Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Agribank hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Hoàn Kiếm dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1 Tổng quan về Ngân hàng nhà nước & PTNT chi nhánh Hoàn Kiếm
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Nội được thành lập theo Quyết định số 51- QĐ/NH/QĐ ngày 27/6/1988 của Tổng giám đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam nay là Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ không ngừng của nền kinh tế thế giới, của khoa học kĩ thuật, nền kinh tế nước ta đã chuyển mình, đạt được nhiều thành tựu to lớn. Tốc độ tăng trưởng cao, kim ngạch xuất khẩu không ngừng gia tăng đã góp phần lớn cân bằng cán cân thương mại của nước ta.
Sự phát triển của nên kinh tế đòi hỏi phải có những cải cách phù hợp của tất cả ngành nghề, hệ thống ngân hàng cũng không nằm ngoài quy luật đó. Đa dạng hoá và mở rộng thị trường luôn là mục tiêu của các ngân hàng hướng tới, cung cấp nhiều dịch vụ và nâng cao chất lượng dịch vụ đã và đang thực hiện. Nhiều ngân hàng mở rộng mô hình, thành lập chi nhánh mới, sở giao dịch, công ty con, công ty chứng khoán…
Đứng trước nhiệm vụ và trách nhiệm là một ngân hàng hàng đầu Việt Nam, Ngân hàng nhà nước & PTNT đã mở rộng địa bàn hoạt động trên khắp đất nước và ra phạm vi thế giới. Chi nhánh quận Hoàn Kiếm được hình thành trong xu hướng đó. Được thành lập theo quyết định số 303/QDD- Ngân hàng nhà nước & PTNT- 02 ngày 3/9/1995 của tổng giám đốc Ngân hàng nhà nước & PTNT, chính thức đi vào hoạt động từ ngày 15/4/1996 nhằm mục đích khai thác thị trường nội thành Hà Nội.
Tuy là một chi nhánh thành lập sau của Ngân hàng nhà nước & PTNT Hà Nội, cơ sở vật chất còn thiếu thốn song với vai trò, nhiệm vụ quan trọng của mình, chi nhánh đã biết khắc phục khó khăn hiện tại để từ đó với sự nỗ lực của cán bộ nhân viên đã đạt được những kết quả kinh doanh hiệu quả. Những ngày đầu thành lập. Ngân hàng nhà nước & PTNT Hoàn Kiếm là chi nhánh cấp 2 của Ngân hàng nhà nước & PTNT. Đến nay. cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thủ đô, hội đồng quản trị đã kí quyết định điều chỉnh chi nhánh Ngân hàng nhà nước & PTNT Hoàn Kiếm thành chi nhánh cấp 1.
Là ngân hàng luôn chú trọng đầu tư đổi mới và ứng dụng công nghệ ngân hàng phục vụ đắc lực cho công tác quản trị kinh doanh và phát triển màng lưới dịch vụ ngân hàng tiên tiến. Ngân hàng nhà nước & PTNT là ngân hàng đầu tiên hoàn thành giai đoạn 1 Dự án Hiện đại hoá hệ thống thanh toán và kế toán khách hàng (IPCAS) do Ngân hàng Thế giới tài trợ và đang tích cực triển khai giai đoạn 2 của dự án này. Hiên Ngân hàng đã vi tính hoá hoạt động kinh doanh từ Trụ sở chính đến hầu hết các chi nhánh trong toàn quốc; và mọi hệ thống các dịch vụ ngân hàng gồm dịch vụ chuyển tiền điện tử, dịch vụ thanh toán thẻ tín dụng quốc tế, dịch vụ ATM, dịch vụ thanh toán quốc tế qua mạng SWIFT. Đến nay, Ngân hàng nhà nước & PTNT hoàn toàn có đủ năng lực cung ứng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại, tiên tiến, tiện ích cho mọi đối tượng khách hàng trong và ngoài nước.
Để tồn tại, phát triển và hội nhập, chiến lược phát triển đến năm 2025 của chi nhánh Ngân hàng nhà nước & PTNT Hoàn Kiếm là chủ động đẩy mạnh quá trình cải cách, tiếp tục đổi mới triệt để và toàn diện hơn nhằm đạt được các mục tiêu:
- NHNN & PTNT Hoàn Kiếm là một trong những Ngân hàng thương mại tốt nhất Việt Nam, với thương hiệu và năng lực tài chính lành mạnh, trình độ kỹ thuật công nghệ, quản trị ngân hàng và nguồn nhân lực đạt mức tiên tiến.
- Nâng cao năng lực quản trị kinh doanh, năng lực cạnh tranh, điểu chỉnh cơ cấu đầu tư tín dụng, đầu tư tài chính, phát triển dịch vụ.
- Cung cấp các sản phẩm – dịch vụ ngân hàng chất lượng cao, góp phần tạo nên các giá trị mới và sự thịnh vượng của Ngân hàng nhà nước & PTNT.
- Tiếp tục giữ vững vị trí, vai trò là một trong những Ngân hàng thương mại hàng đầu trên thị trường dịch vụ ngân hàng bán buôn, có thị phần lớn trên thị trường dịch vụ bán lẻ và thị trường tín dụng, phát triển dịch vụ ngân hàng cho công ty.
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của chi nhánh Khóa luận: Thực trạng Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Agribank.
Hiện nay, chi nhánh Ngân hàng nhà nước & PTNT Hoàn Kiếm có mạng lưới hoạt động rộng khắp với 15 quỹ tiết kiệm ở các địa bàn đông dân cư và các trung tâm kinh tế của quận Hoàn Kiếm cùng 13 phòng nghiệp vụ chức năng với tổng số là 283 cán bộ công nhân viên.
- Sơ đồ 2.1. Sơ đồ tổ chức của Ngân hàng nhà nước & PTNT chi nhánh Hoàn Kiếm
2.1.3 Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng nhà nước & PTNT chi nhánh Hoàn Kiếm
Việc quản lý rủi ro tín dụng do Phòng Phân tích Công cụ & Mô hình Rủi ro thuộc Khối Quản lý Rủi Ro của ngân hàng. Nhiệm vụ của phòng gồm:
- Tham mưu, tư vấn cho Giám đốc chi nhánh trong việc xây dựng, triển khai, quản lý và hoàn thiện các chính sách tín dụng, công cụ để thực hiện công tác phê duyệt tín dụng tại đơn vị.
- Thẩm định, phê duyệt và chịu trách nhiệm đối với các hồ sơ tín dụng thuộc thẩm quyền phán quyết theo quy định của Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn.
- Phân tích và cảnh báo những rủi ro hiện hữu và tiềm ẩn có thể ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng của ngân hàng.
- Chỉ đạo triển khai hoạt động tìm kiếm, khai thác, phát triển nguồn khách hàng mới, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng.
- Kiểm soát, kiểm tra giám sát thường xuyên hoạt động của Phòng; kiểm soát những khoản cho vay thuộc thẩm quyền theo Quy chế, quy định của Ngân hàng Nhà nước và Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn; chịu trách nhiệm về chất lượng tín dụng của chi nhánh.
- Tham gia cùng với bộ phận xử lý nợ trong việc khởi kiện với các khoản tín dụng có tranh chấp mà không thể hoà giải nếu được yêu cầu.
- Các nhiệm vụ khác theo sự phân công của Ban lãnh đạo chi nhánh.
2.1.4 Tình hình hoạt động kinh doanh tín dụng của NH
2.1.4.1 Tổng dư nợ qua các năm
- Bảng 2.1. Tình hình tổng dư nợ Khóa luận: Thực trạng Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Agribank.
