Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng truyền thông marketing tại Thư viện Trường hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng hoạt động truyền thông marketing tại Trung tâm Thông tin – Thư viện, Trường Đại học Luật Hà Nội dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Khái quát về trung tâm thông tin thư viện của Trường Đại học Luật Hà Nội
2.1.1. Vài nét về trường Đại học Luật Hà Nội
2.1.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Trường Đại học Luật Hà Nội được thành lập theo Quyết định số 405/CP ngày 10 tháng 11 năm 1979 của Hội đồng Chính phủ trên cơ sở hợp nhất Khoa Pháp lý của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và Trường Cao đẳng Pháp lý Việt Nam. Lúc đó, Trường có tên là Trường Đại học Pháp lý Hà Nội với nhiệm vụ: “Quyết tâm đưa Trường Đại học Pháp lý Hà Nội trở thành trung tâm đào tạo cán bộ pháp lý, trung tâm nghiên cứu khoa học pháp lý và trung tâm truyền bá pháp lý”.
Trong những năm đầu khi mới thành lập và bước vào hoạt động, Trường gặp rất nhiều khó khăn: Tổ chức bộ máy của Trường còn sơ khai, cơ sở vật chất nghèo nàn, địa điểm ở xa trung tâm Hà Nội (tại xã Duyên Thái, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây cũ); quy mô tuyển sinh của Trường chỉ hạn chế ở 3 bậc đào tạo là trung cấp, cao đẳng và đại học với số lượng nhỏ.
Đến năm 1982, đáp ứng yêu cầu tăng cường đào tạo cán bộ pháp luật, Bộ Tư pháp đã quyết định mở rộng quy mô Trường và thống nhất một đầu mối đào tạo nguồn nhân lực pháp luật ở Việt Nam bằng cách sáp nhập Trường Trung học chuyên nghiệp Pháp lý I và Trường Cán bộ Tòa án Hà Nội vào Trường Đại học Pháp lý Hà Nội.
Trong sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế, Trường đã được mang tên gọi mới là Trường Đại học Luật Hà Nội (theo Quyết định số 369/QĐ-BTP ngày 06/7/1993 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp).
Trải qua 40 năm phấn đấu không ngừng của các thế hệ cán bộ, giảng viên, Trường Đại học Luật Hà Nội đã phát triển khá toàn diện, vững chắc, xứng đáng là cơ sở đào tạo cán bộ pháp luật lớn nhất của cả nước với đội ngũ giảng viên là các nhà khoa học có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao, năng lực, phẩm chất tốt; cơ sở vật chất ngày càng được cải thiện, đáp ứng yêu cầu đào tạo cán bộ pháp luật cho đất nước trong tiến trình hội nhập quốc tế và phát triển bền vững.
Ngày 04 tháng 4 năm 2013 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 549/QĐ-TTg phê duyệt Đề án xây dựng Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh thành trường trọng điểm đào tạo cán bộ về pháp luật. Thực hiện Đề án 549, từ năm 2013 đến nay, Trường đã có những bước phát triển vượt bậc với đội ngũ cán bộ, giảng viên vững mạnh; hệ thống chương trình, giáo trình, phương pháp đào tạo tiên tiến; cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị, cơ sở thực hành và thư viện hiện đại, có mô hình quản trị tiên tiến, không ngừng khẳng định vị trí của cơ sở đào tạo hàng đầu và vai trò dẫn đầu trong mạng lưới cơ sở đào tạo luật của Việt Nam. Khóa luận: Thực trạng truyền thông marketing tại Thư viện Trường.
Trong suốt chặng đường hình thành và phát triển, Trường Đại học Luật Hà Nội luôn quan tâm duy trì đảm bảo chất lượng đào tạo, chia sẻ kinh nghiệm và hợp tác với các cơ sở đào tạo luật trong cả nước, xứng đáng là đơn vị đi đầu trong hệ thống đào tạo Luật ở Việt Nam. Ngày 21 tháng 9 năm 2019, Trường Đại học Luật Hà Nội được gần 70 cơ sở đào tạo Luật của Việt Nam bầu là Trưởng ban điều hành mạng lưới cơ sở đào tạo luật của Việt Nam nhiệm kỳ 2019 – 2022.
Năm 2020, Trường Đại học Luật Hà Nội đã ban hành Chiến lược phát triển Trường đến năm 2030 trong đó định hướng phát triển Trường trở thành cơ sở giáo dục đại học định hướng nghiên cứu; trường trọng điểm về đào tạo pháp luật, trung tâm nghiên cứu và truyền bá tư tưởng pháp lý hàng đầu của Việt Nam, có vị thế trong khu vực Đông Nam Á và trên thế giới.
Ngày 30/9/2022, Phó Thủ tướng thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh đã ký Quyết định số 1156/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án tổng thể “Tiếp tục xây dựng Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh thành các trường trọng điểm đào tạo cán bộ về pháp luật”. Mục tiêu tổng quát của Đề án là “Tiếp tục tập trung nguồn lực xây dựng Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh thành các trường trọng điểm đào tạo cán bộ về pháp luật; trung tâm nghiên cứu và truyền bá pháp lý hàng đầu trong các cơ sở đào tạo pháp luật của Việt Nam, có vai trò dẫn dắt trong hệ thống các cơ sở đào tạo luật của cả nước, có uy tín trong khu vực Đông Nam Á và thế giới.”
2.1.1.2. Sứ mạng, tầm nhìn, giá trị cốt lõi và khẩu hiệu hành động
Sứ mạng: Trường Đại học Luật Hà Nội có sứ mạng đào tạo nguồn nhân lực pháp luật chất lượng cao; nghiên cứu, chuyển giao các sản phẩm khoa học pháp lý có chất lượng cao và truyền bá tư tưởng pháp lý phục vụ sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Tầm nhìn đến năm 2030: Trường Đại học Luật Hà Nội trở thành cơ sở giáo dục Đại học định hướng nghiên cứu; trường trọng điểm về đào tạo pháp luật, trung tâm nghiên cứu và truyền bá tư tưởng pháp lý hàng đầu của Việt Nam, có vị thế trong khu vực Đông Nam Á và trên thế giới.
Giá trị cốt lõi: Hướng đến con người, chất lượng, thương hiệu và hội nhập.
Khẩu hiệu hành động: Chất lượng cao tạo nên giá trị bền vững.
2.1.1.3. Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ của trường
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức Trường Đại học Luật Hà Nội
Trường Đại học Luật Hà Nội hiện có với 319 giảng viên, giáo viên cơ hữu (chiếm 65,2% trên tổng số viên chức, người lao động toàn trường). Trong đó, về trình độ: gồm có 04 giáo sư – chiếm 1,25%, 37 phó giáo sư – chiếm 11,6%, 96 tiến sĩ – chiếm 30,1%.
Trường có khoảng 53 giảng viên có thể giảng dạy bằng tiếng Anh đối với chương trình đào tạo cử nhân Luật thương mại quốc tế, chương trình cử nhân Luật chất lượng cao và nhiều giảng viên có khả năng giảng dạy trực tiếp bằng tiếng Pháp, tiếng Nga và tiếng Đức. Ngoài ra, đội ngũ giảng viên của nhà trường còn tham gia hoạt động xây dựng pháp luật của Bộ Tư pháp thông qua Trung tâm tư vấn pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội.
Trường hiện có đội ngũ giảng viên, chuyên gia thỉnh giảng đông đảo, có kiến thức chuyên môn trình độ, kinh nghiệm thực tiễn từ các cơ sở đào tạo, nghiên cứu có uy tín trong và ngoài nước, đơn vị chuyên môn của Bộ Tư pháp, các cơ quan xây dựng pháp luật, áp dụng pháp luật và bảo vệ pháp luật, luật sư, chuyên gia thực tiễn trong các lĩnh vực pháp luật.
2.1.1.4. Các ngành đào tạo
Trường Đại học Luật Hà Nội đào tạo 14 ngành bậc cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ. Trong đó, bậc cử nhân gồm 7 ngành: Ngành Luật, ngành Luật CLC, ngành Luật Kinh tế, ngành Luật Kinh tế CLC, Ngành Luật Thương mại Quốc tế, Ngành Ngôn ngữ Anh và Chương trình Liên kết Đào tạo với Đại học Arizona.
Bậc thạc sĩ và tiến sĩ đào tạo 7 ngành gồm: Ngành Luật dân sự và tố tụng dân sự, ngành Luật hiến pháp và luật hành chính, ngành Luật kinh tế, ngành Luật quốc tế, ngành Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm và ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật. Khóa luận: Thực trạng truyền thông marketing tại Thư viện Trường.
2.1.2. Tổng quan về Trung tâm Thông tin – Thư viện
2.1.2.1. Lịch sử phát triển
Trung tâm thông tin thư viện Trường Đại học Luật Hà Nội (Tên tiếng Anh: Hanoi Law University Library Information Centre – HLULIC) có quá trình hình thành và phát triển gắn liền với lịch sử phát triển của Nhà trường. Từ năm 1976 – 1988: Thư viện là một tổ trực thuộc phòng Giáo vụ của các cơ sở đào tạo (Khoa Luật Đại học Tổng hợp Hà Nội, Trường Cao đẳng Pháp lý Việt Nam, Trường Cán bộ Tòa án). Từ năm 1982 – 1988, thư viện thuộc phòng Thông tin Khoa học Trường Đại học Pháp lý Hà Nội. Ở giai đoạn này, hoạt động của Thư viện còn hạn chế do cơ sở vật chất thiếu thốn, vốn tài liệu nghèo nàn, số lượng cán bộ thư viện thiếu về số lượng, hạn chế về chuyên môn nghiệp vụ.
