Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng quản lý chi phí tại các công ty Việt Nam hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Đánh giá thực trạng quản lý chi phí tại các công ty cổ phần Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Tổng quan về các công ty cổ phần Việt Nam
2.1.1 Khái niệm và những đặc trưng cơ bản của công ty Cổ phần
Khái niệm : Theo luật doanh nghiệp Việt Nam 2022, điều 77, Công ty cổ phần là một doanh nghiệp trong đó:
- Vốn Điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
- Cổ đông có quyền nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quyết định tại khoản 3 điều 81 và khoản 5 điều 84 của Luật doanh nghiệp;
- Cổ đông có thể là một tổ chức, cá nhân, số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa;
- Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quyết định của pháp luật về chứng khoán, có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy đăng ký kinh doanh.
Những đặc trưng cơ bản của công ty cổ phần.
Là một doanh nghiệp tổ chức kinh doanh, có tư cách pháp nhân, tồn tại riêng biệt và độc lập với chủ sở hữu của nó. Công ty cổ phần được thành lập theo pháp luật, được Nhà nước phê duyệt điều lệ hoạt động, có con dấu riêng có quyền ký kết các hợp đồng kinh tế với các tổ chức và các cá nhân khác trong và ngoài nước, chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Trong nền kinh tế thị trường, công ty cổ phần được tự ấn định mục tiêu và xác định các phương tiện sử dụng để thực hiện các mục tiêu đó, tự xác định tính chất của sản phẩm mà công ty sẽ sản xuất ra, lựa chọn nhà cung cấp nguyên vật liệu, khách hàng và tự thương lượng về giá cả mà công ty sẽ trả hoặc nhận, tự tìm kiếm vốn mà công ty cần huy động. Các công ty này được tự do phát triển mọi hoạt động sản xuất kinh doanh theo pháp luật quy định, đa dạng hóa hay thay đổi, thậm chí đình chỉ hoạt động theo ý của công ty mà không phải tham khảo bất cứ một thẩm quyền nào.
- Về tài sản ( vốn) trong các công ty cổ phần được hình thành từ những nguồn mang đặc điểm riêng biệt, bao gồm:
Vốn điều lệ: Vốn điều lệ trong các công ty cổ phần được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phiếu. Cổ đông dùng tiền hoặc tài sản của mình để góp vốn vào công ty dưới hình thức mua cổ phiếu. Vốn góp cổ phần không phải là một khoản nợ của công ty. Công ty được toàn quyền sử dụng vốn góp này. Vốn góp cổ phần của các cổ đông là căn cứ để công ty chia lợi nhuận cho mỗi cổ đông.
Vốn tự có: Đây là phần vốn mà công ty tự tạo ra trong quá trình sản xuất kinh doanh dưới hình thức lợi nhuận không chia hết cho các cổ đông mà giữ lại trong công ty. Khóa luận: Thực trạng quản lý chi phí tại các công ty Việt Nam.
Vốn vay: Là số vốn của các đơn vị khác mà công ty được quyền sử dụng trong một thời gian nhất định. Sau đó trả lại cho chủ nợ. Công ty không có quyền sở hữu mà chỉ có quyền sử dụng và phải trả cho quyền sử dụng đó một khoản lợi nhuận gọi là lợi tức. Khoản vốn vay bao gồm:
Vốn vay trung và dài hạn: Đây là số vốn mà công ty vay trên một năm mới phải trả và được thực hiện bằng hai hình thức chính. Một mặt, công ty có thể phát hành trái phiếu trên thị trường vốn, mọi cá nhân, đơn vị có thể mua. Công ty không được phát hành trái phiếu khi tổng vốn vay lớn hơn vốn cổ phần của công ty. Mặt khác công ty có thể vay trực tiếp ngân hàng qua các hợp đồng dài hạn. Vốn cổ phần giữ vai trò quan trọng nhất vì nó là nguồn bảo đảm thường xuyên cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
Nợ ngắn hạn: Vốn này công ty phải trả trong một thời hạn là một năm, có thể công ty nợ các nhà cung cấp, tín dụng ngân hàng, hoặc là nợ Nhà nước về các khoản phải nộp (chịu thuế chưa nộp)…
Đặc điểm chung nhất trong cơ cấu vốn của công ty cổ phần là vốn cổ phần và vốn tự có chiếm từ 50% tổng vốn hoạt động trở lên”.
Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp. Trong trường hợp công ty không đủ tài sản để thanh toán các khoản nợ cho khách hàng thì cổ đông không chịu trách nhiệm về các khoản nợ này.
Cơ cấu lãnh đạo của công ty cổ phần gồm ba bộ phận:
- Đại hội cổ đông: là cơ quan có thẩm quyền quyết định cao nhất của công ty, mà đại biểu bao gồm tất cả các cổ đông.
- Hội đồng quản trị: là cơ quan quản lý công ty, được đại hội cổ đông bầu ra nhằm thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu mà đại hội đồng cổ đông đã biểu quyết.
- Ban giám đốc : hội đồng quản trị bổ nhiệm giám đốc và các phó giám đốc để điều hành công việc hàng ngày và tuân thủ theo chỉ thị và ý chí của đại hội cổ đông và hội đồng quản trị.
2.1.2. Những lợi thế và hạn chế của công ty cổ phần Khóa luận: Thực trạng quản lý chi phí tại các công ty Việt Nam.
Công ty cổ phần là một trong những loại hình công ty được ưa chuộng trên thế giới. So với hình thức công ty hợp danh, công ty tư nhân hay công ty trách nhiệm hữu hạn thì hình thức công ty cổ phần có nhiều lợi thế hơn. Những lợi thế cơ bản của hình thức công ty cổ phần được thể hiện ở những điểm sau đây:
Các cổ đông của công ty chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Ưu điểm này làm cho hình thức công ty cổ phần rất hấp dẫn các nhà đầu tư. Bởi khi có rủi ro, thì những rủi ro này được chia sẻ cho nhiều người, và mỗi cổ đông chỉ chịu trách nhiệm trong phần vốn mà mình đã góp.
Công ty cổ phần dễ huy động vốn trong công chúng, bằng cách phát hành cổ phiếu ra thị trường. Đây là một hình thức huy động vốn mà các công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh không được pháp luật Nhà nước cho phép. Nhờ ưu điểm này, các công ty cổ phần ít bị hạn chế về vốn kinh doanh. Do vậy, công ty có thể thực hiện được các dự án kinh doanh đòi hỏi nhiều vốn đầu tư.
Cổ phiếu trong các công ty cổ phần, đặc biệt là các công ty lớn, có tỷ suất lợi nhuận cao có thể dễ dàng chuyển nhượng quyền sở hữu qua việc mua bán cổ phiếu trên thị trường mà không cần thay đổi tổ chức công ty. Cổ phiếu của công ty có niêm yết trên thị trường chứng khoán thường có thể dễ dàng được chuyển đổi thành tiền. Sự dễ dàng chuyển đổi chủ sở hữu của các cổ phần này, cho phép các công ty cổ phần tồn tại và phát triển lâu dài.
Công ty cổ phần tạo cơ chế phân tán rủi ro, nhằm hạn chế những tác động tiêu cực về kinh tế xã hội khi công ty cổ phần lâm vào tình trạng phá sản.
Một đặc điểm nổi bật nữa của công ty cổ phần là sự tách biệt giữa chủ sở hữu với những người điều hành công ty. Do vậy, họ thường phải lựa chọn những người đủ năng lực và kinh nghiệm chuyên môn thay mình quản lý sản xuất kinh doanh của công ty.
