Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Người giao nhận và vai trò của người giao nhận hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Người giao nhận và vai trò của người giao nhận trong hoạt động vận tải và thương mại quốc tế dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
Lời Nói Đầu
1. Lý do chọn đề tài
Cùng với sự phát triển kinh tế, thương mại quốc tế và xu hướng toàn cầu hóa, việc trao đổi, mua bán hàng hóa giữa các nước diễn ra ngày càng sôi nổi. Sau khi người mua và người bán tiến hành ký kết hợp đồng sẽ diễn ra quá trình trao đổi hàng hóa, tức là có sự di chuyển hàng hóa từ tay người bán đến tay người mua. Người giao nhận sẽ chịu trách nhiệm đảm bảo cho quá trình vận chuyển đó diễn ra suôn sẻ, hàng hóa đến tay người mua một cách an toàn, đúng thời gian, địa điểm. Từ chỗ chỉ đảm nhận một vài công việc đơn giản như xếp dỡ, lưu kho hàng hóa, làm thủ tục giấy tờ, lo liệu vận tải nội địa, thanh toán tiền hàng… theo sự phát triển của thời gian, do đòi hỏi của thực tế mà vai trò của người giao nhận ngày càng được nâng lên, họ đã đứng ra cung cấp dịch vụ trọn gói toàn bộ quá trình vận tải và phân phối hàng hóa, trở thành những người chuyên chở chính. Hơn thế nữa, ngày nay người giao nhận đang có xu hướng trở thành những nhà cung cấp dịch vụ logistics, một bước phát triển cao hơn của dịch vụ giao nhận.
Tại Việt Nam mặc dù dịch vụ giao nhận mới chỉ thực sự phát triển từ hơn 10 năm trở lại đây, tuy nhiên đã đạt được những bước tiến vượt bậc. Việc mở cửa nền kinh tế kéo theo sự phát triển của các hoạt động thương mại, giao lưu buôn bán với các nước là điều kiện để thúc đẩy sự phát triển của ngành giao nhận nước ta. Người giao nhận Việt Nam đã có sự thay đổi mạnh mẽ cả về số lượng lẫn chất lượng, phạm vi cung cấp sản phẩm dịch vụ cũng không ngừng được gia tăng, kinh doanh dịch vụ giao nhận đã trở thành một lĩnh vực giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế nước ta.
Tuy nhiên, do những đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành giao nhận nói riêng mà người giao nhận nước ta đang gặp phải những khó khăn thử thách rất lớn, đòi hỏi phải có những giải pháp trước mắt cũng như giải pháp cho sự phát triển lâu dài. Nhận thấy tầm quan trọng, vai trò to lớn của người giao nhận trong hoạt động vận tải và thương mại quốc tế cũng như ảnh hưởng của người giao nhận đến sự phát triển của kinh tế nói chung, em đã chọn đề tài: “Người giao nhận và vai trò của người giao nhận trong hoạt động vận tải và thương mại quốc tế”.
2. Mục đích nghiên cứu Khóa luận: Người giao nhận và vai trò của người giao nhận.
Nghiên cứu, phân tích, đánh giá hoạt động của người giao nhận và vai trò của họ trong hoạt động vận tải và thương mại quốc tế. Tìm hiểu thực trạng hoạt động của người giao nhận đặc biệt là ở Việt Nam để từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, vai trò của người giao nhận.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu một số vấn đề mang tính lí thuyết chung về người giao nhận, vai trò của người giao nhận như khái niệm, đặc điểm, chức năng… Trên cơ sở những vấn đề chung đó bài viết đi sâu vào phân tích thực trạng hoạt động của người giao nhận, những khó khăn, hạn chế cũng như thành tựu đã đạt được của người giao nhận Việt Nam. Từ những kết quả thu được, người viết có đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và vai trò của người giao nhận.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Người giao nhận và vai trò của người giao nhận trong hoạt động vận tải và thương mại quốc tế. Nghiên cứu thực trạng hoạt động, những thành tựu, khó khăn hiện nay đang ảnh hưởng đến người giao nhận trên thị trường Việt Nam; Nghiên cứu những giải pháp hỗ trợ ở tầm vĩ mô cũng như những giải pháp đối với các doanh nghiệp hoạt động, kinh doanh trong lĩnh vực giao nhận.
Phạm vi nghiên cứu: Dịch vụ giao nhận là một đề tài có nội dung rất rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau trong nền kinh tế, tuy nhiên khóa luận không đi vào một lĩnh vực cụ thể nào của hoạt động giao nhận như giao nhận bằng đường biển, đường sông, đường hàng không, hoạt động xếp dỡ, kho bãi, làm thủ tục hải quan… mà người viết tập trung nghiên cứu hoạt động của người giao nhận và vai trò của họ nói chung.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Người viết nghiên cứu dựa trên phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp.
- Thực hiện phỏng vấn, trao đổi nhằm tìm ra những bất cập, khó khăn của doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực giao nhận.
- Nghiên cứu lý luận kết hợp với khảo sát, tìm hiểu thêm thực tiễn.
6. Nội dung nghiên cứu
Nội dung của khóa luận được trình bày trong 3 chương:
- Chương I: Lý luận chung về người giao nhận và vai trò của người giao nhận trong hoạt động vận tải và thương mại quốc tế
- Chương II: Thực trạng hoạt động của người giao nhận trong hoạt động vận tải và thương mại quốc tế
- Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò, hiệu quả hoạt động của người giao nhận Việt Nam
Chương I: LÍ LUẬN CHUNG VỀ NGƯỜI GIAO NHẬN VÀ VAI TRÒ CỦA NGƯỜI GIAO NHẬN TRONG HOẠT ĐỘNG VẬN TẢI VÀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
I. Khái quát chung
1. Các định nghĩa về giao nhận và người giao nhận
1.1 Định nghĩa về giao nhận
Theo quy tắc mẫu của FIATA về dịch vụ giao nhận (Freight forwarding service), dịch vụ giao nhận được định nghĩa như là: “Bất kỳ loại dịch vụ nào liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng như các dịch vụ tư vấn hay có liên quan đến các dịch vụ trên, kể cả các vấn đề hải quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ liên quan đến hàng hóa‟. Khóa luận: Người giao nhận và vai trò của người giao nhận.
Theo luật thương mại Việt Nam năm 1997 thì giao nhận hàng hóa là: “Hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa nhận hàng từ người gửi, tổ chức vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo sự ủy thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc của người giao nhận khác‟.
Nói một cách ngắn gọn, giao nhận là tập hợp những nghiệp vụ, thủ tục có liên quan đến quá trình vận tải nhằm thực hiện việc di chuyển hàng hóa từ nơi gửi hàng (người gửi hàng) đến nơi nhận hàng (người nhận hàng).
