Khóa luận: Nâng cao khả năng huy động vốn tại Ngân hàng MB

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Nâng cao khả năng huy động vốn tại Ngân hàng MB hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Nâng cao khả năng huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân Đội dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

LỜI MỞ ĐẦU

1. Sự cần thiết nghiên cứu của đề tài

Sau nhiều nỗ lực phi thường, cuối cùng, con tầu kinh tế Việt Nam cũng đã cập bến Tổ chức Thương mại Thế giới bằng việc chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại lớn nhất hành tinh vào đầu năm 2026. Cũng như nhiều ngành dịch vụ khác, dịch vụ Ngân hàng thương mại, theo nhận định của nhiều chuyên gia kinh tế, sẽ phải chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi áp lực hội nhập. Do đó, để có thể cạnh tranh và hội nhập trong xu thế này, trước hết các Ngân hàng thương mại phải sở hữu một lượng vốn lớn. Vốn là yếu tố quan trọng, là một trong những nhu cầu hàng đầu cho việc đầu tư, xây dựng, mở rộng cơ sở hạ tầng. Với tư cách là cầu nối giữa cung cầu tiền tệ, vai trò của nguồn vốn càng trở nên quan trọng đối với các Ngân hàng thương mại. Quy mô cơ cấu của nguồn vốn quyết định hầu hết các mặt hoạt động của một Ngân hàng thương mại, quyết định khả năng sinh lời và sự an toàn trong hoạt động của mỗi ngân hàng.

Là một Ngân hàng với tuổi đời hoạt động còn trẻ nhưng Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân Đội đã có những bước tiến vượt bậc trên mọi mặt, đạt được những thành tựu to lớn trong hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng. Nhận thức được vai trò then chốt của huy động vốn trong hoạt động ngân hàng hiện nay, khi mà nhu cầu vốn đầu tư phát triển kinh tế xã hội rất lớn và nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư rất tiềm năng, Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội đã đưa ra những chính sách, chiến lược huy động vốn hiệu quả. Tuy nhiên, đứng trước sự hội nhập quốc tế, cuộc chạy đua huy động vốn giữa các Ngân hàng thương mại và sự cạnh tranh nhằm thu hút nguồn vốn nhàn rỗi diễn ra khá quyết liệt, vấn đề đặt ra đối với Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội cần phải nhanh chóng khắc phục những mặt còn hạn chế và không ngừng mở rộng quy mô huy động vốn, nâng cao khả năng huy động vốn mang lại tính hiệu quả cao trong công tác huy động vốn, vươn lên một tầm cao mới cho phát triển trong tương lai, quyết tâm trở thành một trong những Ngân hàng thương mại cổ phần hàng đầu Việt Nam.

Xuất phát từ yêu cầu đó, tôi quyết định chọn đề tài “Nâng cao khả năng huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân Đội” làm khóa luận tốt nghiệp của mình.

2. Mục đích nghiên cứu

  • Nghiên cứu về nguồn vốn và hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng thương mại
  • Nghiên cứu thực trạng hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội
  • Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng huy động vốn đối với Ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu là hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội
  • Cụ thể, nghiên cứu khái quát về hoạt động huy động vốn tại các Ngân hàng thương mại, đi sâu vào phân tích, so sánh, đánh giá những thành công, hạn chế trong công tác hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội. Rút ra bài học kinh nghiệm và các giải pháp nâng cao khả năng huy động vốn.

4. Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp tổng hợp thống kê, phương pháp khái quát, đối chiếu, so sánh, logic… Khóa luận: Nâng cao khả năng huy động vốn tại Ngân hàng MB.

Trong khóa luận, ngoài lời mở đầu và kết luận, khóa luận được chia làm 3 chương như sau:

  • Chương I: Lý luận chung về nguồn vốn của Ngân hàng thương mại
  • Chương II: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội
  • Chương III: Giải pháp nâng cao khả năng huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội

Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Cô Lê Thị Thanh người đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành khoá luận này. Em cũng xin chân thành cám ơn các thầy cô giáo và các bạn đã giúp đỡ em trong việc thu thập tài liệu để hoàn thành khoá luận này.

Do trình độ còn hạn chế và thời gian cũng có hạn, khóa luận này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, em rất mong nhận được sự góp ý chân thành của các thầy cô giáo và các bạn.

CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUỒN VỐN VÀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

I. Lý luận chung về nguồn vốn của ngân hàng thương mại

1. Tổng quan về ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại là một trong những tổ chức trung gian tài chính quan trọng nhất, là tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất trong hầu hết mọi nền kinh tế. Hàng triệu cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế – xã hội đều gửi tiền tại ngân hàng. Ngân hàng thương mại đóng vai trò là thủ quỹ cho toàn xã hội. Tiền từ ngân hàng được đẩy vào những nơi đang thiếu vốn, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, tạo công ăn việc làm và tăng trưởng kinh tế cho đất nước.

Người ta có thể đưa ra các khái niệm về Ngân hàng thương mại theo nhiều cách tiếp cận khác nhau. Luật Ngân hàng Pháp năm 1941 nêu: “Ngân hàng là những xí nghiệp hay cơ sở nào hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác số tiền mà họ dùng cho chính họ vào các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính”. Còn theo Luật Ngân hàng của Ấn Độ năm 1950: “Ngân hàng là cơ sở nhận các khoản tiền ký thác để cho vay hay tài trợ, đầu tư”. Đây là những khái niệm căn cứ vào tính chất và mục đích hoạt động. Luật Ngân hàng Đan Mạch 1930 lại đưa ra khái niệm căn cứ vào sự kết hợp mục đích, tính chất và đối tượng hoạt động: “Những nhà băng thiết yếu gồm các nghiệp vụ nhận tiền ký thác, buôn bán vàng bạc, hành nghề thương mại và các giá trị địa ốc, các phương tiện tín dụng và hối phiếu, thực hiện các nghiệp vụ chuyển ngân, đứng ra bảo hiểm…”

Mặc dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm ngân hàng nhưng nhìn chung chúng ta có thể tiếp cận nó theo các loại hình dịch vụ cung cấp: “Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế” (Peter S. Rose).

Cũng theo cách tiếp cận này, Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 của Việt Nam ghi: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình Ngân hàng gồm: Ngân hàng thương mại, Ngân hàng phát triển, Ngân hàng đầu tư, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng hợp tác và các loại hình Ngân hàng khác”, “Hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”.

1.1. Vai trò của ngân hàng thương mại Khóa luận: Nâng cao khả năng huy động vốn tại Ngân hàng MB.

  • Ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế để đầu tư vào sản xuất, kinh doanh và các nhu cầu chi tiêu khác.

NHTM là chủ thể chính đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh. Ngân hàng thương mại đứng ra huy động các nguồn vốn nhàn rỗi và tạm thời nhàn rỗi ở mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế như: vốn tạm thời được giải phóng ra từ quá trình sản xuất, từ nguồn tiết kiệm của các cá nhân trong xã hội bằng cơ chế tiền gửi có kỳ hạn và không kỳ hạn, rồi tái phân phối cho nền kinh tế quốc dân, đáp ứng đầy đủ và kịp thời cho quá trình tái sản xuất. Nhờ có hoạt động của hệ thống Ngân hàng thương mại và đặc biệt là hoạt động tín dụng, các doanh nghiệp có điều kiện mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc công nghệ, tăng năng suất lao động, góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế.

  • Ngân hàng thương mại là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế

Trong sự vận hành của nền kinh tế thị trường, Ngân hàng thương mại hoạt động một cách có hiệu quả thông qua các nghiệp vụ kinh doanh của mình thực sự là một công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Ngân hàng thương mại ngày càng phát huy được vai trò công cụ đòn bẩy của nó trong việc thực thi chính sách tiền tệ tín dụng, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo những mục tiêu đã hoạch định. Chính hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các Ngân hàng thương mại trong hệ thống đã góp phần mở rộng khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông. Thông qua việc cung ứng tín dụng cho các ngành trong nền kinh tế, Ngân hàng thương mại thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền, tập hợp và phân chia vốn của thị trường, điều khiển chúng một cách có hiệu quả.

  • Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trường

Hoạt động của các doanh nghiệp trong điều kiện nền kinh tế thị trường luôn chịu sự tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế khách quan như: quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị. Muốn tồn tại và phát triển được, các doanh nghiệp luôn luôn phải vận động và đưa ra những sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường, thỏa mãn nhu cầu thị trường trên mọi phương diện: không những thoả mãn nhu cầu về phương diện giá cả, khối lượng, chủng loại hàng hóa, chất lượng mà còn thỏa mãn cả trên phương diện thời gian, địa điểm. Để có thể đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của thị trường, đòi hỏi một khối lượng lớn vốn đầu tư, nhiều khi vượt quá khả năng vốn tự có của doanh nghiệp. Để giải quyết những khó khăn này, các doanh nghiệp có thể tìm đến ngân hàng xin vay vốn nhằm thỏa mãn nhu cầu đầu tư của mình. Thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng là cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trường. Nguồn vốn tín dụng của ngân hàng cung ứng cho doanh nghiệp đã đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng mọi mặt của quá trình sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu thị trường và tạo cho doanh nghiệp một chỗ đứng vững chắc trong điều kiện canh tranh gay gắt. Khóa luận: Nâng cao khả năng huy động vốn tại Ngân hàng MB.

