Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng MB

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng MB hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

I. Tổng quan về Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân Đội

1. Khái quát về Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân Đội

1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân Đội

Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân Đội (Military Join Stock Bank) tên viết tắt là MB được thành lập vào năm 1994, theo quyết định số 00374/GP-UB của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội. Ngày 4/11/1994, Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân Đội chính thức đi vào hoạt động theo Giấy phép số 0054/NH-GP của Ngân hàng nhà nước Việt Nam với số vốn điều lệ là 20 tỷ đồng, thời gian hoạt động là 50 năm.

Mục tiêu ban đầu của Ngân hàng là đáp ứng nhu cầu vốn và các dịch vụ tài chính của các doanh nghiệp Quân Đội làm kinh tế. Cùng với quá trình phát triển kinh tế của đất nước, với đường lối chính sách đúng đắn, Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân Đội đã gặt hái được nhiều thành công, không chỉ đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp Quân Đội mà còn phục vụ có hiệu quả tất cả các thành phần kinh tế, đóng góp một phần quan trọng vào sự phát triển của các khách hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung.

Từ năm 1994 – 2023, NH có trụ sở ở 28A Điện Biên Phủ, Quận Ba Đình, Hà Nội. Từ năm 2024 đến nay, NH chuyển trụ sở chính tới số 3, Liễu Giai, Quận Ba Đình, Hà Nội. Đồng thời, một sở giao dịch mới được thành lập với cùng địa điểm trụ sở chính.

Sự tăng trưởng về vốn và quy mô của Ngân hàng luôn ổn định và liên tục trong suốt hơn 12 năm hoạt động. Tổng vốn điều lệ của Ngân hàng tăng liên tục từ 20 tỷ đồng năm 1994 lên đến 1.045,2 tỷ đồng năm 2025, tăng 52.26 lần so với ngày đầu thành lập, trong đó có hơn 4.000 cổ đông pháp nhân và thể nhân, thể hiện sự đa dạng hóa trong sở hữu của MB. Dự kiến Ngân hàng sẽ tiếp tục tăng vốn điều lệ trong những năm tiếp theo để phục vụ nhu cầu hoạt động từ 1.045,2 tỷ đồng lên 2.000 tỷ đồng vào cuối năm 2026 và dự kiến sẽ đạt 7.300 tỷ đồng vào năm 2030. Huy động vốn tính đến ngày 31/12/2025 đạt 11.511 tỷ đồng, tăng 63.36% so với đầu năm và tăng 1082 lần so với ngày đầu thành lập, trong đó vốn huy động từ dân cư ngày càng tăng, chiếm 50% tỷ lệ nguồn vốn huy động, vượt kế hoạch cả năm là 20%. Tổng dư nợ đạt 6.166,62 tỷ đồng vào năm 2025, tăng 38% so với đầu năm và tăng 411 lần so với ngày đầu thành lập. Tổng tài sản tăng tương ứng từ 32 tỷ đồng năm 1994 lên đến 13.529,6 tỷ đồng năm 2025. Lợi nhuận trước thuế tăng từ 4,8 tỷ đồng năm 1995 lên 252,9 tỷ đồng năm 2025. Như vậy, tổng lợi nhuận trước thuế của Ngân hàng kể từ khi thành lập đạt trên 910 tỷ đồng, góp phần đưa ngân hàng Thương mại cổ phần Quân Đội trở thành một trong những ngân hàng có mức lợi nhuận trước thuế cao nhất trong hệ thống các Ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn Hà Nội. Nếu xét chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế trên vốn chủ sở hữu thì ngân hàng Thương mại cổ phần Quân Đội luôn duy trì được mức ROE trên 20% trong những năm vừa qua. Chính vì vậy, tỷ lệ chia cổ tức hàng năm đạt 15-20%. Đặc biệt, tỷ lệ chia cổ tức cho cổ đông năm 2025 là 60% trong đó 42% được chia bằng cổ phiếu và 18% được chia bằng tiền mặt.

Các sản phẩm dịch vụ của MB không ngừng được đa dạng hóa theo hướng hoàn thiện và phát huy dịch vụ truyền thống kết hợp với phát triển các dịch vụ hiện đại như: hệ thống thanh toán qua thẻ ATM, Mobile Banking, Internet Banking, mạng lưới máy chấp nhận thẻ POS…Dịch vụ của MB liên tục được cải thiện, mang lại cho khách hàng không những hiệu quả cao về tài chính mà còn cả sự yên tâm tuyệt đối. Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng MB.

Song song với việc nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, MB đặc biệt chú trọng mở rộng mạng lưới kênh phân phối tại các khu vực kinh tế trọng điểm của cả nước. Từ 1 điểm giao dịch đầu tiên, đến nay MB đang có 40 chi nhánh và điểm giao dịch trên khắp đất nước. Cùng với việc mở rộng mạng lưới chi nhánh trong nước, Ngân hàng cũng rất chú trọng đến việc mở rộng quan hệ hợp tác và mạng lưới giao dịch với các ngân hàng trên thế giới. Cho đến nay, mạng lưới các ngân hàng đại lý của Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân Đội đã mở rộng gần 600 ngân hàng trên thế giới đảm bảo thanh toán và giao dịch với tất cả các Châu lục trên thế giới.

Nhận thức được chất lượng đội ngũ nhân viên chính là sức mạnh của Ngân hàng, hàng năm, hàng ngàn lượt cán bộ, nhân viên chủ chốt của MB đã được cử đi đào tạo trong và ngoài nước. Trong vòng từ năm 2024 đến đầu năm 2026, gần 600 cán bộ, nhân viên đã được MB tuyển dụng vào làm việc tại Ngân hàng. Bởi vậy, hiện nay hơn 1.000 cán bộ, nhân viên đang cống hiến và làm việc tại Ngân hàng với những chính sách, chế độ đãi ngộ thỏa đáng. Dự kiến đến cuối năm 2026, con số này sẽ tăng lên 50-60%.

Cùng với số lượng nhân viên trẻ, dồi dào và có chuyên môn hóa cao, MB đang phát triển trở thành Ngân hàng đa năng với việc thành lập các công ty chứng khoán Thăng Long, công ty quản lý nợ và khai thác tài sản, công ty quản lý quỹ đầu tư Hà Nội, tham gia góp vốn đầu tư các công ty trực thuộc đã hoạt động hiệu quả, có lợi nhuận và tạo lập được uy tín trên thị trường. Công tác quản trị rủi ro được đặt lên hàng đầu nhằm đưa ra các giải pháp tổng thể để giảm thiểu rủi ro không chỉ cho Ngân hàng mà cho cả khách hàng. MB luôn đảm bảo tỷ lệ an toàn theo tiêu chuẩn quốc tế và tỷ lệ nợ xấu ở mức hợp lý.

Kế thừa bản lĩnh và đạo đức của người lính, mỗi nhân viên thuộc đại gia đình ngân hàng Quân Đội đang quyết tâm và đồng lòng hướng tới mục tiêu phát triển Ngân hàng trở thành một trong những ngân hàng Thương mại cổ phần hàng đầu tại Việt Nam, trở thành một đối tác tin cậy, an toàn và trung thực, đem lại lợi ích tối đa cho khách hàng thông qua việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng tiện ích và ưu việt, cung cấp các sản phẩm đa dạng, luôn cải tiến phù hợp theo xu thế thị trường và yêu cầu ngày càng cao của khách hàng.

1.2. Cơ cấu tổ chức Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng MB.

Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng được xây dựng theo chiến lược phát triển ngân hàng Quân đội giai đoạn 2023 – 2027. Cơ cấu tổ chức nhằm khai thác hiệu quả các nguồn lực theo định hướng tập trung vào khách hàng, phát triển hoạt động bán hàng và các dịch vụ ưu việt, xây dựng văn hóa quản trị rủi ro.

Với mục tiêu xây dựng chiến lược kinh doanh mới theo định hướng khách hàng và nhằm tăng năng lực rủi ro trong thời gian tới, trong những năm qua, Ngân hàng Thương mại cổ phần QĐ đã không ngừng xây dựng, đổi mới mô hình tổ chức theo chiều hướng tích cực, điển hình là có sự phân tích rõ ràng giữa hoạt động quản lý và hoạt động kinh doanh của hội sở và các chi nhánh theo mô hình tổ chức hiện đại của các ngân hàng thế giới.

Mô hình tổ chức của ngân hàng Thương mại cổ phần Quân Đội là sự kết hợp hài hòa giữa mô hình tổ chức của các ngân hàng cỡ lớn với cơ cấu tổ chức của các ngân hàng cỡ vừa và nhỏ. Chính sự kế thừa có chọn lọc này, đã tạo ra một mô hình quản trị mới, không những phù hợp với quy mô hoạt động của các Ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam, mà thông qua đó ngân hàng Thương mại cổ phần Quân Đội có thể vừa quản lý, vừa điều hành, vừa sử dụng một cách tối đa mọi nguồn lực sẵn có của mình.