1.2 Định nghĩa về người giao nhận
Theo khái niệm của Liên đoàn các hiệp hội giao nhận (FIATA): “Người giao nhận (Forwarder, Freight forwarder hay Forwarding agent) là người thu xếp chuyên chở toàn bộ hàng hóa theo hợp đồng ủy thác và hoạt động vì lợi ích của người ủy thác mà bản thân họ không phải là người chuyên chở. Người giao nhận cũng đảm bảo thực hiện mọi công việc liên quan đến hợp đồng giao nhận như đảm bảo lưu kho, trung chuyển, làm thủ tục hải quan kiểm hóa…”
Theo định nghĩa giao nhận vận tải do Ủy ban kinh tế, xã hội châu Á Thái Bình Dương ESCAP đưa ra như sau: “Người giao nhận vận tải là đại lý ủy thác thay mặt nhà xuất nhập khẩu thực hiện những nhiệm vụ từ đơn giản như lưu cước, làm thủ tục thuế quan cho đến làm trọn gói các dịch vụ của toàn bộ quá trình vận tải và phân phối hàng”.
Theo luật thương mại Việt Nam được Quốc Hội khóa IX thông qua tại kỳ họp thứ 11 ngày 10/05/1997 thì: “Người giao nhận là người làm dịch vụ giao nhận, là các thương nhân có giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa. Người giao nhận có thể là chủ hàng, chủ tàu, các công ty giao nhận hoặc bất kỳ thương nhân nào khác”.
2. Các yếu tố cấu thành dịch vụ giao nhận Khóa luận: Người giao nhận và vai trò của người giao nhận.
2.1 Các yếu tố cấu thành dịch vụ giao nhận
Dịch vụ giao nhận được cấu thành bởi ba yếu tố: hàng hóa, cơ sở vật chất và nguồn nhân lực.
- Yếu tố hàng hóa: là những hàng hóa có nhu cầu cần chuyên chở.
- Yếu tố cơ sở vật chất: đội tàu biển quốc tế, đội tàu thủy nội địa, các hãng hàng không trong nước và quốc tế, hệ thống cảng biển, hệ thống sân bay, hệ thống đường bộ, đường sắt, hệ thống kho bãi…
- Yếu tố nhân lực: các nhà cung cấp hàng hóa, người gửi hàng, công nhân dịch vụ, tài xế, nhân viên làm thủ tục hải quan, nhân viên xử lý chứng từ văn phòng…
Các bộ phận cấu thành này có quan hệ hữu cơ với nhau để tạo thành một hệ thống khép kín nhằm hoàn chỉnh chu trình giao nhận vận tải. Hoạt động giao nhận diễn ra tại nhiều nơi, có thể qua nhiều nước do đó chịu tác động của luật lệ liên quan đến xuất nhập khẩu của cơ quan quản lý nhà nước của những nước mà hàng hóa đi qua.
2.2 Phân loại dịch vụ giao nhận
Dựa vào các tiêu chí, tiêu thức khác nhau mà có thể phân chia ngành giao nhận thành nhiều loại:
Căn cứ vào phạm vi hoạt động
- Giao nhận quốc tế: là hoạt động giao nhận tổ chức chuyên chở hàng hóa trên phạm vi quốc tế.
- Giao nhận nội địa: là hoạt động giao nhận mà phạm vi chuyên chở hàng hóa chỉ giới hạn trong một quốc gia.
Căn cứ vào phương thức vận tải
- Giao nhận bằng đường biển
- Giao nhận bằng đường sông
- Giao nhận bằng đường hàng không
- Giao nhận bằng đường bộ
- Giao nhận bằng đường sắt
- Giao nhận hàng hóa kết hợp nhiều phương thức vận tải khác nhau
Căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh giao nhận
- Giao nhận thuần túy: là hoạt động giao nhận chỉ bao gồm thuần túy việc gửi hàng đi, nhận hàng đến.
- Giao nhận tổng hợp: là hoạt động giao nhận không chỉ bao gồm việc gửi hàng đi, nhận hàng đến mà còn cả các hoạt động khác như xếp dỡ, bảo quản hàng hóa, vận tải, hoạt động kho hàng…
Căn cứ vào tính chất của giao nhận Khóa luận: Người giao nhận và vai trò của người giao nhận.
- Giao nhận riêng: là hoạt động giao nhận do người xuất nhập khẩu tự tổ chức thực hiện chứ không sử dụng dịch vụ của người giao nhận.
- Giao nhận chuyên nghiệp: là hoạt động giao nhận do các tổ chức, công ty chuyên kinh doanh dịch vụ giao nhận tiến hành.
Còn theo Nghị định của Chính phủ số 140/2024/NĐ-CP ngày 05 tháng 9 năm 2024, dịch vụ giao nhận (đã được đổi tên thành dịch vụ logistics theo luật thương mại năm 2022) được phân loại như sau:
Các dịch vụ lô-gi-stíc chủ yếu, bao gồm:
- Dịch vụ bốc xếp hàng hoá, bao gồm cả hoạt động bốc xếp container;
- Dịch vụ kho bãi và lưu giữ hàng hóa, bao gồm cả hoạt động kinh doanh kho bãi container và kho xử lý nguyên liệu, thiết bị;
- Dịch vụ đại lý vận tải, bao gồm cả hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan và lập kế hoạch bốc dỡ hàng hóa;
- Dịch vụ bổ trợ khác, bao gồm cả hoạt động tiếp nhận, lưu kho và quản lý thông tin liên quan đến vận chuyển và lưu kho hàng hóa trong suốt cả chuỗi lô-gi-stíc; hoạt động xử lý lại hàng hóa bị khách hàng trả lại, hàng hóa tồn kho, hàng hóa quá hạn, lỗi mốt và tái phân phối hàng hóa đó; hoạt động cho thuê và thuê mua container;
Các dịch vụ 1ô-gi-stíc liên quan đến vận tải, bao gồm:
- Dịch vụ vận tải hàng hải;
- Dịch vụ vận tải thuỷ nội địa;
- Dịch vụ vận tải hàng không;
- Dịch vụ vận tải đường sắt; đ) Dịch vụ vận tải đường bộ;
- Dịch vụ vận tải đường ống;
Các dịch vụ lô-gi-stíc liên quan khác, bao gồm:
- Dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật;
- Dịch vụ bưu chính;
- Dịch vụ thương mại bán buôn;
- Dịch vụ thương mại bán lẻ, bao gồm cả hoạt động quản lý hàng lưu kho, thu gom, tập hợp, phân loại hàng hóa, phân phối lại và giao hàng;
- Các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác;
3. Các dịch vụ của người giao nhận
Công việc của người giao nhận trước đây đơn giản hơn rất nhiều so với ngày nay, họ thường chỉ hoạt động như những đại lý (Agent), thực hiện các công việc, nhiệm vụ do nhà sản xuất, nhà xuất nhập khẩu ủy thác như: xếp dỡ, lưu kho, làm các thủ tục giấy tờ, thủ tục hải quan, vận tải nội địa… Tuy nhiên ngày nay phạm vi hoạt động, vai trò của các nhà giao nhận ngày càng được nâng lên cùng với sự phát triển của hoạt động thương mại và vận tải quốc tế.