Từ năm 1988 – 1998: Thư viện chính thức là một đơn vị độc lập trực thuộc Ban Giám hiệu theo Quyết định số 49 ngày 21 tháng 1 năm 1988 của Hiệu trưởng Trường Đại học Pháp lý Hà Nội. Giai đoạn này, Thư viện hoạt động tại 2 cơ sở: Quán Gánh – Thường Tín và Láng Trung – Đống Đa – Hà Nội. Mặc dù làm việc trong điều kiện khó khăn, nhưng Thư viện vẫn tổ chức tốt hoạt động phục vụ bạn đọc tại 2 cơ sở. Hoạt động của Thư viện ngày một phong phú hơn gồm: xây dựng vốn tài liệu, phục vụ mượn giáo trình và tài liệu tham khảo, tổ chức hội nghị thông tin chuyên đề, biên soạn ấn phẩm thư mục, luân chuyển giáo trình đi phục vụ các cơ sở đào tạo tại chức từ Bắc vào Nam…
Năm 1993, Trường chính thức tập trung về một cơ sở tại Láng Trung – Đống Đa – Hà Nội. Đây là mốc lịch sử quan trọng cho sự phát triển tiếp theo của thư viện. Ngày 6/7/1993, Trường Đại học Pháp lý Hà Nội đổi tên thành Trường Đại học Luật Hà Nội.
Giai đoạn này, được sự quan tâm của Đảng ủy, Ban Giám hiệu nhà trường, cùng với sự nỗ lực của lãnh đạo và toàn thể viên chức trong đơn vị, Thư viện đã có những đóng góp tích cực cho sự phát triển chung của Trường.
Từ năm 1998 đến nay: Là giai đoạn Thư viện phát triển mạnh mẽ, toàn diện về mọi mặt nhằm thực hiện mục tiêu hiện đại hóa thư viện, xây dựng thư viện Trường Đại học Luật Hà Nội thành thư viện Luật hiện đại hàng đầu ở Việt Nam.
Ngày 24/12/2009, Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Hà Nội đã ban hành Quyết định số 2233/QĐ – TCCB thành lập Trung tâm Thông tin thư viện trên cơ sở Thư viện Trường.
Hình 2.1. Trung tâm Thông tin – Thư viện, trường Đại học Luật Hà Nội
Qua hơn 40 năm hình thành và phát triển, Trung tâm Thông tin thư viện đã có sự phát triển mạnh mẽ về mọi mặt. Ở giai đoạn mới thành lập, Thư viện có cơ sở vật chất và vốn tài liệu nghèo nàn. Nhưng đến nay, Thư viện đã có nguồn lực thông tin phong phú, đa dạng với gần 25.700 đầu tài liệu (186.000 cuốn) cùng cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng thông tin đồng bộ, hiện đại.
Từ năm 2008, Thư viện đổi mới mạnh mẽ công tác quản lý, vận hành thư viện trong đó nổi bật là công tác phục vụ bạn đọc với nhiều hoạt động: Chuyển đổi toàn bộ kho sách của phòng đọc từ kho kín sang kho mở tự chọn; tăng thời gian phục vụ tại phòng đọc lên 12 giờ/ngày, 72 giờ/tuần (từ thứ 2 tới thứ 7).
Hình 2.2. Phòng đọc 2, Trung tâm Thông tin – Thư viện
Thực hiện kế hoạch “Xây dựng Phòng phục vụ kiểu mẫu”; Sáp nhập quầy Lễ tân, Phòng đọc 1, Phòng đọc 2 thành “Quầy phục vụ một cửa”. Các kế hoạch đã mang lại những kết quả tích cực, đặt biệt là việc đổi mới cách thức phục vụ, lề lối, tác phong làm việc của đội ngũ cán bộ thư viện đồng thời tạo sự thân thiện, giảm thiểu các thủ tục đối với bạn đọc, tổ chức bộ máy linh hoạt, hiệu quả.
Tăng cường dịch vụ tư vấn, hỗ trợ bạn đọc với nhiều hình thức: tư vấn trực tiếp tại thư viện, qua điện thoại, Email, Facebook, Zalo.
Công tác đào tạo người dùng tin được chú trọng và trở thành hoạt động chuyên môn thường xuyên của đơn vị. Hiện tại, chương trình đào tạo người dùng tin gồm: Khóa học Kỹ năng thông tin dành cho sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh mới vào trường; Tập huấn sử dụng Cơ sở dữ liệu pháp luật trực tuyến Heinonline… cho bạn đọc có nhu cầu.
Triển khai hoạt động Marketing nhằm giới thiệu các sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện, quảng bá hình ảnh của thư viện đến bạn đọc… Khóa luận: Thực trạng truyền thông marketing tại Thư viện Trường.
Bên cạnh các hoạt động chuyên môn, thư viện duy trì tổ chức thành công nhiều sự kiện trong năm: Triển lãm “Thành tựu nghiên cứu khoa học của Trường Đại học Luật Hà Nội”; Ngày hội sách và văn hóa đọc, Tọa đàm giao lưu tác giả – tác phẩm, Hội nghị bạn đọc, Cuộc thi Đại sứ văn hoá đọc…
Với sự nỗ lực không ngừng, Thư viện đã tạo ra môi trường nghiên cứu học tập, làm việc thân thiện, tích cực cho cán bộ, giảng viên, sinh viên và học viên của Trường đồng thời góp phần không nhỏ vào sự phát triển chung của Trường Đại học Luật Hà Nội. Tập thể viên chức của Trung tâm Thông tin thư viện đã đạt được nhiều thành tích: Bằng khen Bộ trưởng, Tập thể Lao động xuất sắc nhiều năm liền.
2.1.2.2. Cơ cấu tổ chức và nhân lực thư viện
Cơ cấu tổ chức của Thư viện bao gồm: Ban Giám đốc và 13 viên chức đảm nhiệm các công việc khác nhau, trong đó Tổ Phát triển tài nguyên thông tin có nhiệm vụ xây dựng và thực hiện công tác truyền thông marketing các sản phẩm, dịch vụ thông tin tại trung tâm thông tin thư viện, Trường Đại học Luật Hà Nội.
Ban Giám đốc gồm Giám đốc và 01 Phó giám đốc. Giám đốc phụ trách chung, chịu trách nhiệm trước Hiệu trưởng về mọi hoạt động của Trung tâm; Phó giám đốc chịu trách nhiệm trước Giám đốc về các lĩnh vực chuyên môn được giao quản lý và trực tiếp phụ trách công tác phục vụ bạn đọc.
Tổ Phát triển tài nguyên thông tin gồm 05 cán bộ thư viện, có nhiệm vụ xử lý tài liệu; bổ sung; kiểm tra, sửa chữa, duyệt biểu ghi và tài liệu sau khi hoàn tất các khâu xử lý nghiệp vụ trước khi chuyển các kho phục vụ bạn đọc; xử lý các tài liệu dạng sách, luận án, luận văn, đề tài nghiên cứu khoa học và tài liệu hội thảo. Đồng thời có nhiệm vụ biên mục bài trích tạp chí, biên soạn các ấn phẩm thông tin, các loại thư mục; tổ chức các hoạt động triển lãm, tuyên truyền, giới thiệu sách, báo… Tổ Dịch vụ thông tin gồm 08 cán bộ thư viện làm việc tại bộ phận phòng đọc, phòng mượn có nhiệm vụ phục vụ bạn đọc đọc tại chỗ, mượn về nhà, tư vấn hỗ trợ bạn đọc tra cứu, sử dụng tài liệu và trang thiết bị tại thư viện, thực hiện các nhiệm vụ khác theo sự phân công của Ban Giám đốc.
Với vai trò là cầu nối giữa thư viện và bạn đọc, các cán bộ của trung tâm thông tin thư viện đã kết hợp với đội ngũ giảng viên của Nhà trường và các khoa ở các cơ sở giáo dục đào tạo cùng chuyên ngành nhằm thúc đẩy hoạt động của Trung tâm và nâng cao chất lượng giáo dục của Nhà trường. Hiện nay, trung tâm thông tin thư viện Trường Đại học Luật Hà Nội có tổng số 13 viên chức tốt nghiệp chuyên ngành Thông tin – Thư viện, Luật (trong đó có 02 Thạc sĩ thư viện, 01 Thạc sĩ luật).
2.1.2.3. Nguồn lực thông tin
Trong hoạt động thông tin thư viện, nguồn lực thông tin là yếu tố cấu thành nên hoạt động thư viện, đồng thời cũng là yếu tố có tầm quan trọng đặc biệt trong việc thỏa mãn nhu cầu tin của người dùng tin tạo nên chất lượng hiệu quả trong hoạt động thông tin thư viện.
Với hệ thống thư viện phong phú và đa dạng, cùng với các Cơ sở dữ liệu trực tuyến và các tài liệu điện tử, trung tâm thông tin thư viện cung cấp cho người dùng tin những nguồn tài liệu chất lượng và đầy đủ để hỗ trợ cho quá trình học tập, nghiên cứu và giảng dạy.