- Tuy nhiên, hình thức tổ chức công ty cổ phần cũng có những hạn chế nhất định, biểu hiện:
Chi phí cho việc thành lập và điều hành công ty thường tốn kém hơn so với các loại hình tổ chức khác.
Khả năng bảo mật kinh doanh và tài chính trong các công ty cổ phần là hạn chế. Điều đó là do hàng kỳ, hàng năm các công ty phải khai và báo cáo với các cổ đông về tình hình sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính của công ty.
Phần lớn các cổ đông thường không có kiến thức về kinh doanh và không hiểu biết lẫn nhau. Sự phân tán, đa dạng hóa sở hữu dẫn đến số lượng cổ đông quá lớn. Điều này cũng dễ dẫn đến sự phân hóa kiểm soát và tranh chấp về quyền lợi giữa các nhóm cổ đông. Khóa luận: Thực trạng quản lý chi phí tại các công ty Việt Nam.
Có thể dẫn đến sự đầu cơ trên thị trường chứng khoán. Do sự bất cân xứng thông tin trên thị trường chứng khoán, nhiều kẻ đầu cơ thường tung tin hỏa mù làm giá cổ phiếu biến động mạnh và kiếm siêu lợi nhuận.
- Công ty cổ phần thường bị đánh thuế hai lần. Vai trò của công ty cổ phần trong nền kinh tế:
- Từ những đặc điểm trên có thể thấy công ty cổ phần có một số vai trò nổi bật sau:
Công ty cổ phần với cơ chế huy động vốn từ mọi thành phần kinh tế thông qua phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu đã trở thành một công cụ tối ưu trong nền kinh tế. Với khả năng huy động được nguồn vốn nhanh chóng, có quy mô lớn và ổn định từ nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân – nguồn vốn có tiềm năng vô tận – góp phần đưa vốn đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh, ngày càng tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.
Công ty cổ phần – Thị trường chứng khoán là những sản phẩm của nền kinh tế thị trường, đồng thời sự hoạt động của chúng lại thúc đẩy thị trường phát triển hơn nữa.
Thị trường chứng khoán – “ trái tim” của thị trường vốn – không thể thiếu được trong quá trình phát triển của công ty cổ phần. Và ngược lại chính công ty cổ phần tạo hàng hóa cho thị trường chứng khoán, thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển thị trường vốn và hoàn thiện hơn nữa môi trường tài chính ở nước ta.
Tạo cơ chế sử dụng vốn có hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh do giải quyết thỏa đáng động lực lợi ích.
Với cơ chế góp vốn, cổ đông là chủ sở hữu đích thực của công ty, còn người sử dụng vốn là người lao động trong công ty. Nếu công ty kinh doanh có lãi thì người lao động nhận lương cao hơn, còn cổ đông sẽ được chia cổ tức nhiều hơn. Mặt khác tình hình kinh doanh của công ty có ảnh hưởng quyết định tới giá của công ty trên thị trường chứng khoán. Chính những lý do đó khiến công ty cổ phần phải không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Hiệu quả kinh tế là lợi ích sống còn và là mục tiêu hàng đầu của công ty cổ phần.
2.1.3. Quá trình hình thành công ty cổ phần ở Việt Nam
Công ty cổ phần là một loại hình doanh nghiệp đã được hình thành trên thế giới cách đây 400 năm. Do tính ưu việt của loại hình doanh nghiệp này không chỉ là hoạt động có hiệu quả mà còn tạo mọi điều kiện chủ động trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, như : huy động được vốn nhàn rỗi trong nhân dân, phát huy tinh thần làm chủ của người lao động, nên hiện nay loại hình công ty cổ phần đang phát triển rất mạnh mẽ tại Việt Nam.
Ở Việt Nam, cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước là một chủ trương lớn và đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta về đổi mới các doanh nghiệp. Cổ phần hóa không chỉ là một động lực thúc đẩy các doanh nghiệp làm ăn hiệu quả mà còn là xu thế chung hiện nay của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Cổ phần hóa ở nước ta bắt đầu từ năm 1990, tính đến ngày 31/12/2022 số các doanh nghiệp được cổ phần hóa là 1096. Quá trình cổ phần hóa đã trải qua các bước từ thí điểm đến mở rộng thí điểm và thực hiện cổ phần hóa. Khóa luận: Thực trạng quản lý chi phí tại các công ty Việt Nam.
- Thời kỳ thí điểm cổ phần hóa từ 1992 – 1996:
Trong thời kỳ này, các doanh nghiệp nhà nước thuộc diện vừa và nhỏ, kinh doanh có hiệu quả và không thuộc diện nhà nước cần nắm giữ 100% vốn, tập thể công nhân viên tự nguyện tham gia cổ phần hóa được xem xét cho thí điểm cổ phần hóa bằng chỉ thị 84/TTg ngày 4/8/1993 của Thủ tướng Chính phủ. Qua năm năm thực hiện chủ trương này, cả nước mới chuyển được 5 doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần.
- Thời kỳ mở rộng thí điểm cổ phần hóa từ 1996 – 1998:
Trên cơ sở đánh giá kết quả thí điểm sau 4 năm thực hiện, Chính phủ đã ban hành nghị định 28/CP ngày 07/5/1996 về chuyển một số doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần. Kết quả đã chuyển được thêm 25 doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần. Như vậy, tính từ 1992 – 1998, qua sáu năm Việt Nam mới chuyển được 30 doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần. So với yêu cầu đổi mới doanh nghiệp Nhà nước và so với số lượng doanh nghiệp trong diện cổ phần hóa thì kết quả đạt được trong thời kỳ từ năm 1992 đến 1998 là nhỏ bé, tốc độ cổ phần hóa diễn ra một cách quá chậm trễ.
- Thời kỳ thực hiện cổ phần hóa từ 1998 đến nay:
Ngày 29/6/1998, Chính phủ ra Nghị định số 44/CP thay thế nghị định số 28/CP nhằm giải quyết chủ trương cổ phần hóa một cách thông thoáng hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tiến hành cổ phần hóa.
Nghị định 44/1998/NĐ – CP đã kế thừa nhiều nội dung trong các quy định của Nghị định 28/CP, đồng thời có bổ sung, sửa đổi và phát triển thêm nhiều điểm mới để đáp ứng yêu cầu mới mà thực tế công tác cổ phần hóa đặt ra. Đặc biệt nghị định số 44/CP đã quy định cụ thể các chính sách khuyến khích đối với các doanh nghiệp và người lao động trong doanh nghiệp cổ phần hóa. Vì vậy việc thực hiện cổ phần hóa đã có những chuyển biến rõ rệt và đạt kết quả đáng khích lệ. Riêng 6 tháng cuối 1998 đã cổ phần hóa và đa dạng hóa sở hữu 90 doanh nghiệp, đưa tổng số doanh nghiệp được chuyển đổi thành công ty cổ phần là 120 doanh nghiệp. Tính đến ngày 31/12/1999 đã chuyển thêm được 250 doanh nghiệp thành công ty cổ phần, gấp hơn 8 lần so với bảy năm trước cộng lại.