Ngày nay ngoài các công việc truyền thống như lưu tàu (booking space), khai báo hải quan (customs clearance), các nhà giao nhận còn đưa ra các loại hình dịch vụ khác như dịch vụ trọn gói toàn bộ quá trình vận chuyển và phân phối hàng. Thông thường người giao nhận thay mặt người gửi hàng hoặc người nhận hàng đứng ra lo liệu quá trình vận chuyển qua các công đoạn khác nhau cho đến khi giao hàng đến tận tay người nhận cuối cùng. Người giao nhận có thể tự mình thực hiện các công việc này hoặc thông qua các đại lý hay thuê dịch vụ của các bên thứ ba khác.
Vì hoạt động giao nhận là việc tổ chức quá trình chuyên chở hàng từ nơi gửi hàng đến nơi nhận hàng nên nghiệp vụ này bao gồm nhiều công việc khác nhau, cụ thể là: Khóa luận: Người giao nhận và vai trò của người giao nhận.
- Chuẩn bị hàng hóa để chuyên chở
- Tổ chức chuyên chở hàng hóa trong phạm vi ga, cảng…
- Tổ chức xếp dỡ hàng hóa
- Làm tư vấn cho chủ hàng trong việc chuyên chở hàng hóa
- Ký kết hợp đồng vận tải với người chuyên chở, thuê tàu, lưu cước
- Làm các thủ tục gửi hàng, nhận hàng
- Làm thủ tục Hải quan, Kiểm nghiệm, Kiểm dịch
- Mua bảo hiểm cho hàng hóa
- Lập các chứng từ cần thiết trong quá trình gửi hàng, nhận hàng
- Thanh toán, thu đổi ngoại tệ
- Nhận hàng từ chủ hàng, giao cho người chuyên chở và giao cho người giao nhận
- Thu xếp chuyển tải hàng hóa
- Nhận hàng từ người chuyên chở và giao cho người nhận
- Gom hàng, lựa chọn tuyến đường vận tải, phương thức vận tải và người chuyên chở thích hợp
- Đóng gói bao bì, phân loại, tái chế hàng hóa
- Lưu kho, bảo quản hàng hóa
- Nhận và kiểm tra các chứng từ cần thiết liên quan đến sự vận động của hàng hóa
- Thanh toán cước phí, chi phí xếp dỡ, chi phí lưu kho, lưu bãi…
- Thông báo tình hình đi và đến của các phương tiện vận tải
- Thông báo tổn thất với người chuyên chở
- Giúp chủ hàng trong việc khiếu nại đòi bồi thường
Hiện nay, người giao nhận cũng cung cấp thêm các dịch vụ đặc biệt khác theo yêu cầu của chủ hàng như: vận chuyển máy móc thiết bị đến các công trình xây dựng lớn, vận chuyển quần áo may sẵn trong các Container đến thẳng cửa hàng, vận chuyển hàng mang đi triển lãm ở nước ngoài… Đặc biệt trong những năm gần đây, người giao nhận còn cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức, đóng vai trò là các MTO và phát hành cả chứng từ vận tải.
4. Mối quan hệ giữa dịch vụ giao nhận và dịch vụ Logistics Khóa luận: Người giao nhận và vai trò của người giao nhận.
Định nghĩa về logistics: Cho đến nay đã có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về dịch vụ Logistics, theo cách tiếp cận của Hội đồng quản lý Logistics (The Council of Logistics Management – CLM), khái niệm này được hiểu như sau: “Logistics là một bộ phận của dây chuyền cung ứng, tiến hành lập ra kế hoạch, thực hiện và kiểm soát công việc chu chuyển và lưu kho hàng hóa, cùng các dịch vụ và thông tin có liên quan từ địa điểm xuất phát đến nơi tiêu dùng một cách hiệu quả nhằm đáp ứng những yêu cầu của khách hàng”.
Logistics luôn là một chuỗi các dịch vụ về giao nhận hàng hóa như: làm các thủ tục giấy tờ, tổ chức vận tải, bao bì đóng gói, ghi nhãn hiệu, lưu kho lưu bãi, phân phát hàng hóa (nguyên liệu hoặc thành phẩm) đến các địa chỉ khác nhau, chuẩn bị cho hàng hóa luôn sẵn sàng trong trạng thái có yêu cầu của khách hàng là đi ngay được (inventory level). Do đó, khi nói tới Logistics bao giờ người ta cũng nói tới một chuỗi hệ thống dịch vụ (logistics system chain).
Chuỗi logistics được chia làm hai tuyến nhỏ:
- Tuyến quản lý vật liệu (Materials Management) bao gồm tất cả các hoạt động liên quan đến các giai đoạn của quá trình sản xuất trong một chuỗi cung ứng.
- Tuyến phân phối sản phẩm vật chất (Physical Distribution) bao gồm hàng loạt các hoạt động liên quan đến dòng vận động của hàng hóa từ điểm sản xuất đến điểm bán hàng và tiêu dùng.
Các hoạt động cơ bản trong chuỗi hoạt động logistics bao gồm: Mua sắm vật tư, lưu kho và dự trữ, vận tải và giao nhận, kho bãi và phân phối, hệ thống thông tin và dịch vụ khách hàng. Trong tất cả các yếu tố cấu thành chuỗi logistics thì vận tải giao nhận là một trong những khâu quan trọng nhất, có ảnh hưởng lớn tới chất lượng dịch vụ và chi phí logistics. Vận tải giao nhận tốt sẽ góp phần đảm bảo cung ứng hàng hóa một cách nhanh chóng, kịp thời, ổn định, rút ngắn thời gian giao hàng cho khách, nâng cao trình độ dịch vụ. Không những thế, vận tải giao nhận tốt còn cho phép doanh nghiệp giảm đến mức thấp nhất chi phí, thiệt hại do lưu kho, tồn đọng sản phẩm và nhờ đó giảm chi phí logistics nói chung. Thông thường, chi phí vận tải giao nhận có thể chiếm tới hơn 1/3 tổng chi phí logistics.