1.3. Chức năng, nhiệm vụ các phòng ban

  • Phòng Nhân sự – Hành chính: quản lý, lưu trữ hồ sơ và thông tin nhân viên, lập kế hoạch tổ chức đào tạo nội bộ và gửi cán bộ đi đào tạo, văn thư, lưu trữ.
  • Phòng Kế hoạch tổng hợp và Pháp chế: phân tích và đánh giá các hoạt động của nền kinh tế, thị trường, đối thủ để đề xuất các giải pháp, hướng dẫn, theo dõi việc thực hiện kế hoạch của các đơn vị.
  • Phòng Tài chính – Kế toán: quản lý tài khoản của khách hàng, trực tiếp hạch toán, thống kê và thanh toán, xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch tài chính, quyết toán thu, chi tài chính, quỹ tiền lương.
  • Phòng Công nghệ thông tin: quản lý hệ thống công nghệ thông tin phục vụ cho hoạt động, bảo dưỡng, sửa chữa máy móc.
  • Phòng Quản lý tín dụng: tái thẩm định các hồ sơ vượt hạn mức phán quyết, soạn thảo các quy trình, quy chế về tín dụng, quản lý các thông tin tín dụng.
  • Phòng tín dụng cá nhân: cho cá nhân vay với mục đích tiêu dùng hoặc kinh doanh.
  • Phòng tín dụng doanh nghiệp: cho doanh nghiệp vay, thực hiện thẩm định tín dụng, theo dõi tình hình khoản vay.
  • Phòng Marketing: thực hiện quảng bá hình ảnh, sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, xây dựng, triển khai các chương trình chăm sóc khách hàng.
  • Phòng Ngân quỹ: quản lý tài sản Nợ – Có, quản lý vốn, kinh doanh ngoại tệ.
  • Công ty chứng khoán Thăng Long: môi giới chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, lưu ký chứng khoán.
  • Công ty AMC: quản lý các tài sản nợ đọng, quản lý tài sản đảm bảo.
  • Công ty quản lý quỹ đầu tư Hà Nội: Lập và quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán và các hoạt động kinh doanh khác phù hợp với quy định của pháp luật.

2. Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân Đội Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng MB.

Trong những năm qua, ngân hàng Thương mại cổ phần Quân Đội đã có những bước tiến vượt bậc trên tất cả các lĩnh vực:

  • Bảng 2: Kết quả hoạt động kinh doanh năm 2022 – 9 tháng đầu năm 2026

2.1. Hoạt động huy động vốn

Trong những năm gần đây, hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội đạt mức tăng trưởng đáng kể cả về số lượng lẫn chất lượng và các hình thức huy động vốn rất đa dạng đối với mọi thành phần, tầng lớp kinh tế.

Tính đến 31/12/2025, tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng đạt 11.511,42 tỷ đồng, tăng 64% so với đầu năm, bằng 125% kế hoạch năm. 9 tháng đầu năm 2026, MB đã huy động được 16.997 tỷ đồng đạt 103% kế hoạch, tăng 80% so với cùng kỳ năm trước.

  • Biểu đồ 2: Tổng nguồn vốn huy động giai đoạn 2022 – 9 tháng đầu năm 2026

Cơ cấu huy động vốn của Ngân hàng đang tiếp tục tăng trưởng theo chiều hướng tốt đặc biệt lượng tiền gửi từ dân cư tăng lên đáng kể đạt 4.576,84 tỷ vào năm 2025, tăng 91,2% so với đầu năm. Vốn chủ sở hữu của Ngân hàng đã tăng với tốc độ rất đáng chú ý là 114,6%, góp phần giải quyết mục tiêu quan trọng hàng đầu của Ngân hàng trong tiến trình hội nhập quốc tế về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) (tỷ lệ này đạt trên 8% theo quy định của Ngân hàng nhà nước). Đây là một kết quả tăng trưởng rất khá, thể hiện uy tín và hình ảnh tốt của Ngân hàng Quân đội đối với khách hàng. Đặc biệt, lượng tiền gửi không kỳ hạn của cá nhân tăng trưởng cao, đạt 158,31 tỷ đồng, tăng 165,8% so với đầu năm. Trong năm 2025, Ngân hàng đã triển khai thành công chương trình Tiết kiệm dự thưởng “Du xuân cùng MB”, góp phần mang lại cho Ngân hàng lượng tiền gửi lớn, đồng thời quảng bá hình ảnh, thương hiệu của Ngân hàng. Tiền gửi của các tổ chức kinh tế tính đến 31/12/06 đạt 5.174,92 tỷ đồng, tăng 66% so với đầu năm. Trong năm 2025, thị trường vốn liên ngân hàng có sự dư thừa. Tuy vậy, Ngân hàng đã tham gia khá tích cực trên thị trường liên ngân hàng, nâng số dư tiền gửi tại các tổ chức tín dụng lên 5.716 tỷ đồng và đã tạo ra nguồn thu đáng kể từ hoạt động kinh doanh vốn trên thị trường liên ngân hàng.

Như vậy, tính đến cuối năm 2025, sau 3 năm thực hiện chương trình cải tổ 2023 – 2027, tổng nguồn vốn Ngân hàng tăng 2,3 lần và tăng trung bình hơn 53%/năm. Vốn huy động trực tiếp từ nền kinh tế chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn và gia tăng liên tục đảm bảo tính ổn định của nguồn vốn. Cơ cấu vốn VND và ngoại tệ cũng có sự thay đổi theo hướng tích cực, phù hợp với diễn biến thị trường và nhu cầu của nền kinh tế. Điều này chứng tỏ uy tín của Ngân hàng ngày càng tăng lên đối với khách hàng không chỉ bởi sự phong phú về các loại hình sản phẩm dịch vụ huy động vốn như: tiết kiệm trả trước, tiết kiệm trả sau và tiết kiệm tích lũy… mà còn ở chất lượng dịch vụ, phong cách phục vụ khách hàng của đội ngũ nhân viên.

2.2. Hoạt động tín dụng Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng MB.

Trong những năm đầu thành lập, từ chỗ đáp ứng nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp Quân đội với tổng dư nợ là 15 tỷ đồng (ngày 31/12/1994), đến nay Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội đã mở rộng cho vay mọi thành phần kinh tế, đặc biệt là chú trọng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ, cho vay kinh tế tư nhân. Đến 31/12/2025 tổng dư nợ cho vay nền kinh tế của Ngân hàng là 6.166,62 tỷ đồng, tăng 37,96% so với đầu năm và đạt kế hoạch đề ra, tăng 411 lần so với năm 1994. Trong 9 tháng đầu năm 2026, Ngân hàng đã cho vay với tổng dư nợ đạt 9.900 tỷ đồng, tăng 108% so với cùng kỳ năm ngoái và đạt 116,5% kế hoạch đề ra.

  • Biểu đồ 3: Tổng dư nợ giai đoạn 2022 – 9 tháng đầu năm 2026

Cơ cấu và loại hình cho vay ngày càng đa dạng, đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Trong năm 2025, Ngân hàng tiếp tục tập trung nâng cao chất lượng tín dụng, cơ cấu lại nợ vay, đẩy mạnh cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ và tín dụng bán lẻ. Bên cạnh các sản phẩm truyền thống, Ngân hàng còn triển khai một loạt các sản phẩm mới như: cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cho vay tiêu dùng, tài trợ xuất khẩu, cho vay mua ô tô trả góp, cho vay du học, đi lao động nước ngoài, cho vay cổ phần hóa…

Chất lượng tín dụng luôn được Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội chú trọng. Ngân hàng đã xây dựng và hoàn thiện quy chế hoạt động của quản lý tín dụng, chỉ đạo thực hiện nghiêm túc Quyết định 493 của Ngân hàng nhà nước. Việc phân loại, lựa chọn khách hàng được tiến hành dựa trên cơ sở nghiên cứu thị trường, phân tích ngành nghề kinh doanh và định hướng của Ngân hàng. Công tác kiểm tra, kiểm soát trước, trong và sau khi cho vay cũng được đặc biệt quan tâm. Chính vì vậy, đến ngày 31/12/2025, tỷ lệ nợ quá hạn nhóm 2,3,4,5 là 6,71%; tỷ lệ nợ quá hạn nhóm 3,4,5 là 2,7%.

2.3. Hoạt động thanh toán

Hoạt động thanh toán trong và ngoài nước cũng được Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội chú trọng phát triển và đạt được những kết quả khả quan:

  • Hoạt động thanh toán nội địa

Nhờ việc ứng dụng công nghệ thông tin, cải tiến quy trình xử lý chứng từ thanh toán cũng như tham gia vào hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng, chất lượng hoạt động thanh toán nội địa tăng lên đáng kể: tốc độ thanh toán nhanh, an toàn, chính xác và bảo mật. Đặc biệt, trong năm 2025 để đáp ứng nhu cầu thanh toán ngày càng tăng, Ngân hàng đã thành lập trung tâm thanh toán. Đồng thời, triển khai các nghiệp vụ thu gạch cước điện thoại cho Viettel, lập các quỹ lưu động thu tiền cho các doanh nghiệp lớn, khách hàng quan trọng… Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng MB.