Ngày 19/6/2019, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định 64/CP về chuyển doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần với những sửa đổi và bổ sung từ Nghị định 44/CP, thay thế cho Nghị định này nhằm thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa đang có xu hướng chậm lại. Và do vậy tiến trình cổ phần hóa đạt được những kết quả đáng kể ( xem bảng 1). Cùng với sự tăng lên về số lượng của các doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa, và sự sửa đổi luật doanh nghiệp đã thúc đẩy sự gia tăng mạnh mẽ của các công ty cổ phẩn không có vốn nhà nước. Sự phát triển của công ty cổ phần, và những đường lối chính sách nhằm phát triển loại hình doanh nghiệp này chính là những minh chứng rõ ràng nhất cho lợi thế của loại hình công ty này trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Dưới đây là bảng số liệu cho thấy sự gia tăng về số lượng của loại hình công ty cổ phần trong gian đoạn 2020 – 2026 . Khóa luận: Thực trạng quản lý chi phí tại các công ty Việt Nam.
- Bảng 1. Số lượng công ty cổ phần theo các năm
Mặc dù số lượng công ty cổ phần tăng lên khá nhanh trong những năm gần đây nhưng các công ty có quy mô lớn trên 10 tỷ đồng chiếm tỷ lệ rất nhỏ, phần lớn các công ty cổ phần Việt Nam hiện nay đều có quy mô nhỏ và vừa chiếm tới khoảng gần 80%. Chính vì vậy quản lý chi phí thật tốt, căn cứ để đưa ra được những quyết định hiệu quả giúp doanh nghiệp không ngừng tăng trưởng, mở rộng quy mô trong môi trường cạnh tranh toàn cầu như hiện nay thật sự là bước đi đúng đắn nhất cho mỗi doanh nghiệp. Dưới đây là bảng số liệu về số công ty cổ phần tại thời điểm 31/12/2022 theo quy mô.
- Bảng 2. Số công ty cổ phần theo quy mô vốn tại thời điểm 31/12/2026
Song cũng không thể phủ nhận thực tế đã chứng minh là các công ty cổ phần hoạt động khá hiệu quả, đặc biệt là hầu hết các doanh nghiệp Nhà nước sau khi đã chuyển sang công ty cổ phần đều hoạt động khá tốt. ( Xem xét 500 doanh nghiệp nhà nước hoàn thành việc cổ phần hóa, đa dạng hóa hình thức sản xuất kinh doanh nói chung đều có chuyển biến tích cực. Thể hiện ở các chỉ tiêu chủ yếu đều tăng, như: vốn điều lệ tăng 5 – 100%, doanh thu tăng 60%, lợi nhuận trước thuế tăng 137%, nộp ngân sách tăng 45%, thu nhập của người lao động tăng 63%, số lao động làm việc trong các doanh nghiệp tăng 13%, cổ tức thực hiện trung bình năm 2019 đạt 15,5%. Nhiều doanh nghiệp nhờ tăng vốn điều lệ đã đầu tư thêm máy móc thiết bị hiện đại, đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh theo hướng đa ngành nghề, đa sản phẩm). Cùng với sự gia tăng hiệu quả trong các công ty cổ phần có vốn nhà nước, các công ty cổ phần không có vốn nhà nước cũng đang hoạt động rất sôi động và đóng góp đáng kể cho sự phát triển nền kinh tế trong nước, đặc biệt là các công ty cổ phần đã niêm yết trên thị trường chứng khoán. Dưới đây là biểu đồ về doanh thu thuần của công ty cổ phần giai đoạn 2022 – 2025.
- Sơ đồ 5. Doanh thu thuần của các công ty cổ phần Việt Nam
Có thể khẳng định thêm lần nữa loại hình công ty cổ phần đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, thúc đẩy mạnh mẽ thị trường chứng khoán phát triển. Tận dụng được mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân, thu hút vốn đầu tư nước ngoài qua việc mua chứng khoán, để không ngừng đổi mới công nghệ, phát triển sản xuất theo chiều sâu.
Tuy nhiên không phải công ty nào cũng có khả năng huy động vốn nhanh chóng và hiệu quả. Điều này phụ thuộc rất nhiều vào việc công ty tạo ra được lòng tin đối với các cổ đông đến mức nào. Một trong chỉ tiêu được nhiều cổ đông quan tâm nhất và đem lại độ tin cậy cao cho các cổ đông chỉ là chỉ số ROE – Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu.
ROE được tính bằng lợi nhuận ròng của doanh nghiệp chia cho số vốn cổ đông. ROE càng cao chứng tỏ công ty sử dụng đồng vốn hiệu quả, và khả năng thu hồi vốn của các cổ đông cao. “ROE chính là thước đo tốt nhất về năng lực của một công ty trong việc tối đa hóa lợi nhuận từ mỗi đồng tiền vốn đầu tư của mình” – Mark Lowenstein, một chuyên gia chứng khoán của Wall Street Journal đã nói như vậy. Đạt được một ROE cao đồng nghĩa với khả năng cạnh tranh mạnh. Nhưng khi vốn đầu tư của công ty càng tăng thì mức lợi nhuận sinh ra phải lớn hơn để đảm bảo duy trì chỉ số ROE cao như cũ. Và làm thế nào để đạt được chỉ số ROE cao và ổn định trong thời gian dài? Trả lời câu hỏi này thật không đơn giản, song một trong những biện pháp bền vững nhất đó là quản lý đồng vốn bỏ ra, hay quản lý chi phí thật hiệu quả. Đây là bước đi đúng đắn không chỉ riêng với những công ty cổ phần muốn tăng cường hiệu quả, tăng lòng tin của cổ đông mà đối với tất cả các doanh nghiệp khác nói chung.
2.1.4. Lĩnh vực hoạt động của công ty cổ phần. Khóa luận: Thực trạng quản lý chi phí tại các công ty Việt Nam.
Qua quá trình hình thành và phát triển công ty cổ phần ở Việt Nam, có thể thấy công ty cổ phần phát triển ở nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau, có quy mô hoạt động khác nhau đã góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Có thể chia lĩnh vực hoạt động của công ty cổ phần thành hai lĩnh vực cơ bản sau:
Công ty cổ phần hoạt động trong lĩnh vực tài chính. Đây là các tổ chức tài chính trung gian như các ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán, công ty bảo hiêm…, có khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế. Hàng hóa của các công ty cổ phần hoạt động trong lĩnh vực tài chính không phải là hàng hóa thông thường mà đó là các hàng hóa đặc biệt như tiền tệ, công cụ nợ ví dụ các ngân hàng cổ phần, công ty chứng khoán …
Công ty cổ phần phi tài chính là các công ty cổ phần mà hoạt động kinh doanh chính là các hoạt động sản xuất kinh doanh những loại hàng hóa thông thường và cung cấp sản phẩm dịch vụ. Đây là các doanh nghiệp thường xuyên có nhu cầu về vốn để tiến hành sản xuất kinh doanh như các doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp thương mại dịch vụ… Thực tế ở nước ta hiện nay phần lớn các công ty cổ phần đều là công ty cổ phần phi tài chính. Đây là loại hình công ty cổ phần phổ biến ở nhiều lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế như lĩnh vực xây lắp, sản xuất công nghiệp, giao thông vận tải, thương mại dịch vụ…
2.1.5. Đặc điểm cơ chế quản lý kinh tế tài chính ảnh hưởng đến công tác quản lý chi phí
Nền kinh tế nước ta hiện nay là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong cơ chế này đòi hỏi và bắt buộc các doanh nghiệp nói chung đều phải hạch toán kinh doanh.