Năm 2023 tổng dư nợ của Chi nhánh đạt 1198 tỷ đồng, so với kế hoạch năm 2023 thì giảm 85% và so với con số 2100 tỷ đồng năm 2025 thì giảm gần 43%. Nguyên nhân là do Chi nhánh chủ trương chọn lọc khách hàng, chỉ đầu tư cho vay đối với khách hàng hoạt động có hiệu quả, có khả năng trả nợ ngân hàng, những đơn vị có nợ quá hạn lớn, kinh doanh thua lỗ, Chi nhánh không đầu tư vốn tín dụng tiếp mà chỉ thu nợ. Mặt khác, những ngày cuối tháng 12/2023, theo chỉ đạo của Ngân hàng nhà nước & PTNT Việt Nam, Chi nhánh đã động viên những khách hàng có điều kiện trả nợ trước hạn gần 100 tỷ đồng. Thêm vào đó, việc tìm kiếm khách hàng mới kinh doanh có hiệu quả để đầu tư là rất khó khăn một mặt do tình hình cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gay gắt, một mặt do cán bộ của Chi nhánh chưa tích cực chủ động.
Năm 2024, tổng dư nợ cho vay đạt 1.355 tỷ đồng, so với năm 2023 tăng 157 tỷ đồng, so với kế hoạch đạt 93%. Mặc dù năm 2024 đầu tư vốn tín dụng rất khó khăn do sự khó khăn chung của cả nền kinh tế và những ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới. Tuy nhiên nhờ sự chỉ đạo sát sao kịp thời của Ban lãnh đạo, bám sát vào sự chỉ đạo của Ngân hàng nhà nước & PTNT Việt Nam, Chi nhánh đã tranh thủ thời điểm đầu năm đã cơ cấu lại khách hàng, tìm kiếm, đầu tư vào các dự án khả thi, nhờ vậy mà trong thời điểm rất khó khăn Chi nhánh vẫn tăng trưởng tín dụng và chất lượng tín dụng của Chi nhánh rất tốt, tỷ lệ nợ xấu chỉ 0,6%, đã thu róc được lãi, đây là nguyên nhân chính khiến cho lợi nhuận của Chi nhánh hoàn thành vượt mức kế hoạch giao.
Dư nợ cho vay đến 31/12/2025 đạt 1.700 tỷ đồng, so với 31/12/2024 tăng 345 tỷ; So với kế hoạch năm đạt 98% và Chi nhánh đã thành công trong việc khống chế dư nợ theo chỉ đạo của Ngân hàng nhà nước & PTNT Việt Nam.
Việc điều hành dư nợ cũng cho thấy sự linh hoạt, nhạy bén của Ban giám đốc, nếu như thời điểm 6 tháng đầu năm chỉ tiêu dư nợ của Chi nhánh đạt được thấp, các phòng khách hàng đã phải tích cực tìm kiếm khách hàng, các dự án để cho vay thì đến thời điểm cuối năm khi Ngân hàng nhà nước có các biện pháp thắt chặt tiền tệ, kiểm soát chặt chẽ mức tăng trưởng tín dụng thì Ngân hàng nhà nước & PTNT Việt Nam đã giảm ngay chỉ tiêu dư nợ của Chi nhánh và chỉ đạo các Chi nhánh về việc kiềm chế tăng trưởng tín dụng. Giám đốc Chi nhánh đã trực tiếp điều hành hoạt động tín dụng, bám sát số liệu từng ngày để cân đối cho vay và yêu cầu các phòng khách hàng phải lên kế hoạch thu nợ giải ngân tuân thủ chặt chẽ theo chỉ đạo của Giám đốc. Các phòng khách hàng vừa phải thuyết phục khách hàng trả nợ trước hạn, giãn tiến độ giải ngân sang năm 2025 vừa phải vận động khách hàng tập trung mọi nguồn tiền về Chi nhánh, nhờ vậy mà dư nợ của Chi nhánh đã ở trong mức cho phép. Đồng thời vẫn đảm bảo giải ngân được các dự án lớn như dự án Bauxit của tập đoàn Than khoáng sản giải ngân 39,1 tỷ đồng, dự án xây dựng nhà máy sửa chữa tàu biển Nosco Vinalines giải ngân 48,5 tỷ đồng.
2.1.4.2 Cơ cấu dư nợ theo loại hình doanh nghiệp
- Biểu đồ 2.1. Cơ cấu dư nợ theo loại hình doanh nghiệp
Dư nợ ngoài quốc doanh chiếm phần lớn tổng dư nợ và tỷ trọng của dư nợ ngoài quốc doanh so với tổng dư nợ nói chung có xu hướng tăng, tuy trong năm 2025 tỷ trọng này có giảm nhưng về mặt trị số tương đối là tăng. Đó là do ngân hàng nông nghiệp Hoàn Kiếm luôn cập nhật đổi mới các chính sách cho vay để phù hợp hơn với loại hình doanh nghiệp đang có xu hướng tăng nhanh trong nền kinh tế này. Đặc biệt trên địa bàn Hà Nội hiện nay, khối doanh nghiệp tư nhân, liên doanh nước ngoài và một số doanh nghiệp Nhà nước đã được cổ phần hóa chiếm số lượng lớn và đang hoạt động ngày càng có hiệu quả và trở thành khách hàng chính của ngân hàng, khả năng trả nợ của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh hiện nay cũng cao hơn các doanh nghiệp Nhà nước. Khóa luận: Thực trạng Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Agribank.
2.1.4.3 Cơ cấu dư nợ theo loại tiền
Dựa vào bản số liệu 2.2, ta có thấy thấy rõ xu hướng cho vay bằng ngoại tệ của Ngân hàng nhà nước & PTNT Hoàn Kiếm đang giảm cả về số lượng tiền và tỷ trọng năm 2023 là 304 tỷ đồng (chiếm 25,38% tổng dư nợ) năm 2024 là 171 tỷ đồng chiếm 12.62 % tổng dư nợ và năm 2025 là 160 tỷ đồng chiếm 9,41% tổng dư nợ. Có lẽ đây là đặc điểm chung của Chi nhánh nói riêng và hệ thống Ngân hàng nhà nước & PTNT nói chung do đặc điểm của Chi nhánh là chủ yếu cho khách hàng vay sản xuất kinh doanh trong nước chứ ít có các khách hàng vay để kinh doanh trong các lĩnh vực liên quan đến ngoại thương, xuất nhập khẩu.
- Bảng 2.2. Cơ cấu dư nợ theo loại tiền
2.1.4.4 Cơ cấu dư nợ theo thời hạn
Dựa vào bảng số liệu 2.3, ta có thể thấy ngân hàng chủ yếu tập trung cho vay ngắn hạn: năm 2023 cho vay ngắn hạn là 886 tỷ đồng chiếm 73.96% tổng dư nợ, năm 2024 cho vay ngắn hạn là 1108 tỷ đồng chiếm 81,77 % tổng dư nợ còn năm 2025 ngân hàng cho vay ngắn hạn 1395 tỷ đồng chiếm 82,06% tổng dư nợ. Dư nợ ngắn hạn của ngân hàng không chỉ tăng về số lượng mà còn tăng cả về tỷ trọng trong tổng dư nợ.
- Nguyên nhân là do:
Nguồn vốn huy động của ngân hàng chủ yếu là ngắn hạn vì hiện nay với sự cạnh tranh của các ngân hàng và tâm lý bất an của người dân chỉ muốn gửi ngắn hạn đề chờ khi lãi suất tăng lên thì thay đổi kỳ hạn và nơi gửi tiền còn nguồn tiền gửi của các DN thì lại luôn biến động.