  • Hoạt động thanh toán quốc tế

Kể từ tháng 2 năm 1996, sau khi được Ngân hàng nhà nước cho phép thực hiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế, hoạt động thanh thanh toán quốc tế của Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội đã có bước phát triển rất vững chắc. Nhờ có định hướng đúng và chú trọng chất lượng dịch vụ, nên hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu của Ngân hàng đã thu hút được nhiều khách hàng đến giao dịch. Từ chỗ phát hành gần 200 thư tín dụng năm 1996 với tổng giá trị tương đương 63 triệu USD thì đến nay Ngân hàng đã phát hành được hàng nghìn thư tín dụng với tổng giá trị hàng trăm triệu USD. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 791,407 triệu USD, tăng 14,5% so với cùng kỳ. Tuy các L/C không có giá trị lớn như năm trước nhưng số lượng giao dịch lại tăng lên tương đối khá và lượng khách hàng giao dịch cũng tăng. Tổng phí dịch vụ thanh toán quốc tế đạt 114% kế hoạch năm, tăng 13,87% so với cùng kỳ.

Trong năm, Ngân hàng đã xây dựng và hoàn thiện các quy trình nghiệp vụ cho phù hợp với yêu cầu phát triển của Ngân hàng, hỗ trợ về nghiệp vụ cho các chi nhánh chưa có bộ phận Thanh toán quốc tế, tổ chức Hội thảo “Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại Hải Phòng”, quản lý tốt hệ thống SWIFT của toàn hệ thống, đảm bảo an toàn trong thanh toán với các đối tác nước ngoài.

Hoạt động quan hệ quốc tế cũng có nhiều kết quả đáng ghi nhận. Hiện nay, Ngân hàng đã thiết lập được quan hệ đại lý với 500 ngân hàng trên toàn thế giới, được một số ngân hàng lớn cấp cho các hạn mức tín dụng xác nhận L/C với giá trị lớn, giải quyết được các khó khăn khi thông báo L/C vào thị trường Trung Quốc, rút ngắn thời gian thông báo L/C từ 1 tuần xuống còn 1 ngày. Thanh toán hàng đổi hàng với các ngân hàng tại Liên bang Nga được quản lý chặt chẽ, an toàn và chính xác.

Với chất lượng dịch vụ tốt, được các khách hàng đối tác đánh giá cao, trong năm 2023 Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội đã được nhận giải thưởng “Thanh toán và quản lý tiền tệ trên thị trường quốc tế năm 2023” do Ngân hàng HSBC – một Ngân hàng thương mại có uy tín lớn trên toàn cầu trao tặng. Lần thứ 2 liên tiếp Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội đã được nhận giải “Dịch vụ thanh toán toàn cầu và Quản lý vốn năm 2024” do HSBC – Mỹ trao tặng. Năm 2025, Ngân hàng đã được tập đoàn Standard Chartered Bank trao tặng giải thưởng: “Ngân hàng đạt chất lượng thanh toán quốc tế xuất sắc năm 2025”.

2.4. Các hoạt động khác Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng MB.

Ngoài các hoạt động chính trên, Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội còn tiến hành các hoạt động:

  • Hoạt động bảo lãnh

Hoạt động bảo lãnh vẫn tiếp tục đạt được tốc độ tăng trưởng cao, đóng góp nhiều lợi nhuận cho Ngân hàng. Số dư bảo lãnh đến 31/12/06 đạt 1.365,25 tỷ. Doanh số bảo lãnh tăng nhưng chất lượng của hoạt động bảo lãnh vẫn được đảm bảo. Kể từ khi cung cấp dịch vụ, Ngân hàng vẫn chưa phải thực hiện một nghĩa vụ bảo lãnh nào. Tổng thu phí bảo lãnh tăng gần gấp đôi so với cùng kỳ năm trước, bằng 162% kế hoạch năm.

  • Hoạt động kinh doanh vốn và ngoại tệ

Hoạt động quản lý và kinh doanh ngoại tệ đã đảm bảo việc quản lý thanh khoản, quản lý dự trữ bắt buộc toàn hệ thống một cách chặt chẽ, quản lý vốn tập trung thông qua cơ chế mua bán vốn nội bộ, mang lại hiệu quả cao cho Ngân hàng, quản lý chặt chẽ tài khoản Nostro. Ngoài ra, Ngân hàng đã tích cực tham gia trên thị trường liên ngân hàng, tham gia thị trường mở, thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu, cầm cố giấy tờ có giá, thực hiện các nghiệp vụ hoán đổi, đối ứng sản phẩm với các ngân hàng HSBC, Citibank, Standard Chartered… Lợi nhuận trước thuế năm 2025 đạt 252 tỷ đồng, tăng 70% so với cùng kỳ năm trước, đạt 178,22% kế hoạch năm.

  • Hoạt động kinh doanh thẻ

Hiện nay, Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội đã cung cấp cho khách hàng sản phẩm thẻ ATM Active plus kết hợp với bảo hiểm đầu tiên ở Việt Nam. Đây là một sản phẩm của chương trình hợp tác giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội và ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, theo đó khách hàng sử dụng thẻ ATM Active plus có thể thực hiện giao dịch tại tất cả các máy ATM và hàng ngàn POS của hai ngân hàng. Và trong một tương lai gần, thẻ của Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội cũng sẽ được chấp nhận tại cả các điểm của các ngân hàng Techcombank, Quốc tế, VPBank, ngân hàng Nhà Hà Nội, Ngân hàng Hàng Hải, Bắc Á.

Trong năm 2025, toàn hệ thống phát hành tăng gấp 3 lần so với cùng kỳ, nâng tổng số thẻ lưu hành trên toàn hệ thống lên 36.562 thẻ, tăng 4,54 lần so với đầu năm. Triển khai lắp đặt 52 POS và lắp mới 32 ATM. Đây là một kết quả tăng trưởng khá, thể hiện quyết tâm cao của toàn hệ thống Ngân hàng. Năm 2025, Ngân hàng đã tổ chức lại phòng thẻ thành trung tâm thẻ, phối hợp với tư vấn xây dựng Đề án chiến lược phát triển thẻ. Đồng thời, triển khai thanh toán cước Viettel qua ATM và đề án thanh toán cước trả trước tự động cho Viettel.

  • Hoạt động đầu tư

Tính đến 31/12/2025, tổng số vốn góp, liên doanh, cổ phần của Ngân hàng là 174,8 tỷ tăng 3,4 lần so với đầu năm. Các hoạt động đầu tư góp vốn được thực hiện đa dạng theo nhiều phương thức như mua cổ phần doanh nghiệp nhà nước bán đấu giá lần đầu khi cổ phần hóa, mua cổ phần cổ đông chién lược, đầu tư góp vốn Quỹ đầu tư chứng khoán, giao dịch trung tâm GDCK Hà Nội và các hoạt động ủy thác, giao dịch thông qua TSC. Danh mục đầu tư của Ngân hàng có chất lượng tốt.

Nhìn chung, hoạt động góp vốn đầu tư cổ phần của Ngân hàng vẫn đảm bảo tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của Nhà nước và của Ngân hàng Quân đội về quản lý góp vốn đầu tư.

II. Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội trong những năm qua Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng MB.

1. Chiến lược huy động vốn của Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội trong những năm qua

Trong thời gian qua, Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội đã nắm bắt nhanh nhạy định hướng, chủ trương hoạt động của ban lãnh đạo Ngân hàng đề ra. Ngân hàng đã có những bước đi chủ động kinh doanh, bám sát thị trường để có biện pháp điều chỉnh lãi suất thích hợp. Trong năm 2025, Ngân hàng đã thực hiện tăng lãi suất tiết kiệm 4 lần. Trong đó, việc tăng lãi suất lần thứ 3 nhằm mục đích điều chỉnh kịp thời đối với việc tăng lãi suất của FED đồng thời để thu hút hơn nữa nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư nhằm đáp ứng tăng trưởng về dư nợ của MB trong năm 2025, còn đợt tăng lần thứ 4 là nhằm thu hút đồng Euro để đáp ứng đủ nhu cầu vốn giải ngân cho các dự án sử dụng ngoại tệ này vào thời điểm cuối năm. Sang năm 2026, tính đến thời điểm này, MB đã tăng lãi suất lần đầu vào tháng 3. Với việc tăng lãi suất tiền gửi đồng USD, MB hy vọng thu hút lượng tiền gửi USD từ khách hàng là cá nhân và các tổ chức kinh tế. Bên cạnh đó, MB đã không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ, triển khai nhiều sản phẩm huy động vốn mới, đặc biệt là các chương trình Tiết kiệm dự thưởng trong các năm qua được các khách hàng đánh giá cao. Ngân hàng đã thực sự đáp ứng một phần nhu cầu về vốn của khách hàng đặc biệt là khách hàng có quan hệ thường xuyên với Ngân hàng. Ngoài ra, Ngân hàng còn sử dụng các biện pháp khác nhằm thu hút khách hàng mới và các khách hàng tiềm năng.

Để tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh của mình được chủ động, Ngân hàng phải đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng đến vay vốn, do đó vấn đề đặt ra với Ngân hàng là phải luôn luôn đảm bảo cho mình nguồn vốn dồi dào. Tuy nhiên việc khai thác nguồn vốn phải dựa trên cơ sở xác định được thị trường đầu ra có mang lại hiệu quả hay không, cơ cấu như vậy đã hợp lý chưa, đó là câu hỏi mà Ngân hàng phải quan tâm giải quyết.