Hạch toán kinh doanh trong cơ chế thị trường và đặc biệt là Việt Nam đã là thành viên của WTO nghĩa là hòa chung vào sân chơi của thế giới yêu cầu các doanh nghiệp phải quán triệt nguyên tắc tiết kiệm chi phí mà vẫn không ngừng duy trì, nâng cao hiệu quả. Vì vậy các doanh nghiệp phải đặc biệt quan tâm “đầu vào” và “ đầu ra”, mà trong đó “đầu vào” lại chi phối “đầu ra” có được thị trường chấp nhận hay không. Trong cùng khung cảnh và điều kiện mặt bằng “đầu ra thị trường” cùng với sự cạnh tranh sinh tồn gay gắt nếu doanh nghiệp nào hạ thấp được “đầu vào” mà vẫn đảm bảo hiệu quả thì sẽ tăng cường được năng lực cạnh tranh. Muốn vậy các doanh nghiệp phải luôn phấn đấu tìm các biện pháp hữu hiệu để cắt giảm chi phí, quản lý chi phí mà vẫn duy trì chất lượng sản phẩm, dịch vụ của mình. Khóa luận: Thực trạng quản lý chi phí tại các công ty Việt Nam.
Mọi cơ chế quản lý kinh tế đều ảnh hưởng mạnh mẽ đến tổ chức công tác kế toán quản trị chi phí trong đó trọng tâm là công tác quản lý chi phí. Vì vậy tất yếu khi cơ chế quản lý thay đổi thì yêu cầu quản lý và công cụ quản lý cũng phải thay đổi.
Sự tác động của cơ chế quản lý kinh tế tài chính trong cơ chế thị trường tác động đến công tác quản lý chi phí trong doanh nghiệp thể hiện ở các mặt:
Trong cơ chế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước đặt ra yêu cầu quản lý vĩ mô những vấn đề cơ bản để đảm bảo tăng trưởng kinh tế như tạo ra môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động; đổi mới kế hoạch hóa một cách toàn diện hệ thống pháp luật để chúng thực sự là công cụ để kiểm tra quyền lợi và trách nhiệm của người sản xuất kinh doanh trước xã hội ( ví dụ như Luật Doanh nghiệp, Luật về thuế… ). Xác lập được một hệ thống các công cụ điều tiết kinh tế theo hướng xã hội chủ nghĩa, có những chính sách thích ứng khơi dậy sức sản xuất ( chính sách lãi suất,…) tăng cường hiệu quả hoạt động kinh doanh đảm bảo tăng trưởng của nền kinh tế. Tất cả những điều trên vừa là điều kiện ràng buộc vừa là động lực kích thích các doanh nghiệp tăng cường khả năng của mình trong việc khai thác các tiềm năng sử dụng hợp lý các đầu vào nhằm mang lại hiệu quả kinh doanh tối ưu. Như vậy do sự tác động của các nội dung quản lý vĩ mô cho nên toàn bộ các yếu tố đầu vào luôn được doanh nghiệp tính toán một cách thận trọng và có căn cứ, đồng thời cũng đòi hỏi các doanh nghiệp không ngừng tìm hiểu các biện pháp để khai thác và sử dụng đầu vào một cách hợp lý và tiết kiệm nhất.
Trong cơ chế thị trường nền kinh tế phải chấp nhận sự chi phối của các quy luật khách quan của nền sản xuất hàng hóa như Quy luật giá trị, cạnh tranh cung cầu… vì vậy chi phí luôn có chứa đựng đột biến do đó cần phải quản lý chi phí để hạn chế ảnh hưởng của những đột biến đó.
Cơ chế quản lý có ảnh hưởng đến quản lý chi phí nói riêng và công tác kế toán quản trị chi phí thể hiện ở các văn bản chế độ của nhà nước nhất là các chế độ về quản lý kinh tế tài chính của nước ta như các quyết định thông tư hướng dẫn về thực hiện kế toán quản trị chi phí, các văn bản quy định về chế độ kế toán ở các công ty cổ phần…
2.2. Thực trạng quản lý chi phí tại các công ty cổ phần Việt Nam Khóa luận: Thực trạng quản lý chi phí tại các công ty Việt Nam.
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tể như hiện nay, đặc biệt là khi Việt Nam đã gia nhập WTO thì môi trường kinh doanh tại Việt Nam càng trở nên gay gắt, vì vậy để nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm và giữ được một vị trí vững chắc trên sân chơi chung bình đẳng các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các công ty cổ phần nói riêng chỉ có nước cờ duy nhất là quản lý và tiết kiệm chi phí thật hiệu quả để làm cho sản phẩm, dịch vụ của công ty đạt chất lượng và có giá cả phù hợp với khách hàng.
Công ty cổ phần ra đời và phát triển do đòi hỏi của quá trình xã hội hóa nền sản xuất ở trình độ cao đặc biệt là xã hội hóa về vốn. Với những nét đặc thù và ưu điểm của mình, công ty cổ phần vừa là sản phẩm của nền kinh tế thị trường nhưng đồng thời cũng là nhân tố tích cực thúc đẩy và phát triển các loại hình kinh doanh của cơ chế thị trường: hoạt động ngân hàng, thị trường vốn, thị trường tài chính… Sự hình thành của công ty cổ phần là hướng đi đúng đắn để hòa nhập với kinh tế thế giới.
Thị trường chứng khoán sôi động chính là kết quả của sự phát triển mạnh mẽ của các công ty cổ phần, và ngược lại thị trường chứng khoán phát triển lại tạo điều kiện cho các cổ phiếu trái phiếu dễ dàng mua bán trao đổi, và như vậy thúc đẩy các công ty cổ phần phát triển hơn nữa. Cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường chứng khoán giờ đây đã trở thành mối quan tâm hàng đầu không chỉ của những người kinh doanh mà còn là mối quan tâm của cả những bà nội trợ. Có công ty nào mà không muốn cổ phiếu, trái phiếu của mình luôn có giá trị cao, ổn định. Và muốn vậy các công ty cổ phần phải không ngừng gia tăng hiệu quả sử dụng vốn, không ngừng tăng hiệu quả quản lý chi phí. Chính vì vậy việc nghiên cứu thực trạng quản lý chi phí tại các công ty cổ phần Việt Nam là hết sức cần thiết để từ đó có những giải pháp, hướng đi thích hợp hơn nhằm tăng cường hiệu quả của công tác quản lý chi phí trong các công ty cổ phần Việt Nam.
2.2.1. Nhận thức về chi phí và tầm quan trọng của quản lý chi phí trong hoạt động kinh doanh
Trong sự biến động không ngừng của môi trường kinh doanh cùng với sự cạnh tranh gay gắt như hiện nay, việc ra quyết định của mỗi nhà quản trị càng phải thận trọng và trở nên khó khăn hơn bao giờ hết. Để có được những quyết định đúng đắn thì việc thu thập được những thông tin chính xác kịp thời đóng vai trò thật sự quan trọng. Trong công tác quản lý thì những thông tin về chi phí từ bộ phận quản lý chi phí của doanh nghiệp là những thông tin trọng tâm phục vụ cho việc ra quyết định của nhà quản trị.
- Công tác nhận diện chi phí Khóa luận: Thực trạng quản lý chi phí tại các công ty Việt Nam.
Để có những thông tin chi phí làm cơ sở cho việc tổng hợp, phân tích, lập báo cáo sử dụng cho mục đích quản trị như trên thì yêu cầu đầu tiên là doanh nghiệp phải phân biệt rõ ràng và nhận diện đúng các cách phân loại chi phí.
