẽ bị ảnh hưởng nặng. Đầu tư trực tiếp nước ngoài có khả năng giảm mạnh. Đầu tư gián tiếp và lượng kiều hối chuyển về nước sẽ ít hơn, khả năng vay nợ, bảo lãnh nhập khẩu cũng sẽ khó khăn hơn. Ngoài ra những vấn đề mang tính toàn cầu như dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, khan hiếm nguồn nhiên liệu, an ninh lương thực cũng là những thách thức lớn cho quá trình phát triển kinh tế – xã hội của nước ta.

Ở trong nước nền kinh tế nước ta còn nhiều khó khăn thách thức. Một số cân đối vĩ mô còn tiềm ẩn sự chưa ổn định, sức cạnh tranh cả 3 cấp độ còn yếu, ảnh hưởng lạm phát năm 2024 còn kéo dài đối với các doanh nghiệp, đời sống người lao động còn nhiều khó khăn, chất lượng nguồn nhân lực, hệ thống kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng được yêu cầu. Tình hình thiên tai dịch bện có thể còn diễn biến phức tạp. Tiếp tục thực hiện các cam kết quốc, sang năm 2025 sẽ cắt giảm thuế đối với toàn bộ biểu thuế khoảng 10.600 đồng để đến 2010 sẽ giảm còn 13,4% theo cam kết. Đối với hàng công nghiệp, mức thuế bình quân sẽ tiếp tục giảm để trong vòng 4 – 6 năm tới chỉ còn 12,6%. Về dịch vụ, bắt đầu thực hiện cam kết mở cửa dịch vụ phân phối hàng hoá cho các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài từ 1/1/2025. Khóa luận: Thực trạng kế hoạch Marketing cho sản phẩm Gas.

Bên cạnh những khó khăn, thách thức chúng ta cũng có những thuận lợi cơ bản: thể chế kinh tế thị trường dần dần được hoàn thiện; sự hợp tác kinh tế quốc tế thông qua các hiệp định thương mại song phương và đa phương được ký kết tạo thêm môi trường và điều kiện mở rộng thị trường hàng hoá, dịch vụ; kết quả bước đầu của các biện pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, tăng trưởng bền vững đã và đang tiếp tục phát huy kết quả và là điều kiện quan trọng bảo đảm cho sự phát triển.

Ngày 15/1 vừa qua, Thường trực Chính phủ và lãnh đạo các bộ ngành cũng đã thông qua kế hoạch sử dụng 17.000 tỷ đồng để kích cầu đầu tư, thực hiện thông qua bù lãi suất khi doanh nghiệp vay vốn lưu động phục vụ cho sản xuất, kinh doanh. Chương trình bù lãi suất này nhằm hỗ trợ doanh nghiệp giảm bớt khó khăn, tiếp cận được với nguồn vốn ngân hàng với chi phí hợp lý, tạo động lực cho hệ thống ngân hàng, tổ chức tín dụng mở rộng hoạt động huy động vốn và cung ứng vốn cho nền kinh tế. Riêng các doanh nghiệp vay vốn lưu động để nhập khẩu hàng tiêu dùng chưa thiết yếu, vay kinh doanh chứng khoán, tài chính, ngân hàng, vay vốn để trả nợ các hợp đồng tín dụng khác… không được hưởng chính sách ưu đãi này.

2.1.2. Văn hóa – xã hội

Năm 2024, công tác tư tưởng – văn hóa đã đạt được những thành tựu rất đáng tự hào. Ngành Văn hóa Thông tin đã tổ chức tốt nhiều hoạt động nhằm đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền và kỷ niệm các ngày lễ, hội lớn của dân tộc, thu hút sự quan tâm của đông đảo quần chúng nhân dân.Các hoạt động văn hóa, nghệ thuật đã có những đổi mới, cải tiến về nội dung, chất lượng nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu thưởng thức của nhân dân. Công tác thanh tra, kiểm tra văn hóa và phòng chống tệ nạn xã hội vẫn được triển khai tích cực và thường xuyên.

Giá cả hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng tăng cao đã gây ảnh hưởng lớn đến đời sống của đại bộ phận dân, đặc biệt là những người có thu nhập thấp. Bên cạnh đó, các chương trình hỗ trợ giáo dục – đào tạo nâng cao dân trí cũng được triển khai rộng rãi. Cũng trong năm 2024, việc phát hiện hàng loạt các nhà máy sản xuất vi phạm Luật Bảo vệ môi trường đã thu hút sự quan tâm lớn của dư luận.

Năm 2025, Công tác thanh tra, kiểm tra văn hóa và phòng chống tệ nạn xã hội sẽ được triển khai tích cực và thường xuyên. Chính phủ sẽ thực hiện các biện pháp nhằm bình ổn giá cả tiêu dùng và từng bước nâng cao hơn nữa mức sống của nhân dân. Các vấn đề liên quan đến giáo dục và đào tạo cũng vẫn sẽ được quan tâm và đầu tư đúng mức. Đặc biệt, việc cấp giấy phép cho các cơ sở sản xuất kinh doanh sẽ được thắt chặt nhằm hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường.

2.1.3. Chính trị – pháp luật Khóa luận: Thực trạng kế hoạch Marketing cho sản phẩm Gas.

Tình hình chính trị, xã hội tiếp tục ổn định là thuận lợi rất lớn cho các doanh nghiệp kinh doanh ổn định. Công tác bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và đấu tranh phòng chống các loại tội phạm được tăng cường. Công tác cải cách hành chính, đặc biệt là cải cách thủ tục hành chính tại những lĩnh vực có nhiều bức xúc trong xã hội như: đăng ký kinh doanh, chứng nhận đầu tư, thủ tục hải quan, thu thuế, kiểm tra, thanh tra doanh nghiệp, công chứng… đã có những bước tiến mới, được nhân dân và doanh nghiệp đồng tình.

Về mặt pháp luật, từ tháng 1/2025 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật dầu khí đã có hiệu lực. Trong bộ Luật, 11 điều của Luật dầu khí được ban hành từ năm 1993 (sửa đổi lần thứ nhất năm 2016) đã được tiến hàng sửa đổi và bổ sung.

Mục đích trực tiếp của việc sửa đổi này là để tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài vào các hoạt động dầu khí, đảm bảo vấn đề an ninh năng lượng cho quốc gia. So với Luật Dầu khí hiện hành thì luật sửa đổi, bổ sung có 20 điểm mới. Trong đó có một số điểm nổi bật, có tác động trực tiếp đến thu hút đầu tư vào hoạt động dầu khí.

Chẳng hạn, trước đây Luật Dầu khí chỉ điều chỉnh đến các sản phẩm dầu khí được tích tụ trong các tầng chứa trầm tích, đá vội hoặc móng nứt nẻ. Thế nhưng, theo khảo sát, hiện có rất nhiều khí metan nằm trong các vỉa than. Đây là một dạng năng lượng rất cần được thăm dò và khai thác để phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước, đặc biệt ở khu vực phía bắc, tại đồng bằng sông Hồng. Tuy nhiên, đến nay chúng ta lại đang thiếu khung pháp lý để điều chỉnh các hoạt động thăm dò và khai thác loại khí này.

Một vấn đề nổi bật nữa là các nội dung thuộc phạm vi quản lý Nhà nước về dầu khí. Luật Dầu khí hiện nay đã có quy định trách nhiệm của cơ quan quản lý Nhà nước về dầu khí từ năm 1993, nhưng phải đến tháng 6/2019, Thủ tướng mới giao cho Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công Thương) quản lý Nhà nước về dầu khí bằng Nghị định 55/2019/NĐ-CP. Tuy nhiên, Nghị định lại chưa cụ thể hóa hết những nội dung chi tiết về quản lý Nhà nước về dầu khí. Vì vậy, lần sửa đổi này đã quy định rõ hơn những nội dung thuộc chức năng quản lý Nhà nước về dầu khí của Bộ Công Thương.

2.1.4. Các điều kiện tự nhiên

Với đường bờ biển dài 3.260 km và gần 700.000 km2 thềm lục địa, vị trí địa lý của nước ta đã mang lại cơ hội phát triển lớn cho ngành dầu khí. Qua tìm kiếm thăm dò cho đến nay, các tính toán dự báo đã khẳng định tiềm năng dầu khí Việt Nam tập trung chủ yếu ở thềm lục địa, trữ lượng khí thiên nhiên có khả năng nhiều hơn dầu. Tổng tiềm năng dầu khí tại các bể trầm tích: Sông Hồng, Phú Khánh, Nam Côn Sơn, Cửu Long, Ma lay – Thổ Chu, Vùng Tư Chính – Vũng Mây… đã được xác định tiềm năng và với trữ lượng là từ 0,9 đến 1,2 tỷ m3 dầu và từ 2.100 đến 2.800 tỷ m3 khí. Trữ lượng đã được xác minh là gần 550 triệu tấn dầu và trên 610 tỷ m3 khí. Khóa luận: Thực trạng kế hoạch Marketing cho sản phẩm Gas.

Trữ lượng khí đã được thẩm lượng, đang được khai thác và sẵn sàng để phát triển trong thời gian tới vào khoảng 400 tỷ m3.