Theo luật thương mại mới được Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XI tại kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2022, dịch vụ giao nhận được đổi tên thành dịch vụ Logistics và được định nghĩa là: “Hoạt động thương mại, theo đó, thương nhân, tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, và các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao. Dịch vụ logistics được phiên âm theo tiếng Việt là dịch vụ lô – gi – stíc”. Có thể thấy theo định nghĩa này chỉ cần thực hiện một trong số các công việc kể trên các công ty cũng được hiểu là làm dịch vụ Logistics. Cách hiểu này là không chính xác về dịch vụ logistics, đã vô hình chung coi logistics là một tên gọi khác của hoạt động giao nhận vận tải. Các doanh nghiệp trong ngành giao nhận vận tải và logistics của Việt Nam hầu như mới chỉ dừng lại ở một trong rất nhiều chuỗi dịch vụ Logistics mà phổ biến nhất là hình thức giao nhận, cho thuê kho bãi, vận chuyển nội địa.
II. Vai trò của người giao nhận trong hoạt động vận tải và thương mại quốc tế Khóa luận: Người giao nhận và vai trò của người giao nhận.
1. Vai trò của người giao nhận
Trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế của Việt nam, cùng với sự phát triển và tăng trưởng kinh tế của đất nước, vai trò của người giao nhận cũng ngày càng lớn mạnh theo. Điều này thể hiện qua một số mặt sau:
- Giúp tiết kiệm thời gian, chi phí cho hoạt động sản xuất, kinh doanh
Trong quá trình tái sản xuất xã hội, khâu lưu thông hàng hóa cũng như luân chuyển tư liệu sản xuất chiếm vị trí đặc biệt quan trọng. Nhờ sự chuyên môn hóa cao mà các doanh nghiệp sản xuất chỉ cần tiếp xúc với một đầu mối là người giao nhận vẫn có thể đảm bảo được nguồn đầu vào, nơi lưu kho hàng hóa, giao nhận hàng hóa cho đối tác…Điều này không chỉ giúp doanh nghiệp tiết kiệm được thời gian, công sức, mà còn giúp họ tập trung vào sản xuất, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được phát triển. Trong giá bán của sản phẩm thì chi phí lưu thông, vận chuyển chiếm tỷ trọng khá lớn, việc chuyên môn hóa khâu lưu thông hay nói cách khác sự phát triển của ngành giao nhận giúp giảm giá bán, đẩy nhanh tốc độ lưu thông hàng hóa, tăng khối lượng hàng trong thương mại, tạo nên quá trình vận chuyển hàng mang tính chuyên môn hóa cao. Như vậy, việc giảm giá bán được một phần là nhờ giảm chi phí lưu thông qua hoạt động giao nhận. Người giao nhận chuyên cung cấp dịch vụ vận tải, do họ đã có sẵn phương tiện vận tải chuyên nghiệp, kinh doanh trên những tuyến đường cố định, nên khách hàng sử dụng dịch vụ này không phải đầu tư phương tiện vận tải đồng thời được hưởng mức cước thấp.
Bên cạnh việc giá bán hàng hóa giảm nhờ giảm chi phí lưu thông, người giao nhận với trình độ nghiệp vụ cũng như cơ sở hạ tầng của mình còn giúp cho hàng hóa được luân chuyển nhanh, an toàn, đảm bảo chất lượng, đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng, nhờ đó làm tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường. Việc phát triển dịch vụ giao nhận giúp các doanh nghiệp không còn phải tự lo các loại giấy tờ, thủ tục, thay vào đó các công việc này được giao cho các nhà giao nhận chuyên nghiệp với những kỹ năng được đào tạo bài bản, cùng hệ thống các mối quan hệ rộng rãi, giúp cho việc thực hiện được diễn ra suôn sẻ, nhanh chóng, đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
- Góp phần mở rộng thị trường Khóa luận: Người giao nhận và vai trò của người giao nhận.
Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin cho phép kết hợp các quá trình sản xuất, lưu kho hàng hoá, tiêu thụ với hoạt động vận tải một cách hiệu quả hơn, nhanh chóng hơn đồng thời phức tạp hơn. Nó cũng cho phép người vận tải nâng cao chất lượng dịch vụ đối với người gửi hàng. Phát triển các dịch vụ truyền thống ở mức độ càng cao, người vận tải càng có khả năng mở rộng thị trường. Trước đây, hàng hoá thường đi từ nước người bán đến nước người mua thường dưới hình thức hàng lẻ, phải qua tay nhiều người vận tải và nhiều phương thức vận tải khác nhau. Do vậy xác suất xảy ra rủi ro, mất mát đối với hàng hoá thường rất lớn, người gửi hàng phải ký nhiều hợp đồng vận tải riêng biệt với từng người vận tải thực sự, trách nhiệm của mỗi người vận tải cũng chỉ giới hạn trong chặng đường, hay dịch vụ do người đó đảm nhiệm mà thôi. Cách mạng container hoá trong hoạt động vận tải vào những năm 60, 70 của thế kỷ này đã đảm bảo an toàn và tăng độ tin cậy trong vận chuyển hàng hoá, là tiền đề cho sự ra đời của vận tải đa phương thức. Vì vậy, khách hàng rất cần một người có thể tổ chức mọi công việc ở tất cả các công đoạn để tiết kiệm chi phí, giảm thời gian hao phí, từ đó làm tăng lợi nhuận. Chính các nhà giao nhận là những người đứng ra đảm nhận những công việc này.
Nhờ có người giao nhận mà công việc lưu thông, vận chuyển hàng hóa diễn ra suôn sẻ, nhanh chóng hơn, đồng thời giúp các nhà sản xuất có điều kiện mở rộng thị trường. Trước đây khi hoạt động giao nhận chưa phát triển, mỗi nhà sản xuất chỉ có thể tập trung vào một số thị trường nhất định. Đó là do chi phí dành cho việc vận chuyển rất lớn, thị trường càng xa thì chi phí này càng cao từ đó làm cho giá hàng hóa cũng tăng theo. Điều này làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Ngày nay, nhờ có dịch vụ giao nhận phát triển cao, việc tổ chức vận chuyển diễn ra chuyên nghiệp, nhanh chóng đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng phạm vi kinh doanh, mạng lưới phân phối của họ từ đó được mở rộng trên toàn thế giới.
- Mang lại nhiều lợi ích kinh tế, xã hội
Sự phát triển của ngành giao nhận đã tạo điều kiện cho chính phủ có thêm nguồn thu ngoại tệ, đẩy mạnh hơn nữa quá trình giao lưu kinh tế, xã hội, nối liền các hoạt động kinh tế giữa các khu vực trong nước với nước ngoài, giữa các nước với nhau.