Hay nói cách khác nhận diện, phân tích các hoạt động phát sinh ra chi phí là mấu chốt để quản lý chi phí.
- Nhận diện chi phí theo chức năng và yếu tố chi phí
Nhìn chung, cách phân loại hiện nay ở các doanh nghiệp cổ phần chủ yếu theo hai cách: phân loại chi phí theo chức năng và phân loại chi phí theo yếu tố dựa trên quy định chung của Nhà nước, các doanh nghiệp hạch toán chi phí phát sinh theo các khoản mục chi phí này rất đầy đủ và chính xác. Các công ty cổ phần đều nhận diện chi phí theo cách phân loại này. Song hiểu chi phí và chỉ đơn thuần phân loại chi phí theo cách này mới chỉ đáp ứng tốt yêu cầu pháp lý.
- Nhận diện chi phí theo cách phân loại khác
Các cách nhận diện chi phí khác phục vụ trực tiếp cho việc quản lý chi phí và phục vụ cho yêu cầu quản trị của doanh nghiệp chưa được coi trọng và thực hiện ở doanh nghiệp như: phân loại chi phí theo cách ứng xử, phân loại chi phí thành chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được… Việc nhìn nhận chi phí dưới góc độ khác nhau sẽ giúp doanh nghiệp phản ứng tốt hơn với những biến động của chi phí và thích ứng với thị trường. Nếu không thực sự hiểu về chi phí theo nhiều chiều khác nhau rất có thể doanh nghiệp sẽ không lường hết được những chi phí có khả năng phát sinh và kiểm soát chúng trong quá trình hoạt động.
Mặc dù các phương pháp phân loại chi phí như trên không mới mẻ nhưng hầu hết các doanh nghiệp đều chưa quan tâm đúng mức. Chỉ có 5% trong số các doanh nghiệp nói rằng ngoài cách nhận diện chi phí theo chức năng và yếu tố thì họ cũng có cân nhắc đến các chi phí cơ hội khi thực hiện các quyết định đầu tư. Điều này chứng tỏ mức độ quan tâm, đầu tư vào hệ thống kế toán nội bộ ở doanh nghiệp chưa cao, chưa thấy được hết tầm quan trọng của việc ứng dụng các thông tin của các cách phân loại chi phí trong việc thiết lập các báo cáo cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định ở doanh nghiệp.
- Nhận thức tầm quan trọng của quản lý chi phí Khóa luận: Thực trạng quản lý chi phí tại các công ty Việt Nam.
Qua kết quả điều tra 20 công ty cổ phần có quy mô nhỏ ( kết quả điều tra của cá nhân em ) thì có tới 80% các công ty này vẫn chưa nhận thức hết được tầm quan trọng của công tác quản lý chi phí. Chính vì vậy mà các quyết định của người quản lý đưa ra chưa thật hiệu quả.
- Quản lý chi phí giúp các doanh nghiệp xác định chính xác giá thành sản phẩm và cắt giảm chi phí.
Nhiều doanh nghiệp đánh đồng việc quản lý chi phí với chức năng kết toán chi phí của bộ phận kế toán. Khoảng 55% số công ty được hỏi trả lời quản lý chi phí chỉ có tác dụng duy nhất là xác định giá thành sản phẩm, dịch vụ. Kết quả là không quản lý được các khoản mục chi phí một cách chặt chẽ, chỉ biết được tổng mức chi phí phát sinh sau mỗi kỳ tăng lên hay giảm xuống và những nguyên nhân cho sự phát sinh thì không rõ ràng. Do vậy có rất nhiều khoản chi phí bất hợp lý phát sinh mà doanh nghiệp không hề biết. Và vì thế mà việc xác định giá thành cũng không thực sự chính xác. Khoảng 32% số doanh nghiệp được hỏi thì cho rằng quản lý chi phí không chỉ giúp xác định chính xác giá thành mà còn giúp cắt giảm chi phí. ( Theo kết quả điều tra cá nhân). Điều này chứng tỏ đội ngũ kế toán ở các công ty cổ phần nhỏ và vừa chưa được đào tạo thật sự chuyên sâu.
Nếu không sớm nhận thức hết tầm quan trọng của quản lý chi phí thì chắc chắn việc kinh doanh của một công ty rất dễ thua lỗ, nếu không thì công ty đó sẽ chỉ dậm chân tại chỗ trong khi những công ty khác đang chạy về phía trước.
- Quản lý chi phí giúp doanh nghiệp đánh giá tốt hơn thành tích của các bộ phần phòng ban, nâng cao năng lực cạnh tranh
Chỉ khoảng 13% số công ty cổ phần có quy mô nhỏ và vừa được hỏi cho rằng quản lý chi phí có vai trò thật sự quan trọng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp( theo kết quả điều tra cá nhân ). Ngoài việc xác định giá thành chính xác, tránh sự lãng phí trong doanh nghiệp, quản lý chi phí còn là một công cụ đắc lực để đánh giá hiệu quả, hiệu năng của các bộ phận phòng ban, giúp doanh nghiệp chủ động về vốn cho các quyết định đầu tư trong tương lai.
Có thể nói loại hình công ty cổ phần rất phù hợp với xu thế phát triển hiện nay, và với việc Nhà nước đang ngày càng tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho loại hình doanh nghiệp này phát triển, vì thế số lượng công ty cổ phần tăng lên nhanh chóng, nhưng chất lượng hoạt động chưa thật tốt. Ở nhiều công ty cổ phần có quy mô nhỏ thì ngay cả Giám đốc cho đến các nhân viên cũng chưa được đào tạo sâu về quản lý chi phí, hiểu về quản lý chi phí còn đơn giản. Do vậy không nhận thức hết được tầm quan trọng của quản lý chi phí trong hoạt động của doanh nghiệp.
2.2.2. Cách thức quản lý chi phí Khóa luận: Thực trạng quản lý chi phí tại các công ty Việt Nam.
Do chưa nhận thức rõ ràng về quản lý chi phí cũng như chưa quan tâm đúng mức đến các cách nhận diện chi phí khác, nên ở nhiều công ty cổ phần có quy mô vừa và nhỏ chủ yếu quản lý chi phí theo từng khoản mục chi phí như cách phân loại chi phí của Bộ tài chính ( Theo kết quả điều tra cá nhân thì 100% số công ty cổ phẩn được hỏi đều quản lý chi phí theo các yếu tố chi phí). Việc quản lý chi phí theo từng phòng ban hay bộ phận thường không được sử dụng, vì vậy việc đánh giá thành tích, hiệu quả hoạt động cũng như phân định trách nhiệm cho từng phòng ban, bộ phận đối với những chi phí phát sinh là rất hạn chế. Ngoài ra, do chỉ chú trọng đến theo dõi chi phí phát sinh theo chức năng và yếu tố, nên khi có nhiều phương án kinh doanh để lựa chọn, doanh nghiệp không tính đến chi phí cơ hội của các phương án một cách kỹ càng điều này có thể dẫn đến sự lựa chọn không chính xác.