Theo thống kê của Bộ Công thương, năm 2024 đã khoan thăm dò và thẩm lượng 35 giếng, trong đó khoan thăm dò 19 giếng và khoan thẩm lượng 16 giếng, phát hiện 03 mỏ dầu khí mới tại các giếng: Hổ Xám Nam, Hải Sư Bạc, giếng D14- Malaysia; Ký được 18 hợp đồng dầu khí mới (07 hợp đồng trong nước và 11 hợp đồng với nước ngoài). Trong công tác phát triển mỏ và khai thác, đã đưa 5 mỏ mới vào khai thác gồm: mỏ dầu Cá Ngừ Vàng, mỏ dầu Phương Đông, mỏ khí Bunga Orkid, mỏ dầu Sư Tử Vàng và mỏ dầu Sông Đốc. Tuy nhiên, tình trạng khai thác ở một số mỏ không ổn định, diễn biến bất thường, thời tiết biển xấu nên sản lượng từ các giếng ở các mỏ mới được đưa vào khai thác không đạt được kết quả như dự kiến ban đầu. Chính vì vậy, sản lượng khai thác dầu thô năm 2024 chỉ đạt 14,94 triệu tấn, bằng 93,8% kế hoạch năm và giảm 6,2% so với năm 2023; hệ thống đường ống dẫn khí Rạng Đông – Bạch Hổ, Nam Côn Sơn, PM3 – Cà Mau vận hành an toàn và ổn định. Khai thác khí ước đạt 7,4 tỷ m3, bằng 99,0% kế hoạch năm và tăng 7,9% so với năm 2023.

2.1.5. Công nghệ

Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu và áp dụng các công nghệ mới trong lĩnh vực dầu khí liên tục được đẩy mạnh bởi các quốc gia đều nhận thấy tầm quan trọng của năng lượng đối với việc phát triển kinh tế. Chính vì vậy, khi nhu cầu về dầu khí ngày càng cao theo đà phát triển của kinh tế thế giới là lúc các nhà khoa học công bố nhiều công nghệ mới giúp nâng cao sản lượng dầu khí. Nhiều công nghệ mới đã được các tập đoàn dầu khí hàng đầu thế giới như Shell, Total, BP… áp dụng vào các quá trình thăm dò, khai thác, lọc dầu, tách khí…

Tại Việt Nam, các công nghệ tiên tiến cũng đã được các cán bộ khoa học trong nước nghiên cứu và đưa vào ứng dụng trong khai thác dầu khí. Có thể nêu ra ví dụ như công nghệ đánh dấu đồng vị phóng xạ đã được các công ty Khai thác dầu khí Việt Nam và quốc tế sử dụng khai thác trên thềm lục địa Việt Nam tại mỏ Bạch Hổ, Rạng Đông… nhằm tăng cường hiệu quả khai thác. Theo tính toán của các nhà khoa học, nguồn lợi từ việc ứng dụng kỹ thuật đánh dấu đồng vị phóng xạ mang lại khoản lợi ở mỗi giếng dầu từ 10-15 triệu USD. Khoản lợi ấy còn lớn hơn khi chính các nhà khoa học Việt Nam thực hiện được công nghệ này. Điều này không chỉ giúp cho ngành dầu khí có được công nghệ phù hợp với đặc thù vùng mỏ Việt Nam, thu được những lợi ích kinh tế mà quan trọng hơn, nó đã khẳng định một bước tiến của khoa học năng lượng nguyên tử nước ta.

Công nghệ GPS và GIS cũng đã được ứng dụng trong việc thành lập các bản đồ, thu thập giám sát và phân tích số liệu thực địa. Các giải pháp công nghệ không gian có thể làm đơn giản đi tất cả từ việc thành lập bản đồ các tài sản cố định như hệ thống đường ống và các đầu nối đường ống đến việc sử dụng chúng cho duy tu bảo dưỡng, để mở rộng hay triển khai các chương trình khắc phục khi có sự cố xảy ra. Các bản đồ được lập có độ chính xác tới một vài đềximét thực sự là những công cụ đắt giá và hiệu quả khi các công ty dầu khí muốn xây dựng bản đồ hay xác định vị trí của các tài sản ngầm. Sử dụng công nghệ và giải pháp GPS và GIS tiên tiến sẽ góp phần đơn giản hoá các bước xử lý trong quá trình thu thập, lưu trữ và phân tích các dạng số liệu thực địa quan trọng. Với số liệu phân bố không gian các tài sản cố định rất chính xác, cho phép các công ty dầu khí hoạt động hiệu quả hơn, quản lý đơn giản hơn, giảm chi phí và ra tăng lợi nhuận.

Viện Dầu khí Việt Nam ra đời năm 1978 với 4 trung tâm nghiên cứu cũng đã góp phần đảm bảo giải quyết các vấn đề nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ, tư vấn có đầy đủ luận cứ khoa học và tham mưu cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành. Ngoài ra, Viện còn tiến hàng đào tạo và cung cấp cán bộ đầu ngành cho Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam. Mang lại lợi ích lâu dài cao nhất cho người lao động, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và đối tác.

2.2. Môi trường ngành Khóa luận: Thực trạng kế hoạch Marketing cho sản phẩm Gas.

2.2.1. Đối thủ cạnh tranh hiện tại

Do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, lượng tiêu thụ khí hóa lỏng nói chung và gas công nghiệp nói riêng trong năm 2024 đều giảm sút so với năm trước đó. Tất cả các dự báo về tốc độ tăng trưởng 9-12%/năm của Gas Petrolimex hay mức tăng 100 nghìn tấn/năm của PV Gas North chỉ đúng cho cho 2 năm 2022 và 2023. Theo thống kê tổng tiêu thụ khí hóa lỏng của PGC, năm 2024 cả nước tiêu thụ khoảng 890.000 tấn so với con số hơn 900.000 tấn năm 2023. Năm 2025, nhu cầu tiêu thụ khí hóa lỏng được dự đoán sẽ tăng trở lại nhờ các động thái tích cực của Chính phủ trong việc ổn định kinh tế vĩ mô và đưa ra các chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Năm 2010, theo dự báo của Global LP Gas nhu cầu tiêu thụ tại Việt Nam sẽ đạt 1,1 triệu tấn. Cũng theo số liệu thống kê của tổ chức trên, năm 2022 gas sử dụng trong lĩnh vực công nghiệp là 335 nghìn tấn và tăng lên 380 nghìn tấn năm 2023 (chiếm khoảng hơn 40% lượng gas tiêu dùng tại Việt Nam). Năm 2025, nhu cầu gas công nghiệp được dự báo sẽ tăng trưởng trở lại ở mức 5-10%.

Hiện cả nước có khoảng gần 60 công ty, cơ sở kinh doanh gas (chưa tính những cửa hàng bán lẻ), trong đó 10 công ty lớn (trong nước, liên doanh và nước ngoài) đảm nhận việc nhập khẩu, cung ứng gas cho thị trường Việt Nam, số còn lại chủ yếu là sang chiết gas và phân phối gas ở các vùng nông thôn.

Gần 100 công ty này đang cạnh tranh quyết liệt với nhau, chiếm thị phần lớn nhất là Công ty cổ phần Gas Petrolimex, tiếp đến là Công ty Chế biến và Kinh doanh các sản phẩm phí (PV Gas) và Saigon Petro. Đặc biệt, 3 công ty này được nhận gas do Nhà máy Dinh Cố sản xuất với tỷ trọng lớn nhất và giá mua thấp hơn giá gas nhập khẩu.

Tại thị trường phía bắc có hiện có 30 nhà cung cấp gas và có 7 đơn vị cung cấp sản phẩm gas công nghiệp, trong đó phải kể đến những cái tên như Công ty cổ phần kinh doanh khí hóa lỏng miền Bắc, Công ty TNHH Shell Việt Nam, An Pha Petrol là những đối thủ lớn, cạnh tranh trực tiếp với PGC. Khóa luận: Thực trạng kế hoạch Marketing cho sản phẩm Gas.

2.2.1.1. PV Gas North

Công ty Cổ phần kinh doanh Khí hóa lỏng Miền Bắc (PV Gas North), tiền thân là Xí nghiệp kinh doanh sản phẩm Khí hóa lỏng Miền Bắc được thành lập 11/2016 là doanh nghiệp thành viên Công ty Chế biến và Kinh doanh sản phẩm khí, nay là Tổng Công ty Khí, thuộc Tập đoàn Dầu Khí Quốc Gia Việt Nam.

Ngay từ khi thành lập, Công ty đã xác định mục tiêu trở thành doanh nghiệp hàng đầu về kinh doanh khí hóa lỏng trên thị trường Miền Bắc và Miền Trung (kể từ Đà Nẵng trở ra). Thực hiện chủ trương tăng tốc phát triển của Tập Đoàn Dầu Khí Quốc gia Việt Nam và chiến lược phát triển của Tổng Công ty Khí, PV Gas North đã xây dựng chiến lược phát triển đến năm 2015 và định hướng đến năm 2025: Xây dựng PV Gas North thành công ty mạnh của Tổng Công ty Khí và Tập Đoàn dầu Khí, là công ty kinh doanh gas hàng đầu tại khu vực Miền Bắc và Miền Trung về qui mô, thị trường, vốn, khả năng hợp tác, hội nhập cạnh tranh trong nước và khu vực; đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 12% năm trong giai đoạn 2024 – 2025; và 17% năm trong giai đoạn 2024 – 2010; đẩy mạnh công tác đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong giai đoạn 2024 – 2010; xây dựng tổng kho LPG miền Bắc tại Khu công nghiệp Đình Vũ – Hải Phòng – Hà Tĩnh với sức chứa 3500 tấn, Tổng kho LPG tại Đà Nẵng với sức chứa 3000 tấn.