  • Ngân hàng thương mại là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế

Trong bối cảnh thế giới hiện nay, cùng với xu hướng hội nhập, khu vực hóa và toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, các quốc gia trên thế giới không ngừng mở rộng giao lưu buôn bán, hợp tác tương trợ lẫn nhau. Việc phát triển kinh tế của mỗi quốc gia luôn gắn với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và là một bộ phận cấu thành nên sự phát triển đó. Vì vậy, nền tài chính của mỗi nước cũng phải hòa nhập với nền tài chính quốc tế và Ngân hàng thương mại cùng các hoạt động kinh doanh của mình đã đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong sự hòa nhập này. Với các nghiệp vụ kinh doanh như nhận tiền gửi, cho vay, nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ hối đoái và các nghiệp vụ khác, Ngân hàng thương mại đã tạo điều kiện thúc đẩy ngoại thương không ngừng được mở rộng. Thông qua các hoạt động thanh toán, kinh doanh ngoại hối, quan hệ tín dụng với các ngân hàng nước ngoài, hệ thống ngân hàng đã thực hiện vai trò điều tiết nền tài chính trong nước phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế.

Tóm lại: Ngân hàng thương mại đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong hệ thống tài chính, nó góp phần đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển vốn trên thị trường. Trên cơ sở đó tạo điều kiện kích thích đầu tư phát triển nền kinh tế.

1.2. Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại

  • Hoạt động tín dụng

Tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản, tạo thu nhập từ lãi lớn nhất và cũng là hoạt động mang lại rủi ro cao nhất. Tín dụng là hoạt động tài trợ của ngân hàng cho khách hàng, có thể bao gồm: cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và một số hình thức khác theo quy định của ngân hàng Nhà nước. Trong các hoạt động cấp tín dụng, cho vay là hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất.

Cho vay: Ngân hàng thương mại được cho các tổ chức, cá nhân vay vốn dưới các hình thức sau:

  • Cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống.
  • Cho vay trung hạn, dài hạn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống.

Bảo lãnh: Ngân hàng thương mại được bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đấu thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác bằng uy tín và bằng khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh. Mức bảo lãnh đối với một khách hàng và tổng mức bảo lãnh của một Ngân hàng thương mại không được vượt quá tỷ lệ so với vốn tự có của Ngân hàng thương mại.

Chiết khấu: Ngân hàng thương mại được chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với tổ chức, cá nhân và có thể tái chiết khấu các thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với các tổ chức tín dụng khác.

Cho thuê tài chính: Ngân hàng thương mại được hoạt động cho thuê tài chính nhưng phải thành lập công ty cho thuê tài chính riêng. Việc thành lập, tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính thực hiện theo Nghị định của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính. Khóa luận: Nâng cao khả năng huy động vốn tại Ngân hàng MB.

  • Hoạt động huy động vốn

Huy động vốn là hoạt động đầu tiên khi ngân hàng chính thức đi vào hoạt động. Vốn ban đầu của ngân hàng mới chỉ đủ để ngân hàng tồn tại về mặt pháp lý, không đủ để ngân hàng thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình.

Do đó, ngân hàng phải đi vay vốn để cho vay. Nguồn vốn ngân hàng đi vay lớn hơn rất nhiều so với vốn tự có của ngân hàng. Ngân hàng huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau và sử dụng nhiều sản phẩm, công cụ để huy động vốn. Khi thực hiện hoạt động huy động vốn thì ngân hàng phải trả chi phí cho việc sử dụng của mình thông qua việc trả lãi cho khách hàng. Ngân hàng thương mại được huy động vốn dưới các hình thức sau:

  • Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác.
  • Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Đây là những công cụ mà ngân hàng sử dụng theo từng đợt huy động riêng, nhằm mục đích huy động được một khối lượng vốn lớn trong một thời gian ngắn.
  • Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của tổ chức tín dụng nước ngoài. Vay vốn ngắn hạn của ngân hàng Nhà nước. Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của ngân hàng Nhà nước.

Hoạt động thanh toán:

Ngân hàng thực hiện hoạt động thanh toán hộ khách hàng, chủ yếu là các doanh nghiệp. Hoạt động thanh toán thường được thực hiện thông qua các tài khoản tiền gửi thanh toán mà khách hàng mở ở ngân hàng. Ngoài việc giúp ngân hàng huy động vốn, thu phí, hoạt động thanh toán còn là thước đo về chất lượng dịch vụ của ngân hàng. Ngân hàng nào thực hiện tốt hoạt động thanh toán thì sẽ thu hút được khách hàng và tạo sự tin tưởng cho họ khi sử dụng dịch vụ này của ngân hàng.

Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ của Ngân hàng thương mại bao gồm: Cung cấp các phương tiện thanh toán, thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng, thực hiện dịch vụ thu hộ và chi hộ, thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo quy định của ngân hàng Nhà nước.

Sự phát triển của công nghệ thông tin đã giúp cho ngân hàng thực hiện việc thanh toán một cách nhanh chóng và chính xác. Thông qua mạng thanh toán điện tử nội bộ và thanh toán điện tử liên ngân hàng, hoạt động thanh toán đã không bị giới hạn về mặt không gian cũng như thời gian. Khóa luận: Nâng cao khả năng huy động vốn tại Ngân hàng MB.

  • Hoạt động khác

Ngoài những hoạt động cơ bản trên, ngày nay, một Ngân hàng thương mại hiện đại còn thực hiện rất nhiều hoạt động khác nữa. Hoạt động nổi bật nhất có lẽ là các dịch vụ ngân hàng. Theo thống kê, hiện nay có khoảng hơn 3000 dịch vụ ngân hàng, tập trung vào các lĩnh vực như: thanh toán, cất giữ tài sản có giá trị cho khách hàng, dịch vụ thẻ…Các dịch vụ của ngân hàng chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng thu nhập của ngân hàng và việc phát triển các dịch vụ ngân hàng trở thành một mục tiêu mà bất cứ một ngân hàng nào cũng theo đuổi. Dịch vụ ngân hàng tạo ra sự khác biệt cho một ngân hàng so với đối thủ cạnh tranh, giúp ngân hàng trong việc thu hút thêm khách hàng. Ngân hàng thương mại còn có thể thực hiện một số hoạt động khác, bao gồm: góp vốn và mua cổ phần, tham gia thị trường tiền tệ, kinh doanh ngoại hối, ủy thác và nhận uỷ thác, cung ứng dịch vụ bảo hiểm, tư vấn tài chính, bảo quản vật quý giá. Ngoài ra đối với những Ngân hàng thương mại hiện đại, họ còn thực hiện các hoạt động liên quan đến các tài sản ngoại bảng như: nghiệp vụ quyền chọn, hợp đồng tương lai…Ngân hàng ngày nay cũng đóng vai trò như một nhà đầu tư, ngân hàng tham gia vào thị trường bất động sản, vào thị trường chứng khoán, góp vốn thành lập các công ty, các quỹ đầu tư.

2. Nguồn vốn và vai trò của nguồn vốn huy động đối với ngân hàng thương mại Khóa luận: Nâng cao khả năng huy động vốn tại Ngân hàng MB.

2.1. Khái niệm nguồn vốn

Nguồn vốn trong Ngân hàng thương mại được định nghĩa là toàn bộ tài sản bên Nợ trong bảng cân đối kế toán của ngân hàng. Nó bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn vốn huy động, trong đó nguồn vốn huy động là chủ yếu và quan trọng bởi nguồn này tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng. Thông thường kết cấu nguồn vốn của các Ngân hàng thương mại là như nhau nhưng xét về số lượng mỗi thành phần thì không ngân hàng nào giống nhau. Sự khác biệt đó xuất phát từ cách thức, mục tiêu huy động vốn của mỗi ngân hàng. Thông qua kết cấu nguồn vốn của mỗi ngân hàng, người ta có thể đánh giá được rất nhiều điều về sự hoạt động cũng như khả năng quản trị ngân hàng của ban lãnh đạo.

2.2. Các nguồn hình thành nên nguồn vốn của Ngân hàng thương mại

2.2.1 Vốn chủ sở hữu

Bất kì một ngân hàng nào bắt đầu hoạt động (được pháp luật cho phép) đều phải có một lượng vốn nhất định, gọi là vốn chủ sở hữu hay vốn tự có. Đây là loại vốn ngân hàng có thể sử dụng lâu dài, hình thành nên trang thiết bị, nhà cửa cho ngân hàng. Nguồn vốn này tuy chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng nguồn vốn nhưng được coi là đệm chống rủi ro, bảo đảm an toàn cho sự hoạt động của tất cả các ngân hàng. Đồng thời quy mô nguồn vốn cho thấy thực lực của ngân hàng, là cơ sở để thu hút các nguồn vốn khác. Nguồn hình thành và nghiệp vụ hình thành loại vốn này rất đa dạng tùy theo tính chất sở hữu, năng lực tài chính của chủ ngân hàng, yêu cầu và sự phát triển của thị trường. Vốn chủ sở hữu bao gồm các thành phần sau:

2.2.2 Nguồn vốn hình thành ban đầu

  • Nguồn vốn ban đầu hay Vốn pháp định của mỗi ngân hàng được hình thành do tính chất sở hữu của ngân hàng quyết định.
  • Đối với các Ngân hàng thương mại quốc doanh thì 100% vốn pháp định ban đầu là vốn do ngân sách Nhà nước cấp (vốn của Nhà nước).
  • Đối với các Ngân hàng thương mại cổ phần thì vốn pháp định (vốn điều lệ) hình thành do các cổ đông đóng góp thông qua mua cổ phần hoặc cổ phiếu. Đối với các Ngân hàng thương mại liên doanh thì vốn pháp định là vốn đóng góp của các bên liên Còn vốn của ngân hàng tư nhân lại chính là vốn thuộc sở hữu tư nhân.