Đặc biệt việc ứng dụng vận tải đa phương thức đã tạo điều kiện giúp đơn giản hóa các chứng từ, thủ tục thương mại, hải quan, do đó hấp dẫn các bạn hàng nước ngoài. Nó cũng giúp tạo thêm nguồn thu cho các công ty giao nhận trong nước và tạo điều kiện ứng dụng nhanh công nghệ vận tải hiện đại, trên cơ sở đó cơ sở hạ tầng vận tải được chú trọng đầu tư xây dựng hơn. Kết quả là hiện nay đã có nhiều công trình bến cảng, kho bãi chuyên dụng và các tuyến đường vận tải mới được ra đời.
Cùng với sự phát triển của hoạt động giao nhận vận tải, ngày nay có nhiều loại hình bảo hiểm phục vụ cho hoạt động của người giao nhận đã ra đời như bảo hiểm trách nhiệm dân sự của người giao nhận, bảo hiểm phương tiện vận chuyển…Sự ra đời của các loại hình bảo hiểm này đã góp phần đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, phục vụ tốt hơn cho hoạt động giao nhận vận tải.
Một vai trò khác không thể không nhắc tới đó là việc ngành giao nhận vận tải đã mang lại vô số việc làm cho người lao động. Đó không chỉ là các công việc chuyên môn liên quan đến hoạt động giao nhận như làm chứng từ, khai báo hải quan… mà còn tạo ra hàng loạt các công việc khác như chở hàng, bốc xếp, dán nhãn, kẻ ký mã hiệu… Đặc biệt sự phát triển của vận tải đa phương thức đòi hỏi phải ứng dụng các công nghệ mới, phương thức vận tải mới, đi kèm với đó là yêu cầu phải ứng dụng những kỹ thuật tiên tiến, hiện đại cũng như sự xuất hiện của nhiều ngành nghề mới. Điều này đòi hỏi phải có một đội ngũ công nhân viên, chuyên gia, cán bộ nghiệp vụ thành thạo trong việc vận hành, sửa chữa, bảo quản, gia cố các máy móc, thiết bị, những người hiểu biết về các nghiệp vụ giao nhận, lưu kho, vận chuyển container. Hiện nay ở nước ta cũng đã xuất hiện rất nhiều trung tâm gom hàng, giao nhận, phát hàng, hoàn trả vỏ container, cùng các hệ thống kho bãi, đội ngũ cán bộ nghiệp vụ chuyên lo giải quyết các thủ tục, giấy tờ, chứng từ theo tiêu chuẩn quốc tế. Khóa luận: Người giao nhận và vai trò của người giao nhận.
Tóm lại, nhờ có sự ra đời, phát triển của người giao nhận và các dịch vụ mà họ cung cấp mà các thủ tục chứng từ có liên quan đến quá trình giao nhận vận tải được đơn giản hóa, thời gian vận chuyển được rút ngắn lại, khối lượng hàng hóa được trao đổi trong thương mại và vận tải quốc tế ngày một tăng lên. Sự phát triển của hoạt động giao nhận đã tạo điều kiện ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật mới vào hoạt động sản xuất, lưu thông và phân phối, phát huy được những lợi ích to lớn của hoạt động gom hàng, vận tải container, vận tải đa phương thức như tiết kiệm chi phí vận tải, chi phí bảo hiểm, giúp hạ giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm, góp phần hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng cơ sở, tăng năng suất lao động xã hội, tạo ra nhiều ngành nghề dịch vụ mới, giải quyết một khối lượng lớn việc làm cho xã hội, góp phần nâng cao đời sống nhân dân.
2. Chức năng của người giao nhận
Ngày nay do sự phát triển của vận tải Container, vận tải đa phương thức, người giao nhận không chỉ làm đại lý, người ủy thác mà còn cung cấp dịch vụ vận tải và đóng vai trò như một bên chính (Principal) – người chuyên chở (Carrier).
Người giao nhận đã làm chức năng và công việc của những người sau đây:
- Môi giới hải quan (Customs broker)
Giai đoạn đầu, hoạt động của người giao nhận chỉ bó hẹp trong nước. Công việc chính của họ lúc bấy giờ là làm thủ tục hải quan đối với hàng nhập khẩu. Tuy nhiên sau đó người giao nhận đã mở rộng hoạt động phục vụ cả hàng xuất khẩu, đồng thời thực hiện một số dịch vụ khác như giành chỗ chở hàng trong vận tải quốc tế, lưu cước với các hãng tàu theo sự ủy thác của người xuất khẩu hay nhập khẩu tùy thuộc vào quy định của hợp đồng mua bán. Trên cơ sở được Nhà nước cho phép, người giao nhận đứng ra thay mặt người xuất khẩu, người nhập khẩu để khai báo, làm thủ tục hải quan, họ được coi như những môi giới hải quan.
- Đại lý (Agent)
Đại lý được định nghĩa là một thương nhân được người ủy thác giao cho làm một hoặc một số công việc nhất định và được hưởng thù lao cho việc thực hiện các công việc đó. Người giao nhận hoạt động với tư cách là đại lý được coi như một cầu nối giữa người gửi hàng và người chuyên chở. Người giao nhận nhận ủy thác từ chủ hàng hoặc từ người chuyên chở để thực hiện các công việc khác nhau như: nhận hàng, giao hàng, lập chứng từ, làm thủ tục hải quan, lưu kho…trên cơ sở hợp đồng ủy thác. Hoạt động của người giao nhận giúp cho việc kinh doanh của người chuyên chở tốt hơn, giúp họ am hiểu, gần gũi khách hàng hơn. Nếu người chuyên chở tổ chức được nhiều đại lý ở các khu vực thị trường khác nhau thì sẽ dễ dàng tìm được các khách hàng mới hơn. Người giao nhận còn có thể làm các dịch vụ mà hãng chuyên chở ủy thác. Đối với người gửi hàng thì các đại lý này giúp họ có thể nhanh chóng tiếp cận được với người chuyên chở.
- Người gom hàng (Cargo Consolidator) Khóa luận: Người giao nhận và vai trò của người giao nhận.
Gom hàng (Condolidation, Groupage) là việc tập hợp những lô hàng lẻ từ nhiều người gửi ở cùng một nơi đi thành một lô hàng nguyên container để gửi và giao cho một hoặc nhiều người nhận ở cùng một nơi đến. Hàng lẻ (LCL) là những lô hàng nhỏ không đủ một container hoặc những lô hàng lớn nhưng có nhiều người gửi, nhiều người nhận. Ở Châu Âu, từ rất xa xưa người giao nhận đã cung cấp dịch vụ gom hàng để phục vụ cho vận tải đường sắt. Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của vận tải hàng hóa bằng container, dịch vụ gom hàng lại càng không thể thiếu nhằm biến những lô hàng lẻ (LCL) thành hàng nguyên container (FCL) nhằm tận dụng sức chứa của container và giảm cước phí vận tải.