Là thành viên của Tập Đoàn Đầu Khí Quốc gia Việt Nam, PV Gas North có lợi thế rất lớn bới nhận được sự chỉ đạo sát sao và giúp đỡ của Tổng Công ty Khí Và tập Đoàn Dầu Khí Quốc gia Việt Nam. Thêm vào đó, PV Gas North còn có hệ thống phân phối đã được xây dựng và phát triển tại tất cả các tỉnh miền Bắc, từ hệ thống đại lý gas dân dụng, gas công nghiệp đến các trạm chiết nạp gas quy mô lớn cũng như các kho đầu nguồn để tiếp nhận hàng. Đội ngũ kỹ sư của công ty có trình độ cao, nhiều kinh nghiệm trong việc lắp đặt và vận hành các hệ thống cung cấp gas cho các nhà máy sản xuất lớn. Công ty cũng đang áp dụng nhiều chính sách với khách hàng công nghiệp: tư vấn sản phẩm đến khách hàng, thực hiện miễn phí cho khách hàng từ khâu vận chuyển, lắp đặt, kiểm tra chất lượng… Thành lập năm 2016, công ty có một bất lợi khi tham gia vào thị trường gas công nghiệp muộn hơn các đối thủ cạnh tranh. Điều này khiến công ty gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm khách hàng so với các đối thủ khác đã có quá trình phát triển và kinh doanh lâu dài hơn.

2.2.1.2. Shell Việt Nam

Shell đã có mặt tại Việt Nam từ những năm trước 1975. Shell chiếm lĩnh 70% thị trường xăng dầu ở phía Nam lúc đó. Với sự ra đời của luật đầu tư, Shell là một trong những công ty dầu khí đầu tiên quay trở lại để đầu tư vào Việt Nam và được giao một số hợp đồng phân chia sản phẩm để thăm dò dầu khí ngoài khơi Việt Nam từ năm 1988.

Các hoạt động tiếp thị & phát triển kinh doanh (hạ nguồn) bắt đầu vào năm 1989 với văn phòng đại diện Shell Internation tại Hà Nội và chi nhánh tại Thành Phố Hồ Chí Minh (1993). Shell Việt Nam hoạt động dưới với 5 công ty thành viên trong 4 ngành chính. Đầu năm 2018, bốn công ty độc lập của Shell trong ngành nhựa Bi-tum, hóa chất, dầu nhờn, khí hóa lỏng, đã hợp lại thành một công ty TNHH Shell Việt Nam. Khóa luận: Thực trạng kế hoạch Marketing cho sản phẩm Gas.

Shell Việt Nam cung cấp nhiều sản phẩm và dịch vụ đa dạng, như các sản phẩm khí hóa lỏng (LPG), dầu mỡ nhờn cho nhiều ngành công nghiệp, dịch vụ và người tiêu dùng, các sản phẩm chống thấm, hóa chất công nghiệp và nhựa trải đường trên khắp đất nước.

Phương châm của Shell là giúp cho cuộc sống tất cả chúng ta được cải thiện, qua những chương trình đầu tư bền vững, luôn chú trọng bảo vệ đến môi sinh, sức khoẻ và an toàn. Trong kinh doanh, Shell không chỉ chú trọng đến hiệu quả lợi nhuận mà luôn đặt lợi ích của con người và trái đất lên trên hết.

Shell Việt Nam là thành viên của tập đoàn Shell International – công ty hàng đầu thế giới về dầu khí và năng lượng. Đó là lợi thế rất lớn của Shell Việt Nam, nhất là về nguồn vốn đầu tư và việc kế thừa các ứng dụng công nghệ từ tập đoàn mẹ. Shell Việt Nam cũng là một trong những doanh nghiệp kinh doanh gas đầu tiên tại thị trường Việt Nam và cũng là doanh nghiệp luôn đi đầu trong việc nghiên cứu, ứng dụng thành công các mô hình cung cấp gas mới.

Tuy nhiên, giá sản phẩm được xem là 1 điểm yếu của Shell Việt Nam bởi nguồn hàng của công ty chủ yếu là được nhập khẩu do đó giá vốn hàng bán và chi phí bán hàng thường cao hơn các đối thủ cạnh tranh.

2.2.1.3. Công ty Cổ phần Dầu khí An Pha

Tháng 5/2020, Công ty cổ phần Dầu khí An Pha S.G thành lập văn phòng với vai trò là chi nhánh ở khu vực miền Bắc. Đến tháng 4/2021, Công ty đăng ký Giấy phép kinh doanh và thành lập Trụ sở công ty tại Hà Nội chính thức lấy tên là Công ty Cổ phần Dầu khí An Pha. Công ty kinh doanh trong lĩnh vực khí đốt hóa lỏng, chuyên nhập và tồn trữ gas, cung cấp gas công nghiệp. Ngoài ra, Công ty còn cung cấp dịch vụ cho thuê kho để tồn trữ gas.

Phương châm của công ty là lấy khách hàng làm trung tâm phục vụ, luôn đảm bảo tốt nhất dịch vụ cho khách hàng từ bán buôn (giao tại kho) cũng như bán lẻ (giao tận nơi theo yêu cầu) và cả khách hàng thuê kho.

Với thế mạnh về cơ sở vật chất và nguồn hàng, kho cảng LPG Đình Vũ là chỗ dựa vững chắc cho sự phát triển thị trường bán lẻ và khẳng định vị thế của Tập đoàn An Pha Petrol ở phía Bắc. Ngoài ra, An Pha Petrol còn đưa ra được mức giá cạnh tranh so với các doanh nghiệp cùng ngành. Có được điều này là do Công ty có sự hậu thuẫn rất lớn của Công ty mẹ Công ty cổ phần Dầu khí An Pha S.G – một trong những doanh nghiệp kinh doanh gas lớn nhất khu vực phía Nam. Đội ngũ cán bộ của công ty được đào tạo bài bản và có nhiều kinh nghiệm trong bán hàng cũng như kỹ thuật lắp đặt, bảo trì các thiết bị gas.

Tại thị trường phía Bắc, An Pha Petrol là thương hiệu mới,được ít người tiêu dùng biết đến. Công thêm vào đó, do mới thành lập vào năm 2020 nên hệ thống kho bãi và các trạm chiết nạp gas còn nhiều hạn chế đã gây những khó khăn không nhỏ cho Công ty trong việc mở rộng thị trường. Khóa luận: Thực trạng kế hoạch Marketing cho sản phẩm Gas.

2.2.2. Khách hàng

Như đã phân tích ở mục Sản lượng sản phẩm (Bảng 4), giá trị dịch vụ qua các năm, mặc dù năm 2024 có sự sụt giảm trong tiêu thụ gas công nghiệp nhưng số lượng sản phẩm gas công nghiệp bán ra vẫn giữ ở mức xếp xỉ 2/3 sản lượng toàn công ty. Tại thị trường phía Bắc hiện nay, công ty đang có ưu thế khá lớn trong cung cấp sản phẩm gas công nghiệp bởi ngoài nguồn hàng và giá cả ổn định, công ty còn có hệ thống kho bãi và liên kết được với các nhà vận chuyển có hệ thống xe bồn lớn mạnh. Chính vì những lý do đó nhiều khách hàng lớn đã chọn công ty là nhà cung cấp. Nhiều hợp đồng cung cấp LPG đã được ký với các khách hàng lớn như hợp đồng cung cấp sản phẩm có thời hạn 3 năm với Công ty Gốm Bạch Mã (7.000 tấn/năm), Công ty bóng đèn Điện Quang (5000 tấn/năm), hợp đồng cung cấp có thời hạn 5 năm với Công ty liên doanh Gạch ý – Mỹ (3.200 tấn/năm)…

Ngoài ra, công ty còn cung cấp sản phẩm cho nhiều khách hàng công nghiệp lớn có uy tín trên thị trường Việt Nam như: Công ty Sản xuất Thương mại Kim Phong (10.000 tấn/năm), Công ty Gạch Đồng Tâm (4.800 tấn/năm), Công ty SHIJAR Việt Nam (4.200 tấn/năm), Công ty Cosevco Đà Nẵng (3.600 tấn/năm), Công ty Sứ Hải Dương (2.000 tấn/năm).

2.2.3. Đối thủ tiềm ẩn

Do đặc thù của ngành kinh doanh LPG, doanh nghiệp muốn tham gia vào thị trường phải đầu tư rất lớn vào hệ thống kho bãi, đội xe bồn vận chuyển cũng như hệ thống chiết nạp ga. Hơn thế nữa do nguồn cung cấp trong nước là hạn chế, doanh nghiệp mới tham gia vào ngành nếu không ký kết được hợp đồng với nhà cung cấp trong nước sẽ phải nhập khẩu phần lớn hàng từ nước ngoài. Điều này sẽ làm tăng giá vốn hàng bán và chi phí bán hàng khiến doanh nghiệp khó cạnh tranh về giá. Rào cản về công nghệ và nhà cung cấp là khá lớn khiến các doanh nghiệp muốn gia nhập ngành gặp rất nhiều khó khăn.