Trong doanh nghiệp việc theo dõi kiểm soát chi phí được thực hiện ở bộ phận kế toán tài chính. Các con số về chi phí đưa ra đã được phân tích nhưng việc tìm ra nguyên nhân chính cho sự phát sinh chi phí đó lại gặp rất nhiều khó khăn bởi hệ thống quản lý chi phí chưa được thiết lập một cách đồng bộ, công tác kế toán nội bộ chưa được quan tâm. Vì vậy các biện pháp để quản lý chi phí gần như không được sử dụng. Cụ thể:
- Việc tuân thủ định mức và dự toán chi phí
Việc xây dựng và sử dụng hệ thống định mức cũng như dự toán chi phí đã góp phần không nhỏ vào việc tăng cường quản lý chi phí. Song công tác xây dựng, quản lý và sử dụng định mức chi phí, dự toán chi phí hiện nay ( theo đánh giá của ThS. Nguyễn Thị Lãnh trên trang web : www.tapchiketoan.) các doanh nghiệp chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu quản trị doanh nghiệp. Hệ thống định mức và dự toán chưa đầy đủ và đồng bộ. Thực tế ít có doanh nghiệp đã xây dụng được hệ thống định mức, dự toán chi phí tiêu chuẩn hoàn thiện, nhất là về lượng và đơn giá tiêu chuẩn. Đối với các yếu tố chi phí sản xuất chung thì đa số các doanh nghiệp chưa xây dựng.
Một số doanh nghiệp đã lập dự toán cho kế hoạch sản xuất kinh doanh của mình nhưng chưa thật tốt và không đem lại nhiều hiệu quả. Các dự toán ngân sách muốn chính xác thì ngay từ bước đầu tiên nó phải được xây dựng dựa trên các mục tiêu phát triển kinh doanh của doanh nghiệp trong một giai đoạn nhất định. Song các mục tiêu của những doanh nghiệp này mới chỉ chung chung, chưa cụ thể. Kết quả là dự toán đem lại hiệu quả không cao.
Một số doanh nghiệp khách thì đã lập dự toán song các bộ phận chức năng khác lại không theo dõi thực hiện và không giao cho phòng kế toán ghi chép, hệ thống hóa thông tin theo các chỉ tiêu dự toán đã lập trong kế hoạch. Vì vậy việc đánh giá tình hình thực tế cũng như hiệu quả của hoạt động đã được lập dự toán gặp rất nhiều khó khăn.
Việc xây dựng quản lý và sử dụng định mức, dự toán thực tế ở các doanh nghiệp chủ yếu được thực hiện kiêm nhiệm bởi các nhân việ từ các phòng ban, mà những người này không gắn liền trách nhiệm cá nhân trong việc dự toán ngân sách doanh nghiệp nên các báo cáo dự toán ngân sách không có độ chính xác cao và thường không khả thi. Đặc biệt là chưa có sự tham gia hiệu quả của bộ phận kế toán. Khóa luận: Thực trạng quản lý chi phí tại các công ty Việt Nam.
Để có những căn cứ và cơ sở cho việc lập dự toán và làm tiêu chuẩn kiểm tra đánh giá hiệu quả hoạt động, quản lý chi phí trong quá trình thực hiện so với kế hoạch thì việc xây dựng và vận dụng các định mức chi phí là một trong những nền tảng để vận dụng các phương pháp quản lý chi phí hiện đại nhằm đáp ứng yêu cầu về thông tin và sự biến đổi không ngừng của môi trường kinh doanh trong việc ra quyết định của nhà quản trị.
Có thể nói, xây dựng định mức chi phí và lập dự toán ngân sách là một trong những công cụ hữu hiệu để lập kế hoạch chi phí hợp lý, một bước của quy trình quản lý chi phí, nhưng lại không được các công ty cổ phần nhỏ và vừa quan tâm thích đáng. Điều này càng chứng tỏ nhận thức về quản lý chi phí của nhiều nhà quản lý còn khá hạn chế, cách thức quản lý chi phí còn đơn giản.
- Việc thực hiện quản lý chi phí qua các trung tâm quản lý chi phí
Phải chăng các công ty có quy mô nhỏ và vừa, các hoạt động còn ít và không quá phức tạp nên chưa cần thiết lập các trung tâm quản lý chi phí? Chính vì vậy khi có sự tăng đọt biến ở một khản mục chi phí nào đó, doanh nghiệp tìm mọi cách cắt giảm nhưng khó có thể tìm ra nguyên nhân phát sinh cũng như tìm ra bộ phần phòng ban nào phải chịu trách nhiệm cho sự phát sinh chi phí đó. Khi không phát hiện ra nguyên nhân thật sự cho sự phát sinh chi phí thì việc cát giảm nó thật vô ích và không thể đem lại hiệu quả lâu dài. Thậm chí có thể khiến cho doanh nghiệp mất lợi nhuận vì cắt giảm chi phí không gắn với mục tiêu tăng trưởng, và vì đoi khi sự gia tăng chi phí lại là có ảnh hưởng tích cực khi đó là những chi phí tốt.
Cũng có khá nhiều công ty không xây dựng các trung tâm quản lý chi phí, nhưng quản lý chi phó tương đối tốt vì ý thức tiết kiệm chi phí của mỗi nhân viên trong công ty rất cao. Tuy nhiêu khi quy mo doanh nghiệp mở rộng, các hoạt động phức tạp và đa dạng hơn nếu chỉ quản lý chung các khoản mục chi phí như hiện nay thì việc đánh giá hoạt động ở từng bộ phận , phòng ban hầu như không thực hiện được và vì vậy thật khó có thể quản lý chi phí tốt được.
Việc xây dựng trung tâm chi phí sẽ giúp doanh nghiệp dễ dàng hơn rất nhiều trong công tác tập hợp và kiểm soát các chi phí phát sinh trong doanh nghiệp. Thế nhưng vấn đề này cũng chưa được nhiều sự quan tâm từ phí các công ty cổ phần nhỏ và vừa.
- Việc áp dụng các phương pháp quản lý chi phí hiện đại ( phương pháp ABC, phương pháp chi phí mục tiêu)
Các công ty cổ phần Việt Nam có quy mô nhỏ và vừa, các phương pháp kế toán chi phí hiện đại như ABC, phương pháp chi phí mục tiêu đều chưa được áp dụng thậm chí nhiều nhân viên còn chưa được trang bị kiến thức này vì các lý do sau:
Loại hình công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp mới ở Việt Nam và mới chỉ thực sự bắt đầu phát triển trong vài năm gần đây để phù hợp với xu thế hội nhập thế giới nên quy mô công ty chủ yếu ở mức nhỏ và vừa ( khoảng 80% tổng số công ty cổ phần có quy mô nhỏ và vừa ), và số lượng công ty làm ăn thật sự có hiệu quả cao đã niêm yết trên thị trường chứng khoán chiếm số lượng nhỏ trong tổng số công ty đang hoạt động. Do vật hầy như các công ty này chủ yếu quản lý chi phí theo yếu tố, bởi theo phương pháp này họ tận dụng sẵn việc phân loại chi phí theo yêu cầu của Bộ tài chính, và rất đơn giản.
Phương pháp ABC và phương pháp chi phí mục tiêu là hai phương pháp hiện đại được áp dụng rất nhiều ở các nước tu bản phát triển, và hiện nay ngay cả Trung Quốc cũng đang ứng dụng phương pháp này. Tuy nhiên các phương pháp này khá phức tạp vì đòi hỏi có những điều kiện cần thiết như tự động hóa tương đối cao, tốn nhiều công sức, … nhưng ở Việt Nam điều kiện về công nghệ là khá hạn chế, đặc biệt với các công ty nhỏ và vừa thì càng trở nên khó khăn.