2.2.3 Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động Khóa luận: Nâng cao khả năng huy động vốn tại Ngân hàng MB.

Gia tăng vốn chủ sở hữu là một hoạt động có ý nghĩa rất quan trọng đối với mỗi ngân hàng. Vốn chủ sở hữu càng lớn thì uy tín cũng như sức mạnh của ngân hàng trên thị trường càng lớn. Trong quá trình hoạt động, ngân hàng gia tăng vốn chủ sở hữu theo nhiều phương thức khác nhau tùy thuộc vào điều kiện cụ thể.

Nguồn từ lợi nhuận: Khi ngân hàng hoạt động có lợi nhuận (thu nhập ròng lớn hơn không) thì lãnh đạo ngân hàng thường có xu hướng gia tăng vốn chủ sở hữu bằng cách chuyển một phần thu nhập ròng thành vốn đầu tư. Việc này có ý nghĩa tích cực với mọi ngân hàng vì nó góp phần tạo thêm sự an tâm với các khách hàng, đồng thời giúp ngân hàng tích lũy tiền để đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị của ngân hàng nhằm tạo ra một hình ảnh ngân hàng đẹp hơn.

Nguồn vốn bổ sung từ phát hành thêm cổ phần, góp thêm, cấp thêm để mở rộng quy mô hoạt động, hoặc để đổi mới trang thiết bị của ngân hàng, hoặc để đáp ứng yêu cầu gia tăng vốn chủ sở hữu do ngân hàng Nhà nước quy định. Đặc điểm của hình thức huy động này là không thường xuyên, song giúp cho ngân hàng có được lượng vốn sở hữu lớn vào lúc cần thiết. Không phải lúc nào một ngân hàng cũng có thể phát hành thêm cổ phiếu mới vì việc này có thể gây ra nhiều tác động không tốt như: giá cổ phiếu ngân hàng trên thị trường giảm, cổ tức của cổ đông ít đi.

2.2.4 Các quỹ

Ngân hàng có nhiều quỹ. Các quỹ của ngân hàng được lập ra với nhiều mục đích, nhằm hỗ trợ cho các hoạt động khác nhau của ngân hàng. Những quỹ này đều được hình thành từ thu nhập của ngân hàng gồm có: quỹ dự phòng tổn thất, quỹ bảo toàn vốn, quỹ thặng dư. Ngoài ra, các ngân hàng còn có thể có quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng, quỹ giám đốc…

2.2.5 Nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần

Đây là thành phần khá đặc biệt trong nguồn vốn chủ sở hữu bởi nó được hình thành từ các khoản vay trung và dài hạn của ngân hàng. Một số ngân hàng phát hành các trái phiếu có thời hạn lâu năm nhằm huy động vốn, người nắm giữ những trái phiếu này đến một thời hạn nào đó sẽ chuyển thành cổ đông của ngân hàng và được hưởng lợi tức thay vì tiền lãi. Nguồn vốn này xuất hiện ở các ngân hàng sắp cổ phần hóa có tác dụng làm tăng lượng vốn dài hạn trong thời điểm hiện tại và tăng vốn chủ sở hữu trong tương lai. Những trái phiếu này rất hấp dẫn các nhà đầu tư vì họ có cơ hội trở thành đồng sở hữu một ngân hàng rất mạnh trong tương lai.

2.2.6 Vốn huy động

Vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu chiếm tỷ trọng lớn nhất (trên 80%) trong toàn bộ vốn kinh doanh của Ngân hàng thương mại. Đây là nguồn vốn có ảnh hưởng rất lớn đến chi phí và khả năng mở rộng kinh doanh của ngân hàng. Nguồn vốn này có xu hướng ngày càng gia tăng, phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế, trong điều kiện tái cơ cấu và nâng cao chất lượng dịch vụ của ngân hàng. Khóa luận: Nâng cao khả năng huy động vốn tại Ngân hàng MB.

2.2.7 Vốn từ tiền gửi của khách hàng

Tiền gửi của khách hàng bao gồm tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm.

  • Tiền gửi không kỳ hạn (tiền gửi theo yêu cầu, tiền gửi thanh toán, tiền gửi có thể phát séc)

Là hình thức huy động vốn của Ngân hàng thương mại bằng cách mở cho khách hàng tài khoản. Loại tiền gửi này khách hàng có thể rút ra sử dụng để thanh toán bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản bất cứ lúc nào, nên còn được gọi là tiền gửi theo yêu cầu, tiền gửi thanh toán, tiền gửi có thể phát séc. Đối với khoản tiền gửi này, mục đích chính của người gửi tiền là nhằm đảm bảo an toàn về tài sản và thực hiện các khoản thanh toán qua ngân hàng (chi trả hoặc thu hộ), chứ không có mục đích là thu được lợi nhuận từ lãi ngân hàng. Do khách hàng được hưởng nhiều tiện ích thanh toán và do ngân hàng không thể chủ động sử dụng cho vay nên tiền gửi này thường được hưởng lãi rất thấp, đôi khi còn không được hưởng lãi. Mặc dù số dư tài khoản tiền gửi của từng khách hàng thường không lớn, nhưng do là trung tâm tập trung tiền tệ và cung cấp dịch vụ thanh toán, nên Ngân hàng thương mại có số lượng khách hàng rất đông khiến cho tổng số vốn huy động qua tiền gửi thanh toán của tất cả khách hàng trở nên lớn đáng kể. Toàn bộ số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán giúp hình thành nên nguồn vốn ngắn hạn của ngân hàng. Ngân hàng có thể sử dụng nguồn vốn này vào mục đích cấp tín dụng ngắn hạn hoặc cung cấp các dịch vụ ngân hàng khác.

  • Tiền gửi có kỳ hạn

Là loại tiền gửi có sự thỏa thuận về thời gian rút tiền, khách hàng được rút ra sau một thời gian nhất định từ một vài tháng đến vài năm (thường là 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 1 năm, 3 năm, 5 năm). Khác với tiền gửi không kỳ hạn, loại tiền gửi này ngân hàng có thể chủ động cho vay do đó ngân hàng trả lãi cho người gửi tiền với mức cao hơn lãi suất tiền gửi không kỳ hạn. Chủ tài khoản tiền gửi loại này thường là các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, xã hội có nguồn thu nhập chưa dùng tới, gửi vào ngân hàng với mục đích sinh lời và an toàn. Lãi suất tiền gửi loại này cao hay thấp phụ thuộc vào thời hạn gửi tiền và các yếu tố khác trên thị trường. Nguyên tắc của loại tiền gửi này là khách hàng chỉ có thể rút vốn khi đến hạn, tuy nhiên để khuyến khích và thu hút khách hàng gửi tiền đôi khi ngân hàng cho phép khách hàng được rút tiền gửi trước thời hạn nếu có nhu cầu, nhưng khi đó khách hàng bị mất tiền lãi hoặc chỉ được trả lãi theo lãi suất tiền gửi không kỳ hạn.

  • Tiền gửi tiết kiệm Khóa luận: Nâng cao khả năng huy động vốn tại Ngân hàng MB.

Một bộ phận dân cư trong nền kinh tế có vốn nhưng không muốn đầu tư kinh doanh, họ đem gửi khoản tiền đó vào ngân hàng nhằm mục đích tiết kiệm, kiếm lời và để thanh toán. Giống như tiền gửi có kỳ hạn, người gửi tiền tiết kiệm cũng muốn hưởng lãi và không được phát séc. Mức lãi suất của loại tiền gửi này thường cao hơn tiền gửi tài khoản séc vì người gửi tiền tiết kiệm không được hưởng nhiều tiện ích như với tài khoản séc. Loại tiền gửi này luôn chiếm một tỉ trọng khá lớn trong tổng vốn huy động của ngân hàng. Để khai thác nguồn vốn này, các ngân hàng luôn chú trọng đến việc đa dạng hóa các hình thức huy động như: huy động bằng vàng, huy động tiền gửi có đảm bảo bằng vàng, tiết kiệm xây dựng nhà ở…

  • Vốn huy động thông qua phát hành các giấy tờ có giá

Đây là nguồn vốn mà Ngân hàng thương mại có được thông qua việc phát hành các giấy tờ có giá như kỳ phiếu ngân hàng, trái phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi…Với việc phát hành các giấy tờ có giá để huy động vốn, ngân hàng có khả năng tập trung một khối lượng vốn lớn trong thời gian ngắn và hoàn toàn chủ động trong sử dụng. Hình thức này thường được thực hiện khi ngân hàng đã tiếp nhận được những dự án vay vốn lớn với thời hạn giải ngân nhanh của khách hàng, hay sau khi đã cân đối giữa nguồn vốn và sử dụng vốn trong toàn hệ thống mà vẫn còn thiếu và được sự đồng ý của Thống đốc ngân hàng Trung ương.