Tuy nhiên, công ty cũng cần đặc biệt lưu ý đến các đối thủ mạnh ở thị trường phía Nam: Công ty TNHH một thành viên Dầu khí Thành Phố Hồ Chí Minh (Saigon Petrol), Công ty TNHH Gas Sài Gòn, Công ty cổ phần năng lượng Đại Việt…Đây là những doanh nghiệp có tiềm lực lớn và đang rất phát triển tại thị trường phía Nam. Các doanh nghiệp này đều đang có kế hoạch mở rộng và phát triển thị trường ra khu vực miền Trung cũng như miền Bắc.

2.2.4. Nhà cung cấp

Bảng 6: Nguồn hàng của Gas Petrolimex năm 2022 – 2024

Nhập khẩu Mua nội Tổng
Số lượng (tấn) Tỷ lệ (%) Số lượng (tấn) Tỷ lệ (%)
Năm 2022 61.116 54,60 50.821 45,40 111.937
Năm 2023 79.759 82,25 17.759 18,31 96.970
Năm 2024 70.541 71,93 27.535 28,08 98.075

(Nguồn: Phòng Xuất nhập khẩu, Công ty cổ phần Gas Petrolimex) Khóa luận: Thực trạng kế hoạch Marketing cho sản phẩm Gas.

Hiện nay, lượng hàng nhập khẩu của công ty chiếm gần 15% lượng gas nhập khẩu của Việt Nam. Với tỷ trọng này và là một trong những công ty đầu tiên tham gia thị trường gas Việt Nam, và đã có uy tín đáng kể tại thị trường khu vực, công ty đã xây dựng được mối quan hệ với hầu hết các nhà cung cấp tại khu vực bao gồm: PTT (Hãng xăng dầu quốc gia Thái Lan), Petronas (Hãng xăng dầu quốc gia Malaysia), Shell (Singapore), Nissho-Iwai, Poten&Partner, SK, LG-Caltex, E1 (Hàn Quốc), Unique Gas (Thái Lan), Worldgas (Thái Lan), Petredex (Singapore), CPC (Đài Loan), Sojitz (Nhật Bản).

Bên cạnh việc tổ chức tốt nguồn hàng nhập ngoại đáp ứng nhu cầu kinh doanh của mình, công ty luôn coi trọng xây dựng quan hệ đối tác tin cậy với nhà sản xuất duy nhất tại Việt Nam là Công ty chế biến và kinh doanh các sản phẩm khí (PV Gas). Sản lượng sản xuất LPG sản xuất hàng năm của đơn vị này khoảng 300.000 tấn. Do mối quan hệ tốt đẹp giữa hai đơn vị được thiết lập ngay từ khi PV Gas mới đi vào hoạt động và do thị phần chi phối của công ty tại thị trường nội địa, hiện công ty đang là một trong ba đơn vị được nhận gas nội địa với tỷ trọng lớn nhất (xấp xỉ 16%). Vì vậy, đầu vào của công ty ổn định hơn cả so với hầu hết các công ty khác trong ngành.

2.2.5. Sản phẩm thay thế

Hiện nay, khí hoá lỏng (gas), dầu đốt (FO và DO) và than đá là 3 loại nhiên liệu được dùng phổ biến trong các ngành công nghiệp.

Dầu DO (dầu Diesel) là một loại nhiên liệu lỏng, sản phẩm tinh chế từ dầu mỏ có thành phần chưng cất nằm giữa dầu hỏa và dầu bôi trơn. Chúng thường có nhiệt độ bốc hơi từ 175 đến 370 độ C. Các nhiên liệu Diesel nặng hơn, với nhiệt độ bốc hơi 315 đến 425 độ C còn gọi là dầu FO (dầu Mazut).

Ưu điểm của dầu FO và DO là giá thành rẻ, khi cháy tạo ra một lượng nhiệt năng lớn và phù hợp với nhiều lò nung, lò đốt sử dụng công nghệ cũ mà nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn dùng trong sản xuất. Tuy nhiên các nhà máy sản xuất sử dụng 2 loại nhiên liệu này thường gây ô nhiễm môi trường bởi lượng khí thải CO2 là rất lớn. Bên cạnh đó, do các thiết bị sử dụng FO và DO tại Việt Nam hiện nay hầu hết đều ứng dụng những công nghệ cũ nên hiệu quả thấp nên chi phí nhiên liệu cao và gây ô nhiễm môi trường. Chi phí chuyển đổi để có thể sử dụng công nghệ mới nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng và giảm lượng khí thải là rất lớn. Khóa luận: Thực trạng kế hoạch Marketing cho sản phẩm Gas.

Ngoài ra còn phải kể đến công nghệ sản xuất nhiên liệu từ cao su phế thải cho ra các sản phẩm dầu DO-R (thay thế DO), dầu FO-R (thay thế FO). Ưu điểm của công nghệ này là tận dụng được nguồn cao su phế thải như vỏ xe cũ, đế dép… góp phần làm sạch môi trường; qui trình sản xuất hầu như không có khí thải và rác thải; dây chuyền khép kín thuận lợi trong việc vận hành và đạt hiệu suất cao. Sản phẩm ra lò có giá cả cạnh tranh hơn, luôn thấp hơn DO và FO thông thường ít nhất 10%, đồng thời tiêu thụ ít hơn do nhiệt lượng cao hơn và đặc biệt không ô nhiễm môi trường.

Hiện nay, nhiều doanh nghiệp sản xuất nhỏ tại Việt Nam vẫn còn sử dụng than đá bằng cách đốt trực tiếp để sinh ra nhiệt năng bởi chi phí nhiên liệu rẻ và ít phải đầu tư cho trang thiết bị. Nhưng cách sử dụng than đá như trên gây ô nhiễm môi trường rất lớn do khí thải với hàm lượng CO2 lớn hầu như không được xử lý – thải trực tiếp ra môi trường. Vì vậy, một số doanh nghiệp đã áp dụng công nghệ khí hóa than với nhiều ưu điểm nổi bật vào sản xuất.

Khí hoá than là quá trình chưng cất than đá tại mức độ cao nhất trong buồng kín để chuyển hoá thành nhiệt hoá học ở thể khí (khí than) có giả trị cao. Đó là một quả trình hoá học nhiệt lượng, nó hoàn toàn không giống với việc đốt cháy than đá. Do vậy, quá trình đó không gây ô nhiễm môi trường và có ưu điểm sau:

  • Chủ động nguồn nguyên liệu trong nước.
  • Tiết kiệm bất ngờ về chi phí nhiên liệu đến 50 – 70% so với dùng gas và 40 – 50% so với dùng dầu.
  • Đầu tư tiết kiệm hơn nhiều so với công nghệ nhiệt năng khác.
  • Dễ sử dụng, ít phải bảo dưỡng – sửa chữa.

Đây là công nghệ mới được áp dụng tại Việt Nam từ năm 2022 do đó những doanh nghiệp áp dụng là còn khá ít. Hiện tại, chỉ mới có 1 đơn vị nhập khẩu và cung cấp nhiều dây chuyền thiết bị đồng bộ và kỹ thuật khí hoá than là Công ty Cổ phần Thiết bị Tân Phát.

III. Phân tích SWOT Khóa luận: Thực trạng kế hoạch Marketing cho sản phẩm Gas.

Từ những phân tích môi trường bên trong cũng như môi trường bên ngoài trên đây, có thể rút ra được các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của Công ty cổ phần Gas Petroimex như sau:

3.1. Điểm mạnh

Là công ty trực thuộc Tổng công ty xăng dầu Việt Nam Petrolimex, cũng như nhiều công ty trực thuộc khác, PGC có điều kiện thuận lợi bởi biểu tượng chữ P màu da cam từ lâu đã chiếm được lòng tin của người tiêu dùng trên toàn quốc. Điều này cũng góp phần mang lại thành công và vị thế vững chắc của Gas Petrolimex trên thị trường Gas Việt Nam.

Trên thị trường toàn quốc, công ty chiếm thị phần lớn (khoảng từ 17% – 20%) trong tổng số 100 đơn vị kinh doanh gas. Riêng đối với sản phẩm Gas công nghiệp, Gas Petrolimex là công ty tiên phong trong việc cung cấp sản phẩm này và đang là nhà cung cấp lớn và uy tín nhất tại thị trường phía Bắc công ty.

Sản phẩm của công ty luôn ổn định về chất lượng, tạo cho khách hàng sự tin cậy. Đặc biệt đối với những khách hàng công nghiệp lớn có hợp đồng cung cấp vài nghìn tấn một năm, chất lượng sản phẩm cao là một lý do họ ký kết hợp đồng cung cấp lâu dài với PGC.

Gas Petrolimex là đơn vị kinh doanh khí hóa lỏng có hệ thống kho bể hiện đại có sức chứa lớn. Khi giai đoạn 2 của công trình kho Đình Vũ – Hải Phòng hoàn thành, công ty sẽ có hệ thống kho tiếp nhận, tồn chứa và phân phối khí hóa lỏng lớn nhất khu vực phía Bắc.