Xác định rõ được tầm quan trọng của nguồn vốn đối với hoạt động kinh doanh, Ngân hàng luôn luôn xây dựng chiến lược và kế hoạch huy động vốn mỗi năm kết hợp với những dự báo, phân tích về thị trường và bản thân Ngân hàng trong năm tới. Trọng tâm của các chiến lược huy động vốn của Ngân hàng tập trung vào các nội dung sau:

  • Thực hiện hiệu quả kế hoạch huy động vốn Ban lãnh đạo đề ra bao gồm: tổng lượng vốn huy động kế hoạch, chính sách lãi suất, cơ cấu nguồn vốn huy động…Đồng thời triển khai thành công các đợt huy động vốn đặc biệt là các đợt huy động vốn tiết kiệm dự thưởng, tặng quà khách hàng…
  • Đẩy mạnh hoạt động huy động vốn ở các chi nhánh trên toàn quốc bằng nhiều biện pháp như: tăng cường quảng cáo, tiếp thị các sản phẩm huy động vốn tới khách hàng (cá nhân và doanh nghiệp), nâng cao trình độ cán bộ nguồn vốn và nhân viên giao dịch.
  • Từng bước hiện đại hóa công nghệ Ngân hàng, cải tiến phong cách giao dịch, đặc biệt là ngày càng mở rộng và đa dạng hoá các dịch vụ Ngân hàng nhằm thu hút ngày càng nhiều khách hàng mở tài khoản tại Ngân hàng.
  • Tích cực tìm kiếm nguồn vốn có chi phí thấp, ổn định. Tăng tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn của các tổ chức kinh tế, đẩy mạnh huy động vốn từ dân cư trên địa bàn.

2. Phân tích hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội trong những năm qua Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng MB.

2.1. Tổng nguồn vốn huy động

Với việc xây dựng chiến lược và kế hoạch huy động vốn mỗi năm, Ngân hàng đã đạt được các kết quả khả quan là sự tăng trưởng nhanh chóng, ổn định của nguồn vốn trong những năm qua.

Qua bảng 1 và biểu đồ 1, ta có thể thấy rằng tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động hàng năm của Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội khá cao so với ngân hàng Thương mại cổ phần Sacombank và ngân hàng Thương mại cổ phần VPBank, chứng tỏ Ngân hàng đang từng bước khẳng định thương hiệu của mình.

  • Bảng 3: Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động hàng năm

Ta có thể xem xét tốc độ tăng trưởng của tổng nguồn vốn huy động qua biểu đồ sau đây.

  • Biểu đồ 4: Tốc độ tăng trưởng tổng nguồn vốn huy động

Qua số liệu về sự thay đổi của tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng ta thấy: Các năm đều tăng liên tục nguồn vốn huy động, đặc biệt trong năm 2026, chỉ trong 9 tháng đầu năm, Ngân hàng đã huy động được con số ấn tượng đạt 16.977 tỷ đồng.

Năm 2023: Tổng nguồn vốn huy động đạt được là 4.933 tỷ đồng, tăng thêm 1.448 tỷ đồng (tương đương 41.5%) so với năm 2022. Đây là một tỷ lệ cao so với các năm trước. Nguyên nhân là do năm 2023 là năm đầu tiên Ngân hàng triển khai hoạt động đổi mới theo chương trình tổng thể đã được Hội đồng quản trị phê duyệt về chiến lược phát triển, mô hình tổ chức, xây dựng cơ sở hạ tầng, quản lý rủi ro với mục tiêu đưa MB trở thành một trong những ngân hàng Thương mại cổ phần hàng đầu của Việt Nam trong mảng thị trường đã lựa chọn. Chính vì vậy, công tác huy động vốn đã được chú trọng hơn trước. Năm 2023, MB cũng đã chú trọng việc phát triển mạng lưới hoạt động. Bên cạnh đó, tình hình kinh tế năm 2023 tiếp tục phát triển ổn định, các chỉ tiêu kế hoạch hầu hết đạt và vượt mức đề ra. Thị trường tài chính – tiền tệ trong năm 2023, Ngân hàng nhà nước vẫn duy trì lãi suất cơ bản ở mức 7.5%/năm.

Năm 2024: Tổng nguồn vốn huy động là 7,046.6 tỷ đồng, tăng thêm 2,113.6 tỷ đồng so với năm 2023. Mức tăng này cao hơn mức tăng trưởng của năm 2023 (665,6 tỷ đồng, đạt 42,8%) bằng 117,4% kế hoạch năm. Đây là một kết quả có được từ những thành công của hai chương trình “Tiết kiệm dự thưởng” và “Tiết kiệm có thưởng” và rất nhiều nỗ lực nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng cường quảng bá hình ảnh, thương hiệu của Trong năm 2024, MB còn tham gia khá tích cực trên thị trường liên ngân hàng với mục đích kinh doanh để thu lợi nhuận và nâng cao được tính thanh khoản. MB tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động đổi mới đã được Hội đồng quản trị thông qua giai đoạn 2023 – 2027. Không ngừng mở rộng mạng lưới chi nhánh góp phần tạo điều kiện giao dịch tốt nhất cho khách hàng, tạo thuận lợi cho việc trao đổi thương mại và hợp tác phát triển toàn diện của nền kinh tế xã hội. Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng MB.

Năm 2025: Mặc dù phải đối mặt với sự cạnh tranh mạnh mẽ trong hoạt động ngân hàng nhưng MB đã hoàn thành vượt mức tất cả các chỉ tiêu đề ra, đạt được những bước tiến bộ vượt bậc và toàn diện xét về cả chất và lượng. Tổng nguồn vốn huy động tăng lên đáng kể đạt 11,511 tỷ đồng, tăng 63.3% so với năm 2024. Trong năm 2025, Ngân hàng đã tăng lãi suất tiết kiệm 4 lần nhằm thu hút hơn nữa nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư. Ngân hàng đã triển khai thành công chương trình Tiết kiệm dự thưởng “Du xuân cùng MB” với tổng số vốn huy động là gần 800 tỷ đồng đạt hơn 200% kế hoạch đặt ra. Thị trường vốn liên ngân hàng có sự dư thừa, Ngân hàng đã tham gia khá tích cực trên thị trường liên ngân hàng, đã tạo ra nguồn thu đáng kể từ hoạt động kinh doanh vốn trên thị trường liên ngân hàng.

9 tháng đầu năm 2026: Ngân hàng đã đạt 16.997 tỷ đồng về tổng nguồn vốn huy động, đạt 103% kế hoạch đề ra, tăng 80% so với cùng kỳ năm 2025. Ngân hàng đã thực hiện việc tăng vốn điều lệ lên 547,2 tỷ đồng vào tháng 8. Lần thứ 3 liên tiếp, MB tổ chức chương trình tiết kiệm dự thưởng “Gửi tiết kiệm để được nghỉ dưỡng ở Châu Âu”, một chương trình có nhiều ý nghĩa và nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của các khách hàng. Sự tham gia đông đảo của các khách hàng đã đem lại con số 1,065 tỷ đồng huy động tiết kiệm thông qua chương trình, đạt 152% kế hoạch. MB đã có mặt tại hầu hết các tỉnh và thành phố lớn trên toàn quốc với khoảng 60 điểm giao dịch và sẽ tiếp tục mở rộng trong thời gian tới. Ngay từ những ngày đầu sau khi đi vào hoạt động, các điểm giao dịch mới cũng đã đạt được những kết quả hết sức khả quan trong cả huy động vốn và tài trợ tín dụng. Điển hình như chi nhánh Mỹ Đình đã huy động được tổng cộng 5,5 tỷ đồng, phòng giao dịch Nam Việt Trì đạt 1,5 tỷ đồng ngay trong tuần đầu tiên.

2.2. Cơ cấu nguồn vốn huy động theo đối tượng

Đối tượng huy động vốn của Ngân hàng gồm có vốn từ dân cư, từ các tổ chức kinh tế (TCKT), từ các ngân hàng và tổ chức tín dụng khác (vay từ thị trường liên ngân hàng). Có thể khẳng định rằng vốn từ dân cư luôn đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu vốn huy động của tất cả các Ngân hàng thương mại bởi tính ổn định, bền vững tương đối của nguồn vốn này. Bên cạnh đó, vốn từ các Tổ chức kinh tế cũng chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng nguồn vốn nhằm thực hiện các hoạt động thanh toán, bù trừ. Nguồn vốn từ thị trường liên ngân hàng cũng đóng góp tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng.

  • Bảng 4: Diễn biến nguồn vốn huy động theo đối tượng

Qua bảng số liệu trên, ta có thể thấy rằng: vốn huy động từ dân cư, tổ chức kinh tế hay liên ngân hàng đều có chiều hướng tăng trong giai đoạn 2023 – 2025, trong đó vốn từ dân cư tăng mạnh nhất nhưng vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ hơn nguồn vốn từ các tổ chức kinh tế.

  • Biểu đồ 5: Vốn huy động theo đối tượng Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng MB.