Nguồn nhân lực thì chưa được đào tạo chuyên sâu về những phương pháp này nên nếu áp dụng thì khả năng thành công là rất khó. 95% số công ty được khảo sát đánh giá rằng các biện pháp quản lý chi phí mà họ đang áp dụng ( chủ yếu là quản lý chi phí theo yếu tố) là phù hợp với quy mô của công ty vì không quá phức tạp và dễ áp dụng. Tuy nhiên các doanh nghiệp cũng phải thừa nhận rằng phương pháp này chưa thật hiệu quả, vì những thông tin có được từ phương pháp này chỉ mới cung cấp những thông tin chung chung bằng những con số, hay nói cách khác phương pháp này mới chỉ đáp ứng yêu cầu pháp lý mà thôi.
Vậy tại sao các doanh nghiệp không nghĩ tới việc chuyển sang áp dụng một phương pháp mới hiệu quả hơn? Nhiều công ty thì cho rằng, hiện nay quy mô của công ty còn nhỏ, các chi phí phát sinh không nhiều vì vậy việc quản lý theo phương pháp hiện tại vẫn đem lại hiệu quả tương đối. Có những công ty khác nhận thấy những phương pháp mới như ABC, phương pháp chi phí mục tiêu đem lại rất nhiều giá trị cho công ty khi áp dụng. Tuy nhiên điều khiến các doanh nghiệp băn khoăn và lo lắng nhất là họ chưa được trang bị thật sự kỹ càng về các phương pháp này. Hơn nữa phương pháp này đòi hỏi cơ cấu lại tổ chức, đầu tư vào phần mềm và phần cứng, thiết bị thu thập dữ liệu và đòi hỏi có nguồn nhân lực có kỹ năng và được đào tạo chuyên sâu. Đặc biệt là khi bản thân các nhân viên kế toán trong doanh nghiệp chưa thật sự hiểu thấu đáo về các phương pháp này trong khi phương pháp lại khá phức tạp. Mặc dù phương pháp ABC, phương pháp chi phí mục tiêu đã được sử dụng thành công trong rất nhiều công ty lớn, nhưng nó lại không đảm bảo việc hoàn vốn trong một thời gian ngắn do những đầu tư ban đầu để thu thập được dữ liệu đầy đủ và chính xác cho việc xác định các tiêu thức phân bổ cho từng hoạt động, sản phẩm là khá lớn. Có lẽ vì những lý do đó mà các công ty cổ phần nhỏ và vừa ở Việt Nam cho rằng việc áp dụng các phương pháp quản lý chi phí mới là quá mạo hiểm. Khóa luận: Thực trạng quản lý chi phí tại các công ty Việt Nam.
Như vậy có thể thấy việc xây dựng các biện pháp phù hợp với các doanh nghiệp để quản lý chi phí một cách hiệu quả ở các công ty cổ phần nhỏ và vừa ở Việt Nam chưa được quan tâm. Phương pháp quản lý ở các công ty này còn đơn giản và mới chỉ đảm bảo một nội dung trong quản lý chi phí, đó là hạch toán chi phí phát sinh đầy đủ. Còn việc phân tích đánh giá chi phí để hiểu bản chất của sự biến động chi phí còn rất hạn chế.
2.2.3. Thực trạng về thu thập thông tin chi phí
Việc sử dụng các biện pháp quản lý như đã đề cập giúp doanh nghiệp thu thập thông tin về chi phí dễ dàng hơn và kiểm soát chi phí tốt hơn trong quá trình thực hiện kế hoạch chi phí. Tuy nhiên để có những thông tin chi phí chính xác, nhanh chóng kịp thời trong cơ chế thị trường, cùng với việc sử dụng các biện pháp quản lý chi phí như đã nêu vấn đề quan trọng là các doanh nghiệp phải thiết lập được một hệ thống thông tin nhanh chóng, kịp thời, hoàn thiện và có tính thống nhất cao giữa các bộ phận cần cung cấp thông tin. Từ đó mới có thể xử lý và ra các quyết định thích hợp. Tuy nhiên trên thực tế doanh nghiệp cũng chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu trên. Theo như điều tra cá nhân, 100% các công ty đều đã trang bị phần mềm để quản lý dữ liệu tuy nhiên mới chỉ sử dụng phần mềm kế toán, nên việc lấy số liệu chỉ dừng ở việc tận dụng nguồn thông tin từ kế toán tài chính, trong khi chưa có sự liên kết giữa các bộ phận khác nhau. Và cũng vì chưa xây dựng được hệ thống quản lý chi phí với các biện pháp quản lý thích hợp đồng bộ, nên việc thu thập thông tin về chi phí cụ thể từ các bộ phận phòng ban trong doanh nghiệp khó thực hiện.
2.2.4. Thực trạng xử lý thông tin
- Xử lý chung các thông tin chi phí
Các vấn đề như:
- Theo dõi, xử lý, và ứng dụng các thông tin của kế toán quản trị chi phí trong việc ra quyết định.
- Nghiên cứu chọn lọc các thông tin chi phí nói riêng và các thông tin thích hợp khác nói chung và ứng dụng nó trong quá trình ra quyết định ngắn hạn và dài hạn.
- Vấn đề hạch toán chi phí trực tiếp theo tưng bộ phận để lập báo cáo chi phí theo từng bộ phận nhằm đánh giá trách nhiệm quản lý của từng bộ phận trên.
Tất cả đều chưa được doanh nghiệp quan tâm một cách đầy đủ về nội dung, phương pháp xác định và xử lý thông tin.
Các thông tin về chi phí do bộ phận kế toán cung cấp cũng đã được xử lý, nhưng chưa được xử lý sâu. Tức là doanh nghiệp mới chỉ phân tích sự biến động chi phí qua các kỳ, sự tăng giảm nói chung của mỗi khoản mục chi phí và của tổng chi phí. Khi phân tích đánh giá sự biến động của chi phí, các doanh nghiệp cũng đã tính đến những ảnh hưởng từ môi trường bên ngoài như giá cả của các yếu tố đầu vào, song với những nguyên nhân phát sinh chi phí từ bên trong doanh nghiệp như sự lãng phí thì doanh nghiệp không phát hiện được. Điều này do chính cách thức quản lý hiện tji của doanh nghiệp gây nên.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng thực hiện so sánh chi phí thực tế với dự toán để phân tích song một phần do chính các dự toán đôi khi lập ra đã không có độ chính xác cao, phần khác do hệ thống thông tin doanh nghiệp còn chồng chéo, chưa hoàn thiện nên việc điều chỉnh giữa thực tế và dự toán cũng chưa thật hiệu quả.
- Xử lý thông tin chi phí để xác định giá thành Khóa luận: Thực trạng quản lý chi phí tại các công ty Việt Nam.
Đó là những vấn đề về xử lý thông tin chi phí nói chung. Cụ thể với việc sử lý thông tin trong việc xác định giá thành sản phẩm cũng còn nhiều bất cập. Sau khi tập hợp chi phí trực tiếp cấu thành sản phẩm, doanh nghiệp chỉ lựa chọn một tiêu thức phân bổ chi phí sản xuất chung duy nhất cho tất cả các đối tượng, ( theo kết quả điều tra trên tạp chí khoa học và đào tạo Ngân hàng, số 59 tháng 4 – 2024 ). Việc chỉ lựa chọn một tiêu thức duy nhất để phân bổ chi phí sản xuất chung, đặc biệt ở các doanh nghiệp sản xuất, sẽ làm cho giá thành không được chính xác. Vì chi phí sản xuất chung bao gồm nhiều khoản mục chi phí phát sinh, chịu tác động ảnh hưởng của nhiều hoạt động khác nhau và trong chi phí sản xuất chung bao gồm cả yếu tố định phí và biến phí. Do vậy chỉ lấy một tiêu thức đại diện để phân bổ chi phí sản xuất chung sẽ không phản ánh chính xác chi phí sản xuất chung trong từng sản phẩm, dịch vụ hoặc từng đơn đặt hàng, và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh.