  • Đội ngũ kỹ thuật viên giàu kinh nghiệm luôn sẵn sàng giúp đỡ khách hàng lắp đặt và bảo trì các thiết bị.
  • Là đơn vị duy nhất trong ngành kinh doanh Gas tham gia một số tổ chức như: Hiệp hội Gas thế giới (World LPG Association), Hiệp hội gốm xứ Việt Nam…

3.2. Điểm yếu Khóa luận: Thực trạng kế hoạch Marketing cho sản phẩm Gas.

Điểm yếu lớn nhất của công ty cần kể đến là giá cả sản phẩm. Trên cả hai lĩnh vực gas dân dụng và gas công nghiệp, khả năng cạnh tranh về giá với các đối thủ cùng ngành của công ty là thấp. Mức giá chênh lệch khi tính trên đơn vị 1 kilogram gas là không nhiều nhưng đối với hàng nghìn tấn gas thì lại là một khoản chênh lệch lớn khiến khách hàng phải cân nhắc khi lựa chọn nhà cung cấp.

Công ty không chủ động được về nguồn cung và bị động về giá khi có biến động giá đột biến (năm 2024, 72% sản lượng là nhập khẩu và 28% mua nội địa từ PV Gas)

Do không được tập trung đầu ty và duy trì đúng mức, công tác quản lý đã bộc lộ nhiều hạn chế, ảnh hưởng trực tiếp tới tình hình kinh doanh của công Đội ngũ quản lý làm việc thiếu hiệu quả và kém linh hoạt đã không đưa ra được những quyết định kịp thời trong hoàn cảnh giá gas nhập khẩu biến động và việc cắt giảm lượng tiêu thụ của các khách hàng công nghiệp.

Cơ cấu tổ chức của Công ty cổ phần Gas Petrolimex thiếu hợp lý. Mặc dù việc phân chia công việc giữa các phòng ban trên cơ cấu là rõ ràng nhưng đôi khi trong thực tế công việc vẫn còn có các trường hợp giải quyết công việc chồng chéo. Điều này có thể thấy rõ nhất ở hai phòng Quản lý kỹ thuật và Công nghệ đầu tư.

3.3. Cơ hội

Năm 2025, kinh tế Việt Nam được dự đoán sẽ đi vào ổn định và lấy lại đà tăng trưởng vào năm 2010. Điều này là một tín hiệu đáng mừng bởi khi các doanh nghiệp phục hồi sản xuất thì sản lượng tiêu thụ gas công nghiệp sẽ tăng trở lại.

Nhu cầu sử dụng gas công nghiệp thay thế các nhiên liệu khác như dầu Diesel hay than đá đang ngày một tăng Ở một số lĩnh vực như chế tạo cơ khí – máy móc, công nghiệp đóng tàu, sản xuất vật liệu xây dựng… tiềm năng tăng trưởng sản lượng sản phẩm là rất lớn.

Việc thực hiện đề án thành lập Tổng công ty Cổ phần Gas Petrolimex hoạt động theo hình thức công ty mẹ – công ty con hứa hẹn tăng hiệu quả cũng như sự linh hoạt trong các hoạt động sản xuất kinh doanh.

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ nhằm hạn chế tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, các ngân hàng đã đưa ra nhiều chương trình hấp dẫn nhằm hỗ trợ doanh nghiệp bảo đảm sản xuất, kinh doanh, duy trì việc làm. Bên cạnh việc huy động hàng trăm nghìn tỷ đồng các ngân hàng đã thực hiện giảm lãi suất cho vay và đưa ra nhiều mức lãi suất hỗ trợ cho doanh nghiệp. Tùy vào từng ngân hàng mức lãi suất hộ trợ vào khoảng 4-5%/năm còn lãi suất sau hỗ trợ giành cho các doanh nghiệp xuất khẩu là 1-2%/năm.

3.4. Thách thức Khóa luận: Thực trạng kế hoạch Marketing cho sản phẩm Gas.

Nguồn cung cấp trong nước còn hạn chế, không đáp ứng được nhu cầu sử dụng gas cho sinh hoạt và sản xuất hiện tại. Nhà máy tách khí Dinh Cố thuộc Công ty PV Gas đã đạt công suất lớn nhất trong khi nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng, dẫn đến tình trạng các đơn vị kinh doanh gas phải tăng lượng nhập khẩu với giá cao hơn giá mua từ Dinh Cố. Ngay cả khi nhà máy lọc dầu Dung Quất vận hành với công suất 100% thì lượng khí đốt nhập khẩu vẫn chiếm đến 2/3 lượng tiêu thụ.

Thị trường LPG biến động thất thường khiến giá sản phẩm đầu vào không ổn định, gây khó khăn lớn trong công tác quản trị dự trữ hàng tồn kho.

Việc sang chiết gas trái phép, kinh doanh gas không an toàn, trốn thuế gian lận chưa có biện pháp hữu hiệu nào để cải thiện tình hình, gây ảnh hưởng xấu tới thị trường.

Công ty phải đối mặt với sự cạnh tranh mạnh mẽ của các công ty trong nước cũng như các công ty nước ngoài. Đặc biệt phải kể đến việc mở rộng thị trường ra phía Bắc của một số thương hiệu lớn về khí hóa lỏng tại phía khu vực

Các công nghệ mới ra đời như công nghệ khí hóa than hay công nghệ sản xuất nhiên liệu từ cao su phế thải… cũng tạo ra những đe dạo lớn đối với sản phẩm gas công nghiệp.

IV. Thực trạng hoạt động Marketing của công ty

Cho đến thời điểm hiện tại, Công ty cổ phần Gas Petrolimex chưa có bộ phận Marketing hoạt động độc lập. Việc xây dựng một kế hoạch Marketing cụ thể theo đúng quy trình chưa được tiến hành mà mới chỉ có thể thấy kết quả của việc nghiên cứu thị trường, các nội dung của chính sách sản phẩm, giá cả, phân phối, xúc tiến bán hàng được tóm tắt trong các báo cáo thường niên của công ty. Việc tham mưu cho Ban Tổng giám đốc những vẫn đề liên quan đến Marketing đều do Phòng Kinh doanh kiêm nhiệm. Vì vậy, mặc dù đưa ra được 4 chính sách theo 4 nội dung của một kế hoạch Marketing nhưng những chính sách này chỉ dừng lại ở mức độ tóm lược.

4.1. Chính sách sản phẩm Khóa luận: Thực trạng kế hoạch Marketing cho sản phẩm Gas.

Đối với mặt hàng kinh doanh chính là khí hóa lỏng, công ty luôn quan tâm và đặt chất lượng của sản phẩm lên hàng đầu (xem Phụ lục 1). Để đảm bảo hàng hóa đến tay khách hàng luôn đạt tiêu chuẩn chất lượng, công ty cam kết chỉ kế hợp đồng với các nhà cung có uy tín trong và ngoài nước. Năm 2024, nguồn hàng của công ty được nhập chủ yếu từ 3 nhà cung cấp chính là E1 (Hàn Quốc), Sojitz (Nhật Bản) và PV Gas. E1 và Sojitz là 2 nhà cung cấp lớn tại khu vực châu Á đã có quan hệ hợp tác lâu dài với công ty; còn đối với nhà cung cấp nội địa PV Gas, Công ty cổ phần Gas Petrolimex đánh giá cao và luôn chú trọng xây dựng mối quan hệ đối tác tin cậy với nhà sản xuất duy nhất tại Việt Nam này. Vì vậy, nguồn hàng của công ty luôn đảm bảo đủ về số lượng và đạt các yêu cầu về chất lượng.

Phòng Quản lý kỹ thuật của công ty có nhiệm vụ thường xuyên kiểm tra chất lượng hàng hóa ngay từ đầu vào. Việc kiểm tra chất lượng này được tiến hành riêng cho từng lô hàng ngay khi hàng cập cảng, tiến hành định kỳ hàng quý tại các tổng kho hoặc đột xuất bằng việc lấy mẫu ngẫu nhiên tại các trạm sang triết gas của công ty. Điều này hạn chế tối đa việc hàng kém chất lượng bị bỏ sót.

Các thiết bị tồn chứa gas đi kèm cũng được chú trọng ngay từ khâu lắp đặt ban đầu cho tới bảo trì, sửa chữa sau này. Sản phẩm gas bình cung cấp tới khách hàng là loại bình 12kg, 13kg, và 48kg trước khi xuất xưởng đều phải được các cơ quan giám định kiểm định và cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn an toàn. Các bình chứa này theo quy định sau 5 năm lại được Trung tâm kiểm định kỹ thuật an toàn kiểm định và cấp phép lại, sau đó mới được tiếp tục lưu hành trên thị trường. Trên các vỏ bình gas của công ty đều có các thông tin được dập chìm bằng tiếng Anh như mã ký hiệu của bình, tiêu chuẩn thiết kế, thời điểm giám định, tên nhà sản xuất… Các bình gas lắp van của các hãng hàng đầu thế giới về sản xuất thiết bị cho khí hóa lỏng (Kosan – Đan Mạch, Comap – Pháp) và có con niêm nhựa màu da cam niêm phong bình. Điều này để đảm bảo quyền lợi của khách hàng luôn được sử dụng sản phẩm chính hãng và hạn chế việc sang chiết gas lậu gây ảnh hưởng đến thương hiệu Gas Petrolimex. Đối với sản phẩm gas công nghiệp, các bồn chứa lắp đặt và chế tạo đều đạt tiêu chuẩn của Mỹ (đối với bồn chứa nhập khẩu) hoặc được tham khảo tiêu chuẩn về các thiết bị chịu lực của Việt Nam (đối với hàng sản xuất trong nước), vật liệu chế tạo là thép đặc biệt chịu áp lực cao. Các thiết bị đi kèm như đồng hồ đo áp suất, thiết bị cảnh báo rò gas, van điều lượng, van an toàn… đều nhập khẩu từ Mỹ hoặc Nhật Bản. Tất cả các bình gas dân dụng cung cấp ra thị trường đều có một màu thống nhất là xanh da trời, mặt trước dán logo của công ty là biểu tượng chữ P màu da cam và dòng chữ Gas Petrolimex. Với các bồn chứa công nghiệp được công ty lắp đặt và sản xuất, logo được sơn lên thân bồn ở vị trí dễ quan sát.