Nhìn trên biểu đồ 5, ta có thể thấy rằng, vốn huy động từ dân cư tăng mạnh trong các năm, đặc biệt năm 2025 đạt 4,576.84 tăng 96.68% so với năm 2024. Đây là kết quả của 4 lần tăng lãi suất tiết kiệm trong năm. Các mức lãi suất này được coi là rất hấp dẫn vì nằm trong nhóm dẫn đầu thị trường, đặc biệt là lãi suất tiết kiệm USD của lần tăng thứ 3 kỳ hạn 12 tháng và 13 tháng với mức lãi suất tương ứng là 4.9%/năm và 4.95%/năm, là một trong những mức lãi suất cao nhất thị trường năm 2025. Bên cạnh đó, trong 3 năm qua (2023 – 2025), Ngân hàng đã triển khai thành công các chương trình Tiết kiệm dự thưởng, góp phần thu hút một lượng tiền gửi lớn từ dân cư. Trong năm 2025, mạng lưới hoạt động của MB đã phát triển mạnh mẽ với 38 điểm giao dịch trên cả nước. Cùng với việc mở rộng mạng lưới, huy động dân cư còn được thúc đẩy nhờ vào chính sách chăm sóc khách hàng và những cải tiến liên tục trong quy trình cung cấp sản phẩm, dịch vụ, tăng thêm tiện ích cho các khách hàng, thu hút được sự quan tâm nhiều hơn của khách hàng. Sang năm 2026, chỉ trong 9 tháng đầu năm, Ngân hàng đã huy động được 7.145 tỷ đồng nhờ tiếp tục thực hiện chương trình tiết kiệm dự thưởng.

Vốn từ các tổ chức kinh tế cũng chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng nguồn vốn nhằm thực hiện các hoạt động thanh toán, bù trừ. Nguồn vốn này có chi phí huy động thấp nên Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội đã không ngừng áp dụng các chính sách khách hàng, chính sách lãi suất linh hoạt, hấp dẫn nhằm thu hút thêm khách hàng loại này. Năm 2025, Ngân hàng đã huy động được 5.174,92 tỷ đồng từ tổ chức kinh tế, tăng gấp 3,3 lần so với năm 2022 và gấp 2 lần so với năm 2023 trong giai đoạn đổi mới Ngân hàng 2023 – 2027. 9 tháng đầu năm 2026, vốn huy động từ các tổ chức kinh tế đạt 7.813 tỷ đồng, tăng gấp 1,75 lần so với cùng kỳ năm trước. Đạt được kết quả trên là do Ngân hàng đã chú trọng đến mảng nghiệp vụ tiền gửi của các tổ chức kinh tế, dần chiếm được lòng tin từ khách hàng, xây dựng mối quan hệ bền vững với các khách hàng quen và tiếp tục mở rộng quan hệ với các khách hàng tiềm năng. Thông qua các tài khoản thanh toán mà khách hàng gửi tại Ngân hàng, khách hàng có thể hưởng các tiện ích từ các dịch vụ mà Ngân hàng cung cấp như: thanh toán qua Ngân hàng, séc bảo chi, chuyển tiền điện tử… Bằng các hình thức thanh toán này, lượng tiền gửi thanh toán của các tổ chức kinh tế tăng lên dẫn tới lượng vốn huy động lớn.

Đối với vốn từ thị trường liên ngân hàng, nguồn vốn chiếm tỷ trọng thấp nhất trong tổng nguồn vốn cũng tăng đều trong các năm 2023 – 2025. Năm 2023, việc huy động vốn từ thị trường liên Ngân hàng giảm 203 tỷ đồng so với năm 2022 (20.8%), nhưng sang năm 2024 đã khôi phục trở lại tăng lên 100,6 tỷ đồng so với năm 2023. Lý do là MB tham gia khá tích cực trên thị trường liên ngân hàng với mục đích kinh doanh để thu lợi nhuận và nâng cao được tính thanh khoản. Năm 2025, thị trường vốn liên ngân hàng có sự dư thừa. Tuy vậy, Ngân hàng đã tham gia khá tích cực trên thị trường liên ngân hàng và đã tạo ra nguồn thu đáng kể từ hoạt động kinh doanh vốn trên thị trường. Tính đến 30/9/2026, nguồn vốn huy động trên thị trường liên ngân hàng cũng đã đạt được con số khá ấn tượng là 2.019 tỷ đồng.

2.3. Cơ cấu nguồn vốn theo kỳ hạn Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng MB.

Cả tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn của dân cư và các Tổ chức kinh tế đều có xu hướng gia tăng. Năm 2025, tiền gửi không kỳ hạn tăng gấp 3,6 lần năm 2022, đạt con số 4,881 tỷ đồng. Tiền gửi có kỳ hạn cũng tăng 4,7 lần; từ 1,030 tỷ đồng năm 2022 lên 4,870.76 tỷ đồng năm 2025. Trong 9 tháng đầu năm 2026, tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn của dân cư và tổ chức kinh tế chiếm 51,7%. Dân cư và các Tổ chức kinh tế gửi tiền không kỳ hạn vào Ngân hàng nhiều hơn và chiếm tỷ trọng nhiều hơn tiền gửi có kỳ hạn. Tuy nhiên, tỷ trọng vốn tiền gửi có kỳ hạn đang có chiều hướng gia tăng. Năm 2025, tỷ trọng tiền gửi có kỳ hạn chiếm 50%. Điều này có thể cho thấy rằng, Ngân hàng có một nguồn tiền tương đối ổn định, có thể sử dụng phần lớn tồn khoản vào kinh doanh.

  • Bảng 5: Hoạt động nhận tiền gửi phân theo kỳ hạn

Cơ cấu tiền gửi theo kỳ hạn của các Tổ chức tín dụng khác có sự biến động lớn. Vốn có kỳ hạn của các Tổ chức tín dụng chiếm tỷ trọng lớn, riêng hai năm 2024, 2025 chiếm tỷ trọng gần 100%. Còn lượng tiền gửi không kỳ hạn chỉ chiếm một phần rất nhỏ và giảm dần từ 109 tỷ đồng năm 2022 xuống chỉ còn 0,435 tỷ đồng vào năm 2025, nhưng trong 9 tháng đầu năm 2026 đã có xu hướng tăng lên đạt 0.578 tỷ đồng. Tuy nhiên, khoảng cách chênh lệch giữa vốn có kỳ hạn và vốn không kỳ hạn của các Tổ chức tín dụng khác vẫn rất lớn.

Huy động vốn từ nhận tiền gửi nói chung và tiền gửi có kỳ hạn nói riêng luôn có vai trò đặc biệt quan trọng đối với Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội và các ngân hàng khác. Nhờ đó, Ngân hàng có nguồn vốn đã xác định được kỳ hạn phải trả trong tương lai, giúp Ngân hàng chủ động trong việc chuẩn bị nguồn vốn để kịp thời chi trả cho khách hàng, tránh rủi ro thanh khoản. Ngoài ra, việc huy động vốn có kỳ hạn giúp Ngân hàng có kế hoạch chủ động sử dụng nguồn vốn để cấp tín dụng, đầu tư vào tài sản có, với kỳ hạn thích hợp. Nhận thức được những ưu điểm đó, Ngân hàng đã có chính sách thu hút tối đa nguồn vốn tiền gửi có kỳ hạn của thị trường và đã thu được những kết quả tốt đẹp. Tiền gửi có kỳ hạn tăng liên tục trong 4 năm qua. Hiện nay, Ngân hàng đã hoàn toàn tự chủ trong việc chọn lãi suất, đảm bảo phù hợp với lãi thị trường và đủ sức cạnh tranh. Ngoài ra, Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội còn cung cấp các phương thức huy động như tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu có nội dung, hình thức hấp dẫn.

Huy động vốn tiền gửi tiết kiệm là nghiệp vụ truyền thống của các Ngân hàng thương mại Việt Nam, nguồn vốn này thường chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng nguồn vốn huy động, cung cấp nguồn vốn ổn định cho ngân hàng.

  • Bảng 6: Cơ cấu nguồn vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm

Nhìn chung trong những năm qua, Ngân hàng đã làm tốt công tác huy động vốn từ tài khoản tiền gửi tiết kiệm. Doanh số huy động từ tài khoản này ngày càng tăng cao cả về quy mô và tốc độ. Năm 2025, doanh số huy động tiết kiệm là 4.576,84 tỷ, tăng 96,7% so với đầu năm. 9 tháng đầu năm 2026, đạt 7.145 tỷ đồng tăng 83,7% so với cùng kỳ năm ngoái. Đây thực sự là con số đáng mừng, nó thể hiện Ngân hàng đã sử dụng các biện pháp huy động vốn một cách đúng đắn và linh hoạt tạo được mối quan hệ tốt đẹp với khách hàng, nâng cao uy tín trong hoạt động của mình.

  • Biểu đồ 6: Nguồn vốn huy động tiền gửi tiết kiệm giai đoạn 2022 – 9 tháng đầu năm 2026

Qua bảng số liệu cho thấy, tỷ trọng của khoản tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn thường cao hơn rất nhiều so với tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và luôn chiếm phần lớn trong tổng khối lượng tiền gửi. Nếu năm 2022, lượng tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là 809,7 tỷ đồng chiếm 99,23% thì đến năm 2023, con số này đã là 1.454,8 tỷ chiếm 98% và đến năm 2025 đã lên đến 4.418,53 tỷ đồng chiếm 96,5%. Còn đối với tài khoản tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn thì chiếm tỷ trọng rất nhỏ, nhưng đang có chiều hướng gia tăng: Vào thời điểm 31/12/2022, tiền gửi thuộc loại này chỉ chiếm có 0,77%, đến 2023 là 2%, 2024 là 2,6% và 2025 là 3,5% và thời điểm 30/9/2026 là 5,9%. Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng MB.