Nguồn lực thông tin tại trung tâm thông tin thư viện gồm: Nguồn lực thông tin truyền thống (sách, báo, tạp chí…), nguồn lực thông tin điện tử. Tổng số vốn tài liệu: 23.867 tên (190.908 cuốn); 11.905 tài liệu số, trong đó:
Bảng 2.1. Thống kê nguồn lực thông tin tại Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Luật Hà Nội tính đến ngày 19 tháng 10 năm 2023 Khóa luận: Thực trạng truyền thông marketing tại Thư viện Trường.
| TT | Bộ sưu tập | Thư mục | Thư mục (bản cứng) | Bản cứng | Thư mục bản mềm) | Bản mềm |
| 1 | Giáo trình | 873 | 780 | 42.838 | 147 | 147 |
| 2 | Sách tham khảo | 14.833 | 13.912 | 130.081 | 224 | 224 |
| 3 | Luận văn, luận án | 8.600 | 7.950 | 13.493 | 5.009 | 5.009 |
| 4 | Đề tài khoa học | 690 | 574 | 673 | 616 | 616 |
| 5 | Tài liệu Hội nghị, Hội thảo | 551 | 522 | 682 | 455 | 455 |
| 6 | Bài viết tạp chí | 44.496 | 0 | 0 | 4.616 | 4.772 |
| 7 | Đa phương tiện | 7 | 6 | 6 | 0 | 0 |
| 8 | Tạp chí | 196 | 123 | 3.135 | 2 | 423 |
| 9 | Sách | 124 | 0 | 0 | 123 | 123 |
| 10 | Án lệ và Bản án | 59 | 0 | 0 | 59 | 59 |
| 11 | Văn bản pháp luật | 405 | 0 | 0 | 398 | 398 |
| 12 | Tài liệu khác | 160 | 0 | 0 | 156 | 156 |
| Tổng số | 70.994 | 23.867 | 190.908 | 11.905 | 12.382 |
CSDL pháp luật trực tuyến Heinonline: Cơ sở dữ liệu được cung cấp bởi công ty William S. Hein & Co., Inc., trụ sở tại New York, Mỹ. Heinonline bao quát khối lượng thông tin rộng lớn với hơn 165 triệu trang tài liệu, bao gồm: 2600 tạp chí chuyên ngành luật và liên quan, tài liệu về các tạp chí luật; sách chuyên khảo luật; hiến pháp của các nước trên thế giới; hiệp định, điều ước quốc tế; các vụ án, án lệ (từ năm 1220 – 1867); các vụ kiện trên thế giới được Toà án Quốc tế, Toà án bang hay Toà án Liên bang của Mỹ, Anh xét xử đã hết hiệu lực, đang có hiệu lực hoặc đang còn nhiều quan điểm, ý kiến tranh cãi về những vụ kiện đó, hệ thống văn bản pháp luật của Liên Hợp Quốc,… Để phục vụ nhu cầu nghiên cứu, giảng dạy, học tập của giảng viên, học viên và sinh viên, Trường Đại học Luật Hà Nội đã mua quyền sử dụng 10 Bộ sưu tập trong Cơ sở dữ liệu Heinonline và cung cấp cho bạn đọc thông qua hệ thống máy tính tại thư viện, văn phòng của các khoa, bộ môn, phòng ban thuộc Trường. Để biết thêm thông tin, bạn đọc truy cập tới địa chỉ: http://heinonline.or. Khóa luận: Thực trạng truyền thông marketing tại Thư viện Trường.
- Nguồn tài liệu của Dự án Mutrap: 750 file tài liệu, bao gồm giáo trình, sách tham khảo; tài liệu hội thảo, các báo cáo nghiên cứu…
- Sách điện tử Oxford Scholarship Online: 105 tên – Cơ sở dữ liệu sách điện tử Oxford Scholarship Online (OSO) là một trong những bộ sưu tập sách điện tử nổi tiếng về chất lượng nội dung và tính cập nhật.
2.1.2.4. Sản phẩm và dịch vụ thông tin
Sản phẩm thông tin là kết quả của quá trình xử lý thông tin do cá nhân hoặc tập thể của cơ quan thông tin đó xử lý nhằm đáp ứng nhu cầu của người dùng tin. Ví dụ như xử lý tài liệu cấp một, xử lý tài liệu truyền thống và tài liệu hiện đại… Hiện tại trung tâm thông tin thư viện Trường có các sản phẩm thông tin: Bản tin thư viện, thư mục chuyên đề, thông báo sách mới, tài liệu truy cập mở.
Dịch vụ thông tin bao gồm các hoạt động của một cá nhân hoặc một cơ quan thông tin nhằm thỏa mãn nhu cầu tin của người dùng tin tại cơ quan thông tin đó.
Dịch vụ thông tin sẽ có tính đồng thời, tính vô hình, tính không đồng nhất và không thể tách rời hay chia cắt. Tại trung tâm thông tin thư viện có các dịch vụ thông tin: Đọc tại chỗ, mượn về nhà, số hóa tài liệu, photocopy tài liệu, internet và wifi, tư vấn hỗ trợ bạn đọc, đào tạo người dùng tin, mượn phòng thảo luận nhóm, mượn liên thư viện, sách điện tử của nhà xuất bản Oxford University Press, cung cấp tài liệu theo yêu cầu…
2.1.2.5. Cơ sở hạ tầng
Với sự tài trợ từ Dự án Sida của Chính phủ Thụy Điển, trung tâm thông tin thư viện đã có một diện mạo mới với cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin khang trang, hiện đại. Cơ sở vật chất của trung tâm thông tin thư viện bao gồm hệ thống giá kệ, xe đẩy sách, bàn ghế, thang, tủ tài liệu… được trang bị mới, đồng bộ. Hệ thống ánh sáng, điều hòa nhiệt độ, thông gió đảm bảo đủ ánh sáng, thoáng mát thuận tiện cho người dùng tin trong quá trình sử dụng thư viện. Các thiết bị ngoại vi được cung cấp đầy đủ để đáp ứng yêu cầu của công việc như cổng an ninh thư viện RFID, máy mượn trả tự động 24/7, máy nạp – khử từ, thiết bị kiểm kê tài liệu, đầu đọc mã vạch, máy in phiếu mượn tài liệu, máy photocopy, hệ thống camera giám sát, hệ thống phòng cháy chữa cháy… Cơ sở hạ tầng thông tin bao gồm hạ tầng mạng, hệ thống máy tính (5 máy chủ và 143 máy trạm) và các thiết bị khác. Trong đó, 103 máy tính trạm dành riêng cho bạn đọc tra cứu Cơ sở dữ liệu thư mục, tìm kiếm thông tin và tài liệu trên mạng Internet. Toàn bộ hệ thống máy tính được kết nối mạng LAN kiểu hình sao thông qua các HUB, Swiches. Đường truyền mạng thuê bao Internet tốc độ cao được sử dụng chung cho toàn bộ các máy tính kết nối tại Trường. Đồng thời, khu vực tòa nhà của Trung tâm cũng được trang bị hệ thống mạng không dây nhằm tạo nhiều điểm truy cập thông tin, phục vụ người dùng tin truy cập Internet từ máy tính cá nhân.
Các phòng làm việc của trung tâm thông tin thư viện được bố trí tại toà nhà D của Trường với tổng diện tích gần 1.500m2 bao gồm: 2 phòng đọc với khoảng 350 chỗ ngồi, phòng mượn sách giáo trình và tài liệu tham khảo, phòng đào tạo người dùng tin, phòng phát triển và tài nguyên thông tin, quầy lễ tân.
- TTTTTV được bố trí tại tòa nhà D, gồm 4 tầng với tổng diện tích 1.200m2.
- Tổng diện tích sử dụng: 845m2.
- Tầng 1: Phòng bổ sung biên mục, phòng mượn và phòng đọc 1.
- Tầng 2: Phòng giám đốc, phòng đọc 2.
- Tầng 3: Phòng thông tin.
- Tầng 4: Phòng đào tạo người dùng tin/thảo luận nhóm.
Hình 2.3. Sơ đồ Trung tâm Thông tin – Thư viện, trường Đại học Luật Hà Nội
2.1.2.6. Người dùng tin Khóa luận: Thực trạng truyền thông marketing tại Thư viện Trường.
Đối tượng người dùng tin của trung tâm thông tin thư viện chia thành ba nhóm gồm: Cán bộ lãnh đạo, quản lý; cán bộ nghiên cứu, cán bộ giảng dạy; sinh viên, học viên và nghiên cứu sinh đang công tác, học tập và nghiên cứu khoa học tại trường. Tác giả đã khảo sát 300 bạn đọc thuộc các nhóm người dùng tin, thu được 280 phiếu của bạn đọc thuộc nhóm sinh viên, học viên và nghiên cứu sinh đang công tác, học tập và nghiên cứu khoa học tại trường chiếm tỷ lệ 93.3% và 20 phiếu thược 02 nhóm ban đọc còn lại chiếm tỷ lệ 6.7%.
Biểu đồ 2.1. Nhóm người dùng tin tại TTTTTV, Trường Đại học Luật Hà Nội
- Cán bộ lãnh đạo, quản lý
Nhóm này gồm: Ban Giám hiệu, các trưởng/phó khoa chuyên môn, trưởng bộ môn. Họ là những người làm công tác quản lý, những người làm việc trong các phòng ban chức năng như: Phòng đào tạo, phòng công tác sinh viên… Nhóm người dùng tin này có độ tuổi chủ yếu từ 27 đến 40 tuổi. Đây là độ tuổi trưởng thành với kỹ năng chuyên môn ngày càng được vững chắc hơn theo thời gian. Một số lượng nhỏ người dùng tin trong nhóm này có độ tuổi trên 40 tuổi. Đây là những người làm công tác quản lý, giảng viên có thâm niên công tác dài với nhiều kinh nghiệm, kỹ năng chuyên môn tốt.
- Cán bộ nghiên cứu, cán bộ giảng dạy
Đây là nhóm người dùng tin trực tiếp làm công tác giảng dạy truyền đạt kiến thức cho sinh viên. Trong đó, có khá nhiều phó giáo sư, tiến sĩ, nghiên cứu sinh và thạc sĩ.