Bên cạnh đó, để chính sách sản phẩm đạt hiệu quả cao nhất, công ty đã phát hành cuốn “Sổ tay khí đốt hóa lỏng” năm 2017, đóng vai trò như một cuốn cẩm nang cho toàn bộ cán bộ, công nhân viên của công ty tham khảo. Cuốn sách giới thiệu về tiêu chuẩn chất lượng khí hóa lỏng, các tiêu chuẩn kỹ thuật của các thiết bị dùng gas cũng như hướng dẫn cách lắp đặt bình gas dân dụng và quy trình thao tác lắp đặt bồn chứa cho các khách hàng công nghiệp…Bên cạnh các kỹ năng liên quan đến lắp đặt và vận hành thiết bị, công ty còn chú trọng tới việc đào tạo cho nhân viên kỹ năng giải quyết các tình huống cháy nổ, rò rỉ gas, giải đáp thắc mắc của khách hàng…Chi tiết thông số kỹ thuật của các thiết bị nêu trong cuốn sách là cơ sở để nhân viên chào hàng các thiết bị, đồng thời là căn cứ kiểm định trong quá trình vận hành, bảo trì. Khóa luận: Thực trạng kế hoạch Marketing cho sản phẩm Gas.

4.2. Chính sách giá cả

Thị trường Gas tại Việt Nam trong vài năm trở lại đây là một trong những lĩnh vực cạnh tranh gay gắt trong đó bao gồm cả cạnh tranh về giá. Mặc dù vậy, chính sách giá của công ty luôn xác định mức giá phù hợp với thị trường trên cơ sở khả năng tài chính của công ty nhưng vẫn phải đảm bảo chất lượng sản phẩm và quy trình kiểm định an toàn. So với các doanh nghiệp kinh doanh cũng ngành, giá Gas Petrolimex cao hơn đó là do chất lượng sản phẩm luôn đảm bảo và việc thực hiện đầy đủ các yêu cầu về an toàn từ việc chuyên chở, sang triết gas đến lắp đặt cho khách hàng. Hiện nay, công ty đang cam kết và hợp tác cùng một số doanh nghiệp kinh doanh gas lớn trong vấn đề điều chỉnh giá để bình ổn thị trường gas nhằm đảm bảo hài hoà các lợi ích giữa người tiêu dùng và nhà phân phối. Công ty xác định giá bán theo định hướng đảm bảo hiệu quả kinh doanh, tăng khả năng cạnh tranh và đảm bảo tính chủ động cho hệ thống phân phối.

Để thực hiện những mục tiêu trên, công ty đưa ra cơ chế giá riêng cho 2 sản phẩm gas dân dụng và gas công nghiệp. Phòng Kinh doanh của công ty cũng có 2 bộ phận quản lý sản phẩm gas dân dụng và gas công nghiệp riêng biệt. Các quyết định liên quan đến giá cả của Ban Tổng giám đốc hay việc thông tin giá đầu vào từ Phòng Xuất nhập khẩu tổng hợp sẽ được đưa thẳng đến 2 bộ phận này.

Đối với gas dân dụng, dựa trên giá hàng nhập kho, các chi phí vận chuyển, đóng bình, kiểm tra an toàn, các chi phí về thuế (đối với hàng nhập khẩu), phí bảo hiểm… các cán bộ phòng kinh doanh sẽ đưa ra một mức giá bán trung bình. Sau đó, tùy theo biến động của thị trường vào thời điểm tương ứng và các cam kết với các doanh nghiệp lớn khác về bình ổn giá gas, bảng giá điều chỉnh sẽ được trưởng Phòng Kinh doanh xem xét và trình Ban Tổng giám đốc kí duyệt. Sau đó biểu giá mới sẽ được chuyển tới Hệ thống cửa hàng bán lẻ tại Hà Nội. Giá này cũng được áp dụng khi bán buôn gas bình dân dụng cho các khách hàng là Tổng đại lý nhưng trên tổng hóa đơn sẽ có mức chiết khấu. Các công ty con trực thuộc Công ty cổ phần Gas Petrolimex là những đơn vị kinh doanh và hạch toán độc lập nên mức giá do Phòng Kinh doanh đưa ra ở trên sẽ chỉ là căn cứ để các công ty này tham khảo và điều chỉnh lại để phù hợp với khu vực kinh doanh. Với những điều chỉnh giá nhỏ thì quy trình này diễn ra rất nhưng chóng nhưng khi thị trường có biến động bất thường khiến phải tăng hay giảm giá mạnh thì việc đưa ra quyết định từ Ban lãnh đạo tốn rất nhiều thời gian. Đôi khi một số điều chỉnh giá còn phải đưa ra cuộc họp của công ty. Chính điều này đã dẫn đến một số quyết định đưa ra không theo kịp sự biến động bất thường của thị trường khí hóa lỏng làm ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận của công ty. Như vậy, việc đưa điều chỉnh giá cho phù hợp với các khách hàng là hộ gia đình hay các khách hàng mua buôn là điểm hợp lý và đạt hiệu quả trong chính sách giá đối với sản phẩm gas bình dân dụng. Tuy nhiên, định hướng linh hoạt dựa theo biến động của thị trường lại không đạt được hiệu quả do các nguyên tắc cứng nhắc trong quá trình thực hiện công việc. Điều này khiến cho chính sách giá cả linh hoạt của công ty không đạt được hiệu quả. Khóa luận: Thực trạng kế hoạch Marketing cho sản phẩm Gas.

Với sản phẩm gas công nghiệp, các đơn đặt hàng thường có thời hạn từ 3 đến 5 năm và lấy mức giá tại thời điểm ký kết hợp đồng làm căn cứ điều chỉnh theo biến động của thị trường sau này. Tuy nhiên, việc thông báo giá của trong từng lần giao hàng như hiện nay đang bộc lộ nhiều bất cập. Điều này là do các khách hàng sử dụng gas công nghiệp là các nhà máy, doanh nghiệp sản xuất lớn, việc lập kế hoạch sản xuất cho từng tháng, từng quý đối với họ là rất quan trọng. Giá nhiên liệu đầu vào liên tục biến động như trên sẽ gây ra khó khăn lớn trong việc tính toán các chi phí, nhất là khi giá chi phí tăng quá cao ảnh hưởng lớn đến giá sản phẩm đầu ra. Chính vì lý do này, trong thời gian tới cần có chính sách giá cả hài hòa giữa lợi ích của khách hàng và công ty. Chính sách giá đối với sản phẩm gas công nghiệp cũng có một điểm nổi bật đáng lưu ý, đó là việc đưa ra nhiều phương thức khác nhau để khách hàng có thể lựa chọn khi thanh toán. Ví dụ như đối với các hợp đồng lắp đặt bồn chứa khí hóa lỏng, các thiết bị đi kèm và cung cấp gas sau lắp đặt thì khách hàng có thể trả một lần ngay khi công ty bàn giao hệ thống hoặc giá trị đầu tư có thể thu hồi dần xác định trên mỗi tấn gas cung cấp sau này. Hầu hết, các khách hàng công nghiệp mà công ty đang cung cấp sản phẩm đều tập trung tại khu vực phía Bắc nên công ty cũng chưa đưa ra mức giá theo vùng miền. Đối với khách hàng ở các khu vực miền Trung, Tây Nguyên, miền Nam nếu khả năng của các công ty con có thể thực hiện hợp đồng thì công ty sẽ tiến hành giới thiệu khách hàng với các công ty con hoặc nếu công ty trực tiếp thực hiện hợp đồng thì mức giá sẽ được tính toán riêng dựa trên mức giá nhập tại cảng kho đầu mối gần nhất và chi phí chuyên chở.