  • Vốn vay

Trong quá trình kinh doanh của các Ngân hàng thương mại luôn có tình trạng tạm thời thừa và thiếu vốn, đó là khi huy động vốn nhưng chưa cho vay hết, hay khi khách hàng có nhu cầu vay lớn nhưng nguồn vốn lại không đủ, hoặc người gửi rút tiền trước thời hạn trong khi đó vốn cho vay chưa đến lúc thu hồi. Khi đó các Ngân hàng thương mại có thể gửi vào các tổ chức tín dụng khác để hưởng lãi, hay đi vay vốn để tận dụng cơ hội kinh doanh hoặc đảm bảo khả năng thanh toán. Nguồn vay vốn chính mà ngân hàng hướng tới là vay vốn từ ngân hàng Trung ương, vay vốn từ các tổ chức tài chính, tín dụng trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng và vay vốn trực tiếp trên thị trường thông qua phát hành trái phiếu, cổ phiếu ngân hàng.

2.3. Vai trò của nguồn vốn huy động đối với Ngân hàng thương mại Khóa luận: Nâng cao khả năng huy động vốn tại Ngân hàng MB.

Vốn của Ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do Ngân hàng thương mại tạo lập hoặc huy động được, dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác (trong đó nguồn vốn huy động chiếm trên 80%). Chính vì vậy, nguồn vốn huy động có vai trò cực kỳ quan trọng đối với Ngân hàng thương mại.

  • Vốn là cơ sở để Ngân hàng thương mại thực hiện các hoạt động tổ chức, kinh doanh

Hoạt động huy động vốn góp phần mang lại nguồn vốn cho ngân hàng thực hiện các hoạt động kinh doanh. Chính nhờ nguồn vốn huy động này và vốn tự có của mình, ngân hàng có thể thực hiện cho vay, đầu tư, thanh toán, ngân quỹ…Vốn không chỉ là phương tiện kinh doanh chính mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu của Ngân hàng thương mại. Phải khẳng định rằng bất kỳ Ngân hàng thương mại nào có nhiều vốn thì có khả năng mở rộng kinh doanh, đa dạng hóa sản phẩm, tăng doanh thu và uy tín.

  • Vốn quyết định quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt động khác của ngân hàng

Vốn quyết định đến việc mở rộng hay thu hẹp khối lượng tín dụng. Nếu so với các ngân hàng lớn thì các ngân hàng nhỏ có khoản mục đầu tư và cho vay kém đa dạng hơn, phạm vi và khối lượng cho vay của các ngân hàng này cũng nhỏ hơn. Do khả năng vốn hạn hẹp nên các ngân hàng nhỏ không phản ứng nhạy bén được với sự biến động về lãi suất, gây ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn đầu tư từ các tầng lớp dân cư và các thành phần kinh tế. Giả sử trên địa bàn của ngân hàng đó, nhu cầu vốn rất lớn nhưng ngân hàng không có nhiều vốn thì không thể đáp ứng được nhu cầu cho vay. Nếu khả năng vốn của ngân hàng dồi dào thì chắc chắn ngân hàng sẽ đáp ứng được nhu cầu vốn cho vay, có đủ điều kiện mở rộng thị trường tín dụng và các dịch vụ ngân hàng. Qua đó, ta càng khẳng định rõ tầm quan trọng của vốn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

  • Vốn quyết định đến năng lực thanh toán và đảm bảo uy tín của ngân hàng trên thương trường

Uy tín của ngân hàng là điều trọng yếu để tồn tại và ngày càng mở rộng quy mô hoạt động của các ngân hàng. Uy tín đó thể hiện trước hết ở khả năng sẵn sàng thanh toán chi trả cho khách hàng của ngân hàng. Khả năng thanh toán của ngân hàng càng cao thì vốn khả dụng của ngân hàng càng lớn. Do đó, khả năng thanh toán của ngân hàng tỷ lệ thuận với vốn của ngân hàng nói chung và với vốn khả dụng của ngân hàng nói riêng. Như vậy, nguồn vốn huy động của một ngân hàng lớn thì ngân hàng có thể hoạt động kinh doanh với quy mô ngày càng mở rộng, tiến hành các hoạt động cạnh tranh có hiệu quả nhằm vừa giữ chữ tín, vừa nâng cao thanh thế trên thương trường.

  • Vốn quyết định đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng

Nếu huy động được nguồn vốn lớn, ngân hàng có thể mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế xét cả về quy mô, khối lượng tín dụng, chủ động về thời gian, thời hạn cho vay, thậm chí quyết định đến mức lãi suất cho vay khách hàng. Điều này sẽ thu hút ngày càng nhiều khách hàng, doanh số hoạt động của ngân hàng sẽ tăng lên nhanh chóng và ngân hàng sẽ có nhiều thuận lợi hơn trong kinh doanh. Ngoài ra, vốn của ngân hàng lớn sẽ giúp cho ngân hàng có đủ khả năng tài chính để kinh doanh đa năng trên thị trường. Chính các hình thức kinh doanh đa năng này sẽ góp phần phân tán rủi ro trong hoạt động kinh doanh và tạo thêm vốn cho ngân hàng đồng thời tăng sức cạnh tranh của ngân hàng trên thương trường.

II. Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại Khóa luận: Nâng cao khả năng huy động vốn tại Ngân hàng MB.

1. Khái niệm huy động vốn của Ngân hàng thương mại

Cũng như các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế, ngân hàng phải huy động vốn để thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình. Nguồn vốn huy động có thể đến từ nhiều nguồn khác nhau, với quy mô và cơ cấu khác nhau tùy theo mục tiêu hoạt động của ngân hàng. Ngân hàng là loại hình doanh nghiệp đặc biệt trong nền kinh tế do vậy hoạt động huy động vốn của ngân hàng cũng rất khác biệt so với các doanh nghiệp khác. Các ngân hàng luôn cố gắng huy động được nguồn vốn với chi phí rẻ, quy mô và cơ cấu phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn và các mục tiêu hoạt động kinh doanh nói chung của mình.

Như vậy, huy động vốn của Ngân hàng thương mại là hoạt động do Ngân hàng thương mại thực hiện nhằm thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi từ các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế nhằm thực hiện các mục tiêu hoạt động kinh doanh của mình.

2. Các hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại

2.1. Huy động vốn dưới hình thức tiền gửi

Tiền gửi là nguồn vốn huy động từ bên ngoài đầu tiên và quan trọng nhất đối với mỗi Ngân hàng thương mại. Trong cơ cấu vốn của các ngân hàng, tiền gửi luôn chiếm tỷ trọng lớn và có nhiều ảnh hưởng nhất tới các hoạt động của ngân hàng. Vì thế để gia tăng tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và để có được nguồn tiền gửi có chất lượng ngày càng cao thì các ngân hàng đã đưa ra và thực hiện nhiều hình thức huy động khác nhau.

  • Tiền gửi thanh toán (tiền gửi giao dịch)

Đây là tiền của doanh nghiệp hoặc cá nhân gửi vào ngân hàng nhờ ngân hàng thanh toán hộ khi cần thiết. Khách hàng gửi tiền với mục đích chính là thanh toán nên lãi suất tiền gửi thanh toán thường không được hưởng hoặc nếu có thì rất thấp. Tuy nhiên khách hàng sử dụng loại tiền gửi này được sử dụng một số dịch vụ đi kèm với chi phí thấp. Tiền gửi thanh toán là một trong những loại tiền gửi ra đời sớm nhất của hoạt động huy động tiền gửi, nó được coi là một trong những dịch vụ mang tính chất truyền thống ngành ngân hàng. Một đặc điểm quan trọng của tiền gửi thanh toán, đó là ngân hàng phải thực hiện thanh toán khi khách hàng yêu cầu (không vượt quá số dư) vào bất cứ lúc nào. Do đó, tiền gửi thanh toán buộc ngân hàng luôn phải đối mặt với rủi ro mất khả năng thanh toán. Tiền gửi thanh toán chiếm khoảng 18% – 20% tổng nguồn vốn của các Ngân hàng thương mại, nó là thước đo mức độ lòng tin của khách hàng đối với uy tín và chất lượng dịch vụ của ngân hàng. Khách hàng chỉ gửi tiền vào những ngân hàng mà họ tin là ngân hàng đó sẽ giữ được tiền của mình, đảm bảo an toàn và sinh lời cho họ.

Tiền gửi thanh toán trở thành một kênh huy động vốn không thể thiếu của hoạt động ngân hàng. Ngân hàng mở tài khoản tiền gửi thanh toán (tài khoản có thể phát séc) cho khách hàng. Thủ tục mở tài khoản hết sức đơn giản. Yêu cầu của ngân hàng là khách hàng phải có tiền và chỉ thanh toán cho khách hàng trong phạm vi số dư. Tuy nhiên, ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của các dịch vụ ngân hàng, nhiều ngân hàng đã cho phép khách hàng thanh toán vượt số dư trong tài khoản (thấu chi – chi vượt quá số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán). Hình thức thấu chi thường áp dụng cho đối tượng khách hàng là doanh nghiệp có quan hệ thân thiết với ngân hàng, khách hàng thấu chi để thanh toán tiền hàng trong trường hợp chưa kịp nộp đủ tiền vào tài khoản tiền gửi thanh toán. Khóa luận: Nâng cao khả năng huy động vốn tại Ngân hàng MB.

Như chúng ta đã biết, lãi suất của tiền gửi thanh toán rất thấp, chính vì thế một số ngân hàng đã sử dụng nhiều hình thức “biến tướng” của tiền gửi thanh toán để nâng lãi suất loại tiền gửi này lên để nhằm cạnh tranh với các tổ chức tín dụng khác.

  • Tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội

Bên cạnh những khoản tiền gửi thanh toán, hầu hết các doanh nghiệp thương mại, tổ chức xã hội đều gửi một lượng tiền nhất định tại ngân hàng với thời hạn xác định. Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp hay tổ chức luôn có một lượng tiền tạm thời nhàn rỗi, họ gửi vào ngân hàng với các kỳ hạn khác nhau để hưởng lãi (lãi suất cao hơn lãi suất của tiền gửi không kỳ hạn) nhằm tạo thêm thu nhập cho mình. Tuy nhiên lượng tiền gửi có kỳ hạn của các tổ chức chiếm một lượng rất nhỏ so với lượng tiền gửi không kỳ hạn.

Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng với nhau, nhiều ngân hàng đã linh hoạt trong việc sử dụng hình thức tiền gửi có kỳ hạn. Tiền gửi có kỳ hạn có thể kết hợp với tiền gửi thanh toán, nghĩa là khách hàng có tài khoản tiền gửi thanh toán có thể yêu cầu ngân hàng chuyển tiền của mình sang tiền gửi có kỳ hạn và ngược lại. Thêm vào đó, việc thay đổi kỳ hạn gửi tiền, gia hạn gửi tiền cũng được thực hiện một cách nhanh chóng và đơn giản. Điều này đã thu hút được các doanh nghiệp gửi tiền nhiều hơn, giảm được việc doanh nghiệp đem tiền nhàn rỗi của mình đi đầu tư vào những lĩnh vực khác. Mặc dù là tiền gửi có kỳ hạn, nhưng tính ổn định của nó vẫn không cao, vì nó luôn gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp. Do đó, ngân hàng cũng luôn phải đối mặt với nguy cơ rút tiền bất cứ lúc nào của doanh nghiệp, dẫn đến rủi ro trong thanh toán. Để quản lý tốt tiền gửi có kỳ hạn thì ngân hàng phải hiểu rõ khách hàng doanh nghiệp của mình, biết được chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp.

  • Tiền gửi tiết kiệm của dân cư

Các tầng lớp dân cư đều có các khoản thu nhập tạm thời chưa sử dụng (các khoản tiền tiết kiệm), họ tích lũy lại cho tương lai. Người dân có nhiều cách để giữ số tiền tiết kiệm của mình. Một trong những cách đó là gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng. Ngân hàng thu hút tiền gửi của người dân bằng việc đảm bảo an toàn cho tài sản của họ đồng thời trả lãi để khuyến khích họ gửi nhiều tiền với thời hạn lâu dài. Huy động tiền gửi trong dân cư là nghiệp vụ truyền thống đem lại cho ngân hàng một lượng vốn rất lớn để có thể tiến hành các hoạt động cho vay và đầu tư sinh lợi. Thông thường tiền gửi tiết kiệm có 2 loại chính:

  • Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn
  • Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn

Với tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, người gửi có thể rút bất cứ khi nào họ muốn. Còn với tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, người gửi chỉ có thể rút tiền khi đến hạn nhưng lại được hưởng mức lãi suất cao hơn nhiều so với tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn. Ngân hàng có thể mở cho mỗi người tiết kiệm nhiều trương mục tiết kiệm (hoặc là sổ tiết kiệm) cho mỗi kỳ hạn và mỗi lần gửi khác nhau. Sổ tiết kiệm này không dùng để thanh toán tiền hàng và dịch vụ song có thể thế chấp để vay vốn nếu được ngân hàng cho phép. Đặc biệt, hiện nay để cạnh tranh hầu như các ngân hàng đều cho người gửi tiền tiết kiệm có kỳ hạn rút tiền trước hạn khi cần. Điều này làm tăng sức hấp dẫn của tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn. Hơn nữa, người dân cũng có thể yên tâm hơn khi khoản tiền gửi của mình trong ngân hàng được bảo hiểm, trong trường hợp ngân hàng mất khả năng thanh toán thì người gửi vẫn có thể nhận lại toàn bộ hoặc một phần số tiền của mình từ tổ chức bảo hiểm tiền gửi.

  • Tiền gửi của các ngân hàng và tổ chức tín dụng khác

Giữa các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác thường xuyên có mối liên hệ với nhau về nhiều mặt trong hoạt động kinh doanh. Các ngân hàng đều gửi một lượng tiền ở các ngân hàng khác nhằm mục đích tạo sự thuận tiện cho việc thanh toán hộ, chuyển khoản hay mua bán, giao dịch khác… Lượng tiền gửi này thường không lớn, biến động nhỏ nên ít ảnh hưởng tới nguồn vốn của ngân hàng.

2.2. Huy động vốn bằng hình thức đi vay Khóa luận: Nâng cao khả năng huy động vốn tại Ngân hàng MB.

Vốn đi vay là quan hệ vay vốn giữa Ngân hàng thương mại và ngân hàng Trung ương, hoặc giữa các Ngân hàng thương mại với nhau hay các tổ chức tín dụng khác. Các Ngân hàng thương mại sẽ đi vay vốn để bổ sung vào vốn hoạt động của mình khi ngân hàng đã sử dụng hết vốn khả dụng mà vẫn không đủ vốn hoạt động, hay nói cách khác: tạm thiếu vốn khả dụng.

  • Vay Ngân hàng Nhà nước (Vay Ngân hàng trung ương)

Ngân hàng trung ương là ngân hàng của các ngân hàng, là cứu tinh của các ngân hàng trong các trường hợp khó khăn nhất và là người cho vay sau cùng. Đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách trong chi trả của Ngân hàng thương mại. Trong trường hợp thiếu hụt dự trữ (thiếu dự trữ bắt buộc, dự trữ thanh toán), Ngân hàng thương mại thường vay Ngân hàng nhà nước. Ngân hàng nhà nước cấp tín dụng cho các Ngân hàng thương mại qua 2 hình thức:

Tái chiết khấu (hoặc chiết khấu) hay còn gọi là tái cấp vốn. Các thương phiếu đã được các Ngân hàng thương mại chiết khấu sẽ trở thành tài sản của họ. Khi cần tiền, ngân hàng mang những thương phiếu này lên tái chiết khấu tại Ngân hàng nhà nước. Nghiệp vụ này làm thương phiếu của Ngân hàng thương mại giảm đi và dự trữ (tiền mặt hoặc tiền gửi tại Ngân hàng nhà nước) tăng lên. Ngân hàng nhà nước kiểm soát việc vay mượn này một cách chặt chẽ, Ngân hàng thương mại phải thực hiện các điều kiện đảm bảo và kiểm soát nhất định. Thông thường Ngân hàng nhà nước chỉ tái chiết khấu cho những thương phiếu có chất lượng (thời gian đáo hạn ngắn, khả năng trả nợ cao) và phù hợp với mục tiêu của Ngân hàng nhà nước trong tổng thời kỳ. Trong điều kiện chưa có thương phiếu, Ngân hàng nhà nước cho Ngân hàng thương mại vay dưới hình thức tái cấp vốn theo hạn mức tín dụng nhất định.

  • Cho vay có đảm bảo bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác.

Ngoài ra, Ngân hàng trung ương còn cho Ngân hàng thương mại vay bổ sung vốn thiếu hụt trong thanh toán bù trừ. Trong trường hợp đặc biệt, khi được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, Ngân hàng nhà nước còn cho vay đối với các Ngân hàng thương mại tạm thời mất khả năng chi trả có nguy cơ gây mất an toàn cho hệ thống.

  • Vay các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác

Khi vay tiền từ Ngân hàng nhà nước để đáp ứng thiếu hụt dự trữ hay chi trả cấp bách quá khó khăn (lãi suất chiết khấu cao, điều kiện vay mượn chặt chẽ…) các NHTM thường vay mượn lẫn nhau và vay của các Tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên ngân hàng. Các ngân hàng đang có dự trữ vượt yêu cầu do có kết dư gia tăng bất ngờ về các khoản tiền huy động hoặc giảm cho vay sẽ có thể sẵn lòng cho các ngân hàng khác vay để tìm kiếm lãi suất cao hơn. Ngược lại, các ngân hàng đang thiếu hụt dự trữ có nhu cầu vay mượn tức thời để đảm bảo thanh toán. Như vậy nguồn vay mượn từ các ngân hàng khác là để đáp ứng nhu cầu dự trữ và chi trả cấp bách và trong nhiều trường hợp nó bổ sung hoặc thay thế cho nguồn vay mượn từ Ngân hàng nhà nước. Quá trình vay mượn rất đơn giản. Ngân hàng vay chỉ cần liên hệ trực tiếp với ngân hàng cho vay hoặc thông qua ngân hàng đại lý (hoặc Ngân hàng nhà nước). Khoản vay có thể không cần đảm bảo, hoặc được đảm bảo bằng các chứng khoán của kho bạc. Kết quả là dự trữ của ngân hàng cho vay giảm đi và của ngân hàng đi vay tăng lên.

  • Vay trên thị trường vốn Khóa luận: Nâng cao khả năng huy động vốn tại Ngân hàng MB.