Một trong những điểm đáng lưu ý nữa đó là, phương pháp tính giá chỉ dừng lại ở phương pháp truyền thống, chưa phù hợp với yêu cầu thông tin của các chỉ tiêu giá thành trong nền kinh tế hiện đại. Với hai phương pháp hiện đại: phương pháp ABC và phương pháp chi phí mục tiêu thì hầu hết các doanh nghiệp lại chưa thực sự hiểu quy trình áp dụng.
Từ những tồn tại trên trong hệ thống quản lý chi phí của các công ty cổ phần Việt Nam có thể đưa ra một số nguyên nhân như sau:
- Từ phía nhà nước:
- Tồn tại về khung pháp lý ban hành: Các văn bản pháp quy, các chế độ kế toán và các thông tin hướng dẫn do Bộ Tài chính ban hành nói chung còn manh mún và tản mạn, chưa đảm bảo tính đồng bộ, tính rõ ràng và nhất quán cao.
Mỗi doanh nghiệp có một cách thức quản lý chi phí khác nhau. Tuy phải nhận thức rằng hệ thống quản lý chi phí với việc thiết lập các biện pháp quản lý chi phí như trên là nội dung quan trọng nhất, trọng tâm nhất của kế toán quản trị. Song mặc dù kế toán quản trị đã có quy định trong luật kế toán ban hành tháng 6/2020 ( điều 10) là một bộ phận quan trọng và cần thiết trong hệ thống kế toán Việt Nam, nhưng về phía Bộ Tài chính cho đến nay vẫn chưa có một văn bản chính thức nào hướng dẫn cụ thể về triển khai kế toán quản trị tại các doanh nghiệp. Có thể nói Nhà nước, Bộ Tài chính chưa có sự đầu tư và quan tâm đúng mức đến hệ thống kế toán quản trị cho các doanh nghiệp nói chung, công ty cổ phần nói riêng, chưa đưa ra được các mô hình kế toán quản trị cho các doanh nghiệp lựa chọn và vận dụng, để từ đó các doanh nghiệp không ngừng cải thiện hệ thống quản lý chi phí của mình. Và do đó điều này hạn chế rất nhiều đến nhận thức đến vai trò quản lý chi phí, cũng như hiệu quả quản lý nói chung của doanh nghiệp.
Tồn tại về công tác chỉ đạo thực hiện của nhà nước và bộ tài chính: xây dựng kế toán quản trị mà trọng tâm là để tăng cường hiệu quả hoạt động cho hệ thống quản lý chi phí, tuy nhiên nội dung này vẫn còn thả nổi, chưa có hướng dẫn cụ thể từ phía Nhà nước, Bộ tài chính. Do vậy thực tế hiện nay nhiều công ty cổ phần còn rất lúng túng và mơ hồ về kế toán quản trị cũng như nội dung quan trọng của nó: quản lý chi phí.
Có lẽ những nguyên nhân trên là một phần lý do dẫn đến hệ thống quản lý chi phí ở các công ty cổ phần Việt Nam hiện nay chưa hoạt động hiệu quả, và chưa được quan tâm đúng mức. Khóa luận: Thực trạng quản lý chi phí tại các công ty Việt Nam.
- Từ phía doanh nghiệp:
Trong xu thế hội nhập kinh tế và cạnh tranh gay gắt, bản thân mỗi doanh nghiệp phải tự hoàn thiện mình, không ngừng học hỏi, nâng cao trình độ và trau dồi kỹ năng quản lý để vận dụng một cách phù hợp nhất vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mình. Song hầu như các công ty cổ phần chưa thật sự chủ động trong vấn đề này. Hầu hết công tác quản lý chi phí mới chỉ tập trung vào thu nhận xử lý và cung cấp thông tin kế toán tài chính mà chưa quan tâm đến công tác quản lý chi phí với mục đích cung cấp thông tin cho yêu cầu phân tích hoạt động kinh doanh ngày càng hiệu quả hơn. Chính vì vậy chưa xác định được mô hình và nội dung của kế toán quản trị – nền tảng cơ sở cho việc thiết lập các biện pháp quản lý chi phí hiệu quả, nhất quán.
Nhìn chung các công ty cổ phần đang đóng góp ngày càng nhiều giá trị cho nền kinh tế Việt Nam, thúc đẩy thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên với đại đa số các công ty cổ phần nhỏ và vừa thì hệ thống quản lý chi phí với các biện pháp quản lý chi phí chưa thực sự được quan tâm và áp dụng thích hợp. Hay nói cách khác hệ thống quản lý chi phí chưa được xây dựng một cách hoàn thiện. Hầu hết hệ thống quản lý chi phí mới chỉ dừng lại ở mức cung cấp các con số phản ánh chi phí mà chưa phân tích đánh giá được những con số đó do hệ thống này được thực hiện kiêm nhiệm bởi chính các nhân viên kế toán tài chính. Việc thu thập thông tin chi phí thì gặp nhiều khó khăn. Vì vậy việc xây dựng hệ thống quản lý chi phí hoạt động hiệu quả phù hợp với đặc điểm của từng doanh nghiệp là rất cần thiết. Cũng cần phải khẳng định lại rằng các biện pháp quản lý chi phí trên chính là một trong những nội dung của hệ thống kế toán quản trị. Mà trong đó kế toán quản trị chi phí chính là nội dung quan trọng nhất của kế toán quản trị. Tuy nhiên khái niệm kế toán quản trị thật sự mới ở Việt Nam, và vì vậy nhiều công ty chưa nhận thức hết được việc xây dựng kê toán quản trị mà trọng tâm là để quản lý chi phí có vai trò quan trọng như thế nào đối với sự phát triển của công ty mình. Cũng vì những thuật ngữ này còn mới nên nhiều công ty cũng chưa phân việt chính xác được kê toán quản trị và kê toán tài chính, kết quả là hệ thống kế toán nội bộ với mục đích cung cấp thông tin cho nhà quản trị không hiệu quả. Từ phía Nhà nước cũng chưa có văn bản cũng chưa đưa ra những hướng dẫn cụ thể nào về kế toán quản trị trên cơ sở đó các công ty cổ phần vận dụng và thực hiện. Và vì những lý do như vậy dẫn đến việc quản lý chi phí ở nhiều công ty cổ phẩn chưa thực sự tốt.
Tóm lại, chương này đã trình bày tổng quan về công ty cổ phần Việt Nam: những khái niệm cơ bản về công ty cổ phần trong nền kinh tế. Từ đó nhận định công ty cổ phần là loại hình công ty rất phù hợp trong thời kỳ hội nhập như hiện nay. Việc tăng cường hiệu quả quản lý chi phí là hết sức cần thiết không chỉ với công ty cổ phần mà nói chung với tất cả doanh nghiệp Việt Nam khi muốn cạnh tranh trên thị trường. Và vì vậy chương này cũng đã đánh giá thực trạng quản lý chi phí tại các công ty cổ phần Việt Nam, để từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm quản lý chi phí hiệu quả hơn sẽ được trình bày ở chương ba ngay sau đây. Khóa luận: Thực trạng quản lý chi phí tại các công ty Việt Nam.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Giải pháp quản lý chi phí tại các công ty Việt Nam