Khi thực hiện việc gom hàng, người giao nhận đóng vai trò là người chuyên chở đối với những người gửi hàng, và đóng vai trò là người gửi hàng với những người “chuyên chở thực sự‟‟. Những người gửi hàng lẻ, nhận hàng lẻ không trực tiếp tiếp xúc với “người chuyên chở thực sự‟‟.
- Người chuyên chở (Carrier), người kinh doanh cước vận chuyển
Ngày nay việc người giao nhận đứng ra đảm nhận vai trò của người chuyên chở ngày càng phổ biến, họ trực tiếp ký kết hợp đồng vận tải với chủ hàng và chịu trách nhiệm chuyên chở hàng hóa từ một nơi này đến một nơi khác. Nếu người giao nhận chỉ ký hợp đồng mà không trực tiếp chuyên chở thì họ được coi là những người thầu chuyên chở (Contracting Carrier). Còn nếu họ trực tiếp chuyên chở thì người giao nhận lại trở thành người chuyên chở thực tế (Performing/ Actual Carrier).
Đối với hoạt động kinh doanh cước vận chuyển: do người giao nhận nắm bắt được tốt hơn tình hình thị trường vận tải so với những người xuất nhập khẩu nên họ có thể kí kết được các hợp đồng vận chuyển với giá cả và chi phí thấp hơn hẳn. Từ đó xuất hiện hiện tượng người giao nhận dùng giá cước vận chuyển để kinh doanh, bán lại cho người xuất nhập khẩu. Người giao nhận sẽ hưởng phần chênh lệch giữa giá mua cước vận chuyển của người chuyên chở và giá bán cước vận chuyển cho người xuất nhập khẩu.
- Người kinh doanh vận tải đa phương thức (Multimodal Transport Operator)
Vận tải đa phương thức (Multimodal Transport) quốc tế hay còn gọi là vận tải liên hợp quốc tế (International Combined Transport) là phương pháp vận tải hàng hóa bằng ít nhất hai phương thức vận tải khác nhau trở lên, trên cơ sở một hợp đồng vận tải đa phương thức từ một điểm ở một nước này tới một điểm chỉ định ở một nước khác để giao hàng.
Trong thực tế, vận tải đa phương thức có các hình thức kết hợp, hoặc theo các hệ thống sau:
- Vận tải biển / Vận tải hảng không (Sea/Air) Khóa luận: Người giao nhận và vai trò của người giao nhận.
Mô hình này là sự kết hợp giữa tính kinh tế của vận tải bằng đường biển và tốc độ của vận tải bằng đường hàng không. Mô hình này thường được áp dụng trong việc chuyên chở những mặt hàng có giá trị cao như đồ điện, điện tử và những hàng hóa có tính chất thời vụ như quần áo, đồ chơi, giầy dép. Hàng hóa sau khi được vận chuyển bằng đường biển tới các cảng chuyển tải sẽ được chuyển tiếp sang các máy bay để nhanh chóng đưa tới các trung tâm thương mại nằm sâu trong đất liền.
- Vận tải đường ô tô/ Vận tải hàng không (Road/Air)
Mô hình này sử dụng nhằm khai thác ưu thế linh hoạt, cơ động của vận tải đường ô tô và sự nhanh chóng của vận tải hàng không. Người ta sử dụng ô tô để chuyên chở hàng hóa tới các cảng hàng không hoặc phân phối hàng từ các cảng hàng không đến tay người nhận ở sâu trong nội địa.
- Vận tải đường sắt / Vận tải đường ô tô (Rail/Road)
Đây là mô hình kết hợp được tính an toàn, tốc độ nhanh của vận tải đường sắt với tính cơ động, linh hoạt của vận tải đường bộ. Hàng được đóng vào các trailer và được kéo đến ga đường sắt bằng các đầu máy kéo (Tractor). Tại đây, các trailer được kéo lên toa xe mặt phẳng và chở đến ga đến. Sau đó, các máy kéo lại kéo các trailer xuống và chở đến nơi đến để giao cho người nhận hàng. Hình thức vận tải trên được áp dụng phổ biến ở Châu Âu và Châu Mỹ.
- Vận tải đường sắt/ đường ô tô/ vận tải đường thủy nội địa/ đường biển (Rail/Road/Inland Waterway/Sea)
Đây là mô hình vận tải khá phổ biến để chuyên chở hàng hóa xuất nhập khẩu. Đầu tiên, hàng hóa sẽ được vận chuyển bằng đường sắt, đường ô tô hoặc đường thủy nội địa đến các bến cảng của nước xuất khẩu, rồi sau đó được vận chuyển bằng đường biển tới cảng biển của nước nhập khẩu. Từ đây, hàng hóa lại được vận chuyển đến người nhận nằm sâu trong nội địa bằng đường ô tô, đường sắt hoặc đường thủy nội địa.
- Cầu lục địa Khóa luận: Người giao nhận và vai trò của người giao nhận.
Hàng hóa trong các container được chuyên chở giữa hai vùng biển thông qua một lục địa, lục địa này như một cầu đất liền nối hai vùng biển đó, tức là theo hình thức đường biển – đường bộ – đường biển. Hiện nay trên thế giới có một số tuyến cầu lục địa quan trọng là:
Chuyên chở hàng hóa giữa Châu Âu hoặc Trung Đông và Viễn Đông qua lãnh thổ của các nước thuộc Liên Xô cũ, cách này giúp cho khoảng cách giữa Châu Âu và Châu Á được rút ngắn lại, chỉ còn 13.000 km thay vì phải qua kênh đào Suez mất đến 21.000 km.
Chuyên chở hàng hóa giữa Châu Âu và Viễn Đông qua lãnh thổ của Hoa Kỳ, hàng được chở từ Châu Âu bằng đường biển đến các cảng phía đông nước Mỹ, sau đó lại tiếp tục được vận chuyển bằng đường biển đến các vùng Đông Nam Á và Nhật Bản…
Vận tải đa phương thức mang lại rất nhiều lợi ích cho các bên liên quan đến giao nhận vận tải gồm cả người vận tải, chủ hàng, người giao nhận như giúp giảm chi phí vận chuyển, tăng mức độ an toàn cho hàng hóa, khả năng giao hàng kịp lúc… Tuy nhiên, để phát triển vận tải đa phương thức lại đòi hỏi phải có nhiều vốn để đầu tư cơ sở hạ tầng như đường sá, cầu cống, ga, cảng, bến bãi, trạm đóng gói giao hàng container, phương tiện vận tải, xếp dỡ…
Tóm lại, người giao nhận có khả năng tổ chức quá trình vận chuyển hàng hóa một cách tốt nhất, an toàn nhất và tiết kiệm nhất. Họ được coi như là những “kiến trúc sư của vận tải‟‟ (Architect of Transport).