Để huy động được lượng vốn dồi dào đáp ứng nhu cầu cho vay thường xuyên (đặc biệt là cho vay trung và dài hạn), bên cạnh việc thu hút tiền gửi, các ngân hàng thường chủ động đi vay trên thị trường vốn. Cũng giống như các doanh nghiệp khác, các ngân hàng cũng vay mượn bằng cách phát hành các giấy nợ (kì phiếu, tín phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi) trên thị trường vốn. Rất nhiều Ngân hàng thương mại thiếu nguồn tiền gửi trung và dài hạn dẫn đến không đáp ứng được nhu cầu cho vay trung và dài hạn. Do vậy, các khoản vay trung và dài hạn nhằm bổ sung cho các nguồn tiền gửi, đáp ứng nhu cầu cho vay và đầu tư trung và dài hạn. Thông thường đây là các khoản vay không có đảm bảo nên những ngân hàng lớn có uy tín hoặc trả lãi suất cao hơn sẽ vay mượn được nhiều hơn. Các ngân hàng nhỏ thường khó vay mượn trực tiếp bằng cách này mà phải vay thông qua ngân hàng đại lý hoặc được bảo lãnh của ngân hàng đầu tư. Khả năng vay mượn còn phụ thuộc vào trình độ phát triển của thị trường tài chính, tạo khả năng chuyển đổi cho các công cụ nợ dài hạn của ngân hàng. Có thể nói thị trường tài chính với vai trò trung gian điều hòa vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu đã hỗ trợ tích cực cho hoạt động của các ngân hàng. Thị trường tài chính càng phát triển thì khả năng chuyển đổi các công cụ nợ dài hạn của các ngân hàng càng tăng.

2.3. Huy động vốn bằng các hình thức khác

  • Ngoài những nguồn vốn đi vay cơ bản trên, ngân hàng còn có các nguồn vốn vay khác như:

Nguồn ủy thác: Ngân hàng thương mại thực hiện các dịch vụ ủy thác như ủy thác cho vay, ủy thác đầu tư, ủy thác cấp phát, ủy thác giải ngân và thu hộ… Trong đó ủy thác đầu tư là dịch vụ khá hấp dẫn của ngân hàng. Với dịch vụ này, khách hàng ủy thác tiền bạc, tài sản của mình cho ngân hàng để ngân hàng tiến hành đầu tư vào những dự án khả thi để sinh lãi. Ngân hàng với lợi thế về uy tín và thông tin cũng như khả năng thẩm định dự án tốt sẽ tiến hành hoạt động đầu tư có hiệu quả hơn, mang lại thu nhập cho khách hàng đồng thời thu lời cho chính mình qua phí dịch vụ. Trong tương lai, dịch vụ uỷ thác đầu tư hứa hẹn rất phát triển, là một nguồn thu hút vốn khá tốt và trở thành một sản phẩm cạnh tranh hấp dẫn không kém sản phẩm tiền gửi.

Nguồn trong thanh toán: Các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt có thể hình thành trong thanh toán (séc trong quá trình chi trả, tiền ký quỹ để mở L/C…), hoặc các ngân hàng là ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ có kết số dư từ tiền của các ngân hàng thành viên chuyển về để cho vay.

Nguồn khác: Các khoản nợ khác như thuế chưa nộp, lương trả cho nhân viên… Đây là nguồn mà ngân hàng tạm thời chiếm dụng, không có ảnh hưởng đáng kể tới nguồn vốn cũng như hoạt động huy động vốn của ngân hàng.

3. Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn của Ngân hàng thương mại Khóa luận: Nâng cao khả năng huy động vốn tại Ngân hàng MB.

3.1. Nhân tố khách quan

3.1.1 Nhân tố thuận

  • Sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường vốn

Trong quá trình thu hút vốn, các ngân hàng luôn phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt không những của các ngân hàng trong ngành mà còn của các tổ chức tài chính khác. Sản phẩm tiền gửi của ngân hàng dễ bắt chước đòi hỏi các ngân hàng phải rất cố gắng trong việc đưa thêm những tiện ích vào sản phẩm cũng như triển khai những chương trình huy động vốn hấp dẫn nhằm thu hút được khách hàng. Bên cạnh đó, các ngân hàng còn bị cạnh tranh bởi các tổ chức tài chính khác như: Các công ty tài chính, quỹ đầu tư, công ty bảo hiểm…Các tổ chức này tuy không có chức năng nhận tiền gửi như ngân hàng song lại có nhiều dịch vụ phong phú thu hút tiền đầu tư của người dân và các doanh nghiệp. Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoán lại càng khiến cho thị trường vốn của các ngân hàng thu hẹp lại tạo nên sự cạnh tranh gay gắt trong việc thu hút vốn. Do vậy để có thể thu hút được những nguồn vốn có chất lượng, các ngân hàng không ngừng đa dạng hóa các sản phẩm huy động vốn và nâng cao chất lượng phục vụ để thu hút và thỏa mãn nhu cầu của khách hàng.

Tâm lý thói quen của người tiêu dùng:

  • Tập quán tiêu dùng

Nếu những vùng dân cư quen sử dụng số tiền nhàn rỗi dưới hình thức cất trữ là chính thì việc huy động vốn sẽ gặp khó khăn. Chẳng hạn vào thời kỳ vàng còn có giá trị thì người ta dùng tiền nhàn rỗi đi mua vàng về cất trữ… Còn khi người dân có nhu cầu hưởng lãi hoặc bảo quản tài sản thì họ sẽ gửi tiền vào ngân hàng nhiều hơn. Khi đó cơ hội huy động vốn của ngân hàng tăng lên.

  • Mức thu nhập và chu kỳ chi tiêu của người dân

Thu nhập của người dân càng cao, nhu cầu đầu tư và giao dịch của họ tăng lên tương đối so với nhu cầu tiêu dùng thì nhu cầu mở tài khoản cũng như gửi tiền vào ngân hàng sẽ tăng lên. Chu kỳ chi tiêu ảnh hưởng tới quy mô và tính ổn định của nguồn tiền. Vào những dịp nghỉ lễ trong năm, nguồn tiền tiết kiệm cũng như tiền gửi của doanh nghiệp có xu hướng giảm sút, đặc biệt là trong điều kiện thanh toán bằng tiền mặt còn phổ biến.

Biết được tâm lý thói quen của người dân, các Ngân hàng thương mại sẽ đưa ra các giải pháp phù hợp để thu hút được lượng tiền nhàn rỗi trong dân cư. Khóa luận: Nâng cao khả năng huy động vốn tại Ngân hàng MB.

3.1.2 Nhân tố nghịch

  • Chính sách chỉ đạo của Ngân hàng nhà nước

NHNN ban hành các chính sách chỉ đạo về hoạt động nhằm đảm bảo các Ngân hàng thương mại hoạt động theo đúng định hướng của nó, phù hợp và thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước. Các chính sách của Ngân hàng nhà nước thay đổi theo từng thời kỳ, tùy thuộc vào chính sách kinh tế chung của Nhà nước và sự phát triển của thị trường tài chính. Để kiểm soát việc huy động vốn của các Ngân hàng thương mại, Ngân hàng nhà nước có các quy định về tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất chiết khấu… Tất cả những quy định, chính sách này được áp dụng cho tất cả các Ngân hàng thương mại nên ảnh hưởng của chúng tới mỗi ngân hàng là rất khác nhau. Cụ thể:

Tỷ lệ dự trữ bắt buộc: Các Ngân hàng thương mại vừa phải đảm bảo tỷ lệ dự trữ theo yêu cầu của Ngân hàng nhà nước vừa phải đáp ứng nhu cầu cho vay nên tỷ lệ dự trữ bắt buộc cao sẽ khiến các ngân hàng gặp khó khăn trong việc huy động vốn để cho vay. Khi đó chi phí huy động vốn của các Ngân hàng thương mại sẽ phải cao hơn để thu hút càng nhiều vốn càng tốt, đồng thời vốn huy động để cho vay sẽ nhỏ hơn. Các ngân hàng nhỏ, vốn ít, khả năng huy động hạn chế thì tỷ lệ dự trữ cao sẽ trở thành một gánh nặng khó giải quyết.

Lãi suất chiết khấu: Ngân hàng nhà nước thực hiện tái chiết khấu vốn để cung ứng tiền ra lưu thông bằng biện pháp tái chiết khấu. Nếu chính sách tiền tệ nhằm chống lạm phát thì lúc đó Ngân hàng nhà nước cung ứng tiền ra lưu thông với lãi suất chiết khấu cao. Và như vậy, nguồn vốn vay từ Ngân hàng nhà nước của các Ngân hàng thương mại sẽ bị hạn chế. Khi đó, các ngân hàng muốn tăng lượng vốn huy động sẽ phải tìm cách huy động từ các nguồn khác chứ không nên trông chờ vào việc đi vay Ngân hàng nhà nước.

  • Hoạt động kinh tế xã hội của đất nước

Hoạt động của các Ngân hàng thương mại nằm trong hoạt động kinh tế chung của đất nước do đó chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ từ sự tăng trưởng hay suy thoái của nền kinh tế. Khi nền kinh tế vào thời kỳ tăng trưởng, sản xuất phát triển tạo điều kiện tích lũy nhiều hơn, do đó tạo môi trường cho việc thu hút vốn của ngân hàng thuận lợi hơn. Mặt khác, nó cũng tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi cho ngân hàng, từ đó ngân hàng phải tìm biện pháp để huy động vốn sao cho có hiệu quả thiết thực cho hoạt động kinh doanh của mình. Khi môi trường đầu tư mở rộng thì thu nhập của ngân hàng không ngừng phát triển, tạo tiền đề cho việc mở rộng vốn tự có của ngân hàng. Khi nền kinh tế suy thoái, lạm phát tăng làm thu nhập của người dân giảm khiến cho họ không muốn gửi tiền vào ngân hàng mà chuyển sang tích lũy bằng các tài sản khác như: vàng, ngoại tệ mạnh… Lượng tiền gửi vào ngân hàng sẽ sụt giảm cùng với việc môi trường đầu tư của ngân hàng bị thu hẹp do các doanh nghiệp không muốn vay vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh trong điều kiện sản xuất thua lỗ.