NHNN & PTNT Hoàn Kiếm thường cho vay các doanh nghiệp đang hoạt động và đầu tư ngắn hạn như các xí nghiệp sản xuất thuốc, dệt may… đây là các khách hàng truyền thống của DN, họ có thâm niên hoạt động lâu năm với số vốn ở mức vừa phải. Các DN này thường vay để phục vụ cho nhu cầu vốn lưu động hoặc theo chu kỳ sản xuất kinh doanh, tức là các khoản vay ngắn hạn.
Trước những diễn biến phức tạp của nền kinh tế thì việc tập trung cho vay ngắn hạn mà giảm cho vay dài hạn cũng là một biện pháp của ngân hàng nhằm làm giảm rủi ro tín dụng.
- Bảng 2.3.Cơ cấu dư nợ theo thời hạn
2.1.4.5 Cơ cấu dư nợ theo ngành kinh tế Khóa luận: Thực trạng Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Agribank.
Dư nợ theo ngành kinh tế của chi nhánh phân bố không đều, ngành xây dựng luôn có dư nợ lớn hơn các ngành khác,năm 2023 là 551 tỷ đồng chiếm 46% tổng dư nợ, năm 2024 là 529 tỷ đồng chiếm 39.04% tổng dư nợ và năm 2025 là 635 tỷ đồng chiếm 37.35% tổng dư nợ. Còn các ngành khác đều chiếm tỷ trọng ít hơn, đặc biệt ngành nông lâm ngư nghiệp thì chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ, xấp xỉ 1% tổng dư nợ. Nguyên nhân là do chi nhánh cho vay các dự án lớn và các khách hàng quen thuộc hoạt động trong lĩnh vực này như công ty xây dựng cơ bản Lũng Lô hay Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 8. Thêm vào đó do đặc điểm chi nhánh nằm ở quận khá trung tâm của nội thành Thủ đô Hà Nội nên cho vay nông, lâm, ngư nghiệp rất hạn chế. Sự thiếu đồng đều trong cơ cấu ngành nghề có thể là nguyên nhân dẫn đến Rủi ro tín dụng khi xảy ra biến động không tốt đối với nhóm khách hàng nằm trong lĩnh vực mà ngân hàng tập trung cho vay. Thực tế đã cho thấy khi có những biến động trong nền kinh tế ảnh hưởng đến xây dựng và công nghiệp năm 2023, 2024 thì chủ yếu nợ quá hạn và nợ xấu của ngân hàng nằm trong 2 lĩnh vực này. Nếu có sự đồng đều hơn trong cơ cấu cụ thể là cho vay nhiều hơn ngành nông nghiệp và dịch vụ thì có thể nợ quá hạn của ngân hàng sẽ ít hơn
Tuy nhiên chi nhánh cũng đã kịp thời có sự điều chỉnh cơ cấu để giảm rủi ro tín dụng, cụ thể tỷ trọng cho vay ngành xây dựng đang có xu hướng giảm xuống, cho vay công nghiệp và dịch vụ đang có xu hướng tăng về cả trị số và tỷ trọng, duy chỉ có ngành nông nghiệp vẫn đang giảm cả về trị số cho vay và tỷ trọng trong tổng dư nợ.
- Bảng 2.4. Cơ cấu dư nợ theo ngành kinh tế
2.2 Thực trạng rủi ro tín dụng tại chi nhánh Khóa luận: Thực trạng Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Agribank.
2.2.1 Thực trạng rủi ro tín dụng
Số liệu bảng 2.5 cho thấy nợ nhóm 1 của Chi nhánh có xu hướng tăng theo các năm, cả về số lượng và tỷ trọng. Cụ thể năm 2023 nợ nhóm 1 của chi nhánh là 1086,55 tỷ đồng (chiếm 90,7% tổng dư nợ), đến năm 2024 nợ nhóm 1 của chi nhánh là 1265,57 tỷ đồng ( chiếm 93,4% tổng dư nợ) và con số này năm 2025 lên đến 1682,05% (chiếm 98,94% tổng dư nợ). Nợ nhóm 1 là nợ đủ tiêu chuẩn và lành mạnh, nó chiếm đa số trong cơ cấu nợ và tỷ trọng của nó ngày càng tăng chứng tỏ tình hình rủi ro tín dụng của chi nhánh không đáng lo ngại và đang được kiểm soát một cách có hiệu quả bằng các biện pháp nghiệp vụ.
- Bảng 2.5. Cơ cấu các nhóm nợ
2.2.1.1. Nợ quá hạn
Theo số liệu bảng 2.6, tỷ lệ nợ quá hạn của Ngân hàng nhà nước & PTNT Hoàn Kiếm có xu hướng giảm rất rõ rệt trong khi tổng dư nợ vẫn tăng. Cụ thể nợ quá hạn năm 2023 là 111,45 tỷ đồng chiếm 9.3% tổng dư nợ trong khi năm 2024 là 89,43 tỷ đồng chiếm 6,6 % tổng dư nợ và năm 2025 chỉ có 17,95 tỷ đồng và chỉ chiếm 1,06% tổng dư nợ. Tỷ lệ nợ quá hạn của năm 2023 và năm 2024 là rất cao, vượt quá mức độ mà Ngân hàng nhà nước cho phép (5%). Tuy nhiên sang năm 2025, những nỗ lực không ngừng của ban lãnh đạo và Cán bộ tín dụng trong Chi nhánh đã làm giảm tỷ lệ này xuống dưới mức cho phép ( nợ quá hạn chỉ chiếm 1,06% tổng dư nợ). Ngoài ra nguyên nhân khách quan tình trạng này là do năm 2023 nền kinh tế thế giới lâm vào khủng hoảng mà nước ta không phải là ngoại lệ. Cuộc khủng hoảng này khiến các DN lâm vào tình trạng khó khăn ( giá nguyên liệu biến động mạnh, hàng hóa tiêu thụ chậm, bị cạnh tranh gay gắt bởi hàng nhập ngoại…) dẫn đến tình hình tài chính khó khăn, làm ăn thua lỗ nên không thể hoàn thành kế hoạch trả nợ. Nợ quá hạn năm 2023 và 2024 của Chi nhánh cao chủ yếu là xuất phát từ các khách hàng lớn như công ty xây dựng cơ bản Lũng Lô hay Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 8.
- Bảng 2.6. Tình hình nợ quá hạn của chi nhánh
2.2.1.2 Nợ xấu Khóa luận: Thực trạng Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Agribank.
Xác định nhiệm vụ trọng tâm năm 2023 là công việc giảm nợ xấu và thu hồi nợ đã xử lý rủi ro. Vì vậy Chi nhánh đã quyết liệt bằng các biện pháp như phân loại khách hàng, phối kết hợp chặt chẽ giữa các phòng khách hàng và phòng quản lý nợ có vấn đề để áp dụng các biện pháp thu nợ phù hợp với từng đối tượng khách hàng như bám sát tình hình hoạt động của các đơn vị, các nguồn tiền về để kịp thời thu nợ, khởi kiện đối với các khách hàng chây ỳ, phối hợp với các đơn vị tìm khách bán tài sản thế chấp hoặc làm việc với các sở, ban ngành của thành phố, các công ty để nhờ hỗ trợ trong thu nợ. Nhờ các biện pháp tích cực, trong năm Chi nhánh đã thu được 41 tỷ 366 triệu đồng nợ đã xử lý rủi ro, nợ xấu giảm 3 tỷ 209 triệu so với đầu năm. Tuy nhiên tỷ lệ nợ xấu của chi nhánh vẫn chiếm tỷ lệ cao so với tổng dư nợ (7,7%) trong đó 3,8% đang trong giai đoạn thử thách.