4.3. Chính sách phân phối

Hệ thống kênh phân phối của công ty được tổ chức theo hướng năng động, linh hoạt, tăng cường việc kiểm soát các đối tượng thuộc kênh phân phối, giải quyết thoả đáng mâu thuẫn giữa các kênh phân phối, tạo sức mạnh toàn hệ thống trong việc thỏa mãn tốt nhu cầu của khách hàng trong tương quan với các đối thủ cạnh tranh. Sản phẩm gas của công ty đang được cung cấp dưới các hình thức bán lẻ, bán buôn, qua các đại lý và qua các công ty khác. Hiện tại, công ty đang sử dụng 2 phương thức phân phối là phương thức phân phối trực tiếp tới các khách và phương thức phân phối gián tiếp thông qua trung gian. Các kênh phân phối được xây dựng dựa trên đặc thù của ngành kinh doanh khí hóa lỏng và sự khác biệt giữa phương thức tiếp cận khách hàng gas dân dụng và gas công nghiệp. Bên cạnh đó, việc tổ chức kênh như hiện tại cũng giúp công ty giữ được mối quan hệ với các công ty thành viên khác trong Tổng công ty xăng dầu và đảm bảo sản phẩm của công ty có diện bao phủ lớn nhất đến các vùng sâu, vùng xa qua các Tổng đại lý tự do. Khóa luận: Thực trạng kế hoạch Marketing cho sản phẩm Gas.

Hình 7: Sơ đồ hệ thống kênh phân phối

Kênh thứ nhất: Công ty cung cấp sản phẩm cho các công ty thành viên của Tổng Công ty xăng dầu Việt Nam để các đơn vị này cung cấp ra thị trường: lượng bán qua kênh hiện nay là 22.209 tấn, chiếm 23,45% sản lượng bán ra của công ty. Kênh này phản ánh nhiệm vụ của công ty như là công ty chuyên doanh gas của Tổng Công ty xăng dầu Việt Nam. Đây là kênh có vai trò quan trọng thuộc hệ thống phân phối của công ty trong việc tiếp cận khách. Cung cấp sản phẩm qua kênh này luôn đảm bảo an toàn về mặt tài chính và đảm bảo sự thống nhất giữa nhiệm vụ kinh doanh của công ty với các công ty thuộc Tổng công ty. Có thể nhận thấy rõ ràng kênh phân phối này giúp cho công ty giành được lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ cùng ngành hàng. Trên thực tế, ngoài sản phẩm gas bình, công ty đã giành được nhiều hợp đồng cung cấp gas công nghiệp cho các khách hàng công nghiệp với khối lượng lớn nhờ tận dụng các mối quan hệ tốt của các đơn vị thành viên Tổng Công ty xăng dầu Việt Nam với chính quyền địa phương sở tại. Đồng thời kênh phân phối này cũng tạo ra khả năng cạnh tranh cao hơn cho Gas Petrolimex so với các công ty kinh doanh gas khác cùng ngành; vì từ trước đến nay, các công ty này chủ yếu phân phối sản phẩm qua hệ thống Tổng đại lý tự do và đại lý tư nhân.

Kênh thứ hai: công ty cung cấp sản phẩm tới các Tổng đại lý tự do (các đơn vị không phải là thành viên của Tổng Công ty xăng dầu Việt Nam). Lượng bán qua kênh này chiếm khoảng 12,31% sản lượng bán ra của công ty năm 2024. Kênh phân phối này được phát triển xuất phát từ những hạn chế của kênh phân phối thứ nhất về tính linh hoạt, tận dụng được kinh nghiệm của các đối tác và chia se rủi ro trong kinh doanh. Sự ra đời của kênh phân phối này đã góp phần nâng cao sản lượng bán ra, tạo động lực trong hoạt động kinh doanh của các đơn vị thuộc kênh thứ nhất do hệ thống này phải chịu sức ép cạnh tranh từ kênh phân phối thứ hai.

Kênh thứ ba: công ty cung cấp trực tiếp sản phẩm đến đến hệ thống 22 cửa hàng trực thuộc để từ đây cung cấp cho khách hàng (Phụ lục 2). Đối với kênh cung cấp này thì sản phẩm chủ yếu là gas dân dụng đóng bình 12kg, 13kg và 48kg, chỉ chiếm 3,5% lượng hàng cung cấp trên thị trường năm 2024. Hệ thống cửa hàng bán lẻ trên địa bàn Hà Nội ra đời đảm bảo việc quảng bá hình ảnh và thương hiệu của công ty đến người tiêu dùng. Bên cạnh đó, việc tự mở hệ thống cửa hàng bán lẻ sẽ giúp khách hàng tiếp cận được với sản phẩm chính hãng với mức giá cạnh tranh và hạn chế các sản phẩm nhái nhãn mác, gas sang triết lậu. Kênh phân phối trực tiếp này còn góp phần làm giảm quyền lực của các Tổng đại lý tự do.

Kênh thứ tư: đây là kênh phân phối trong đó công ty cung cấp trực tiếp cho khách hàng. Hiện nay, lượng hàng bán qua kênh này chiếm khoảng 60,74% sản lượng bán ra. Kênh này chủ yếu áp dụng đối với khách hàng công nghiệp và được thiết kế xuất phát từ đặc thù của khách công nghiệp là yêu cầu đơn vị cung cấp gas phải thiết kế và lắp đặt hệ thống cung cấp gas, trợ giúp kỹ thuật thường xuyên, kịp thời với giá cả cạnh tranh. Hiện nay đây là kênh ngắn nhất của công ty, nhờ đó mà công ty có thể giảm tối đa các chi phí chuyên chở, lưu kho trung gian, nắm bắt kịp thời nhu cầu của khách hàng, hạn chế sự xâm nhập của các đối thủ cạnh tranh.

4.4. Chính sách xúc tiến bán hàng Khóa luận: Thực trạng kế hoạch Marketing cho sản phẩm Gas.

Nhận thức sâu sắc về vấn đề thương hiệu, công ty đã nỗ lực xây dựng và quảng bá thương hiệu của mình đối với khách hàng. Biểu tượng chữ P màu da cam từ lâu đã được người tiêu dùng tin tưởng chính là lợi thế lớn nhất của công ty khi là một thành viên trực thuộc Tổng công ty xăng dầu Việt Nam. Kế thừa và phát huy lợi thế này, thông qua các hoạt động truyền thông như báo chí, phát thanh, hội chợ thương mại… công ty đã đưa thương hiệu Gas Petrolimex tới đông đảo người tiêu dùng trong cả nước.

Tuy nhiên trong những năm gần đây, công ty có phần xem nhẹ hoạt động quảng bá hình ảnh. Với sự cạnh tranh gay gắt của hàng loạt thương hiệu như Shell gas, Vinagas, Total, Thanglong… thị phần của công ty trong toàn ngành đang bị đe dọa nghiêm trọng. Có thể thấy sau một thời gian đầu tư cho hoạt động quảng cáo thì hiện nay hoạt động của công ty này chỉ diễn ra lẻ tẻ thông qua một số quảng cáo trên báo giấy, panel quảng cáo ngoài trời, in ấn lịch hàng năm và một hợp đồng quảng cáo trên xe bus được ký với Xí nghiệp xe điện Hà Nội (hết hạn năm 2024). Lý do của vấn đề này là giống như hầu hết các công ty thành viên trực thuộc Tổng công ty xăng dầu Việt Nam, các công ty này thường chỉ tiến hành hoạt động quảng cáo trong thời gian đầu thành lập và sau đó gần như ngừng hẳn do tự tin ở sức mạnh của biểu tượng chữ P màu da cam. Bên cạnh các hoạt động quảng cáo thì lần gần đây nhất Công ty cổ phần Gas Petrolimex tham gia một hội trợ triển lãm để khuếch chương thương hiệu là Triển lãm Expo Việt Nam năm 2022.

Bên cạnh đó, các công cụ quan trọng trong hoạt động PR cũng chưa được công ty đầu tư thỏa đáng. Lần cuối cùng công ty tài trợ cho một sự kiện văn hóa thể thao là năm 2017, tài trợ cho Đội tuyển bóng đá nữ trong khuôn khổ Seagames 21. Trong khi đó, đối thủ hàng đầu của công ty là PV Gas đang thực hiện rất tốt chiến dịch PR khi tiếp tục trở thành nhà tại trợ độc quyền V-League 2025. Trang web của công ty ra đời năm 2023 chỉ mới cập nhật được các tin tức liên quan đến tài chính còn các bản tin nội bộ hay phần tin tức giới thiệu sản phẩm của công ty còn rất sơ sài. Nhìn vào con số gần 60 nghìn lượt truy cập tính đến thời điểm hiện nay có thể thấy trang web này vẫn chưa thu hút được sự chú ý của khách hàng, các đối tác cũng công chúng quan tâm đến hoạt động của công ty.

Công ty cũng đã xây dựng phương thức bán hàng nhằm phát triển thị trường thông qua chính sách hỗ trợ đầu tư ban đầu cho khách hàng. Đối với lĩnh vực dân dụng, thông qua các chương trình khuyến mại, công ty đã thực hiện giảm giá các thiết bị ban đầu, tặng ruột gas cho lần mua sắm đầu tiên nhằm tạo thị trường cho quá trình cung cấp sau này. Trong quá trình sử dụng sản phẩm của công ty, khách hàng còn được tặng kèm các vật dụng hữu ích như đế để bình gas, nước rửa bếp hay tạp dề nấu ăn… Năm 2023, đối với khách hàng là các hộ gia đình, công ty của đã tiến hành phát sổ theo dõi việc sử dụng gas có in đầu đủ đại chỉ và địa thoại của các cửa hàng bán lẻ trực thuộc. Động thái trên là để đối phó với việc một số đối tượng giả danh đến các hộ gia đình bảo trì bếp gas miễn phí đã dán đề số điện thoại của cửa hàng họ lên bình gas của công ty gây nhầm lẫn cho khách hàng. Cuốn sổ này cũng rất hữu ích trong việc theo dõi tình hình sử dụng gas,chi tiêu của các hộ gia đình và giúp công ty dễ dàng hơn nếu cần thống kê nhu cầu sử dụng của khách hàng. Ngoài các chính sách chiết khấu giảm giá áp dụng cho sản phẩm gas công nghiệp, do phần vốn đầu tư ban đầu tương đối lớn, công ty đã hoạt động như đơn vị cho thuê tài chính và cam kết không tìm kiếm lãi trên phần vốn đầu tư ban đầu, đồng thời công ty cũng đưa ra nhiều tuỳ chọn khác để khách hàng có thể lựa chọn hình thức thanh toán phù hợp với khả năng của mình.