3.2. Nhân tố chủ quan Khóa luận: Nâng cao khả năng huy động vốn tại Ngân hàng MB.

3.2.1 Chính sách huy động vốn của ngân hàng

Chính sách huy động vốn của ngân hàng là tổng thể các chiến lược và biện pháp huy động vốn của một ngân hàng nhằm mục tiêu thu hút vốn tối đa. Chính sách này thay đổi theo từng kỳ, phù hợp với mục tiêu cụ thể của ngân hàng nhưng luôn bao gồm các nội dung sau:

Hình thức huy động vốn: Ngân hàng muốn dễ dàng tìm kiếm nguồn vốn thì trước hết phải đa dạng hóa hình thức huy động vốn. Hình thức huy động càng phong phú thì ngân hàng càng dễ huy động hơn. Ngân hàng có thể đưa ra nhiều hình thức huy động như: phát hành trái phiếu, kỳ phiếu, huy động tiền gửi tiết kiệm trong đó đưa ra nhiều thời hạn và lãi suất khác nhau. Các hình thức huy động vốn được đưa ra phải dựa trên cơ sở nghiên cứu phân tích thị trường và tâm lý khách hàng một cách kỹ lưỡng thì mới có thể hấp dẫn khách hàng gửi tiền.

Lãi suất huy động: Để tạo được nhiều vốn thì ngân hàng phải có chính sách lãi suất hợp lý vừa đảm bảo kích thích người gửi tiền lại vừa phù hợp với lãi suất cho vay của ngân hàng để tránh thua lỗ. Thông thường, lãi suất huy động ảnh hưởng trực tiếp, tỷ lệ thuận với quy mô tiền gửi vào Ngân hàng thương mại. Ngân hàng muốn huy động thêm vốn có thể nâng lãi suất huy động vốn lên cao, đồng nghĩa với giảm khoản thu nhập của ngân hàng. Do đó, ngân hàng cần phải cân nhắc tăng lãi suất huy động ở trong biên độ nhất định nào đó chấp nhận được, đồng thời xem xét khả năng và mức độ thu lại lợi nhuận từ việc sử dụng vốn đó. Hiện nay, một số ngân hàng để thu hút khách gửi tiền đã sử dụng lãi suất rất linh hoạt như chia nhỏ lãi suất theo các thời hạn tiền gửi khác nhau, trả lãi cho tài khoản tiền gửi không kỳ hạn đồng thời để không bị ứ đọng vốn thì họ giảm cả lãi suất cho vay.

Bảo hiểm tiền gửi: Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, rủi ro xảy ra là điều không tránh khỏi. Vì vậy sự an toàn của các Ngân hàng thương mại luôn là mối quan tâm hàng đầu của các cổ đông, các nhà điều hành và đặc biệt là đối với người gửi tiền. Bởi vì phần lớn vốn kinh doanh của ngân hàng là vốn huy động từ bên ngoài. Để lấy được niềm tin từ người gửi tiền đồng thời bảo vệ lợi ích cho khách hàng tránh được những tổn thất khi ngân hàng gặp rủi ro mất khả năng thanh toán thì các Ngân hàng thương mại phải tham gia bảo hiểm tiền gửi. Các công ty bảo hiểm tiền gửi sẽ đứng ra chịu trách nhiệm chi trả toàn bộ tiền cho người gửi tiền trong giới hạn bảo hiểm.

  • Uy tín của ngân hàng Khóa luận: Nâng cao khả năng huy động vốn tại Ngân hàng MB.

Đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng, uy tín là điều tối quan trọng, quyết định đến 50% sự thành công trong hoạt động. Uy tín của ngân hàng chính là vị trí, hình ảnh tốt đẹp của ngân hàng trong lòng khách hàng. Để có được niềm tin và uy tín đối với khách hàng (cả cũ và mới) thì các ngân hàng đều phải trải qua một thời gian xây dựng hoạt động mới có được. Uy tín của ngân hàng biểu hiện qua thâm niên, kinh nghiệm hoạt động của ngân hàng, vốn chủ sở hữu lớn, các sản phẩm hấp dẫn, chất lượng phục vụ tốt, hoạt động kinh doanh hàng năm có lợi nhuận cao, mối liên hệ với các tổ chức tài chính khác…Một ngân hàng có uy tín trên thị trường dễ tạo được niềm tin và sự yêu thích của khách hàng, dễ lôi kéo khách hàng đến gửi tiền hơn là những ngân hàng không có uy tín.

3.2.3 Nhân sự và công nghệ thông tin

  • Năng lực và trình độ của cán bộ ngân hàng

Về trình độ nghiệp vụ: Nếu trình độ nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng cao thì trong quá trình hoạt động kinh doanh, mọi thao tác nghiệp vụ đều được thực hiện nhanh chóng chính xác và có hiệu quả, từ đó ngân hàng có điều kiện mở rộng kinh doanh, giảm thấp chi phí hoạt động và thu hút được nhiều khách hàng.

Thái độ phục vụ khách hàng: Đây là yếu tố tác động trực tiếp đến tâm lý cũng như tình cảm của người gửi tiền. Nếu các nhân viên ngân hàng luôn cởi mở nhiệt tình trong giao dịch với khách hàng, luôn tạo điều kiện tốt cho khách hàng thì sẽ gây được thiện cảm và uy tín đối với họ, sẽ ngày càng có nhiều khách hàng đến giao dịch, gửi tiền tại ngân hàng hơn.

  • Công nghệ thông tin

Công nghệ thông tin giữ một vai trò không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Hoạt động ngân hàng luôn gắn liền với công nghệ thông tin ở hầu hết các nghiệp vụ từ việc nhận, nhập tiền gửi, hay thanh toán qua tài khoản khách hàng đến việc cho vay, đầu tư trên thị trường tài chính. Hệ thống công nghệ thông tin càng hiện đại thì càng phục vụ hữu ích cho các hoạt động kinh doanh của ngân hàng, giúp ngân hàng tiết kiệm thời gian, chi phí trong việc tìm kiếm, quản lý thông tin về khách hàng, thị trường cũng như toàn bộ ngân hàng. Đồng thời một hệ thống công nghệ và thông tin tốt cũng giúp cho việc triển khai các kế hoạch chiến lược huy động vốn của ngân hàng có hiệu quả tốt nhất, đồng thời sẽ tạo được ấn tượng tốt đẹp với khách hàng.

3.2.4 Mạng lưới hoạt động của ngân hàng

Với những ngân hàng sát địa bàn dân cư hoặc gần với những trung tâm thương mại thì sẽ có thuận lợi khi thu hút vốn. Lẽ tự nhiên, khi dân chúng có tiền nhàn rỗi họ sẽ đến các chi nhánh ngân hàng gần nhà mình nhất để gửi, như thế vừa tiết kiệm thời gian đi lại vừa đảm bảo an toàn cho số tiền của họ.

Ngày nay, các ngân hàng đều cố gắng mở thật nhiều chi nhánh để thu hút tiền gửi của người dân cũng như đẩy mạnh các hoạt động kinh doanh khác. Với một mạng lưới chi nhánh rộng khắp đất nước, đến cả những vùng sâu vùng xa, các ngân hàng sẽ có điều kiện cấp các dịch vụ của mình cho người dân một cách chu đáo và tiện lợi nhất. Tuy nhiên để mở thêm nhiều chi nhánh thì các ngân hàng phải cân nhắc về khả năng vốn, khách hàng mục tiêu, địa điểm hoạt động và các yếu tố khác để tránh rơi vào tình trạng mất khả năng quản lý, kinh doanh không hiệu quả.

4. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác huy động vốn Khóa luận: Nâng cao khả năng huy động vốn tại Ngân hàng MB.

4.1 Qui mô và tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động

Để đảm bảo tính chủ động và an toàn trong hoạt động kinh doanh, ngân hàng cần phải có một nguồn vốn đảm bảo về quy mô cũng như về chất lượng. Nền kinh tế càng phát triển, nhu cầu vay và đầu tư của khách hàng càng lớn. Để thỏa mãn nhu cầu đó của khách hàng, đòi hỏi ngân hàng không chỉ duy trì được một nguồn vốn lớn mà còn có một nguồn vốn không ngừng tăng trưởng và ổn định. Nếu ngân hàng huy động được một nguồn vốn lớn nhưng lại không ổn định, thường xuyên có những dòng tiền lớn bị rút ra thì lượng vốn dành cho đầu tư và cho vay sẽ không lớn, hiệu quả huy động vốn không cao. Do đó, ngân hàng sẽ phải gặp rủi ro lớn là mất khách hàng. Ngược lại, nếu nguồn vốn huy động được ổn định nhưng tuy nhỏ thì ngân hàng vẫn chủ động trong cho vay và đầu tư, lợi nhuận mang lại sẽ chắc chắn.