Trong năm 2024, nhờ những biện pháp tích cực, trong năm Chi nhánh đã thu được 18 493 triệu đồng nợ đã Xử lý rủi ro. Nợ xấu giảm mạnh, chỉ còn 7.77 triệu, giảm 84 tỷ 51 triệu, tỷ lệ nợ xấu của Chi nhánh chỉ còn 0,6%.
Năm 2025, dù đã nỗ lực hết sức để làm giảm nợ xấu so với năm 2024 con số nợ xấu vẫn tăng thêm 10,18 tỷ đồng. Về thu hồi nợ đã Xử lý rủi ro đạt 33 950 triệu đồng, bằng 68% kế hoạch năm, tuy nhiên so với năm 2024 tăng 15 457 triệu đồng. Mặc dù không hoàn thành kế hoạch thu hồi nợ Xử lý rủi ro nhưng để thu được số nợ trên là một sự cố gắng rất lớn của Chi nhánh, trong đó có sự nỗ lực lớn của phòng Quản lý nợ có vấn đề, do các khoản nợ đã Xử lý rủi ro đều đã lâu, phần lớn trong lĩnh vực Xây dựng cơ bản rất khó thu hồi. Ban lãnh đạo Chi nhánh đã rất quan tâm công tác quản lý và thu hồi nợ đã Xử lý rủi ro, hàng tháng đều tổ chức các cuộc giao ban tín dụng, phân tích kết quả đã đạt được, đưa ra phương hướng, biện pháp thực hiện thu hồi nợ Xử lý rủi ro đối với từng khách hàng cụ thể. Do đó đã thu được những món lớn và khó như Công ty Vật tư Xây dựng công trình: 18 841 triệu đồng (ngoài ra còn thu được 3 325 triệu đồng nợ lãi); bán đấu giá tài sản của Công ty Xây dựng cơ bản Bộ giáo dục đào tạo thu được 4 224 triệu đồng (trường hợp này Chi nhánh đã tiến hành từ lâu nhưng tài sản khó bán, thủ tục phức tạp, năm 2025 Chi nhánh đã rất quyết tâm và có các biện pháp mạnh, đúng hướng nên đã bán đấu giá thành công), thu hết nợ gốc của khách hàng Nguyễn Thị Hậu 450 triệu đồng (đây là trường hợp khó do khách hàng đã đi tù, tài sản bảo lãnh, tuy nhiên nhờ sự kết hợp chặt chẽ với cơ quan pháp luật, chính quyền địa phương, kết hợp với vận động thuyết phục nên đã xử lý được tài sản và thu hết nợ gốc).
- Bảng 2.7. Tình hình nợ xấu của chi nhánh
2.2.1.3 Nợ mất vốn
- Biểu đồ 2.2. Nợ mất vốn của Chi nhánh qua các năm Khóa luận: Thực trạng Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Agribank.
Theo biểu đồ 2.2, nợ mất vốn của Chi nhánh năm 2024 giảm 1,38 tỷ đồng so với năm 2023 nhưng năm 2025 lại tăng 2,34 tỷ đồng so với năm 2025. Nợ mất vốn tăng sẽ gia tăng tổn thất cho ngân hàng và phải sử dụng quỹ dự phòng rủi ro của các năm để bù đắp cho các khoản nợ từ nhóm này. Việc gia tăng nợ mất vốn cũng có một số nguyên nhân khách quan từ phía nền kinh tế nhưng nhìn chung nó phần nào cho thấy hoạt động tín dụng của chi nhánh còn mang lại rủi ro và có những tồn tại cần phải khắc phục. Do vậy chi nhánh cần phải tăng cường các biện pháp để xử lý triệt để nợ nhóm 5 cũng như hạn chế tối đa Rủi ro tín dụng.
2.2.1.4 Dư nợ có tài sản đảm bảo
Dư nợ có tài sản đảm bảo của Ngân hàng nhà nước & PTNT Hoàn Kiếm năm 2023 là khá thấp, chi có 371 tỷ đồng chiếm 30,97 % trong tổng dư nợ. Điều này là rất nguy hiểm vì tài sản đảm bảo là nguồn thu nợ thứ 2 và nó gắn kết trách nhiệm trả nợ của khách hàng đối với ngân hàng. Vì thế tỷ lệ dư nợ có tài sản đảm bảo thấp rất dễ gây ra rủi ro cho ngân hàng. Đó cũng là một trong các nguyên nhân khiến cho nợ quá hạn và nợ xấu của ngân hàng trong năm 2023 chiếm số lượng và tỷ trọng lớn mà chúng ta sẽ thấy ở dưới đây. Tuy nhiên, nhanh chóng nhận ra điểm này, ban lãnh đạo Ngân hàng nhà nước & PTNT Hoàn Kiếm đã có những chính sách chỉ đạo kiểm soát chặt chẽ hơn về việc cho vay có tài sản đảm bảo và nâng cao tỷ lệ này trong các năm 2024 và 2025. Cụ thể năm 2024, dư nợ có tài sản đảm bảo là 555 tỷ đồng chiếm 40.96% tổng dư nợ và năm 2025 con số này là 968 tỷ đồng chiếm 56,94% tổng dư nợ. Tỷ lệ dư nợ có tài sảm đảm bảo tăng bao góp phần làm giảm rủi ro tín dụng cho ngân hàng.
- Bảng 2.8. Cơ cấu dư nợ có Tài sản đảm bảo và không có Tài sản đảm bảo
- Bảng 2.9. Cơ cấu nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trong dư nợ có và không có Tài sản đảm bảo
Năm 2023 dư nợ không có Tài sản đảm bảo chiếm 69.03% tổng dư nợ nhưng dư nợ xấu không Tài sản đảm bảo lại chiếm 78.22% nợ xấu. Năm 2024 dư nợ không có Tài sản đảm bảo chiếm 59.04% tổng dư nợ nhưng dư nợ xấu không Tài sản đảm bảo lại chiếm 78.12% nợ xấu. Và đặc biệt năm 2025 dư nợ không Tài sản đảm bảo chỉ chiếm 43.06% tổng dư nợ trong khi đó dư nợ xấu không có Tài sản đảm bảo lại chiếm những 83,84% nợ xấu. Dựa vào bảng số liệu ta cũng có thể dễ dàng thấy dư nợ có Tài sản đảm bảo thì luôn có tỷ lệ nợ xấu thấp hơn dư nợ không có Tài sản đảm bảo và tỷ lệ nợ xấu trong dư nợ có tài sản đảm bảo cũng có xu hướng giảm dần qua các năm. Thực tế ngày càng chứng tỏ tầm quan trọng của Tài sản đảm bảo, bởi Tài sản đảm bảo tuy chỉ là nguồn thu nợ thứ 2 nhưng nó lại gắn kết nghĩa vụ trả nợ của người vay đối với chi nhánh, khiến cho họ có trách nhiệm hơn trong việc trả nợ cho ngân hàng.
2.2.1.5 Tình hình trích lập dự phòng Rủi ro tín dụng Khóa luận: Thực trạng Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Agribank.