V. Đánh giá chung về hoạt động Marketing của Công ty cổ phần Gas Petrolimex Khóa luận: Thực trạng kế hoạch Marketing cho sản phẩm Gas.

5.1. Nhận xét chung

Hoạt động Marketing không được công ty chú trọng và đầu tư đúng mức. Công ty không có bộ phận phụ trách Marketing nên các chính sách đưa ra là do các cán bộ phòng kinh doanh tự xây dựng dựa trên việc theo dõi tình hình biến động của thị trường, sản lượng sản phẩm và thực tế quá trình công việc. Các chính sách về sản phẩm, giá cả, phân phối và xúc tiến đưa ra chỉ mang tính nhất thời và được đưa ra dưới dạng tóm tắt trong các báo cáo Tổng kết hàng năm và định hướng phát triển năm tiếp theo của công ty. Do vậy, việc thực hiện các nội dung trên chỉ mang tính tự phát, khi áp dụng vào thực tế đã không mang lại hiệu quả như mong đợi.

Bên cạnh đó việc đưa ra các chính sách trên còn khá chung chung, chưa cụ thể. Công ty cũng không đưa ra được những giải pháp làm thế nào để có thể thực hiện các chính sách sản phẩm, giá cả, phân phối và xúc tiến bán hàng một cách hiệu quả nhất. Nghiên cứu thị trường mới chỉ cho thấy tình hình của thị trường cũng những dự đoán về mức độ tăng trưởng nhu cầu của khách hàng chứ chưa thực sự thu thập được các thông tin về đối thủ cạnh tranh, nhất là các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn.

Tuy nhiên, chúng ta cũng phải thấy được Gas Petrolimex đã làm tốt một số việc liên quan đến việc kiểm tra chất lượng sản phẩm, quản lý quá trình đóng bình gas, tổ chức được một hệ thống kênh phân phối hợp lý… Việc đề ra một chính sách giá linh hoạt nhưng khi thực hiện lại chưa có hiệu quả hay vấn đề xúc tiến bán hàng không được quan tâm và đầu tư có hiệu quả là hai trong những điểm yếu lớn nhất đang tồn tại trong công tác Marketing của công ty.

5.2. Vấn đề Marketing sản phẩm gas công nghiệp Khóa luận: Thực trạng kế hoạch Marketing cho sản phẩm Gas.

Công ty chưa nhận thức được mức độ cạnh tranh ngày càng khốc liệt tại thị trường gas công nghiệp và chưa xây dựng được kế hoạch Marketing cụ thể với sản phẩm này. Một số vấn đề về hoạt động Marketing sản phẩm gas công nghiệp được đề cập trong các Báo cáo thường niên dưới dạng tóm tắt, còn lại các dữ liệu thu thập về thực trạng hoạt động này được chủ yếu là dữ liệu sơ cấp từ việc phỏng vấn các cán bộ phụ trách mảng gas công nghiệp của Phòng Kinh doanh.

Quy trình quản lý chất lượng hiện tại áp dụng với cả 2 sản phẩm gas công nghiệp và gas dân dụng cho thấy hiệu quả cao. Công ty chưa gặp phải bất cứ thắc mắc, khiếu nại nào liên quan đến việc hàng hóa kém chất lượng từ các khách hàng công nghiệp. Ngoài việc cung cấp gas công nghiệp là mặt hàng chủ lực thì cung cấp các thiết bị đi kèm với sản phẩm cũng là một nguồn thu lớn của công ty. Đối với các loại bồn chứa lắp đặt cho khách hàng công nghiệp, công ty cũng có được nguồn cung cấp từ các nhà sản xuất trong nước với giá thành thấp hơn nhưng vẫn đảm bảo các yêu cầu về kỹ thuật. Tuy nhiên, hệ thống van điều áp, van an toàn, hệ thống cảnh báo rò rỉ gas… mà công ty chào hàng đều được nhập khẩu từ Mỹ hoặc Nhật nên giá thành còn khá cao. Do vậy, trong thời gian tới công ty cần đa dạng hóa nguồn hàng, mang tới cho khách hàng nhiều lựa chọn với giá cả phong phú hơn.

Chính sách giá cả áp dụng với sản phẩm gas công nghiệp hiện tại còn bất cập, chưa hài hòa được lợi ích của công ty với lợi ích của khách hàng. Thêm vào đó, việc điều chỉnh giá phải qua phê duyệt của nhiều cấp như hiện nay đã khiến sự linh hoạt của chính sách giá giảm đi rõ rệt

Điểm sáng lớn nhất có thể thấy trong hoạt động Marketing của công ty là việc xây dựng được một hệ thống phân phối hợp lý, hiệu quả, đảm bảo tiếp cận mọi đối tượng khách hàng. Kênh phân phối trực tiếp đến khách hàng công nghiệp là kênh ngắn nhất, không thông qua trung gian, giúp công ty có thể chào hàng với mức giá cạnh tranh nhất. Hiện tại, công ty đang hợp tác với Công ty cổ phần thương mại và vận tải Petrolimex Hà Nội trong việc vận chuyển khí hóa lỏng bằng xe tec chuyên dụng.

Về xúc tiến hoạt động bán hàng, có thể nói Gas Petrolimex mới chỉ thực hiện tốt việc này ở mặt chính sách chiết khấu giảm giá áp dụng cho khách hàng công nghiệp, trong khi đó việc quảng bá sản phẩm lại bộc lộ nhiều yếu kém. Việc quảng bá sản phẩm gas công nghiệp còn bị xem nhẹ. Phần lớn các khách hàng đều tự tìm đến với công ty bởi thương hiệu Petrolimex nói chung và Gas Petrolimex nói riêng có ảnh hưởng lớn trên thị trường kinh doanh xăng dầu và khí đốt. Đây không phải là một chính sách khôn ngoan khi mức độ cạnh tranh tại thị trường gas công nghiệp là ngày một gia tăng và áp lực của khách hàng trong việc đàm phán về mặt giá cả và chất lượng đang tăng lên rõ rệt. Việc tìm kiếm khách hàng mới với công ty cũng là khá quan trọng bởi bên cạnh cung cấp gas, công ty còn có cơ hội ký được những hợp đồng xây dựng bồn chứa cũng như cung cấp các loại máy bơm gas, hệ thống điều áp, hệ thống cảnh báo rò gas… Đây là những sản phẩm đi kèm không thể thiếu khi sử dụng gas vào hoạt động sản xuất. Khóa luận: Thực trạng kế hoạch Marketing cho sản phẩm Gas.

5.3. Về đội ngũ nhân lực

Hiện tại công ty chưa có phòng Marketing hay bộ phận chuyên trách vấn đề này. Các vấn đề thuộc chiến lược sản phẩm, giá, phân phối và xúc tiến thương mai đều do phòng kinh doanh phụ trách. Trong các cán bộ làm việc tại phòng kinh doanh hiện nay, có 2 người có bằng đại học về chuyên ngành Marketing và hiện đang phụ trách mảng gas dân dụng. Đây là một điều rất lãng phí bởi họ không phát huy được hết năng lực chuyên môn trong khi các cán bộ phụ trách sản phẩm gas công nghiệp không có ai được đào tạo bài bản về Marketing. Vì vậy, các cạn bộ này thường chỉ làm theo cảm tính chủ quan và không hiểu rõ bản chất của Marketing. Có một số cán bộ mới chỉ nhận thức được Marketing là chính sách giá (giảm giá ra sao và vào thời điểm nào) và các hoạt động khuyến mãi để kích thích lượng sản phẩm tiêu thụ. Chính do nhận thức sai lầm này mà các hoạt động thuộc mảng Marketing của công ty không có hiệu quả rõ rệt. Có thể nói đội ngũ nhân viên Marketing của công ty còn thiếu và yếu. Một vấn đề nữa đặt ra là các làm việc cứng nhắc ở một số bộ phận. Nhân viên chưa được giao quyền mà còn nặng về thừa hành mệnh lệnh từ cấp trên. Điều này cũng giải thích lý do vì sao công ty đưa ra cơ chế giá linh động từ rất lâu nhưng việc thực hiện lại không có hiệu quả. Các điều chỉnh đưa ra đều phải qua nhiều cấp phê duyệt đã khiến cho việc điều chỉnh nhiều khi không theo kịp được biến động của thị trường. Khóa luận: Thực trạng kế hoạch Marketing cho sản phẩm Gas.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Giải pháp xây dựng kế hoạch Marketing sản phẩm Gas

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x