4.2. Lãi suất huy động và chi phí cho công tác huy động vốn

Công tác huy động vốn của ngân hàng được đánh giá là có chất lượng và có hiệu quả cao về phương diện chi phí khi nó đạt được những lợi ích cơ bản:

  • Tìm kiếm được nguồn vốn có chi phí thấp nhất để đáp ứng nhu cầu cho vay và đầu tư trong khi vẫn thỏa mãn các yêu cầu tương xứng giữa huy động vốn và sử dụng về các phương diện quy mô, thời hạn, tính ổn định. Theo nguyên tắc chung, những loại vốn có chi phí biên thấp nhất sẽ là loại vốn có ưu thế nhất về phương diện chi phí.
  • Tăng được lợi nhuận cho ngân hàng mà không nhất thiết phải chấp nhận những rủi ro cao do sức ép tăng chi phí vốn.
  • Mức lãi suất huy động vốn hợp lý để vừa thu hút được nhiều khách hàng, vừa có thể tạo lập một nguồn vốn vững chắc, vừa mang được nguồn vốn đi đầu tư để thu về lợi nhuận lớn nhất.

4.3 Khả năng đáp ứng nhu cầu hoạt động kinh doanh của ngân hàng

Chỉ tiêu này được đánh giá qua việc phân tích, so sánh, đánh giá nguồn vốn huy động được và quá trình sử dụng vốn để thấy được nguồn vốn huy động đáp ứng được bao nhiêu và ngân hàng phải vay thêm bao nhiêu để thỏa mãn nhu cầu ấy.

Để đạt được chỉ tiêu này, ngân hàng phải cân đối cơ cầu nguồn vốn huy động được giữa vốn ngắn hạn và vốn trung, dài hạn; giữa tiền gửi dân cư và tiền gửi của tổ chức kinh tế, giữa nội tệ và ngoại tệ. Cơ cấu vốn hợp lý có thể đáp ứng được tối đa nhu cầu sử dụng vốn an toàn, đảm bảo khả năng thanh toán. Ngoài ra, thời hạn huy động vốn hợp lý, hệ số sử dụng vốn cao cũng là những chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác huy động vốn của Ngân hàng thương mại.

5. Khả năng huy động vốn ở một số ngân hàng

5.1. Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn – Thương Tín (Sacombank)

Sacombank là một trong những ngân hàng Thương mại cổ phần có tốc độ tăng trưởng hàng đầu tại Việt Nam hiện nay với số vốn điều lệ dẫn đầu là 2.089 tỷ đồng trong năm 2025, tổng tài sản trong năm 2025 tăng 70,6% so với năm 2024, huy động vốn tăng 75,2%, cho vay tăng 72,6%, lợi nhuận trước thuế đạt trên 543 tỷ đồng, tăng 77,5% và vượt xa con số 407 tỷ đồng theo kế hoạch của đại hội đồng cổ đông đề ra, giá trị vốn hóa của Sacombank tại thời điểm cuối năm xấp xỉ 1 tỷ đô la Mỹ.

Hoạt động huy động vốn luôn được Ngân hàng đánh giá là một nhân tố quan trọng. Chính vì vậy, cùng với việc mở rộng hệ thống mạng lưới và đội ngũ nhân viên bán hàng chuyên nghiệp, Ngân hàng đã tăng cường công tác quảng cáo thương hiệu, tạo ấn tượng tốt với khách hàng gửi tiền bằng cung cách phục vụ và kỹ năng chăm sóc khách hàng. Qua đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng nguồn vốn huy động. Đến cuối năm 2025, tổng nguồn vốn huy động (quy VND) đạt 21.338 tỷ đồng, tăng 74% so với năm trước và tăng hơn 2 lần so với tốc độ tăng trưởng toàn ngành (35%). So với năm 2020, tổng nguồn vốn huy động tăng 7,5 lần, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 50,5%. Khóa luận: Nâng cao khả năng huy động vốn tại Ngân hàng MB.

Về cơ cấu nguồn vốn huy động thì huy động vốn bằng VND chiếm tỷ trọng 73%: bằng vàng 11,9% và bằng ngoại tệ 15,1%. Nguồn vốn huy động từ tổ chức kinh tế và dân cư chiếm tỷ trọng lớn nhất, đạt 93,9% trong tổng huy động, tăng 75,4% so với năm trước. Nguồn vốn ngắn hạn chiếm tỷ trọng 82%, tăng 74,6% so với năm trước và nguồn vốn trung dài hạn chiếm tỷ trọng 18%, tăng 71,6% so với năm trước. Để mở rộng nguồn huy động, tăng tỷ trọng nguồn vốn dài hạn, Ngân hàng tiếp tục đàm phán, giải ngân nguồn vốn ủy thác, đầu tư từ các định chế tài chính quốc tế. Số dư huy động đến cuối năm đạt 374,7 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 1,8%/tổng nguồn vốn huy động, trong đó RDF II 133,9 tỷ đồng; FMO 190,8 tỷ đồng và SMEDF 50 tỷ đồng.

  • Biểu đồ 1: Diễn biến tổng vốn huy động giai đoạn 2022 – 9 tháng đầu năm 2026

Với tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động rất cao và sự chuyển dịch hợp lý về cơ cấu huy động, cho thấy công tác mở rộng mạng lưới, mở rộng địa bàn hoạt động, cùng với hệ thống trụ sở khang trang bề thế đã bắt đầu phát huy tác dụng. Đây là lợi thế cạnh tranh của Sacombank trong thời kỳ hội nhập toàn diện.

5.2. Ngân hàng Thương mại cổ phần các Doanh nghiệp Ngoài quốc doanh Việt Nam (VPBank)

Được thành lập vào ngày 4/9/1993 với số vốn điều lệ ban đầu là 20 tỷ đồng. Hơn 10 năm phát triển, theo thời gian VPBank đã nhiều lần tăng vốn điều lệ. Đến năm 2025, vốn điều lệ tăng lên 750 tỷ đồng, gấp 37,5 lần so với năm thành lập. Các chức năng hoạt động chủ yếu của VPBank bao gồm: Huy động vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, từ các tổ chức kinh tế và dân cư; cho vay vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn đối với các tổ chức kinh tế và dân cư từ khả năng nguồn vốn của Ngân hàng; kinh doanh ngoại hối; chiết khấu thương phiếu; trái phiếu và các chứng từ có giá khác; cung cấp các dịch vụ giao dịch giữa các khách hàng và các dịch vụ ngân hàng khác theo quy định của Ngân hàng nhà nước Việt Nam. Với mục tiêu phấn đấu đến năm 2030 trở thành ngân hàng dẫn đầu khu vực phía Bắc, đồng thời là ngân hàng trong top 5 của cả nước, một ngân hàng có tầm cỡ của khu vực Đông Nam Á về chất lượng, hiệu quả và độ tin cậy, Ngân hàng đang từng bước phát triển mạnh mẽ.

Huy động vốn là một hoạt động được VPBank rất chú trọng, với mục tiêu bảo đảm vốn cho vay, an toàn thanh khoản và tăng nhanh tài sản Có, nâng cao vị thế của VPBank trong hệ thống ngân hàng. Do đó, trong các năm qua, các hoạt động huy động vốn từ khu vực dân cư cũng như từ khu vực liên ngân hàng đều được VPBank khai thác triệt để.

  • Bảng 1: Tình hình huy động vốn năm 2023 – 2025 của VPBank Khóa luận: Nâng cao khả năng huy động vốn tại Ngân hàng MB.

Nguồn vốn huy động của VPBank tăng trưởng cao là nhờ vào chính sách lãi suất phù hợp, đa dạng hóa các sản phẩm huy động, cùng với các chương trình khuyến mãi với quà tặng hấp dẫn. Mặt khác, trong những năm gần đây, VPBank đã tích cực mở rộng mạng lưới hoạt động đồng thời thương hiệu Ngân hàng cũng đã chiếm được vị trí vững chắc trong tiềm thức dân cư và các doanh nghiệp do vậy việc huy động vốn cũng trở nên thuận lợi hơn. Đến cuối năm 2025, nguồn vốn huy động đạt 9.065 tỷ đồng, tăng gấp 7,5 lần so với cuối năm 2022, đặc biệt năm 2023 nguồn vốn tăng gấp hơn 3 lần so với cuối năm 2022. Bình quân giai đoạn 2023-2025 nguồn vốn huy động của VPBank đạt mức tăng trưởng 68%.

Nguồn vốn ngắn hạn luôn chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng nguồn vốn huy động của VPBank. Năm 2025, nguồn vốn ngắn hạn đạt 7.252 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 80% trong tổng nguồn vốn huy động. Việc huy động vốn từ thị trường I trong thời gian gần đây tăng mạnh (cuối năm 2025 đạt 5.678 tỷ đồng, tăng hơn 3 lần so với cuối năm 2023), nguồn vốn thị trường II cũng được VPBank chủ động điều chỉnh cho phù hợp với khả năng sử dụng vốn.

Trong những năm tới, VPBank sẽ tiếp tục mở rộng mạng lưới hoạt động trên toàn quốc, đưa ra thêm nhiều sản phẩm huy động vốn đa dạng và thực hiện các chương trình khuyến mãi dành cho khách hàng gửi tiền nhằm tiếp tục duy trì và đẩy mạnh hoạt động huy động vốn. Khóa luận: Nâng cao khả năng huy động vốn tại Ngân hàng MB.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng MB

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x