Trong 3 năm qua, Ngân hàng nhà nước & PTNT Hoàn Kiếm luôn thực hiện phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro đúng và đủ theo quy định. Dự phòng rủi ro luôn đảm bảo bù đắp được dư nợ mất vốn ( dư nợ nhóm 5). Dựa vào bàng 2.11 ta có thể thấy năm 2024 trích lập dự phòng rủi ro của Chi nhánh giảm mạnh nguyên nhân dễ thấy là do nợ quá hạn của Chi nhánh giảm xuống và đặc biệt là sự sụt giảm lớn của nợ xấu. từ 92,28 tỷ đồng năm 2023 xuống còn 7,7 tỷ đồng năm 2024. Năm 2025 mặc dù nợ quá hạn của chi nhánh giảm nhưng nợ xấu lại gia tăng khiến cho trích lập dự phòng cũng tăng theo. Nhưng đây là sự gia tăng cần thiết để đảm bảo có thể xử lý bù đắp được rủi ro do khi có khả năng bị mất vốn.
- Bảng 2.10. Tình hình trích lập dự phòng Rủi ro tín dụng
- Bảng 2.11. Khả năng bù đắp rủi ro tín dụng của Chi nhánh từ các khoản dự phòng rủi ro đã trích
Nhìn chung dự phòng rủi ro mà ngân hàng đã trích đã đảm bảo bù đắp rủi ro tín dụng do nợ mất vốn và nợ xấu gây ra ( hệ số lớn hơn 1). Theo kết quả phân tích thì chỉ có năm 2023 hệ số khả năng bù đắp Rủi ro tín dụng là 0,95%, còn lại các hệ số vào các năm khác đều lớn hơn 1.
2.2.2 Thực tế thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Ngân hàng nhà nước & PTNT chi nhánh Hoàn Kiếm Khóa luận: Thực trạng Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Agribank.
Xây dựng chính sách tín dụng hợp lý: Chi nhánh vẫn đang xây dựng một chính sách tín dụng hợp lý dựa trên nền tảng là các quy định của Ngân hàng nhà nước và các văn bản hướng dẫn của hệ thông Ngân hàng nhà nước & PTNT Việt Nam; Thực hiện nghiêm túc, chính xác quy trình cho vay.
- Phân tích đánh giá rủi ro tín dụng đối với từng khách hàng vay:
Trước khi vay: Cán bộ tín dụng là người trực tiếp tiếp nhận hồ sơ xin vay, đánh giá cho điểm khách hàng và cũng là người đánh giá mức độ rủi ro của khách hàng đó cũng như mức độ rủi ro của các dự án/ phương án mà khách hàng mang đến dựa trên sổ tay tín dụng của hệ thống Ngân hàng nhà nước & PTNT Việt Nam và các chỉ tiêu đánh giá đã được xây dựng trong hệ thống.
Giám sát tín dụng: Mỗi Cán bộ tín dụng có trách nhiệm theo dõi khoản tín dụng mà mình đã cấp, định kỳ kiểm tra và đánh giá, thẩm định lại khách hàng của mình.
Tuân thủ chặt chẽ việc trích lập dự phòng Rủi ro tín dụng (bao gồm cả dự phòng chung và dự phòng riêng cho từng nhóm nợ) theo quy định của Ngân hàng nhà nước.
- Thực hiện cho điểm tín dụng và phân loại khách hàng
- Xây dựng các phòng ban hỗ trợ cho phòng tín dụng trong việc giám sát tín dụng:
Phòng quản lý rủi ro: có nhiệm vụ giúp đỡ Cán bộ tín dụng phân tích khách hàng cả trước khi cho vay và sau khi đã cho vay để kịp thời phát triển ra các nguy cơ tiềm ẩn rủi ro. Sau đó, phòng này có trách nhiệm cảnh bảo Cán bộ tín dụng về nguy cơ đó. Tuy nhiên ngưới ra quyết định tín dụng vẫn là Cán bộ tín dụng.
Phòng quản lý nợ có vấn đề: hỗ trợ Cán bộ tín dụng xử lý những khoản nợ đã phát sinh rủi ro. Những cán bộ trong phòng này đều là những người có kinh nghiệm và hiểu biết sâu rộng về pháp luật.
- Thực hiện nghiêm ngặt việc thế chấp tài sản: Điều này thể hiển ở tỷ lệ và cả số lượng vốn vay có Tài sản đảm bảo tăng.
- Tuyển dụng và đào tạo đội ngũ Cán bộ tín dụng có trình độ và đạo đức nghề nghiệp. Hàng năm Chi nhánh vẫn tổ chức các cuộc thi tay nghề và những buổi đào tạo để nâng cao trình độ Cán bộ tín dụng.
2.3 Đánh giá thực trạng quản lý Rủi ro tín dụng tại chi nhánh Khóa luận: Thực trạng Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Agribank.
2.3.1 Một số kết quả đạt được trong công tác phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng
Nâng cao chất lượng tín dụng: Năm 2025, có thể đánh giá là năm thành công trong hoạt động tín dụng của Chi nhánh, mặc dù môi trường đầu tư còn nhiều khó khăn nhưng Chi nhánh vẫn tăng trưởng được tín dụng trong mức cho phép và kiểm soát tốt chất lượng tín dụng, nợ nhóm 2 = 0, nợ xấu đạt 17.95 triệu đồng, mặc dù có tăng so với năm trước song tỷ lệ ở mức khá thấp (1,1% trên tổng dư nợ). Trong năm, bộ phận tín dụng đã rất vất vả vì vừa phải thực hiện tìm kiếm khách hàng để cho vay vừa thực hiện công tác cho vay hỗ trợ lãi suất của Chính phủ. Hoạt động cho vay đã đem lại phần lớn lợi nhuận cho Chi nhánh và bộ phận tín dụng đã được giám đốc biểu dương, ghi nhận thành tích trong cuộc họp giao ban ngày 7/1/2023.
Có chủ trương chọn lọc khách hàng: Chi nhánh đã có chủ trương chọn lọc khách hàng, chỉ đầu tư cho vay đối với các khách hàng hoạt động kinh doanh có hiệu quả, có khả năng trả nợ Ngân hàng; với những đơn vị có nợ quá hạn lớn, kinh doanh thua lỗ, Chi nhánh không thể tiếp tục đầu tư vốn tín dụng tiếp mà chỉ thu nợ.
Xử lý nợ xấu và nợ tồn đọng: Chi nhánh đã thi hành một số biện pháp để xử lý nợ xấu và nợ tồn đọng như: hàng tháng, Chi nhánh tổ chức họp giao ban, tín dụng trong đó các phòng khách hàng và phòng quản lý nợ có vấn đề phải báo cáo những việc đã làm, kết quả đã thu nợ, biện pháp thu nợ đối với từng khách hàng có nợ xấu, nợ đã xử lý rủi ro. Chi nhánh đã khá quyết liệt bằng các biện pháp như phân loại khách hàng để áp dụng các biện pháp phù hợp như bán sát tình hình hoạt động của cá đơn vị, các nguồn tiều về để kịp thời thu nơ, khỏi kiện đối với khách hàng chây ỳ, phối hợp với đơn vụ tìm khách hàng bán tài sản thế chấp hoặc làm việc với chính quyền thành phố, các tổng công ty để nhờ hỗ trợ trong thu nợ.
Trong báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh của Chi nhánh các năm gần đây bao giờ ngân hàng cũng nêu cao quan điểm tích cực xử lý và thu hồi nợ xấu, nợ đã xử lý rủi ro mà mục tiêu hàng đầu. Nhờ vậy trong 3 năm vừa qua hoạt động này đã thu được những kết quả đáng kể. Năm 2023 thu được 41 tỷ 366 triệu đồng nợ đã xử lý rủi ro, năm 2024 thu được 18, 493 tỷ đồng nợ đã Xử lý rủi ro, năm 2025 thu hồi nợ đã Xử lý rủi ro đạt 33, 950 tỷ đồng.