Khối lượng tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là rất lớn so với tiền gửi không kỳ hạn nhưng luôn chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn huy động. Qua đó, chúng ta có thể thấy vốn huy động từ dân cư cũng chưa xứng với tiềm năng sẵn có. Ngân hàng cần sử dụng các biện pháp để thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư để có thể đáp ứng các nhu cầu vốn làm cân đối kỳ hạn huy động vốn và sử dụng vốn nhằm tạo mục đích mở rộng tín dụng trung và dài hạn tránh rủi ro cho Ngân hàng. Với ưu điểm của tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là về nguyên tắc chỉ được lĩnh gốc và lãi khi đến hạn, do vậy đây là một nguồn vốn ổn định, có vai trò quan trọng trong nguồn vốn huy động của Ngân hàng. Nhưng chi phí trả lãi cho tài khoản này thường là cao hơn so với tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, cho nên sẽ làm tăng chi phí đầu vào, làm giảm lợi nhuận của Ngân hàng.

2.4. Cơ cấu nguồn vốn theo loại tiền tệ

  • Bảng 7: Cơ cấu huy động vốn theo loại tiền VND và ngoại tệ giai đoạn 2022 – 9 tháng đầu năm 2026
  • Biểu đồ 7: Diễn biến tổng vốn huy động theo loại tiền tệ giai đoạn 2022 – 9 tháng đầu năm 2026

Nguồn vốn theo loại tiền tệ được ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội huy động chủ yếu là đồng Việt Nam và đồng USD. Huy động vốn theo VND chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng nguồn vốn huy động trong các năm qua, chứng tỏ ngân hàng Quân đội đã biết phát huy “nội lực” trong nước.

Qua số lượng vốn huy động và biểu đồ ở trên ta thấy cơ cấu nguồn vốn huy động tiền cũng có nhiều biến động trong 4 năm qua:

Vốn huy động theo tiền VND: Năm 2023, số lượng vốn huy động là 2.706 tỷ đồng, chiếm 54,9% tổng nguồn vốn huy động, tăng 16,8% so với năm 2022. Đây cũng là một mức tăng khá, thể hiện sự cố gắng trong huy động vốn của Ngân hàng. Sang năm 2024, năm 2025, số lượng vốn huy động tăng mạnh đạt 4.935 tỷ đồng; 8.850 tỷ đồng. Sang năm 2026, trong 9 tháng đầu năm, Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội đã huy động được 15.410 tỷ đồng, tăng gấp hơn 2 lần so với cùng kỳ năm Đó là nhờ việc thực hiện nhiều chương trình tiết kiệm dự thưởng hấp dẫn, đồng thời giữ vững mối quan hệ với các doanh nghiệp.

  • Bảng 8: Vốn VND huy động từ 3 thị trường trong giai đoạn 2022 – 9 tháng đầu năm 2026

Nguồn vốn VND trên thị trường tổ chức kinh tế và dân cư tăng liên tục trong các năm, đặc biệt là thị trường dân cư đã tăng mạnh trong 9 tháng đầu năm 2026 đạt 7.068 tỷ đồng, tăng 144,6% so với cùng kỳ năm ngoái. Năm 2025 đạt 3.589 tỷ đồng, tăng 127% so với năm 2024. Có được những kết quả tích cực trên là do Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội đã kết hợp đồng bộ và hiệu quả một loạt các giải pháp như chủ động làm tốt công tác khách hàng, tăng cường một bước trong công tác điều hành, quản lý vốn, lãi suất, quản trị rủi ro, thanh khoản và áp dụng một số sản phẩm, dịch vụ huy động vốn mới dựa trên nền tảng công nghệ. Ngoài ra, Ngân hàng đã phát hành thành công nhiều đợt kỳ phiếu, trái phiếu tiền đồng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn đang tăng cao của Ngân hàng. Một đóng góp không nhỏ cho sự tăng trưởng nguồn vốn nội tệ phải kể đến là Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội đã tích cực mở rộng mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch (60 điểm giao dịch tính vào thời điểm 30/9/2026), phát triển các công ty, đặc biệt là lắp đặt các máy ATM, triển khai lắp đặt 52 POS trên phạm vi cả nước kích thích người dân mở tài khoản, tiến hành giao dịch với Ngân hàng nhiều hơn.

Tuy nhiên, trên thị trường liên ngân hàng lại có sự biến động. Năm 2023, giảm mạnh so với năm 2022 từ 842 tỷ đồng xuống còn 346 tỷ. Nhưng sang năm 2024 lại tăng lên 977 tỷ đồng và năm 2025 lại xuống 901 tỷ. Nguyên nhân là do có sự biến động về lãi suất tiền gửi ngoại tệ thu hút thị trường này. Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng MB.

Vốn huy động theo tiền ngoại tệ: Nhìn trên biểu đồ ta thấy được, vốn huy động ngoại tệ của Ngân hàng chỉ chiếm khoảng 30% tổng nguồn vốn huy động, nhỏ hơn nhiều so với vốn bằng tiền VND trong cả 4 năm. Đáng chú ý nhất là năm 2023 với mức tăng kỷ lục 91% so với năm 2022, chiếm tỷ trọng 45,1%. Tuy nhiên, sang năm 2024, nguồn vốn ngoại tệ này lại giảm xuống 2.111,6 tỷ đồng và đến năm 2025 đạt 2.661 tỷ đồng, tăng 26% so với năm 2024. Trong 9 tháng đầu năm 2026, vốn huy động theo ngoại tệ giảm xuống 1.567 tỷ đồng, thấp hơn cùng kỳ năm ngoái là 25,6%. Nguyên nhân vì đâu nguồn ngoại tệ của Ngân hàng lại có sự biến động lớn: tăng mạnh vào thời điểm năm 2023, giảm xuống trong năm 2024 và lại tăng lên vào năm 2025 nhưng không đáng kể. Một số nguyên nhân chính sau:

Nguồn ngoại tệ tăng do FED đã 5 lần tăng lãi suất USD trong vòng 6 tháng cuối năm 2023, lên tới 2,25%/năm, kéo theo lãi suất USD trong nước cũng tăng cao, mọi người đổ xô đi gửi tiền USD để hưởng lãi thay vì gửi tiền đồng, chính điều này cũng đã gây ra sự khan hiếm tiền nội tệ cho hệ thống Ngân hàng thương mại trong nước suốt một thời gian qua. Hơn nữa, năm 2023 đánh dấu sự bứt phá ngoạn mục trong xuất khẩu của Việt Nam, nguồn thu ngoại tệ tăng mạnh. Bên cạnh đó, cũng cần phải nhắc đến là lượng ngoại tệ kiều hối chuyển về nước tăng cao, khiến nguồn thu ngoại tệ của các ngân hàng cũng gia tăng.

Năm 2024, nguồn ngoại tệ giảm xuống là do lãi suất đồng USD trên thế giới có nhiều biến động, ảnh hưởng tới tâm lý của người gửi tiền, họ muốn giữ tiền chờ giá ngoại tệ cao hơn. Mặt khác, thị trường liên tục bị sức ép tăng lãi suất, các ngân hàng đua nhau đưa ra các hình thức khuyến mãi, thậm chí thông báo huy động cao hơn mức trần đã thỏa thuận, đẩy mức lãi suất huy động thực lên rất cao khiến thị trường huy động vốn có sự cạnh tranh mạnh mẽ. Từ tháng 4 đến 12/06/2024, sau khi hiệp hội ngân hàng tăng lãi suất thỏa thuận (tăng 0.05%/tháng), các ngân hàng tiếp tục cuộc đua tăng khuyến mãi, tăng lãi suất tại các kỳ hạn không thỏa thuận, tuy mức độ có nhẹ hơn. Trong năm này, Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội đã thực hiện tăng lãi suất 7 lần. Tháng 10/2024, Ngân hàng đã tiến hành tăng lãi suất tiết kiệm bằng đồng USD ở tất cả các kỳ hạn ngoại trừ loại hình không kỳ hạn. Kỳ hạn 1 tháng tăng mạnh nhất, tăng 8.7% so với lãi suất áp dụng trước đấy, từ 2.3%/1 năm lên 2.5%/1 năm. Đến tháng 11, Ngân hàng lại tiếp tục tăng lãi suất tiền gửi tiết kiệm USD, tuy nhiên vẫn không tránh khỏi việc giảm tiền gửi bằng tiền ngoại tệ trong năm này. Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng MB.