III. Điều kiện kinh doanh dịch vụ giao nhận tại Việt Nam Khóa luận: Người giao nhận và vai trò của người giao nhận.
Theo luật thương mại ban hành năm 2022, dịch vụ giao nhận được đổi tên thành dịch vụ Logistics nên các quy định về điều kiện kinh doanh đối với thương nhân kinh doanh các dịch vụ Logistics chính là điều kiện kinh doanh của các doanh nghiệp giao nhận tại Việt Nam.
Theo Nghị định của Chính phủ số 140/2024/NĐ-CP ngày 05 tháng 9 năm 2024 thì: Điều kiện kinh doanh đối với thương nhân kinh doanh các dịch vụ lô-gi-stíc chủ yếu.
Thương nhân kinh doanh dịch vụ lô-gi-stíc chủ yếu phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
- Là doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh hợp pháp theo pháp luật Việt
- Có đủ phương tiện, thiết bị, công cụ đảm bảo tiêu chuẩn an toàn, kỹ thuật và có đội ngũ nhân viên đáp ứng yêu cầu.
- Thương nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ lô-gi-stíc ngoài việc đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này chỉ được kinh doanh các dịch vụ lô-gi-stíc khi tuân theo những điều kiện cụ thể sau đây:
- Trường hợp kinh doanh dịch vụ bốc dỡ hàng hoá thì chỉ được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 50%;
- Trường hợp kinh doanh dịch vụ kho bãi thì được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 51%; hạn chế này chấm dứt vào năm 2030;
- Trường hợp kinh doanh dịch vụ đại lý vận tải thì được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 51%, được thành lập công ty liên doanh không hạn chế tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài kể từ năm 2030;
- Trường hợp kinh doanh dịch vụ bổ trợ khác thì được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%; hạn chế này là 51% kể từ năm 2027 và chấm dứt hạn chế vào năm 2030.
Điều kiện kinh doanh đối với thương nhân kinh doanh các dịch vụ lô-gi-stíc liên quan đến vận tải:
Thương nhân kinh doanh dịch vụ lô-gi-stíc liên quan đến vận tải theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định này phải đáp ứng các điều kiện sau đây: Khóa luận: Người giao nhận và vai trò của người giao nhận.
- Là doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh hợp pháp theo pháp luật Việt
- Tuân thủ các điều kiện về kinh doanh vận tải theo quy định của pháp luật Việt Nam.
- Thương nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ lô-gi-stíc ngoài việc đáp ứng các điều kiện quy định tại các khoản 1, 2 Điều này chỉ được kinh doanh các dịch vụ lô-gi-stíc khi tuân theo những điều kiện cụ thể sau đây:
- Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hải thì chỉ được thành lập công ty liên doanh vận hành đội tàu từ năm 2026, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%; được thành lập liên doanh cung cấp dịch vụ vận tải biển quốc tế trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 51%, hạn chế này chấm dứt vào năm 2029;
- Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải thuỷ nội địa thì chỉ được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%;
- Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng không thì thực hiện theo quy định của Luật hàng không dân dụng Việt Nam;
- Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải đường sắt thì chỉ được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%;
- Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải đường bộ thì được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%; hạn chế này là 51% kể từ năm 2027;
- Không được thực hiện dịch vụ vận tải đường ống, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.
Điều kiện kinh doanh đối với thương nhân kinh doanh các dịch vụ lô-gi-stíc liên quan khác:
Thương nhân kinh doanh dịch vụ lô-gi-stíc liên quan khác theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Nghị định này phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
- Là doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh hợp pháp theo pháp luật Việt
- Thương nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ lô-gi-stíc chỉ được kinh doanh các dịch vụ lô-gi-stíc khi tuân theo những điều kiện cụ thể sau đây:
Trường hợp kinh doanh dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật:
Đối với những dịch vụ được cung cấp để thực hiện thẩm quyền của Chính phủ thì chỉ được thực hiện dưới hình thức liên doanh sau ba năm hoặc dưới các hình thức khác sau năm năm, kể từ khi doanh nghiệp tư nhân được phép kinh doanh các dịch vụ đó.
Không được kinh doanh dịch vụ kiểm định và cấp giấy chứng nhận cho các phương tiện vận tải.
Việc thực hiện dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật bị hạn chế hoạt động tại các khu vực địa lý được cơ quan có thẩm quyền xác định vì lý do an ninh quốc phòng.
- Trường hợp kinh doanh dịch vụ bưu chính, dịch vụ thương mại bán buôn, dịch vụ thương mại bán lẻ thực hiện theo quy định riêng của Chính phủ.
- Không được thực hiện các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác. Khóa luận: Người giao nhận và vai trò của người giao nhận.
IV. Một số tổ chức liên quan đến hoạt động của người giao nhận
1. Liên đoàn quốc tế các Hiệp hội giao nhận (Fédération Internationale des Associations de Transitaires et Assimilés – FIATA)
Liên đoàn quốc tế các Hiệp hội giao nhận (Fédération Internationale des Associations de Transitaires et Assimilés – FIATA) được thành lập vào ngày 31.5.1926 tại Viên, thủ đô nước Áo, trụ sở chính đóng tại Zurich, Thụy Sĩ.
FIATA là một tổ chức phi chính phủ tự nguyện đại diện cho hơn 2550 doanh nghiệp giao nhận tại hơn 130 quốc gia trên thế giới. Thành viên gồm các hội viên chính thức là Liên đoàn giao nhận của các nước và hội viên hợp tác là các công ty giao nhận riêng lẻ.
Việc thành lập liên đoàn giao nhận quốc tế nhằm mục đích:
- Tăng cường bảo vệ lợi ích liên quan đến người giao nhận trên phạm vi quốc tế
- Nâng cao chất lượng, dịch vụ giao nhận
- Liên kết nghề nghiệp
- Tuyên truyền dịch vụ giao nhận vận tải
- Xúc tiến quá trình đơn giản hóa, thống nhất chứng từ
- Đào tạo nghiệp vụ ở trình độ quốc tế
- Tăng cường các quan hệ phối hợp giữa các tổ chức giao nhận với chủ hàng và người chuyên chở.
2. Tổ chức Hải quan thế giới – WCO
Ngày 12.9.1947, 13 chính phủ đại diện cho Ủy ban Hợp tác kinh tế Châu Âu đã thống nhất thành lập một Nhóm nghiên cứu để xem xét khả năng thành lập một Liên minh Hải quan giữa các nước Châu Âu trên cơ sở các nguyên tắc của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT).
Đến năm 1948, Nhóm nghiên cứu cho ra đời hai Ủy ban: Ủy ban về kinh tế (tiền thân của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD) và Ủy ban về Hải quan, sau này trở thành Hội đồng Hợp tác Hải quan (CCC). Vào năm 1994 CCC được đổi tên thành tổ chức Hải quan thế giới WCO. Tính đến năm 1993, Hội đồng đã có 104 thành viên, cho ra đời 15 Công ước Quốc tế và 50 khuyến nghị về các lĩnh vực hoạt động của Hải quan.
Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Hội đồng Hợp tác Hải quan từ ngày 1.7.1993. Kể từ khi gia nhập, Hải quan Việt Nam luôn tích cực thực hiện nghĩa vụ của mình trong khuôn khổ các hoạt động hàng năm của WCO.
3. Liên đoàn các Hiệp hội giao nhận các nước ASEAN (AFFA) Khóa luận: Người giao nhận và vai trò của người giao nhận.
- Ra đời từ năm 1991, AFFA là một tổ chức nghề nghiệp, tự nguyện, hoạt động không vì lợi nhuận.
Mục tiêu chính của AFFA:
- Thông qua các tổ chức giao nhận của từng quốc gia, thống nhất tất cả các nhà giao nhận thuộc khu vực ASEAN
- Khuyến khích, xúc tiến, duy trì và phát triển quan hệ hợp tác giữa các nhà giao nhận trong khu vực ASEAN
- Đại diện quyền lợi chung cho các hội viên trong lĩnh vực giao nhận có tính đặc thù của khu vực ASEAN
- Tìm cách nâng cao chất lượng, tiêu chuẩn, phẩm chất chuyên môn của các nhà giao nhận
Tháng 11 năm 2017, tại Hội nghị lần thứ 9 tổ chức tại Manila – Philippines, Hiệp hội Giao nhận kho vận Việt Nam (VIFFAS) đã chính thức trở thành thành viên của AFFA. Các thành viên khác của AFFA như: Hiệp hội Giao nhận kho vận Thái Lan (TIFFA), Hiệp hội giao nhận kho vận Indonesia (INFA), Hiệp hội giao nhận kho vận Philipin (FAP)…
4. Hiệp hội giao nhận kho vận Việt nam – VIFFAS
- Khái quát chung
Hiệp hội giao nhận kho vận Việt Nam (Vietnam freight forwarders association – Viffas) là một tổ chức xã hội nghề nghiệp của các doanh nghiệp và các cá nhân (Hội viên) hoạt động trong lĩnh vực giao hàng, nhận hàng, kho hàng và tổ chức chuyên chở hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam, tự nguyện thành lập nhằm mục đích hợp tác, liên kết, hỗ trợ và giúp đỡ lẫn nhau trong việc phát triển nghề nghiệp, nâng cao hiệu quả kinh doanh và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các hội viên trong các hoạt động thuộc lĩnh vực giao nhận kho vận hàng hóa xuất nhập khẩu của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trên cơ sở đó hội nhập với các hoạt động cùng loại của các đồng nghiệp từ khắp nơi trên thế giới tuân theo quy định của pháp luật. Hiệp hội là tổ chức đại diện duy nhất của Việt Nam trở thành hội viên đầy đủ và chính thức (Ordinary member) của Liên đoàn Quốc tế các hiệp hội giao nhận (International Federation of Freight Forwarders Association) cũng như các tổ chức giao nhận kho vận khác.
- Mục tiêu hoạt động
Hiệp hội phối hợp hoạt động của các hội viên nhằm bảo vệ quyền lợi kinh tế, chính trị và nâng cao địa vị của nước Việt Nam trong các lĩnh vực có liên quan đến hoạt động giao nhận kho vận quốc tế cũng như quyền lợi của các hội viên; tạo nên mối quan hệ hợp tác, liên kết, hỗ trợ và giúp đỡ nhau giữa các hội viên của Hiệp hội; góp phần nâng cao trình độ nghiệp vụ, hình thức hoạt động, cải tiến chất lượng hoạt động kinh doanh để góp phần đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu, mở rộng hơn nữa quan hệ kinh tế đối ngoại và hợp tác đầu tư với nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Hiệp hội đại diện cho quyền lợi của các doanh nghiệp hội viên về các lĩnh vực giao nhận kho vận trong các quan hệ hợp tác, buôn bán quốc tế. Khóa luận: Người giao nhận và vai trò của người giao nhận.
Hiệp hội tận dụng mọi điều kiện, phương tiện, tổ chức để bảo vệ và giúp đỡ hội viên trong việc nâng cao và cải tiến chất lượng hoạt động trong lĩnh vực giao nhận kho vận nhằm đáp ứng kịp thời các yêu cầu ngày càng tăng trong lĩnh vực này của các khách hàng trong và ngoài nước.
Hiệp hội giúp đỡ hội viên đào tạo, bổ túc, nâng cao trình độ nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, nhân viên, chuyên gia hoạt động trong lĩnh vực giao nhận kho vận để theo kịp các yêu cầu về nghiệp vụ của các đồng nghiệp trên thế giới.
- Hội viên của hiệp hội
Hội viên chính thức: Là các doanh nghiệp 100% vốn của Việt Nam có đăng ký ngành nghề kinh doanh chính là giao nhận kho vận và có số vốn đăng ký không ít hơn mức giới hạn trách nhiệm của người giao nhận vận tải được quy định tại Điều 35 (a) (iii) của “Điều kiện kinh doanh chuẩn” của Hiệp hội và có ít nhất 2 năm (kể từ ngày thành lập doanh nghiệp) hoạt động trong lĩnh vực giao nhận kho vận.
Hội viên liên kết: Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động tại Việt Nam tuân theo Luật Đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp cổ phần có cổ đông nước ngoài có đóng góp cho sự phát triển của Hiệp hội, tán thành các điều lệ, quy định của Hiệp hội cũng có thể được xét công nhận là hội viên liên kết của Hiệp hội.
Hội viên danh dự: Các chuyên gia Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực giao nhận kho vận, có trình độ chuyên môn và đóng góp vào việc thực hiện nhiệm vụ của Hiệp hội.
Tóm lại chúng ta có thể thấy, đặc điểm nổi bật của buôn bán quốc tế là người mua và người bán ở các nước khác nhau, để quá trình vận chuyển hàng hóa từ nước người mua sang nước người bán được diễn ra suôn sẻ cần phải thực hiện một loạt các công việc như: đóng gói bao bì, kẻ ký mã hiệu, lưu kho, đưa hàng ra cảng, làm các thủ tục, xếp hàng, chuyển tải… những công việc này do người giao nhận đảm nhiệm. Cùng với sự phát triển của thương mại quốc tế và sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, phương tiện vận chuyển mà phạm vi dịch vụ giao nhận cũng được mở rộng hơn, vai trò của người giao nhận trong hoạt động vận tải và thương mại quốc tế cũng ngày một lớn hơn, đóng góp vào sự phát triển kinh tế chung của một đất nước. Khóa luận: Người giao nhận và vai trò của người giao nhận.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Thực trạng hoạt động của người giao nhận trong vận tải