Thực hiện tốt các quy trình thẩm định khách hàng, thẩm định dự án, các quy định về tỷ lệ trích lập dự phòng, hạn mức tín dụng cho mỗi khách hàng và thẩm quyền phán quyết tín dụng. Riêng đối với các dự án thì hệ số tự tài trợ, tỷ lệ vốn chủ sở hữu tham gia dự án là một trong những yếu tố được xem xét đầu tiên. Khóa luận: Thực trạng Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Agribank.
Ngân hàng đang siết chặt hơn những yêu cầu liên quan đến Tài sản đảm bảo. Đây cũng là một nhân tố quan trọng để làm giảm rủi ro vì như đã biết Tài sản đảm bảo là nguồn thu nợ thứ 2 và nó gắn kết khách hàng với trách nhiệm trả nợ. Cụ thể là ta thấy tỷ lệ vốn vay có Tài sản đảm bảo tăng qua các năm.
Công tác đào tạo cán bộ tín dụng: Chi nhánh đã quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ tín dụng. thường xuyên kiểm tra, chấn chỉnh, nâng cao tác phong giao dịch của tất cả các nghiệp vụ, dịch vụ có tiếp xúc với khách hàng, chú trọng đạo đức nghề nghiệp yêu cầu cán bộ phải nắm rõ quy chế nghiệp vụ Ngân hàng, nắm bắt được các phương thức tài trợ tín dụng để tư vấn cho khách hàng lựa chọn những sản phẩm tín dụng phù hợp nhất.
2.3.2 Những tồn tại và hạn chế trong hoạt động cho vay dẫn tới Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng nhà nước & PTNT chi nhánh Hoàn Kiếm
Mặc dù nợ quá hạn có xu hướng giảm từ 9,3% năm 2023 xuống 6,6% và 1,06% vào năm 2024 và 2025 nhưng trong năm 2025 nợ xấu và nợ mất vốn lại tăng. Cụ thể nợ xấu tăng từ 0,6% năm 2024 lên 1,06% năm 2025 và nợ mất vốn tăng từ 0,0022% lên 0,0031%.
Cơ cấu cho vay chưa hợp lý, còn tồn tại các dự án lớn làm ăn không có hiệu quả. Phương thức cho vay tín dụng còn hạn chế, thiếu sự đa dạng hoá tín dụng, chủ yếu cho khách hàng vay là nội tệ ngoài ra còn một số hình thức cho vay như cho vay mua nhà, chứng khoán, mua ô tô trả góp, hộ gia đình… chưa được chú trọng.
Dư nợ của ngành xây dựng luôn chiếm tỷ trọng lớn hơn so với các ngành khác gây ra rủi ro cho ngân hàng, nợ quá hạn năm 2023 và 2024 chủ yếu tập trung trong lĩnh vực xây dựng.
Tỷ trọng tín dụng trung và dài hạn có xu hướng giảm xuống, nguyên nhân là do sự suy thoái của nền kinh tế, hoạt động kinh doanh thu nhỏ lại, khách hàng không có nhu cầu vay trung và dài hạn, các dự án không có tính khả thi, không thể trả được nợ cho ngân hàng. Lãi suất trên thị trường biến động thất thường cũng là nguyên nhân làm ảnh hưởng tới cho vay trung và dài hạn.
2.3.3 Nguyên nhân của những tồn tại và hạn chế đó
2.3.3.1 Nguyên nhân khách quan Khóa luận: Thực trạng Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Agribank.
Môi trường kinh tế: Nền kinh tế ở Việt Nam chuyển đổi chưa lâu, các cơ chế, chính sách, quy định pháp lý còn đang trong giai đoạn hoàn thiện nên không có được sự ổn định cao, các nhà đầu tư vẫn còn dè dặt chưa dám mạnh dạn bỏ vốn, đặc biệt là đầu tư cho các dự án lớn có thời gian dài khiến cho việc mở rộng tín dụng của ngân hàng gặp nhiều khó khăn. Hơn thế nữa trong thời gian gần đây tình hình kinh doanh của các DN gặp nhiều khó khăn, các DN trong nước đã hạn chế về vốn, công nghệ, kỹ thuật nay lại phải cạnh tranh gay gắt với hàng ngoại, hàng nhập lậu, hàng nhái nên hầu hết đều làm ăn thua lỗ, sản xuất chỉ ở mức cầm chừng điều đó một mặt làm cho nhu cầu vay vốn của ngân hàng giảm sút, mặt khác là nguyên nhân gây ra tình trạng nợ quá hạn cho các ngân hàng.
Môi trường pháp lý: Môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng trung, dài hạn không thuận lợi, các quy định pháp luật liên quan đến vấn đề tài sản thế chấp còn rất nhiều bất cập. Rất nhiều tài sản của các DN hiện nay không có đăng ký sở hữu, mà đây lại là điều kiện có tính bắt buộc đối với các tài sản được sử dụng làm tài sản thế chấp. Điều này cản cản trở DN trong quá trình vay vốn cũng như cản trở ngân hàng trong quá trình xử lý tài sản thế chấp khi có rủi ro để thu hồi vốn vay.
Sự quản lý của nhà nước và các cơ quan chức năng đối với DN còn chưa chặt chẽ, tạo cơ hội cho một số DN có những hành vi trái pháp luật, lừa đảo ngân hàng. Chẳng hạn DN chỉ sở hữu một bất động sản nhưng chính quyền địa phương vẫn xác nhận cho sử dụng làm tài sản thế chấp để vay 2 hoặc 3 ngân hàng cùng một lúc. Do đó khi phát sinh rủi ro thì tranh chấp về tài sản thế chấp giữa các ngân hàng xảy ra là điều không tránh khỏi. Những sự việc như vậy đã gây nên một tâm lý không tốt cho các ngân hàng khi xem xét và đáp ứng các khoản vay vốn cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Hiện sự quản lý của nhà nước và các cơ quan chức năng đối với DN còn chưa chặt chẽ, tạo cơ hội cho một số DN có những hành vi trái pháp luật, lừa đảo ngân hàng. Chẳng hạn DN chỉ sở hữu một bất động sản nhưng chính quyền địa phương vẫn xác nhận cho sử dụng làm tài sản thế chấp để vay 2 hoặc 3 ngân hàng cùng một lúc. Do đó khi phát sinh rủi ro thì tranh chấp về tài sản thế chấp giữa các ngân hàng xảy ra là điều không tránh khỏi. Những sự việc như vậy đã gây nên một tâm lý không tốt cho các ngân hàng khi xem xét và đáp ứng các khoản vay vốn cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Hiện nay ở Việt Nam chưa có một tổ chức chuyên trách về việc xếp hạng tín nhiệm đối với các DN. Vì vậy các ngân hàng rất thiếu thông tin trong quá trình xem xét, tìm hiểu đánh giá khách hàng để từ đó quyết định cho vay hay từ chối. Điều này làm hạn chế khả năng mở rộng tín dụng vì ngân hàng không dám mạo hiểm với những DN mà chưa am hiểu, mặt khác sẽ là tăng thêm tình trạng rủi ro vì ngân hàng có thể đánh giá sai lầm, không chính xác về DN.
Môi trường tự nhiên: Mặc dù khách hàng của Chi nhánh ở trong lĩnh vực nông nghiệp (lĩnh vực chịu nhiều ảnh hưởng của môi trường tự nhiên) không nhiều nhưng những ảnh hưởng của môi trường tự nhiên như thiên tai, mất mùa, bão lụt cũng ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế mà 80% dân số làm nông nghiệp như nước ta và từ đó môi trường tự nhiên cũng có thể là nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp gây ra nợ quá hạn và nợ xấu từ đó ảnh hưởng đến Rủi ro tín dụng của Chi nhánh.