Năm 2025, Nguồn ngoại tệ lại tăng lên đạt 2.661 tỷ đồng tăng 23,1% so với năm Nguyên nhân là do giá đô la Mỹ tăng 0,9%. Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh giảm nhẹ chính sách tỷ giá (0,95%) nhằm khuyến khích xuất khẩu nhưng đồng thời kiềm chế lạm phát. Điều này khuyến khích gửi tiền bằng ngoại tệ tăng cao. Bên cạnh đó, trong năm 2025, Ngân hàng đã tiến hành tăng lãi suất 4 lần. Kịp thời điều chỉnh với những biến động của thị trường tiền tệ thế giới, cụ thể với việc Fed tăng lãi suất, MB đã đồng loạt tăng lãi suất tiền gửi tiết kiệm đồng USD cho các kỳ hạn. Các mức lãi suất này được coi là rất hấp dẫn vì nằm trong nhóm dẫn đầu thị trường. Đúng vào dịp kỷ niệm 12 năm thành lập, Ngân hàng cũng đã tăng lãi suất huy động đồng Euro ở cả hai hình thức tiết kiệm cá nhân và tiền gửi của các tổ chức kinh tế. Sau lần tăng này, MB là một trong những ngân hàng có mức lãi suất huy động tiết kiệm bằng đồng Euro cao nhất trên thị trường Việt Nam hiện nay. Nhờ đó, đã thu hút được nguồn vốn ngoại tệ đáng kể.

Tính đến thời điểm 30/9/2026, nguồn vốn huy động ngoại tệ này thấp hơn cùng kỳ năm ngoái 25,6%. Mặc dù vào tháng 3, Ngân hàng tăng lãi suất tiền gửi đồng USD với hy vọng thu hút lượng tiền gửi USD từ khách hàng là cá nhân và các tổ chức kinh tế. Theo đó, mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn đồng USD đối với thể nhân sẽ tăng thêm 0,6% so với mức lãi suất cũ tức là 1%/năm (lãi suất cũ 0,4%), còn với lãi suất tiền gửi của pháp nhân sẽ có sự thỏa thuận giữa MB và các doanh nghiệp (theo quyết định số 07/2026/QĐ-NHNN ngày 27 tháng 2 năm 2026 của Ngân hàng nhà nước), nhưng với sự biến động lên xuống thất thường của tỷ giá USD trong năm đã tác động đến tâm lý gửi tiền bằng USD của người dân.

2.5. Thời hạn của nguồn vốn

Thời hạn của nguồn vốn chia làm hai loại : nguồn vốn trung, dài hạn và nguồn vốn ngắn hạn.

Các Ngân hàng thương mại luôn có xu hướng thu hút ngày càng nhiều nguồn vốn trung dài hạn. Đây là nguồn vốn có tính ổn định cao, có thể sử dụng để đầu tư các dự án trung và dài hạn, đem lại nguồn thu nhập chính cho ngân hàng.

Qua bảng số liệu ở dưới, ta thấy rõ vốn huy động ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn hơn rất nhiều so với vốn trung và dài hạn trong tổng số vốn huy động của Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội.

  • Bảng 9: Diễn biến nguồn vốn – sử dụng vốn của Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội giai đoạn 2022 – 9 tháng đầu năm 2026 Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng MB.

Vốn trung dài hạn có nhiều biến động. Năm 2023, nguồn vốn trung dài hạn chỉ đạt 194 tỷ đồng, giảm 65,8% so với năm 2022. Năm 2024, đã tăng lên 298%, đạt 771,6 tỷ đồng. Đến năm 2025, nguồn vốn này đạt 2.614 tỷ đồng, tăng 238% so với năm 2024. Trong 9 tháng đầu năm 2026, Ngân hàng đã huy động được 5.034 tỷ đồng vốn trung dài hạn, tăng 149,7% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong các năm 2022-2024, nguồn vốn trung dài hạn không đủ để đáp ứng nhu cầu cho vay. Sang đến năm 2025, và tính thời điểm 30/9/2026 đã có sự thay đổi rõ rệt, Ngân hàng đã đáp ứng đủ nhu cầu vay vốn trung dài hạn của các cá nhân, tổ chức đi vay. Đây là một dấu hiệu đáng mừng, chứng tỏ Ngân hàng đã có những chính sách phù hợp làm tăng nguồn vốn này.

Vốn ngắn hạn tăng liên tục trong các năm. Từ 1.735 tỷ đồng vào năm 2022 lên đến 4.146 tỷ đồng năm 2025, gấp 2,4 lần. Kết quả là, vốn ngắn hạn luôn đáp ứng được nhu cầu vay ngắn hạn của các doanh nghiệp, cá nhân…thậm chí có thời điểm còn dư thừa rất nhiều, mức chênh lệch tăng dần theo từng năm. Năm 2022, mức chênh lệch giữa vốn huy động ngắn hạn và việc sử dụng vốn ngắn hạn là 1.182 tỷ đồng, nhưng đến năm 2025 con số này đã tăng lên là 4.751 tỷ đồng, tăng 302% và 9 tháng đầu năm 2026 tăng lên là 5.067,27 tỷ đồng.

Như vậy, Ngân hàng cần phải tiến hành một số giải pháp để tăng dần tỷ trọng vốn trung dài hạn, giải quyết triệt để tình trạng mất cân đối kỳ hạn, nhằm đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn cho khách hàng.

3. Đánh giá kết quả huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội

3.1. Những kết quả đạt được

Mặc dù, số lượng các ngân hàng hiện nay là khá nhiều so với quy mô nền kinh tế Việt Nam, ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của các ngân hàng, nhất là trong giai đọan Việt Nam đang hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực, song nhờ xác định đúng đắn mục tiêu hoạt động, Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội đã biết phát huy được những tiềm năng, lợi thế vốn có và khắc phục được những hạn chế của mình. Do đó, vị thế của Ngân hàng trong khối các ngân hàng cổ phần ngày càng được tăng lên. Ngân hàng đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, đặc biệt là trong lĩnh vực huy động vốn. Nếu so trong khối các NHCP có trụ sở chính tại Hà Nội thì ngân hàng Quân đội có thị phần huy động vốn từ thị trường 1 cao nhất, chiếm 21.24%. Cho vay chiếm 14.52% thị phần, vốn điều lệ chiếm 14.94%, tổng tài sản chiếm 15.44%. Nếu so với khối NHCP nói chung thì Ngân hàng Quân đội chiếm 6.8% vốn huy động từ thị trường 1, chiếm 4.7% dư nợ. Ngân hàng đã không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ, triển khai nhiều sản phẩm huy động vốn mới, đặc biệt là các chương trình Tiết kiệm dự thưởng trong các năm qua được các khách hàng đánh giá cao. Thương hiệu MB ngày càng được củng cố và tăng cường được khách hàng tin tưởng.

Quy mô và tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động liên tục tăng cao và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng nguồn vốn kinh doanh. Tính đến hết tháng 9/2026, tổng nguồn vốn huy động đạt 16,997 tỷ đồng. Đạt được thành công này là do Ngân hàng đã nắm bắt tốt thời cơ, phản ứng nhanh nhạy với những biến động của thị trường, tích cực khai thác những thế mạnh truyền thống của Ngân hàng, đồng thời không ngừng đầu tư, tiếp cận những cải tiến hữu ích trong ngành Ngân hàng trên phạm vi cả trong và ngoài nước. Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng MB.

Thu hút được một lượng vốn lớn từ các tổ chức kinh tế (bao gồm cả tiền gửi thanh toán và tiền gửi có kỳ hạn). Nguồn vốn này tuy không ổn định như nguồn vốn từ dân cư nhưng nó có tính chất năng động, tạo điều kiện giúp mối quan hệ giữa Ngân hàng và các tổ chức kinh tế bền chặt hơn thông qua các hoạt động giao dịch tài khoản thanh toán, cho vay ký quỹ bằng tiền của chính tổ chức kinh tế. Trong tương lai, nếu duy trì được lượng tiền gửi này cao thường xuyên thì Ngân hàng có khả năng phát triển được nhiều dịch vụ ngân hàng khác để phục vụ các tổ chức kinh tế hơn.

Nguồn vốn tiền đồng chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu nguồn vốn theo loại tiền tệ. Trong năm 2025, cơ cấu nguồn vốn VND/Ngoại tệ đạt 76.9%/23.1%.

Ngân hàng đã thành công trong việc huy động vốn nội tệ, thu hút được những nguồn tiền nhàn rỗi từ dân cư và các tổ chức kinh tế. Vốn huy động từ dân cư tăng khá cao cho thấy Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội đã khẳng định được uy tín và thương hiệu trong lòng công chúng. Nguồn vốn trung và dài hạn cũng đã tăng đều, liên tục trong từng năm, tạo điều kiện cho Ngân hàng mở rộng phạm vi hoạt động kinh doanh, đầu tư và cho vay các dự án lớn trung dài hạn.