Họ có trình độ học vấn chuyên ngành để phụ trách giảng dạy các chuyên ngành thuộc các khoa khác nhau. Nhóm người dùng tin này bao gồm: các chuyên viên ở các phòng ban, các giảng viên trong trường. Mục đích chủ yếu của họ là tìm những tài liệu liên quan tới môn học mà mình giảng dạy, nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy đồng thời nghiên cứu thông tin tài liệu để nghiên cứu, xây dựng các đề tài khoa học. Mặt khác, nhóm người dùng tin này không chỉ sử dụng thông tin mà còn cung cấp thông tin qua những kết quả nghiên cứu đã đạt được trong quá trình sử dụng thông tin. Cụ thể đó là những bài giảng, giáo trình, luận văn, luận án, những sáng kiến cải tiến phương pháp giảng dạy và học tập, những kết quả công trình nghiên cứu khoa học… Chính vì thế tài liệu mà họ tìm kiếm đó chính là tài liệu nội sinh, các tài liệu tham khảo về chuyên ngành cùng các lĩnh vực khác hỗ trợ cho việc giảng dạy. Nhờ đó tạo điều kiện cho cán bộ trung tâm thông tin thư viện tiến hành lựa chọn, bổ sung tài liệu một cách hợp lý.
- Sinh viên, học viên và nghiên cứu sinh đang công tác, học tập và nghiên cứu khoa học tại trường
Đây là nhóm người dùng tin chiếm số lượng đông đảo nhất trong ba nhóm người dùng tin tại trung tâm thông tin thư viện, trường Đại học Luật Hà Nội. Số người dùng tin này có độ tuổi rất trẻ từ 18 đến 24 tuổi, chủ yếu là thanh niên đang độ tuổi trưởng thành. Họ rất ham học hỏi và khám phá những điều mới lạ. Nhu cầu tin của họ rất phong phú về nội dung, đa dạng về loại hình tài liệu. Hình thức phục vụ cho nhóm này chủ yếu là những thông tin phổ biến về những tri thức cơ bản dưới dạng các loại hình tài liệu như: sách giáo trình, báo cáo thực tập, bài nghiên cứu, bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành luật, sách chuyên khảo, văn bản pháp luật, luận án, luận văn và các loại hình tài liệu khác.
2.1.2.7. Nhu cầu tin của người dùng tin Khóa luận: Thực trạng truyền thông marketing tại Thư viện Trường.
TTTTTV không chỉ tập trung vào phát triển sản phẩm, dịch vụ thông tin mà còn chú trọng tới việc khảo sát nhu cầu sử dụng sản phẩm, dịch vụ thông tin của người dùng tin. trung tâm thông tin thư viện đã chú ý tới điều này để tìm hiểu các loại sản phẩm, dịch vụ thông tin mà người dùng tin quan tâm, sử dụng. Từ đó giúp trung tâm thông tin thư viện nắm bắt được nhu cầu của người dùng tin và đưa ra được những sản phẩm, dịch vụ thông tin, tiện ích nhằm đáp ứng đúng nhu cầu sử dụng của người dùng tin.
Với sự phát triển của công nghệ thông tin, nhu cầu về sản phẩm và dịch vụ thông tin của người dùng tin ngày càng tăng cao. Họ mong muốn có thể truy cập thông tin nhanh chóng, dễ dàng, từ nhiều nguồn khác nhau và được cá nhân hóa theo nhu cầu của họ. Tại trung tâm thông tin thư viện trường Đại học Luật Hà Nội, người dùng tin chủ yếu là sinh viên, học viên và nghiên cứu sinh đang công tác, học tập và nghiên cứu khoa học tại trường. Do vậy, họ sẽ có nhu cầu cập nhật các thông tin mới nhất về các văn bản pháp luật, tài liệu tham khảo, giáo trình…
Bảng 2.2. Nhu cầu về sản phẩm và dịch vụ thông tin của người dùng tin
| Nội dung | Số phiếu | Tỷ lệ (%) | |
| Sản phẩm thông tin | Cổng thông tin thư viện | 280 | 93.3 |
|
Mục lục thư viện điện tử (giao diện tra cứu, bộ sưu tập tài liệu trên cổng thông tin thư viện, cho phép bạn đọc tìm kiếm, tra cứu các nguồn tài liệu trong Thư viện) |
226 | 75.3 | |
| Thông báo sách mới | 59 | 19.7 | |
| Video/Bài giới thiệu sách | 34 | 11.3 | |
| Bản tin số về pháp luật | 54 | 18 | |
| Dịch vụ thông tin | I. Cung cấp tài nguyên thông tin tại thư viện | ||
| Đọc tài liệu tại chỗ | 289 | 96.3 | |
| Mượn tài liệu về nhà | 157 | 52.3 | |
| Cung cấp bản sao tài liệu (Photocopy) | 38 | 12.7 | |
| Mượn liên thư viện | 0 | 0 | |
| II. Cung cấp thông tin thư mục, chỉ dẫn thông tin | |||
| Khóa luận: Thực trạng truyền thông marketing tại Thư viện Trường. | Tư vấn, hỗ trợ bạn đọc | 127 | 42.3 |
| Cung cấp thông tin theo yêu cầu (Heinonline, cung cấp danh mục, thông tin tóm tắt tài liệu) | 45 | 15 | |
| III. Hỗ trợ tiện ích khai thác thư viện số | |||
| Khai thác tài liệu số | 207 | 69 | |
| Cấp tài khoản/khai thác cơ sở dữ liệu điện tử | 78 | 26 | |
| IV. Dịch vụ khác | |||
| Truy cập Internet, wifi | 218 | 72.7 | |
| Đào tạo người dùng tin | 70 | 23.3 | |
| Cung cấp phòng thảo luận nhóm | 62 | 20.7 | |
| Khác | 2 | 0.7 | |
Qua khảo sát thực tế tác giả nhận thấy người dùng tin chủ yếu quan tâm các sản phẩm thông tin: Cổng thông tin thư viện, mục lục thư viện điện tử (giao diện tra cứu, bộ sưu tập tài liệu trên cổng thông tin thư viện, cho phép bạn đọc tìm kiếm, tra cứu các nguồn tài liệu trong thư viện), thông báo sách mới, video/bài giới thiệu sách, bản tin số về pháp luật. Trong đó, để thỏa mãn nhu cầu về độ chính xác và nhanh chóng mà nhu cầu của người dùng tin về cổng thông tin thư viện (280 phiếu) chiếm tỷ lệ cao nhất là 93.3% do thư viện luôn duy trì công tác quản trị cổng thông tin thường xuyên, có kiểm duyệt nội dung trước khi đăng, thông tin đăng tải nhanh chóng, đa dạng, bao quát đầy đủ các hoạt động, sản phẩm, dịch vụ của thư viện. Và mục lục thư viện điện tử (226 phiếu) chiếm tỷ lệ 75.3% vì trung tâm thông tin thư viện luôn cập nhật và nâng cao chất lượng xử lý tài liệu các cơ sở dữ liệu thư mục về biểu ghi giáo trình, sách, luận án, luận văn, đề tài nghiên cứu khoa học, tài liệu hội thảo, bài viết tạp chí, tài liệu truy cập mở.
Tìm hiểu về nhu cầu sử dụng dịch vụ thông tin của người dùng tin cũng là một cách truyền thông marketing thu hút bạn đọc đến với thư viện. Và thư viện trường Đại học Luật Hà Nội đã đáp ứng tốt nhu cầu về dịch vụ thông tin của người dùng tin. Số liệu khảo sát cho thấy người dùng tin sử dụng nhiều nhất là dịch vụ đọc tài liệu tại chỗ (289 phiếu) chiếm tỷ lệ 96.3%; dịch vụ truy cập internet, wifi (218 phiếu) chiếm tỷ lệ 72.7%; dịch vụ khai thác tài liệu số (207 phiếu) chiếm 69%; dịch vụ mượn tài liệu về nhà (157 phiếu) chiếm tỷ lệ 52.3% và dịch vụ tư vấn hỗ trợ bạn đọc (127 phiếu) chiếm tỷ lệ 42.3%. Qua đó, tác giả cũng thu được kết quả khảo sát về mức độ hài lòng của người dùng tin về các sản phẩm thông tin trên. Các chỉ số cho thấy cổng thông tin thư viện đạt mức rất hài lòng (159 phiếu) chiếm tỷ lệ 56.7% do luôn được duy trì công tác quản trị cổng thông tin thường xuyên, có kiểm duyệt nội dung trước khi đăng, thông tin đăng tải nhanh chóng, đa dạng, bao quát đầy đủ các hoạt động, sản phẩm, dịch vụ của thư viện. Tuy nhiên, thỉnh thoảng cổng thông tin bị mất kết nối, ảnh hưởng đến việc tìm tài liệu, khai thác tài liệu số của Người sử dụng thư viện. Do vậy mà chỉ số về công thông tin thư viện đạt mức rất hài lòng chỉ chiếm tỷ lệ 42.9% (120 phiếu). Tỷ lệ người dùng tin đánh giá rất hài lòng (87 phiếu) chiếm tỷ lệ 38.5% và hài lòng (138 phiếu) chiếm tỷ lệ 61.1% về mục lục thư viện điện tử do trong quá trình sử dụng người dùng tin nhận thấy các thông tin trên mục lục thư viện điện tử đầy đủ, chính xác, từ khoá phù hợp với chủ đề tài liệu. Khóa luận: Thực trạng truyền thông marketing tại Thư viện Trường.
Như vậy, kết quả thu được sản phẩm thông tin mà người dùng tin sử dụng nhiều nhất là cổng thông tin thư viện (chiếm tỷ lệ 93.3% tổng số người dùng tin) và dịch vụ thông tin được sử dụng nhiều nhất là đọc tài liệu tại chỗ (chiếm tỷ lệ 96.3% tổng số người dùng tin).