Môi trường công nghệ: Đối với các dịch vụ ngân hàng nói chung và tín dụng nói riêng thì công nghệ ở đây được hiểu chủ yếu là công nghệ thông tin, tin học ứng dụng. Những công nghệ này tiên tiến sẽ giúp ích rất nhiều cho Cán bộ tín dụng trong công tác thẩm định khách hàng, thẩm định dự án, đẩy nhanh tiến độ công việc cũng như có đủ nguồn thông tin để kịp thời theo dõi phát hiện và khống chế Rủi ro tín dụng.
2.3.3.2 Nguyên nhân chủ quan
- Từ phía ngân hàng Khóa luận: Thực trạng Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Agribank.
Công tác thẩm định phương án, dự án kém hiệu quả, thiếu chính xác: Việc thẩm định vốn tự có, tình hình tài chính của đơn vị vay vốn gặp rất nhiều khó khăn do việc chấp hành pháp lệnh kế toán thống kê ở các doanh nghiệp chưa nghiêm, nhất là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Số liệu trên các báo cáo tài chính chưa phản ánh đúng thực trạng tài chính của DN. Trong bối cảnh hiện nay chưa có một quy chế nào bắt buộc báo cáo tài chính của DN phải thông qua cơ quan kiểm toán, thêm vào đó bộ phận kiểm toán nội bộ trong đơn vị hoạt động không hiệu quả dẫn đến thông tin về năng lực tài chính, tình hình công nợ của khách hàng chưa chính xác và còn phiến diện. Đặc biệt là khi thẩm định vốn tự có của khách hàng thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, ngân hàng không có cơ sở để phân biệt đâu là vốn tự có của đơn vị, đâu là vốn vay vì vậy thường xảy ra tình trạng phổ biến là doanh nghiệp có nhiều báo cáo tài chính để phục vụ cho mục đích riêng.
Việc phân tích thị trường, đánh giá khả năng cạnh tranh sản phẩm của phương án dự án còn chưa được quan tâm đúng mức. Chúng ta đều biết khâu tìm “đầu ra”, duy trì và chiếm lĩnh thị trường là rất quan trọng. Hiện nay trong công tác thẩm định của Ngân hàng nhà nước & PTNT Hoàn Kiếm, cán bộ tín dụng vẫn chủ yếu dựa vào các thông tin từ phương án/ dự án vay vốn của khách hàng để từ đó tính toán nhu cầu tiêu thụ và thị trường sản phẩm chứ chưa có những kiểm chứng thực tiễn. Đồng thời khả năng dự báo tình hình biến động của thị trường trong tương lai còn có những hạn chế rất lớn. Do không có được lượng thông tin cần thiết trong quá trình thẩm định dự án phương án nên đã dẫn đến những rủi ro khi dự án đi vào thực tiễn hoặc có sự thay đổi trong chính sách của Chính phủ. Thêm vào đó cũng có thể do công tác thẩm định thị trường còn sơ sài, cán bộ thẩm định chủ quan không lường hết được những thay đổi trong chính sách quản lý của Nhà Nước nên đã quyết định đầu tư vào khu vực này với lượng vốn khá lớn. Khi nhà nước có những sự thay đổi trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty này gặp rất nhiều khó khăn dẫn đến không trả được nợ ngân hàng. Hiện nay, các khoản nợ tồn đọng vẫn đang được tiếp tục xử lý theo chỉ đạo của Ngân hàng nhà nước & PTNT Việt Nam.
Công tác thẩm định phương diện kỹ thuật, công nghệ của dự án đầu tư còn sơ sài. Vì hấu hết cán bộ thẩm định chỉ có chuyên môn về lĩnh vực ngân hàng tài chính tiền tệ, trong khi đó lĩnh vực đầu tư của khách hàng lại vô cùng phong phú và đa dạng. Mặt khác, năng lực lập dự án khả thi của khách hàng cũng còn nhiều hạn chế, các số liệu kinh tế, kỹ thuật đưa ra trong dự án không sát thực tế dẫn đến việc tính toán tổng mức đầu tư vốn không chính xác. Do đó, khi dự án đi vào hoạt động sẽ xảy ra tình trạng thừa hoặc thiếu vốn đầu tư, nhiều vấn đề mới phát sinh không như dự kiến sẽ gây ảnh hưởng đến hiệu quả dự án đầu tư
Tình trạng hình thức hóa các Tài sản đảm bảo còn diễn ra rất phổ biến. Trong quá trình thẩm định phương án , dự án đôi khi cán bộ thẩm định đã quá coi trọng vai trò của tài sản đảm bảo khi xem xét cho vay mà chưa nhận thức được việc xử lý các tài sản đảm bảo là bước cuối cùng, là việc bất đắc dĩ phải làm. Mục đích cuối cùng và cao nhất của công tác thẩm định là đánh giá tính khả thi của dự án để đưa ra quyết định nhằm tránh xảy ra rủi ro trong quá trình tài trợ vốn chứ không phải là xử lý tài sản để bù đắp rủi ro đã xảy ra, hay nói cách khác ngân hàng là loại hình doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, tín dụng mà không phải là doanh nghiệp kinh doanh các tài sản thế chấp. Mặt khác việc đánh giá giá trị tài sản thế chấp là rất khó khăn, vượt quá năng lực của cán bộ thẩm định. Bên cạnh đó, quá trình xử lý tài sản thế chấp bao gồm rất nhiều các công việc phức tạp và tốn kém vì liên quan đến nhiều cơ quan, ban, ngành chức năng…các thủ tục giấy tờ về bán, phát mại tài sản thế chấp còn chưa thống nhất. Trong nhiều trường hợp ngân hàng đành gánh chịu mất vốn do giá trị tài sản thế chấp giảm nhiều so với ban đầu hoặc bị hư hỏng, chi phí xử lý tài sản cao, thời gian xử lý tài sản thế chấp kéo dài.
Dịch vụ tư vấn thẩm định phương án/ dự án đầu tư chưa phát triển nên ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn hạn chế khi thẩm định các dự án đầu tư có quy mô lớn, phức tạp về mặt kỹ thuật, công nghệ, thị trường. Công tác tổng kết, rút kinh nghiệm sau khi đã thẩm định xong và phương án/ dự án đầu tư đi vào hoạt động được thực hiện chưa kịp thời, thường xuyên vẫn còn mang nặng tính hình thức. Khóa luận: Thực trạng Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Agribank.
Công tác thu thập thông tin tín dụng còn nhiều hạn chế cũng dẫn đến việc thẩm định thiếu chính xác. Thông thường Ngân hàng nhà nước & PTNT Hoàn Kiếm chỉ có thể thu thập thông tin do khách hàng cung cấp hoặc lịch sử quan hệ với ngân hàng từ trung tâm thông tin của Ngân hàng nhà nước & PTNT Việt Nam, còn những thông tin mang tính cập nhật thì lại khó tìm và còn chưa được chú trọng đúng mức. Mặt khác hệ thống chấm điểm và xếp hạng khách hàng rất hữu ích nhưng nó chưa thực sự phát huy hết giá trị vì thông tin thiếu chính xác và các Cán bộ tín dụng thường chỉ coi kết quả chấm điểm là để tham khảo thêm.