Trong những năm qua, Ngân hàng đã triển khai khá thành công các đợt huy động vốn: các chương trình Tiết kiệm dự thưởng, Du xuân cùng MB, chương trình tặng quà “Cơ hội nhân đôi” chào mừng kỷ niệm 11 năm thành lập MB. Các chương trình này đã thu hút được một lượng lớn vốn từ dân cư. Trong thời gian 3 tháng phát động “Du xuân cùng MB” năm 2025, Ngân hàng đã huy động được gần 800 tỷ đồng với trên 42.000 phiếu dự thưởng. Năm 2026, lần thứ 3 liên tiếp, Ngân hàng tiếp tục phát động chương trình tiết kiệm dự thưởng “Gửi tiết kiệm để được nghỉ dưỡng ở Châu Âu”. Sự tham gia đông đảo của các khách hàng đã đem lại con số 1.065 tỷ đồng huy động tiết kiệm thông qua chương trình, đạt 152% kế hoạch. Có được thành công trên là do mỗi lần tổ chức một chương trình huy động tiết kiệm mới, Ngân hàng đều treo băng rôn khẩu hiệu tại trụ sở, phòng giao dịch kết hợp với việc tuyên truyền trên các phương tiện thông tin như: trên mạng Internet, trên báo chí và tờ rơi tạo điều kiện cho khách hàng nắm được thông tin nhanh chóng. Ngoài ra, mỗi một chương trình phát động, Ngân hàng đã đưa ra các giá trị giải thưởng lớn, hấp dẫn.

Với mục tiêu thu hút nhiều nguồn vốn huy động từ những nguồn tiền nhàn rỗi và giữ vững vị thế của Ngân hàng trước sự cạnh tranh về chi phí huy động vốn đang diễn ra hết sức gay gắt từ phía các Ngân hàng thương mại khác, Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội đã rất linh hoạt và nhạy bén đưa ra và sử dụng công cụ lãi suất huy động vốn xét trên cả hai khía cạnh mức lãi suất cạnh tranh và thời điểm đưa ra quyết định thay đổi lãi suất huy động. Trong các năm qua, Ngân hàng đã liên tục thực hiện việc tăng lãi suất, đưa ra các mức lãi suất hấp dẫn. Năm 2024, Ngân hàng đã thực hiện 7 lần tăng lãi suất tiền gửi, đến năm 2025 thực hiện 4 lần tăng lãi suất. Với các mức lãi suất hấp dẫn này, Ngân hàng đã huy động được lượng tiền gửi đáng kể, thu hút được nhiều khách hàng đến giao dịch với Ngân hàng.

Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội cũng đã mở rộng thêm nhiều địa điểm giao dịch, lắp đặt nhiều máy ATM trên toàn quốc đã tạo thuận lợi cho khách hàng gửi, rút tiền. Thái độ, cung cách giao tiếp của nhân viên giao dịch của Ngân hàng đã tạo được ấn tượng tốt trong cách nhìn nhận của khách hàng. Chất lượng phục vụ khách hàng ngày càng được chú trọng.

3.2. Những hạn chế và nguyên nhân Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng MB.

3.2.1 Hạn chế

Công tác huy động vốn đã đạt được những thành công trong thời gian qua, tuy vậy trên thực tế vốn huy động trong cơ cấu nguồn vốn vẫn chiếm một tỷ trọng thấp. Điều này khẳng định, công tác này còn tồn tại nhiều hạn chế:

Nếu như hiệu quả đầu vào của ngân hàng dựa vào công tác huy động vốn thì hiệu quả đầu ra phụ thuộc vào công tác cho vay. Chính vì vậy mà huy động vốn và sử dụng vốn có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại với nhau, đòi hỏi ngân hàng phải giải quyết đồng thời mới có thể nâng cao khả năng cạnh tranh, tìm kiếm lợi nhuận cho mình. Tuy nhiên, thực trạng thiếu vốn trung dài hạn vẫn đang là thách thức đối với Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội. Nguồn vốn trung và dài hạn chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội nên hạn chế việc tham gia đầu tư vào các công trình trọng điểm của quốc gia, của ngành và của địa phương, tính ổn định của nguồn vốn không cao.

Chưa cân đối tốt giữa nguồn vốn huy động và quá trình sử dụng vốn. Do đó, quy mô nguồn vốn huy động rất lớn, tốc độ tăng trưởng cao, trong khi đó quy mô tín dụng nhỏ tốc độ tăng trưởng không cao so với nguồn vốn đạt được trong ngắn hạn. Trong dài hạn thì tốc độ tăng trưởng nguồn vốn không đủ đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn. Vì vậy làm giảm hiệu quả sử dụng vốn, tăng chi phí hoạt động trong Ngân hàng.

Mặc dù lượng tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn so với tiền gửi không kỳ hạn là rất lớn song luôn chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng. Điều này chứng tỏ rằng, Ngân hàng vẫn chưa phát huy hết tiềm năng của nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư. Do đó, Ngân hàng cần phải thực hiện các chính sách, biện pháp để thu hút lượng tiền này nhiều hơn nữa.

Các sản phẩm huy động vốn của Ngân hàng còn ít và chưa đa dạng. Ngân hàng mới triển khai các sản phẩm huy động tiền gửi như: tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi tích lũy, tiền gửi dự thưởng…Do đó đứng trước sự hội nhập, cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng trong nước và ngoài nước, Ngân hàng cần phải tiến hành đa dạng hóa các sản phẩm huy động vốn để có thể đạt được kết quả cao hơn.

Trên thực tế hiện nay, khách hàng truyền thống và chủ yếu của Ngân hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ và dân cư, nguồn vốn huy động cũng chủ yếu tập trung vào đối tượng khách hàng này. Tuy nhiên, đối tượng này cũng là đích ngắm của các Ngân hàng thương mại khác. Với lợi thế về vốn, về dịch vụ hoàn hảo và kinh nghiệm nhiều năm hoạt động trong cơ chế thị trường, các Ngân hàng này chắc chắn có nhiều lợi thế trong cuộc cạnh tranh lôi kéo khách hàng với Ngân hàng. Khách hàng của Ngân hàng chủ yếu là những doanh nghiệp vừa và nhỏ, chưa thu hút được nhiều các doanh nghiệp lớn đến mở tài khoản do đó nguồn vốn huy động chưa cao. Trong quan hệ với khách hàng còn chưa tạo ra mối quan hệ bình đẳng, đôi khi Ngân hàng còn quá chú trọng về đảm bảo an toàn hoạt động của mình, chưa gắn chặt quyền lợi và nghĩa vụ của khách hàng với Ngân hàng.

3.2.2 Nguyên nhân

  • Nguyên nhân khách quan Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng MB.

Từ năm 2023 đến nay, tình hình kinh tế, chính trị trên thế giới có nhiều biến động phức tạp. Chiến tranh vùng Vịnh xảy ra làm cho giá xăng dầu trên thế giới tăng cao. Kinh tế đất nước cũng có nhiều biến đổi, nhiều thiên tai, dịch bệnh làm cho chỉ số giá tiêu dùng tăng cao.

Trong những năm gần đây, thị trường chứng khoán mặc dù còn non trẻ, mới đi vào hoạt động nhưng đã tạo được sức hút, hấp dẫn khối lượng lớn dân chúng tham gia. Chính vì vậy, một phần lớn nhà đầu tư dám chấp nhận rủi ro để có thể tìm kiếm lợi nhuận cao hơn là gửi tiền vào ngân hàng để hưởng một mức lãi suất cố định. Hơn nữa, thị trường bất động sản trong những năm qua cũng rất phát triển. Vì vậy đã ảnh hưởng đến tình hình huy động vốn của Ngân hàng.

Do thói quen sử dụng tiền mặt của người Việt Nam vẫn chưa thay đổi nên luôn có một lượng tiền mặt rất lớn nằm rải rác trong dân cư, để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hàng ngày. Ngoài ra, các thủ tục cũng như công nghệ thanh toán áp dụng trong hệ thống Ngân hàng chưa được thanh toán nhanh gọn, hiệu quả.

  • Nguyên nhân chủ quan

Công tác tổ chức thực hiện giao dịch chưa hợp lý, quá trình tổ chức, thực hiện giao dịch chưa triệt để, chưa phát huy hết hiệu quả của chiến lược đổi mới trong Ngân hàng.

Chưa đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ huy động vốn, các loại hình dịch vụ chưa phong phú, còn đơn điệu, mới chỉ tập trung vào sản phẩm truyền thống mà ít triển khai hình thức mới. Ngân hàng chưa thực hiện được các dịch vụ ngân hàng trọn gói, chưa triển khai dịch vụ ngân hàng tại nhà. Vì vậy mà hạn chế trong thu hút trong thu hút tiền gửi thanh toán của khách hàng.

Cũng như các Ngân hàng thương mại quốc doanh khác, thời gian giao dịch của Ngân hàng còn bị bó hẹp trong giờ hành chính mà trong các giờ này khách hàng cũng làm việc, nhất là đối tượng khách hàng là công nhân viên chức. Do đó không thuận tiện cho khách hàng.

Việc Marketing trong hoạt động Ngân hàng chưa thực sự hiệu quả: hoạt động thông tin, tiếp thị về Ngân hàng chưa thực sự được quan tâm đúng mức, hiểu biết của người dân về Ngân hàng còn có nhiều hạn chế, nhất là ở các xã, nơi mà trình độ dân trí còn thấp. Mặt khác, công tác tuyên truyền cũng chưa thực sự hiệu quả để giúp người dân có thể hiểu được những lợi ích mà họ nhận được khi mở tài khoản tại Ngân hàng. Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng MB.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Giải pháp nâng cao huy động vốn tại Ngân hàng MB

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x