Theo báo cáo về hoạt động marketing sản phẩm dịch vụ và đánh giá chất lượng phục vụ năm 2023 của trung tâm thông tin thư viện, Trường Đại học Luật Hà Nội như sau:
- Lượt Người sử dụng thư viện ra vào thư viện từ tháng 1/2023 đến tháng 11/2023 so với cùng kì năm 2022, số lượng người dùng tin ra vào thư viện tăng gần gấp 2 lần.
- Lượt Người sử dụng thư viện mượn trả tủ gửi đồ tăng gấp hơn 1,5 so với năm 2022.
- Phục vụ mượn tài liệu so với cùng kì của năm 2022 tăng gấp gần 2 lần.
Dựa theo số liệu trong báo cáo và kết quả tác giả khảo sát được chỉ số rất hài lòng và hài lòng về dịch vụ đọc tại chỗ (186 phiếu, chiếm tỷ lệ 64.6%), mượn về nhà (95 phiếu, chiếm tỷ lệ 61.7%) và khai thác tài liệu số (94 phiếu, chiếm tỷ lệ 48.4%) cũng đạt ở mức rất cao. Tuy nhiên, dịch vụ truy cập internet, wifi lại có đánh giá ở mức không hài lòng khá cao (30 phiếu) chiếm tỷ lệ 14.9%, điều đó cho thấy hệ thống internet và wifi của thư viện chưa được tốt.
2.2. Các yếu tố môi trường tác động đến hiệu quả hoạt động truyền thông marketing tại trung tâm thông tin thư viện của Trường Đại học Luật Hà Nội Khóa luận: Thực trạng truyền thông marketing tại Thư viện Trường.
2.2.1. Môi trường bên ngoài
Môi trường bên ngoài bao gồm các yếu tố về chính trị – văn hóa – xã hội, khoa học công nghệ… mà thư viện không thể tác động hay kiểm soát được nhưng nó lại ảnh hưởng đến thư viện.
Về yếu tố chính trị: Tác động mạnh mẽ đến hoạt động truyền thông marketing tại thư viện. Do các văn bản pháp luật, chính sách của nhà nước về phát triển văn hóa đọc, khuyến khích ứng dụng công nghệ thông tin ảnh hưởng đến sự nhận thức về văn hóa đọc của người dùng tin. Quy định pháp luật về bản quyền, sở hữu trí tuệ, xuất bản tác động đến nhu cầu và hành vi của bạn đọc. Môi trường chính trị, an ninh trật tự sẽ tác động đến tư tưởng và thói quen của họ.
Về yếu tố văn hóa – xã hội: Yếu tố này sẽ tác động trực tiếp đến mức độ tiếp cận thông tin của từng cá nhân, sự hình thành nhận thức trong tâm lý của người dùng tin. Từ đó hình thành nên thói quen đọc sách và nhu cầu trong học tập, nghiên cứu của sinh viên và cán bộ giảng viên, đặc biệt là trong lĩnh vực ngành luật.
Về yếu tố kinh tế: Sự phát triển của nền kinh tế ảnh hưởng đến thu nhập bình quân đầu người. Dẫn đến những tác động về nhu cầu tin của người dùng tin, đặc biệt là sinh viên và cán bộ giảng viên ngành luật. Ngoài ra, khả năng đầu tư của nhà trường cũng tác động phần nào đến hoạt động truyền thông marketing của trung tâm thông tin thư viện.
Yếu tố về công nghệ thông tin: Sự bùng nổ mạnh mẽ về công nghệ thông tin, internet trong thời đại 4.0 ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận công nghệ của sinh viên, cán bộ giảng viên và khả năng ứng dụng công nghệ vào trong hoạt động truyền thông marketing của trung tâm thông tin thư viện.
2.2.2. Điều kiện môi trường bên trong
Môi trường bên trong liên quan và tác động trực tiếp đến hoạt động truyền thông marketing của trung tâm thông tin thư viện. Trong đó, mục tiêu của trung tâm thông tin thư viện là nâng cao chất lượng dịch vụ, thu hút người sử dụng, phát triển nguồn lực thông tin. Tổ Phát triển tài nguyên thông tin phụ trách đưa ra những chiến lược truyền thông marketing thu hút người sử dụng từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ, phát triển nguồn lực thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin.
Trung tâm thông tin thư viện thường xuyên và liên tục cập nhật thông tin mới nhất về sách, báo, tạp chí, tài liệu điện tử, đặc biệt là tài liệu chuyên ngành luật để phục vụ bạn đọc. Nhân lực thư viện phải đảm bảo có trình độ chuyên môn nghiệp vụ về thư viện, có kỹ năng về truyền thông marketing để có thể nắm bắt xu hướng, hiểu được các nhu cầu của người dùng tin, biết sử dụng các hệ thống thông tin như website, mạng xã hội, bảng tin, email… để quảng bá sản phẩm và dịch vụ thông tin đến bạn đọc.
Cơ sở vật chất, trang thiết bị về hệ thống máy tính, mạng internet, phòng đọc sách, kho tài liệu phải đáp ứng được nhu cầu của người dùng tin.
2.3. Hoạt động truyền thông marketing tại Trung tâm Thông tin – Thư viện, trường Đại học Luật Hà Nội
2.3.1. Công chúng mục tiêu Khóa luận: Thực trạng truyền thông marketing tại Thư viện Trường.
Công chúng mục tiêu của trung tâm thông tin thư viện chia thành ba nhóm gồm: Cán bộ lãnh đạo, quản lý; cán bộ nghiên cứu, cán bộ giảng dạy; sinh viên, học viên và nghiên cứu sinh đang công tác, học tập và nghiên cứu khoa học tại trường. Chính vì vậy, người dùng tin là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới hiệu quả truyền thông marketing của thư viện.
Việc xác định công chúng mục tiêu giúp trung tâm thông tin thư viện tập trung nguồn lực và thông điệp vào đúng đối tượng, tránh lãng phí chi phí cho các hoạt động truyền thông marketing không hiệu quả. Đảm bảo thông điệp phù hợp với nhu cầu và hành vi của công chúng mục tiêu.
2.3.2. Mục tiêu truyền thông marketing
Xác định được mục tiêu truyền thông giúp trung tâm thông tin thư viện định hướng rõ ràng những gì muốn đạt được thông qua các hoạt động truyền thông marketing. Đảm bảo các hoạt động truyền thông marketing được thực hiện hiệu quả và tập trung vào mục tiêu đề ra. Việc xác định mục tiêu cụ thể giúp trung tâm thông tin thư viện phân bổ nguồn lực hợp lý cho các hoạt động truyền thông marketing, tránh lãng phí chi phí cho các hoạt động không hiệu quả, tăng hiệu quả sử dụng ngân sách cho hoạt động truyền thông.
Ở đây, mục tiêu quan trọng nhất của hoạt động truyền thông marketing ở trung tâm thông tin thư viện Trường Đại học Luật trong giai đoạn 2022-2023 là xây dựng hình ảnh của thư viện chuyên nghiệp góp phần thực hiện sứ mệnh giáo dục đào tạo của Trường Đại học Luật Hà Nội.
Mục tiêu thứ hai chính là thu hút đông đảo các đối tượng người dùng tin khác nhau trong đó có các đối tượng người dùng tin có tần suất sử dụng sản phẩm dịch vụ và tiện ích của trung tâm thông tin thư viện chưa cao như: Cán bộ lãnh đạo quản lý, giảng viên.
2.3.3. Thông điệp truyền thông marketing
Thông điệp truyền thông là nội dung mà thư viện muốn truyền tải đến đối tượng mục tiêu. Việc xác định thông điệp phù hợp giúp thu hút sự chú ý, tạo ấn tượng tốt đẹp và khuyến khích hành động của đối tượng mục tiêu.
Thông điệp truyền thông của trung tâm thông tin thư viện Trường Đại học Luật gồm những nội dung như:
- Tầm quan trọng của trung tâm thông tin thư viện đối với hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học và giải trí của người dùng tin: “Thư viện chính là giảng đường thứ 2”.
- Tính năng tác dụng của các dịch vụ, sản phẩm thông tin thư viện, đặc biệt các sản phẩm, dịch vụ thông tin mới của trung tâm thông tin thư viện với công chúng.
Thông điệp truyền thông được thể hiện ngắn gọn, súc tích dưới dạng các slogan nhưng vẫn truyền tải đầy đủ nội dung ý nghĩa mà trung tâm thông tin thư viện Trường Đại học Luật Hà Nội muốn chuyển đến Người sử dụng thư viện.
Để xác định thông điệp truyền thông trong từng giai đoạn cụ thể, ban lãnh đạo của trung tâm thông tin thư viện Trường Đại học Luật Hà Nội đã họp định kỳ và xác định căn cứ theo kế hoạch hoạt động của trung tâm thông tin thư viện thời điểm hiện tại và hướng đến tương lai phù hợp với chính sách thông tin quốc gia và quy định của Nhà nước như: Luật Thư viện ban hành năm 2019, Quyết định số 206/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 11/2/2021 phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số ngành thư viện đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.
2.3.4. Các công cụ truyền thông marketing Khóa luận: Thực trạng truyền thông marketing tại Thư viện Trường.
2.3.4.1. Truyền thông qua mạng xã hội
Qua khảo sát, tác giả nhận thấy người dùng tin theo dõi hoạt động truyền thông marketing của trung tâm thông tin thư viện (thông báo, sự kiện, poster…) qua kênh thông tin sau:
Bảng 2.3. Các kênh thông tin của trung tâm thông tin thư viện mà người dùng tin theo dõi
| Các kênh thông tin | Số phiếu | Tỷ lệ (%) |
| Cổng thông tin thư viện | 221 | 73.7 |
| 237 | 79 | |
| Zalo OA | 69 | 23 |
| Youtube | 20 | 6.7 |
| Tiktok | 21 | 7 |
| 67 | 22.3 | |
| Bảng tin trong thư viện | 52 | 17.3 |
Facebook hiện là một trong những trang mạng xã hội lớn nhất thế giới. Nó có thể truy cập từ các thiết bị có kết nối internet như: điện thoại thông minh, laptop, pc, ipad… Bất kì ai cũng có thể tạo một tài khoản và trang fanpage riêng chỉ bằng vài thao tác đăng ký đơn giản. Facebook nhận được hầu hết sự quan tâm và sử dụng từ người dùng tin đặc biệt là sinh viên bởi tính tiện lợi của mình. Khóa luận: Thực trạng truyền thông marketing tại Thư viện Trường.