Chênh lệch trình độ cán bộ, quy trình tuyển nhân viên mới chưa hiệu quả: Yếu tố con người luôn luôn là yêu tố quyết định trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh doanh, đặ biệt đối với một lĩnh vực nhạy cảm và phức tạp như Tín dụng ngân hàng thì yếu tố con người càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Để phát huy nhân tố con người thì trước tiên cần phải có những cán bộ tín dụng thực sự giỏi về chuyên môn, có kiến thức và tầm hiểu biết sâu rộng, có đạo đức, tinh thần trách nhiệm cao, bên cạnh đó Chi nhánh phải có những biện pháp thích hợp nhằm phát huy được năng lực của những cán bộ tín dụng đó.
KHKT và Công nghệ thông tin còn hạn chế: hiện nay hệ thống công nghệ thông tin của chi nhánh còn chưa phát triển so với các Ngân hàng thương mại khác và so với cả các chi nhánh khác trên cùng hệ thông Ngân hàng nhà nước & PTNT Việt Nam. Điều này đã gây cản trở không nhỏ cho Cán bộ tín dụng cũng như các cán bộ khác trong phòng quản lý rủi ro và phòng xử lý nợ xấu trong việc thu thập và xử lý thông tin khách hàng.
Chưa áp dụng các công cụ phái sinh: hiện nay chi nhánh nói riêng và hệ thống Ngân hàng nhà nước & PTNT nói chung vẫn chưa sử dụng công cụ phái sinh để hạn chế Rủi ro tín dụng trong khi trên thế giới thì đây là một công cụ phổ biến và hiệu quả để hạn chế Rủi ro tín dụng.
Công tác kiểm tra, sát khoản cho vay chưa thực sự chặt chẽ: Việc thẩm định các khoản vay tại Ngân hàng nhà nước & PTNT Hoàn Kiếm được thực hiện tương đối chặt chẽ theo quy đinh, mẫu biểu cụ thể của hệ thống Ngân hàng nhà nước & PTNT Việt Nam đã quy định. Đối với những khoản vay lớn, dự án phức tạp, có sự thẩm định của hội đồng tín dụng. Tuy nhiên công tác kiểm tra giám sát sau khi cho vay thì lại chưa được thực hiện tốt. Hiện nay công việc giám sát sử dụng vốn vay chỉ do Cán bộ tín dụng đảm nhiệm. Với khối lượng công việc hiện nay, các Cán bộ tín dụng khó lòng vừa tiếp tục thẩm định các dự án mới vừa kiểm tra tất cả các khoản vay do mình phụ trách đã được giải ngân. Chính sự lỏng lẻo này đã góp phần làm tăng Rủi ro tín dụng cho ngân hàng, khiến gia tăng các khoản nợ xấu và nợ khó đòi. Khóa luận: Thực trạng Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Agribank.
Marketing chưa được chú trọng đúng mức: mới chỉ xây dựng được chính sách marketing, chăm sóc khách hàng lớn, khách hàng chiến lược nhằm tăng cường mối quan hệ, tăng khả năng cạnh tranh để giữ khách nhưng chưa chú trọng đến công tác marketing đối với những khách hàng vừa và nhỏ đồng thời phải quảng bá thương hiệu để tìm kiếm và thu hút khách hàng mới.
- Từ phía khách hàng:
Năng lực kinh doanh kém nên dẫn đến việc sử dụng vốn vay kém hiệu quả theo thông kê, đánh giá của Ngân hàng nhà nước & PTNT Hoàn Kiếm, phần lớn các doanh nghiệp có nợ quá hạn đối với ngân hàng đều là doanh nghiệp nhà nước, có thâm niên hoạt động từ thời bao cấp nên tư tưởng quản trị vẫ còn yếu kém và ỷ lại, vì vậy hiệu quả quản lý và kinh doanh thấp.
Thêm vào đó, khi các doanh nghiệp xin cấp tín dụng để mở rộng qui mô hoạt động kinh doanh thì phần lớn là tập trung vốn vào đầu tư tài sản vật chất chứ ít doanh nghiệp đầu tư đổi mới bộ máy quản lý, bộ máy giám sát kinh doanh, tài chính, kế toán theo đúng chuẩn mực. Quy mô kinh doanh lớn thêm trong khi bộ máy quản lý chưa đúng tiêu chuẩn hoặc cồng kềnh nhưng tư duy quản lý còn yếu kém là nguyên nhân chính dẫn đến sự thất bại của các phương án kinh doanh đầy khả thi mà lẽ ra nó phải thành công trên thực tế.
Khách hàng sử dụng vốn vay không đúng với mục đích: Nguồn thu từ dự án, phương án kinh doanh là nguồn trả nợ đầu tiên cho ngân hàng. Vì vậy nếu khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích, ngân hàng sẽ không kiểm tra, giám sát được nguồn trả nợ dẫn đến nợ không được hoàn trả đúng hạn và làm phát sinh các khoản nợ quá hạn.
Khách hàng thiếu minh bạch về tài chính: Báo cáo tài chính mà các doanh nghiệp gửi tới cho ngân hàng thường không kịp thời, không được kiểm toán, thiếu chính xác và mang tính đối phó. Tại thời điểm báo cáo, có những khách hàng có đến 3, 4 báo cáo quyết toán gửi các ngành tùy theo mục đích cụ thể. Điều này làm cho kết quả phân tích tín dụng bị sai lệnh làm ảnh hưởng không tốt đến quyết định của ngân hàng trong quan hệ tín dụng với khách hàng dẫn đến nguy cơ Rủi ro tín dụng.
Khách hàng thiếu thông tin về thị trường: Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp thường thiếu thông tin về tình hình tài chính trong nước và quốc tế để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh. Nhất là đối với các doanh nghiệp tham gia hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu thì thiếu thông tin về các tập quán, thông lệ quốc tế dễ dẫn đến tình trạng vi phạm hợp đồng gây tổn thất cho doanh nghiệp, lãng phí vốn. Khóa luận: Thực trạng Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Agribank.
Khách hàng truyền thống của ngân hàng hoạt động trong lĩnh vực xây dựng hiện đang cạnh tranh gay gắt và đang có những biến động lớn về giá cả nguyên vật liệu đầu vào.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Hệ thồng ngân hàng tại Việt Nam đang trong quá trình phát triển và hoàn thiện. Các ngân hàng hoạt động trong môi trường kinh doanh nhiều biến động, cạnh tranh cao, khung pháp lý còn nhiều bất cập, hệ thống thông tin hỗ trợ còn yếu kém, trình độ quản lý và nghiệp vụ có sự cải thiện nhưng không tương xứng với tốc độ phát triển hiện tại.
Trong bối cảnh trên, hoạt động tín dụng của Ngân hàng nhà nước & PTNT tiềm ẩn nhiều rủi ro. Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng bao gồm nguyên nhân khách quan từ môi trường kinh doanh, nguyên nhân chủ quan từ người vay và từ phía ngân hàng cho vay. Bên cạnh những nỗ lực và kết quả đạt được trong việc xây dựng và hoàn thiện hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng nhà nước & PTNT, vẫn còn nhiều mặt còn hạn chế và tồn tại cần phải khắc phục, xây dựng, hoàn thiện, đẩy mạnh và nâng cao nhằm đáp ứng kịp thời với tốc độ tăng trưởng tín dụng và mở rộng mạng lưới hoạt động hiện nay của Ngân hàng nhà nước & PTNT trên khắp cả nước. Khóa luận: Thực trạng Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Agribank.
Từ những cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng ở chương 1, kết hợp với việc nhận dạng và phân tích các nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng, cho phép đề ra các giải pháp phòng ngừa rủi ro, kiến nghị đối với công tác quản lý rủi ro tín dụng để giúp cho hoạt động tín dụng của ngân hàng trở nên an toàn và lành mạnh hơn trong chương sau.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Giải pháp hạn chế tín dụng rủi ro ở Ngân hàng Agribank