Facebook của trung tâm thông tin thư viện của Trường được thành lập và đưa vào hoạt động từ ngày 14 tháng 8 năm 2015.
Hình 2.4. Facebook Trung tâm Thông tin – Thư viện
Facebook của trung tâm thông tin thư viện của Trường sẽ đăng tải các thông tin giới thiệu về trung tâm thông tin thư viện và các tài liệu trong kho sách, thông tin về các chương trình đào tạo, cập nhật về các cuộc thi, sự kiện văn hóa, giải trí và các hoạt động ngoại khóa của Trường và trung tâm thông tin thư viện. Bên cạnh đó, trên facebook cũng chia sẻ các bài viết, tài liệu chuyên môn, tài liệu giáo trình liên quan đến các ngành học tại trường, thông tin về các chương trình trao đổi, hợp tác quốc tế của Trường, chia sẻ thông tin, kinh nghiệm, hướng dẫn tìm kiếm tài liệu, nghiên cứu khoa học, viết luận văn cho sinh viên và học viên.
Facebook trung tâm thông tin thư viện thường cập nhật những nội dung liên quan đến các hoạt động và sản phẩm, dịch vụ thông tin của trung tâm thông tin thư viện, giúp sinh viên và học viên có thể cập nhật được thông tin mới nhất và tương tác với trung tâm thông tin thư viện một cách hiệu quả. Hiện tại số video clip được chia sẻ lên facebook của trung tâm thông tin thư viện là 39 video, trên 300 bài viết được đăng tải và rất nhiều hình ảnh minh họa liên quan đến hoạt động của trường và trung tâm thông tin thư viện.
Facebook của trung tâm thông tin thư viện sẽ được quản lý bởi Giám đốc và nhân lực thư viện. Các quyết định về nội dung, phát triển và quản lý facebook sẽ được đưa ra bởi các thành viên của trung tâm thông tin thư viện dựa trên các mục tiêu và định hướng của trung tâm thông tin thư viện. Ngoài ra, facebook cũng có thể sử dụng các công cụ quản lý và theo dõi tương tác để đánh giá hiệu quả của chiến dịch truyền thông marketing của trung tâm thông tin thư viện. Quản trị viên của facebook cũng thường xuyên xem và phản hồi các bình luận thắc mắc hoặc có ý kiến đóng góp thông qua mục chat messenger hoặc email: thuvien@hlu.eu.vn.
Theo kết quả khảo sát, người dùng tin biết đến hoạt động của trung tâm thông tin thư viện thông qua các trang mạng xã hội đặc biệt là facebook, website là chủ yếu. Khi muốn cập nhật kịp thời các thông tin về hoạt động của trung tâm thông tin thư viện, người dùng tin sẽ tin tưởng sử dụng website và facebook (tỷ lệ 79%).
- Bài đăng trên các diễn đàn khoa học, bản tin điện tử Khóa luận: Thực trạng truyền thông marketing tại Thư viện Trường.
Các bài viết của Giám đốc trung tâm thông tin thư viện và nhân lực thư viện được đăng tải trên website của Trường, bản tin thư viện… Các bài đăng trên diễn đàn khoa học thường là các phân tích, thảo luận, đánh giá các kết quả nghiên cứu mới nhất, các thông tin liên quan đến hoạt động thư viện đặc biệt là ứng dụng công nghệ. Ngoài ra, bài đăng còn cập nhật những thông tin mới nhất về hội nghị, hội thảo, chương trình đào tạo, khoá học mang tính chuyên nghiệp và các hoạt động khoa học khác liên quan tới trung tâm thông tin thư viện và trường. Trên các diễn đàn có sự trao đổi giữa nhân lực, quản lý hoạt động của các thư viện khác nhau nên có sự đa dạng phong phú về nội dung thông tin.
Tuy nhiên tần suất đăng bài không thường xuyên liên tục.
- Email và chat online
Email là một phương thức trao đổi tin nhắn giữa những người sử dụng các thiết bị điện tử. Thư điện tử lần đầu tiên được đưa vào sử dụng hạn chế trong thập niên 60 và đến giữa những năm 1970 có dạng như ngày nay gọi là email (hay e-mail).Thư điện tử hoạt động qua các mạng máy tính mà hiện nay chủ yếu là Internet. Chat online (Messenger) là một ứng dụng phần mềm tin nhắn tức thời chia sẻ giao tiếp qua văn bản và file (tập tin) do Meta phát triển. Được tích hợp trên tính năng Chat (trò chuyện) của Facebook. Messenger cho phép người dùng Facebook trò chuyện với bạn bè trên cả di động, máy tính và trên web.
Hình 2.5. Chat online (Messenger) của trung tâm thông tin thư viện
Người dùng tin có thể gửi những ý kiến thắc mắc, những câu hỏi cần giải đáp hoặc những yêu cầu của mình tới trung tâm thông tin thư viện thông qua hộp thư điện tử với địa chỉ email cho sẵn là thuvien@hlu.eu.vn. người dùng tin cũng có thể sử dụng dịch vụ Chat online để liên hệ trực tiếp với cán bộ thư viện và cán bộ thư viện cũng sẽ phản hồi ngay lập tức nhờ sự nhanh chóng và tiện lợi của dịch vụ này. Ngoài ra, trên thư viện số cũng có hòm thư góp ý để nhận những thông tin, góp ý phản hồi từ phía người dùng tin.
Nội dung được người dùng tin phản ánh trao đổi thông thường là những nội dung liên quan đến các hoạt động và sản phẩm, dịch vụ thông tin của trung tâm thông tin thư viện, giúp sinh viên và học viên có thể cập nhật được thông tin mới nhất. Bên cạnh đó một số người dùng tin muốn tham khảo ý kiến về quy trình hoạt động của thư viện như: Bổ sung tài liệu, thời gian phục vụ, quy trình mượn trả tài liệu…
Tài khoản email và chat online sẽ được các admin là quản trị viên (Ban Giám đốc hoặc nhân lực thư viện được phân công) sẽ trực tiếp gửi, nhận và phản hồi đến người dùng tin. Qua đó nhân lực thư viện cũng có thể sao lưu và thống kê lại các thắc mắc, góp ý của người dùng tin.
- Zalo OA
Zalo OA trung tâm thông tin thư viện Trường Đại học Luật Hà Nội là kênh truyền thông chính thức của Thư viện trên Zalo, cung cấp thông tin và dịch vụ tiện ích cho sinh viên và cán bộ nhà trường.
Hình 2.6. Zalo OA (Messenger) của trung tâm thông tin thư viện
- Youtube
YouTube đăng tải video chia sẻ thông tin về sản phẩm, dịch vụ, sự kiện của TTTTTV dưới dạng video hoặc livestream các buổi hội thảo, giới thiệu sách trực tuyến.
Hình 2.7. Youtube của trung tâm thông tin thư viện
- Tiktok
Tiktok của trung tâm thông tin thư viện cũng giống như Youtube cung cấp nhiều tính năng hữu ích cho việc truyền thông marketing, như việc đăng tải video chia sẻ thông tin về sản phẩm, dịch vụ, sự kiện dưới dạng video hoặc livestream các buổi hội thảo, giới thiệu sách trực tuyến.
Hình 2.8. Tiktok của trung tâm thông tin thư viện
2.3.4.2. Công cụ truyền thông khác
- Tổ chức sự kiện Khóa luận: Thực trạng truyền thông marketing tại Thư viện Trường.
Ngoài các công cụ truyền thông marketing trên, trung tâm thông tin thư viện còn tổ chức các hội nghị, hội thảo, tọa đàm, nói chuyện chuyên đề nói về các chủ đề mang tính thời sự như: Luật thư viện…
Bên cạnh đó, trung tâm thông tin thư viện còn tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về sách chào mừng ngày sách và bản quyền thế giới 23/4, đó là các cuộc thi tuyên truyền giới thiệu sách… Các cuộc thi đã nhận được sự phản hồi tích cực, sự tham gia nhiệt tình của bạn đọc tại Trường góp phần phát triển văn hóa đọc trong sinh viên và nâng cao vị thế của trung tâm thông tin thư viện đối với bạn đọc.
Hình 2.9. Hội thảo khoa học “Học liệu các chương trình đào tạo – Thực tiễn tại Trường Đại học Luật Hà Nội và một số trường đại học tại Việt Nam”
Hình 2.10. Chương trình Giao lưu tác giả – tác phẩm, hưởng ứng Ngày Sách và
- Website (Cổng thông tin thư viện)
Truy cập vào website của trung tâm thông tin thư viện theo địa chỉ http://thuvien.hlu.eu.vn.
Website có tên gọi “Thư viện Đại học Luật Hà Nội”. Để xây dựng nên website thư viện sử dụng phần mềm KIPOS.
KIPOS – Knowledge Information Portal Solution là dự án phát triển phần mềm lớn nhất của Công ty Hiện Đại cho lĩnh vực quản lý thông tin tư liệu và thư viện.
KIPOS được xây dựng để trở thành một giải pháp tổng thể tích hợp hoàn chỉnh, hỗ trợ tối đa công tác quản lý mọi dạng thông tin tư liệu từ truyền thống tới tài liệu số và xuất bản điện tử của thư viện bằng công nghệ và kỹ thuật mới nhất. Việc xây dựng website thư viện trên nền tảng KIPOS sẽ giúp nhân lực thư viện dễ dàng quản lý, thiết kế, lập trình và duy trì hoạt động của website.
Hình 2.12. Website thư viện số của trung tâm thông tin thư viện
Website thiết kế gồm các module như: Trang chủ, giới thiệu, sản phẩm – dịch vụ, tạp chí, tra cứu (mục duyệt theo các điểm tiếp cận thông tin như: Tìm nâng cao, tìm chuyên gia, tìm toàn văn, tra cứu liên thư viện, tài liệu mới, tài liệu theo học phần), tạp chí, đăng nhập theo tài khoản, mục tìm kiếm tài liệu theo các trường biểu ghi, bộ sưu tập và loại hình tài liệu.
Trang chủ là giao diện tổng quan chứa tất cả các thông tin mới nhất và bao quát toàn bộ các module. Từ trang chủ bạn đọc cũng có thể kết nối qua các mục khác như giới thiệu sách, bản tin về pháp luật, tài liệu điện tử (Heinonline, Oxford University Press, IG Publishing, SAGE, các trang văn bản luật). Trang chủ được bố trí bằng bảng quảng cáo giới thiệu về website và các thông tin dịch vụ của thư viện như: thời gian phục vụ bạn đọc, video, bộ sưu tập ảnh, yêu cầu bổ sung tài liệu, khảo sát ý kiến bạn đọc.
Trang chủ của trung tâm thông tin thư viện của Trường sẽ đăng tải các thông tin về hoạt động thường kỳ như: Các sự kiện, hoạt động nghiệp vụ, diễn đàn chia sẻ thông tin, các quy định mới… Để tăng cường tiện ích cho bạn đọc, trên trang chủ của trung tâm thông tin thư viện còn cung cấp các hướng dẫn truy cập liên kết hữu ích như: Hướng dẫn bạn đọc sử dụng thư viện số, thư viện dưới dạng video clip minh họa, nội quy thư viện, thông tin bạn đọc, gửi yêu cầu – góp ý. Bên cạnh đó bạn đọc có thể gửi thông tin thắc mắc về hoạt động thư viện vào địa chỉ email, fanpage facebook,… của trung tâm thông tin thư viện được để dưới dạng biểu tượng phía bên phải màn hình. Khóa luận: Thực trạng truyền thông marketing tại Thư viện Trường.
Tính đến thời điểm hiện tại (17/3/2023) website của thư viện đã có 51.050.056 lượt truy cập. Website của trung tâm thông tin thư viện được quản lý bởi admin và bộ phận kỹ thuật chuyên trách. Những thông tin trước khi được đưa lên website sẽ được kiểm duyệt chặt chẽ về nội dung và hình thức trình bày.
- Tư vấn trực tiếp tại thư viện
Đây là hình thức truyền thông mà hầu hết các thư viện đều sử dụng tích cực mang lại hiệu quả cao nhất đối với bạn đọc, nhất là bạn đọc có thời gian sử dụng thư viện tại chỗ. Tại các quầy phục vụ tại các phòng chức năng (phòng đọc, phòng mượn, phòng phát triển tài nguyên thông tin, phòng máy tính), nhân lực của trung tâm thông tin thư viện trường sẽ hướng dẫn người dùng tin sử dụng các sản phẩm, dịch vụ thông tin phù hợp với nhu cầu và giải đáp thắc mắc liên quan đến hoạt động của trung tâm thông tin thư viện.
Trung bình mỗi ngày nhân lực thư viện sẽ tư vấn trung bình từ 30-35 lượt bạn đọc có nhu cầu tư vấn và gặp vướng mắc trong quá trình sử dụng sản phẩm, dịch vụ và tiện ích của trung tâm thông tin thư viện.
2.3.5. Ngân sách và chiến thuật truyền thông
Ngân sách cho hoạt động truyền thông marketing của trung tâm thông tin thư viện thường là những khoản chi phí cho thiết kế, in ấn, banner, poster, quảng cáo trên báo chí, truyền hình, website, mạng xã hội, thuê địa điểm tổ chức sự kiện, trang thiết bị, nhân sự… Dựa trên ngân sách có được cho các khoản chi phí cho hoạt động truyền thông marketing mà trung tâm thông tin thư viện xây dựng chiến lược truyền thông marketing phù hợp để có thể tiến hành theo dõi và đánh giá hiệu quả của hoạt động truyền thông marketing. Qua quá trình tìm hiểu, chương trình hành động/chiến thuật truyền thông tập trung vào một số nội dung sau:
- Duy trì các kênh truyền thông (công cụ truyền thông) hiện tại đã và đang mang lại hiệu quả cho hoạt động của trung tâm thông tin thư viện.
- Phát triển thêm các kênh truyền thông mới trong điều kiện ngân sách cho phép như: Mã QR, APP ứng dụng…
- Kiểm tra đánh giá hiệu quả các kênh truyền thông thông qua các tiêu chí và hình thức khác nhau.
2.3.6. Thời gian biểu
Trong thực tế, trung tâm thông tin thư viện Trường Đại học Luật Hà Nội chưa có bộ phận chuyên trách riêng thực hiện hoạt động truyền thông marketing, mà hoạt động truyền thông marketing được xác định là hoạt động chung của các bộ phận phòng ban chức năng của trung tâm thông tin thư viện trong cả năm học. Trong đó có các hoạt động kéo dài trong cả năm, có những hoạt động diễn ra trong một thời gian nhất định theo kế hoạch đã được văn bản hóa. Thông thường các hội nghị, tọa đàm, nói chuyện chuyên đề thường diễn ra trong 01 ngày cụ thể. Một số sự kiện có thể kéo dài trong vài ngày như: Khi tổ chức chương trình Ngày Sách và Văn hoá đọc Việt Nam, trung tâm thông tin thư viện đã phải lên kế hoạch chi tiết cho timeline chương trình để có thể phù hợp với thời điểm hiện tại mà không bị lãng phí tài chính và nhân lực cho chương trình.
2.3.7. Kiểm tra, đánh giá hiệu quả hoạt động truyền thông marketing Khóa luận: Thực trạng truyền thông marketing tại Thư viện Trường.
Thông qua các công cụ truyền thông marketing, trung tâm thông tin thư viện sẽ đánh giá hiệu quả của chiến lược truyền thông marketing. Việc đánh giá kiểm tra sẽ thông qua một số tiêu chí như sau:
- Tần suất xuất hiện trên các kênh lựa chọn chạy truyền thông.
- Tương tác của người dùng tin hậu chiến dịch.
- Phản hồi của những người quan tâm về chiến dịch truyền thông.
- Chất lượng nội dung thông tin được truyền tải.
- Sử dụng đa dạng các công cụ truyền thông.
- Tính chuyên nghiệp của nhân lực truyền thông
- Một số tiêu chí khác.
Các thông số được tiếp cận thông qua các hình thức: Thống kê số liệu xuất hiện trên các kênh truyền thông như: Facebook, website…, nội dung các ý kiến đóng góp trực tiếp hay gián tiếp trên các kênh như: Tư vấn trực tiếp, email, chat online…; qua khảo sát định kỳ của trung tâm thông tin thư viện.
Nội dung cụ thể của các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động truyền thông marketing thư viện sẽ được tác giả phân tích kỹ hơn trong nội dung kế tiếp.
2.4. Đánh giá về hoạt động truyền thông marketing của Trung tâm Thông tin – Thư viện, trường Đại học Luật Hà Nội Khóa luận: Thực trạng truyền thông marketing tại Thư viện Trường.
Nhìn chung, hoạt động truyền thông marketing đã làm tăng khả năng tiếp cận trung tâm thông tin thư viện nói chung và sản phẩm dịch vụ thông tin của trung tâm thông tin thư viện nói riêng đối với người dùng tin.
Các hoạt động truyền thông marketing với việc sử dụng các công cụ linh hoạt, đa dạng phong phú nội dung giúp trung tâm thông tin thư viện nâng cao chất lượng hoạt động và sự thu hút người dùng tin quan tâm đến các sản phẩm, dịch vụ thông tin. Nó cũng giúp trung tâm thông tin thư viện xây dựng được hình ảnh, danh tiếng và thương hiệu của mình đến với người dùng tin. Điều này giúp tăng sự tín nhiệm và độ tin cậy của người dùng tin với trung tâm thông tin thư viện.
2.4.1. Ưu điểm
Thứ nhất, quy trình truyền thông marketing đã được trung tâm thông tin thư viện Trường quan tâm thực hiện ở một mức độ nhất định từ việc xác định công chúng mục tiêu cho đến hoạt động kiểm tra đánh giá hiệu quả hoạt động truyền thông marketing.
Thứ hai, trung tâm thông tin thư viện Trường đã quan tâm đến đổi mới nâng cao chất lượng nội dung thông tin được truyền tải qua các công cụ truyền thông gồm: bài viết, hình ảnh, clip… để truyền tải thông điệp đến người dùng tin.
Facebook: trung tâm thông tin thư viện đã sử dụng các ứng dụng chat, bài viết, clip nhằm quảng bá hình ảnh và giới thiệu hoạt động của trung tâm thông tin thư viện, tương tác với người dùng tin. Trên facebook có một số đường link giới thiệu về các nguồn tài liệu tại các phòng ban, website của thư viện Trường. người dùng tin tiếp cận thông tin về cấc hoạt động của thư viện thông qua trang mạng xã hội. Điều này chứng tỏ hiệu quả các hoạt động truyền thông qua mạng xã hội của trung tâm thông tin thư viện.
Email và dịch vụ chat online: Đây là nhóm công cụ marketing mà trung tâm thông tin thư viện có sử dụng nhằm thông báo, giới thiệu hình ảnh, hoạt động và sản phẩm dịch vụ của thư viện với người dùng tin.
Website của trung tâm thông tin thư viện: Trên website có các chủ đề phản ánh các nội dung giới thiệu về hoạt động, tài liệu số, phương pháp tìm kiếm tài liệu thông qua các điểm tiếp cận thông tin của trung tâm thông tin thư viện Trường và các tiện ích dành cho người dùng tin. Trên website có sự kết nối trực tiếp đến các Cơ sở dữ liệu thư mục, Cơ sở dữ liệu toàn văn trực tuyến, các website của các cơ sở đào tạo mà trung tâm thông tin thư viện Trường có mối quan hệ để tạo điều kiện cho người dùng tin mở rộng khả năng tìm kiếm thông tin. Số lượt truy cập trên website của trung tâm thông tin thư viện Trường tương đối lớn.
Bản tin thư viện: Đây là hoạt động thường xuyên của nhân lực thư viện Trường, trung bình mỗi người viết từ 1-2 bài giới thiệu về hoạt động của trung tâm thông tin thư viện Trường với người dùng tin.
Tổ chức sự kiện: Chủ đề của các sự kiện đều được lựa chọn mang tính cập nhật và cần thiết với các cơ quan thông tin thư viện nói chung và bản thân trung tâm thông tin thư viện của Trường nói riêng. Khách mời là những người có uy tín và kinh nghiệm thực tiễn trong hoạt động chuyên môn nghiệp vụ.
Như vậy, theo đánh giá của người dùng tin họ cảm thấy công tác truyền thông marketing của trung tâm thông tin thư viện là rất tốt (chiếm tỷ lệ 64% tổng số người dùng tin được khảo sát).
Thứ ba, trung tâm thông tin thư viện của Trường đã sử dụng tương đối các công cụ truyền thông marketing, bao gồm: Mạng xã hội (youtube, facebook, zalo, chat online, email), các hình thức tương tác trực tiếp (tư vấn tại bàn thủ thư) và các hình thức khác như: Viết bài đăng lên website, báo tạp chí, bản tin điện tử… Khóa luận: Thực trạng truyền thông marketing tại Thư viện Trường.
Thứ tư, tần suất cập nhật, tương tác, truy cập thông tin của người dùng tin với các công cụ truyền thông marketing của trung tâm thông tin thư viện Trường tương đối lớn. Tập trung chủ yếu vào các công cụ truyền thông hiện đại như: Facebook, website, email và chat online, tư vấn thông tin, tổ chức sự kiện.
Các sự kiện được trung tâm thông tin thư viện tổ chức cũng nhận được sự phản hồi tích cực thông qua hoạt động thảo luận trao đổi giữa diễn giả và người tham gia. Các sự kiện đã được truyền thông của trung tâm thông tin thư viện và trường cập nhật và đưa tin kịp thời trước và sau khi sự kiện diễn ra.
Email và dịch vụ chat online: Nhân lực của trung tâm thông tin thư viện có thể giải đáp thắc mắc và trao đổi ý kiến với người dùng tin để đảm bảo hiệu quả hoạt động của thư viện. Các thông tin của trung tâm thông tin thư viện được cung cấp rất rõ ràng mạch lạc và chính xác về nội dung phản ánh chính xác hoạt động thực tế.
Tư vấn thông tin là hình thức mà được người dùng tin tại đây sử dụng nhiều để nhận được thông tin hữu ích về tiện ích cũng như các sản phẩm. dịch vụ cần thiết của trung tâm thông tin thư viện Trường.
Thứ năm, nhân lực thông tin tại trung tâm thông tin thư viện trường là những cá nhân được đào tạo chuyên ngành Thông tin Thư viện tại các cơ sở đào tạo lớn và có kinh nghiệm, lòng nhiệt huyết yêu nghề nên hoạt động truyền thông marketing cũng góp phần thu hút người dùng tin và quảng bá hình ảnh của trung tâm thông tin thư viện Trường với cộng đồng.
2.4.2. Nguyên nhân và hạn chế
Bên cạnh những ưu điểm, hoạt động truyền thông marketing cũng có một số hạn chế như: kỹ năng về truyền thông marketing của nhân lực thư viện còn yếu, thiếu sự đa dạng trong hoạt động truyền thông marketing, tần suất sử dụng các công cụ truyền thông, nội dung truyền tải qua các kênh truyền thông. Khóa luận: Thực trạng truyền thông marketing tại Thư viện Trường.
Về tần suất truy cập, sử dụng, tương tác với các công cụ truyền thông của người dùng tin: Số lượt tương tác, truy cập, phản hồi của Người sử dụng thư viện còn chưa cao so với con số thực tế số lượng người dùng tin của Trường Đại học Luật Hà Nội. Điều này thể hiện ở một số kênh như: Facebook, email, chat online, tổ chức sự kiện.
Facebook: Số lượng lượt bạn đọc tương tác bình luận (lượt like, comment) còn hạn chế. Hoạt động thu thập thông tin phản hồi của bạn đọc thông qua website chưa được trung tâm thông tin thư viện tiến hành thường xuyên theo định kỳ. Nội dung đăng tải lên facebook đa dạng nhưng chưa thu hút người dùng tin.
Email và dịch vụ chat online: Phần lớn người dùng tin và trung tâm thông tin thư viện sử dụng dịch vụ chat online qua tin nhắn với tần suất thường xuyên hơn bởi tính thuận tiện và thói quen của người dùng tin. Số lượng người dùng tin đăng ký thông báo qua email, số lượng email trả về, số lượng người trao đổi trực tuyến, số lượng câu trả lời được gửi đi… còn ít và chưa được trung tâm thông tin thư viện thống kê thường xuyên.
Tổ chức sự kiện: Tần suất tổ chức sự kiện còn chưa thường xuyên, linh hoạt vì điều này còn phụ thuộc vào nhiệm vụ và mục tiêu hoạt động của trung tâm thông tin thư viện từng giai đoạn và nhiều người tham gia còn chưa tích cực trao đổi ý kiến với diễn giả.
Về chất lượng nội dung được xây dựng, cập nhật trên các kênh truyền thông: Nội dung truyền tải ở một số kênh còn chưa đa dạng, phong phú và cập nhật thường xuyên. Điều này dẫn đến không phải bất cứ hoạt động nào của trung tâm thông tin thư viện triển khai cũng mang lại hiệu quả so với mong muốn. Điều này thể hiện ở phản hồi của người dùng tin thông qua các hình thức khác nhau đối với các kênh truyền thông như:
- Bài đăng trên bản tin thư viện còn nghèo nàn về nội dung.
- Số lượng các clip đăng lên facebook còn ít so với hoạt động thực tế.
Website của trung tâm thông tin thư viện có số lượng Cơ sở dữ liệu trực tuyến ngoài trung tâm thông tin thư viện Trường được kết nối còn hạn chế về số lượng vì chưa được cập nhật thường xuyên trong khi các nguồn Cơ sở dữ liệu có giá trị được khuyến khích chia sẻ nhiều và không phải bất kỳ Cơ sở dữ liệu có giá trị nào ngoài thư viện cũng đều phải mất nhiều chi phí bổ sung. Về hình thức truyền tải nội dung thông tin trên các kênh truyền thông còn chưa hấp dẫn, thu hút người dùng tin truy cập sử dụng với tần suất cao hơn như: Facebook.
Về sự đa dạng hóa các kênh truyền thông: trung tâm thông tin thư viện Trường Đại học Luật Hà Nội hiếm khi sử dụng áp phích, tờ rơi, tờ gấp… để giới thiệu về sự kiện, hoạt động và sản phẩm, dịch vụ thông tin bởi còn nhiều hạn chế về kinh phí hoạt động và trình độ nhân lực.
Về tính chuyên nghiệp của nhân lực truyền thông còn hạn chế: Điều này do phần lớn nhân lực thư viện được tuyển dụng theo chuyên ngành Thông tin Thư viện của các cơ sở giáo dục đào tạo, trong khi thực tế muốn triển khai hoạt động truyền thông marketing cần có nhân lực được đào tạo chuyên nghiệp về marketing.
Về tính kinh tế: Ngân sách cấp cho hoạt động truyền thông marketing còn hạn chế nên rất khó có thể triển khai đồng bộ nhiều công cụ truyền thông trong cùng một thời điểm.
Tiểu kết chương 2
Trung tâm thông tin thư viện Trường Đại học Luật Hà Nội đã áp dụng nhiều hình thức truyền thông marketing để quảng bá và giới thiệu các sản phẩm và dịch vụ thông tin đến NDT. Các hoạt động truyền thông marketing thông qua các công cụ: website, tư vấn trực tuyến, tổ chức các buổi hội thảo, hội nghị, tọa đàm, các cuộc thi và sự kiện… đã thu hút quan tâm của người dùng tin đến các hoạt động của trung tâm thông tin thư viện. Tuy nhiên vẫn có nhiều hạn chế nhất định trong quá trình tổ chức về nguồn lực và thời gian, vì thế trung tâm thông tin thư viện cần tăng cường hiệu quả của các hoạt động truyền thông marketing để thu hút được nhiều người dùng tin và đáp ứng nhu cầu sử dụng ngày càng đa dạng của bạn đọc thông qua các nhóm giải pháp cụ thể được trình bày trong chương 3. Khóa luận: Thực trạng truyền thông marketing tại Thư viện Trường.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Giải pháp truyền thông marketing tại Thư viện Trường
